Sự phát triển của loại hình này ở Đà Nẵng cũng sẽ đồng thời tác động trở lại đối với việc phát triển cơ sở hạ tầng du lịch cho thành phố, quảng bá thương hiệu thành phố và hằng năm cũng
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Du lịch hiện nay đang phát triển rất mạnh mẽ, góp phần nâng cao đời sống của con người và từng bước phát triển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của cả nước Trong sự phát triển đó, trước nhu cầu ngày càng cao của con người du lịch hiện nay không chỉ dừng lại ở việc tham quan, vui chơi giải trí mà nó còn cần cả
một không gian riêng tư như căn nhà thứ hai để những vị “chủ nhân” có thể đến
thư giãn và được phục vụ một cách tốt nhất vào bất kì lúc nào theo sắp xếp của họ
Đó là nguyên nhân dẫn đến loại hình “sở hữu kì nghỉ” ra đời
“Sở hữu kì nghỉ” là sở hữu một bất động sản du lịch với thời gian một tuần,
vài tuần hay vài tháng cố định trong năm và thời gian sở hữu này có thể kéo dài từ
10 đến 30 năm, tuỳ theo nhu cầu của khách hàng Trên thế giới, hình thức “sở hữu
kỳ nghỉ” đã xuất hiện từ những năm 1960 Ý tưởng về mô hình này được khởi
nguồn ở Pháp và nhanh chóng được áp dụng tại Bắc Mỹ Sau đó, nó lan rộng trên toàn thế giới chỉ trong một thời gian ngắn Với tấm thẻ hội viên trong tay nghĩa là
du khách đang sở hữu quyền lưu trú tại các khu nghỉ như kiểu sở hữu một ngôi nhà thứ hai cho chính họ và gia đình
Nếu như loại hình lưu trú này khá phổ biến trên thế giới thì ở Việt Nam nó
lại hoàn toàn mới lạ và được xem như là một loại hình cao cấp “hái ra tiền” Trong những năm gần đây, loại hình “sở hữu kì nghỉ” này bắt đầu được các doanh nghiệp
du lịch và một số địa phương chú ý đầu tư như: NinhVan holiday club, khu du lịch
Hòn Tằm - Nha Trang, SeaLinks Vacation Ownership Mui Ne - Phan Thiet Tuy nhiên, mô hình này vẫn chưa được phổ biến rộng rãi ở nước ta
Nền kinh tế nước ta đang phát triển kéo theo sự phát triển về kinh tế của một
bộ phận người trong xã hội, những người giàu trong xã hội ngày càng nhiều và họ đòi hỏi cao hơn về chất lượng cuộc sống do vậy nhu cầu có một căn biệt thự du lịch hay một căn hộ tại một khu resort nào đó là điều mà hầu như ai cũng mong muốn,
Trang 3nhưng không phải ai trong số họ cũng đủ khả năng để mua một “bất động sản du
lịch” như vậy Cho nên mô hình “sở hữu kì nghỉ” là mô hình phù hợp nhất có thể
đáp ứng được nhu cầu đó của một bộ phận có khả năng thanh toán cao trong xã hội
Đà Nẵng là một thành phố biển xinh đẹp với cảnh quan thiên nhiên thơ mộng, đặc biệt có bờ biển dài được bình chọn là một trong sáu bãi biển đẹp nhất hành tinh Nằm trên con đường di sản miền Trung, lại là trung tâm của hai đầu đất nước, thành phố Đà Nẵng được xem là cửa ngõ của miền Trung và các nước nằm trên tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây với sân bay và cảng quốc tế Đà Nẵng hiện nay được đánh giá là thành phố phát triển sôi động nhất miền Trung Cơ sở hạ tầng
du lịch phát triển mạnh với hệ thống resort và biệt thự du lịch khá độc đáo và ngày
càng nhiều hơn do vậy du lịch Đà Nẵng đủ điều kiện để phát triển loại hình mới “sở
hữu kì nghỉ” Sự phát triển của loại hình này ở Đà Nẵng cũng sẽ đồng thời tác động
trở lại đối với việc phát triển cơ sở hạ tầng du lịch cho thành phố, quảng bá thương hiệu thành phố và hằng năm cũng sẽ đem về cho ngành du lịch thành phố một khoản doanh thu lớn
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Tiềm năng và giải pháp phát
triển loại hình lưu trú “sở hữu kì nghỉ” tại Đà Nẵng” làm khóa luận tốt nghiệp
chuyên nghành Văn hóa - Du lịch của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong thời gian qua, việc nghiên cứu về lĩnh vực du lịch được khá nhiều người quan tâm và có nhiều công trình được in thành sách làm giáo trình hoặc tài
liệu tham khảo Một trong những công trình tiêu biểu về du lịch đó là “Tổng quan
du lịch” của tiến sĩ Trần Văn Thông (2003) Còn trong lĩnh vực lưu trú mới xuất
hiện một số ít công trình như: “Quản trị kinh doanh khách sạn” của tiến sĩ Nguyễn Văn Mạnh và thạc sĩ Hoàng Thị Lan Hương (2008); “Giáo trình tổng quan nghành
lưu trú” của Nguyễn Thị Hải Đường (2010), Đại học Sư Phạm - Đại học Đà
Nẵng…
Trang 4Tuy nhiên, do “sở hữu kì nghỉ” là một mô hình du lịch mới ở Việt Nam nên
các công trình nghiên cứu về vấn đề này là rất ít, chủ yếu là các bài viết do các công ty kinh doanh về mô hình này đăng trên các website hay các tạp chí về du lịch
Các bài viết giới thiệu về mô hình lưu trú du lịch này như “Mô hình sở hữu
kì nghỉ”(2009) trên trang web www.ninhvanbay.vn, “Tìm hiểu sở hữu kỳ nghỉ”(2010) trên trang web www.ninhvanbayholidayclub.com, “Sở hữu kỳ nghỉ (Vacation Ownership)”(2010) trên trang web www.tailieudulich.wordpress.com,
… Các bài viết chủ yếu đi vào khái niệm về mô hình “sở hữu kì nghỉ”, lịch sử hình thành và các quyền lợi khi tham gia “sở hữu kì nghỉ”; tiếp cận mô hình “sở hữu kì
nghỉ” ở mức độ căn bản, giúp người đọc có thể hiểu rõ về mô hình này
Về “sở hữu kì nghỉ” ở Việt Nam có các bài viết như: “Timeshare - Sở hữu kỳ
nghỉ trong tầm tay”(2010) ở website www.batdongsan.com.vn, “Khám phá phong cách nghỉ dưỡng đẳng cấp mới!” (2010) trên trang web www.thietkewebsitevip.com, “Sở hữu kỳ nghỉ Sea Links - Giải pháp thông minh cho kỳ nghỉ gia đình”(2009), trên
trang web www.baomoi.com, “Sở hữu kỳ nghỉ… vô hạn tại Nha Trang Center”
(2009) trên trang web www.nhatrangcenter.com
Nội dung các bài viết này cũng đi vào giới thiệu về mô hình “sở hữu kì nghỉ”
và xem nó như là một loại hình lưu trú du lịch mới, cách để khách hàng có được
“sở hữu kì nghỉ” ở Việt Nam
Ngoài ra còn một số bài viết đề cập “sở hữu kì nghỉ” ở các khu du lịch cụ thể tại Việt Nam như“Sở hữu kì nghỉ” (2009) của Ninhvan holiday club đăng trên tạp chí Hàng không giới thiệu về “sở hữu kì nghỉ” và thực trạng của mô hình này ở NinhVan holiday club hay “Sở hữu những kỳ nghỉ tại Hòn Tằm rẻ hơn với thẻ Hội
viên (2011)” trên website www.oratrip.com giới thiệu về các loại thẻ hội viên của
“sở hữu kì nghỉ” và quyền lợi của từng loại thẻ tại Hòn Tằm, Nha Trang
Trang 5Nhìn chung, các bài viết chỉ đề cập đến mô hình “sở hữu kì nghỉ” trên thế giới và ở Việt Nam nói chung Do đó, nghiên cứu phát triển mô hình “sở hữu kì
nghỉ” ở Đà Nẵng có thể nói là một đề tài mới, tài liệu về nó cũng rất ít khiến cho
trong quá trình làm đề tài sẽ gặp những khó khăn nhất định, chủ yếu dựa vào tài liệu thực địa Vì vậy, thông qua đề tài của mình, tôi hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ vào nguồn tại liệu của mô hình lưu trú mới này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Giúp người đọc có cái nhìn khái quát về loại hình “sở hữu kì nghỉ”, tiềm
năng và thực trạng của loại hình này trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Đồng thời cũng đề xuất một số định hướng, giải pháp để đưa loại hình này vào thực tiễn du lịch của thành phố Đà Nẵng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này, tôi cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Trình bày cơ sở lý luận về du lịch, lưu trú và “sở hữu kì nghỉ” để làm nền tảng cho việc đánh giá và khẳng định vai trò của loại hình “sở hữu kì nghỉ” đối với
du lịch cũng như nghành lưu trú của thành phố Đà Nẵng
- Tìm hiểu về tiềm năng tự nhiên, cơ sở vật chất kĩ thuật cũng như nguồn
khách để phát triển loại hình “sở hữu kì nghỉ” ở Đà Nẵng
