Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một tư tưởng lớn, bao trùm và xuyên suốt trong chặng đường lịch sử của cách mạng Việt Nam, là đề tài rộng có tầm
Trang 1- -
ĐINH THỊ THANH TÂM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và sự vận dụng của Đảng ta
trong giai đoạn hiện nay
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SƯ PHẠM GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta một di sản tinh thần vô giá, những giá trị nhân văn cao cả Cuộc đời và sự nghiệp của Người là tấm gương sáng ngời về tư tưởng và đạo đức cách mạng, là ngọn đuốc soi đường cho cuộc đấu tranh của Đảng, của nhân dân ta Chính vì vậy Đại hội lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam (1991) đã khẳng định: Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của toàn Đảng, của toàn dân ta
Lựa chọn con đường đi cho dân tộc ta, HCM khẳng định: “Làm tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” [18, 1] Như vậy ngay từ đầu cho đến tận mãi sau này trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là tư tưởng chính trị đặc sắc, là luận điểm trung tâm, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt và bao trùm trong di sản tư tưởng của Người
Tư tưởng đặc sắc ấy thể hiện nhất quán mục tiêu của con đường cách mạng mà người đã lựa chọn, nó vừa đáp ứng yêu cầu bức xúc của dân tộc và khát vọng của quần chúng nhân dân giành lấy độc lập tự do, ấm no, hạnh phúc, giải phóng cuộc đời lầm than, đói khổ dưới ách thống trị tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, đế quốc và bè lũ tay sai Tư tưởng ấy đã đưa dân tộc ta đến độc lập, tự do, Bắc - Nam sum họp một nhà và ngày nay đó là nguồn sức mạnh trong sự nghiệp xây dựng một xã hội Việt Nam mới xã hội chủ nghĩa dân giàu nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh
Kế thừa các quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về con đường đi cho
dân tộc Việt Nam, Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI
(2011), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “chỉ có chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm cho
Trang 3dân tộc ta có độc lập, tự do thực sự, đất nước phát triển phồn vinh nhân dân có cuộc sống ấm no hạnh phúc” Có thể nói đây là sự tổng kết sâu sắc về lịch sử và
lý luận của quá trình cách mạng nước ta, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đường lối cách mạng của Đảng, từ khi Đảng ra đời cho đến nay
Mặt khác, sau sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu cũ, các thế lực
đế quốc và bọn phản động trong nước đang cố tìm mọi cách nhằm xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại Một trong những thủ đoạn về lý luận của chúng là
cố tìm cách xuyên tạc dẫn đến phủ nhận vai trò của chủ nghĩa Mác-Lênin và cho rằng “Chủ nghĩa xã hội là một sai lầm của lịch sử”, do đó việc lựa chọn con đường đi của dân tộc ta là gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội cũng là một sai lầm Cuộc đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của các lực lượng tiến bộ ở Việt Nam và trên thế giới đòi hỏi những người cách mạng phải kiên định lập trường quan điểm, đồng thời phải chủ động hơn trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận nhằm chống lại sự xuyên tạc lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của các thế lực thù địch
Vì vậy, việc tìm hiểu sâu hơn tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, và sự vận dụng của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa vô cùng to lớn Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi quyết
định chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và sự vận dụng của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài
nghiên cứu của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
là một tư tưởng lớn, bao trùm và xuyên suốt trong chặng đường lịch sử của cách mạng Việt Nam, là đề tài rộng có tầm quan trọng đặc biệt thu hút sự chú ý của
Trang 4rất nhiều nhà nghiên cứu Trong những năm gần đây, ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội với nhiều góc độ
khác nhau như: Nguyễn Duy Quý, (1998), Những vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội; Nguyễn Bá Linh, (2006), Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Bá Linh, (1998), Cương lĩnh đầu tiên của Đảng – Ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Phạm Văn Đồng, (1990) Hồ Chí Minh, một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, Nxb Sự Thật, Hà
Nội….Nhìn chung, dù ở góc độ nào các tác giả đều nêu lên những vấn đề cơ bản nhất trong tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh, làm rõ tư tưởng độc lập dân tộc là ngọn cờ bách chiến, bách thắng của cách mạng Việt Nam, thêm vào đó là những vận dụng sáng tạo của Hồ Chí Minh
về lý luận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Việt Nam Gần đây nhất là công
trình Hồ Chí Minh với sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thuộc chương trình khoa học cấp bộ trọng điểm: Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay giai đoạn 2008 – 2009 của Vũ Đình Hòe và Bùi Đình Phong (đồng
chủ biên) đã tập trung làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc là cơ sở lý luận cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập
tự do của dân tộc Việt Nam
Trên cơ sở kế thừa những công trình nghiên cứu của các tác giả đã được công bố, trong khóa luận này tôi muốn hệ thống lại, làm rõ thêm một số vấn đề, đặc biệt là những vấn đề về cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội và sự vận dụng tư tưởng của Người về độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Trang 5- Khẳng định con đường cách mạng Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đúng đắn, từ đó tìm hiểu sự vận dụng của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay
- Để thực hiện mục đích đó, đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau đây:
+ Làm rõ cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
+ Làm rõ nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
+ Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
- Khóa luận lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng làm cơ sở phương pháp luận nghiên cứu
- Khóa luận sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp logic, phương pháp lịch sử và các phương pháp khác có liên quan
5 Ý nghĩa của khóa luận
Việc nghiên cứu đề tài này giúp người viết làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học, rèn luyện tư duy khoa học, tiếp cận và nghiên cứu các vấn
đề lịch sử từ đó củng cố thêm kiến thức về tư tưởng Hồ Chí Minh
6 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của khóa luận gồm 2 chương: Chương 1: Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Chương 2: Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Đảng ta hiện nay
Trang 6PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN
LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI 1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
1.1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1.1 Những giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam
Trong di sản lý luận của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc, sợi chỉ đỏ xuyên suốt là quan điểm độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội,
là lý luận về cuộc cách mạng giải phóng dân tộc do giai cấp công nhân lãnh đạo
để rồi chuyển biến phát triển lên cách mạng xã hội chủ nghĩa Những giá trị truyền thống dân tộc Việt Nam có ảnh hưởng đến sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội cần phải kể đến gồm: Thứ nhất, chủ nghĩa yêu nước, ý chí đấu tranh anh dũng bất khuất cho độc lập tự do, ý thức tự lực tự cường
Việt Nam là một quốc gia dân tộc có tinh thần dân tộc, ý thức cộng đồng xuất hiện khá sớm Tinh thần dân tộc trải qua quá trình đấu tranh liên tục, lâu dài chống giặc ngoại xâm và phòng chống thiên tai đã phát triển thành tinh thần yêu nước và chủ nghĩa yêu nước
Chủ nghĩa yêu nước là sản phẩm tinh thần cao quý nhất của dân tộc Việt Nam, là tư tưởng và tình cảm thiêng liêng giữ vị trí chuẩn mực cao nhất của đạo
lý và đứng đầu bậc thang giá trị dân tộc Tinh thần đó đã phát huy sức mạnh vô biên của nó trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và là một động lực nội
Trang 7sinh của cộng đồng dân tộc trong sự nghiệp xây dựng đất nước, sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam
