1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tôn giáo trong cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản phương tây chống giai cấp phong kiến trong buổi đầu cận đại thế kỷ XVI – thế kỷ XVIII

56 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 635,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những cuộc đấu tranh đầu tiên đã diễn ra trên lĩnh vực văn hóa và tư tưởng thể hiện qua phong trào văn hóa Phục hưng và phong trào cải cách tôn giáo, đây là hai đòn đánh đầu tiên của gia

Trang 1

1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

XVI – thế kỷ XVIII

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

nô lệ đến nhà nước phong kiến, tư bản và xã hội chủ nghĩa Hình thái nhà nước ra đời sau ít nhiều mang tính tiến bộ hơn nhà nước bị thay thế, đó là quy luật tất yếu của xã hội

Trong bước tiến của mình, chúng ta không thể không nói đến chế độ phong kiến, hình thái kinh tế xã hội có thể nói là tồn tại lâu nhất và khá phổ biển trong lịch sử loài người tính đến giai đoạn hiện nay Lịch sử của chế độ phong kiến nằm trong giai đoạn lịch sử trung đại theo cách phân kỳ của các nhà sử học Mácxit Mặc dù giữa phương Tây và Phương Đông thời gian có sự chênh lệch nhưng không nằm ngoài nội dung trên

Lịch sử trung đại phương Tây là lịch sử chế độ phong kiến trên phạm vi toàn châu Âu, trong đó chế độ phong kiến Tây Âu xuất hiện và tan rã sớm hơn nhiều

so với các khu vực khác, sự tan rã của chế độ phong kiến Tây Âu được đánh dấu bằng cuộc cách mạng tư sản Netherland bùng nổ vào thế kỷ XVI(1556) Kế tiếp

nó là cơn bão táp cách mạng liên tiếp nổ ra ở nhiều nước như Anh, Pháp, Ý, … giành được thắng lợi, bước đầu đã xác lập một hình thái kinh tế xã hội mới, phương thức sản xuất mới tư bản chủ nghĩa tiến bộ hơn chế độ phong kiến

Chế độ phong kiến phương Tây có cơ sở tồn tại vững chắc hàng trăm năm với

sự câu kết chặt chẽ gữa thế lực phong kiến cùng Giáo hội Thiên chúa và Giáo hoàng La Mã tạo thành vỏ bọc kìm kẹp xã hội, đi ngược lại sự phát triển tất yếu của nó Xã hội phương Tây lúc này đứng trước những mâu thuẫn giai cấp và mâu thuẫn xã hội không thể dung hòa Giai cấp tư sản đang lên có thế lực về kinh tế,

có tư tưởng tiến bộ nhưng lại bị Giáo hội và thế lực phong kiến kìm kẹp, không có thế lực chính trị Và tất nhiên là họ không chấp nhận thực tế đó và muốn cải tạo

xã hội Về phía quần chúng nhân dân, họ bị Giáo hội và thế lực phong kiến bóc lột đến cùng cực nên họ cùng có chung kẻ thù với giai cấp tư sản Trong một chừng

Trang 3

3

mực nào đó, giai cấp tư sản vả quần chúng nhân dân cùng đứng trên một chiến tuyến trong cuộc chiến chống phong kiến Bên cạnh đó xã hội phương Tây lúc này cũng có một mâu thuẫn nữa đó là mâu thuẫn dân tộc gay gắt giữa nhân dân Netherland với giai cấp thống trị ngoại lai Tây Ban Nha

Đứng trước những mâu thuẫn không thể dung hòa đó, đấu tranh để cải biến xã hội là quy luật tất yếu khách quan, và cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản đã nổ ra

“Sau lưng tư sản là một đội quân hùng hậu nông dân, thợ thủ công, thị dân, những lực lượng đông đảo nhất trong xã hội sẵn sàng chiến đấu dưới ngọn cờ tư sản để lật đổ chế độ phong kiến” [20; 50]

Những cuộc đấu tranh đầu tiên đã diễn ra trên lĩnh vực văn hóa và tư tưởng thể hiện qua phong trào văn hóa Phục hưng và phong trào cải cách tôn giáo, đây là hai đòn đánh đầu tiên của giai cấp tư sản vào thế lực phong kiến và Giáo hội Nó là sự chuẩn bị về tư tưởng cho cuộc đấu tranh trực diện của giai cấp tư sản lật đổ chế độ phong kiến mở ra thời kỳ cận đại cho lịch sử thế giới

Để tập hợp lực lượng và đoàn kết quần chúng nhân dân trong cuộc chiến này, giai cấp tư sản đã sử dụng thứ vũ khí sắc bén đó chính là tôn giáo và đã giành được những thắng lợi nhất định Tuy cách mạng chưa giải quyết triệt để những mâu thuẫn trong xã hội nhưng bước đầu đã xác lập phương thức sản xuất mới tiến

bộ hơn phương thức sản xuất phong kiến

Vì vậy, đề tài này về mặt lý luận, chúng tôi muốn làm làm rõ vấn đề: tôn giáo trong cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản Từ đó làm nền tảng cho việc nghiên cứu sâu hơn về các cuộc cách mạng tư sản ở buổi đầu cận đại, là một phần quan trọng của lịch sử thế giới cận đại

Về thực tiễn đề tài “Tôn giáo trong cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản phương Tây chống giai cấp phong kiến trong buổi đầu cận đại (thế kỷ XVI – thế kỷ XVIII)”, là đề tài trên lĩnh vực khoa học cơ bản Vì vậy nó không chỉ có ý nghĩa

về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn, cung cấp thêm những kiến thức ngoài giáo trình, tạo điều kiện để hiểu sâu sắc hơn lịch sử thế giới Hơn nữa nghiên cứu khoa học là việc làm cần thiết đối với mỗi sinh viên, đặc biệt là sinh

Trang 4

4

viên sư phạm, nó giúp sinh viên hiểu sâu vấn đề, cung cấp thêm kiến thức phục vụ học tập và giảng dạy sau này

2 Lịch sử vấn đề

Đề tài này thuộc lĩnh vực khoa học cơ bản, quan trọng trong chương trình lịch

sử thế giới cận đại, đặc biệt là nằm trong chuyên đề “Các cuộc cách mạng tư sản cận đại” nên đã có một số tác giả nghiên cứu về học phần này hoặc có đề cập đến những lĩnh vực, khía cạnh khác nhau Tuy nhiên những công trình nghiên cứu chỉ mới khái quát chung về các cuộc cách mạng tư sản mà chưa cụ thể đi sâu về công

cụ tôn giáo trong một số cuộc cách mạng tư sản buổi đầu cận đại Ví dụ như: Cuốn “Các cuộc cách mạng tư sản thời cận đại” của Nguyễn Văn Tân, trong

đó tác giả nghiên cứu về các cuộc cách mạng tư sản nhưng chưa đi sâu nghiên cứu vấn đề tôn giáo trong cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản

Trong đề tài của T.S Cao Văn Liên đăng trên tạp chí nghiên cứu châu Âu số 9

có tên “Lịch sử cổ trung đại châu Âu những nét đặc thù”, tác giả trình bày khá cụ thể sự suy yếu của chế độ phong Tây Âu và cuộc đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa

tư tưởng trong đó có tôn giáo của giai cấp tư sản trước khi tiến hành cách mạng tư sản nhưng chưa nghiên cứu về việc sử dụng tôn giáo khi cách mạng nổ ra

Ph.Ăngghen trong lời tựa tác phẩm “Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đến khoa học” đã đề cập đến cuộc đấu tranh chống Giáo hội Thiên chúa và thế lực phong kiến của giai cấp tư sản nhưng cũng chưa nghiên cứu một cách toàn diện và cụ thể về tôn giáo trong cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản buổi đầu cận đại

Như vậy, chưa có một cuốn sách hay công trình nghiên cứu nào chuyên biệt về vấn đề “Tôn giáo trong cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản phương Tây chống giai cấp phong kiến trong buổi đầu cận đại (thế kỷ XVI - thế kỷ XVIII)” Các cuốn sách chỉ mới trình bày những khía cạnh khác nhau của các cuộc cách mạng tư sản

mà chưa đi sâu vào vấn đề sử dụng công cụ tôn giáo trong cuộc đấu tranh này Tuy nhiên những tác phẩm trên là nguồn tài liệu cần thiết, bổ ích giúp tôi tham khảo để hoàn thành đề tài này

3 Đối tượng, phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 5

5

3.1 Đối tượng nghi ên cứu

Cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản phương Tây là một bộ phận của cuộc đấu

tranh của giai cấp tư sản thế giới nhằm thiết lập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Đó là cuộc đấu tranh cho sự tiến bộ của văn minh nhân loại

Vì vậy để hiểu rõ hơn vai trò của tôn giáo trong cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản, tôi chọn vấn đề “Tôn giáo trong cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản phương Tây chống giai cấp phong kiến trong buổi đầu cận đại thế kỷ XVI – thế kỷ XVIII” làm đối tượng nghiên cứu

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về thời gian: từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII

Về không gian: đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản

ở một số nước phương Tây tiêu biểu như Netherland, Anh,…

3.3 Mục đích

- Mục đích: Tìm hiểu vấn đề tôn giáo trong cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản phương Tây chông giai cấp phong kiến trong buổi đầu cận đại từ giữa thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVIII Qua đó hiểu sâu sắc hơn về cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản phương Tây nói riêng và giai cấp tư sản nói chung

3.4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Phân tích cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản ở một số nước phương Tây(thế kỷ XVI –thế kỷ XVIII) từ đó giải quyết vai trò của tôn giáo trong cuộc đấu tranh đó

4 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này tôi đã sử dụng phương pháp nghiên cứu sau:

Trước hết là phương pháp lịch sử để tìm hiểu các sự kiện, hiện tượng trong hoàn cảnh cụ thể nhất định

Trang 6

6

Bên cạnh đó tôi sử dụng phương pháp logic học để tìm hiểu mối quan hệ biện chứng của các sự kiện, hiện tượng từ đó rút ra vai trò của tôn giáo trong cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản

Ngoài ra còn sử dụng phương pháp sưu tầm, sắp xếp nguồn tư liệu để rút ra những nhận xét, đánh giá về điểm tích cực cũng như hạn chế khi sử dụng tôn giáo Đặc biệt, khi nghiên cứu đề tài này tôi luôn đứng trên lập trường quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin để đánh giá nhận xét các vấn đề

5 Nguồn tài liệu nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu từ các nguồn tài liệu sau: các tác phẩm kinh điển của Mác, Ăngghen, Lênin, các sách tham khảo, các giáo trình đại học, cao đẳng, các sách lý luận, các bài viết đăng trên tạp chí (tạp chí nghiên cứu châu Âu, nghiên cứu lịch sử,…)

và tham khảo trên mạng internet với các trang web: wikipedia.org, dictionary.bachkhoatoanthu.gov,…

7 Bố cục của đề tài

Đề tài này gồm có phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Trong đó phần nội dung gồm 2 chương:

Chương 1: Xã hội phương Tây từ đầu thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XVI

Chương 2: Việc sử dụng tôn giáo trong cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản phương Tây chống giai cấp phong kiến buổi đầu cận đại (thế kỷ XVI – thế kỷ XVIII)

Trang 7

7

NỘI DUNG Chương 1: Xã hội phương Tây từ đầu thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XVI 1.1 Kinh tế

Trong các thế kỷ X, XI ở châu Âu đã xuất hiện các thành thị, đây là bước tiến quan trọng của nền kinh tế châu Âu

Sự ra đời của các thành thị này thể hiện tính chất hai mặt đối lập nhau của chế độ phong kiến châu Âu lúc bấy giờ Thành thị ra đời thể hiện sự phát triển của chế độ phong kiến châu Âu thế kỷ X, XI Nhưng chính thành thị ra đời với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, nó đã phá hoại ngầm chế độ phong kiến châu Âu

Nền kinh tế tự nhiên đã bị tan rã nhanh chóng do sự phát triển của nền kinh

tế hàng hóa Để phục vụ cuộc sống hàng ngày, cư dân thành thị cần có lương thực thực phẩm và để phục vụ cho việc sản xuất thủ công nghiệp thì họ cần nguyên liệu như lông cừu, nho… và những thứ đó được cung cấp từ nông thôn Do vậy giữa nông thôn và thành thị đã có mối liên hệ chặt chẽ về kinh tế, nhiều trang viên phong kiến đã bị lôi cuốn vào việc sản xuất hàng hóa

Cùng với việc tan rã của nền kinh tế tự nhiên thì sự phát triển của kinh tế hàng hóa cũng đã có tác dụng trong việc làm tan rã chế độ nông nô Trên thị trường, hàng hóa xuất hiện ngày càng nhiều như muối, sắt, các mặt hàng xa xỉ như vải, lụa, hương liệu… số hàng hóa này được chở từ phương Đông đến Và quy luật tự nhiên là có cung có cầu, nhu cầu của giai cấp phong kiến ngày càng tăng

Để mua được những thứ hàng hóa này, họ không thể dùng các vật phẩm để trao đổi mà phải dùng hình thức trao đổi bằng tiền Lúc này các lãnh chúa đã dùng hình thức tô tiền thay cho hình thức tô sản phẩm để có tiền mua hàng hóa Một số lãnh chúa đã cho phép nông nô dùng tiền để chuộc lại tự do Vì thế đến thế kỷ XIII, ở châu Âu tô tiền đã trở thành hình thức phổ biến

Ở châu Âu lúc này chế độ nông nô đã bắt đầu lỏng lẻo do quan hệ tiền tệ và

vì thế đã phá hoại ngầm chế độ phong kiến Bên cạnh đó sự phát triển của của kinh tế hàng hóa làm tăng lên mối liên kết kinh tế giữa các địa phương đã tạo điều kiện cho các quốc gia thống nhất hình thành

Trang 8

8

Như vậy, vào thế kỷ XI-XIII, chế độ phong kiến châu Âu đã bị phá hoại ngầm từ bên trong tạo nên những thay đổi trong lòng chế độ phong kiến, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã có dấu hiệu manh nha

Sang thế kỷ XIV, XV trong các thành thị ở Ý, ở vùng sông Ranh và ở Netherland, những nhân tố của chủ nghĩa tư bản đã xuất hiện tuy nhiên nó còn mang tính lẻ tẻ Tuy vậy sang đầu thế kỷ XVI, chủ nghĩa tư bản đã chính thức ra đời và trở nên phổ biến ở các nước Tây Âu Trong thời gian này, quan hệ sản xuất

tư bản chủ nghĩa thâm nhập vào tất cả các ngành kinh tế Đồng nghĩa với nó là

“chế độ phong kiến phân tán được tạo ra bởi nền kinh tế tự nhiên sắp bị thay thế bởi một chế độ trung ương tập quyền do đòi hỏi của nền kinh tế hàng hóa” [33]

Trong nông nghiệp, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện với sự tan rã hoàn toàn của chế độ nông nô, sớm nhất là ở Anh, Netherland và một phần nước Pháp vào thế kỷ XIV, XV Công trường thủ công phát triển nhanh chóng, điều này đòi hỏi phải có nguyên liệu dồi dào Cùng với đó số lượng cư dân thành thị và tầng lớp thợ thủ công tăng lên không ngừng kéo theo sự tăng lên về nhu cầu lương thực thực phẩm Tình hình đó đã làm cho nông nghiệp phát triển theo xu hướng sản xuất hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường Điều này đã tạo điều kiện cho chủ nghĩa tư bản thâm nhập vào lĩnh vực nông nghiệp Chúng ta có thể thấy qua những biểu hiện sau:

Trước hết là ở những trang trại của phú nông Một số nông dân đã trở nên

giàu có do họ tham gia vào việc sản xuất hàng hóa Bằng nhiều cách họ cố gắng

mở rộng trang trại rồi thuê những người nông dân bị phá sản (cố nông) vào làm việc trong trang trại của mình và bóc lột sức lao động của họ Do đó, tính chất tư bản chủ nghĩa đã thể hiện rõ trong những trang trại này đó là việc tập trung một số lượng nông dân và tiến hành bóc lột sức lao động Nhưng nông dân làm thuê cho các trang trại này thường số lượng không nhiều, mặt khác tham gia lao động còn

có phú nông và gia đình của họ vì vậy mà những yếu tố tư bản chủ nghĩa còn nhiều hạn chế

Thứ hai là ở những nông trang của địa chủ phong kiến Do sự phát triển

của kinh tế hàng hóa nên nhu cầu của thị trường về các mặt hàng nông sản ngày

Trang 9

9

càng lớn nên một số địa chủ đã tìm cách thay đổi cách bóc lột của mình Họ không còn sử dụng sức lao động của nông dân lệ thuộc nữa mà thay vào đó là những người làm thuê để phát triển sản xuất hàng hóa Như vậy, phương thức bóc lột này đã mang tính chất tư bản chủ nghĩa, đồng thời tầng lớp địa chủ này đã trở thành tầng lớp quý tộc mới gắn liền với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản vì họ

có chung lợi ích

Thứ ba là ở những trại ấp của các nhà tư sản nông nghiệp Các nhà tư sản

nông nghiệp này xuất thân từ nông dân giàu có hoặc những thị dân khá giả chuyển hướng kinh doanh thương nghiệp sang nông nghiệp Họ được các lãnh chúa cho thuê đất để kinh doanh vì họ thuê với mức địa tô theo mức giá cả thị trường mà không phải theo tập quán, sau đó họ thuê các công nhân nông nghiệp đến làm việc Với việc này, họ đã có được một khoản giá trị thặng dư dựa trên cơ sở bóc lột sức lao động của người làm thuê Mặt khác, giá cả của các nông phẩm thường tăng lên rất nhanh trong khi các hợp đồng thuê đất thường dài hạn nên họ có thêm một khoản lợi nhuận lớn Như vậy, khoản địa tô mà các chủ trại ấp trả cho lãnh chúa được trích một phần từ số giá trị thặng dư mà họ bóc lột của công nhân nông nghiệp và đó là địa tô tư bản chủ nghĩa

Trong thủ công nghiệp, sự phát triển của việc sản xuất theo lối tư bản chủ nghĩa trải qua ba giai đoạn đó là: giai đoạn hợp tác đơn giản, giai đoạn công trường thủ công và giai đoạn công nghiệp cơ khí Ở thế kỷ XIV, XVI, chủ yếu diễn ra quá trình hình thành và phát triển của hình thức công trường thủ công