- Thông qua việc tiềm hiểu đó đề xuất các định hướng, giải pháp, góp phần
đưa mô hình “sở hữu kì nghỉ” vào thực tiễn của du lịch thành phố
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những tiềm năng để phát triển loại hình
“sở hữu kì nghỉ” trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Cụ thể là những tiềm năng về
điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất kĩ thuật và thị trường khách cho loại hình lưu trú mới này
Trang 6- Về mặt không gian: Đề tài sẽ chỉ khảo sát các tiềm năng phát triển loại hình
“sở hữu kì nghỉ” trên địa bàn của thành phố Đà nẵng
- Về mặt thời gian: Xác định những điều kiện tốt cho mô hình “sở hữu kì
nghỉ” có thể hình thành trong thời gian những năm gần đây và đưa ra các hướng
giải pháp phát triển mô hình này trong gian sắp đến từ năm 2013 - 2020
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Có thể nói đây là đề tài đầu tiên của ngành Văn hoá - Du lịch khoa Lịch sử, trường Đại học sư phạm, Đại học Đà Nẵng nghiên cứu ở lĩnh vực này, vì vậy tài liệu thành văn cũng rất ít, chủ yếu thu thập thông qua quá trình điều tra thực tế Cụ thể:
- Tư liệu thành văn:
+ Sách chuyên nghành du lịch
+ Nghiên cứu khoa học của các đề tài liên quan đến ngành lưu trú ở bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
+ Các bài viết trong tạp chí Du lịch, tạp chí Hàng không
+ Các bài viết trên các website
- Tư liệu thực địa: Đây là nguồn tài liệu đặc biệt quan trọng góp phần không nhỏ vào sự thành công của đề tài Thông qua quá trình tiếp xúc với thực tế sẽ giúp
Trang 7tôi có cái nhìn chính xác, sâu sắc hơn về những vấn đề có liên quan đến đề tài và khai thác thêm được nguồn tài liệu thực tế phong phú, đa dạng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Thu thập, điều tra và xử lý số liệu
Để có một hướng đi đúng trong việc xây dựng một mô hình mới trong nghành du lịch của thành phố Đà Nẵng thì phải chú trọng phương pháp thu thập, điều tra và xử lý số liệu Đây là một công việc hết sức quan trọng ảnh hưởng không nhỏ đến sự thành công của đề tài
Nguồn tư liệu được thu thập từ các cơ quan ban ngành sau đó được xử lý, phân tích để thấy rõ được khả năng thành công cũng như hạn chế của mô hình mới này từ đó đề ra các định hướng và giải pháp đúng đắn Các số liệu, tư liệu được sưu tầm ở nhiều nguồn khác nhau và thời gian dài ngắn cũng không giống nhau vì thế các tài liệu đó cần được thống kê lại và xử lý có hệ thống, phục vụ cho quá trình nghiên cứu đạt kết quả cao
5.2.2 Phương pháp thực địa
Thông qua phương pháp này, các số liệu, thông tin thu thập được có phần chính xác cao hơn, thuyết phục được kết quả nghiên cứu Đồng thời kiểm tra lại sự chính xác của các tư liệu đã nghiên cứu
5.2.3 Phương pháp chuyên gia
Việc tranh thủ ý kiến của lãnh đạo, chính quyền, cán bộ chuyên nghành du lịch, cán bộ nghiên cứu trong lĩnh vực du lịch là những kinh nghiệm quý báu để vận dụng vào nghiên cứu Công việc này rút ngắn quá trình điều tra phức tạp
6 Đóng góp của đề tài
6.1 Về mặt khoa học
Đề tài góp phần vào việc nghiên cứu, đánh giá, xây dựng một mô hình lưu trú du lịch mới mẻ ở Đà Nẵng cũng như đối với Việt Nam Giúp người đọc có cái nhìn sâu hơn về mô hình du lịch này và các điều kiện để hình thành được nó tại Đà
Trang 8Nẵng Bên cạnh đó cũng đưa ra những định hướng, giải pháp để Đà Nẵng cũng như các địa phương khác có đầy đủ những điều kiện tương tự như Đà Nẵng có thể phát triển được loại mô hình du lịch mới này
7 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung
Chương 2: Tiềm năng phát triển của loại hình “sở hữu kì nghỉ” ở thành phố
Đà Nẵng
Chương 3: Một số giải pháp phát triển mô hình “sở hữu kì nghỉ” ỏ thành phố Đà Nẵng
Trang 9NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 1.1 Du lịch
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Du lịch
Hoạt động du lịch xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, lúc đầu người ta chỉ tình cờ đi du ngoạn, tham quan, ngắm cảnh Nhưng đến sau này khi nó phát triển thành một hoạt động xã hội thì khái niệm về du lịch mới
ra đời Thuật ngữ du lịch (tourism) tìm thấy lần đầu tiên trong cuốn từ điển du lịch Oxford xuất bản vào năm 1811 ở nước Anh mang nghĩa là đi xa Đối với các ngôn ngữ khác nhau sẽ có cách viết và cách phát âm khác nhau nhưng đều có âm tương
tự, trong tiếng Việt “ du lịch” được phiên âm từ tiếng Hán, dịch ra là: Du – đi chơi, lịch – từng trải, từng biết
Theo tiến trình lịch sử, quan niệm về du lịch cũng rất khác nhau trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của loài người… trước thế kỉ XIX , du lịch chỉ
là một hiện tượng lẻ tẻ của một số ít người thuộc tầng lớp trên và người ta coi đó như là một hiện tượng nhân văn nhằm làm phong phú thêm nhận thức của con
người, vì vậy khái niệm du lịch lúc đó được đưa ra là: “Du lịch là một hiện tượng
những người đi đến một nơi khác ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình theo nhiều nguyên nhân khác nhau ngoại trừ mục đích kiếm tiền và ở đó họ phải tiêu tiền mà họ đã kiếm được ở nơi khác” [2;tr.12]
Đến sau chiến tranh thế giới lần thứ II, khi du lịch ngày càng phát triển, dòng khách du lịch ngày càng đông, việc giải quyết các nhu cầu về ăn, ở, giải trí… đã làm cho du lịch không chỉ là một hiện tượng nhân văn mà nó còn là một hoạt động
kinh tế: “Du lịch là một ngành công nghiệp, là toàn bộ hoạt động có mục tiêu là
chuyển các nguồn nhân lực, vốn và nguyên vật liệu thành những dịch vụ, sản phẩm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch” [2;tr.13]
Trang 10Năm 1963, Hội nghị liên hợp quốc về du lịch tổ chức tại Roma (Italia) đã đưa ra khái niệm: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ
Tuy nhiên, các khái niệm về du lịch đến nay vẫn chưa có được sự thống nhất
Ở Việt Nam, cùng với tiến trình phát triển của loại hình kinh tế đặc biệt này,
nhà nước cũng đã đưa ra định nghĩa về du lịch trong “Pháp lệnh về du lịch” ra đời năm 1999 như sau: “Du lịch là một ngành kinh tế quan trọng, mang nội dung văn
hóa sâu sắc, có tính liên nghành, liên vùng và xã hội cao, nhằm đáp ứng các nhu cầu giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế xã hội ở trong nước” [4;tr.16]
Ngày nay, du lịch được hiểu như là một khái niệm mang nội dung kép, một mặt là sự đi lại thông thường của cá nhân hoặc tập thể với giá trị đi lại, nghiên cứu, nghỉ ngơi; mặt khác nó được xem là ngành công nghiệp then chốt, đóng vai trò quan trọng trong ngành kinh tế nhằm gia tăng hiệu suất kinh tế của quốc gia
Như vậy, qua các định nghĩa về du lịch chúng ta thấy đây là một hoạt động
có liên quan đến nhiều mặt cả về tự nhiên lẫn kinh tế - xã hội, chúng lồng ghép vào nhau tạo thành một hệ thống liên kết chặc chẽ với nhau từ di chuyển đến lưu trú và các nhu cầu khác của những người tham gia du lịch Nó không chỉ là một hiện tượng nhân văn giúp con người nâng cao dân trí, phục hồi sức khỏe, giáo dục lòng yêu nước, tăng cường tình đoàn kết… mà nó còn là một hoạt động kinh tế mang lại hiệu quả cao
1.1.1.2 Khách du lịch
Cũng như du lịch, khái niệm khách du lịch cũng là một vấn đề hết sức phức tạp vì mỗi quốc gia có một khái niệm khách du lịch riêng, theo những chuẩn mực
Trang 11khác nhau Để phân biệt đâu là khách du lịch đâu không phải là khách du lịch người ta căn cứ vào ba tiêu thức cơ bản:
- Mục đích chuyến đi: Bao gồm nhiều mục đích khác nhau như tham quan, nghỉ ngơi, hội họp… ngoại trừ mục đích kiếm tiền ở nơi đến
- Thời gian chuyến đi: Thời gian chuyến đi có thể dài hoặc ngắn nhưng không phải là thường trú dài hạn hoặc vĩnh viễn ở nơi đến
- Không gian chuyến đi: Ngoài phạm vi cư trú thường xuyên của khách (chỉ mang tính tương đối)
Theo đó, một khái niệm chung về khách du lịch được đưa ra trong “pháp lệnh
du lịch Việt Nam”: “Khách du lịch là những người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến ”
du lịch trong thời kì phong kiến và các giai đoạn sau của nó càng làm cho hoạt động lưu trú thêm phong phú và đa dạng Các khái niệm về lưu trú cũng lần lược ra đời ở nhiều nước
Ở Việt Nam, khái niệm về cơ sở lưu trú du lịch và hệ thống cơ sở lưu trú du lịch được hiểu như sau:
Trang 12Cơ sở lưu trú du lịch là cơ sở cho thuê buồng, giường và cung cấp các dịch
vụ khác phục vụ khách lưu trú, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu
Hệ thống cơ sở lưu trú du lịch bao gồm toàn bộ các cơ sở lưu trú du lịch trong phạm vi lãnh thổ nhằm đáp ứng nhu cầu lưu trú của khách du lịch
1.2.1.2 Sản phẩm lưu trú
Về sản phẩm lưu trú du lịch thì cũng có nhiều định nghĩa khác nhau:
Theo Marketing hiện đại thì “Sản phẩm lưu trú là tất cả các hàng hóa và
dịch vụ có thể đem chào bán, có khả năng thỏa mãn một nhu cầu hay mong muốn của con người, gây sự chú ý, kích thích sự mua sắm và tiêu dùng của họ”[3;tr.25]
Một khái niệm khác đưa ra: Sản phẩm lưu trú du lịch là tổng thể các yếu tố cấu thành như xây dựng trang thiết bị và các dịch vụ cung cấp cho khách du lịch từ khi nghe lời yêu cầu đến khi thanh toán và ra đi
Mặc dù có những định nghĩa khác nhau nhưng nhìn chung các khái niệm về sản phẩm lưu trú là thống nhất: Sản phẩm lưu trú là tất cả hàng hoá và dịch vụ cung cấp cho khách du lịch từ khi nghe lời yêu cầu của họ đến khi thanh toán và ra đi
1.2.2 Các loại hình lưu trú du lịch
1.2.2.1 Làng du lịch
Làng du lịch là loại hình cơ sở lưu trú du lịch tổng hợp thường được xây dựng theo quần thể trên một diện tích rộng được quy hoạch gần các tài nguyên du lịch Loại hình cơ sở lưu trú này có kết cấu hạ tầng mang tính chất quần thể với những ngôi nhà riêng biệt cho khách lưu trú cùng nhiều loại hình dịch vụ khác đáp ứng nhu cầu của khách
Làng du lịch là một trung tâm du lịch riêng biệt, gồm nhiều lán, nhà dành cho cá nhân hoặc gia đình lưu trú Tập hợp xung quanh các cơ sở sinh hoạt công cộng phục vụ trong giá trọn gói bao gồm ăn, uống, vui chơi giải trí
Trang 131.2.2.2 Resort
Resort là một loại hình cơ sở lưu trú du lịch, đó là những khu nghỉ dưỡng tổng hợp thường được xây dựng trên diện tích tương đối rộng gắn liền với tài nguyên du lịch tự nhiên, bao gồm một quần thể các khu riêng biệt: khu lễ tân, khu vực lưu trú của khách, nhà hàng ăn uống, khu thể thao, vui chơi giải trí, khu thương mại, hội thảo, hội nghị, bãi đậu xe đảm bảo cung cấp một cách đồng bộ dịch vụ trọn gói hoặc các dịch vụ đơn lẻ cho khách du lịch
1.2.2.3 Biệt thự du lịch
Biệt thự du lịch là cơ sở lưu trú được xây dựng trong các khu du lịch nghỉ biển, núi, khu điều dưỡng, làng du lịch hay bãi cắm trại; được thiết kế và xây dụng phù hợp với cảnh quan môi trường
Biệt thự du lịch là nhà được xây dựng kiên cố, có buồng ngủ, phòng khách, bếp, gara ôtô, sân vườn phục vụ khách du lịch
1.2.2.4 Khách sạn
Theo Tổng cục du lịch Việt Nam: Khách sạn là công trình kiến trúc độc lập,
có quy mô từ 10 buồng ngủ trở lên, đảm bảo chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dịch vụ cần thiết để phục vụ khách du lịch
Nói cách khác, khách sạn là cơ sở cung ứng cho khách các dịch vụ về ăn, ngủ và một số dịch vụ bổ sung khác nhằm thu về lợi nhuận
Khách sạn là các toà nhà cao tầng, cung cấp dịch vụ ăn, ngủ, vui chơi giải trí cho khách du lịch nhằm mục đích thu lợi nhuận
1.2.3 Ý nghĩa của ngành lưu trú trong sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương
1.2.3.1 Đối với sự phát triển của kinh doanh du lịch
Lưu trú có một vị trí quan trọng trong ngành du lịch, là một khâu mắt xích quan trọng không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh du lịch Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lưu trú đóng vai trò như những nhà sản xuất, cung cấp sản
Trang 14phẩm trực tiếp cho khách du lịch và là một trong những thành phần chính và quan trọng bậc nhất của cung du lịch Có thể nói ở bất kì nơi đâu trên thế giới, muốn phát triển du lịch nhất thiết phải phát triển hệ thống các cơ sở lưu trú nhằm cung cấp các dịch vụ để thoả mãn các nhu cầu ăn, ngủ - những nhu cầu thiết yếu không thể thiếu trong thời gian đi du lịch của con người Giữa lưu trú du lịch, tài nguyên
du lịch và khách du lịch có sự tác động qua lại với nhau, quyết định đến hoạt động kinh doanh du lịch của một quốc gia hay một địa phương
Sơ đồ 1.2.3.1: Mối quan hệ giữa lưu trú du lịch, tài nguyên du lịch và khách du lịch
Hoạt động kinh doanh du lịch là sự kết hợp của nhiều mắt xích khác nhau chứ không phải chỉ là ba mắt xích: lưu trú du lịch, tài nguyên du lịch và khách du lịch Tuy nhiên, có thể xem đây là ba mắt xích quan trọng nhất mà lưu trú du lịch đóng một vai trò then chốt để phát triển hoạt động kinh doanh du lịch, đó là:
- Lưu trú du lịch sẽ góp phần đưa tài nguyên du lịch vào khai thác một cách hiệu quả hơn
- Ngành lưu trú cũng đóng một vai trò quan trọng trong khả năng lưu giữ và thu hút khách đến với địa phương cũng như với tài nguyên du lịch
- Cơ sở vật chất kĩ thuật của ngành quyết định trình độ phát triển cơ sở vật chất kĩ thuật của các ngành kinh doanh du lịch khác
- Lao động và doanh thu trong nghành lưu trú chiếm tỷ trọng cao trong tổng doanh thu của nghành du lịch
LƯU TRÚ DU LỊCH
TÀI NGUYÊN DU LỊCH
KHÁCH DU LỊCH
Trang 151.2.3.2 Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Không chỉ có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh du lịch mà ngành lưu trú du lịch còn góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Khi ngành lưu trú du lịch phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của du lịch và các ngành kinh doanh dịch vụ khác, điều này sẽ làm chuyển đổi cơ cấu kinh tế của địa phương
từ nông nghiệp, công nghiệp sang dịch vụ Sự thay đổi này sẽ dần thu hút quỹ tiêu dùng của người dân sang tiêu dùng dịch vụ làm cho nguồn vốn trong nhân dân ở địa phương được lưu thông Sự phát triển của lưu trú du lịch cũng giúp phát triển
cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật cho địa phương, lưu trú du lịch phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của hệ thống đường giao thông, điện, nước sạch, viễn thông,
y tế và cả cảnh quan môi trường, bộ mặt đô thị và hằng năm địa phương còn thu về một nguồn thuế khá lớn từ các hoạt động lưu trú
Ngành lưu trú du lịch phát triển còn tạo điều kiện sản xuất tại chỗ cho kinh tế của địa phương Sự phát triển của ngành lưu trú sẽ đi kèm theo nhu cầu rất lớn về các sản phẩm cần thiết để phục vụ cho khách du lịch và bản thân của hoạt động lưu trú, mà một số loại sản phẩm đơn giản địa phương có thể tự sản xuất để cung cấp cho hoạt động du lịch và ngành lưu trú du lịch Chính điều này đã tạo ra sự sản xuất tại chỗ trong kinh tế địa phương đồng thời kích thích sự phát triển của các ngành trong nền kinh tế quốc dân