Khi bàn về hệ tư tưởng yêu nước Việt Nam, Giáo sư Trần Văn Giàu khẳng định: “Lịch sử Việt Nam, dài nhiều nghìn năm, chủ yếu là lịch sử đấu tranh giành lại và bảo vệ độc lập dân tộc Cho nên tư tưởng chủ yếu của dân tộc Việt Nam là tư tưởng yêu nước xuyên suốt lịch sử cổ kim Sự hình thành và phát triển của tư tưởng yêu nước đi đôi với sự hình thành và phát triển của quốc gia dân tộc Lịch sử Việt Nam trải qua bao nhiêu thời đại thịnh suy tư tưởng yêu nước có bấy nhiêu hồi tiến lên hay suy thoái rồi quật khởi, lúc nào thực tế cũng chứng minh rằng tư tưởng yêu nước không phải là một triết lý để nhàn đàm, nó
là kim chỉ nam cho hành động, là một tiêu chuẩn để nhận định đúng – sai, tốt – xấu, nên – chăng Vận nước suy hay thịnh, mất hay còn, nhục hay vinh, phần rất quan trọng là tùy thuộc ở chỗ ta ứng dụng và phát huy hay là ta quên lãng và chôn vùi món vũ khí tinh thần ấy mà tất cả các thế hệ tổ tiên, ông cha đều có góp công quả, máu xương để rèn luyện” [8, 8]
Hồ Chí Minh không phải là người Việt Nam đầu tiên yêu nước, nhưng công lao của Người chính là đã nâng chủ nghĩa yêu nước lên một tầm cao mới khi những vấn đề của thời đại tác động vào Việt Nam và những vấn đề mà dân tộc Việt Nam đòi hỏi Cũng chính sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước đã thúc giục Nguyễn Tất Thành quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, tìm kiếm những gì hữu ích cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
Chủ nghĩa yêu nước sẽ biến thành lực lượng vật chất thực sự khi nó ăn sâu vào tiềm thức, vào ý chí và hành động của mỗi con người Chính từ thực tiễn
đó Người đã đúc kết ra chân lý: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn nó
Trang 8lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [21, 171]
Suốt cuộc đời Hồ Chí Minh đã dấn thân vào sự nghiệp vẻ vang và vô cùng vĩ đại đó là đấu tranh giành độc lập tự do cho dân tộc Người xác định cái bất biến lúc này là độc lập, tự do, còn cái vạn biến là những sự kiện, tình hình trong các lĩnh vực trên các mặt như: chính trị, quân sự, ngoại giao… Trong mỗi thời đại cụ thể thì phương châm của Người là “dĩ bất biến ứng vạn biến” Thấm thía nỗi nhục của người dân mất nước, Người đã phát huy tinh thần đấu tranh bất khuất của dân tộc “thà chết tự do hơn sống nô lệ”, “chết trong còn hơn sống đục” Người kêu gọi toàn quân đứng dậy đập ách “phá xiềng”, “Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta”, “chúng ta thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước không chịu làm nô lệ”, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”…
Và chủ nghĩa yêu nước, với tư cách dòng tư tưởng chủ lưu trong lịch sử phát triển dân tộc Việt Nam, là một trong những cơ sở quan trọng góp phần hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Thứ hai, tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết, tương thân tương
ái
Tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết dân tộc, tương thân, tương
ái, “lá lành đùm lá rách” trong hoạn nạn khó khăn, là những truyền thống được hình thành cùng một lúc với sự hình thành dân tộc, từ hoàn cảnh và nhu cầu đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên và giặc ngoại xâm, người Việt Nam quen sống và gắn bó với nhau trong tình làng nghĩa xóm, bước sang thế kỷ XX mặc dù xã hội Việt Nam có sự phân hóa về giai cấp, nhưng truyền thống này vẫn vững bền Vì vậy Hồ Chí Minh đã chú ý kế thừa, phát huy sức mạnh của truyền thống nhân nghĩa, nhấn mạnh bốn chữ “đồng” (đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh)
Trang 9Tinh thần nhân nghĩa là tư tưởng của dân tộc được hình thành và phát triển xuyên suốt chiều dài lịch sử nước ta Mục đích của nhân nghĩa đã được xác định là “cốt ở yên dân” bảo vệ lợi ích hạnh phúc của nhân dân và hạnh phúc lớn nhất của nhân dân là được sống trong môi trường hòa bình yên ổn, không lâm vào cảnh chết chóc, đau thương Nguyễn Trãi trong Bình ngô đại cáo đã viết:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
“ Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công”
Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc lên tầm cao mới trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, thể hiện rất rõ ở chỗ: Người kêu gọi đoàn kết, giữa những người bị áp bức trên toàn thế giới trong một mặt trận chung nhằm chống lại chủ nghĩa đế quốc
Trang 10Thứ ba, truyền thống hòa hiếu của dân tộc Việt Nam
Ngược dòng lịch sử hào hùng suốt mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước đã giúp cho dân tộc ta, có một truyền thống tốt đẹp, truyền thống coi trọng chữ “hoà” trong ứng xử bang giao Khi đất nước có giặc thì “xã tắc đồng lòng, vua tôi hòa thuận”, cùng đứng lên quyết tâm đánh thắng quân thù Thế nhưng khi quân giặc lâm vào bước đường cùng thì ông cha ta sẵn sàng mở cho chúng một con đường sống, lại cấp lương thảo, ngựa, thuyền cho kẻ bại trận về quê
Truyền thống hòa hiếu dân tộc là cơ sở của chính sách ngoại giao đa phương là cơ hội để dân tộc ta hội nhập với thế giới trong thời đại Hồ Chí Minh
Có thể khẳng định, chính Người đã kế thừa xuất sắc truyền thống này của dân tộc trong quá trình đi tìm đường cứu nước cũng như trong quá trình lãnh đạo nhân dân thực hiện công cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc Tư tưởng coi trọng chữ “hoà”, chữ “đồng” trong truyền thống dân tộc được Hồ Chí Minh thể hiện thành tư tưởng: “Làm bạn với tất cả các nước dân chủ, không gây thù oán với một ai”, sẵn sàng “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai” cùng nhau hợp tác trong sự phát triển chung của hai dân tộc và của nhân loại
Thêm vào đó dân tộc Việt Nam là một dân tộc có truyền thống lạc quan yêu đời, tinh thần lạc quan đó là cơ sở, niềm tin vào sức mạnh của bản thân mình, dân tộc mình, tin vào sự tất thắng của chân lý, của chính nghĩa Hồ Chí Minh chính là hiện thân của truyền thống lạc quan đó
Thứ tư, truyền thống yêu quê hương gia đình, tình làng nghĩa xóm
Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong một gia đình Nho giáo, trên quê hương giàu truyền thống đấu tranh cách mạng Mọi người trong gia đình yêu thương, đùm bọc nhau và có mối quan hệ đoàn kết, gắn bó chặt chẽ với làng xóm quê hương, Người lớn lên trong tình thương yêu ấy và được giáo dục chu đáo về đạo lý, truyền thống yêu nhà, thương nước của quê hương dân tộc, đặc biệt tư
Trang 11tưởng thân dân của người cha thân sinh ra Hồ Chí Minh đã có ảnh hưởng lớn lao tới Người Ở Hồ Chí Minh đã sớm nảy nở lòng yêu nước thương dân sâu sắc, tình yêu thương đó đã hình thành ở Người niềm tin mãnh liệt vào nhân dân
Từ thuở thiếu thời, Nguyễn Tất Thành đã tận mắt chứng kiến cuộc sống nghèo khổ, bị áp bức bóc lột đến cùng cực của đồng bào mình Khi vào Huế, Anh lại tận mắt nhìn thấy tội ác của thực dân Pháp và thái độ ươn hèn của bọn phong kiến Nam triều Thêm vào đó là bài học thất bại của các nhà yêu nước tiền bối và đương thời…Tất cả đã thôi thúc Anh ra đi tìm một con đường mới để cứu dân, cứu nước Quê hương, gia đình, truyền thống dân tộc… đã chuẩn bị cho Anh nhiều điều, quê hương đất nước cũng đặt niềm tin lớn ở Anh trên bước đường tìm đến trào lưu mới của thời đại
Tuy rất khâm phục tinh thần yêu nước của các vị tiền bối như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hoàng Hoa Thám… nhưng Người không tán thành con đường cứu nước của họ, vì vậy Người đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước Điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhận thức được và nó dẫn Người đi đúng hướng là nguồn gốc từ những đau khổ và áp bức dân tộc là ở ngay tại “chính quốc”, ở nước đế quốc đang thống trị dân tộc mình Do đó Người đã tự định ra cho mình một hướng đi mới: phải tìm hiểu cho rõ bản chất của những từ Tự do, Bình đẳng, Bác ái của nước Cộng hòa Pháp, phải đi ra nước ngoài Xem nước Pháp và các nước khác Sau khi xem xét họ làm thế nào, sẽ trở về giúp đồng bào mình
Như vậy, trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước và những giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, khi tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin Hồ Chí Minh đã phát triển chủ nghĩa yêu nước lên một tầm cao mới phù hợp với thời đại mới Cuộc đời hoạt động cách mạng của Người không chỉ thể hiện rõ tư tưởng “yêu nước
Trang 12thương dân”, “cứu nước cứu dân” mà cao hơn là tìm ra con đường giải phóng giai cấp, giải phóng con người
