Du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa xã hội và hoạt động du lịch đang được phát triển một cách mạnh mẽ trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nhiề
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
môi trường - Một số biện pháp để giảm thiểu
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SƯ PHẠM ĐỊA LÝ
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài .1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
2.1 Trên thế giới 2
2.2 Ở Việt Nam 2
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 3
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 3
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Các quan điểm nghiên cứu 3
4.1 Quan điểm hệ thống 3
4.2 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ .4
4.3 Quan điểm kinh tế sinh thái .4
4.4 Quan điểm phát triển bền vững 4
4.5 Quan điểm lịch sử viễn c ảnh 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
5.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp, xử lý, phân tích số liệu, tài liệu 5
5.2 Phương pháp bản đồ, biểu đồ 5
5.3 Phương pháp thực địa 5
6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
PHẦN NỘI DUNG .6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI .6
1.1 Một số khái niệm liên quan 6
1.1.1 Du lịch 6
1.1.2 Du khách 6
1.1.3 Tài nguyên du lịch 7
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch 8
1.2.1 Nhân tố tự nhiên 8
Trang 31.3 Khái quát về huyện Bố Trạch 11
1.3.1 Khái quát về tự nhiên 11
1.3.2 Khái quát về kinh tế - xã hội 18
CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở HUYỆN BỐ TRẠCH – TỈNH QUẢNG BÌNH 25
2.1 Khái quát về tiềm năng du lịch huyện Bố Trạch 25
2.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 25
2.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 26
2.2 Hoạt động du lịch ở huyện Bố Trạch trong những năm gần đây 28
2.2.1 Khách du lịch 28
2.2.2 Về doanh thu 31
2.2.3 Cơ sở lưu trú 32
2.2.4 Về thời gian lưu trú và thời vụ lưu trú 33
2.2.5 Các loại hình du lịch ở huyện Bố Trạch 35
2.3 Một số điểm du lịch chính ở huyện Bố Trạch 39
2.3.1 Phong Nha- Kẻ Bàng 39
2.3.2 Bãi biển Đá Nhảy 48
2.3.3 Danh thắng Lí Hòa 49
2.3.4 Đường mòn Hồ Chí Minh 50
CHƯƠNG 3: ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở HUYỆN BỐ TRẠCH – TỈNH QUẢNG BÌNH TỚI MÔI TRƯỜNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ GIẢM THIỂU 54
3.1 Thực trạng công tác quản lý, bảo vệ môi trường tại các điểm du lịch của huyện Bố Trạch 54
3.2 Ảnh hưởng của hoạt động du lịch ở huyện Bố Trạch đến môi trường địa phương 56
3.2.1 Ảnh hưởng tích cực 57
3.2.2 Ảnh hưởng tiêu cực 62
3.3 Một số giải pháp để giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường địa phương 71
Trang 43.3.1 Biện pháp đối với môi trường tự nhiên 71 3.3.2 Biện pháp đối với môi trường kinh tế - xã hội 74
PHẦN KẾT LUẬN 79 PHỤ LỤC HÌNH ẢNH
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 1.1: Nhiệt độ và độ ẩm tương đối trung bình 14
Bảng 2.1: Hiện trạng khách du lịch đến huyện Bố Trạch giai đoạn 2003 -2010 28
Bảng 2.2: Doanh thu từ hoạt động du lịch của huyện Bố Trạch giai đoạn 2003-2010 31
Bảng 2.3 : Hiện trạng ngày khách lưu trú đến Bố Trạch 33
Bảng 2.4: Tóm tắt các phân vùng địa giới khu vực VQG PNKB 41
Bảng 2.5: Lượt khách du lịch đến VQG Phong Nha – Kẻ Bàng 45
Bảng 3.1: Kết quả phân tích các mẫu nước mặt ở các điểm du lịch tại huyện Bố Trạch 63 Bảng 3.2 : Kết quả phân tích các mẫu không khí tại các điểm du lịch ở huyện Bố Trạch 66
Trang 6DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1: Biểu đồ thể hiện lượt khách đến tham quan và doanh thu từ hoạt động du
lịch ở huyện Bố Trạch giai đoạn 2003-2010 32
Hình 2.2 Lượng khách du lịch đến VQG Phong Nha – Kẻ Bàng 46
Hình 2.3 Doanh thu du lịch của VQG Phong Nha – Kẻ Bàng 47
Hình 2.4 : P hong Nha – Kẻ Bàng 48
Hình 2.5: Bãi biển Đá Nhảy 49
Hình 2.6: Danh thắng Lý Hòa 50
Hình 2.7 : Đường Hồ Chí Minh 52
Hình 2.8 : Bến Phà Xuân Sơn 52
Hình 2.9 : Bến Phà Nguyễn Văn Trội 52
Hình2.10 : Hang tám cô 53
Hình 2.11 :Tượng đài TN - XP tại đường 20 quyết thắng 53
Hình 3.1: Rác ở bãi biển Đá Nhảy 55
Hình 3.2: Cảnh quan, cơ sở hạ tầng tại các điểm du lịch ở huyện Bố Trạch được quy hoạch xây dựng đẹp hơn 59
Hình 3.3: Thanh niên tình nguyện dọn vệ sinh tại điểm du lịch Đá Nhảy 59
Hình 3.4: Các công trình và lều quán được xây dựng tạm bở, không có quy hoạch làm mất cảnh quan 68
Hình 3.5: Hệ động thực vật tại VQG Phong Nha – Kẻ Bàng bị xâm phạm 69
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1.VQG: Vườn quốc gia
2 UNESCO: Tổ chức văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên Hợp Quốc
3 TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam
4 Chỉ số COD: Nhu cầu oxy hóa học
5 Chỉ số BOD5: Nhu cầu oxy sinh học
6 Chỉ số TS: Tổng hàm lượng chất rắn trong nước
7 KH: Kế hoạch
8 UBND: Ủy ban nhân dân
9 THPT : Trung học phổ thông
10.THCS: Trung học cơ sở
11 GDTX: Giáo dục thường xuyên
12 CHDCND: Cộng hòa dân chủ nhân dân
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, văn hóa, khoa học
kĩ thuật, thì nhu cầu của con người ngày càng được nâng cao Du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa xã hội và hoạt động du lịch đang được phát triển một cách mạnh mẽ trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước trên thế giới Phát triển du lịch đem nguồn lợi rất lớn về kinh tế cho các quốc gia Đồng thời hoạt động du lịch phát triển còn làm cho các dân tộc trên thế giới xích lại gần nhau hơn, hiểu biết lẫn nhau
Nằm ở Bắc Trung Bộ, Quảng Bình là một mảnh đất của “gió Lào và cát trắng ”,tuy nhiên lại là một địa danh được thiên nhiên ưu ái và ban tặng nhiều phong cảnh tự nhiên đẹp Với đặc trưng về mặt lãnh thổ là dài và hẹp ngang, 85% diện tích tự nhiên là đồi núi, gồm đầy đủ các dạng địa hình: vùng núi cao, vùng đồi và trung du, vùng đồng bằng, vùng cát ven biển tạo nhiều phong cảnh tự nhiên đẹp cùng với những di tích văn hóa lịch sử…đã làm phong phú đa dạng các loại hình du lịch Từ đó đã góp phần vào sự phát triển của du lịch nói riêng và kinh tế xã hội tỉnh Quảng Bình nói chung
Bố Trạch là một trong những huyện của tỉnh Quảng Bình có nhiều tiềm năng để khai thác và phát triển du lịch Với nhiều phong cảnh tự nhiên đẹp như các bãi biển Trung Trạch, Đá Nhảy… các hệ thống núi, hệ thống hang động đặc biệt là hệ thống động ở Phong Nha – Kẻ Bàng… cùng với các di tích lịch sử văn hóa cách mạng như Hang Tám Cô, Đường mòn Hồ Chí Minh, Phà Xuân Sơn… có giá trị du lịch rất lớn đã góp phần làm phong phú và đa dạng các loại hình du lịch của địa phương Tuy nhiên việc khai thác các tài nguyên du lịch ở huyện Bố Trạch trong thời gian qua còn bất cập và có nhiều hạn chế, việc phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của vùng và ít nhiều
Trang 9Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Tìm hiểu hoạt
động du lịch ở huyện Bố Trạch – tỉnh Quảng Bình và những ảnh hưởng của nó tới môi trường - Một số biện pháp để giảm thiểu” để làm đề tài
nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Trên thế giới
Du lịch được đề cập đến từ những năm 30 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các định nghĩa của mình về du lịch đó là: Buckley, Wood, dần dần đã thu hút đông đảo các nhà nghiên cứu tham gia cả về lý luận lẫn thực tiễn du lịch Việc nhìn nhận và tiếp cận vấn đề ngày càng rộng rãi hơn, hoàn thiện hơn như: Cater, Chaker, Dowling, Western… Nhiều nhà nghiên cứu du lịch đã quan tâm tới việc đánh giá những tác động của du lịch đối với môi trường tự nhiên như: Budowski, Tangi, Mathieson, Wall,… Các tác giả này đều đi đến thống nhất quan điểm cần phải quán triệt hoạt động du lịch sao cho vừa thu được lợi nhuận vừa bảo vệ môi trường, có nghĩa là cần có một loại hình du lịch có trách nhiệm đối với môi trường để phát triển bền vững
2.2 Ở Việt Nam
Ở nước ta nghiên cứu về vấn đề du lịch mới được đề cập nhiều vào thập
kỷ 90 của thế kỷ XX, khi hoạt động du lịch dần dần trở nên khởi sắc Một số công trình nghiên cứu đã đề cập nhiều khía cạnh khác nhau của hoạt động du lịch như: “Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam”, “Địa lý du lịch”, “Cơ sở địa lý
du lịch”…
Đối với du lịch ở huyện Bố Trạch thì đã có một số đề tài nghiên cứu tình hình cũng như hoạt động du lịch ở một số điểm du lịch trong huyện Bố Trạch đặc biệt là ở vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng như:
- Đề tài báo cáo và nghiên cứu khoa học: “ Các nguy cơ gây áp lực đối với môi trường du lịch tại Phong Nha – Kẻ Bàng và các giải pháp bảo vệ môi trường Di sản Thiên nhiên Thế giới” của TS Võ Quế (Viện nghiên cứu phát
Trang 10triển du lịch), năm 2006; một số công trình nghiên cứu về địa chất địa mạo, đa dạng sinh học, hệ thống hang động để phục vụ cho việc xây dựng hồ sơ Di sản thiên nhiên thế giới Các công trình nghiên cứu về hoạt động du lịch ở huyện Bố Trạch nói chung và ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường địa phương rất ít và chưa có đề tài nào cụ thể Vì vậy, đề tài này được thực hiện dựa trên cơ sở tiếp thu, kế thừa và mở rộng, phát triển thêm so với các đề tài trước
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu hoạt động du lịch ở huyện Bố Trạch để phân tích, đánh giá mức độ ảnh hưởng của nó đến môi trường
- Đưa ra các biện pháp để giảm thiểu, hạn chế những tác động tiêu cực tới môi trường và phát triển du lịch bền vững
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu và giải quyết những vấn đề cơ bản sau:
- Tổng quan lý luận chung về hoạt động du lịch, các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch và khái quát chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Bố Trạch
- Tìm hiểu hoạt động du lịch ở huyện Bố Trạch
- Tìm hiểu ảnh hưởng của hoạt động du lịch ở huyện Bố Trạch tới môi trường
- Đề xuất các biện pháp nhằm hạn chế, giảm thiểu những ảnh hưởng xấu tới môi trường xung quanh
4 Các quan điểm nghiên cứu
4.1 Quan điểm hệ thống
Các điều kiện và nhân tố du lịch tồn tại và phát triển trong sự thống nhất giữa các thành phần: tự nhiên- kinh tế xã hội Nghiên cứu đề tài dựa trên quan điểm này sẽ biết được cơ chế hoạt động bên trong của hệ thống trong quá
Trang 11trình tác động qua lại giữa các thành phần cũng như cơ chế hoạt động bên ngoài và tác động của nó với môi trường xung quanh Do vậy nó được quán triệt như một quan điểm chủ đạo trong quá trình nghiên cứu
4.2 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Các yếu tố hình thành nên loại hình du lịch không thể tách rời khỏi không gian lãnh thổ cụ thể, chúng liên kết chặt chẽ với nhau thành một thể tổng hợp với các loại tài nguyên và các loại hình du lịch phục vụ cho du lịch Quan điểm này vận dụng thông qua việc phân tích, đánh giá ảnh hưởng của việc khai thác du lịch đến môi trường xung quanh
4.3 Quan điểm kinh tế sinh thái
Kinh tế sinh thái là tất cả các biện pháp nhằm tăng cường khả năng tiếp cận và tái tạo của thiên nhiên, qua đó có thể giữ nguyên được hiện trạng hoặc nâng cao khả năng của nó Vì vậy, quan điểm kinh tế sinh thái dưới góc độ kinh tế đó là việc sử dụng hệ thống tự nhiên theo mục tiêu mà vẫn giữ được hay cải thiện hệ thống sinh thái Quan điểm này là quan điểm đặc thù trong nghiên cứu nhằm tìm ra giải pháp cho sự phát triển du lịch ở huyện Bố Trạch
4.4 Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững là sự phát triển thỏa mãn nhu cầu hiện tại mà không xâm phạm đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ mai sau
Quan điểm này nhấn mạnh: Mọi quá trình phát triển trong đó có hoạt động du lịch đòi hỏi không chỉ đem lại hiệu quả, lợi ích kinh tế trước mắt mà còn phải đi đôi với việc bảo vệ môi trường, bảo tồn và đóng góp lợi ích cho cộng đồng địa phương Vì vậy, nhiệm vụ bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý các giá trị của tự nhiên trong quá trình phát triển kinh tế xã hội là rất cần thiết
4.5 Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Du lịch cũng có quá trình phát sinh và phát triển vì thế quan điểm này được vận dụng trong quá trình phân tích, tổng hợp các quá trình hình thành, phát triển trong hệ thống du lịch và xu hướng phát triển của hệ thống lãnh thổ
Trang 12Thông qua đó chúng ta biết được giá trị của tài nguyên du lịch trong quá khứ cũng như dự báo được hướng phát triển của chúng trong tương lai
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp, xử lý, phân tích số liệu, tài liệu
Việc nghiên cứu một đề tài cần rất nhiều nguồn tài liệu, số liệu từ các cơ quan, ban ngành có liên quan, vì vậy cần phải thu thập, tổng hợp, lựa chọn cho phù hợp với nội dung nghiên cứu đề tài
Phương pháp này được áp dụng trong quá trình đánh giá các ảnh hưởng của hoạt động du lịch tới môi trường xung quanh có căn cứ xác thực hơn Nguồn thu thập được sau khi phân tích, đánh giá sẽ làm rõ được những thay đổi môi trường tự nhiên, kinh tế xã hội trong quá trình hoạt động du lịch ở huyện Bố Trạch
5.2 Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Đây là phương pháp đặc thù của ngành địa lý Do lãnh thổ du lịch phân
bố rộng và gồm nhiều thành phần do vậy việc thực địa không thể bao quát hết toàn bộ lãnh thổ và quan sát tỉ mỷ từng đối tượng vì thế cần phải sử dụng bản
đồ nhằm trực quan hóa số liệu, cho chúng ta thấy rõ tình hình hoạt động du lịch của địa phương
5.3 Phương pháp thực địa
Đây là phương pháp rất quan trọng không thể thiếu đối với địa lý du lịch Kết hợp việc nghiên cứu bản đồ và các tài liệu liên quan với thực địa nhằm nắm được những đặc trưng của lãnh thổ một cách thực tế, làm cho thông tin trở nên chính xác và mang tính thực tiễn cao
6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu, tìm hiểu hoạt động du lịch ở huyện Bố Trạch và ảnh hưởng của nó tới môi trường xung quanh Từ đó đưa ra những biện pháp để giảm thiểu
Lãnh thổ nghiên cứu: hoạt động du lịch ở huyện Bố Trạch
Phạm vi thời gian: từ năm 2003- 2010
