Áp dụng quan điểm này vào việc nghiên cứu đề tài nhằm đưa ra một giải pháp hợp lý lâu dài trong việc bảo vệ rừng, tăng cường sự tác động tích cực của con người đối với rừng phòng hộ nói
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
của địa phương
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SƯ PHẠM ĐỊA LÝ
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trải qua một thời gian dài tìm hiểu và nghiên cứu, em đã hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, em luôn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô trong khoa Địa Lý và các cơ quan, đơn vị để em có thể hoàn thành tốt khóa luận này
Qua đây, em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến cô giáo Lê Thị Thanh Hương, là người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp
Đồng thời em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:
- Các thầy cô giáo trong khoa Địa lý
- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Trị
- UBND huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
- Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
- Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
- Phòng thống kê huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
- Hạt kiểm lâm huyện Hải Lăng
Đã nhiệt tình giúp đỡ và ủng hộ em hoàn thành khóa luận này
Mặc dù đã cố gắng nhưng do điều kiện, thời gian và trình độ còn hạn chế nên đề tài của em không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được
ý kiến đóng góp, bổ sung của quý thầy cô để đề tài của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn! SVTH: Nguyễn Thị Dương
Trang 3PCCCR: Phòng cháy chữa cháy rừng
PTNT: Phát triển nông thôn
Pe: Polyetylen
TCKH: Tài chính kế hoạch
UBND: Ủy ban nhân dân
Trang 4Bảng 4: Kết quả thực hiện dự án 661 từ năm 1999 – 2010
Bảng 5: Diện tích lâm phận phòng hộ ven biển huyện Hải Lăng giai đoạn 2001- 2011
Bảng 6: Diện tích rừng phòng hộ ven biển huyện Hải Lăng theo từng điạ phương
Bảng 7: Độ che phủ của các xã vùng ven biển
Bảng 8 : Diện tích một số cây hàng năm chủ yếu
Bảng 9: Sản lượng một số cây trồng hàng năm chủ yếu
Bảng 10: Một số loài cây trồng bảo vệ đê biển thích hợp trên các lập địa cát ven biển
Bảng 11: Tiêu chuẩn cây đem trồng
Bảng 12: Mật độ cây trồng
Trang 5Hình 3: Rừng phi lao ven biển
Hình 4: Keo lá tràm ở xã Hải Dương
Hình 5: Hàng loạt gốc phi lao bị đào bới ở xã Hải Khê
Hình 6: Khai thác đất san lấp ở xã Hải Ba
Hình 7: Mở rộng nuôi trồng thủy sản ven biển
Hình 8 Cây kiệu và cây lạc trên vùng cát xã Hải Dương
Trang 6A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Với mệnh danh là “lá phổi ” của Trái Đất, rừng có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học trên hành tinh của chúng ta Bởi vậy bảo vệ rừng và tài nguyên rừng luôn trở thành nội dung, một yêu cầu không thể trì hoãn đối với tất cả quốc gia trên thế giới trong cuộc chiến gian khó hiện nay nhằm để bảo vệ môi trường sống hay sự tồn tại của sinh vật trên hành tinh
Với đường bờ biển dài 3.260 km, Việt Nam đã không ngừng khai thác những thế mạnh để phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội Không những khai thác mà người dân Việt Nam cũng đã hình thành việc trồng các dải rừng phòng hộ ven biển
để tận dụng lợi thế ven biển cũng như hạn chế những tác động xấu
Quảng Trị nói chung và huyện Hải Lăng nói riêng là tỉnh ven biển miền Trung và tất cả mọi hoạt động cho sự phát triển phụ thuộc nhiều vào nó Đó là các hoạt động khai thác hệ sinh thái ven biển để phục vụ cho mục đích phát triển kinh
tế Song song với hoạt động đó người dân đã tiến hành công tác trồng các dải rừng
để hạn chế những tác động của biển cũng như khai thác tốt nền kinh tế sớm đã phụ thuộc vào nó
Nhiều năm qua công tác trồng rừng cũng như bảo vệ hệ thống rừng ven biển Hải Lăng được thực hiện và đem lại hiệu quả cao đặc biệt trong công tác hạn chế các thiên tai cũng như khai thác phục vụ cho việc sản xuất nông nghiệp
Xuất phát từ thực tế của địa phương nên tôi chọn đề tài “Tìm hiểu hiện
trạng rừng phòng hộ ven biển ở huyện Hải Lăng- Quảng Trị, ảnh hưởng của nó đối với tự nhiên và sự phát triển kinh tế- xã hội của địa phương” để nghiên cứu
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu hiện trạng rừng phòng hộ ven biển huyện Hải Lăng và ảnh hưởng của nó đối với tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện
Trang 7- Từ đó đề suất một số biện pháp thiết thực để bảo vệ rừng phòng hộ ven biển góp phần nâng cao hiệu quả phát triển nền kinh tế- xã hội của huyện
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn phục vụ cho đề tài nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng rừng phòng hộ ven biển của huyện Hải Lăng và ảnh hưởng của nó đối với tự nhiên, kinh tế- xã hội
- Đề xuất một số giải pháp để quản lý tốt dải rừng phòng hộ ven biển
dự án đưa ra và phổ biến rộng rãi Nhưng nó chỉ dừng lại ở cấp quốc gia hay mang tính chung chung còn ở cấp địa phương thì chưa được quan tâm đúng mức
Huyện Hải Lăng là huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Quảng Trị nằm trong chương trình phát triển kinh tế của tỉnh cũng như của Trung ương về quy hoạch sản xuất phát triển kinh tế - xã hội Do vậy công tác trồng và bảo vệ rừng luôn được các
cơ quan liên quan quan tâm và hướng dẫn tận tình tuyên truyền cho người dân từ đó tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững đồng thời góp phần xóa đói giảm nghèo, phát triển sản xuất và ổn định đời sống nên việc nghiên cứu đề tài này càng có ý nghĩa hơn Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào nghiên cứu đề tài này Do
đó, tôi chọn để nghiên cứu
5 Quan điểm nghiên cứu
5.1 Quan điểm hệ thống
Tự nhiên là một thể tổng hợp, các hiện tượng địa lý rất phong phú và đa dạng Trong quá trình hình thành và phát triển các hiện tượng đó có mối quan hệ
Trang 8mật thiết với nhau, đồng thời có mối quan hệ với các thành phần khác để tạo nên một hệ thống Vì vậy khi tìm hiểu một bộ phận của tổng thể tự nhiên ta phải đặt nó trong mối quan hệ với các thành phần khác Chẳng hạn như khi nghiên cứu rừng phòng hộ ven biển thì sự biến đổi của nó theo chiều hướng nào cũng ảnh hưởng đến các môi trường sinh thái
5.2 Quan điểm lãnh thổ
Mỗi đối tượng địa lý đều gắn liền với một không gian lãnh thổ nhất định, trên đó các hoạt động sản xuất tương ứng, phù hợp với những đặc điểm riêng của lãnh thổ Vì vậy khi nghiên cứu một khu vực nào đó cần phải chú ý đến việc xác định phân hóa theo lãnh thổ để thấy được đặc điểm của từng vùng, từng địa phương
từ đó đưa ra những định hướng và giải pháp phát triển phù hợp nhất
5.3 Quan điểm sinh thái
Đây là một trong những quan điểm có ý nghĩa đặc thù trong nghiên cứu địa
lý tự nhiên, thường được vận dụng trong việc nghiên cứu các mối quan hệ tác động qua lại giữa tự nhiên và con người Đặc biệt giữa con người với việc sử dụng, khai thác và bảo vệ tự nhiên Áp dụng quan điểm này vào việc nghiên cứu đề tài nhằm đưa ra một giải pháp hợp lý lâu dài trong việc bảo vệ rừng, tăng cường sự tác động tích cực của con người đối với rừng phòng hộ nói riêng và môi trường sinh thái nói chung, tạo sự phát triển bền vững nền kinh tế và xã hội
5.4 Quan điểm lịch sử, viễn cảnh
Bất kỳ một hệ tự nhiên, dân cư, kinh tế của một lãnh thổ đều có nguồn gốc phát sinh, phát triển, các biến động diễn ra trong thời gian từ quá khứ đến hiện tại
và tương lai Vì vậy, khi nghiên cứu cũng phải dựa trên quan điểm này
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp thu thập, thống kê và xử lý số liệu
Đây là phương pháp được sử dụng nhiều trong quá trình nghiên cứu Dựa vào mục đích, yêu cầu của đề tài sử dụng phương pháp này để thu thập tài liệu từ các cơ quan, ban ngành có liên quan đến đề tài nghiên cứu (về điều kiện tự nhiên cũng như kinh tế xã hội của huyện) và xử lý một cách có khoa học, phân tích, so sánh, tổng hợp để tìm ra những nội dung, những kết luận cần thiết cho đề tài
Trang 96.2 Phương pháp bản đồ
Đây là phương pháp truyền thống của khoa học địa lý Từ các số liệu đã thu thập được, phân tích số liệu thành lập các bảng số liệu, phân tích các bảng số liệu để xác định hiện trạng rừng phòng hộ ven biển và những hoạt động sản xuất trên dãi đất cát ven biển
6.3 Phương pháp thực địa
Đây là phương pháp quan trọng và rất cần thiết cho đề tài Trên cơ sở nghiên cứu lí thuyết tôi tiến hành khảo sát thực tế để tìm hiểu, điều tra các đối tượng, hiện tượng địa lý rõ ràng hơn Để phục vụ cho đề tài nghiên cứu tôi tiến hành khảo sát hiện trạng rừng phòng hộ ven biển và hoạt động sản xuất cũng như đời sống của người dân vùng cát huyện Hải Lăng
Trang 10B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Rừng phòng hộ và phân loại
1.1.1 Khái niệm rừng phòng hộ và rừng phòng hộ ven biển
Rừng phòng hộ là loại rừng được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, bảo vệ môi trường