1.1.1.2 Tinh hoa văn hóa nhân loại
Hồ Chí Minh xuất thân trong gia đình khoa bảng, từ nhỏ Người đã được hấp thụ một nền văn hóa Quốc học và Hán học khá vững vàng Khi ra nước ngoài, Người không ngừng làm giàu trí tuệ của mình bằng việc tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại Chính điều đó đã làm nên nét đặc sắc của Hồ Chí Minh, một con người tượng trưng cho sự kết hợp hài hòa văn hóa Đông - Tây
Về văn hóa phương Đông, Hồ Chí Minh đã tiếp thu các nhân tố tiến bộ trong các tư tưởng của Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo…
Trước hết nói về Nho giáo: tư tưởng Nho giáo nói chung và tư tưởng của
Khổng Tử nói riêng là khoa học về đạo đức và phép ứng xử, đó là các triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành đạo giúp đời, đó là ước vọng về một xã hội bình trị, hòa mục, hòa đồng, có vua sáng tôi hiền, cha từ con thảo là triết lý nhân sinh, tu thân dưỡng tính Đặc biệt Nho giáo đề cao văn hóa lễ giáo, và tạo ra truyền thống hiếu học trong dân, tư tưởng về xây dựng một xã hội đại đồng
Đây là tư tưởng tiến bộ so với các học thuyết cổ đại Tuy nhiên Hồ Chí Minh cũng phê phán Nho giáo có tư tưởng tiêu cực, lạc hậu như bảo vệ chế độ phong kiến, phân chia đẳng cấp – quân tử và tiểu nhân, trọng nam khinh nữ chỉ đề cao nghề đọc sách, coi thường người lao động chân tay, coi thường người phụ nữ trong xã hội
Tiếp thu tư tưởng của Nho giáo, Người đã rút ra cái bản chất nhất, cái tiến
bộ nhất, cái con người nhất mà giá trị của chúng là để cải tạo xã hội, cải tạo con người
Với Phật giáo, Hồ Chí Minh chỉ rõ, bên cạnh những mặt tiêu cực của một tôn giáo, Phật giáo cũng có rất nhiều ưu điểm như: tư tưởng vị tha, từ bi bác ái,
Trang 13cứu khổ, cứu nạn, thương người như thể thương thân, nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện, tinh thần bình đẳng, dân chủ chất phác chống lại mọi phân biệt đẳng cấp, đề cao lao động chống lười biếng Khi được
du nhập vào Việt Nam nó đã kết hợp với chủ nghĩa yêu nước để hình thành nên tinh thần gắn bó với nhân dân, đất nước, tham gia vào cộng đồng vào cuộc đấu tranh của nhân dân, chống kẻ thù dân tộc
Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn kế thừa nhiều tư tưởng của các nhà phương Đông như Lão Tử, Mặc Tử, Quản Tử… đặc biệt là tư tưởng tam dân của Tôn Trung Sơn (độc lập dân tộc, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc), vì thấy trong
đó có những điều thích hợp với điều kiện nước ta
Là người mácxít tỉnh táo và sáng suốt, Hồ Chí Minh đã khai thác những yếu tố tích cực của văn hóa phương Đông để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng nước ta
Đối với văn hóa phương Tây, Hồ Chí Minh dành hiều thời gian nghiên cứu tiếp thu ảnh hưởng của nền văn hóa dân chủ và cách mạng phương Tây Người sớm làm quen với văn hóa Pháp, tìm hiểu các cuộc cách mạng ở Pháp và
Mỹ Người trực tiếp đọc và tiếp thu các tư tưởng về tự do, bình đẳng qua các tác phẩm của các nhà khai sáng như: Vonte, Rutsxo, Môngtétsxkiơ Người tiếp thu
các giá trị của bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Đại cách mạng
Pháp, các giá trị về quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của
Tuyên ngôn độc lập ở Mỹ năm 1776
Hồ Chí Minh nhìn thấy và phát hiện rằng: Các cuộc cách mạng đó đều là cách mạng tư sản và là những cuộc cách mạng thành công không đến nơi Chẳng hạn, “Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 100 năm nay, nhưng công nông
vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai”[17, 270] Hoặc như cách
mạng Pháp 1789 mặc dầu được xem là một cuộc cách mạng tư sản điển hình,
Trang 14nhưng “cũng như cách mạng Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức”[17, 280]
Trong quan niệm của Hồ chí Minh, tiêu chí hàng đầu để đánh giá tính triệt để của một cuộc cách mạng không phải là những lý tưởng, khẩu hiệu được nêu ra, mà
là quy mô giải phóng quần chúng lao động bị áp bức Cách mạng dân chủ tư sản, do bản chất của nó, chỉ là sự thay thế một hình thức áp bức, bóc lột khác, đại bộ phận người lao động vẫn sống kiếp ngựa trâu Do những nhu cầu nội tại khách quan, cách mạng Việt Nam không và sẽ không thể lặp lại những vết lăn của cách mạng
Từ đó Người hoàn toàn tin tưởng vào cách mạng tháng Mười Nga, và xác định đường đi cho cách mạng nước ta Người chủ trương “làm cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” [18, 1], là cả một quá trình nhận thức về lý luận và thực tiễn, suy ngẫm và so sánh để rồi cuối cùng
có một quyết định lựa chọn dứt khoát có ảnh hưởng đến vận mệnh và tương lai của dân tộc
Trang 15Đánh giá cao tư tưởng của các bậc tiền bối như Khổng Tử, Giêxu, Mác, Tôn Dật Tiên, Người viết: “Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân, tôn giáo Giêxu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả Chủ nghĩa Mác – Lênin có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên
có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta Khổng Tử, Giêxu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải có những ưu điểm chung đó sao? Họ đều muốn: mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu lợi xã hội, nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy” [37, 11]
Như vậy trên hành trình cứu nước, Hồ Chí Minh đã tự làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại, Đông và Tây, vừa tiếp thu, vừa gạn lọc để
từ tầm cao tri thức nhân loại mà suy nghĩ, lựa chọn, kế thừa và đổi mới, vận dụng và phát triển
1.1.1.3 Chủ nghĩa Mác – Lênin
Việc tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin ở Hồ Chí Minh diễn ra trên nền tảng của những tri thức văn hóa tinh túy được chất lọc, hấp thụ và một vốn chính trị, vốn hiểu biết phong phú, được tích lũy qua thực tiễn hoạt động đấu tranh vì mục tiêu cứu nước và giải phóng dân tộc
Trong lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về cách mạng xã hội chủ nghĩa, lý luận về sự phát triển của cuộc cách mạng dân chủ tư sản theo một cương lĩnh mang tính triệt để rồi chuyển lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, do Lênin nêu lên có một vị trí nổi bật, bởi nước Nga cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ
XX chưa đạt tới trình độ phát triển cao của chủ nghĩa tư bản, do đó chưa đạt tới trình độ xã hội cao của lực lượng sản xuất và cũng chưa có một giai cấp công nhân đông đảo về số lượng, với sự giác ngộ ý thức xã hội chủ nghĩa đầy đủ Vì
Trang 16vậy, cùng một lúc ở nước Nga xuất hiện hàng loạt trào lưu đấu tranh: trào lưu đấu tranh của giai câp công nhân vì tự do, dân chủ và hướng tới chủ nghĩa xã hội; cuộc đấu tranh của nông dân đòi ruộng đất và các quyền dân sinh dân chủ tối thiểu; cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức đòi quyền bình đẳng và quyền
tự quyết dân tộc, cuộc đấu tranh của đông đảo nhân dân đòi chấm dứt chiến tranh
và tạo lập một nền hòa bình vững chắc
Tự do, dân sinh, dân chủ là nội dung của tất cả các trào lưu đó Chính vì thế cương lĩnh cách mạng do Lênin nêu ra – cương lĩnh nhằm hoàn thành triệt để cách mạng dân chủ tiến đến cách mạng xã hội chủ nghĩa – đã hội nhập các trào lưu đó thành một sức mạnh to lớn, hướng vào đánh đổ chế độ chuyên chế phong kiến, mở đường đánh vào nền thống trị của giai cấp tư sản
Do đó cuộc cách mạng dân chủ thực chất là cuộc cách mạng của nông dân, dĩ nhiên nó cũng cần thiết cho giai cấp vô sản, sự chuyển biến từ cách mạng dân chủ sang cách mạng xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản, trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân là nét nổi bật trong lý luận cách mạng của Lênin
Lênin cũng chỉ ra rằng, để thực hiện sự chuyển biến từ cách mạng dân chủ lên cách mạng xã hội chủ nghĩa phải có đủ ba điều kiện chủ yếu: sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua chính đảng của nó được đảm bảo và không ngừng củng cố, khối liên minh công nông được giữ vững và phát triển trên cơ sở một đường lối thích hợp với từng giai đoạn cách mạng, chính quyền dân chủ cách mạng được củng cố để hoàn thành nhiệm vụ của nó ở giai đoạn thứ nhất đồng thời chuẩn bị những điều kiện để chuyển sang giai đoạn thứ hai
Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, cách mạng xã hội chủ nghĩa là một tiến trình liên tục gồm hai giai đoạn: giai đoạn thứ nhất là giai đoạn giai cấp vô sản tự xây dựng thành giai cấp thống trị, là giai đoạn đấu tranh giành chính quyền về