Trang 13tế các tổ chức du lịch ( IUPTO) năm 1925 tại Hà Lan, khái niệm du lịch luôn luôn được tranh luận Đầu tiên du lịch được hiểu là việc đi lại của một
cá nhân hoặc một nhóm người rời khỏi chỗ ở của mình trong một khoảng thời gian ngắn đến các vùng khác để nghỉ ngơi, giải trí hoặc chữa bệnh
Ngày nay người ta đã thống nhất rằng về cơ bản tất cả các hoạt động
di chuyển của con người trong và ngoài nước trừ việc đi cư trú chính trị, tìm việc làm và xâm lược đều mang ý nghĩa du lịch
Vậy, du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu trú tam thời ngoài ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm mục đích nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa – xã hội
1.1.2 Du khách
Du khách hay khách du lịch là những người, nhóm người thực hiện cuộc hành trình và lưu trú tạm thời ở những nơi ngoài nơi ở thường xuyên của họ trong thời gian không quá một năm với các mục đích hưởng nhàn và những mục đích khác như hoạt động văn hóa, tín ngưỡng, hội thảo … Nơi
họ đến lưu trú đó họ không làm những việc có thu nhập
Có 2 loại du khách là du khách quốc tế và du khách nội địa
Trang 14Du khách quốc tế: là những người đến cư trú tại một quốc gia khác không quá một năm và họ đi với mục đích chính là thực hiện những hoạt động không có thu nhập trong thời gian tại quốc gia thăm viếng
Du khách nội địa: là những cư dân trong quốc gia du hành đến những nơi khác trong thời gian không quá một năm Mục đích chính của chuyến đi
là thực hiện những hoạt động tham quan, thưởng ngoạn…những hoạt động không có thu nhập tại nơi họ đến
Như vậy, du khách hay khách du lịch là chỗ dựa khách quan cho sự phát sinh và phát triển của ngành du lịch Đồng thời nó còn là chỗ dựa chủ yếu để ngành du lịch thu được lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị xã hội và lợi ích văn hóa
1.1.3 Tài nguyên du lịch
Du lịch là một trong những ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt, tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ của ngành du lịch, đến việc hình thành chuyên môn hóa các ngành du lịch và hiệu quả kinh tế của hoạt động dịch vụ
Tài nguyên du lịch rất đa dạng và phong phú, nó là điều kiện có tính tiên quyết để thu hút khách du lịch Tài nguyên du lịch bao gồm cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, tuyến du lịch
Tài nguyên du lịch được phân chia thành tài nguyên du lịch tự nhiên
và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác,
có thể thuộc sở hữu nhà nước hoặc sở hữu của tổ chức, cá nhân
- Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch
Trang 15- Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch
Như vậy, tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch đang khai thác, tài nguyên du lịch chưa khai thác Mức độ khai thác tiềm năng tài nguyên du lịch phụ thuộc vào khả năng nghiên cứu phát hiện và đánh giá các tiềm năng tài nguyên vốn còn tiềm ẩn; yêu cầu phát triển các sản phẩm du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch (các nhu cầu này ngày một lớn và đa dạng phụ thuộc vào mức độ sống và trình độ dân trí); cũng như phụ thuộc vào trình độ phát triển khoa học công nghệ nhằm tạo ra các phương tiện để khai thác các tiềm năng tài nguyên
Tài nguyên du lịch phải được bảo vệ, tôn tạo và khai thác hợp lý để phát huy hiệu quả sử dụng và bảo đảm phát triển du lịch bền vững Nhà nước thống nhất quản lý tài nguyên du lịch trong phạm vi cả nước, có chính sách
và biện pháp để bảo vệ, tôn tạo và khai thác hợp lý tài nguyên du lịch
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch
1.2.1 Nhân tố tự nhiên
a Vị trí địa lý
Vị trí địa lý giữ một vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển du lịch Điểm du lịch nào nằm gần các trung tâm du lịch lớn, các thành phố lớn – nơi kinh tế phát triển, nơi dân cư tập trung đông đúc sẽ có khả năng thu hút rất nhiều du khách Vị trí địa lý đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi hoặc gây khó khăn trở ngại cho việc đi lại của du khách Chính vì vậy mà các trung tâm du lịch lớn, phát triển trên thế giới đều mang đặc điểm chung là có vị trí địa lý rất thuận lợi
b Địa hình
Đối với hoạt động du lịch, các dạng địa hình thường ảnh hưởng đến công
Trang 16tác xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất – kỹ thuật nhưng đồng thời nó cũng tạo nền cho phong cảnh Bản thân một số kiểu địa hình độc đáo (như địa hình karst, địa hình vùng núi granit…) chính nó đã toát lên giá trị du lịch Hầu hết trong các tài nguyên du lịch tự nhiên thì địa hình đóng một vai trò then chốt tạo nên những nét đặc trưng cho các cảnh quan tự nhiên
c Khí hậu
Khí hậu là một thành phần quan trọng của môi trường tự nhiên, nó đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển du lịch Thông thường con người sống trong những thời điểm mà khí hậu khá khắc nghiệt thì sẽ đi đến những nơi khác có khí hậu thích hợp hơn Nghiên cứu các làn sóng du lịch chúng ta dễ dàng nhận thấy một nét chung rằng những người ở xứ lạnh phương Bắc thường đi nghỉ đông ở những vùng ấm áp phương Nam Người ở
xứ nóng trong những ngày hè oi bức thường đi nghỉ mát ở các vùng biển hay núi cao, nơi có khí hậu mát mẻ Ở nước ta, một số nơi có điều kiện khí hậu lý tưởng như Đà Lạt, SaPa, Bạch Mã, Bà Nà… đều là những trung tâm nghỉ mát nổi tiếng
Tài nguyên khí hậu còn có giá trị lớn đối với việc chữa một só bệnh như huyết áp, tim mạch, thần kinh, hô hấp…nếu như có đầy đủ điều kiện thuận lợi
về nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, áp suất không khí, lượng oxy trong lành trong không khí Những nơi có khí hậu tốt đều thích hợp với việc xây dựng các nhà
an dưỡng
Thời tiết khí hậu có ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch du lịch, trong điều kiện khí hậu hay thời tiết diễn biến không thuận tiện như bão tố, gió mùa đông bắc, nắng và bụi trong mùa khô nóng, lũ lụt, sương mù…thì đi du lịch là không thuận tiện, chính điều này làm cho hoạt động du lịch mang tính mùa
vụ
d Động thực vật
Ngày nay, khi mà mức sống của con người ngày càng tăng lên thì nhu
Trang 17cầu nghỉ ngơi, du lịch của họ ngày càng tăng lên và thị hiếu về tham quan, tìm hiểu ngày càng đa dạng phong phú Vì vậy, đã xuất hiện một số hình thức du lịch mới hấp dẫn du khách đó là du lịch ở ác khu bảo tồn thiên nhiên Sở dĩ một số nước ở Châu Phi, Đônh Âu và Đông Nam Á thu hút được đông đảo khách du lịch là do họ đã biết tận dụng khai thác các loại tài nguyên thiên nhiên đó là nguồn tài nguyên động thực vật (đặc biệt là động thực vật quý hiếm) Ở nước ta có rất nhiều khu bảo tồn thiên nhiên, trong đó đặc trưng nổi bật là vườn Quốc Gia Cúc Phương
1.2.2 Nhân tố kinh tế- xã hội
a Giá trị văn hóa lịch sử
Giá trị văn hóa – lịch sử cũng có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển ngành du lịch Du khách ngoài sự thỏa mãn nhu cầu thị hiếu của mình còn có một nhu cầu khác đó là tìm hiểu những giá trị văn hóa – lịch sử ở các khu vực khác nhau nhằm bổ sung thêm sự hiểu biết cho bản thân Ở nước ta cũng có rất nhiều khu di tích lịch sử - văn hóa đã đưa vào khai thác như cụm di tích Đền Hùng – Phú Thọ, văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên… hàng năm thu hút hàng triệu du khách đến tham quan và giá trị kinh tế mà nó mang lại cũng rất lớn