Rừng phòng hộ ven biển là rừng được thành lập với mục đích chống gió, chắn cát bay, ngăn chặn sự xâm mặn của biển, chắn sóng lấn biển, chống sạt lở, bảo
vệ các công trình ven biển
1.1.2 Vai trò của rừng phòng hộ và rừng phòng hộ ven biển
Rừng phòng hộ là rừng được xây dựng và phát triển cho mục đích bảo vệ và điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn đất, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, bảo đảm cân bằng sinh thái và an ninh môi trường
- Rừng phòng hộ đầu nguồn có tác dụng điều tiết nguồn nước cho các dòng chảy, các hồ chứa nước để hạn chế lũ lụt, giảm xói mòn, bảo vệ đất, hạn chế bồi lấp lòng sông, lòng hồ
- Rừng phòng hộ chắn gió, chống cát bay có tác dụng phòng hộ nông nghiệp, bảo vệ các khu dân cư, các đô thị, các vùng xản xuất và các công trình khác
- Rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển có tác dụng ngăn cản sóng, chống sạt
lở, bảo vệ các công trình ven biển, tăng độ bồi tụ phù sa, mở rộng biện tích bãi bồi
ra biển, hạn chế xâm nhập mặn vào nội đồng, bảo vệ và phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản
- Rừng phòng hộ môi trường sinh thái có tác dụng điều hòa khí hậu, hạn chế
ô nhiễm ở khu dân cư, kết hợp phục vụ du lịch, nghỉ ngơi
1.1.3 Phân loại rừng phòng hộ
Theo vị trí có 3 loại:
- Rừng phòng hộ đầu nguồn
Trang 11- Rừng phòng hộ ven biển
- Rừng phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái
Theo mức xung yếu gồm 2 loại:
- Vùng rất xung yếu: Bao gồm những nơi đầu nguồn nước, có độ dốc lớn, gần sông, gần hồ, có nguy cơ bị xói mòn mạnh, có yêu cầu cao nhất về điều tiết nước; những nơi cát di động mạnh; những nơi bờ biển thường bị sạt lở, sóng biển thường xuyên đe dọa sản xuất và đời sống của người dân, có nhu cầu cấp bách nhất
về phòng hộ, phải quy hoạch, đầu tư xây dựng rừng chuyên phòng hộ đảm bảo tỷ lệ che phủ rừng trên 70%
- Vùng xung yếu: Bao gồm những nơi có độ dốc, mức độ xói mòn và điều tiết nguồn nước trung bình; những nơi mức độ đe dọa của cát di động và của sóng biển thấp hơn, có điều kiện kết hợp phát triển sản xuất lâm nghiệp, có yêu vầu cao
về bảo vệ và sử dụng đất, phải xây dựng rừng phòng hộ kết hợp sản xuất, đảm bảo
tỷ lệ che phủ của rừng tối thiểu 50%
1.2 Khái quát chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Hải Lăng
1.2.1 Đặc điểm tự nhiên của huyện Hải Lăng
1.2.1.1 Vị trí địa lý - phạm vi lãnh thổ
Hải Lăng là huyện phía Nam của tỉnh Quảng Trị, thị trấn huyện lỵ cách thị
xã Đông Hà về phía Nam 21 km, cách thành phố Huế về phía Bắc 50 km Có tọa độ địa lý từ 16 0 33 ’40’’ đến 16 0 48’ 00’’ độ vĩ Bắc, 107 0 04’ 10’’ đến 107 0 23’ 30’’ độ kinh Đông
Phía Bắc giáp huyện Triệu Phong và thị xã Quảng Trị
Phía Nam giáp tỉnh Thừa Thiên- Huế
Phía Đông giáp Biển Đông
Phía Tây giáp huyện Đakrông
Tổng diện tích tự nhiên 42.513,43 ha 8,96% chiếm diện tích cả tỉnh, (số liệu thống kê đất đai năm 2011)
1.2.1.2 Địa hình
Đặc trưng của địa hình Hải Lăng nghiêng từ Tây sang Đông, với trên 60% là diện tích đồi núi thấp Vùng đồi núi và ven biển bị chia cắt bởi các sông, suối, đồi
Trang 12núi và các cồn cát, bãi cát, do đó việc phát triển giao thông, mạng lưới điện cũng như tổ chức sản xuất ở đây gặp khó khăn nhất định Vùng đồng bằng, ở một số nơi địa hình thấp trũng nên thường bị ngập lụt
Có thể chia địa hình ra 3 vùng: Vùng đồi núi (59% diện tích tự nhiên), vùng đồng bằng (30%), vùng cồn cát, bãi cát ven biển (11%)
- Vùng gò đồi và núi: Đa phần các khu vực phía Tây đường sắt Bắc Nam bao
gồm lãnh thổ chủ yếu của các xã: Hải Lệ, Hải Phú, Hải Lâm, Hải Sơn, Hải Chánh, Hải Trường, núi thấp có độ cao bình quân 100 - 150 m, vùng gò đồi có độ cao bình quân 40 - 50 m, độ dốc bình quân 8 - 25 0 đất chủ yếu là đất đỏ vàng trên đá sét
- Vùng đồng bằng: Nằm giữa gò đồi và cồn cát, bãi cát Bao gồm địa bàn các
xã: Hải Quy, Hải Xuân, Hải Vĩnh, Hải Thiện, Hải Thành, Hải Tân, Hải Hòa, thị trấn Hải Lăng và một phần của các xã: Hải Phú, Hải Thượng, Hải Lâm, Hải Thọ, Hải Trường, Hải Sơn, Hải Chánh, Hải Dương, Hải Quế, Hải Ba
Tốc độ dòng chảy của các dòng sông khi qua đồng bằng đều giảm, trong mùa khô nước ít
Ngược lại, trong mùa mưa, lượng nước dồn đổ hết vào vùng đồng bằng vốn thấp trũng (tập trung ở Hải Dương, Hải Hòa, Hải Thiện, Hải Thành, Hải Thọ, Hải Trường, nơi có 1 số khu vực thấp hơn mặt nước biển), làm nước dâng lên gây úng lụt
- Vùng cồn cát, bãi cát ven biển: Nằm giữa đồng bằng và Biển Đông Tập