Công trường thủ công tồn tại dưới hai hình thức là hình thức phân tán và hình thức tập trung Giai đoạn hợp tác đơn giản hầu hết là theo hình thức phân tán Với hình thức này thì người sản xuất sẽ phân tán cho các gia đình tiến hành phân công lao động sau khi đã nhận đặt hàng Do người sản xuất thường xuyên làm đi làm lại một khâu nào đó trong quá trình cho ra đời sản phẩm nên trình độ kỹ thuật của họ ngày càng điêu luyện và năng suất lao động cũng được nâng cao Mặc dù các khâu sản xuất phân tán ở nhiều nơi nhưng những người sản xuất vẫn có sự liên hệ

Trang 10

10

Sự xuất hiện công trường thủ công phân tán thường gắn liền với hoạt động của lái buôn bao mua Sau khi người thợ thủ công hoàn thành sản phẩm, các lái buôn sẽ đem nguyên liệu đến bán rồi thu mua sản phẩm của họ để bán cho người tiêu dùng Nếu những sản phẩm đó chưa hoàn thành mà mới ở dạng nửa thành phẩm thì các lái buôm này thu mua rồi bán lại cho các thợ thủ công khác để họ hoàn thành sản phẩm Vì thế, ở giai đoạn này người thợ thủ công làm chủ được kinh tế của mình

Về sau, các lái buôn cho thợ thủ công vay nguyên liệu hoặc cho vay tiền để mua nguyên liệu vì có nhiều thợ thủ công không đủ vốn liếng để tiếp tục sản xuất

Và việc cho vay đó sẽ phải kèm theo điều kiện đó là sau khi hoàn thành sản phẩm thì thợ thủ công phải bán sản phẩm cho các lái buôn theo giá đã thỏa thuận từ trước Không chỉ có vay nguyên liệu mà nhiều thợ thủ công còn dựa vào lái buôn

để được trang bị công cụ lao động Với việc này, người thợ thủ công chỉ nhận được một khoản thù lao nhất định sau khi nộp toàn bộ sản phẩm cho lái buôn bao mua nhưng trên thực tế họ đã trở thành những người làm thuê và bị bóc lột giá trị thặng dư Người bóc lột họ chính là các lái buôn mà thực tế đã trở thành ông chủ của các xí nghiệp Đây chính là hình thức sơ khai của nền công nghiệp tư bản chủ nghĩa

Cùng với công trường thủ công phân tán đó chính là hình thức công trường thủ công tập trung, đầu tiên là do những người thợ thủ công khá giả tổ chức Những người thợ thủ công này do tích lũy được một số vốn nhất định nên họ đầu

tư mở rộng công xưởng của mình, sau đó thuê những người thợ thủ công không

có tư liệu sản xuất vào làm việc Những người thợ thủ công tập trung làm việc với thời gian và cường độ làm việc tăng lên rất nhiều

Ở công trường thủ công tập trung, trình độ phân công lao động tăng lên Bên cạnh đó, công cụ sản xuất cũng được chú ý cải tiến đem lại năng suất lao động rất cao Nhưng nhìn chung, các công trường thủ công tập trung thời kỳ này

có quy mô nhỏ mặc dù vậy nó đã đặt cơ sở về tổ chức cho việc thành lập nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa sau này Công trường thủ công chính là giai đoạn đầu tiên trong quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản

Trang 11

11

Như vậy, xã hội châu Âu thế kỷ XIV-XVI đã có những dấu hiệu manh nha của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Đồng thời, chế độ phong kiến đã bị phá hoại ngầm từ bên trong Những tiền đề đầu tiên của giai cấp tư sản và chế độ tư bản chủ nghĩa đã được hình thành Đây là nền tảng chuẩn bị cho những bước chuyển

có ý nghĩa to lớn ở xã hội châu Âu

1.2 Chính trị - tư tưởng

1.2.1 Chính trị

Các nước phong kiến Tây Âu sau thời gian phát triển thịnh trị ở các thế kỷ X-XIII, bước sang thế kỷ XIV đã có những dấu hiệu của sự khủng hoảng Bộ máy chính quyền phong kiến ngày càng khủng hoảng, đi ngược lại quyền lợi của nhân dân Bộ máy quan lại, quý tộc phong kiến chỉ lo ăn chơi hoang phí, nịn hót xung quanh nhà vua để được sống cuộc sống xa hoa Bên cạnh đó, hiện tượng mua quan bán tước diễn ra thường xuyên Vì thế, sức mạnh của bộ máy chính quyền phong kiến bị giảm sút

Ở Pháp, bọn quý tộc phong kiến bằng tài nịn hót của mình có thể có được những chức vụ cao trong bộ máy nhà nước và hưởng nhiều lợi ích do những chức

vụ đó mang đến “Họ cố gắng tranh thủ được từ nơi quốc vương những chức vụ

cao cấp để có được nhiều bổng lộc và được nhiều sự ban ân của nhà vua Đại đa

số họ đều tập trung chung quanh quốc vương, lấy sự dua nịnh để được nhà vua tin dùng và sống một cuộc sống hào hoa tại cung đình” [11; 658-659]

Cùng với sự tan rã của chế độ phong kiến quá trình hình thành các quốc gia, dân tộc thống nhất cũng bắt đầu

Đến cuối thế kỷ XV, vua Pháp là Luis XI đã chấm dứt tình trạng phân tán của các lãnh địa phong kiến, thống nhất về mặt chính trị Đồng thời, ý thức dân tộc của nước Pháp cũng được hình thành đặc biệt là sau thắng lợi của cuộc chiến tranh 100 năm giữa Pháp và Anh Trên cơ sở tiếng địa phương của vùng Paris, ngôn ngữ của người Pháp dần dần được hình thành, đó là tiếng Pháp Mặt khác,

sự hòa hợp dân tộc và nền văn hóa chung của dân tộc Pháp cũng dần hình thành Nước Pháp đã trở thành quốc gia thống nhất về chính trị và dân tộc

Trang 12

12

Ở Anh, ngay từ thế kỷ XIV, Luân Đôn đã phát triển đến thế kỷ XV thì Luân Đôn đã trở thành trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của nước Anh Trên nền tảng ngôn ngữ địa phương của Luân Đôn đã phát triển thành ngôn ngữ hiện

đại của nước Anh “Ngay từ năm 1362, vua Edward III đã xuống lệnh tất cả các

hồ sơ của nhà nước phải viết bằng Anh ngữ Năm 1399, vua Anh Henri IV không dùng tiếng Pháp là ngôn ngữ được lưu hành trong cung đình mà dùng tiếng Anh

để phát biểu trong quốc hội.” [11; 111] Cũng như Anh, Pháp đến đầu thế kỷ

XVI, Tây Ban Nha đã thống nhất toàn bộ bán đảo Iberica chỉ trừ Bồ Đào Nha

Ngoài ra, thời kỳ này cũng đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa thực dân châu

Âu Đây là hệ quả tất yếu của các cuộc phát kiến địa lý diễn ra vào cuối thế kỷ

XV đầu thế kỷ XVI

Như vậy, thế kỷ XIV-XVI là thời kỳ diễn ra sự khủng hoảng trầm trọng của chế độ phong kiến châu Âu, nó báo hiệu cho một sự thay đổi lớn sắp diễn ra Cùng với đó là ý thức về quốc gia dân tộc cũng lớn mạnh, là động lực để các giai cấp tầng lớp trong xã hội đứng lên xóa bỏ sự cát cứ của các thế lực phong kiến Đặc biệt cây trụ chống tinh thần của chế độ phong kiến là giáo hội Thiên Chúa lúc này đang có những thay đổi to lớn sẽ làm nền cho những thay đổi của xã hội

1.2.2 Tư tưởng

“Thời trung cổ đã phát triển trên một cơ sở hoàn toàn thô sơ Nó đã xóa sạch nền văn minh cổ đại, nền triết học, chính trị, luật học cổ đại để lại bắt đầu tất cả ngay từ đầu Điều duy nhất mà nó mượn được của thế giới cổ đại đã diệt vong là đạo Cơ Đốc…” [1; 475] Với điều kiện lịch sử như vậy, giáo hội Thiên

Chúa La Mã trở thành trung tâm quyền lực của chế độ phong kiến thời đó

Từ thế kỷ V, giai đoạn đầu khi tiến vào xã hội phong kiến thì mối quan hệ giữa giáo hội Cơ Đốc và chính quyền phong kiến chủ yếu là lợi dụng, nương tựa vào nhau, chính là sự cấu kết chặt chẽ giữa chính quyền và giáo hội Năm 796,

trong bức thư gửi cho giáo hoàng Cleo III của Chanles có đoạn “Thiên Chúa của

tôi là dùng vũ lực để bảo vệ giáo hội giúp nó không bị những tín đồ dị giáo công kích, chà đạp, giúp nó sự tín ngưỡng sùng kính trong giáo hội Trái lại thiên chức của Cha là sự cầu nguyện, ủng hộ cho quyền lực của tôi” [11; 143] Thời kỳ này,