b Môi trường
Môi trường cũng có tính chất quyết định đối với các hoạt động du lịch, bởi bất kỳ loại hình du lịch nào có môi trường rộng rãi, thoáng đãng, trong sạch, đảm bảo an ninh, chắc chắn sẽ thu hút khách du lịch nhiều hơn Môi
Trang 18trường có ảnh hưởng lớn tới cảm nhận, ấn tượng của du khách, có tác dụng làm tăng thêm giá trị cho điểm du lịch
c Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật
Với bất kỳ một khu du lịch nào thì cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật đều có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của khu, điểm du lịch đó Yếu tố này là điều kiện để thu hút khách và giữ khách Nếu thiếu cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông, liên lạc, điện nước không thuận lợi thì hoạt động
du lịch thì hoạt động du lịch không có điều kiện để tiến hành, thậm chí đình chỉ hoạt động hoặc nếu có triển khai thì sẽ có những tác động tiêu cực làm nguy hại đến cảnh quan môi trường tự nhiên Nơi nào cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỷ thuật còn yếu kém thì cho dù các điều kiện tài nguyên du lịch thuận tiện đến bao nhiêu đi chăng nữa, hoạt động du lịch ở nơi đó không thể khai thác hiệu quả được Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất - kỷ thuật bao gồm rất nhiều yếu tố và đó chính là điều kiện để thực hiện và nâng cao giá trị của điểm du lịch
Để hình thành và phát triển khu du lịch thì nó phải hội tụ đầy đủ nhiều nhân tố và điều kiện Các điều kiện, nhân tố có thể thúc đẩy du lịch phát triển, nhưng đồng thời tạo ra sự cản trở đến sự phát triển đó nếu nó không thuận lợi
1.3 Khái quát về huyện Bố Trạch
1.3.1 Khái quát về tự nhiên
Trang 19- Phía Bắc giáp huyện Tuyên Hóa và huyện Quảng Trạch, phía Tây Bắc giáp huyện Minh Hóa;
- Phía Nam giáp huyện Quảng Ninh, phía Đông Nam giáp Thành phố Đồng Hới;
- Phía Đông giáp Biển Đông;
- Phía Tây giáp tỉnh Khăm Muộn thuộc Lào
Huyện Bố Trạch có 30 xã, thị trấn Trong đó, có 2 xã vùng rẻo cao, 9 xã miền núi, 7 xã ven biển, 8 xã thuộc vùng công giáo Huyện có nhiều điều kiện thuận lợi
về vị trí địa lý, thế mạnh về thương mại và dịch vụ Vì vậy, huyện Bố Trạch có một
vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Bình
b Địa hình, địa mạo
Huyện Bố Trạch có địa hình nghiêng dần từ Tây sang Đông, bị chia cắt mạnh và có thể chia thành các dạng địa hình sau:
- Địa hình núi đá vôi: tập trung ở các xã Thượng Trạch, Tân Trạch và
một phần diện tích phía Tây của xã Xuân Trạch, Sơn Trạch, Phúc Trạch Các khối núi đá vôi ở đây bị chia cắt thành những dải liên tục hoặc độc lập với những vách đá dựng đứng, xếp lớp, đỉnh lởm chởm, thường kèm theo quá trình karst do hoà tan và ngưng đọng carbonat hình thành nên các nhũ đá, măng đá, nấm đá, chuông đá, cột đá đa dạng, phức tạp Nhiều nơi đá bị mài mòn tạo nên những cổng trời, rừng đá, cầu đá, giếng đá Một số sông suối bị mất do chảy ngầm trong núi đá vôi hàng mấy chục km, điển hình là động Phong Nha, đây là một trong những hang động núi đá vôi dài nhất thế giới
- Địa hình gò đồi: giáp giữa địa hình núi đá vôi và địa hình đồng bằng
Độ cao trung bình của dạng địa hình này từ 200- 100m, thuộc địa bàn các xã:
Lý Trạch, Nam Trạch, Hòa Trạch, Cự Nẫm, Vạn Trạch, Tây Trạch, Phú Định, Nông Trường Việt Trung Vùng gò đồi hình thành nhiều khu vực đất đai rộng lớn màu mỡ cho trồng trọt và chăn nuôi Trên dạng địa hình này rất thuận tiện cho việc phát triển cây công nghiệp dài ngày đặc biệt là cây cao su Đây là
Trang 20vùng có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế hàng hóa, tạo khối lượng nông, lâm sản hàng hóa cho huyện
- Địa hình đồng bằng: là vùng đất hẹp chạy dọc theo quốc lộ 1A Địa
hình tương đối bằng phẳng, thỉnh thoảng có một vài đồi gò thấp độ dốc nhỏ, nơi cao nhất là 60 m so với mặt biển Ở dạng địa hình này rất thuận tiện cho việc phát triển trồng lúa nước và phát triển cây trồng hàng năm Đây là vùng sản xuất nông nghiệp chính, cung cấp lương thực chủ yếu của huyện Địa hình này phân bố ở các xã: Tây Trạch, Đồng Trạch, Bắc Trạch, Mỹ Trạch, thị trấn Hoàn Lão, Phú Trạch, Hạ Trạch, Sơn Lộc, Lý Trạch, Hoàn Trạch, Vạn Trạch, Trung Trạch, Đại Trạch
- Địa hình ven biển: Dọc theo bờ biển huyện Bố Trạch có những cồn
cát và dải cát trắng vàng giáp vùng đồng bằng, ổn định, địa hình bằng và thấp, cao từ 2m – 50m Vùng này gồm các xã Nhân Trạch, Đại Trạch, Trung Trạch, Đức Trạch, Hải Trạch, và một phần xã Thanh Trạch
c Khí hậu
Bố Trạch có khí hậu đậm nét đặc trưng của vùng nhiệt đới gió mùa vùng Bắc Trung Bộ, mùa hè nóng lắm ít mưa, mùa đông lạnh mưa nhiều Đây là một vùng có khí hậu rất khắc nghiệt Hàng năm thường có nhiều trận bão lụt, nước biển dâng gây thiệt hại không nhỏ đến sản xuất, đời sống và con người
- Chế độ mưa:
Lượng mua trung bình năm từ 2100 – 2300 mm, phân bố không đồng đều theo vùng và theo mùa Từ tháng 4 đến tháng 7 ít mưa, lượng mưa chiếm khoảng 20 – 25% lượng mưa cả năm Từ tháng 9 đến tháng 12 lượng mưa chiếm tới 70 – 75% lượng mưa cả năm, thường gây ngập úng, lũ lụt trên diện rộng Số ngày mưa trung bình khá cao 135 – 140 ngày
- Chế độ nhiệt và độ ẩm thể hiện trong biểu sau:
Trang 21Bảng 1.1: Nhiệt độ và độ ẩm tương đối trung bình
Thán
g
đối trung bình (%)
Trung
bình
Tối cao trung bình
Tối thấp trung bình
Tối thấp tuyệt đối
- Gió, bão
Hàng năm Bố Trạch thường chịu ảnh hưởng của hai luồng gió chính Gió mùa Đông Bắc thổi từ Trung Quốc và vịnh Bắc Bộ trong thời gian từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Gió mùa Tây Nam thổi từ vịnh Ben gan tràn qua lục địa luồn qua các các dãy núi phía tây, đặc biệt là dãy Trường Sơn thổi
Trang 22qua Gió mùa Tây Nam bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 năm sau, tháng 6 đến tháng 7 trung bình mỗi năm có 18 đến 20 ngày gió mùa Tây Nam rất khô và nóng, nhân dân thường gọi là “Gió lào”
Trung bình hàng năm có khoảng 4 - 5 trận bão tác động đến địa phận huyện Bố Trạch Sức gió của những cơn bão thường có cường độ từ cấp 7 đến cấp 9, thậm chí có những trận bão lên đến cấp 12 hoặc 13 Bố Trạch là một vùng ven biển nên thường phải chịu sự phá hoại nặng nề của những trận bão lớn, gây sạt
lỡ các cửa sông Các cơn bão này thường kèm theo mưa lớn và hay gây ra ngập úng trên địa phận các xã ven biển, gây ra các hậu quả nghiệm trọng ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân
d Thuỷ văn
Hệ thống thủy văn của huyện bao gồm: sông Gianh, sông Lý Hòa, sông Dinh, sông Son và hệ thống các sông, suối nhỏ phân bổ đều trên địa bàn huyện Đặc điểm chung của sông, suối trên địa bàn huyện là chiều dài ngắn,
độ uốn khúc lớn lưu vực nhỏ, lòng sông, suối dốc nên tốc độ dòng chảy lớn nhất là về mùa lũ