Không chỉ có vai trò quan trọng trong nền kinh tế của địa phương, về mặt xã hội lưu trú du lịch cũng có một ý nghĩa khá lớn: Đó chính là giúp tăng cường sự hiểu biết về văn hoá, về con người giữa nhân dân địa phương và khách du lịch, từ
đó tăng thêm tình hữu nghị, củng cố hòa bình giữa các quốc gia, các dân tộc
Sự phát triển của hoạt động lưu trú du lịch còn tạo điều kiện phát triển về tri thức cho người dân địa phương Thông qua giao tiếp hằng ngày với du khách, sự đòi hỏi ngày càng cao về hiểu biết văn hoá, về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ trong hoạt động du lịch, tri thức người dân được nâng cao là một điều chắc chắn sẽ
Trang 16xảy ra Bên cạnh đó, sự phát triển của lưu trú du lịch cũng cần đến một số lượng lớn lao động làm việc trong ngành, điều này có ý nghĩa rất lớn về mặt xã hội là tạo
ra việc làm cho người dân địa phương, tăng cường thu nhập, nâng cao mức sống cho cộng đồng cư dân
1.3 Sở hữu kì nghỉ
1.3.1 Một số khái niệm
1.3.1.1 Sở hữu kì nghỉ
“Sở hữu kỳ nghỉ là sở hữu quyền lưu trú tại các khu nghỉ với khoảng thời
gian nhất định hàng năm và kéo dài trong nhiều năm, như kiểu sở hữu một ngôi nhà thứ hai cho khách hàng khi tham gia vào chương trình sở hữu kì nghỉ” [17] 1.3.1.2 Trao đổi kì nghỉ
“Trao đổi kì nghỉ là sự trao đổi tự nguyện quyền sở hữu các kì nghỉ của các
du khách với nhau để các kì nghỉ hằng năm của họ luôn có sự đổi mới” [15]
1.3.2 Lịch sử hình thành và phát triển của loại hình “sở hữu kì nghỉ”
1.3.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của loại hình “sở hữu kì nghỉ” trên thế giới
Ý tưởng về mô hình “sở hữu kỳ nghỉ” được khởi nguồn ở Pháp, bắt đầu từ
những năm 60 của thế kỷ trước và nhanh chóng được áp dụng tại Bắc Mỹ Sau đó,
nó lan rộng trên toàn thế giới chỉ trong một thời gian ngắn
Năm 1960, để đáp ứng nhu cầu lưu trú của du khách đi trượt tuyết hàng năm, một số khu nghỉ mát tại dãy núi Alps (Pháp) đưa ra một hình thức lưu trú mới dành cho đối tượng khách là các gia đình, theo đó các gia đình tham gia sẽ được lưu trú tại cùng một resort tại một thời điểm nhất định trong năm Khẩu hiệu mà các khu
nghỉ mát này đưa ra là "không cần phải thuê phòng, mướn khách sạn - dịch vụ này
rẻ hơn nhiều" Họ gọi dịch vụ này là timeshare
Khái niệm timeshare sau đó được giới thiệu tại Florida (Mỹ) năm 1970 Cho đến nay Florida là bang có số lượng tài sản timeshare lớn nhất tại Mỹ
Trang 17Năm 1974, RIC (Resort Condominiums International) thuộc tập đoàn Wyndham Hoa Kỳ được ra đời Đây là tập đoàn hàng đầu thế giới về trao đổi kỳ nghỉ trong việc phát hành thẻ nghỉ dài hạn và thẻ nghỉ theo kỳ cho 2 nhãn hiệu TRC và RCI Từ đây khái niệm Timeshare được hiểu rộng hơn: Sở hữu kỳ nghỉ còn
là trao đổi kỳ nghỉ Hiện nay, RCI có 3 triệu thành viên trên toàn cầu, những người đang tận hưởng các kỳ nghỉ tại 3.700 resort của RCI
“Sở hữu kỳ nghỉ” (Vacation Onwership) bắt đầu từ ý tưởng chia nhỏ thời
gian sử dụng bất động sản để bán cho nhiều người khác nhau Người mua sở hữu
kỳ nghỉ có quyền sử dụng bất động sản đó trong một khoảng thời gian nhất định (thường là 1 tuần) mỗi năm và liên tục nhiều năm liền (từ 20 - 30 năm) với mức giá tại thời điểm hiện tại Bất động sản dành cho sở hữu kỳ nghỉ thường được thiết kế như một ngôi nhà đầy đủ tiện nghi dành cho các sinh hoạt thường nhật của một gia đình Các bất động sản này thường rất đa dạng, có thể là phòng khách sạn, resort, căn hộ trong khu du lịch và hình thức cao cấp nhất là villa nghỉ mát
Hình 1.3.2.1: So sánh giữa Vacation Ownership với hotel
“Nguồn: Website ninhvanbayholidayclub.com”
Một điểm đặc sắc của loại hình này chính là khả năng trao đổi kỳ nghỉ giữa những người sở hữu chúng với nhau Nghĩa là chủ nhân sở hữu kỳ nghỉ resort A có
Trang 18thể đổi lấy kỳ nghỉ của người khác tại resort B nếu muốn Bằng cách này, việc du lịch ở các nơi trên thế giới trở nên dễ dàng và kinh tế hơn Theo khảo sát của RIC
đối với các thành viên trong hệ thống thì có 5 lý do để mô hình “sở hữu kì nghỉ”
được ưa chuộng trên thế giới, trong đó khả năng được trao đổi kì nghỉ và tính kinh
tế là hai lý do lớn nhất để “sở hữu kì nghỉ” được nhiều người yêu thích
Biểu đồ 1.3.2.1: 5 lý do để sở hữu kì nghỉ được yêu thích
sự đảmbảo vềchấtlượng
Mức giáhợp lý
Yêuthíchresort
Nguồn: Khảo sát các thành viên trong hệ thống RIC năm 2005”
“Sở hữu kỳ nghỉ” đã thực sự tạo nên một làn sóng mới trong ngành du lịch
của các quốc gia và làm thay đổi thói quen du lịch của các gia đình trên thế giới Các số liệu từ tổ chức phát triển resort của Mỹ (ARDA) cho thấy, nếu năm 1990, toàn cầu mới có 1,5 triệu người sở hữu kỳ nghỉ thì năm 2003 đã có khoảng 6,7 triệu
người tham gia “sở hữu kỳ nghỉ” với 10,7 triệu tuần nghỉ dưỡng được bán ra một
cách ấn tượng Tính đến năm 2008, trên toàn cầu có 6.000 resort ở hơn 100 quốc
gia áp dụng mô hình “sở hữu kỳ nghỉ”, trong đó Bắc Mỹ chiếm 31%; châu Âu -
Trung Đông và châu Phi 31%; Mỹ La-tinh 6%; châu Á 14%; Caribê 5%; Thái Bình Dương 3% Group RCI là tập đoàn trao đổi kỳ nghỉ lớn nhất thế giới của Mỹ đang quản lý việc trao đổi của hơn 4.000 resort với 3,5 triệu thành viên ở trên 100 quốc gia khác nhau [26]
Trang 191.3.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của loại hình “sở hữu kì nghỉ” ở Việt Nam
Ở Việt Nam, “sở hữu kì nghỉ” được xem như là một loại hình lưu trú du lịch
mới và chỉ được một số doanh nghiệp du lịch khai thác trong những năm gần đây Tiên phong trong lĩnh vực này là Ninhvanbay holidayclub (chủ sở hữu của Evason Ana Mandara & Six Senses Spa – Nha Trang; Ana Mandara Villas Dalat Resort & Spa; Ana Mandara Hue; Ana Mandara Ninh Binh; Ana Mandara Hoi An…)
Từ năm 2008, mô hình sở hữu kì nghỉ đã được doanh nghiệp này áp dụng và đã thu
về những thành công bước đầu Doanh nghiệp đã áp dụng mô hình này ở hệ thống các khách sạn của mình ở Phan Thiết và Đà Lạt Trong năm 2010, Ninhvanbay holidayclub đã tiến hành liên kết với RCI một tập đoàn trao đổi kì nghỉ nổi tiếng trên thế giới để tăng khả năng trao đổi kì nghỉ của mình ra các nước trên thế giới và tăng khả năng cạnh tranh của mình
Năm 2010, Sea Links Vacation Ownership cũng đã tung ra chương trình
“sở hữu kì nghỉ” của mình tại Hòn Tằm, Nha Trang Cho đến nay, “sở hữu kì nghỉ”
ở Việt Nam cũng mới chỉ có 2 doanh nghiệp này đưa vào khai thác
“Sở hữu kì nghỉ” ở Việt Nam là mô hình còn khá mới lại mang tính cao cấp,
do vậy, quá trình hình thành và phát triển còn khá chậm so với các nước trên thế giới
1.3.3 Đặc điểm của “sở hữu kì nghỉ”
Như các khái niệm về “sở hữu kì nghỉ” đã nêu, ta thấy rằng “sở hữu kì nghỉ”
có những đặc điểm riêng mà không phải loại hình lưu trú du lịch nào cũng có được, chính những đặc điểm này đã trở thành ưu điểm khiến cho loại hình này có đủ khả năng cạnh tranh với các loại hình lưu trú du lịch khác Đó là:
- Khách hàng có quyền sở hữu một bất động sản du lịch cố định với thời gian
cố định hằng năm và kéo dài trong nhiều năm
- Khách hàng có quyền trao đổi các kì nghỉ của mình với nhau để thuận tiện
và tăng cường khả năng đi du lịch trong nươc cũng như trên thế giới
Trang 20- Quyền “sở hữu kì nghỉ” chỉ đứng tên một người nhưng có thể sử dụng cho
cả gia đình
- Bất động sản du lịch của khách hàng khi đến sử dụng sẽ luôn ở trong tình trạng tốt nhất mà du khách sẽ không phải lo bảo trì hay tu sửa
- Giá cả rẻ hơn nhiều so với mua một bất động sản du lịch đó cũng là một