trung phía Đông đường tỉnh lộ 582 Thuộc các xã Hải An, Hải Khê và một phần của các xã Hải Ba, Hải Quế, Hải Dương Có độ cao bình quân 6 - 7 m Đất đai chủ yếu
là đất cồn cát, bãi cát Cát biển là tiềm năng nhưng chưa được khai thác sử dụng, hiện nay để chế ngự cát bay, cát lấp đã có nhiều dự án trồng rừng, cải tạo đất được thực hiện Một số khu vực trong vùng cát đã và đang được triển khai xây dựng hồ nuôi tôm trên cát theo dây chuyền công nghiệp
1.2.1.3 Khí hậu
Tiểu vùng Hải Lăng cũng nằm trong vùng miền khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng có địa hình thấp và bị phân dị, do đó khí hậu có đặc điểm Mùa hè có gió mùa
Trang 13Tây Nam khô nóng, nhưng mức độ khắc nghiệt giảm dần từ phía Bắc đến phía Nam của huyện; gió mùa Đông Bắc ẩm ướt về mùa đông Nền nhiệt tương đối cao, tổng nhiệt lượng cả năm trên dưới 9000 0c, nguồn nhiệt lượng này cho phép trồng trọt với đa dạng cây trồng và cải tạo mùa vụ trong năm Nhiệt độ trung bình hàng năm hầu hết các vùng trong huyện khoảng 24 - 25 0C Nhiệt độ tháng cao nhất (từ tháng
5 đến tháng 7) khoảng 35 0C, có khi gần lên tới 400C; tháng thấp nhất (tháng 1 - tháng 2) khoảng 180C, có khi xuống tới 12-13 0C, nói chung biên độ nhiệt khá lớn
Lượng mưa trung bình hàng năm từ 2500 - 2700 mm, cao hơn mức trung bình cả nước Tổng lượng mưa tập trung chủ yếu vào các tháng 9, 10, 11 (chiếm từ
75 - 80% lượng mưa cả năm) Số ngày mưa phân bố không đều, trong các tháng cao điểm trung bình mỗi tháng có 17 - 18 ngày mưa, thường có kèm theo bão, gây lũ lụt làm ngập úng, ảnh hưởng đến bố trí thời vụ và bố trí sản xuất nông nghiệp Về mùa gió Tây Nam khô nóng, độ ẩm không khí thường xuyên dưới 50%, có khi xuống dưới 40% Đây là một trong những nguyên nhân làm hao hụt nguồn nước, gây khô hạn và dễ gây cháy rừng
- Bão: Mùa bão thường xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 11, các cơn bão đổ bộ vào đất liền Quảng Trị nói chung và Hải Lăng nói riêng thường là các cơn bão số 7,8,9 và 10 Năm nhiều nhất có 4 cơn bão, năm ít nhất không có cơn bão nào, trong những năm gần đây số lượng bão và mức độ tàn phá giảm hẳn so với trước kia Bão thường kèm theo mưa to kết hợp triều cường trên diện rộng làm thiệt hại đến cơ sở vật chất kỹ thuật và mùa màng Có thể đánh giá rằng: Thời tiết, khí hậu khá khắc nghiệt đã gây bất lợi cho sản xuất và đời sống, điều kiện lao động khó khăn, năng suất lao động giảm
1.2.1.4 Đất đai
Tổng diện tích đất tự nhiên của tòan huyện là 42.692,53 ha gồm 15 loại đất Trong đó, vùng đồng bằng và vùng ven biển gồm 11 loại, vùng đồi núi gồm 4 loại Các vùng có đặc điểm thổ nhưỡng khác nhau bao gồm:
- Vùng gò đồi chủ yếu là đất feralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch Đất vùng này bị thoái hóa, xói mòn diễn ra khá mạnh, độ sâu tầng này thấp, hiện
Trang 14tượng kết vôn khá phổ biến, đất nghèo dinh dưỡng chỉ phù hợp với việc phát triển cây lâm nghiệp và hoa màu
- Vùng đồng bằng gồm hai loại đất chính đó là đất thịt nhẹ và đất cát nội đồng chất lượng đất khá tốt nên rất thuận lợi cho việc phát triển lượng thực, cây công nghiệp ngắn ngày Cụ thể:
Nhóm đất cồn cát biển: Có tổng diện tích 6.641 ha Trong đó: Cồn cát trắng (loại đất Cb): 6.614 ha; đất bãi cát ven sông biển (loại đất Cc): 27 ha
Nhóm đất cát biển (loại đất C): 4.840 ha
Nhóm đất phù sa được bồi và phù sa ngòi suối: Diện tích 2.643 ha Trong đó: Đất phù sa được bồi: 2.623 ha; đất phù sa ngòi suối: 20 ha
Nhóm đất phù sa không được bồi là 1.193 ha
Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng và đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước: diện tích 723 ha Trong đó: Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng (loại đất Pf)
155 ha; đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (loại đất Fl): 568 ha
Nhóm đất phù sa Glây, đất thung lũng dốc tụ, đất lầy: diện tích là 8.495 ha Trong đó: Đất phù sa Glây (loại đất Pg): 7.835 ha; đất lầy (loại đất J): 309 ha; đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ (D): 351 ha
Nhóm đất than bùn:23 ha
Nhóm đất xám bạc màu, đất nâu vàng trên phù sa cổ: 1.502 ha
Đất nâu tím trên đá sét tím, đất đỏ vàng trên đá biến chất và đá sét: 16.049
* Sông ngòi: Trên địa bàn huyện gồm có 5 con sông chính:
- Hệ thống sông Ô Lâu nằm về phía Nam của huyện, có dòng chính dài khoảng 65 km và bao quát lưu vực có diện tích 855 km2, lưu lượng dòng chảy trung bình năm khoảng 44 m3/s, mật độ dòng chảy là 0,81km/km2