Trang 17tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động V.I Lênin đã chỉ rõ giành chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng Ở giai đoạn thứ hai giai cấp công nhân đã nắm chính quyền, sử dụng chính quyền đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, tập hợp các tầng lớp nhân dân lao động, thực hiện cải tạo xã hội
cũ, tổ chức xây dựng xã hội mới trên tất cả các lĩnh vực như: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội….nhằm xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, tiến tới xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh, tiến bộ
Trước khi ra đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành đã được dân tộc, quê hương, và gia đình trang bị cho một số học vấn vững chắc, một năng lực trí tuệ sắc sảo Bản lĩnh trí tuệ đó đã nâng cao khả năng độc lập tự chủ và sáng tạo của ở Người khi vận dụng những nguyên lý cách mạng của thời đại vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của Việt Nam
Quá trình đó cũng diễn ra một cách chân thành và giản dị, điều này đã
được Hồ Chí Minh cắt nghĩa trong bài Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin:
“Lúc bấy giờ, tôi ủng hộ Cách mạng tháng Mười chỉ là theo cảm tính tự nhiên… Tôi kính yêu Lênin vì Lênin là một người yêu nước vĩ đại đã giải phóng đồng bào mình…Tôi tham gia Đảng Xã hội Pháp chẳng qua là vì các “ông bà” ấy – (hồi đó tôi gọi các đồng chí của tôi như thế) – đã tỏ đồng tình với tôi, với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức Còn như Đảng là gì, công đoàn là gì, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là gì, thì tôi chưa hiểu” [25, 126]
Quá trình đó tưởng chừng như đơn giản và tự nhiên đó, thực ra là
“chặng đường chiến thắng biết bao khó khăn với sụ lựa chọn vững chắc, tránh được những sai lầm dẫn tới ngõ cụt” Thực tiễn gần 10 năm đi tìm đường cứu
nước nhất là sau khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin (1920) Nó có tác động rất lớn đến nhận thức
Trang 18của Hồ Chí Minh về con đường cứu nước của dân tộc Việt Nam Bởi nội dung Luận cương của V.I.Lênin chỉ rõ:
1 Con đường duy nhất để giải phóng các dân tộc thuộc địa là làm cách mạng vô sản
2 Lênin chủ trương giải phóng toàn thể các dân tộc thuộc địa thoát khỏi ách áp bức của chủ nghĩa đế quốc
3 Lênin yêu cầu đảng cộng sản các nước chính quốc phải giúp đỡ nhân dân các nước thuộc địa trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc
4 Lênin chỉ ra bộ mặt giả dối của nền dân chủ tư sản
Sự kiện này là bước phát triển căn bản và sâu sắc trong nhận thức và lập trường chính trị của Nguyễn Ái Quốc, có ý nghĩa quyết định đến việc lựa chọn con đường cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam Bốn mươi năm sau trong tác phẩm “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin” (4-1960), Hồ Chí Minh nhớ lại:
“Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng… vui mừng đến phát khóc ” [25, 128] vì đã tìm thấy con đường giải phóng cho dân tộc Ngồi một mình trong buồng mà tôi như nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta: Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo quốc tế thứ ba”
Từ những nhận thức ban đầu về chủ nghĩa Lênin, Hồ Chí Minh đã tiến dần tới những nhận thức “lý tính”, trở lại nghiên cứu Mác sâu sắc hơn, để rồi tiếp thu học thuyết của các ông một cách có chọn lọc, không rập khuôn máy móc, không sao chép giáo điều Người tiếp thu lý luận Mác – Lênin theo phương pháp mácxít, nắm lấy cái tinh thần, cái bản chất Người vận dụng lập trường, quan điểm, phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, để giải quyết những
Trang 19vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam, chứ không đi tìm những kết luận có sẵn trong sách vở
Thế giới quan và phương pháp luận Mác - Lênin đã giúp Hồ Chí Minh tổng kết kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn để tìm ra con đường cứu nước:
“trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác – Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới” [25, 128] “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” [17, 268]
“Chính là do cố gắng vận dụng những lời dạy của Lênin, nhưng vận dụng, một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay, mà chúng tôi đã chiến đấu và giành được thắng lợi to lớn” [25, 476].
1.1.2 Cơ sở thực tiễn
Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong hoàn cành đất nước và thế giới có
nhiều biến động, trong nước Triều Nguyễn đã từng bước khuất phục trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp, lần lượt ký kết các hiệp ước đầu hàng, thừa nhận nền bảo hộ của thực dân Pháp trên toàn cõi Việt Nam Nghiên cứu thực tiễn các phong trào đấu tranh của nhân ta và các phong trào đấu tranh cách mạng trên thế giới, Hồ Chí Minh khẳng định:
Thứ nhất, tất cả các phong trào đấu tranh cứu nước giải phóng dân tộc ở Việt Nam đi theo ngọn cờ tư tưởng phong kiến, tiểu tư sản và tư sản đều không thể thành công
Cho đến cuối thế kỷ XIX các cuộc khởi nghĩa vũ trang dưới khẩu hiệu
“Cần Vương” do các sĩ phu văn thân lãnh đạo cuối cùng cũng thất bại, hệ tư tưởng phong kiến lỗi thời trước các nhiệm vụ lịch sử Cuộc khai thác của thực dân Pháp khiến cho xã hội nước ta có sự chuyển biến và phân hóa, giai cấp công
Trang 20nhân, tầng lớp tiểu tư sản và tư sản bắt đầu xuất hiện tạo ra những tiền đề bên trong cho phong trào yêu nước giải phóng dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX Cùng vào thời kỳ lịch sử đó, các “Tân thư”, “Tân văn”, “Tân báo” và những ảnh hưởng của trào lưu cải cách ở Trung Quốc, Nhật Bản tràn vào Việt Nam làm cho phong trào yêu nước của nhân dân ta dần chuyển sang xu hướng dân chủ tư sản
Phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc các sĩ phu Nho học có tư tưởng tiến bộ, thức thời đã tổ chức và vận động các cuộc đấu tranh yêu nước chống Pháp theo mục tiêu và phương pháp mới đó là xu hướng bạo động của Phan Bội Châu với phong trào Đông Du và cải cách Đông Kinh Nghĩa Thục của Phan Chu Trinh, song song tồn tại và phản ánh cụ thể đặc điểm của phong trào cách mạng Việt Nam hồi đó Nhưng do hạn chế gắn liền với mỗi loại hình phong trào mà chỉ trong một thời kỳ phát triển rầm rộ, sôi động, các phong trào lần lượt
bị kẻ thù dập tắt trong bể máu Qua đây bộc lộ rõ tình trạng khủng hoảng sâu sắc
về đường lối cách mạng trong phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam
Trong hoàn cảnh lịch sử đó, chính Nguyễn Tất Thành bằng sự mẫn cảm chính trị của mình là người đầu tiên nhận thức được yêu cầu lịch sử mới của thời đại và phát hiện ra nguyên nhân thất bại của phong trào yêu nước giải phóng dân tộc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Qua đó Nguyễn Tất Thành đã đưa ra những đánh giá chính xác về sự thất bại là do đâu? Đánh giá chủ trương dựa vào Nhật
để đánh đuổi Pháp của Phan Bội Châu là “Đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”, hay của Phan Chu Trinh là “Ỷ Pháp cầu tiến bộ” chẳng qua chỉ là việc “cầu xin Pháp rủ lòng thương” hay hoạt động của Hoàng Hoa Thám vẫn còn mang nặng
“cốt cách phong kiến” Người kết luận, nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến sự thất bại của các phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam là chưa hiểu rõ bản chất của kẻ thù nên chưa thể xác định đúng đường lối cứu nước
Trang 21Nguyễn Tất Thành khẳng định rằng muốn giành độc lập cho dân tộc, đem lại sự tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân thì phải hành động, phải tranh đấu
để cứu dân, cứu nước, phải thức tỉnh mọi người vào công cuộc giải phóng Người tuy rất khâm phục tinh thần yêu nước của các vị tiền bối nhưng không tán thành con đường cứu nước của họ, vì vậy Người quyết định đi sang Pháp và các nước phương Tây nơi có tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái có khoa học kỹ thuật phát triển để xem họ làm như thế nào, học tập họ rồi trở về cứu giúp đồng bào mình thoát khỏi xiềng xích nô lệ
Thứ hai, các cuộc cách mạng tư sản ở các nước trên thế giới đều là các cuộc cách mạng thành công không đến nơi
Trong gần mười năm đầu, kể từ khi ra nước ngoài tìm đường cứu nước,
Hồ Chí Minh đã đi rất nhiều, đến cả những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật của nhân loại, đến cả những nơi nghèo khổ nhất của thế giới, làm rất nhiều việc khác nhau vừa để kiếm sống, vừa để quan sát xã hội Hoà mình trong “tầng lớp đáy” của chủ nghĩa tư bản, Hồ Chí Minh đã rút ra hàng loạt các kết luận:
- Nguồn gốc của mọi đau khổ của nhân loại là ở các nước chính quốc
- Các dân tộc muốn được giải phóng chỉ có thể dựa vào chính mình
- Ở đâu cũng có hai giống người, giống người đi áp bức và giống người
bị áp bức và cũng chỉ có một tình hữu ái là thật mà thôi, tình hữu ái vô sản
Nghiên cứu cách mạng tư sản Mỹ (1776), cách mạng Pháp (1789), Người đã rút ra nhiều bài học quý, đặc biệt là bài học về con đường cách mạng Người chỉ rõ: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mạng tư bản, cách mệnh không đến nơi tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa” [17, 274] Vì thế “Chúng ta
đã hy sinh làm cách mệnh thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh
Trang 22rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người, thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc” [17, 270]
Thứ ba, nghiên cứu về cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, Hồ Chí Minh khẳng định: Bây giờ chỉ có cách mạng Nga là thành công và thành công đến nơi
Năm 1917 khi Nguyễn Tất Thành đang sống và làm việc tại Pháp thì cách mạng tháng Mười Nga nổ ra và giành thắng lợi Chính cuộc cách mạng này đã giải phóng một vùng đất rộng lớn chiếm 1/6 diện tích thế giới “đã thức tỉnh các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc, mở ra cho họ con đường giải phóng, bỏ qua giai đoạn thống trị của chế độ tư bản để từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội” [31,188]
Cách mạng tháng Mười Nga đã lật đổ nhà nước tư sản, thiết lập chính quyền Xô Viết, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử loài người, thời đại quá độ
từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Cuộc cách mạng vô sản ở nước ta thành công đã nêu một tấm gương sáng về sự giải phóng các dân tộc bị áp bức, mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc
Với thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga và việc thành lập Quốc tế Cộng sản (1919), thì trong các Đảng xã hội ở các nước phương Tây đã nổ ra cuộc tranh luận là nên ở lại quốc tế II hay gia nhập Quốc tế III, là một Đảng viên hoạt động tích cực trong Đảng xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã tham gia tranh luận sôi nổi trong Đảng xã hội Pháp Tháng 7 – 1920 sau khi đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin ”, Nguyễn
Ái Quốc đã cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng vui mừng đến phát khóc vì
đã tìm thấy con đường giải phóng dân tộc Như vậy chính Luận cương của Lênin
đã nâng cao nhận thức của Hồ Chí Minh về con đường giải phóng dân tộc, bởi
Trang 23nó phù hợp và đáp ứng những tình cảm, suy nghĩ và hoài bão được Người ấp ủ
từ lâu, nay đang trở thành hiện thực Đó là tìm ra con đường giải phóng dân tộc, con đường kết hợp giữa độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Tháng 12 – 1920, tại Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III và góp phần sáng lập ra Đảng Cộng sản Pháp Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động của Người chuyển từ chủ nghĩa yêu nước sang chủ nghĩa cộng sản, từ một chiến sĩ giải phóng dân tộc chưa có khuynh hướng rõ ràng trở thành người Cộng sản với tư tưởng độc lập gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Có thể khẳng định rằng với tư suy độc lập, tự chủ, sáng tạo, óc phê phán tinh tường sáng suốt, ngay từ khi ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã xác định cho mình một “hướng đi” và “cách đi” hoàn toàn chính xác
Chính từ điểm xuất phát này mà Hồ Chí Minh trong thời gian bôn ba tìm đường cứu nước đã nhanh chóng nhận thức được sức mạnh của những người bị
áp bức trên toàn thế giới và yêu cầu khách quan cần phải đoàn kết tất cả những con người này trong một mặt trận chung nhằm giải phóng con người, giải phóng
xã hội
Tư tưởng này của Hồ Chí Minh, luôn được Người quán triệt trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, cả trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ lẫn trong quá trình lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Chính vì vậy, mà cách mạng Việt Nam luôn nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế, góp phần tăng thế và lực của cách mạng Việt Nam tạo nên sức mạnh tổng hợp đưa cách mạng Việt Nam vượt qua mọi khó khăn
1.2 Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Trang 24Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
mang tính chất là một học thuyết cách mạng thuộc địa ở thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới Nó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử cách mạng Việt Nam, định hướng cho sự phát triển các tư tưởng khác và thắng lợi của cách mạng
1.2.1 Thời kỳ từ 1890 đến 1920: Hồ Chí Minh khảo sát các phong trào đấu tranh yêu nước ở Việt Nam và các cuộc cách mạng trên thế giới, bước đầu hình thành tư tưởng cứu nước theo lập trường giai cấp vô sản
Xuất thân trong một gia đình nhà Nho, yêu nước, thương dân, Hồ Chí Minh sớm có điều kiện tiếp thu một nền văn hóa Quốc học, Hán học và bước đầu tiếp xúc với văn hóa phương Tây Người đã kế thừa tư tưởng yêu nước truyền thống của dân tộc Việt Nam và đặc biệt khâm phục tinh thần đấu tranh của các bậc tiền bối, nhưng với sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị, Hồ Chí Minh cũng sớm nhận ra hạn chế của những người đi trước từ đó Người đã tự định ra cho mình một hướng đi mới, phải đi sang Pháp và các nước phương Tây nơi có tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, có khoa học kỹ thuật phát triển, để xem họ làm như thế nào, học tập họ rồi trở về cứu giúp đồng bào mình thoát khỏi xiềng xích
nô lệ
Trong gần mười năm đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã đọc
được “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin (Tháng 7/1920), kể từ đây con đường giành độc lập cho dân tộc
và tự do cho đồng bào, đáp ứng những tình cảm, suy nghĩ, hoài bão được ấp ủ bấy lâu nay ở Người đã được xác định
1.2.2 Thời kỳ 1921 – 1930: Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội được hình thành về cơ bản
Trang 25Trong mười năm này, Hồ Chí Minh đã tiến hành một loạt các hành động hết sức phong phú trong Đảng Cộng sản Pháp và trong Quốc tế Cộng sản nhằm nghiên cứu sâu hơn về chủ nghĩa Mác - Lênin, đấu tranh không khoan nhượng chống lại các tư tưởng đề cao vấn đề giai cấp, coi thường vấn đề dân tộc ở một
số đại biểu Quốc tế Cộng sản và truyền bá tư tưởng cứu nước của Người về Việt Nam Hệ thống lý luận và quan điểm cách mạng của Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô sản – độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội được thể hiện ở nhiều văn kiện và qua chỉ đạo thực tiễn cách mạng của Người
Với quá trình hoạt động và chuẩn bị tích cực của Nguyễn Ái Quốc, ngày
3 – 2 – 1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, từ đây cách mạng Việt Nam có Đảng lãnh đạo – đội tiên phong của giai cấp công nhân Đảng ta đứng đầu là Nguyễn Ái Quốc đã vạch ra đường lối chiến lược, sách lược cho cách mạng Việt Nam với mục tiêu xuyên suốt là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Tại Hội nghị thành lập Đảng, Nguyễn Ái Quốc đã cho thông qua các
văn kiện “Chính cương vắn tắt”, “Sách lược vắn tắt”, “Điều lệ vắn tắt”,
“Chương trình văn tắt” và “Lời kêu gọi” nhân ngày thành lập Đảng do Người
soạn thảo Các văn kiện này thể hiện tinh thần triệt để và sáng tạo, kết hợp đúng đắn lý luận với thực tiễn của cách mạng Việt Nam Quan điểm cơ bản của các văn kiện này có giá trị xuyên suốt con đường cách mạng nước ta là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Trong Chính cương vắn tắt, Người chỉ rõ: “Làm tư sản dân quyền và thổ
địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” [18, 1] Hồ Chí Minh khẳng định sự nghiệp giải phóng dân tộc ở Việt Nam được thực hiện bằng con đường cách mạng vô sản: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào
Trang 26khác con đường cách mạng vô sản” [24, 314] Theo tư tưởng Hồ Chí Minh điều
Thứ ba, nòng cốt của cách mạng là liên minh công nông, lực lượng cách mạng là toàn dân bao gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp tiểu tư sản tri thức, giai cấp tư sản dân tộc và các cá nhân yêu nước thuộc tầng lớp địa chủ vừa và nhỏ Ngoài ra Đảng ta còn chủ trương lôi kéo tầng lớp “phú nông, trung tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ phản cách mạng, bộ phận nào