đặc điểm của mô hình “sở hữu kì nghỉ”
Trang 21Chương 2: TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH “SỞ HỮU KÌ NGHỈ”
Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 2.1 Khái quát về thành phố Đà Nẵng
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Đà Nẵng trải dài từ 15°15' đến 16°40' Bắc và từ 107°17' đến 108°20' Đông Phía bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, phía tây và nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp biển Đông
Nằm ở đường trung lộ của đất nước, trên trục đường giao thông Bắc – Nam
về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không Đà Nẵng cách thủ đô
Hà Nội 764km về phía Bắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 964km về phía Nam Ngoài ra, Đà Nẵng còn là trung điểm của 4 di sản văn hóa và tự nhiên thế giới là cố
đô Huế, Hội An, Mỹ Sơn và rừng quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng
Trong phạm vi khu vực quốc tế, thành phố Đà Nẵng là một cửa ngõ quan trọng ra biển Đông của Tây Nguyên và các nước Lào, Campuchia, Thái Lan, Mianma đến các nước vùng Đông Bắc Á thông qua hành lang kinh tế Đông Tây với điểm kết thúc là cảng Tiên Sa Nằm ngay trên một trong những tuyến đường biển và đường hàng không quốc tế, thành phố Đà Nẵng có một vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững
2.1.1.2 Địa hình
Địa hình thành phố Đà Nẵng vừa có đồng bằng duyên hải, vừa có đồi núi Vùng núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc Vùng này có nhiều đỉnh núi cao như núi Mang cao 1700m, Bà Nà cao 1482m Hướng núi chạy dài ra biển, một
số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp
Địa hình đồi núi chiếm diện tích lớn, độ cao khoảng từ 700 - 1.500 m, độ dốc lớn (>400), là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của thành phố
Trang 22Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn,
là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự, đất ở và các khu chức năng của thành phố
2.1.1.3 Khí hậu và thuỷ văn
Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao
và ít biến động Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc và miền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam Mỗi năm
có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài
Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,9°C; cao nhất vào các tháng 6, 7, 8, trung bình 28-30°C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình 18 - 23°C Riêng vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500 m, nhiệt độ trung bình khoảng 20°C
Độ ẩm không khí trung bình là 83,4%; cao nhất vào các tháng 10, 11, trung bình 85,67-87,67%; thấp nhất vào các tháng 6, 7, trung bình 76,67 - 77,33%
Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.504,57mm; lượng mưa cao nhất vào các tháng 10, 11, trung bình 550-1.000 mm/tháng; thấp nhất vào các tháng 1, 2, 3,
4, trung bình 23-40 mm/tháng
Số giờ nắng bình quân trong năm là 2.156,2 giờ; nhiều nhất là vào tháng 5, 6, trung bình từ 234-277 giờ/tháng; ít nhất là vào tháng 11, 12, trung bình từ 69 - 165 giờ/tháng
Sông ngòi của thành phố Đà Nẵng bắt nguồn từ phía Tây, Tây Bắc của thành phố và tỉnh Quảng Nam Hầu hết các sông ở Đà Nẵng đều ngắn và dốc Có 2 con sông chính là sông Hàn và sông Cu Đê Ngoài ra trên địa bàn thành phố còn có các sông: sông Yên, sông Chu Bái, sông Vĩnh Điện, sông Túy Loan, sông Phú Lộc Thành phố còn có hơn 546 ha mặt nước có khả năng nuôi trồng thủy sản
Trang 23Các con sông chảy trong thành phố Đà Nẵng Nằm trong những lưu vực có lượng mưa trung bình từ 2020 – 3000mm Lượng mưa phân bố không đều trong năm nên dòng chảy các con sông cũng phân thành 2 mùa lũ và cạn
2.1.1.4 Tài nguyên
Tài nguyên đất: Đà Nẵng có diện tích đất tự nhiên là 1.255,53 km² Trong
đó, đất lâm nghiệp chiếm 512,21 km²; đất nông nghiệp là 117,22 km²; đất chuyên dùng là 385,69 km²; đất ở 30,79 km² và đất chưa sử dụng 207,62 km² Đất ở Đà Nẵng có các loại: cồn cát và đất cát ven biển, đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất xám bạc màu và đất xám, đất đen, đất đỏ vàng, đất mùn đỏ vàng…
Tài nguyên rừng: Diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
là 67.148 ha, tập trung chủ yếu ở phía Tây và Tây Bắc thành phố, bao gồm 3 loại rừng: Rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất Tỷ lệ che phủ rừng là 49,6% Trữ lượng gỗ khoảng 3 triệu m³ Rừng của thành phố ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa phục vụ nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển du lịch với các khu bảo tồn thiên nhiên đặc sắc như: Khu bảo tồn thiên nhiên
Bà Nà, Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà và Khu văn hóa lịch sử môi trường Nam Hải Vân
Tài nguyên biển: Vùng biển Đà Nẵng có ngư trường rộng trên 15.000 km²,
có các động vật biển phong phú trên 266 giống loài, trong đó hải sản có giá trị kinh
tế cao gồm 16 loài Tổng trữ lượng hải sản các loại là 1.136.000 tấn Hàng năm có khả năng khai thác 150.000 – 200.000 tấn
Đà Nẵng còn có một bờ biển dài với nhiều bãi tắm đẹp như Non Nước, Mỹ Khê, Thanh Khê, Nam Ô với nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú Quanh khu vực bán đảo Sơn Trà có những bãi san hô lớn, thuận lợi trong việc phát triển các loại hình kinh doanh, dịch vụ, du lịch biển Ngoài ra vùng biển Đà Nẵng đang được tiến hành thăm dò dầu khí, chất đốt…
Trang 24Tài nguyên khoáng sản: khoáng sản ở Đà Nẵng gồm các loại: cát trắng, đá
hoa cương, đá xây dựng, đá phiến lợp, cát, cuội, sỏi xây dựng, laterir, vật liệu san lấp, đất sét, nước khoáng Đặc biệt, vùng thềm lục địa có nhiều triển vọng về dầu khí
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển
Đà Nẵng trước đây thuộc nước Chiêm Thành Năm 1306, Huyền Trân công chúa (nước Đại Việt) kết duyên cùng Chế Mân (nước Chiêm Thành), cuộc hôn nhân này đã dâng về cho Đại Việt một lãnh thổ rộng lớn là Thuận Châu và Hóa Châu (Châu Ô và Châu Lý)
Sau khi sáp nhập vào Đại Việt (1306-1471), từ phía nam Hải Vân trở vào vẫn là miền biên viễn, luôn bị quấy nhiễu và cướp phá Chỉ sau cuộc xuất chinh vĩ đại bình Chiêm của Lê Thánh Tông (1471) vùng đất này mới được bình ổn, biên cương Đại Việt được mở rộng đến Mũi Nạy (giữa Phú Yên và Khánh Hòa ngày nay) và bắt đầu có những cuộc khai phá mở mang Tháng 6 năm 1471, Lê Thánh Tông lập thêm đạo Thừa Tuyên Quảng Nam, Đà Nẵng lúc này vẫn thuộc Thừa Tuyên Thuận Hóa
Năm 1602, Nguyễn Hoàng sai lập dinh ở xã Cần Húc (nay là huyện Duy Xuyên - Quảng Nam), cử Nguyễn Phúc Nguyên - Chúa Sãi vào trấn giữ Năm 1604 Điện Bàn được nhập vào Quảng Nam và nâng lên thành phủ Điện Bàn quản 5 huyện gồm: Tân Phú, Yến Nông, Hòa Vang, Diên Khánh, Phú châu Đà Nẵng lúc này thuộc huyện Hòa Vang Thời các Chúa Nguyễn, vùng đất này đã được khai phá
và trở nên trù phú thịnh vượng; các thương nhân cùng tàu thuyền nước ngoài thường xuyên ra vào mua bán, trao đổi hàng hóa
Từ giữa thế kỷ 16, khi Hội An đã là trung tâm buôn bán sầm uất ở phía Nam thì Đà Nẵng mới là vị trí tiền cảng, trung chuyển hàng hóa, tu sửa tàu thuyền Nhưng đến đầu thế kỷ 18 khi thương cảng Hội An không còn giữ được vai trò của mình nữa thì vị trí tiền cảng của Đà Nẵng dần dần trở thành thương cảng thay thế
Trang 25cho Hội An, nhất là khi kỹ thuật đóng tàu ở Châu Âu phát triển với những loại tàu thuyền lớn, đáy sâu, ra vào vịnh Đà Nẵng dễ dàng Năm 1835, khi vua Minh Mạng