- Sông Gianh là con sông quan trọng nhất của huyện Bố T rạch, b ắt nguồn từ khu vực ven núi Cô Pi cao 2.017m thuộc dãy Trường Sơn, chảy qua địa phận các huyện Minh Hóa, Tuyên Hoá, Quảng Trạ ch, Bố T rạch
để đổ ra biển Đông ở Cửa Gianh Dòng chảy ở thượng nguồn theo hướng tây bắc - đông nam, dài khoảng 160 km
- Sông Son hay sông Trooc là con sông quan trọng thứ 2 của huyện Bố Trạch Nó là một chi lưu của sông Gianh Sông chảy hoàn toàn trên địa phận huyện Bố Trạch Một phần thượng nguồn của sông dài 7.729 mét chảy ngầm trong các núi đá vôi của xã Thượng Trạch thuộc rừng Quốc gia Phong Nha
Kẻ Bàng Nó hợp lưu với sông Gianh tại xã Hạ Trạch
- Sông Dinh là một con sông nằm hoàn toàn trên địa phận huyện Bố Trạch Nó bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, hợp lưu ở khu vực thị trấn Nông
Trang 23trường Việt Trung Sông chạy dài khoảng 15 km thì bị ngăn lại bởi đập Đá Mài Đây là đập thủy lợi dẫn nước tưới tiêu cho vùng lúa các xã Đại Trạch, Trung Trạch và Đồng Trạch thuộc vùng phía nam huyện Bố Trạch
- Sông Lý Hòa là sông ngắn, nằm chủ yếu trên địa phận của các xã Hoàn Trạch, Phú Trạch, Đồng Trạch bắt nguồn từ xã Tân Trạch và đỗ ra biển Đông tại xã Đức Trạch
đ Các nguồn tài nguyên thiên nhiên chính
*Biển
Huyện Bố Trạch có đường bờ biển dài trên 24km Đặc điểm của khu vực bờ biển là:
- Có 3 cửa sông là sông Gianh và sông Dinh và sông Lý Hòa
- Có các cửa sông đổ ra nên vùng biển có rất nhiều phù du sinh vật và thức ăn cho cá tôm từ đất liền do 3 con sông tuôn ra
- Các cửa sông trên địa bàn huyện đều có điều kiện rất thuận lợi để xây dựng các cảng cá và đã hình thành các khu dân cư đông đúc, sầm uất Trong tương lai sẽ trở thành thị trấn, thị tứ nghề biển, đặc biệt là vùng cửa Gianh và cửa Lý Hòa nơi đã phát triển các cơ sở công nghiệp chế biến, bảo quản, cung cấp dịch vụ hậu cần nghề biển vv…
- Vùng biển không sâu, cách xa bờ 20km độ sâu khoảng 20m, cách xa
bờ 40km độ sâu khoảng 25m, ra đến 140km độ sâu cũng chỉ có 33-35m Diện tích bãi triều của tất cả các xã ven biển rộng khoảng 2.000ha Đây cũng là một yếu tố rất thuận lợi để xây dựng cơ sở nuôi trồng thuỷ sản nước lợ như tôm
sú, tôm he, cua, rong câu và các nhuyễn thể hai vỏ (Ngao, sò )
Hải phận đánh bắt cá quan trọng nhất của huyện bao gồm cả hải phận
Bố Trạch, Quảng Trạch, thành phố Đồng Hới, Lệ Ninh, Lệ Thủy thậm chí ra tận đến nam tỉnh Hà Tĩnh và vào đến Thừa Thiên – Huế Cá biển Bố Trạch rất
đa dạng phong phú, có nhiều loại đặc sản như: Cá chim, cá thu, cá nục, cá đé,
cá sủ, cá hồng, cá đối, cá căng, cá ngựa, cá bơn vv Cư dân các xã ven biển
Trang 24khai thác đánh bắt hải sản theo hai mùa cá nam và bắc Mùa cá nam khai thác các bãi cá vùng lộng và dở khơi, mùa cá Bắc khai thác bãi khơi và tôm Sản lượng khai thác hàng năm có chiều hướng năm sau cao hơn năm trước
* Khoáng sản
Bố Trạch được coi là một vùng có nguồn tài nguyên khoáng sản khá phong phú đã được điều tra khảo sát nhưng chưa được khai thác nhiều và được xem như đang ở dạng tiềm năng, các loại khoáng sản bao gồm : Nguyên liệu hóa chất và phân bón có pyrit ở Xuân Sơn, đá vôi kéo dài từ Xuân Sơn đến Troóc có trữ lượng 131.925 triệu tấn; đá ốp lát trang trí ở Ba Rền; Phú Định với nhiều loại có màu sắc đẹp như Granit, Gabro, diệp thạch, mỏ sét Cao lanh ở Thọ Lộc với trữ lượng 800.000m3, nguồn cát xây dựng ở sông Dinh, sông Son với trữ lượng lớn và cát trắng ở Thanh Khê có trữ lượng 5 triệu tấn có khả năng sản xuất thủy tinh; nước khoáng và nước nóng ở Động Nghìn, sông Troóc, có mỏ đá xây dựng ở đèo Lý Hòa Ngành địa chất bước đầu đã phát hiện có những mỏ kim loại với trữ lượng
có thể khai thác được trên địa bàn các xã Tân Trạch, Sơn Trạch và Phúc Trạch
*Sinh vật
Toàn huyện có 172.365,91 ha đất rừng (số liệu kiểm kê năm 2010), chiếm 81,14% diện tích tự nhiên, trong đó: Diện tích rừng sản xuất 53.355,81ha, rừng đặc dụng 93.005,51ha, rừng phòng hộ 26.004,59ha Rừng
ở Bố Trạch thuộc kiểu rừng nhiệt đới thường xanh nửa rụng lá, vùng núi cao
có thể gặp các loại rừng lá á kim á nhiệt đới Thảm thực vật rừng rất đa dạng
và phong phú, có nhiều loại gỗ quý như: lim xanh, sến, táu, đinh, gụ, pơ mu…
và nhiều loại muông thú quý hiếm như: hổ, báo, hươu đen, trĩ sao, gà lôi… Rừng trồng phần lớn là thông nhựa, phi lao, bạch đàn và keo các loại Đất có khả năng lâm nghiệp còn khoảng trên 3.500ha, trong đó có 245 ha bãi cát ven biển cần được trồng rừng phi lao phòng hộ chống cát bay, cát lấp
Trang 25Đặc biệt có khu bảo tồn thiên nhiên Phong Nha – Kẻ Bàng có nhiều loại động vật và thực vật quý hiếm, mới đây phát hiện được 2 loại thú quý trên thế giới ít nơi có như Sao La, Mang Lớn
Một phần diện tích của vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng nằm trên địa phận của xã Tân Trạch và Thượng Trạch của huyện Bố Trạch Đây là khu bảo tồn
có độ che phủ và tỷ lệ rừng nguyên sinh lớn nhất trong các khu bảo tồn thiên nhiên
ở Việt Nam Sự phong phú của địa chất, địa mạo đã tạo cho Phong Nha - Kẻ Bàng với 15 kiểu sinh cảnh rộng lớn và 10 kiểu thảm thực vật quan trọng đã được xác định; độ che phủ của rừng ở đây đã đạt 93,57%; trong đó, diện tích rừng nguyên sinh đạt trên 83,74% Tại đây có nhiều sinh cảnh đặc biệt, đáng chú ý nhất là các sinh cảnh rừng tự nhiên còn tương đối nguyên sinh trên núi đá vôi ở 2 xã Tân Trạch
và Thượng Trạch Đặc biệt, ở đây còn tồn tại kiểu rừng kín thường xanh nhiệt đới trên núi đá vôi ở độ cao trên 700 mét Đây là kiểu rừng độc đáo nhất ở Việt Nam và thế giới, trong đó, rừng Bách xanh được xác định là loài mới và đặc hữu trên núi đá vôi của Việt Nam, được coi là kiểu rừng duy nhất trên thế giới có tầm quan trọng đặc biệt toàn cầu
1.3.2 Khái quát về kinh tế - xã hội
a Tình hình phát triển kinh tế huyện Bố Trạch
- Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong những năm gần đây tốc độ tăng trưởng của huyện Bố Trạch đạt mức tăng trưởng khá, bình quân hàng năm đạt 11,94%
Tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP năm 2010 là 12,30% (kế hoạch là 12,5%) Trong đó, khu vực nông, lâm, thủy sản tăng 6,47%, khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 14,17%, dịch vụ tăng 16,41%
12-Cơ cấu kinh tế năm 2010 như sau:
- Ngành nông – lâm, thủy sản chiếm 34,96%
- Ngành Công nghiệp – xây dựng chiếm 26,80%
- Ngành thương mại dịch vụ chiếm 38,24%
Trang 26Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 13,78 triệu đồng/người/năm
Cơ cấu kinh tế năm 2010 huyện Bố Trạch
26,8%
38,24% 34,96% Ngành nông - lâm, thủy sản
Ngành công nghiệp - xây dựng Ngành thương mại - dịch vụ
Cơ cấu kinh tế của huyện chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành Công nghiệp – xây dựng (năm 2006 là 24,5%, năm 2010 là 26,80%) và tăng tỷ trọng ngành dịch vụ (năm 2006 là 31,8% đến năm 2010 là 38,24%)), giảm dần tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp – thủy sản (năm 2006 là 43,7% đến năm 2010 là 34,96%) Sự chuyển dịch này tuy còn chậm, nhưng đã thể hiện những kết quả đạt được từ sự nỗ lực thực hiện quyết tâm đưa huyện thoát nghèo, phát triển nhanh, toàn diện và vững chắc của Đảng bộ và nhân dân huyện Bố Trạch