đã phản cách mạng thì phải đánh đổ” [18, 3] Trong khi coi tư sản bản xứ là một
bộ phận của lực lượng cách mạng, Đảng nêu rõ lập trường có nguyên tắc của Đảng ta là trong khi đoàn kết với các tầng lớp trên, không được nhân nhượng về nguyên tắc mà “đi vào đường lối thỏa hiệp” [18, 3] giai cấp
Thứ tư, lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân
Thứ năm, về mối quan hệ quốc tế của cách mạng Việt Nam, theo Người
cách mạng giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa ở thời đại sau cách mạng tháng Mười, có mối quan hệ khăng khít với cách mạng vô sản ở chính quốc Song theo Hồ Chí Minh, “chủ nghĩa đế quốc hiện đại đặt nền móng trên sự bóc lột hàng triệu lao động ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa Bởi thế nó chỉ tan
rã hoàn toàn và vĩnh viễn khi nào chúng ta phá bỏ được nền móng đó của lâu đài
đé quốc chủ nghĩa” [17, 126]
Thứ sáu, nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh giành độc lập
dân tộc là sự lãnh đạo của Đảng theo chủ nghĩa Mác – Lênin
Trang 27Có thể nói rằng những quan điểm, tư tưởng cách mạng trên đây của Nguyễn Ái Quốc trong những năm 20 của thế kỷ XX được giới thiệu trong các tác phẩm của Người, cùng các tài liệu mácxít khác theo những đường dây bí mật được truyền về trong nước, đến với các tầng lớp nhân dân tạo ra một xung lực mới, một chất men kích thích thúc đẩy phong trào dân tộc phát triển theo xu hướng mới của thời đại
1.2.3 Thời kỳ 1930 – 1954: tập trung đấu tranh giành độc lập dân tộc và tổ chức cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi đưa miền Bắc đi lên CNXH
Vào cuối những năm 20, đầu những năm 30 của thế kỷ XX, Quốc tế Cộng sản bị chi phối bởi khuynh hướng “tả”, khuynh hướng này đã tác động trực tiếp vào cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã kiên trì đấu tranh bảo vệ quan điểm của mình về việc phải ưu dân tiên cho vấn đề dân tộc, đặt vấn đề dân tộc lên trên hết, trước hết, chống lại những biểu hiện “tả” khuynh và biệt phái trong Đảng
Tháng 7/1935, Đại hội VII Quốc tế Cộng sản đã phê phán khuynh hướng
“tả” trong phong trào cộng sản quốc tế, chủ trương mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất vì hòa bình chống chủ nghĩa phát xít Đối với các nước thuộc địa và phụ thuộc, đại hội VII bác bỏ luận điểm “tả khuynh” trước đây về chủ trương làm “cách mạng công nông”, thành lập “chính phủ Xô Viết”… Sự chuyển hướng đấu tranh của Quốc tế Cộng sản đã chứng tỏ quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về cách mạng Việt Nam, về Mặt trận dân tộc thống nhất, về việc tập trung mũi nhọn vào chống chủ nghĩa đế quốc là hoàn toàn đúng đắn
Trong thời gian còn hoạt động ở nước ngoài, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vẫn luôn luôn theo dõi tình hình trong nước, kịp thời có những tư tưởng chỉ đạo
để cách mạng Việt Nam tiến lên Người viết tám điểm xác định đường lối, chủ trương cho cách mạng Đông Dương trong thời kỳ 1936 – 1939 Khi tình hình thế
Trang 28giới có những biến động mới, Người đã chủ động đề nghị Quốc tế Cộng sản cho
về nước hoạt động
Ngày 28/1/1941, sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người đã chủ trì Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VIII (tháng 5/1941) và Hội nghị toàn quốc của Đảng ở Tân Trào (tháng 8/1945)
Kể từ đây, lý luận, chiến lược, sách lược cách mạng của Người được Trung ương Đảng tiếp thu và thể hiện trong các Nghị quyết, chủ trương chính sách của Đảng Dưới sự lãnh đạo của Đảng và của Người lúc này ngọn cờ dân tộc và dân chủ thực sự được nêu cao Năm 1941, Người kêu gọi “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy” Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ VIII của Đảng ta chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi bộ phận giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng
không đòi lại được” [7, 113]
Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và của Hồ Chí Minh, toàn dân nhất tề “đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta” đưa cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 đến thắng lợi, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á
Mới giành chính quyền chưa được bao lâu thì thực dân Pháp đã lăm le quay lại xâm lược nước ta Ngày 23/09/1945 chúng núp sau quân đội Anh, gây hấn ở Nam Bộ, ở miền Bắc hơn 20 vạn quân Tưởng kéo vào hòng thực hiện âm mưu tiêu diệt Đảng ta, bóp chết nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ Chưa
Trang 29bao giờ trên đất nước ta lại có nhiều quân đội nước ngoài và có nhiều kẻ thù như vậy
Giặc ngoài, thù trong đất nước bị bao vây bốn phía, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chưa các nước trên thế giới công nhận, chưa có quan hệ ngoại giao quốc tế, chính quyền cách mạng ở vào tình thế “nghìn cân treo sợi tóc”, song nhân dân ta tuyệt đối tin tưởng và trông cậy vào tay lái lão luyện của cha già dân tộc – Chủ tịch Hồ Chí Minh
Như chúng ta đã biết tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh đã định hướng cho toàn Đảng, toàn dân ta thực hiện nhiệm
vụ chủ yếu là giành cho được độc lập, để “đi tới” xã hội cộng sản, lúc ấy xã hội
chủ nghĩa, xã hội cộng sản có ý nghĩa như là phương hướng đi tới của dân tộc ta
Có nước mới bàn đến kế dựng nước, lý luận cũng như thực tiễn đều chứng minh rằng, đất nước chưa thoát khỏi ách đế quốc phong kiến thì chưa có điều kiện để xây dựng chủ nghĩa xã hội Song khi đất nước đã về tay nhân dân
mà không xây dựng chủ nghĩa xã hội thì độc lập sẽ không tồn tại, trước sau sẽ rơi vào tay chủ nghĩa tư bản, và dân tộc trở thành kẻ tôi đòi của giai cấp thống trị mới – chủ nghĩa tư bản Vì vậy khẩu hiệu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra sau thắng lợi của cách mạng tháng Tám là “dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết”, thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ
Kháng chiến và kiến quốc là tư tưởng chỉ đạo chiến lược mới của Hồ
Chí Minh và Trung ương Đảng, phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử dân
tộc, dựng nước đi đôi với giữ nước Tư tưởng chỉ đạo đó là sự thể hiện tư tưởng
độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vào thời điểm 1945 – 1954, tư tưởng chỉ đạo của Đảng và của Người nhằm phát huy sức mạnh đoàn kết dân
Trang 30tộc, quyết tâm đây mạnh kháng chiến chống thực dân phản động Pháp, bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội
Trong suốt thời gian tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp, Đảng và nhân ta đã đồng thời “kiến quốc” để chuẩn bị những tiền đề để đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội khi kháng chiến kết thúc
Kiến quốc theo Hồ Chí Minh là xây dựng chế độ mới, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, xây dựng những cơ sở đầu tiên của chủ nghĩa xã hội Trong điều kiện chiến tranh ác liệt nếu không có thực lực vững mạnh, thì cuộc kháng chiến của chúng ta rất dễ bị kẻ thù tiêu diệt hơn nữa để tạo lập được các tiền đề
về cơ sở vật chất cho đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội sau khi kháng chiến thành công, thì song song với việc chỉ đạo toàn dân ra sức chiến đấu đánh thắng
kẻ thù trên chiến trường, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng nhiệm vụ
“kiến quốc” trên tất cả các lĩnh vực, nhằm phục vụ kháng chiến Chính việc xử lý khôn khéo mối quan hệ giữa kháng chiến và kiến quốc, Hồ Chí Minh và Đảng ta
đã tạo ra thế và lực mới thúc đẩy cuộc kháng chiến chống Pháp tới thắng lợi, Thực dân Pháp buộc phải rút hết khỏi Việt Nam, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng và tiếp tục thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quôc lần thứ hai, tiến dần từng bước lên chủ nghĩa xã hội
1.2.4 Thời kỳ 1954 – 1969, thời kỳ thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: tiếp tục thực hiện cuộc đấu tranh thống nhất đất nước và đưa miền Bắc
đi lên chủ nghĩa xã hội
Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết (1954) hòa bình được lập lại ở Đông Dương trên nền tảng công nhận độc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia Tình hình nước ta sau khi Hiệp định Giơnevơ được
ký kết có những biến đổi lớn, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, nhưng chưa đạt tới mục tiêu giải phóng hoàn toàn đất nước, thống nhất Tổ quốc,
Trang 31miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, từng bước xây dựng chủ nghĩa xã hội,