có dụ: "Tàu Tây chỉ được đậu tại Cửa Hàn, còn các cửa biển khác không được tới
buôn bán" thì Đà Nẵng trở thành một thương cảng lớn bậc nhất miền Trung Tiểu
thủ công nghiệp địa phương phát triển với những ngành sửa chữa tàu thuyền, sơ chế nông lâm hải sản; dịch vụ thương mại cũng phát đạt
Với vị trí thuận lợi của Đà Nẵng năm 1858, Pháp đã chọn nơi đây để mở đầu cho cuộc xâm lược của Pháp tại Việt Nam Sau khi thành lập Liên bang Đông Dương, Pháp tách Đà Nẵng khỏi Quảng Nam với tư cách là một nhượng địa (concession) và đổi tên thành Tourane Đơn vị hành chính này chịu sự cai quản trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương thay vì triều đình Huế Tên gọi Tourane có lẽ bắt nguồn từ việc phát âm trại từ "Cửa Hàn" bởi người Pháp Hội đồng thị xã Tourane được lập năm 1908, đứng đầu là một viên đốc lý (résident-maire) người Pháp
Đầu thế kỷ 20, Tourane được Pháp xây dựng trở thành một đô thị theo kiểu Tây phương Cơ sở hạ tầng xã hội, kỹ thuật sản xuất được đầu tư Các ngành nghề sản xuất và kinh doanh được hình thành và phát triển: sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chế biến hàng xuất khẩu (chè, lương thực, thực phẩm, nước ngọt, nước đá, rượu, nước mắm, cá khô), sửa chữa tàu thuyền, kinh doanh dịch vụ Cùng với Hải Phòng và Sài Gòn, Tourane trở thành trung tâm thương mại quan trọng của
cả nước
Đến năm 1950, Pháp trao trả Đà Nẵng cho chính phủ Quốc gia Việt Nam dưới thời Quốc trưởng Bảo Đại Năm 1955, dưới quyền cai quản của chính phủ Việt Nam Cộng hòa, thị xã Đà Nẵng được chia thành ba quận với 18 khu phố
Dường như thấy được ý nghĩa chiến lược của Đà Nẵng mà một lần nữa kẻ thù lại chọn Đà Nẵng là nơi tấn công mở đầu cho cuộc xâm lược của mình Tháng
3 năm 1965, các đơn vị thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng và thiết lập ở đây một căn cứ quân sự hỗn hợp lớn Năm 1967, Đà Nẵng được chính quyền Việt
Trang 26Nam Cộng hòa ấn định là thành phố trực thuộc trung ương và xác định mục tiêu xây dựng Đà Nẵng thành trung tâm chính trị, quân sự, văn hóa cho vùng I và II chiến thuật Mỹ cho xây dựng ở Đà Nẵng các căn cứ quân sự và kết cấu hạ tầng: sân bay, cảng, kho bãi, đường sá, công trình công cộng, cơ sở thông tin liên lạc, lập tín dụng ngân hàng
Năm 1973, khi quân Mỹ rút khỏi Việt Nam, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã cho phân chia lại địa giới hành chính Đà Nẵng, giữ nguyên 3 quận như cũ, chỉ sáp nhập 28 khu phố bên dưới cấp quận thành 19 phường Thị xã Đà Nẵng được đặt dưới quyền điều hành của Hội đồng thị xã, gồm 12 ủy viên, do một thị trưởng đứng đầu
Năm 1975, hòa bình lập lại, Đà Nẵng (là thành phố thuộc tỉnh Quảng Nam -
Đà Nẵng) bắt tay vào khôi phục những hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh Mặc
dù còn lắm khó khăn nhưng công cuộc phục hồi và phát triển thành phố đã đạt nhiều thành quả, nhất là thời kỳ đổi mới, sau năm 1986
Ngày 6 tháng 11 năm 1996 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX đã thông qua nghị quyết cho phép tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng tách thành tỉnh Quảng Nam
và thành phố Đà Nẵng trực thuộc trung ương Ngày 1 tháng 1 năm 1997, Đà Nẵng chính thức trở thành thành phố trực thuộc trung ương Ngày 15 tháng 7 năm 2003,
Đà Nẵng được công nhận là đô thị loại 1 Hiện nay, Đà Nẵng bao gồm: 6 quận, 2 huyện là Hòa Vang và huyện đảo Hoàng Sa
2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.3.1 Điều kiện kinh tế
Tổng sản phẩm nội địa (GDP) của thành phố Đà Nẵng năm 2010 đạt 10.400
tỉ đồng, tăng bình quân 11%/năm GDP bình quân đầu người năm 2010 ước đạt 33,2 triệu đồng, gấp 2,2 lần so với năm 2005 và bằng 1,6 lần mức bình quân chung
cả nước
Trang 27Đà Nẵng có chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) đứng đầu Việt Nam liên tiếp trong 3 năm 2008, 2009 và 2010, đồng thời đứng đầu về chỉ số hạ tầng, xếp thứ 4 về môi trường đầu tư Tính đến tháng 5 năm 2010, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Đà Nẵng đạt gần 2,7 tỷ USD và vốn thực hiện ước đạt 1,3
tỷ USD với 99 doanh nghiệp đã đi vào hoạt động Hiện vốn đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài có 80% đổ vào xây dựng khu đô thị, du lịch và căn hộ biệt thự cao cấp
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp Tỷ trọng nhóm ngành dịch vụ trong GDP năm 2009 đạt 50,5%; công nghiệp - xây dựng đạt 46,5% và nông nghiệp đạt 3% Cơ cấu lao động chuyển biến tích cực, đến năm 2010, tỷ lệ lao động nông nghiệp (thủy sản - nông - lâm) ước còn 9,6%, lao động công nghiệp - xây dựng là 35,1% và dịch vụ 55,3%
Về công nghiệp: Với vị thế là trung tâm kinh tế của khu vực miền Trung -
Tây Nguyên, Đà Nẵng là nơi hội tụ các công ty lớn của các ngành dệt may, da giày, nước uống giải khát, điện tử, sản xuất hàng tiêu dùng, công nghiệp chế biến thủy sản, công nghiệp cơ khí, công nghiệp phần mềm, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng Ngành công nghiệp của thành phố Đà Nẵng đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 20%/năm Hiện nay, hạ tầng các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố được đầu tư xây dựng tương đối hoàn chỉnh, diện tích hơn 2.158 ha, thu hút trên 360 dự
án trong và ngoài nước, vốn đăng ký của các dự án đầu tư nước ngoài trong các khu công nghiệp ước đạt 618 triệu USD và vốn trong nước đạt hơn 10.000 tỷ đồng Đến năm 2010, các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp đã có tổng doanh thu 2.609
tỷ đồng và 188 triệu USD, nộp ngân sách khoảng 365 tỷ đồng, giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng từ 21 triệu USD năm 1998 lên trên 200 triệu USD vào năm 2010, chiếm trên 30% giá trị kim ngạch xuất khẩu của thành phố Trên toàn thành phố Đà Nẵng hiện có hơn 240.000 công nhân đang làm việc trong hơn 10.000 công ty,
doanh nghiệp
Trang 28Về thương mại: Hạ tầng thương mại của thành phố Đà Nẵng được đầu tư
đồng bộ, hiện đại với 24 trung tâm thương mại và siêu thị, 88 chợ các loại theo
hướng văn minh, lịch sự, an toàn Tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 21,1%/năm
Đà Nẵng hiện có 2 chợ lớn nhất nằm ở trung tâm thành phố là chợ Hàn và chợ Cồn; cùng những siêu thị lớn mới mở trong vòng vài năm trở lại đây như: Metro, BigC, Co.op Mart, Intimex, Viettronimex, Đệ Nhất Phan Khang, Đại Dương, Nguyễn Kim Sài Gòn, Chợ Lớn Đó là những trung tâm thương mại chủ yếu của Đà Nẵng Cùng với hàng loạt chi nhánh, đại lý phân phối cấp 1 của các tập đoàn, công ty lớn trong và ngoài nước mở ra ở đây đã đưa Đà Nẵng trở thành trung tâm thương mại hàng đầu của khu vực miền Trung - Tây Nguyên
Về dịch vụ: Đà Nẵng hiện là trung tâm tài chính lớn nhất của khu vực Miền
Trung - Tây Nguyên, với 60 chi nhánh cấp 1 của các tổ chức tín dụng, tài chính, bao gồm 1 ngân hàng nước ngoài, 5 ngân hàng liên, 41 ngân hàng thương mại cổ phần, 8 ngân hàng nhà nước, 1 ngân hàng chính sách xã hội, 1 ngân hàng phát triển, 1 công ty tài chính, 3 công ty cho thuê tài chính, 1 quỹ Đầu tư Phát triển địa phương và hơn 200 phòng giao dịch ngân hàng, cùng với hàng chục trung tâm giao
dịch chứng khoán quy mô lớn