b Tình hình phát triển văn hóa – xã hội
- Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
- Dân số, lao động: Công tác dân số, gia đình và trẻ em: Được triển khai
thực hiện có hiệu quả Tổ chức chiến dịch "tăng cường chăm sóc sức khoẻ sinh sản - kế hoạch hoá gia đình" cho 21/30 xã, thị trấn theo đúng kế hoạch tỉnh giao Theo số liệu thống kê năm 2009, dân số huyện Bố Trạch có 178.576 dân, trong đó có 95.511 lao động
Tỷ suất sinh giảm 0,25‰, đưa tỷ lệ tăng dân số tự nhiên xuống còn 11,12‰ Tỷ lệ sinh con thứ 3 chiếm 20,43%, giảm 2,49% so với cùng kỳ Triển khai các biện pháp thực hiện kế hoạch hóa gia đình đảm bảo kế hoạch
Trang 27- Việc làm, thu nhập: Tổ chức tấp huấn công tác xuất khẩu lao động cho Ban
chỉ đạo xuất khẩu lao động các xã, thị trấn Giải quyết việc làm mới cho 3.712 lao động, đạt 106,1% kế hoạch, trong đó xuất khẩu lao động được 634 lao động, đạt 158,5% kế hoạch
Công tác giảm nghèo tiếp tục được thực hiện trên cơ sở lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội khác, có hàng ngàn hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất Tỷ lệ hộ nghèo trong năm giảm 3,6%, đưa tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện xuống còn 8,3% năm 2009 Thu nhập bình quân đầu người đạt 12,37 triệu đồng, tăng 28,8% so với năm 2008
- Văn hóa
Đến năm 2008 đã có 85 làng và đơn vị đạt danh hiệu làng văn hóa; Có
239 thôn, tiểu khu đã có nhà văn hóa khang trang, phục vụ tốt cho sinh hoạt văn hóa của nhân dân ở cụm dân cư, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện Mạng lưới truyền thanh cơ sở phủ kín cho 28 xã, thị trấn và 30 xã, thị trấn đã được phủ sóng truyền hình Năm 2010 đã có 98,7% số hộ dùng điện, tỷ lệ số hộ dùng nước hợp vệ sinh đạt 76,20%
Phòng văn hóa đã kết hợp với các phòng, ban liên quan tuyên truyền về cuộc tổng điều tra dân số gia đình và nhà ở
- Chỉ đạo các xã, thị trấn để tổ chức các hoạt động chào mừng kỷ niệm 50 năm đường Trường Sơn huyền thoại và 20 năm tái lập tỉnh Quảng Bình Tổ chức cho 8 đội thông tin lưu động của 8 tỉnh trong toàn quốc biểu diễn phục vụ nhân dân trên địa bàn về ý nghĩa 50 năm ngày mở đường Trường Sơn huyền thoại
- Kết hợp với Ban tổ chức lễ hội Tỉnh tổ chức thành công buổi truyền hình thực tế trên VTV1 chương trình huyền thoại đường Trường Sơn và truyền hình trực tiếp kỷ niệm 50 năm ngày mở đường Hồ Chí Minh huyền thoại và 50 năm truyền thống bộ đội Trường Sơn được đông đảo nhân dân hưởng ứng tích cực, UBND tỉnh khen thưởng Nhân dân và cán bộ huyện Bố Trạch làm tốt đợt tuyên
Trang 28truyền kỷ niệm nói trên Thời gian tuyên truyền đợt này kéo dài trên 3 tháng liên tục
- Các xã Cự Nẫm, Bắc Trạch, Thanh Trạch, Sơn Lộc , Hưng Trạch, thị trấn Hoàn lão, Nông Trường Việt Trung, xã Sơn Trạch và Trung tâm Văn hóa huyện tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền và văn nghệ, thể thao chào mừng các sự kiện quan trọng nói trên
- Tiến hành kiểm tra thu hồi các băng đĩa có nội dung phản động trên địa bàn huyện, tăng cường quản lý các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa theo tinh thần Nghị định 87/CP và Nghị định 31/CP của Chính phủ
- Công tác thông tin tuyên truyền đảm bảo đầy đủ các yêu cầu nhiệm vụ chính trị đặt ra trên địa bàn, góp phần làm lành mạnh bầu không khí tư tưởng cho các khu vực dân cư, thường xuyên đáp ứng những thông tin chính thống về đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước động viên phong trào thi đua, yêu nước, phong trào xây dựng nông thôn mới Tháng 11 đã tổ chức công tác tuyên truyền thành công về việc tháo dỡ tượng đức mẹ Maria trái phép tại Bàu Sen xã Phúc Trạch góp phần ổn định chính trị tại địa phương
- Chỉ đạo Ban văn hoá các xã, thị trấn phối hợp với xã đội tổ chức được
17 đội văn nghệ lực lượng vũ trang tham gia hội diễn toàn huyện chào mừng
kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 20 năm ngày hội Quốc phòng toàn dân
- Thực trạng phát triển y tế
Toàn huyện Bố Trạch đến năm 2008 có 32 cơ sở khám chữa bệnh cho nhân dân, bao gồm: 30 trạm y tế xã và xí nghiệp, 1 bệnh viện huyện và 1 phòng khám đa khoa khu vực với tổng số 276 giường bênh, tổng số cán bộ của ngành 310 người trong đó có 46 bác sỹ, 73 y sỹ
Năm 2005 đã có 30/30 xã, thị trấn đã có trạm y tế được kiên cố hóa, mỗi trạm có 9 – 10 phòng với diện tích sàn xây dựng bình quân là 293m2/trạm và tất
Trang 29cả các phòng đều đảm bảo tiêu chuẩn của ngành y tế đặt ra Huyện cũng đã xây
dựng 3 nhà cao tầng của bệnh viện đa khoa
Các chương trình y tế triển khai đảm bảo kế hoạch đề ra, chưa có dịch bệnh lớn xảy ra trên địa bàn Công tác phòng chống dịch bệnh, nhất là dịch cúm
A (H1N1) được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo Thực hiện có hiệu quả các chương trình y tế dự phòng Đã tiêm chủng mở rộng cho trẻ em dưới 5 tuổi đạt 99% KH, tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ có thai đạt 98% KH; trẻ 6 đến 36 tháng tuổi và bà mẹ sau sinh được uống Vitamin A đạt tỷ lệ 99,7%
Công tác khám chữa bệnh ngày càng được chú trọng về chất lượng Đã khám bệnh cho 240 ngàn lượt người, điều trị nội trú cho 20,4 ngàn lượt người
Cơ sở vật chất cho ngành y tế tiếp tục được đầu tư, nhất là bệnh viện Đa khoa huyện đang được hiện đại hóa theo một số chuẩn Đến nay đã có 28/30 xã,
thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế, tăng 03 đơn vị so với cuối năm 2008
01 Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp Toàn huyện có 1.112 phòng học, 1.205 lớp học, 1.894 giáo viên với 37.937 học sinh các cấp
* Năm học 2009 - 2010: Toàn ngành đã tổ chức tốt lễ khai giảng và ngày toàn dân đưa trẻ đến trường, triển khai đầy đủ nhiệm vụ năm học của ngành Mạng lưới trường lớp ổn đỉnh với 114 cơ sở giáo dục Đội ngũ cán bộ giáo viên được tập huấn, điều chuyển, bố trí hợp lý, bổ sung hợp đồng đầy đủ
để bước vào năm học
Trang 30Tỷ lệ huy động vào các cấp học: Vào nhà trẻ đạt 5,2%/KH 21%, vào
mẫu giáo đạt 68,6%/KH 70%; vào lớp 1 đạt 99,93%/KH 99,8%; vào lớp 6 đạt
99,8%/KH 99,8%; tuyển sinh vào lớp 10 đạt 70%/KH 67%
* Năm học 2010-2011: Toàn huyện có 204 trường cho 3 cấp học: Tiểu học, THCS và PTTH với 1.152 lớp học và 34.687 học sinh Trong đó trường tiểu học có 39 trường, 614 lớp học và 15.185 học sinh; trường THCS có 160 trường, 378 lớp học và 12.569 học sinh; trường THPT có 5 trường, 160 lớp học và 6.933 học sinh
Trang 32CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở HUYỆN BỐ TRẠCH –
TỈNH QUẢNG BÌNH
2.1 Khái quát về tiềm năng du lịch huyện Bố Trạch
2.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
Bố Trạch là huyện được thiên nhiên ưu đãi có điều kiện sinh thái đa dạng bao gồm đầy đủ các cảnh quan sinh thái núi rừng, bờ biển, đồng bằng, đồi , trong đó có những nơi có thể xây dựng thành các điểm du lịch sinh thái, tắm biển, nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí hấp dẫn khách du lịch trong nước và quốc tế