Trang 15- Sông Nhùng: Chạy từ vùng đồi núi của huyện, từ Hải Lâm chảy qua trung tâm vùng đồng bằng, hàng năm cung cấp phù sa và nước tưới cho 1 phần diện tích canh tác cho cả đồng bằng và gò đồi
- Sông Bến Đá: Có chiều dài ngắn, chảy từ vùng gò đồi qua địa bàn của xã Hải Trường, hàng năm cung cấp một lượng nước đáng kể cho sản xuất
- Sông Vĩnh Định (Sông đào thời nhà Lê): Chảy dọc theo hướng Bắc -Nam, qua trung tâm đồng bằng của huyện, nối liền sông Thạch Hãn và sông Ô Lâu, có chiều dài khoảng 20 km Sông Vĩnh Định có ý nghĩa rất lớn trong việc cung cấp nước tưới và tiêu úng về mùa lũ lụt, điều hòa lượng nước trong khu vực
- Nguồn nước ao, hồ: Trên địa bàn huyện có một số hồ đập quan trọng, phục
vụ cho phát triển sản xuất và đời sống dân sinh, đồng thời góp phần cải tạo môi trường như: Đập Trấm, Khe Chanh, Miếu Bà, Thác Heo, Khe Rò, Phước Môn, Phú Long, Khe Khế
- Nguồn nước ngầm: Theo kết quả nghiên cứu của Trung tâm nước sinh hoạt
và vệ sinh môi trường Quảng Trị, khảo sát trên diện tích 26.898 ha vùng ven biển, đồng bằng và trung du của huyện có tổng trữ lượng nguồn nước ngầm là 53.526.730
m3 Nhìn chung, nước ngầm được phân bổ khá lớn, có đặc điểm địa chất thủy văn khá phức tạp, vùng đồng bằng và gò đồi chất lượng khá tốt, vùng ven biển nhiều nơi
bị nhiễm mặn, một số vùng nước bị phân hóa
1.2.1.6 Sinh vật
Do đặc trưng điều kiện khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều nên thảm thực vật đặc biệt là rừng tự nhiên của Hải Lăng trước chiến tranh rất phong phú, nhiều chủng loại gỗ quý và động vật cũng rất phong phú Nhưng do chiến tranh và chất độc hoá học trong chiến tranh đã hủy diệt phần lớn rừng tự nhiên của huyện Sau chiến tranh nạn khai thác rừng bừa bãi đã gây hậu quả làm giảm trữ lượng nguồn tài nguyên rừng Theo số liệu thống kê đất năm 2011 diện tích đất lâm nghiệp của huyện là 22.944,9 ha
Trang 161.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Hải Lăng
1.2.2.1 Dân cư - lao động
Dân số của huyện năm 2011 có 87.180 người, 100% là người dân tộc Kinh,
nừ chiếm 50%, số người trong độ tuổi lao động 47,2%
Dân cư phân bố trên cả 3 vùng: đồng bằng, ven biển, gò đồi trong đó tập trung chủ yếu ở đồng bằng
Trong những năm qua huyện Hải Lăng đã đạt được một số thành quả trong quá trình chuyển đổi cơ cấu đầu tư và chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, điều động dân cư lên vùng kinh tế mới Tuy nhiên lực lượng lao động trong Nông - Lâm - Ngư vẫn còn quá cao chiếm tới 55,6 %, Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp và xây dựng 11,7 %; Thương mại - Dịch vụ 32,70%
Chất lượng lao động hiện nay còn thấp chưa đảm bảo so với yêu cầu cả về trình độ và chất lượng Trong tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế chỉ
có khoảng 1% lao động có trình độ cao đẳng, đại học và phân bổ 100% đang làm việc ở khu vực hành chính sự nghiệp Số lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật chỉ chiếm khoảng 8%; còn lại là lao động phổ thông Đa số lao động làm việc trong các cơ sở địa phương, chưa qua khóa đào tạo chính quy, trường lớp cơ bản, chưa có chứng chỉ hoặc bậc thợ, đó cũng chính là một trong những hạn chế trong việc cung ứng lao động khi có yêu cầu từ các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh Mặt khác, tư tưởng thuần nông còn nặng nề làm ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển Trong những năm tới nhu cầu sử dụng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật ngày càng cao, nhưng chất lượng lao động chưa đảm bảo yêu cầu, trên địa bàn huyện còn thiếu các trung tâm,
cơ sở dạy nghề đào tạo cấp chứng chỉ có khả năng cung ứng lao động cho các doanh nghiệp , vì vậy chưa đảm bảo nhu cầu đào tạo nghề cho người lao động
Hiện nay quỹ thời gian lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp còn lớn Theo tính toán trong nông nghiệp lao động nhàn rỗi còn khoảng 35 - 37% quỹ thời gian lao động Hiện nay, tình trạng thiếu việc làm chưa biểu hiện rõ thành một vấn đề xã hội bức xúc Trong thời gian tới với dự án đầu tư Cụm công nghiệp làng nghề Diên Sanh sẽ giải quyết tạo công ăn việc làm cho số lao động lớn trên địa bàn huyện
Trang 171.2.2.2 Cơ sở hạ tầng
a Giao thông
Mạng lưới giao thông được phân bố khá đều và thuận lợi bao gồm các loại