Đà Nẵng hiện được xem là một trong ba trung tâm bưu điện lớn nhất nước với tất cả các loại hình phục vụ hiện đại và tiện lợi, như điện thoại cố định, điện thoại di động, điện thoại thẻ, máy nhắn tin, Internet, chuyển tiền nhanh, chuyển phát nhanh điện hoa Mạng lưới viễn thông của thành phố hiện nay gồm 2 tổng đài chính và 12 tổng đài vệ tinh với dung lượng hơn 40.000 số Chất lượng và số lượng các dịch vụ viễn thông ngày càng được nâng cao nhờ vào khai thác, sử dụng những công nghệ hàng đầu thế giới
Đà Nẵng cũng là trung tâm công nghệ thông tin lớn nhất của miền Trung, nơi cung cấp các sản phẩm công nghệ thông tin và là đầu mối phân phối linh kiện máy tính cho các tỉnh thành trong khu vực, với các thiết bị công nghệ hiện đại Nói đến
Trang 29công nghệ thông tin, người ta nghĩ ngay đến đường Hàm Nghi, Nguyễn Văn Linh
là những nơi tập trung nhiều công ty chuyên cung cấp các linh kiện máy tính, laptop lớn nhất Đà Nẵng
2.1.3.2 Điều kiện xã hội
Dân số thành phố Đà Nẵng năm 2009 là 877.000 người, mật độ dân số chung
là 570 người/ km² ( tính mật độ đất liền là khoảng 753 người/ km²) Dân cư phân bố
không đồng đều giữa 6 quận nội thành Hiện nay, dân số nông thông chiếm 21,06%
Giáo dục càng đạt được nhiều thành tích cao Thành phố Đà Nẵng có tỉ lệ trẻ
em đến trường cao và là nơi tập trung khá nhiều trường, cơ sở đào tạo đại học, trung học cho thành phố và cho khu vực miền Trung Mạng lưới trường học ngày càng tăng cường điều chỉnh hợp lý hơn Đội ngũ tri thức của thành phố có sự phát triển nhanh về số lượng Hiện nay, số người có trình độ cao đẳng, đại học trên địa bàn thành phố chiếm 7,3% trong tổng số người lao động Với đội ngũ tri thức đông đảo như trên thì rất thuận lợi cho việc phát triển du lịch nói riêng và kinh tế nói chung
Mạng lưới y tế thành phố Đà Nẵng được bố trí từ quận huyện đến xã phường nhằm thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân thành phố Hiện nay có 47/47 xã phường có trạm y tế và cán bộ y tế về hoạt động Ngành y tế được bố trí theo 3 hệ thống: Hệ thống y tế dự phòng, hệ thống điều trị bao gồm hệ thống các bệnh viện, trạm xá được bố trí từ cấp quận, huyện đến xã, phường Ngoài ra còn có một số bệnh viện của các đơn vị quân đội làm nhiệm vụ khám chữa bệnh riêng cho ngành Hệ thống dược gồm có các công ty dược TW3, TW5, công ty thiết bị y tế, công ty dược Đà Nẵng và hệ thống các cửa hàng bán thuốc đảm bảo cung cấp đầy
đủ các nhu cầu về thuốc chữa bệnh cho nhân dân thành phố
2.1.4 Đặc điểm văn hoá, dân cư
Trang 30Đà Nẵng là một thành phố trẻ năng động với tốc độ tăng trưởng kinh tế khá nên hiện đang thu hút một lượng lớn lao động đổ về đây Dân số Đà Nẵng hiện nay
là 887.070 người (2009), mật độ dân số là 906,7 người/km² Với mật độ này thì dân
số Đà Nẵng đang ở mức độ vừa phải chưa gây áp lực nhiều lên hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội của thành phố Đà Nẵng nằm trong vùng đất được tôn vinh là "Ngũ phụng tề phi" gắn liền với truyền thống hiếu học và say mê sáng tạo Người Đà Nẵng có bản tính chất phác, ngay thẳng, sống đơn giản, thân thiện, yêu sự chân thật
và kiên quyết trong hành động chống lại những điều ác, điều xấu
Trải qua diễn trình lịch sử, Đà Nẵng là nơi quần cư của cư dân nhiều địa phương khác đến; là nơi giao lưu và hội tụ những nét văn hóa của nhiều vùng miền trong cả nước Dẫu chưa hình thành nét đặc trưng rõ rệt như một số nơi nhưng người Đà Nẵng vẫn có tính cách riêng và ngày càng được hun đúc cùng tiến trình phát triển đô thị
Văn hóa Đà Nẵng không chỉ đặc trưng bởi các di tích lịch sử - văn hóa như thắng cảnh Ngũ Hành Sơn, thắng cảnh Hải Vân, Sơn Trà, ở truyền thuyết Tiên Sa, Non Nước, mà còn thể hiện ở văn hóa ẩm thực, đó là mì quảng, bánh tráng đập dập, bánh ít lá gai, bánh tráng cuốn thịt heo… với những hương vị rất riêng không lẫn với những sản vật của nơi khác
Đặc trưng văn hóa của miền đất này còn lắng đọng trong lễ hội, trong phong tục tập quán, tâm lý truyền thống; được kết tinh từ lao động sáng tạo, lối suy nghĩ, lối sống và cả cách ứng xử của các tộc người cùng cộng cư trên vùng đất này, qua những giai đoạn thăng trầm của lịch sử
Lễ hội cũng là nét đặc trưng của văn hóa Đà Nẵng, bao gồm nhiều yếu tố dân tộc, lịch sử, phong tục, tâm lý, tín ngưỡng tôn giáo… mặc dù so với những vùng đất khác thì không gian lễ hội hẹp hơn, thời gian ngắn hơn, song cũng khá đa dạng
và phong phú Điển hình là các lễ hội dân gian truyền thống như lễ hội đình làng, lễ
Trang 31Văn hóa vùng đất này còn là các làn điệu dân ca, hát hò khoan, bài chòi, lý
hò vè độc đáo, chân chất đồng hành cùng các câu hát đồng dao, hát bả trạo, hát sắc bùa, các trò diễn dân gian như múa lân, các vũ đạo có đường nét kinh điển của nghệ thuật Tuồng truyền thống mà người xưa gọi là hát Bội
Văn hóa của người Đà Nẵng là sức sống, sức sáng tạo của người dân được thể hiện ở kinh nghiệm, tri thức được tích lũy trong quá trình lao động và đấu tranh bền bỉ với thiên nhiên, với kẻ thù Tri thức và năng lực sáng tạo đó còn biểu hiện qua hàng ngàn câu ca dao, tục ngữ, hàng trăm sản phẩm độc đáo của làng nghề truyền thống, như đồ mỹ nghệ Non Nước, nước mắm Nam Ô, thuốc lá Cẩm Lệ, bánh tráng Túy Loan… Tất cả đã nói lên tài hoa và sự khéo léo, tinh xảo của người nơi đây
2.2 Tình hình kinh doanh lưu trú trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
2.2 1 Lượng khách
Trong những năm gần đây du khách đến với Đà Nẵng tăng mạnh về số lượng, bao gồm, cả du khách trong nước và khách quốc tế Trong năm 2011, tổng lượt khách tham quan, du lịch đến Đà Nẵng ước đạt 2.350.000 lượt, tăng 33% so với năm 2010, đạt 112% kế hoạch; trong đó khách quốc tế ước đạt 500.000 lượt, tăng 35% so với năm 2010, đạt 111% kế hoạch, khách nội địa ước đạt 1.850.000 lượt, tăng 32% so với năm 2010, đạt 112% kế hoạch Tổng doanh thu chuyên ngành du lịch ước đạt 2.000 tỷ đồng, tăng 61% so với năm 2010, đạt 132% kế hoạch Thu nhập xã hội từ hoạt động du lịch ước đạt 4.600 tỷ đồng Trong quý I năm 2012, tổng lượt khách tham quan, du lịch đến Đà Nẵng ước đạt 589.160 lượt, tăng 14% so với cùng kỳ 2011, đạt 23% kế hoạch năm 2012; trong đó khách quốc
tế ước đạt 206.219 lượt, tăng 31% so với cùng kỳ 2011, đạt 37% kế hoạch năm
2012, khách nội địa ước đạt 382.941 lượt, tăng 7% so với cùng kỳ 2011, đạt 19%
kế hoạch năm 2012 Tổng doanh thu từ hoạt động du lịch ước đạt 1.250 tỷ đồng, tăng 52% so với cùng kỳ 2011 và đạt 25% kế hoạch năm 2012
Trang 32Du khách đến du lịch Đà Nẵng từ khá nhiều quốc gia, với số lượng ngày càng tăng Lượng khách đến tập trung chủ yếu từ các quốc gia Châu Âu và Bắc
Mỹ, trong đó, dòng khách đến từ Mỹ, Pháp, Đức, Anh vẫn giữ được mức tăng, nhưng tốc độ tăng có xu hướng chậm lại Trong thời gian tới, sự phát triển nhanh chóng của du lịch, cùng với quan hệ Việt - Mỹ phát triển tốt đẹp, hy vọng đây sẽ là thị trường tiềm năng, cả về đầu tư lẫn khách du lịch
Tuy nhiên, một thực tế đang diễn ra là lượng khách đến đông nhưng thời gian lưu trú và mức chi tiêu thì lại ít Theo thống kê của JICA (cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản) trong quý I năm 2012, thời gian lưu trú của khách quốc tế ở Quảng Nam bình quân 2,6 ngày/khách, còn Huế và Đà Nẵng đều 2,1 ngày/khách Mức chi tiêu trung bình mỗi du khách quốc tế tăng từ 73 USD (năm 2007) lên 76 USD ở Huế và Quảng Nam; Còn Đà Nẵng có mức tăng từ 62 lên 65 USD/khách
Nguyên nhân chính ở đây là các loại hình du lịch của Đà Nẵng còn thiếu và