Trang 13

13

mặc dù giữa quyền lực giáo hội và quyền lực thế tục có sự phụ thuộc lẫn nhau nhưng quyền lực ở thế tục vẫn chiếm ưu thế nhất định

Khoảng thế kỷ X, do thế lực cát cứ của các lãnh chúa phong kiến quá mạnh

đã làm cho vương quyền bị suy yếu Lợi dụng cơ hội đó, giáo hội đã chiếm đoạt nhiều tài sản, ruộng đất và trở thành lãnh chúa phong kiến lớn nhất Giáo hội sử dụng việc trưng thu thuế tạp, mua bán chức vụ trong hàng giáo phẩm, bán phiếu chuộc tội, thu phí cầu nguyện và nhiều khoản khác để tích trữ thật nhiều tài sản

Sự tích lũy về mặt tài sản hàng năm của giáo hội La Mã nhiều hơn thu nhập của tất cả các vương quốc Tây Âu cộng lại Giáo hội La Mã ở các quốc gia Thiên

Chúa giáo chiếm hữu một diện tích ruộng đất rất lớn “Giáo hội Thiên Chúa mà

đầu não là các giáo hoàng La Mã đều cố gắng đưa mình trở thành chúa tể trong đời sống thế tục” [11; 129]

Khoảng nửa đầu thế kỷ XII, giáo hội đưa ra thuyết “hai con dao” để giải thích rằng đó là vương quyền và thần quyền đều thuộc về giáo hội và giáo hội có thể tạm thời trao con dao chính quyền cho quốc vương, do đó vương quyền có được là từ giáo quyền Quyền lực của các nhà vua đều phải dưới lệnh của Giáo hoàng Chính giáo hội La Mã là người phát động và tổ chức những cuộc Thập tự chinh diễn ra trong gần 2 thế kỷ đã để lại những hậu quả nặng nề

Cuối thế kỷ XII đầu thế kỷ XIII là thời kỳ mà giáo hội La Mã phát triển cực thịnh, giáo hội La Mã trở thành trung tâm quốc tế khổng lồ châu Âu và có địa

vị cao nhất “hội tụ tất cả các dòng sông quyền lực” Và “quyền lực của Giáo

hoàng cũng giống như Mặt Trời, quyền lực của quốc vương cũng giống như Mặt Trăng, ánh sáng của nó là mượn từ Mặt Trời Do vậy, Giáo hoàng là người nắm quyền phê chuẩn trong việc bầu chọn ngôi vị hoàng đế, có quyền chủ trì nghi lễ xưng tội của các đế vương Thậm chí có thể khai trừ giáo tịch của quốc vương, công khai giải trừ sự phục tùng của thần dân đối với quốc vương” [11; 129]

Như vậy, thời kỳ này giáo hội nắm trong tay cả vương quyền lẫn thần

quyền “Nó (giáo hội Thiên Chúa Rôma) khoác cho chế độ phong kiến một vòng

hào quang thần thánh Nó đã xây dựng hệ thống cấp bậc của bản thân nó theo mẫu mực của chế độ phong kiến và rút cục nó đã trở thành một chúa phong kiến

Trang 14

sử tiến về phía trước Từ thế kỷ XIV, sự khống chế của các nhà vua ngoài thế tục đối với bản quốc của giáo hội ngày càng mạnh lên cũng như những cuộc đấu tranh chống giáo hội phong kiến của nhân dân ngày càng phát triển đã làm cho quyền lực của giáo hội từ chỗ hưng thịnh đi dần xuống chỗ suy yếu

Sự kiện đánh dấu bước ngoặt này chính là việc giáo hoàng Bonifacius VIII mâu thuẫn với vua Pháp là Philip IV và xảy ra một vụ xung đột Kết quả của vụ xung đột đó là giáo hoàng phải chịu nhận phần thua

“Nhằm tăng gia thu nhập về mặt tài chánh, năm 1296 vua Philip xuống lệnh cho giáo hội phải nộp thuế 20% trên tổng số thu nhập từ tài sản của giáo hội

có Lệnh này bị giáo hoàng Bonifacius VIII kiên quyết chống lại Vì giáo hoàng Bonifacius VIII nguyên trước đây là đặc sứ của giáo hoàng phái tới trú đóng tại nước Pháp Trong số 12 lãnh địa của ông ta có đến 8 lãnh địa ở tại Pháp Nếu đánh vào số thuế như nói trên, ông ta sẽ bị tổn thất quyền lợi Do vậy, giáo hoàng Bonifacius VIII liền ban “sắc dụ giáo tục”, cấm ngặt các giáo sĩ không được nộp thuế cho nhà vua Ai làm trái sẽ bị khai trừ khỏi đạo Vua Philip IV không chịu thua, xuống lệnh không cho phép đem vàng bạc, châu báu ra khỏi đất Pháp Như vậy, giáo hội không thể nào lấy được quyền lợi gì ở đất Pháp, cho nên giáo hội bắt buộc phải giảng hòa với vua Pháp, mặc nhiên thừa nhận quyền đánh thuế của vua Philip IV” [11; 87]

Cuộc chiến xảy ra giữa giáo hội và giai cấp phong kiến thế tục là cuộc chiến giữa vương quyền và thần quyền Nó đặt dấu chấm hết cho thời kỳ bá vương của giáo hội Thiên Chúa, giáo hội mất dần vai trò thống trị xã hội Việc thừa nhận quyền đánh thuế của vua Philip IV thể hiện sự sa sút của giáo hội đối

Trang 15

15

với quyền lực thế tục Sau sự kiện này, đối với giáo hoàng giống như sự sỉ nhục nên không bao lâu sau đó, giáo hoàng lại ban bố “sắc dụ thần thánh nhất thể” Giáo hoàng ban bố sắc dụ này với mục đích khẳng định lại quyền lực của giáo hội

và giáo hoàng Tuy nhiên, vua Pháp không chấp nhận sự lộng quyền này của giáo hoàng và ông đã có hành động phản kháng đó là

“Tháng 2 năm 1302, vua Philip IV đã đốt tờ sắc lệnh nói trên của giáo hoàng trước đám đông, đồng thời triệu tập một cuộc họp đại biểu của thị dân gọi

là “hội nghị ba cấp”, công khai chống đối giáo hoàng La Mã Vua Philip IV còn dời giáo hội La Mã từ Vatican về thành phố Avignon nằm tại biên giới phía na m của nước Pháp” [11; 88] Qua sự kiện trên cho thấy, quyền lực và uy tín của giáo

hoàng và giáo hội đã đi xuống một cách trầm trọng Việc vua Pháp dời giáo hội về Avignon không khác nào giáo hoàng đã trở thành “con tin” của vua Pháp Tình trạng trên kéo dài tới 70 năm, lịch sử gọi đó là “người tù Avignon”

Như vậy, về thực tế vua Pháp đã thao túng quyền lực của giáo hoàng Thời gian này, số người Pháp làm hồng y giáo chủ là 113 người trong tổng số 134 vị hồng y giáo chủ Sau sự việc này, giáo hội La Mã xảy ra nhiều biến cố nội bộ làm giảm uy tín và sức mạnh của giáo hội

Thời kỳ “chia rẽ lớn” hay “Đại ly giáo Tây phương” là những cụm từ nói

về thời kỳ giáo hội La Mã tranh giành quyền lực lẫn nhau và chia cắt trong nội bộ giáo hội diễn ra từ năm 1378 đến năm 1417 Trong thời kỳ này, giáo hội La Mã tồn tại cùng lúc 2 giáo hoàng, một ở La Mã và một ở Avignon

“Ngày 8.4.1378, hội đồng bầu giáo hoàng bầu Prignano, một người Italia lên làm giáo hoàng với tên hiệu là Urbain VI Song vì giáo hoàng mới lăng mạ nhiều giáo chủ, nên có 13 giáo chủ đã rời Roma, tuyên bố cuộc bầu Urbain VI không có giá trị và ngày 20.9.1378 bầu bầu ra tại Geneve với tên hiệu là Clememt VII… Rất nhanh, hai phe đã hình thành” [ 4; 91]

Hai giáo hoàng này quay lưng nói xấu nhau, phá bỏ luật lệ giáo hội làm cho uy tín của giáo hội Thiên Chúa bị giảm sút nghiêm trọng Hai bên còn tranh giành quyền lực, không ai chịu nhường ai khiến giáo hội bị phân tán Vì vậy vào cuối thế kỷ XIV, ở Đông Âu và Tây Âu nổi lên “phong trào hội nghị tôn giáo”

Trang 16

16

nhằm khôi phục sự thống nhất của giáo hội La Mã Đến đầu thế kỷ XV, tuy đã chấm dứt được tình trạng chia rẽ nhưng uy tín và quyền lực của giáo hội ngày càng đi xuống trầm trọng không còn hưng thịnh như thời kỳ trước đó nữa

Thế kỷ XIV-XVI đánh dấu sự đi xuống về quyền lực và sức mạnh của giáo hội Thiên Chúa và giáo hoàng La Mã Chính sự đi xuống này đã làm cho niềm tin của quần chúng nhân dân vào giáo hội bị giảm sút Trong bối cảnh đó nhiều phong trào sẽ diễn ra đòi cải cách lại thứ tôn giáo này

