Lí do chọn đề tài Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam 1954 - 1975 của đế quốc Mĩ trải qua năm đời tổng thống với bốn chiến lược1, tiêu tốn tới 676 tỉ đô la, “Chúng huy động lúc cao nhất l
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SỬ
- -
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
Thái Lan trong cuộc chiến tranh xâm lược
Việt Nam của Mĩ (giai đoạn 1965 - 1973)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam (1954 - 1975) của đế quốc Mĩ trải qua năm đời tổng thống với bốn chiến lược(1), tiêu tốn tới 676 tỉ đô la, “Chúng huy động lúc cao nhất là 55 vạn quân viễn chinh, lôi kéo 5 nước ở châu Á - Thái Bình Dương tham chiến với số quân lúc cao nhất là hơn 7 vạn người vào cuộc chiến, trực tiếp chiến đấu và làm nòng cốt cho hơn một triệu quân của chính quyền Sài Gòn Chúng đã dội xuống hai miền đất nước ta hơn 7,8 triệu tấn bom đạn, một khối lượng bom đạn lớn hơn lượng bom đạn mà chúng đã sử dụng trong bất cứ cuộc chiến tranh nào trước đó” [19; 272], gây tổn thất nặng nề về người và của
cho dân tộc Việt Nam
Trong khoảng thời gian từ năm 1965 đến năm 1973, Mĩ đã thực hiện chính sách “chia sẻ trách nhiệm”, buộc các nước đồng minh phải tham gia chiến tranh, hòng tăng cường sức mạnh cho Mĩ, gây khó khăn cô lập và đi đến tiêu diệt cách mạng Việt Nam
Trong các nước đồng minh của Mĩ thì sự tham chiến của quân đội Hoàng gia Thái Lan với hơn 11.000 quân đã có tác động nhất định đến cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mĩ Hiện nay vẫn có những ý kiến khác nhau về việc Thái Lan tham gia chiến tranh ở Việt Nam Theo các ý kiến phía Mĩ và một số quan chức Việt Nam Cộng hòa còn sót lại thì cho rằng đó là hành động tiến bộ nhằm
“chống lại sự xâm lược của cộng sản Bắc Việt” [13:16] Còn với các sử gia, các
chính trị gia Macxit thì coi đây là hành động can thiệp phi nghĩa nhằm giúp Mĩ
“đánh lừa dư luận trong và ngoài nước” để chống lại sự thống nhất đất nước Việt Nam, chống lại lực lượng dân chủ tiến bộ
Xuất phát từ mong muốn tìm hiểu một số nội dung quan trọng của lịch sử
cuộc kháng chiến chống Mĩ, chúng tôi chọn đề tài: Thái Lan trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mĩ (giai đoạn 1965 - 1973) để nghiên cứu
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trang 3Trong tác phẩm “Quân Đồng minh của Mĩ trên chiến trường miền Nam Việt Nam (1964 - 1973)” của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam thì đã trình bày được sự chuẩn bị và quyết định chuyển quân sang miền Nam của Thái Lan:
“Hưởng ứng lời kêu gọi của Mĩ, ngày 3 tháng 1 năm 1967, chính phủ Thái Lan công khai tuyên bố kế hoạch sẽ triển khai một tiểu đoàn, hoặc một trung đoàn bộ binh quân Thái sang chiến trường miền Nam” [11;142]. Tác phẩm cũng nêu một
số hoạt động của quân đội Thái Lan trên chiến trường miền Nam Việt Nam, những tác động của việc Thái Lan đem quân sang Việt Nam tham chiến
Công trình “Lịch sử kháng chiến chống Mĩ cứu nước 1954 - 1975” của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, "Chiến tranh Việt Nam và bước đường suy sụp của chủ nghĩa đế quốc Mĩ” của Quyết Thắng - Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Nguyễn Ngọc Dung có bài đăng trong “Tạp chí
nghiên cứu Đông Nam Á”, số 3/132 “Bước đầu đánh giá vai trò của Thái Lan trong chiến tranh Việt Nam 1954 - 1973” Các công trình trên đây đã đề cập đến
sự tham gia của quân đội Hoàng gia Thái Lan trong cuộc chiến tranh của Mĩ ở Việt Nam
Các tác phẩm và công trình trên là những nguồn tài liệu quan trọng giúp tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này
3 Mục đích nghiên cứu
Khi nghiên cứu về “Thái Lan trong cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam
1965 - 1973”, chúng tôi muốn làm rõ mối quan hệ đồng minh của Mĩ và Thái kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các hoạt động chống cách mạng Việt Nam của Thái Lan và sự thất bại của nó Mặt khác, làm rõ những hệ quả của việc Thái Lan khi đưa quân sang tham chiến tại Việt Nam
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đề tài đi vào nghiên cứu tất cả những chính sách, thái độ và hành động của chính quyền Thái Lan đối với cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mĩ trong khoảng thời gian từ năm 1965 đến năm
1973
Trang 4Nhiệm vụ của đề tài: Làm rõ những hoạt động của quân đội Thái Lan tại chiến trường miền Nam Việt Nam
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi sử dụng chủ yếu là các nguồn tư liệu thành văn như sách, báo, tạp chí được lưu trữ ở Thư viện trường Đại học Sư phạm
Đà Nẵng, thư viện Tổng hợp Đà Nẵng, thư viện Quân khu V, thư viện trường Đại học Sư phạm Huế, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, thư viện Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, và các tài liệu ở Cục lưu trữ thông tin II, bao gồm cả các tài liệu của Việt Nam Cộng hòa
Phương pháp nghiên cứu: Khi nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học Lịch sử như phân tích, tổng hợp tư liệu thành văn; phương pháp logic lịch sử; so sánh các sự kiện lịch sử… Tất cả các phương pháp đó được sử dụng trên cơ sở lập trường quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
để đánh giá sự kiện
6 Đóng góp của đề tài
Nội dung nghiên cứu là một vấn đề không dễ đối với một sinh viên, nhất là trong điều kiện tư liệu lịch sử ít và khó tiếp cận Mong muốn của chúng tôi là làm
rõ một vấn đề của lịch sử cuộc kháng chiến chống Mĩ
Đây chắc chắn sẽ trở thành một tài liệu quan trọng để phục vụ việc tìm hiểu, giảng dạy Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 ở các trường học, cũng như phục vụ những bạn đọc mong muốn tìm hiểu về cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc ta
7 Bố cục của đề tài
Đề tài này ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung gồm có 2 chương:
Chương 1 Tổng quan về Vương quốc Thái Lan
Chương 2 Thái Lan và cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam của Mĩ
(giai đoạn 1965 - 1973)
Trang 5NỘI DUNG Chương 1: Tổng quan về Vương quốc Thái Lan
1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
1.1.1 Về điều kiện tự nhiên
Vương quốc Thái Lan nằm ở phía nam lục địa Châu Á, tại trung tâm của vùng Đông Nam Á Với diện tích là 513.185 km², Vương quốc này trải dài từ vĩ tuyến 5° đến vĩ tuyến 21° Bắc Thái Lan có chung biên với Campuchia và Lào ở phía Đông và Đông Bắc, với Mianma ở phía Tây và Tây Bắc, phía Đông Nam là vịnh Thái Lan, phía Nam tiếp giáp với Malayxia
Khí hậu Thái Lan chịu ảnh hưởng của gió mùa hàng năm vào những tháng mùa
hè khô nóng, cái nắng khủng khiếp của miền nhiệt đới kéo dài, không khí ẩm ướt
từ vùng biển phía Nam đến nơi đây Khí
hậu khô nóng kéo dài cho đến lúc mưa
xuống, lúc đó cả vùng đất này chuyển sang
mùa nước Khi mùa hè qua đi, mọi chuyện
lại xảy ra theo chiều ngược lại Những đợt
gió lạnh và khô từ vùng Trung Á thổi
xuống phía Nam mở đầu cho một mùa khô
mát mẻ, chu kì này cứ thế lặp đi lặp lại
nhiều năm Khí hậu Thái Lan còn chịu ảnh
hưởng của cái nóng và độ ẩm cao, trời
nắng nóng gần như quanh năm, làm cho
những cơn mưa nặng hạt kéo dài từ tháng
năm cho đến tháng mười
H 1 Lược đồ đất nước Thái Lan
Khí hậu chịu sự khắc nhiệt và bất thường như vậy nhưng từ lâu Thái Lan đã nổi danh là một xứ sở nhiệt đới thần tiên, đầy những điều bí ẩn và kỳ lạ, trong đó nổi bật như: Hệ thống các con sông ở Thái Lan nhiều đã tạo thành mạng lưới kênh