hình vận tải như đường bộ, đường sắt, đường sông trong đó đường bộ giữ vai trò quan trọng Toàn huyện có 792,87km đường bộ bao gồm 1 tuyến đường quốc lộ với chiều dài 20,2km, 4 tuyến đường tỉnh với chiều dài 51,1km, 25 tuyến đường huyện dài 184,43km, 30 tuyến đường nội thị có chiều dài 14,53km, 9 tuyến đường xã có 34,8km Trong đó, đường bê tông xi măng chiếm 22,87% với 180,59km, đường bê tông láng nhưạ chiếm 14,85% với 117,73km, đá dăm cấp phối chiếm 20,75% với 164,54km và đường đất chiếm 41,62% với 330,01km Hiện nay đang xây dựng tuyến đường nối từ quốc lộ 1A về cảng biển Mỹ Thủy (huyện Hải Lăng) với tổng vốn đầu tư gần 939 tỷ đồng, với chiều dài hơn 14,2 km, rộng 70 m với 6 làn xe, phục vụ việc vận chuyển hàng hóa của cảng biển Mỹ Thủy; nối hệ thống giao thông hành lang kinh tế Đông-Tây với cảng biển Mỹ Thủy, đồng thời hoàn thiện hệ thống giao thông khu kinh tế biển Đông - Nam Quảng Trị Hệ thống giao thông đường thủy chưa phát triển
b Mạng lưới hệ thống thuỷ lợi
Trên địa bàn huyện khá nhiều, gồm hệ thống thủy lợi Nam Thạch Hãn và 57 trạm bơm phục vụ tưới, tiêu nước cơ bản cho đất trồng lúa ở đồng bằng Tại vùng
gò đồi có 6 hồ chứa vừa và hàng chục hồ nhỏ (Hồ Khe Chanh, Hồ Miếu Bà, Hồ Thác Heo, Hồ Thượng Nguyên, Hồ Phú Hưng, Hồ Phước Môn) góp phần giải quyết tưới nước cho vùng gò đồi Ngoài ra còn có hơn 80 km tuyến đê nội đồng và các tuyến đê ngăn chặn cát bay, cát lấp
c Hệ thống cây xanh
Hiện tại đa số các tuyến đường của thị trấn Hải Lăng đều đã được trồng cây xanh, các tuyến đường liên xã cũng đã được trồng Thành phần cây xanh đường phố tại khu vực thị trân Hải Lăng chủ yếu là các loại cây bóng mát thân gỗ điển hình như bàng, phượng, bằng lăng, dương liễu, Tại các đường liên xã chủ yếu là tràm, phi lao và keo lai
Trang 181.2.2.3 Đặc điểm kinh tế
Cơ cấu kinh tế theo ngành có sự chuyển dịch tăng tỷ trọng khu vực dịch vụ, công nghiệp - xây dựng, giảm dần tỷ trọng trong khu vực nông - lâm - ngư nghiệp,
phát huy được các tiềm năng, lợi thế của huyện
Trong cơ cấu kinh tế chung, tỷ trọng khu vực dịch vụ tăng từ 32,73% năm
2005 lên 37,42% năm 2011; tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 11,78% năm 2005 lên 19,67% năm 2011; khối ngành nông - lâm - ngư nghiệp giảm dần tỷ trọng, từ 54,49% năm 2005 xuống còn 42,91% năm 2011 Nhìn chung quá trình chuyển dịch kinh tế theo hướng tích cực, tuy nhiên chưa có những ngành, sản phẩm chủ lực mang tính mũi nhọn tạo sự chuyển biến mạnh mẽ cho phát triển nền kinh tế
Trong giai đoạn phát triển ngày nay Hải Lăng đang từng bước đẩy mạnh nền kinh tế theo hướng mới đó là giảm tỉ trọng sản xuất nông nghiệp và chuyển sang các ngành kinh tế mang lợi nhuận cao
Hình 1: Bản đồ hành chính huyện Hải Lăng
Trang 19CHƯƠNG II: HIỆN TRẠNG RỪNG PHÒNG HỘ VEN BIỂN CỦA HUYỆN
HẢI LĂNG
2.1 Khái quát về hiện trạng rừng phòng hộ ven biển của tỉnh Quảng Trị
Vùng biển nước ta là vùng sinh thái rất khắc nghiệt, hiểm họa cát di động mạnh mẽ và trở thành khu vực xung yếu Khoảng 400.000 ha đất cát di động dọc bờ biển miền Trung đã và đang bị sa mạc hóa, ước tính mỗi năm có trên 20 ha đất canh tác nông nghiệp bị lấn bởi các đụn cát di động Phần lớn diện tích các đụn, cồn cát bay ven biển nước ta vẫn bị bỏ hoang do chưa xác định được loại cây trồng và kỹ thuật phù hợp
Kết quả nghiên cứu ở Quảng Trị thì công tác xây dựng đai rừng phòng hộ ven biển bước đầu đã đem lại tác dụng phòng hộ chắn gió, cố định cát, cải thiện môi trường không khí và đất
Theo thống kê của chi cục lâm nghiệp tỉnh Quảng Trị diện tích rừng phòng
hộ ven biển là 7.974,4 ha Trong đó diện tích rừng phòng hộ ven biển được phân bố theo từng huyện trên địa bàn tỉnh:
Bảng1: Diện tích rừng phòng hộ ven biển phân bố trên địa bàn tỉnh Quảng Trị
Đơn vị tính: Ha
Đơn vị hành chính Hải Lăng Triệu Phong Gio Linh Vĩnh Linh Diện tích (ha) 1.890,8 3.446,1 1.213,6 1.423,9
Nguồn: Chi cục lâm nghiệp tỉnh Quảng Trị năm 2010
2.2 Hiện trạng rừng phòng hộ ven biển của huyện Hải Lăng
2.2.1 Hiên trạng rừng phòng hộ ven biển đến năm 1999
2.2.1.1 Diện tích và phân bố rừng phòng hộ ven biển của huyện Hải Lăng
Sau chiến tranh diện tích rừng tự nhiên trên toàn huyện còn rất ít Nhận thấy vai trò của rừng trong việc phát triển kinh tế cũng như ổn định cuộc sống của nhân dân vùng cát nên các ngành chức năng đã phối hợp với các ban ngành liên quan thống kê diện tích rừng đặc biệt diện tích rừng phòng hộ ven biển huyện và kịp thời đưa ra các biện pháp nhằm xây dựng hệ thống rừng phòng hộ ven biển