1.3 Văn hóa - xã hội

1.3.1 Văn hóa

Thế kỷ XIV-XVI, văn hóa châu Âu được bao trùm bởi những tư tưởng của trào lưu văn hóa được gọi là “phong trào Văn hóa Phục hưng” Phục hưng có nghĩa là khôi phục những giá trị, những tinh hoa của nền văn hóa Hi Lạp-La Mã

bị lãng quên Đặc biệt, trong thời đại mới thêm những giá trị mới phục vụ cho giai cấp mới Đây là phong trào có phạm vi rộng lớn, xuất hiện ở hầu hết các nước châu Âu và diễn ra trên nhiều mặt với địa vị chi phối thuộc về ý thức hệ tư sản Thời kỳ phát triển cực thịnh của phong trào Văn hóa Phục hưng là vào thế kỷ XVI

Nguyên nhân đưa đến sự ra đời của phong trào Văn hóa Phục hưng đó là: Văn hóa Tây Âu thời sơ kỳ phong kiến (thế kỷ V-XIII) đã bị giáo hội lũng đoạn Thời kỳ này, giáo hội Cơ Đốc có một vai trò quan trọng, nó xâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trên các lĩnh vực chính trị, luật pháp, triết học… đều được phủ tấm màn của tư tưởng duy tâm thần học phản động

Thời trung cổ, khoa học chỉ là “đầy tớ gái ngoan ngoãn của giáo hội” và

“Những giáo lý của giáo hội đồng thời là những định lý chính trị và những đoạn kinh thánh cũng có hiệu lực trước mọi tòa án như là luật pháp Ngay cả khi đã hình thành một đẳng cấp luật gia riêng biệt, khoa luật học trong một thời gian dài vẫn còn được đặt dưới sự giám hộ của thần học Và sự thống trị tối cao của thần học trong tất cả các lĩnh vực hoạt động tinh thần đồng thời cũng là hậu quả tất yếu của cái vị trí mà giáo hội đã chiếm …” [1; 476] Những gì thuộc về chủ nghĩa

duy vật đều là kẻ thù không đội trời chung với giáo hội và bị thẳng tay tiêu diệt

Trang 17

17

Trong khi đó, sự ra đời của thành thị trung đại Tây Âu ở các thế kỷ X, XI như đã trình bày ở phần trên thể hiện sự rạn nứt của chế độ phong kiến trước sự phát triển của sức sản xuất Thị dân đã tiến hành đấu tranh chống lại lãnh chúa phong kiến và giành được quyền tự trị Cùng với sự phát triển về kinh tế, thành thị trung đại Tây Âu đã thoát khỏi nền kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc, nhiều thành phố thương nghiệp tập trung đã xuất hiện Ở Tây Âu có câu ngạn ngữ “Không khí của thành thị làm cho người ta được tự do” và chính tự do là tiền đề của mọi sự sáng tạo

Đồng thời với sự ra đời của thành thị đó là sự xuất hiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự ra đời của giai cấp tư sản đã làm cho quan hệ sản xuất phong kiến trở nên lạc hậu, lỗi thời Lúc này, quan hệ sản xuất phong kiến là chướng ngại cản trở sự phát triển của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Vì vậy, cuộc đấu tranh về tư tưởng tất yếu nổ ra giữa giai cấp giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến

mà trước hết là giáo hội Kitô

Một nguyên nhân nữa đưa đến phong trào Văn hóa Phục hưng đó là ở thời

kỳ này trong xã hội phong kiến Tây Âu có thế lực “mạnh thường quân” Đây là thế lực giàu có trong xã hội và đặc biệt hào phóng, chiêu đãi những người học rộng tài cao Họ đã bảo trợ cho những người có tài năng để họ được phát huy hết khả năng của mình trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật

Như vậy, phong trào Văn hóa Phục hưng với sự chi phối của ý thức hệ tư sản đã diễn ra đầu tiên ở Ý sau đó lan rộng ra nhiều nước châu Âu đánh dấu thời

kỳ phát triển rực rỡ về văn hóa ở châu Âu Lúc này, giai cấp tư sản mới lên để bảo

vệ quyền lợi về kinh tế và chính trị của mình đã tiến hành đấu tranh với giáo hội Các nhà tư tưởng tư sản đã phất cao ngọn cờ “phục hưng” văn hóa cổ điển và nêu lên tư tưởng “nhân văn” tư sản tiến bộ Văn hóa Phục hưng đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ trên nhiều lĩnh vực như văn học, nghệ thuật, khoa học và triết học… với nhiều tên tuổi lừng danh

Trên lĩnh vực văn học, nổi bật nhất là thơ, tiểu thuyết và kịch với nhiều tên tuổi nổi tiếng như Dante, Erasmus, Servantes, Shakespeare…

Trang 18

18

Trên lĩnh vực nghệ thuật bao gồm hội họa, kiến trúc và điêu khắc xuất hiện nhiều tên tuổi lừng danh Điều đáng nói là thời kỳ này hội họa và điêu khắc đã tách ra khỏi sự lệ thuộc vào kiến trúc và đã giảm bớt tính chất tôn giáo thay vào

đó nhiều tính chất thế tục Nhiều họa sĩ để lại những tác phẩm tên tuổi trong đó Leonardo da Vinci với tác phẩm “Mona Lisa”, “Bữa ăn tối cuối cùng”… ; Raphael Saati, Michelang Bonnarati…

Đối với khoa học và triết học thời kỳ Phục hưng cũng đạt được nhiều thành quả có giá trị Copernicus đưa ra thuyết nhật tâm chứng minh rằng quả đất quay quanh trục của mình và chuyển động xung quanh mặt trời Với phát hiện này, Copernicus đã lật đổ những giáo lý của nhà thời Cơ Đốc giáo cho rằng quả đất là trung tâm của vũ trụ Cùng với Copernicus, Bruno đã tiếp thu và phát triển tư tưởng của ông sau đó bị hỏa hình ở La Mã

Trong lĩnh vực thiên văn, nổi tiếng thời kỳ này là Galileo, ông đã nghiên cứu quy luật vận động của vật thể và có nhiều phát hiện về lĩnh vực thiên văn học Người ta thường ví Columbus phát hiện lục địa mới còn Galileo phát hiện được

vũ trụ mới để đánh giá vai trò và công lao to lớn của ông đối với ngành khoa học đương thời

Trên lĩnh vực triết học, chủ nghĩa kinh viện đã bị tan rã nguyên nhân là do

sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tự nhiên và việc tách khoa học ra khỏi triết học Đặc biệt thời kỳ này, chủ nghĩa duy vật phát triển đã phản ánh thế giới quan của giai cấp tư sản mới hình thành cùng với chủ trương giải phóng con người khỏi

sự phụ thuộc vào giáo hội Thời kỳ này xuất hiện nhiều nhà triết học đã lên tiếng phê phán, tấn công chủ nghĩa duy tâm thần học của giáo hội như Bacon, Decartes, Spinoza…

Như vậy, thời kỳ Phục hưng ở châu Âu đã để lại nhiều thành tựu có giá trị với những phát minh và tư tưởng mới mang âm hưởng của giai cấp tư sản mới lên với nội dung cốt lõi chính là chủ nghĩa nhân văn (humanisme) Với hệ tư tưởng này, nó đã cổ xúy, chủ trương cho con người chú trọng đến cuộc sống hiện tại của mình và được hưởng mọi lạc thú ở đời Chính vì vậy mà nó đối lập với quan niệm của giáo hội Thiên Chúa với tư tưởng sống khổ hạnh, sống nhẫn nhục ở hiện tại

Trang 19

Trước hết, phong trào Văn hóa Phục hưng tập trung mũi nhọn đấu tranh vào giáo hội và phong kiến Đây là hai kẻ thù lớn nhất mà giai cấp tư sản phải

đánh đổ trong đó giáo hội Thiên Chúa là kẻ thù bị tấn công đầu tiên “Nhưng

trung tâm quốc tế lớn của chế độ phong kiến là giáo hội Thiên Chúa Rôma Nó đã thống nhất toàn châu Âu phong kiến thành một chỉnh thể chính trị lớn… Trước khi có thể tấn công riêng từng chế độ phong kiến thế tục trong mỗi nước thì tổ chức trung tâm thiêng liêng đó phải bị phá hủy đã” [3; 437] Như thế, giáo hội

Thiên Chúa là pháo đài đầu tiên mà giai cấp tư sản cần phải phá hủy Tính chất chống giáo hội, chống phong kiến được biểu hiện ở sự lên án, đả kích, châm biếm

sự ngu dốt, tàn bạo và giả nhân giả nghĩa của bọn giáo sĩ gồm có giáo hoàng và bọn tu sĩ và của cả giai cấp phong kiến quý tộc Nội dung tư tưởng này được thể hiện trong hầu hết các tác phẩm văn học thời Phục hưng:

“Rabơle thì mượn các loài chim ở đảo Xonnăgtơ để ám chỉ giáo hoàng (chim chúa papơgô), hồng y giáo chủ (chim lông đỏ), giáo sĩ và tu sĩ (chim lông đen tuyền hoặc có khoang trắng) và lên án cả tập đoàn ấy chỉ biết hót và ăn cho béo” [23; 283]