Tiềm năng du lịch thám hiểm hang động và rừng nhiệt đới nguyên sinh
Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng là một khu du lịch hết sức hấp dẫn với hệ thống hang động đã phát hiện có tổng chiều dài khoảng 106.000m và còn nhiều hang động chưa được thám hiểm Hệ thống hang động kỳ thú này kết hợp với hệ sinh thái rừng đa dạng trên núi đá vôi và sông suối tạo nên nhiều cảnh quan độc đáo thu hút các nhà nghiên cứu khoa học và khách du lịch Phong Nha-Kẻ Bàng có hai hệ thống hang động: Hệ thống động Phong Nha và
hệ thống hang Vòm, với tổng chiều dài 64.384m, trong đó riêng hang Vòm dài 13.690m Ngoài ra, trong dãy núi Kẻ Bàng còn rất nhiều những hang động khác như Sơn Đoòng, hang Én, hang Thung, hang Đại Cáo Vì thế đây cũng
có thể coi là thiên đường cho bộ môn hang động học và du lịch hang động rất hấp dẫn đối với du khách và các nhà thám hiểm hang động trong và ngoài nước
Sự độc đáo của động Phong Nha còn ở chỗ đây là một động nước lớn, với dòng sông ngầm dài ngót 14km, khi chảy ra khỏi động trở thành dòng sông Son tạo nên con đường chính đưa du khách vào thăm động Phong Nha-Kẻ Bàng còn có hàng chục đỉnh núi cao trên 1.000 mét, hiểm trở, chưa từng có vết chân người, là các điểm hấp dẫn thể thao leo núi và thám hiểm Điển hình là các
Trang 33đỉnh Co Rilata cao 1.128 mét, Co Preu cao 1.213 mét Xen kẽ giữa các đỉnh núi trên 1.000 mét là những thung lũng phù hợp cho du lịch sinh thái
Tiềm năng du lịch- nghỉ dưởng tắm biển
Bố Trạch có bờ biển dài 24km có nhiều khu vực có thể xây dựng thành khu tắm biển và nghĩ dưỡng Bãi tắm Đá Nhảy nằm dưới chân đèo Lý Hòa thuộc địa phận xã Thanh Trạch đã được công nhận và xếp hạng là danh thắng quốc gia Đá Nhảy thu hút du khách không chỉ với bãi tắm phẳng, nước trong
mà còn có nhiều loại hải sản như tôm, cua, mực, ốc Dưới chân đèo Lý Hòa, chỗ giáp giữa biển với núi có một bãi đá có rất nhiều bãi đá to, nhỏ, thấp, cao Mỗi khi có sóng xô, trông đá như những con cóc lớn nhảy trên sóng, tạo nên hàng loạt âm thanh rì rào khác nhau Đá Nhảy là một điểm du lịch hấp dẫn không chỉ là một bãi tắm sạch, đẹp và có nhiều thắng cảnh với nhiều hang động nhỏ, kỳ thú, biển nơi đây có nhiều rạn ngầm, đó chính là nơi cư trú của nhiều loại hải sản quý như tôm, cá, cua, mực, ốc có thể chế biến những món đặc sản biển hấp dẫn du khách Hiện nay huyện đang xây dựng để khai thác địa điểm này Ngoài Đá Nhảy, tại địa phận xã Lý Trạch, giáp với Thành phố Đồng Hới đang xây dựng khu khu du lịch sinh thái Sao Biển hiện đại sẽ vào khai thác trong vài năm tới
2.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
Ngoài sự phong phú đa dạng về tài nguyên du lịch tự nhiên thì Bố Trạch cũng là địa phương có nhiều tiềm năng về tài nguyên du lịch nhân văn
Là địa phương anh hùng trong kháng chiến, nơi đây đã ghi dấu những chiến công hào hùng oanh liệt của dân tộc và chứng kiến biết bao nhiêu công sức, xương máu của Quân và Dân ta đổ xuống, cũng vì thế ngày nay có rất nhiều các Di tích lịch sử, Danh lam thắng cảnh như Hang 8 Thanh niên Xung phong (8 cô), Đường mòn Hồ Chí Minh, Đường 20 quyết thắng, bến phà Xuân Sơn, ngầm Trạ Ang, Sân bay Khe Gát, đèo Đá Đẻo, bến phà Nguyễn Văn Trổi, làng kháng chiến Cự Nẫm, chiến khu Ba Rền tất cả đã đi vào
Trang 34huyền thoại Ngoài ra ở Vườn Quốc Gia Phong Nha – Kẻ Bàng còn chứa đựng nhiều di vật khảo cổ, các bằng chứng về sự sống của con người ở khu vực này là các đầu Rìu thuộc thời kỳ đồ Đá mới và các hiện vật tương tự như mãnh Gốm, tượng đá, bàn thờ Chăm cổ, các chữ viết tượng hình cổ của người Chăm-pa, đã được các nhà Khảo cổ Pháp và Việt Nam tìm thấy trong hang động Phong Nha
Nét văn hóa điển hình của Vườn Quốc Gia Phong Nha – Kẻ Bàng là gần như hầu hết các Dân tộc thiểu số ở Quảng Bình đều có mặt và sinh sống tập trung trong vùng đệm của Vườn quốc gia Phải kể đến có hai dân tộc đã được xếp hạng trong 54 dân tộc Việt Nam là dân tộc Vân Kiều và dân tộc Chứt, với dân số 1.776 người
* Vân Kiều bao gồm các tộc người Khùa, Vân Kiều, Ma Coong và Trì
* Chứt gồm có các tộc người Sách, Mày, Rục, Mã Liềng và ARem
Mỗi dân tộc thiểu số đều có các đặc điểm văn hóa riêng như săn bắt, hái lượm hay các hoạt động truyền thống khác như Lễ hội giết Trâu, Lễ hội đập Trống, Hội cầu mùa, cầu mưa, uống rượu cần,.v v
Với nhiều địa danh hào hùng và những giá trị hiếm có như vậy là cơ sở tốt cho việc phát triển mảng Du lịch văn hóa, tâm linh và lịch sử
Vị trí của huyện nằm ngay cửa ngõ phía Bắc thành phố Đồng Hới là trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế và khoa học kỹ thuật của tỉnh, giáp sân bay dân dụng Đồng Hới Là huyện có hệ thống đường quốc gia chạy dọc theo chiều dài của huyện từ Bắc vào Nam như đường quốc lộ 1A, đường sắt xuyên Việt chạy qua một xã vùng đồng bằng và gò đồi phía Đông, hệ thống đường
Hồ Chí Minh nhánh Đông và nhánh Tây và đường QL 20 nối các xã phía Tây của huyện Cùng với hệ thống đường ngang dọc nối liền hai hệ thống đường trên như đường quốc lộ 15A; mạng lưới tỉnh lộ 560, 561, 565, 562, TL56 cùng với cảng Gianh, cửa khẩu Cà Roòng – Noọng Ma với CHDCND Lào
Trang 35Như vậy với vị trí địa lý thuận lợi, nằm gần như là trung tâm của tỉnh cùng với hệ thống giao thông đường sá cơ sở vật chất hạ tầng ngày càng được cải thiện hơn nữa tỉnh Quảng Bình lại nằm trong hàng lang kinh tế du lịch Đông – Tây Đây là một hành lang phát triển kinh tế rất quan trọng của tiểu vùng Sông Mê – Kông mở rộng vì nó nối liền ba nước Thái Lan, Lào và Việt Nam Thêm vào đó, Cửa khẩu quốc tế Cha Lo nằm ở huyện Minh Hóa chính
là điểm tiếp nhận luồng khách du lịch trực tiếp từ Lào đến với huyện Bố Trạch mà điểm đến chủ yếu của khách du lịch là ở đây là Phong Nha – Kẻ Bàng Đây chính là cơ hội cho các hoạt động du lịch – Dịch vụ thương mại qua biên giới thông qua hành lang kinh tế du lịch Đông – Tây
Tất cả đấy là những tiềm năng, những điều kiện hết sức thuận lợi để huyện Bố Trạch phát triển đầy đủ các loại hình du lịch nhằm giới thiệu hình ảnh của mình cho du khách và bạn bè Quốc tế
2.2 Hoạt động du lịch ở huyện Bố Trạch trong những năm gần đây
Trang 36chưa có sự ổn định qua các năm Năm 2003 lượng khách đến du lịch tại huyện là 199.208 lượt người và đến năm 2010 lượng khách du lịch là 345.143 lượt người, tăng 145.935 lượt người tăng gấp 1,7 lần trong vòng 7 năm Mặc
dù vậy thì lượng khách du lịch đến đây vẫn chưa có sự ổn định qua các năm
Cụ thể năm 2003 khách du lịch đến Bố Trạch đạt 199.208 lượt người, năm
2004 đã tăng lên 332.147 lượt người nhưng đến năm 2005 lượng khách du lịch đến đây giảm xuống còn 272.549 lượt người, năm 2006 lượng du khách lại tăng lên là 280.179 lượt người nhưng đến năm 2007 lượng khách du lịch đến Bố Trạch lại giảm xuống 264.352 lượt người sau đó lại tiếp tục tăng dần trở lại vào các năm tiếp theo
a Khách du lịch quốc tế