sự hấp dẫn còn hạn chế khiến du khách lưu lại Đà Nẵng ít ngày Đa số các khách sạn của Đà Nẵng mới chỉ đáp ứng được nhu cầu nghỉ của khách, trong và ngoài khách sạn thiếu các dịch vụ hỗ trợ du khách như các khu vui chơi giải trí, mua sắm,
ẩm thực hấp dẫn Điều kiện cơ sở vật chất còn hạn chế và nguồn nhân lực trong ngành thiếu tính chuyên nghiệp cũng đã góp phần không đáp ứng được nhu cầu của
du khách cao cấp Do vậy, có thể nói, áp dụng mô hình “sở hữu kì nghỉ” là một
hướng đi mới để nâng cao số ngày lưu trú bình quân của du khách ở Đà Nẵng, đồng thời cũng thu hút một lượng khách lớn hơn đến với thành phố
Mặt khác, so với Khánh Hoà cũng là địa phương có đặc điểm phát triển du lịch tương đối giống với Đà Nẵng-du lịch biển nhưng lượng khách đến đây qua các năm có sự khách nhau Điều này thể hiện qua biểu đồ 2.2.1
Trang 33Biểu đồ 2.2.1: Số lượng khách quốc tế đến Đà Nẵng và Khánh Hoà (2008 – 2011)
0 500000
“Nguồn: Sở VH TT DL các địa phương”
Ở biểu đồ 2.2.1 ta thấy trong năm 2001, lượng du khách quốc tế đến với Đà Nẵng tương đối cao so với Khánh Hòa, nhưng mức tăng trưởng những năm sau đó không cao bằng Nguyên nhân là khu du lịch, dịch vụ giải trí mang tầm cỡ quốc tế
ở Đà Nẵng chưa có nhiều, trong khi Khánh Hòa, với lợi thế thiên nhiên ưu đãi đã đầu tư một số khu du lịch đạt tiêu chuẩn quốc tế, có thể tổ chức các sự kiện quốc tế Bên cạnh đó ngành lưu trú ở Khánh Hoà khá phát triển, Khánh Hoà là một trong
những địa phương sớm phát triển mô hình “sở hữu kì nghỉ” trong lưu trú Nếu xét
về điều kiện tự nhiên và điều kiện cơ sở hạ tầng du lịch thì Khánh Hoà không thể hơn được Đà Nẵng tuy nhiên Khánh Hoà đã biết cách khai thác triệt để các thế mạnh về du lịch, đa dạng hoá các sản phẩm lữ hành và lưu trú Với những điều kiện tương đương như Khánh Hoà, Đà Nẵng cũng đủ các điều kiện phát triển mô hình
lưu trú “sở hữu kì nghỉ” để đa dạng hoá các sản phẩm du lịch nhằm thu hút một
lượng lớn khách đến với mình
2.2.2 Doanh thu
Sự phát triển mạnh mẽ của du lịch Đà Nẵng đã đem về cho thành phố một nguồn doanh thu khổng lồ Điều đó được thể qua bảng sau:
Trang 34Bảng 2.2.2.a: Doanh thu du lịch của Đà Nẵng (2006 – 2011)
ĐVT : Tỷ đồng
Doanh thu 435 606 874,4 900 1 239 2 000
“Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đà Nẵng”
Doanh thu lĩnh vực du lịch tăng nhanh, năm 2011 doanh thu chuyên ngành đạt 2000 tỷ đồng, tăng 4,6 lần so với năm 2006 Trong đó, doanh thu từ khách sạn
là 1595 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 79,8%
Đạt được kết quả trên là nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, chính quyền các cấp, sự nỗ lực của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố, sự năng động của cộng đồng doanh nghiệp và người dân tham gia trong các hoạt động phát triển du lịch
Để du lịch Đà Nẵng trở thành lĩnh vực kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế của thành phố, cần đề ra các giải pháp, cơ chế chính sách thông thoáng hơn nữa nhằm thúc đẩy đầu tư nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm du lịch, xây dựng các điểm vui chơi giải trí lớn, các khu ẩm thực “khác biệt” phục vụ hoạt động kinh doanh du lịch Phải làm tăng thêm mức độ chi tiêu của du khách khi đến với Đà Nẵng
Bảng 2.2.2 b: Mức độ chi tiêu bình quân của 1 du khách
Trang 35Mức chi tiêu bình quân của một du khách đến Đà Nẵng khá, trung bình khoảng 1,6 triệu đồng (2008) Mức chi tiêu chuyên ngành của một du khách chỉ đạt khoảng dưới 700 ngàn đồng, trong đó, trung bình của 1 khách quốc tế khoảng
60 USD, khách nội địa là 500 ngàn đồng Trong những năm gần đây chi tiêu bình quân của du khách đến với Đà Nẵng đã tăng lên, năm 2011 chi tiêu bình quân của một du khách là 1,8 triệu đồng nhưng con số này vẫn còn thấp Điều này chứng tỏ
du khách đến với Đà Nẵng chi tiêu khá ít vào lĩnh vực du lịch
Doanh thu du lịch phụ thuộc chủ yếu vào mức độ chi tiêu của du khách, nên muốn tăng doanh thu hơn nữa cho du lịch thành phố thì cần phải làm tăng hơn khả năng tiêu dùng của du khác, đồng thời thu hút nhiều hơn lượng khách đến với thành phố và làm gia tăng số ngày lưu trú của họ ở lại thành phố Tất cả những điều đó
“sở hữu kì nghỉ” có thể thực hiện được vì đây là một loại hình lưu trú du lịch cao
cấp, thời gian lưu trú lâu, mức độ chi tiêu và sử dụng dịch vụ của khách hàng là rất
cao Có thể nói “sở hữu kì nghỉ” là giải pháp hiệu quả để làm tăng doanh thu du
lịch của thành phố
Hiện nay, ở Đà Nẵng, loại hình lưu trú “sở hữu kì nghỉ” là hoàn toàn mới mẻ
Chưa có một doanh nghiệp nào khai thác loại hình lưu trú mới này trong khi Đà Nẵng có đủ những điều kiện để khai thác
Các loại hình lưu trú ở Đà Nẵng khá đa dạng và chất lượng của cơ sở lưu trú cũng hết sức phong phú từ 5 sao cho đến 1 sao và cả những loại cơ sở lưu trú du lịch chưa được xếp hạng như các nhà nghỉ… Đa dạng là vậy nhưng các cơ sở lưu trú này lại tự lực kinh doanh và cạnh tranh với nhau chứ không có sự liên kết với nhau, nếu có cũng chỉ là sự liên kết song phương để chia sẽ nguồn khách trong những mùa chính vụ du lịch Bên cạnh đó, tính thời vụ trong du lịch Đà Nẵng quá cao, lượng khách đến vào mùa chính vụ thường là quá tải nên các doanh nghiệp kinh doanh lưu trú chưa mấy để ý đến mô hình mới này, đồng thời đây là mô hình còn khá mới ở Việt Nam nên việc áp dụng cũng sẽ gặp không ít khó khăn và rủi ro
Trang 36cho các doanh nghiệp Vì thế, “sở hữu kì nghỉ” chưa thể hình thành ở Đà Nẵng
Chính điều này đã cho ngành lưu trú Đà Nẵng mất đi những ưu thế của mình Hiện nay cũng chưa có một doanh nghiệp hay một tổ chức nào đứng ra để liên kết các cơ
sở lưu trú ở Đà Nẵng để xây dựng mô hình “sở hữu kì nghỉ” Do vậy đến nay, mô
hình “sở hữu kì nghỉ” ở Đà Nẵng vẫn đang bị bỏ ngỏ
2.3 Tiềm năng phát triển loại hình “sở hữu kì nghỉ” ở thành phố Đà Nẵng
2.3.1 Tiềm năng tự nhiên
Để phát triển loại hình “sở hữu kì nghỉ” thì tự nhiên luôn đóng một vai trò
hết sức quan trọng Các điều kiện tự nhiên như: cảnh quan, khí hậu… luôn là mối quan tâm hàng đầu của du khách khi quyết định nghỉ dưỡng ở một nơi nào đó Chất lượng của một chuyến đi du lịch, nghỉ dưỡng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố tuy nhiên yếu tố tự nhiên luôn là yếu tố chi phối hàng đầu đến chất lượng chuyến đi Cảnh quan đẹp, khí hậu thuận lợi mới tạo nên được sự thoả mãn của du khách Sự thuận lợi của tự nhiên luôn tạo ra được ưu thế lớn trong việc thu hút du khách đến với địa phương mình Do vậy, có thể nói tiềm năng tự nhiên luôn là sự chú ý hàng đầu và có tính chất quyết định đến sự thành công của bất kì một loại hình du lịch
mới nào kể cả “sở hữu kì nghỉ”
Thiên nhiên ban tặng cho Đà Nẵng một bãi biển dài và được bình chọn là một trong 6 bãi biển đẹp nhất hành tinh, có Sơn Trà với nhiều điều khám phá mới
lạ, hoang sơ Đây có thể xem là một tiềm năng tự nhiên vô cùng lớn để thu hút khách du lịch đến tham quan và nghỉ ngơi Du lịch biển vừa là thương hiệu vừa là thế mạnh của Đà Nẵng, biển mang đến một bầu không khí trong lành, không gian thoáng, rộng có thể tổ chức được các trò chơi giúp nâng cao sức khoẻ, tắm biển
cũng làm cho con người thoải mái Biển Đà Nẵng được đánh giá khá tốt về độ mặn
của nước, độ mịn của cát và cả về độ trong sạch cũng như sự chuẩn bị chu đáo, an
toàn trong công tác cứu hộ Bán đảo Sơn Trà với những nét hoang sơ, hùng vĩ, là
chứng nhân của lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm hào hùng của dân tộc, khí hậu