Bên cạnh đó, Văn hóa Phục hưng còn chống lại những quan điểm phản khoa học và chủ nghĩ duy tâm của giáo hội Thiên Chúa Về lĩnh vực này chủ yếu

là công lao của các nhà khoa học và triết học “Những phát hiện của các nhà thiên

văn học như Coperncius, Bruno, Galileo… đã đánh đổ hoàn toàn quan niệm sai lầm của giáo hội về vũ trị đã ngự trị lâu đời ở châu Âu” [23; 286]

Những phát hiện của các nhà khoa học về vũ trụ đã giáng đòn mạnh mẽ và làm lung lay nền tảng tư tưởng dùng để thống trị xã hội của giáo hội Ph.Ăngghen

đã nhận xét “Hành vi cách mạng mà khoa học tự nhiên dùng để tuyên bố sự độc

Trang 20

20

lập của mình… chính là việc xuất bản tác phẩm bất hủ trong đó Copecnich - tuy với một thái độ rụt rè và có thể nói là chỉ trong khi hấp hối - đã thách thức uy quyền của giáo hội trong các vấn đề tự nhiên” [2; 461]

Như vậy, trong cuộc chiến với giáo hội Thiên Chúa trên lĩnh vực tư tưởng, các ngành khoa học đã tham gia không phải với một thái độ rụt rè nữa mà đã phản

công quyết liệt “Giờ đây khoa học đã nổi dậy chống giáo hội, giai cấp trung đẳng

cần đến khoa học và đã tham gia vào cuộc nổi dậy đó” [3; 439]

Cùng sát cánh với các ngành khoa học trong cuộc chiến này là bước phát triển mới của triết học duy vật dựa trên những phát minh của khoa học tự nhiên đã đạp đổ những lý luận, tư tưởng của thần học và triết học kinh viện Những đóng góp của hai lĩnh vực trên đã làm cho quần chúng giảm lòng tin đối với các tín điều của đạo Thiên Chúa Như vậy, nội dung chống giáo hội, chống phong kiến là tính chất quan trọng của phong trào Văn hóa Phục hưng Nó thể hiện sự đối đầu một cách công khai giữa giai cấp tư sản đang lên với giáo hội và giai cấp phong kiến

Tính chất thứ hai của phong trào Văn hóa Phục hưng đó là việc đề cao giá trị của con người và tự do cá nhân Con người thời kỳ này trở thành trung tâm của

vũ trụ, là “mẫu mực và kích thước đo lường vạn vật” Trong khi giáo hội Thiên Chúa và chế độ phong kiến giam hãm con người trong vòng khổ hạnh của những luật lệ, phép tắc thì các nhà nhân văn chủ nghĩa thời kỳ Phục hưng lại kêu gọi mọi người đi vào cuộc sống tự do, hưởng lạc Mặt khác, họ hết sức đề cao con người,

con người là vàng ngọc của vũ trụ Shakespeare đã viết về con người “trong hành

động giống như thiên thần, về trí tuệ ngang tài thượng đế! Thật là vẻ đẹp của thế gian, kiểu mẫu của muôn loài” [23; 284] Chính vì vậy mặc dù bị giáo hội cấm

đoán nhưng nhiều họa sĩ đã thể hiện vẻ đẹp của con người một cách trần tục và chân thực nhất, đặc biệt là vẻ đẹp của người phụ nữ, một sản phẩm do tạo hóa ban tặng

Đi cùng với việc đề cao trí tuệ, tài năng và vẻ đẹp của con người, các nghệ

sĩ thời Phục hưng còn chú trọng đến quyền tự do của con người Vì theo Servantes

đó là “điều quý báu nhất của loài người Những kho tàng trong lòng đất hay dưới

biển khơi cũng không quý bằng” [23; 285]

Trang 21

Mỗi lần có thể đề cao thanh danh cho Tổ quốc, mặc dù có nguy nan cho bản thân, tôi vẫn không ngần ngại và tự nguyện làm Trong đời sống của mỗi người, nghĩa vụ đối với Tổ quốc là vĩ đại nhất Đời sống của mình chính nhờ Tổ quốc mình mới được hưởng [23; 278]

Như vậy, phong trào Văn hóa Phục hưng thực chất là cuộc cách mạng trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng, nó đã chĩa mũi nhọn đấu tranh của mình vào chế độ phong kiến lỗi thời mà thành trì chính là giáo hội Thiên Chúa Vì vậy, phong trào

đã gặp phải sự phản kích quyết liệt của giáo hội, rất nhiều các nhà khoa học, triết học đã bị hãm hại trước sức mạnh của nhà thờ

Chính cuộc cách mạng tư tưởng này là bệ phóng cho giai cấp tư sản tiếp tục trên cuộc chiến lật đổ sự thống trị của giáo hội và giai cấp phong kiến bảo thủ Phong trào Văn hóa Phục hưng đã thực hiện được mục đích của nó đó là bước đầu xác lập hệ tư tưởng của giai cấp tư sản và tuyên truyền nó vào trong tầng lớp nhân dân dựa trên sự tiến bộ về tư tưởng và khoa học Bởi vì trong cuộc chiến này giai cấp tư sản không thể đơn thương độc mã đối chọi với thế lực hùng mạnh của giáo hội và các lãnh chúa phong kiến mà họ phải tìm một liên minh đó chính là quần chúng nhân dân, người có chung kẻ thù với giai cấp tư sản Và trong một chừng mực nào đó thì hai lực lượng này cùng chung một chiến tuyến trong cuộc chiến

Trang 22

22

chống giáo hội và phong kiến Đây là cuộc đấu tranh đầu tiên tấn công trực diện vào chính quyền phong kiến châu Âu Trong khi đó, trong lòng xã hội phong kiến lúc này, các giai cấp tầng lớp đang diễn ra những thay đổi: sự phân hóa các giai cấp tầng lớp cũ và sự xuất hiện các giai cấp tầng lớp mới

1.3.2 Xã hội

Ở vào thời kỳ xã hội phong kiến châu Âu có những dấu hiệu của sự tan rã cũng là lúc quan hệ giữa nhân dân và giai cấp phong kiến thống trị có những mâu thuẫn Hệ quả của nó là nông dân và dân nghèo thành thị đã nổi dậy chống lại nhà vua và quý tộc phong kiến ở nhiều nơi

Ở Pháp, tháng 2.1358 nổ ra cuộc khởi nghĩa của thị dân chống lại quý tộc phong kiến Cùng lúc đó lại nổ ra cuộc khởi nghĩa của nông dân ở phía Bắc nước Pháp do chế độ thuế khóa quá nặng nề

“Thời bấy giờ ở nước Pháp có rất nhiều loại thuế, cộng chung thuế chính

và thuế tạp lên đến 7 ngàn loại Những thứ thuế này đã chiếm từ 40 -50% thu nhập của nông dân Riêng thuế đầu người đã chiếm đến 5%” [11; 91]

Bên cạnh thuế má nặng nề, tình trạng chiến loạn giữa Pháp và Anh làm cho đời sống nhân dân càng thê thảm hơn Sau đó lại nổ ra cuộc khởi nghĩa của thị dân Paris và khởi nghĩa Jacquerie với quy mô lớn nhưng đều bị thất bại Đây là đòn đánh nặng nề vào thế lực phong kiến của nước Pháp lúc bấy giờ

Còn ở Anh, mâu thuẫn giữa nông dân và thị dân với chính quyền phong kiến ngày càng gay gắt, đỉnh điểm là sau khi nhà nước ban bố pháp lệnh về lao động năm 1349 Năm 1348, khắp châu Âu đều chịu sự hoành hành của bệnh dịch hạch làm chết gần nửa số dân nước Anh lúc bấy giờ Tình hình đó làm cho sức lao động bị thiếu hụt nghiêm trọng Vì vậy, những người làm thuê đã yêu cầu được tăng tiền lương nhưng nhà vua và quốc hội đã không chấp nhận mà còn nhiều lần

ban hành sắc lệnh cưỡng bức lao động Theo đó, “tất cả nam nữ từ 12 đến 60 tuổi,

nếu là người không có đất cũng như không có tư liệu nào khác để duy trì cuộc sống đều phải làm thuê theo giá nhân công trước khi xảy ra thảm họa bệnh dị ch hạch.” [11; 107] Nhân dân đã rất phẫn nộ trước thái độ đó của nhà vua và quốc

hội, nó dự báo một cơn bão táp sắp sửa bùng nổ

Trang 23

đi vào giai đoạn tan rã

Trong giai cấp phong kiến đã diễn ra sự phân hóa, có một bộ phận đã chuyển hướng sản xuất kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa và bộ phận này được gọi là quý tộc mới Ở nước Anh, đây là tầng lớp tiến hành các vụ “rào đất cướp ruộng”, đuổi nông dân ra khỏi mảnh đất của họ Thế kỷ XVI, ở nước Anh, ngành công nghiệp len dạ rất phát triển vì vậy nghề chăn nuôi cừu đem lại lợi nhuận rất lớn Những địa chủ phong kiến vốn cho nông dân lĩnh canh ruộng đất để thu địa

tô, giờ họ không thỏa mãn với mức địa tô này mà chuyển sang nghề nuôi cừu sẽ thu được nhiều lãi Do đó, họ tìm cách tước đoạt ruộng đất của nông dân để có bãi

trồng cỏ nuôi cừu Tomas Moro viết “Những con cừu xưa kia ngoan ngoãn hiền

hậu biết bao, bây giờ đều trở thành những con vật hung hãn, tham lam Cừu ăn thịt người, phá hoại ruộng vườn, nhà cửa và thành thị”[25; 11] Hoặc họ đuổi

nông dân ra khỏi ruộng vườn và lấy đất đai đó cho các nhà tư bản thuê kinh doanh theo phương thức sản xuất mới Đây là tầng lớp đặc biệt, quyền lợi của họ gắn liền với giai cấp tư sản và muốn bứt ra khỏi sự ràng buộc, kiểm soát của giai cấp quý tộc phong kiến và giáo hội Về sau, ở Anh hình thành liên minh giữa quý tộc mới và giai cấp tư sản khi cách mạng nổ ra Giai cấp quý tộc cũ vẫn gắn chặt lợi ích với giai cấp phong kiến và là kẻ thù của các cuộc cách mạng tư sản