Mặc dù sở hữu di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha – Kẻ Bàng cũng như nhiều thắng cảnh đẹp nhưng Bố Trạch vẫn chưa thu hút được nhiều khách du lịch quốc tế Và lượng khách du lịch quốc tế đến Bố Trạch trong những năm qua được thể hiện ở bảng 2.1
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy lượng khách du lịch quốc tế đến du lịch tại huyện Bố Trạch thời gian qua chiếm tỷ lệ rất thấp, chỉ chiếm từ 0,7% - 4,5% tổng số khách du lịch đến đây Tuy nhiên lượng khách du lịch quốc tế đến Bố Trạch giai đoạn 2003-2010 nhìn chung có xu hướng tăng (từ 1.395 lượt người năm 2003 lên 10.884 lượt người năm 2010 tăng 9.489 lượt người và tăng gấp 7,8 lần trong vòng 7 năm) Nhưng tốc độ tăng của khách du lịch quốc tế qua các năm lại chưa ổn định và có sự tăng giảm không đều giữa các năm Cụ thể: Năm 2003 lượng khách du lịch quốc tế đến Bố Trạch là 1.395 lượt người (chiếm 0,7% tổng số khách đến du lịch tại huyện Bố Trạch) Năm 2005 lượng khách du lịch quốc tế tăng lên 4.472 lượt người tăng 3.077 lượt người và tăng gấp 3,2 lần trong vòng 2 năm Đến năm 2007 lượng khách quốc tế đến Bố Trạch là 12.033 lượt người (chiếm 4,5% tổng số khách du lịch đến Bố Trạch) Tuy nhiên đến năm 2008 lượng khách du lịch quốc tế đến du lịch tại huyện
Trang 37Bố Trạch giảm xuống chỉ còn 11.527 lượt người (chiếm 4,0% tổng số khách)
và lượng khách quốc tế đến Bố Trạch tiếp tục giảm, năm 2009 chỉ còn 8.739
lượt người (chiếm 2,7% tổng số khách) Đến năm 2010 lượng khách quốc tế
đến Bố Trạch bắt đầu tăng trở lại với 10.884 lượt người (chiếm 3,2% tổng số
khách đến du lịch tại huyện Bố Trạch trong năm 2010) tăng 2.145 lượt người
so với năm 2009
b Khách du lịch nội địa
Bố Trạch là điểm du lịch hấp dẫn với khách du lịch nội địa, lượng khách
du lịch nội đến Bố Trạch luôn vượt trội so với khách du lịch quốc tế Qua bảng số liệu hiện trạng khách du lịch đến huyện Bố Trạch giai đoạn
2003-2010 ta thấy lượng khách du lịch nội địa đến Bố Trạch trong thời gian
vừa qua nhìn chung là tăng ( từ 197.813 lượt người năm 2003 lên 334.250
lượt người năm 2010, tăng gấp 1,7 lần trong vòng 7 năm Và ta thấy lượng
khách du lịch nội địa đến đây luôn chiếm tỷ lệ cao hơn hẳn so với lượng
khách du lịch quốc tế (luôn chiếm trên 95% lượng khách du lịch đến đây)
Tuy nhiên cũng như khách du lịch quốc tế thì lượng khách du lịch nội địa
đến đây vẫn chưa ổn định và có sự tăng giảm không đều qua các năm, cụ thể:
Năm 2003 lượng khách nội địa đến Bố Trạch là 197.813 lượt người, đến
năm 2004 lượng khách này tăng lên là 329.562 lượt người Năm 2005 lượng
khách nội địa giảm xuống 268.077 lượt người Năm 2006 lượng khách nội địa
đến Bố Trạch lại tăng lên là 272.644 lượt người và đến năm 2007 lượng
khách du lịch nội địa đến Bố Trạch lại giảm xuống còn 252.329 lượt người
sau đó từ năm 2008 lượng khách du lịch nội địa đến Bố Trạch bắt đầu tăng trở
lại cho đến năm 2010 đạt 334.250 lượt người Và lượng khách du lịch nội địa
luôn quyết định tới tổng số khách du lịch đến Bố Trạch trong thời gian vừa
qua
*Nguyên nhân: là do từ năm 2008 huyện Bố Trạch đã chú trọng đầu tư
cơ sở hạ tầng để phục vụ việc phát triển du lịch và khai thác thêm các tuyến,
Trang 38điểm du lịch trên địa bàn huyện đưa vào hoạt động tiêu biểu là việc đưa vào khai thác động Thiên Đường, mở tuyến du lịch sinh thái suối nước Moọc…đã thu hút đông đảo khách du lịch trong và ngoài nước
2.2.2 Về doanh thu
Doanh thu là chỉ tiêu quan trọng phản ánh một phần hiệu quả kinh doanh của toàn ngành Đối với ngành du lịch huyện Bố Trạch thì các công ty bên cạnh kinh doanh dịch vụ du lịch còn kinh doanh những lĩnh vực khác Khách du lịch ngoài việc chi tiêu cho các dịch vụ du lịch thì còn mua sắm và chi tiêu cho các hoạt động khác Do đó doanh thu ngành du lịch được tính là tổng của doanh thu từ kinh doanh dịch vụ du lịch và doanh thu thương mại Doanh thu dịch vụ du lịch gồm các loại như: doanh thu lưu trú, doanh thu ăn uống, doanh thu vận chuyển, doanh thu bán vé tham quan… Lượng khách du lịch đến tham quan tăng lên cũng đồng nghĩa với việc doanh thu từ các hoạt động du lịch cũng tăng lên một cách đáng kể
Bảng 2.2: Doanh thu từ hoạt động du lịch của huyện Bố Trạch
Trang 39Nhìn vào bảng số liệu ta thấy doanh thu từ hoạt động du lịch tăng lên liên tục qua các năm, năm 2010 so với năm 2003 doanh thu tăng gấp 2,7 lần Nguồn doanh thu này đóng góp rất lớn trong việc phát triển kinh tế, cải thiện đời sống cho nhân dân và đóng góp một khoản lớn vào ngân sách cho địa phương Điều này chứng tỏ hoạt động du lịch ở huyện Bố Trạch đã có những bước tiến triển đáng kể và đang dần trở thành ngành chủ đạo trong sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện Tuy nhiên cần đa dạng hơn nữa các sản phẩm
du lịch để thu hút sự chi tiêu của khách du lịch góp phần tăng thêm doanh thu
Hình 2.1: Biểu đồ thể hiện lượt khách đến tham quan và doanh thu từ
hoạt động du lịch ở huyện Bố Trạch giai đoạn 2003-2010
Khách quốc tế Khách nội địa Doanh thu
2.2.3 Cơ sở lưu trú
Cơ sở lưu trú chính bao gồm khách sạn, nhà nghỉ, biệt thử…việc phát triển các loại hình cơ sở lưu trú sẽ thu hút và đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch Chính vì thế ngành du lịch Bố Trạch không ngừng đầu tư nâng cấp hệ thống cơ sở lưu trú, nhiều nhà nghỉ, khách sạn được xây dựng cải tạo với chất lượng ngày càng tốt hơn nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch Hiện nay trên địa bàn huyện Bố Trạch có 41 cơ sở lưu trú với 412 buồng, 803 giường,
Lượt người
Tỷ đồng
Trang 40đứng thứ hai của tỉnh sau thành phố Đồng Hới về số cơ sở lưu trú Tuy nhiên,
số lượng khách sạn hạng sao còn quá ít ( 1%), các cơ sở lưu trú chủ yếu có quy mô nhỏ ( dưới 20 buồng) chiếm tỷ lệ khá cao khoảng 89% và các cơ sở lưu trú du lịch này chủ yếu thuộc thành phần tư nhân, diện tích nhỏ, thiếu dịch vụ( chủ yếu phục vụ lưu trú), thiếu tính chuyên nghiệp trong thiết kế, bài trí, trang trí Nhìn chung các cơ sở lưu trú của huyện còn nhiều hạn chế về chất lượng các dịch vụ bổ sung, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch đặc biệt là khách du lịch quốc tế
2.2.4 Về thời gian lưu trú và thời vụ lưu trú
- Về thời gian lưu trú: Lượng khách du lịch đến Bố Trạch hàng năm có sự
gia tăng liên tục nhưng với tốc độ tăng trưởng bình quân không cao và chưa
có sự ổn định Đáng chú ý là lượng khách du lịch nội địa vượt trội so với khách du lịch quốc tế tuy nhiên ngày lưu trú trung bình của khách du lịch quốc tế lại cao hơn khách du lịch nội địa Phần lớn khách du khách chọn Bố Trạch – Quảng Bình là điểm dừng chân của họ trên chặng đường từ Hà Nội đi Huế và điểm đến chủ yếu của du khách dừng lại ở đây chính là thăm Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, chỉ có rất ít du khách đến đây để du lịch biển dài ngày Trên thực tế, Bố Trạch rất thiếu những cơ sở lưu trú đủ tiêu chuẩn,
đủ công suất phục vụ, thiếu các dịch vụ giải trí thu hút du khách chính vì thế thời gian khách lưu trú ở đây tương đối ngắn và mang tính thời vụ
Bảng 2.3 : Hiện trạng ngày khách lưu trú đến Bố Trạch