miền Nam bị biến thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ
Trước tình hình đó tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội, ở thời kỳ này thể hiện qua chủ trương một Đảng Cộng sản lãnh
đạo thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược ở hai miền: xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở miền Bắc, tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam
nhằm giải phóng miền Nam, tiến tới thực hiện hòa bình, thống nhất Tổ quốc, đưa
cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960), Chủ tịch Hồ
Chí Minh khẳng định: “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
miền Bắc, và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà”
Thực tế phát triển dân tộc ta từ 1930 luôn khẳng định một vấn đề mang
tính quy luật của sự phát triển là ở một nước thuộc địa, vấn đề dân tộc và dân
chủ được giải quyết càng triệt để bao nhiêu, thì những điều kiện để tiến lên chủ
nghĩa xã hội càng được tạo ra đầy đủ bấy nhiêu Ngược lại, thành quả của xây
dựng chủ nghĩa xã hội càng đạt được nhiều kết quả bao nhiêu thì độc lập và dân
chủ càng được bảo đảm bấy nhiêu
Trên quan điểm đó, nội dung tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội thời kỳ này là kết hợp đúng đắn nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở miền Bắc với nhiệm vụ chống Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam thực hiện
mục tiêu thống nhất Tổ quốc đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội
Từ thực tiễn tình hình đất nước, Đảng ta đã xác định vị trí cách mạng
mỗi miền: miền Bắc xã hội chủ nghĩa giữ vai trò quyết định nhất của sự nghiệp
cách mạng cả nước và sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà Cách mạng
miền Nam giữ vai trò quyết định trực tiếp trong sự nghiệp chống đế quốc Mỹ và
Trang 32tay sai Thông qua việc thực hiện nhiệm vụ chung của cả nước là hoàn thành độc
lập và thống nhất Tổ quốc
Đề ra đường lối cách mạng đúng đắn cho mỗi miền là chuyện khó,
nhưng kết hợp sao cho thắng lợi nhiệm vụ cách mạng hai miền với hai nội dung khác nhau lại càng khó khăn hơn vì chưa có tiền lệ, song nhờ có đường lối đúng
đắn đã vạch ra trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, mà khi miền Bắc được hoàn
toàn giải phóng, Hồ Chí Minh và Đảng chủ trương đưa miền Bắc vào thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội
Từ ngày hòa bình lập lại (1955), Hồ Chí Minh đã chỉ cho toàn Đảng, toàn dân ta thấy rõ: miền Bắc là nền tảng, là gốc rễ của lực lượng đấu tranh của
nhân dân ta Nền có vững nhà mới chắc Gốc có vững cây mới bền…Chúng ta phải ra sức củng cố miền Bắc về mọi mặt, phải làm cho miền Bắc vững mạnh và
tiến lên mãi chứ quyết không phải là hạ thấp yêu cầu củng cố miền Bắc Làm cho miền Bắc vững mạnh và tiến bộ tức là thiết thực chiếu cố miền Nam, miền Bắc giàu mạnh là cơ sở vững chắc của cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà, bởi cách mạng miền Bắc giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng miền Nam, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà
Đối với cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, Người kêu gọi đồng bào miền Nam: “Ra sức cùng đồng bào toàn quốc phấn đấu để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân chủ trong toàn quốc” [18, 322] Người cũng nhắc nhở đó là một cuộc đấu tranh lâu dài gian khổ “Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ Không có gì quý hơn độc lập tự do!” [28, 108] Từ giữa năm 1968 cách mạng miền Nam gặp nhiều khó khăn và tổn thất, tình trạng sức khỏe của Hồ Chí Minh đã giảm sút rõ rệt, nhưng Người vẫn kêu gọi “Đánh cho Mỹ phải rút hết sạch, đánh cho Ngụy quân, ngụy quyền sụp đổ hết, giải
Trang 33phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà” [28, 479]
Đường lối cách mạng Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định đã thể hiện rõ ý chí độc lập, tự chủ tự cường của dân tộc và tính sáng tạo của Hồ Chí Minh Thắng lợi của cách mạng miền Nam trong những năm 1954 – 1975 càng chứng minh sự đúng đắn, tính cách mạng và khoa học của đường lối tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược của Đảng Hai nhiệm vụ đó chẳng
những không mâu thuẫn, không bài trừ lẫn nhau mà hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau
cùng phát triển
Như vậy, dù cách mạng mỗi miền có nhiệm vụ khác nhau nhưng cùng hướng đến một mục đích chung là giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội
1.3 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
1.3.1 Gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội là nhân tố mang tính quy luật phát triển của lịch sử
Lịch sử nhân loại đã chứng minh đầy đủ và rõ nét vai trò của cách mạng
xã hội qua bốn cuộc cách mạng xã hội đưa nhân loại trải qua năm hình thái kinh
tế - xã hội nối tiếp nhau là: cộng sản nguyên thủy - chiếm hữu nô lệ - phong kiến
- tư bản chủ nghĩa - xã hội chủ nghĩa
Theo chủ nghĩa Mác - Lênin sở dĩ có những cuộc cách mạng xã hội là do lực lượng sản xuất không ngừng phát triển mâu thuẫn với quan hệ sản xuất đã lỗi thời, kìm hãm nó Yêu cầu tất yếu của sự phát triển lịch sử là phải thay thế quan
hệ sản xuất đã lỗi thời bằng một quan hệ sản xuất mới tiên tiến hơn Nhằm mở đường cho lịch sử nhân loại phát triển C.Mác và Ăngghen đã chỉ rõ: “Từ chỗ là những hình thức phát triển của các lực lượng sản xuất, những quan hệ sản xuất
Trang 34ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất, khi đó bắt đầu thời đại của một cuộc cách mạng xã hội” Thêm vào đó là mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa giai cấp bị trị và giai cấp thống trị, nên tất yếu phải có những cuộc cách mạng xã hội diễn ra để xây dựng xã hội mới công bằng, dân chủ, văn hóa hơn xã hội trước đó
Các cuộc cách mạng tư sản nổ ra vào thế kỷ XVII, XVIII ở phương Tây với những khẩu hiệu như: “Tự do - bình đẳng - bác ái” đã tập hợp quần chúng nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh lật đổ giai cấp quý tộc, phong kiến Nhưng khi giai cấp tư sản giành được chính quyền thì mọi quyền tự do, dân chủ của quần chúng nhân dân lao động không được tôn trọng, giai cấp tư sản đã vứt
bỏ ngọn cờ đấu tranh mà nó từng giương cao, chủ nghĩa đế quốc trở thành “kẻ sát nhân quốc tế” và là kẻ bóc lột lớn nhất của các dân tộc thuộc địa Vì vậy tất yếu phải có cuộc cách mạng khác cao hơn nổ ra mà ở đó nhân dân lao động được làm chủ thật sự
Trong bối cảnh đó, cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại nổ ra và thắng lợi,
mở ra thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Cách mạng tháng Mười là hiện tượng hợp quy luật phát triển của lịch sử bởi:
Sau cách mạng tháng Mười, chủ nghĩa xã hội không chỉ dừng lại ở ý thức, ở khẩu hiệu giải phóng con người, mà trên thực tế nó biến con người từ vương quốc của tất yếu sang vương quốc tự do, tạo nên một thể liên hiệp trong
đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất
cả mọi người
Mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở giai đoạn 1 giành chính quyền về tay giai cấp công nhân và nhân dân, giai đoạn 2 là “xóa bỏ mọi chế độ người bóc lột người… nhằm đưa lại cuộc sống ấm no cho toàn dân” Nghĩa là ở
Trang 35giai đoạn đầu phải đấu tranh giành độc lập dân tộc, giai đoạn sau sẽ tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội
Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới giải phóng triệt để giai cấp vô sản và nhân dân lao động khỏi ách bóc lột, áp bức bất công, mới đem lại cuộc sống ấm no, tự
do, hạnh phúc cho nhân dân và đưa nhân dân lên làm chủ xã hội Độc lập dân tộc chỉ có gắn liền với chủ nghĩa xã hội thì mới vững chắc
Như vậy, từ sau cách mạng tháng Mười, chủ nghĩa xã hội với tính ưu việt của nó, đã cổ vũ hàng loạt các nước đứng lên đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, dân chủ cho nhân dân, xóa bỏ tàn tích của chế độ thực dân phong kiến, nhiều nước trong số đó đã lựa chọn con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội hoặc định hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa xã hội đã vượt khỏi phạm vi một nước trở thành hệ thống trên thế giới đối lập với hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa Điều đó chứng tỏ chủ nghĩa xã hội từ lý luận đã trở thành hiện thực,
đã xuất hiện hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa đối lập phủ định hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa
Xuất phát từ một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, sau khi làm cách mạng dân tộc dân chủ thành công, Việt Nam bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một xuất phát điểm rất thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới Cùng một lúc chúng ta phải tiến hành hai nhiệm vụ cải tạo xã hội
cũ và xây dựng xã hội mới Chúng ta phải xây dựng mới từ đầu cả về lực lượng sản xuất lẫn quan hệ sản xuất; cả cơ sở hạ tầng lẫn kiến trúc thượng tầng
Theo Hồ Chí Minh, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên xã hội chủ nghĩa liên quan mật thiết nội tại với nhau, ảnh hưởng và thúc đẩy lẫn nhau Tiến hành kết hợp chặt chẽ hai cuộc cách mạng ấy chính là kết hợp giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, xã hội, giải phóng con người trong xã hội Việt Nam
Trang 36Nếu thực hiện bước đi tuần tự, nghĩa là sau cách mạng thành công Việt Nam sẽ đi lên chủ nghĩa tư bản và sau đó mới tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa thì vĩnh viễn dân tộc ta không thể đuổi kịp các nước đi trước Do đó, giữa hai giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa không có bức tường ngăn cách Vì vậy xác định mục tiêu đi tới chủ nghĩa
xã hội, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội chính là giải pháp duy nhất mà nhờ đó chúng ta có thể thực hiện các bước “đi tắt”, “đón đầu” nhằm đuổi kịp các nước đi trước
Ta có thể thấy rằng sự vận động của lịch sử là quanh co phức tạp, khi tiến khi lùi, hiện nay mặc dù tình quốc tế đang còn diễn biến vô cùng phức tạp, nhưng Đảng ta vẫn khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khó khăn thử thách, lịch sử thế giới hiện trải qua những bước quanh co; song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử” Vì vậy ta có thể khẳng định rằng gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa
xã hội là yếu tố mang tính quy luật phát triển của lịch sử
1.3.2 Độc lập dân tộc là mục tiêu trước hết, là cơ sở, là tiền đề để tiến lên chủ nghĩa xã hội
Độc lập dân tộc là vấn đề sống còn đối với mỗi quốc gia dân tộc, thực tiễn kinh nghiệm lịch sử đã cho thấy, sự tồn vong và phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc đều gắn liền với việc giữ vững nền độc lập và chủ quyền của quốc gia - dân tộc ấy Độc lập dân tộc luôn là nguyện vọng chính đáng của mỗi người sống trong cộng đồng dân tộc, vừa là mục tiêu vừa là động lực của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột của kẻ thù xâm lược Độc lập dân tộc là
cơ sở, điều kiện không thể thiếu để thực hiện quan hệ bang giao với các dân tộc khác Giữ vững độc lập tự chủ luôn là nguyên tắc hàng đầu đảm bảo cho các dân tộc thực hiện chính sách đối ngoại bền vững
Trang 37Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc là một khát vọng mang tính phổ biến, nó bao gồm một nội dung rất rộng, đó là độc lập thật sự, độc lập hoàn toàn, độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất Tổ quốc, gắn liền với tự do, dân chủ, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân Từ khi Pháp xâm lược Việt Nam, nền độc lập dân tộc bị mất, nhân dân bị đè nén dưới ách thống trị của ngoại bang
Xuất phát từ hoàn cảnh Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến, Hồ Chí Minh thấy rõ mâu thuẫn chủ yếu, nổi bật, cấp bách cần giải quyết là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc xâm lược cùng bọn tay sai bán nước Với tình hình trên Hồ Chí Minh cho rằng cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng
xã hội chủ nghĩa, hai giai đoạn ấy không có bức tường ngăn cách mà gắn bó chặt chẽ với nhau Mỗi giai đoạn ứng với một nhiệm vụ nhất định của tiến trình phát triển Nhiệm vụ giai đoạn trước hoàn thành tạo điều kiện, tiền đề cho việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giai đoạn sau và không ngừng phát triển theo một quy luật dẫn đến mục đích
Hồ Chí Minh nhấn mạnh nhiệm vụ dân tộc, xác định mục tiêu cốt yếu của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở nước ta là: chống thực dân Pháp xâm lược và chống địa chủ phong kiến Nhiệm vụ dân tộc và dân chủ quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó nhiệm vụ giải phóng dân tộc đặt lên trên hết, trước hết, nhiệm vụ dân chủ cần thực hiện từng bước và phải phục tùng sự nghiệp giải phóng dân tộc Tư tưởng trên đây được Hồ Chí Minh thể hiện rõ nét trong
Cương lĩnh đầu tiên của Đảng là: “chủ trương làm tư sản dân quyền và thổ địa
cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” [18, 1] Sau này Đảng ta gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội Với mục tiêu và nhiệm vụ này cho thấy thực chất cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc, bao hàm cả nội dung dân tộc và dân chủ Nhiệm vụ
Trang 38chủ yếu của cuộc cách mạng này là đánh đổ chủ nghĩa đế quốc Pháp và các loại tay sai của chúng nhằm giành lại độc lập hoàn toàn cho dân tộc Việt Nam Gắn liền với nhiệm vụ chống đế quốc giành lại độc lập cho dân tộc là nhiệm vụ chống phong kiến Việt Nam lỗi thời, phản bội quyền lợi dân tộc giành các quyền dân chủ cho nhân dân, trong đó mang lại ruộng đất cho nông dân nghèo, đây là mục tiêu dân chủ hàng đầu quan trọng nhất
Đầu năm 1941 Nguyễn Ái Quốc về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người chủ trì Hội nghị Ban chấp hành trung ương lần VIII (Tháng 5/1941), trong Hội nghị Người nhấn mạnh hơn bao giờ hết vấn đề dân tộc, quyết tâm đánh Pháp, đuổi Nhật giành lại độc lập cho dân tộc Đến đây tính cấp bách, trực tiếp của mục tiêu độc lập dân tộc của cách cách mạng Việt Nam nói chung, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam nói riêng theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã được Đảng ta nhận thức sâu sắc hơn và quyết tâm thực hiện Nhận thức đúng đắn này đã tạo nên sức mạnh to lớn của dân tộc Việt Nam và đem đến thắng lợi vĩ đại của cách mạng tháng 8/1945 Cách mạng tháng Tám thắng lợi, chính phủ công nông ra đời, song do đế quốc Pháp xâm lược nước ta lần nữa, tiếp đó đế quốc Mỹ hất khẳng Pháp khỏi Việt Nam, biến miền Nam nước ta thành thuộc địa của chúng Vì vậy nền độc lập của dân tộc chưa được thực hiện hoàn toàn Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Hồ Chí Minh cách mạng Việt Nam đồng thời phải tiến hành hai chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam Hai chiến lược cách mạng này quan hệ gắn bó với nhau, cùng nhằm thực hiện mục tiêu trước mắt, chủ yếu là giải phóng miền Nam, giành lại độc lập hoàn toàn cho dân tộc, thống nhất trọn vẹn cho Tổ quốc
Do đó độc lập dân tộc là mục tiêu cốt tử trước mắt mà các dân tộc bị áp bức nô dịch hướng tới Hồ Chí Minh đã lựa chọn con đường gắn liền độc lập dân
Trang 39tộc với chủ nghĩa xã hội, tức là tiến hành cách mạng vô sản, thực hiện lý tưởng giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội, đem lại độc lập tự do hạnh phúc cho nhân dân lao động
Trong cuộc đấu tranh giành độc lập tự do cho Tổ quốc, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở các đồng chí, đồng bào, chiến sĩ của mình về sự quyết tâm giành cho được độc lập tự do dù có phải hy sinh xương máu Bởi độc lập tự do là khát vọng của con người, là khát vọng của mọi dân tộc trên thế giới Độc lập dân tộc
là mục tiêu của mọi cuộc đấu tranh để thoát khỏi mọi ách áp bức bóc lột của giặc ngoại xâm, có độc lập, tự do, hòa bình, đất nước mới có điều kiện để xây dựng tổ chức tốt đời sống cho đồng bào
Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng, là điều kiện đảm bảo cuộc sống ấm no, tự
do, hạnh phúc cho nhân dân, là nhân tố đảm bảo vững chắc của nền độc lập dân tộc Hồ Chủ Tịch đã từng nói: “Nhưng nếu được độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” [16, 56] Do đó sau khi giành độc lập, phải tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho dân giàu nước mạnh, mọi người được hưởng sung sướng tự do Người khẳng định “Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm” [24, 173]
Độc lập dân tộc thực sự đảm bảo cho các dân tộc có quyền tự quyết dân tộc, “trong việc lựa chọn chế độ chính trị, lựa chọn con đường và mô hình phát triển” [2, 5] độc lập cả về kinh tế, chính trị, văn hóa Điều quan trọng là độc lập dân tộc phải thực sự đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân, nhân dân có cuộc sống ấm no tự do, hạnh phúc, con người được phát triển toàn diện có năng lực và điều kiện làm chủ Độc lập tự do sẽ trở nên vô nghĩa nếu sự độc lập tự do chỉ là