Giai cấp nông dân có một số ít nông dân giàu có, họ mua đất đai rồi thuê những người nông dân không có tư liệu sản xuất đến làm thuê cho mình Lúc này

họ đã trở thành những chủ nông trường kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa Một

số người có đất đai rộng lớn họ cũng bắt đầu chuyển sang kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa như nông trường, bãi chăn nuôi… hoặc họ cho các chủ nông trường thuê đất để kinh doanh Còn lại đại đa số nông dân bị phá sản trở thành người làm thuê bán sức lao động cho các nông trường, công trường thủ công…

Trang 24

24

Quá trình chuyển hướng sản xuất theo lối tư bản chủ nghĩa đưa đến hệ quả

đó là xã hội xuất hiện hai giai cấp mới đó là người lao động làm thuê và nhà tư bản hay giai cấp vô sản và giai cấp tư sản Giai cấp tư sản được hình thành từ nhiều tầng lớp gồm một bộ phận là chủ các phường hội (sau này thành công trường thủ công), các thương nhân (tầng lớp bao mua) và một bộ phận rất ít nông dân giàu có Trong đó phần đông là các thương nhân và chủ các công trường thủ công

Do sự phát triển trong phân công lao động và mở rộng quá trình sản xuất

đã làm tăng vai trò của người thương gia Họ vốn xuất thân từ những người sản xuất hàng hóa nhỏ đã thoát ly trở thành người thu mua hàng hóa của những người sản xuất nhỏ và đem ra thị trường để tiêu thụ Những người này trở thành chủ bao thầu đứng ra thu mua hàng hóa Một số thợ thủ công thiếu vốn để mua tư liệu sản xuất mới nên đã vay tiền của các thương gia bao thầu này Những người thu mua hàng hóa đã lợi dụng ép người sản xuất nhỏ bán hàng hóa cho họ với giá rẻ Đổi lại các thương nhân này cung cấp cho họ những thứ cần thiết để tiếp tục sản xuất, dần dần họ mất tính độc lập về kinh tế Do đó, những người sản xuất nhỏ đã bị bóc lột theo kiểu tư bản chủ nghĩa và họ trở thành những công nhân làm thuê Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có một số ít những người làm nghề thủ công có năng lực sản xuất và trở nên giàu có, trở thành các ông chủ nhỏ Trong số những ông chủ nhỏ này lại có người tích lũy được khá nhiều tiền vốn, họ mở rộng quy mô sản xuất, thuê thêm nhiều người làm và trở thành chủ của một công trường thủ công

Những người chủ các công trường thủ công, các xí nghiệp tư bản chủ nghĩa đầu tiên là những người đại biểu cho quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa mang tính tiến bộ Lao động trong các cơ sở sản xuất này chủ yếu là những người làm nghề thủ công bị phá sản, nông dân bị tước đoạt tư liệu sản xuất, đây chính là tiền thân của giai cấp vô sản sau này

Cùng với thời gian, giai cấp tư sản ngày càng trưởng thành và lớn mạnh,

có thế lực rất lớn về kinh tế Tuy nhiên, họ lại không có được một địa vị xã hội tương ứng với sự lớn mạnh đó Chính quyền vẫn nằm trong tay giáo hội và giai cấp phong kiến thế tục, lực lượng này ra sức củng cố quyền lực của mình Vì vậy,

Trang 25

25

giai cấp tư sản không được tham gia vào đời sống chính trị của đất nước Nếu xét

ở phương diện này thì thực chất giai cấp tư sản lúc này vẫn là giai cấp bị trị, nằm dưới sự kiểm soát của giai cấp phong kiến và giáo hội về cả kinh tế lẫn chính trị

Khi châu Âu thoát khỏi thời trung cổ thì giai cấp trung đẳng thành thị (về

sau Ăngghen dịch bằng thuật ngữ “giai cấp tư sản”) đang lớn lên là nhân tố cách

mạng của châu Âu Địa vị đã được công nhận mà giai cấp tư sản đó giành được trong chế độ phong kiến thời trung cổ đã trở thành quá chật hẹp đối với sức mở rộng của nó Sự phát triển tự do của giai cấp trung đẳng, giai cấp tư sản, không còn dung hợp được nữa với chế độ phong kiến, chế độ phong kiến phải bị sụp đổ ”

[3; 436-437]

Các tầng lớp, giai cấp trong xã hội đã có sự biến đổi rõ rệt, các giai cấp tầng lớp cũ phân hóa, ra đời các giai tầng mới đã làm cho xã hội châu Âu lúc bấy giờ đứng trước một cơn bão táp có tính chất thay đổi xã hội Mặc dù mới ra đời nhưng giai cấp tư sản đã nhanh chóng vươn lên và có địa vị về kinh tế Tuy nhiên, tồn tại trong xã hội được xây dựng từ nền tảng tinh thần là giáo hội Thiên Chúa cùng sự hậu thuẫn của giai cấp phong kiến thế tục thì địa vị kinh tế của giai cấp tư sản không thể giúp họ giành được địa vị chính trị, thứ mà họ đang cần

Trong hoàn cảnh như vậy, giai cấp tư sản không thể chấp nhận sự trói buộc của giáo hội và thế lực phong kiến thế tục mà sẽ từng bước lật đổ bức tường thành kiên cố này Từ đầu thế kỷ XIV, giai cấp tư sản bắt đầu tấn công vào thế lực phong kiến qua phong trào Văn hóa Phục hưng Với phong trào này, giai cấp tư sản đã truyền bá hệ tư tưởng tư sản tiến bộ của mình đến với quần chúng nhân dân Với bước chuẩn bị này sẽ mở đầu cho cuộc chiến đấu lâu dài của giai cấp tư

sản đánh đổ chế độ phong kiến như Ăngghen nhận xét “đạt tới đỉnh cao nhất của

nó trong ba trận chiến đấu lớn có tính chất quyết định” [3; 438] để đánh đổ hoàn

toàn chế độ quân chủ chuyên chế và xây dựng nhà nước của giai cấp tư sản

Như vậy vào thế kỷ XIV-XVI, xã hội châu Âu đã tạo ra bước chuyển quan trọng về kinh tế, văn hóa – xã hội và chính trị - tư tưởng, những điều kiện này đã làm nền cho cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản trong trận chiến chống phong kiến

Đó là sự xuất hiện của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và nó đã thâm nhập vào

Trang 26

cụ đấu tranh Vì trong hoàn cảnh lúc bấy giờ giáo hội Thiên Chúa là thế lực thống trị xã hội, không có một sức mạnh nào có thể đánh đổ bức tường thành kiên cố ấy bằng chính thứ tôn giáo đối lập với nó như câu ngạn ngữ mà nhân dân thường hay nhắc đến “lấy độc trị độc” Giai cấp tư sản đã nắm lấy thứ vũ khí này và sẵn sàng dùng nó để đạp đổ thế lực thống trị của xã hội châu Âu lúc bấy giờ

Trang 27

27

Chương 2: Việc sử dụng tôn giáo trong cuộc đấu tranh

của giai cấp tư sản phương Tây buổi đầu cận đại

(thế kỷ XVI - XVIII) 2.1 Giai cấp tư sản với phong trào cải cách tôn giáo

2.1.1 Tiền đề

Phong trào Văn hóa Phục hưng diễn ra đã bước đầu xác lập ý thức hệ của giai cấp tư sản trong quần chúng nhân dân, đã dọn đường cho những cuộc đấu tranh tiếp theo lật đổ chế độ phong kiến của giai cấp tư sản Đến đầu thế kỷ XVI, cuộc đấu tranh chống phong kiến của giai cấp tư sản đã thổi bùng lên ngọn lửa của phong trào cải cách tôn giáo rộng khắp châu Âu

Trước hết, như đã trình bày ở phần trên, giáo hội Thiên Chúa thời kỳ này là một thế lực có sức mạnh to lớn, đã lũng đoạn về tư tưởng, cản trở sự phát triển về kinh tế, văn hóa cũng như khoa học kỹ thuật

Bên cạnh đó, bước sang thế kỷ XVI, những mầm mống của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã hình thành và phát triển, nó tấn công vào nền tảng của chế độ phong kiến Mặt khác, giai cấp tư sản đang lên muốn phá bỏ những rào cản trên con đường phát triển của mình và giáo hội Thiên Chúa là rào cản cần phải đánh