Theo kết quả kiểm kê của phòng Nông nghiệp và Phát tiên nông thôn huyện Hải Lăng diện tích rừng phòng hộ ven biển của huyện Hải Lăng qua các năm:
Trang 20Bảng2: Diện tích rừng phòng hộ ven biển của huyện Hải Lăng trong giai đoạn
Nhìn chung diện tích rừng phòng hộ ven biển từ năm 1993 đến năm 1999 có
xu hướng tăng, gấp gấp 3,56 lần tức là diện tích từ 85,9 ha năm 1993 lên 306,2 ha năm 1999 Tuy nhiên, diện tích rừng phòng hộ ven biển huyện Hải Lăng cũng có biến động, thay đổi qua các năm
Trang 21Trong đó diện tích rừng phòng hộ được phân bố theo các địa phương cụ thể như sau:
Bảng 3: Diện tích phân bố rừng phòng hộ ven biển theo từng địa phương của huyện
Hải Lăng giai đoạn từ năm 1993- 1999
Biểu đồ 2: Diện tích phân bố rừng phòng hộ ven biển theo từng địa phương của
huyện Hải Lăng giai đoạn từ năm 1993- 1999
Diện tích rừng phòng hộ ven biển là 1244,3 ha chiếm 22,9% tổng diện tích phòng hộ của huyện Hải Lăng Nhưng nó lại có vai trò hết sức quan trọng không chỉ
về mặt phòng hộ mà còn kết hợp cung cấp lâm sản tại chổ, vì đây là vùng đông dân
có nhu cầu lớn về gỗ, củi đồng thời có tiềm năng lao động để xây dựng và phát triển vốn rừng
Diện tích rừng phòng hộ ven biển có sự khác nhau giữa các xã trên địa bàn huyện Tập trung diện tích nhiều nhất là ở xã Hải Ba (321,2ha), Hải Quế (285,9ha)
và Hải An (287,2ha)
Trang 222.2.1.2 Đặc điểm của rừng phòng hộ ven biển huyện Hải Lăng
a Về thành phần loài
Vùng cát ven biển huyện Hải Lăng là một tiểu vùng sinh thái khắc nghiệt và rất nhạy cảm với điều kiện khí hậu, thời tiết Điều kiện môi trường của vùng đất này trong nhiều năm qua có sự biến động khá mạnh do tác động của thiên nhiên và con người
Hiện các địa phương ven biển huyện Hải Lăng đã hình thành tuyến rừng phòng hộ ven biển chạy dài từ xã Hải An đến xã Hải Khê, Hải Ba, Hải Dương và Hải Quế , chủ yếu là rừng cây phi lao Trên dải đất cát ven biển của huyện Hải Lăng hiện có ít nhất là trên 30 loài cây gỗ bản địa như : tràm, chổi, mua, sim, chạc chìu, dứa dại, trầm bù, mảng ca, móc, chổi sể, .góp phần đa dạng hóa thành phần loài cho thảm thực vật vùng cát phòng hộ ven biển
Hình 2: Rú cát ven biển (Ảnh từ nguồn Phòng NN&PTNT huyện Hải Lăng)
Trong số đó, nhiều loài còn giữ được khả năng sinh trưởng mạnh, nhưng cũng rất nhiều loài đã thoái hóa dần, cây nhỏ bé, phân cành sớm, thậm chí có khuynh hướng bụi hóa Trong số các loài cây bản địa vừa nêu, có khá nhiều loài cây
Trang 23có khả năng đóng vai trò tiên phong tạo ra diễn thế phát triển để hình thành những quần hợp thực vật có khả năng phòng hộ môi trường ven biển bền vững Tuy nhiên,
do môi trường phải gánh chịu liên tục những tác động bất lợi, khiến cho diễn thế khó xảy ra một cách hoàn hảo Mặt khác, với nhiều tác động thiếu kiểm soát, con người đã làm mất hết các điều kiện tối thiểu để các thực vật hoang dại tự điều chỉnh trạng thái quần thể theo hướng đa dạng hóa sinh thái Vì vậy, cách tốt nhất là con người phải bắt tay vào tái tạo những điều kiện tối thiểu để tận dụng khả năng tiên phong của các loài cây hoang dại hiện hữu nhằm tạo ra những kiểu rừng nhân tạo theo hướng bền vững
Ngoài việc chống sạt lở, các loài cây trồng này nếu được trồng tập trung còn chống được tình trạng sa mạc hoá vùng đất cát ven biển; tạo cảnh quan sinh thái
thuận lợi cho môi trường
b Về độ che phủ của rừng phòng hộ ven biển của huyện Hải Lăng
Phát triển rừng là việc trồng mới rừng và khoanh nuôi và thực hiện các biện pháp chăm sóc và bảo vệ rừng tốt hơn nhằm tăng diện tích đất rừng và nâng cao khả năng phòng hộ của chúng
Rừng phòng hộ ven biển huyện Hải Lăng bên cạnh diện tích tự nhiên (chỉ là rất ít) thì việc trồng rừng phòng hộ đã được người dân địa phương theo chủ trương của cơ quan cấp trên thực hiện trồng mới diện tích rừng phòng hộ ven biển nhằm
để chắn sóng, chắn cát hay sự di động của cồn cát ven biển và ổn định cuộc sống của người dân
Từ năm 1992 người dân các xã đã tiến hành trồng rừng từ nguồn vốn của địa phương trong đó chủ yếu là xã Hải Ba, Hải Quế, Hải An Tính đến năm 1999 diện tích rừng phòng hộ ven biển của huyện Hải Lăng là 1.243,4 ha, độ che phủ rừng là 27,5%
2.2.2 Hiện trạng rừng phòng hộ hiện nay
2.2.2.1 Diện tích và phân bố rừng phòng hộ ven biển của huyện Hải Lăng
Dựa trên kết quả rà soát quy hoạch phát triển rừng trên địa bàn huyện Hải Lăng giai đoạn 2001- 2011, đồng thời căn cứ vào định hướng chiến lược xây dựng