đổ đầu tiên Họ muốn cải cách lại thứ tôn giáo đã thống trị xã hội trong một thời gian dài thành tôn giáo của mình

Với những tiền đề đó, phong trào cải cách tôn giáo đã bùng nổ đầu tiên ở Đức do Mactin Luther khởi xướng sau đó lan rộng ra các nước khác như Thụy Sĩ, Anh, Pháp, Bỉ, Hà Lan Trong đó, có quy mô lớn và nổi tiếng là tư tưởng cải cách của Luther ở Đức và Calvin ở Thụy Sĩ Qua phong trào này, giai cấp tư sản muốn tiếp tục truyền bá hệ tư tưởng của giai cấp mình đến với các tầng lớp nhân dân, mục đích này đã được thực hiện bước đầu qua phong trào Văn hóa Phục hưng Họ muốn xác lập tư tưởng dân chủ tư sản trong xã hội và muốn lấy đó làm nền tảng

tư tưởng của xã hội lúc bấy giờ

Đặc biệt, giai cấp tư sản muốn xây dựng một tôn giáo mới phù hợp với cuộc sống kinh doanh, buôn bán của mình thể hiện qua tư tưởng của Calvin

Ăngghen đã nhận xét “Học thuyết về định mệnh của ông là biểu hiện tôn giáo của

Trang 28

28

một sự thật là trong thế giới buôn bán và cạnh tranh thì quyết định sự thành công hay sự phá sản không phải là hoạt động hay sự khéo léo của những cá nhân riêng biệt mà là những hoàn cảnh không phụ thuộc vào họ Quyết định không phải là ý chí hay hành động của một người nào đó mà là lòng nhân từ của những lực lượng kinh tế hùng mạnh nhưng không quen biết” [3; 439] Đó là tôn giáo của giai cấp

tư sản với tư tưởng chủ trương buôn bán, làm giàu và tiết kiệm thời gian, tiền bạc

Tư tưởng cải cách của Calvin tỏ ra phù hợp với mục đích này của giai cấp tư sản

vì vậy nó được tiếp nhận ở nhiều nước tư bản

Như vậy, phong trào cải cách tôn giáo do giai cấp tư sản lãnh đạo đã nổ ra trước hết là ở Đức và Thụy Sỹ sau đó lan rộng ra toàn châu Âu Phong trào đã thực hiện được ý đồ của giai cấp tư sản đó là tấn công trực diện vào giáo hội và cơ

sở cấu thành nền tảng của xã hội phong kiến lúc bấy giờ Đồng thời qua phong trào, hệ tư tưởng dân chủ tư sản được truyền bá một cách sâu rộng trong nhân dân

2.1.2 Tính chất tư sản trong các học thuyết cải cách tôn giáo

Phong trào cải cách tôn giáo diễn ra ở nhiều nước châu Âu với nhiều quan điểm như Martin Luther, Thomas Munzer, Zwingli, Jian Calvin… nhưng trong đó quan điểm có ảnh hưởng lớn đến các nước là quan điểm của Luther và Calvin Hai quan điểm này đều được bao trùm bởi tính chất tư sản

Luther (1483-1546), là người khởi xướng phong trào cải cách tôn giáo và đóng vai trò lãnh đạo phong trào cải cách tôn giáo ở Đức Ông sinh ra trong một gia đình nghiệp chủ bậc trung, bố ông làm thợ mỏ Sau khi tốt nghiệp đại học Erfurt, ông vào tu viện Augustin Năm 1512, Luther nhận bằng tiến sĩ thần học và làm giáo sư giảng dạy tại đại học Wittenberg Ba năm sau, ông là giám đốc một tu viện tại khu Thringer Từ đây, Luther chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tư tưởng nhân văn và phê phán nhà thờ Thiên Chúa giáo Những tư tưởng cải cách của Luther bắt đầu hình thành và ông trở thành người đề xướng phong trào cải cách tôn giáo

ở châu Âu Tính chất tư sản trong học thuyết của Luther thể hiện ở hai khía cạnh sau:

Trước hết, Luther đả kích những cơ sở triết lý của nhà thờ cấu thành nền

tảng của chế độ phong kiến, phê phán hệ thống các chức sắc và tăng lữ “Thần

Ngày đăng: 08/05/2021, 21:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ph.Ăngghen (1993), Chiến tranh nông dân ở Đức, C.Mac và Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh nông dân ở Đức
Tác giả: Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
2. Ph.Ăngghen (1994), Biện chứng của tự nhiên, C.Mac và Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện chứng của tự nhiên
Tác giả: Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
3. Ph.Ăngghen (1995), Lời tựa tác phẩm “Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đến khoa học”, C.Mac và Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời tựa tác phẩm “Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đến khoa học”
Tác giả: Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
4. Jean-Baptiste Duroselle và Jean-Mayeur (2004), Lịch sử đạo Thiên Chúa , Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử đạo Thiên Chúa
Tác giả: Jean-Baptiste Duroselle và Jean-Mayeur
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004
5. Đỗ Thanh Bình (1996), Một số vấn đề lịch sử thế giới, Nxb Sử học, Viện sử học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lịch sử thế giới
Tác giả: Đỗ Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Sử học
Năm: 1996
6. John Bowker (chủ biên) (2003), Các tôn giáo trên thế giới, Nxb Văn hóa thông tin, Người dịch Nguyễn Đức Tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tôn giáo trên thế giới
Tác giả: John Bowker (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2003
7. Crane Brinton - Robert Lee Wolff - John.B.Christopher (2004), Lịch sử phát triển văn hóa văn minh nhân loại - Văn minh phương Tây, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử phát triển văn hóa văn minh nhân loại - Văn minh phương Tây
Tác giả: Crane Brinton - Robert Lee Wolff - John.B.Christopher
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2004
8. Lê Cung (2010), Bàn về đỉnh cao của cách mạng tư sản Pháp trong dạy - học ở bậc Đại học và Cao đẳng, Tạp chí nghiên cứu châu Âu số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về đỉnh cao của cách mạng tư sản Pháp trong dạy - học ở bậc Đại học và Cao đẳng
Tác giả: Lê Cung
Năm: 2010
9. Lê Cung (2003), Lịch sử thế giới cận đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới cận đại
Tác giả: Lê Cung
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
10. Nguyễn Đức, Lê Yên, Thế Trường, Tôn giáo và lịch sử văn minh nhân loại, Nxb Văn hóa tư tưởng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo và lịch sử văn minh nhân loại
Nhà XB: Nxb Văn hóa tư tưởng
11. Lưu Minh Hàn ( chủ biên) (2002), Lịch sử thế giới tập 2 - Thời trung cổ, Nxb TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới tập 2 - Thời trung cổ
Tác giả: Lưu Minh Hàn ( chủ biên)
Nhà XB: Nxb TP HCM
Năm: 2002
12. Norman Hampson (2004), Đại cách mạng Pháp, Nxb Văn hóa thông tin 13. Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2008), Công giáo và tiếp xúc văn hóa Đông - Tây thếkỷ XVI-XVIII, Tạp chí nghiên cứu châu Âu số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cách mạng Pháp, "Nxb Văn hóa thông tin 13. Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2008), "Công giáo và tiếp xúc văn hóa Đông - Tây thế "kỷ XVI-XVIII
Tác giả: Norman Hampson (2004), Đại cách mạng Pháp, Nxb Văn hóa thông tin 13. Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin 13. Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2008)
Năm: 2008
14. V.I.Lênin (1997), Diễn văn tại đại hội I toàn Nga các nữ công nhân, V.I.Lênin toàn tập, tiếng Việt, Nxb Tiến bộ, Matxcova, tập 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn văn tại đại hội I toàn Nga các nữ công nhân
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1997
15. V.I.Lênin (1979), Chủ nghĩa xã hội và tôn giáo, V.I.Lênin toàn tập, tiếng Việt, Nxb Tiến bộ, Matxcova, tập 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa xã hội và tôn giáo
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1979
16. V.I.Lênin (2005), Gửi nông dân nghèo, V.I.Lênin toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, tập 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gửi nông dân nghèo
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
17. V.I.Lênin (2005), Thái độ của các giai cấp và đảng phái đối với tôn giáo, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, tập 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thái độ của các giai cấp và đảng phái đối với tôn giáo
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
18. V.I.Lênin (2005), Về thái độ của đảng công nhân đối với tôn giáo, V.I.Lênin toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, tập 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về thái độ của đảng công nhân đối với tôn giáo
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
19. V.I.Lênin (2006), Sự phá sản của quốc tế II, V.I.Lênin toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, tập 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phá sản của quốc tế II
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
20. Cao Văn Liên (2007), Lịch sử cổ trung đại châu Âu những nét đặc thù, Tạp chí nghiên cứu châu Âu số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử cổ trung đại châu Âu những nét đặc thù
Tác giả: Cao Văn Liên
Năm: 2007
21. Mác, Ăngghen, Lênin (2001), Bàn về tôn giáo và chủ nghĩa vô thần, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tôn giáo và chủ nghĩa vô thần
Tác giả: Mác, Ăngghen, Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w