và phát triển rừng phòng hộ đến năm 2015, diện tích lâm phận ven biển như sau:
Trang 24Bảng5: Diện tích lâm phận phòng hộ ven biển huyện Hải Lăng giai đoạn 2001 -
Nguồn: Báo cáo quy hoạch và bảo vệ rừng giai đoạn 2010- 2020 huyện Hải Lăng
Hình 3: Rừng phi lao ven biển (ảnh chụp ngày 04/03/2012)
Trang 25Bảng 6: Diện tích rừng phòng hộ ven biển huyện Hải Lăng theo từng điạ phương Đơn vị tính: Ha
TT Theo xã Tổng
cộng
Đất có rừng Đất chưa có
rừng Rừng tự nhiên Rừng trồng
Diện tích rừng phòng hộ ven biển tập trung nhiều nhất ở xã Hải Dương (538,5ha), Hải Ba (581,4ha) và Hải An (563,7ha) Trong diện tích rừng phòng hộ ven biển thì diện tích đất trống cao nhất là ở xã Hải Dương (496 ha)
2.2.2.2 Đặc điểm của rừng phòng hộ ven biển huyện Hải Lăng
Sau năm 1999 với sự tài trợ của các dự án ở huyện Hải Lăng nhất là các địa phương vùng cát đã tiến hành trồng rừng phòng hộ ven biển Bên cạnh phi lao
(Casuarina equisetifolia) còn có nhiều loài khác như lô rừng trồng keo lá tràm
Trang 26(Acacia auriculiformis), keo tai tượng (Acacia mangium) và keo lai (Acacia mangium x auriculiformis)
Ngoài ra còn có các loại cây bản địa và cây bụi với nhiều loài khác nhau Mật độ từ 2.500 - 5.000 cây/ha tùy theo địa hình ở khu vực đó mà có cách trồng khác nhau là theo băng hoặc theo líp
b Về độ che phủ của rừng phòng hộ ven biển của huyện
Việc trồng và quản lí rừng phòng hộ đều nhằm mục đích nâng cao chất lượng rừng Trong những năm qua diện tích rừng trồng của các xã vùng ven biển đang dần dần khôi phục cả về số lượng và chất lượng
Bảng7: Độ che phủ của các xã vùng ven biển
Đơn vị tính: %
Xã Hải An Hải Ba Hải Dương Hải Quế Hải Khê
Nguồn: Tổng hợp độ che phủ của rừng theo đơn vị hành chính của Hạt kiểm lâm
Hải Lăng tính đến năm 2011
Hình 4: Keo lá tràm ở xã Hải Dương(chụp ngày 11/03/2012)
Trang 27Trước thực trạng đó vấn đề trồng rừng, phục hồi lại rừng trở thành một mục tiêu quan trọng được Nhà nước, các ban ngành và toàn xã hội quan tâm
Nhiều chương trình trồng rừng bằng nguồn vốn Nhà nước và hỗ trợ của các
tổ chức trên thế giới được thực hiện Diện tích và chất lượng rừng ngày càng được nâng cao Từ năm 1993, trên địa bàn huyện bắt đầu triển khai việc trồng rừng đặc biệt chú trọng đến việc trồng rừng phòng hộ ven biển nhằm chắn gió, chắn cát và ổn định cuộc sống của người dân
Diện tích rừng phòng hộ ven biển tăng lên tức là từ 1.244,3 ha năm 1999 tăng lên 2536,23 ha năm 2011, gấp 2,03 lần Khi diện tích rừng phòng hộ tăng lên kéo theo đó là độ che phủ của rừng tăng từ 27,5% năm 1999 lên đến 35,24% năm
2011
Tuy nhiên, diện tích rừng phòng hộ có sự thay đổi qua các năm do nhiều nguyên nhân khác nhau Từ đó nó làm ảnh hưởng đến chất lượng rừng và khả năng phòng hộ của rừng kém đi, ảnh hưởng đến cuốc sống của người dân
2.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến rừng phòng hộ ven biển huyện Hải Lăng
Trồng rừng phòng hộ là một trong những giải pháp của tỉnh Quảng Trị nói chung và huyện Hải Lăng nói riêng đối với vùng cát ven biển Bên cạnh những mặt đạt được thì có nhiều nguyên nhân làm ảnh hưởng đến rừng phòng hộ đó là sự suy giảm về diện tích và chất lượng của rừng cũng thay đổi
- Cùng với sự phát triển ồ ạt của nhiều ngành kinh tế đã và đang tác động xấu đến việc bảo vệ rừng phòng hộ ven biển, làm cơ cấu rừng thay đổi, chất lượng rừng
Trang 28giảm sút, khả năng phòng hộ bị hạn chế Hơn nữa đời sống của người dân vùng biển còn thấp chủ yếu là sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp
- Tình trạng thiếu đất sản xuất nông nghiệp đang là vấn đề đặt ra ngày càng cấp thiết cho địa phương
- Do việc mở rộng bừa bãi để nuôi trồng thủy sản của một số người dân đặc biệt là ở 2 xã Hải An và Hải Khê
- Mở rộng diện tích làm đường trên địa bàn các xã
- Diện tích rừng phòng hộ ven biển mất đi do quy hoạch xây dựng cảng biển
Mỹ Thủy
- Phá rừng làm chất đốt của người dân, một số cá nhân đào bới những cây phi lao làm cây cảnh, hạn hán làm cây chết và cháy rừng
Hình 5: Hàng loạt gốc phi lao bị đào bới ở xã Hải Khê ( ảnh từ Báo Qủang Trị.)
- Nguồn kinh phí cho công tác chăm sóc và bảo vệ rừng phòng hộ còn quá ít chủ yếu dựa vào nguồn vốn của các dự án, khi hết dự án thì gần như không có vốn
Trang 29- Chặt phá rừng để khai thác khoáng sản đặc biệt là khai thác titan, đất san lấp
Hình 6: Khai thác đất san lấp ở xã Hải Ba(ảnh chụp ngày 11/03/2012)
Hình 7: Mở rộng nuôi trồng thủy sản vem biển.(ảnh chụp ngày 11/03/2012)