Trang 6đào chằng chịt Những kênh đào và sông ngòi này vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc đi lại và vận chuyển hàng hóa của người Thái Lan Vùng đồi núi ở phía Bắc, những con sông Ping, Wang, Yom, Nan và Pa Sakchayr quanh co giữa các rặng núi, cuối cùng hợp lại với nhau tạo thành con sông Chao Phraya
Với những đặc điểm về tự nhiên và khí hậu như trên đã cho phép Thái Lan phát triển một nền kinh tế đa dạng, đặc biệt là trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp
1.1.2 Vài nét về kinh tế - xã hội
Kinh tế Thái Lan cũng phát triển mạnh mẽ với nhiều loại hình kinh tế khác nhau Đặc biệt nó càng có nhiều thuận lợi sau khi chính phủ Thái Lan quyết định khuyến khích đầu tư nước ngoài vào năm 1957 Điều này đã dẫn đến sự ra đời của các công ty mới và sự phát triển trong nhiều khu vực kinh tế Những mặt hàng xuất khẩu nòng cốt của Thái Lan như gạo, bắp, bông vải, thiếc, cao su, gỗ cứng Trong những năm gần đây có thêm các hải sản đóng hộp, vải quần áo, dày dép, đồ trang sức… Đất nước đang dần dần chuyển trọng tâm từ nhập khẩu sang xuất khẩu Tuy nhiên, thách thức với nền kinh tế Thái Lan vẫn còn rất lớn, cụ thể như phải duy trì sự tăng trưởng kinh tế song song với việc bảo hộ khu vực nông nghiệp còn yếu kém; sự phân hóa giàu nghèo rõ rệt
Sự tăng trưởng kinh tế của đất nước Thái Lan thể hiện chủ yếu qua sự phát triển của công nghiệp và dịch vụ Ngoài đầu tư nước ngoài và thu nhập từ xuất khẩu, sự bộc phát của nền kinh tế Thái Lan còn nhờ vào sự gia tăng nhanh chóng của ngành du lịch Ngoài những dịch vụ có liên quan trực tiếp đến du lịch như khách sạn, nhà hàng và tổ chức các tua du lịch thì sự phát triển của ngành công nghiệp cũng làm sống lại các ngành nghề thủ công mĩ nghệ Như vậy, cùng với bước tiến của xã hội loài người, nền kinh tế của Thái Lan đã có sự hiện đại hóa và phát triển mọi mặt Tuy nhiên, do Thái Lan đang trong quá trình chuyển đổi từ một nền kinh tế truyền thống sang nền kinh tế hiện đại, nhiều ngành nghề từ một thời được trọng vọng thì nay đang bị mất dần đi như các nghề nhuộm, nghề sơn vẽ tàu thuyền và xe cộ…
Trang 7Như vậy, cho đến những thập niên sau Chiến tranh thế giới thứ hai Thái Lan đã xây dựng được một nền kinh tế tương đối phát triển về mọi mặt và bao gồm nhiều ngành nghề khác nhau Đây là kết quả của sự cố gắng vươn lên của đất nước, con người Thái Lan trong cả quá trình lịch sử Họ vừa có ý thức vươn lên, vừa biết sử dụng những tri thức của mình để nắm bắt thời cơ, tranh thủ điều kiện thuận lợi từ bên ngoài, phát huy thế mạnh bên trong vào sự nghiệp phát triển kinh
tế đất nước
Xã hội Thái Lan là sự kết hợp giữa tính truyền thống và hiện đại Mặc dù
có sự hiện diện của nền văn hóa thế giới ở các thành phố và một số vùng nông thôn, nhưng cuộc sống xã hội và thậm chí cả cuộc sống nghề nghiệp vẫn còn được định hình bằng sự tuân thủ những giá trị và những quy tắc ứng xử có gốc rễ sâu xa
trong truyền thống Thái Lan “Người Thái tin rằng người ta sinh ra ở đời đã có một địa vị xã hội được quy định bởi Karma - nó là kết quả của sự kết hợp những suy nghĩ và hành động của họ từ kiếp trước Tuy vậy, nhờ những hành vi Tham boon - làm điều thiện - họ sẽ nâng cao địa vị xã hội của mình.” [20; 83]
Những nguyên tắc ứng xử vẫn được giữ nguyên như cũ Người ta tin tưởng vào “cung cách Thái” Trong quan hệ
giao tiếp, tiếp xúc với những người có
địa vị cao hơn hay thấp hơn, thì phải
biết cách nói năng cho thích đáng, sử
dụng nhiều điệu bộ thích hợp và những
hành động phù hợp trong những tình
huống xã hội nhất định
Tuy nhiên, công cuộc hiện đại
hóa đất nước đang làm cho xã hội Thái
Lan thay đổi nhanh chóng, những tầng
lớp xã hội mới trỗi dậy, còn những
tầng lớp cũ thì bị suy giảm
H 2 Cách chào của người Thái Lan
Trang 81.2 Vài nét về Lịch sử - Văn hóa
1.2.1 Vài nét về Lịch sử
Lịch sử của người Thái phải đương đầu với những vấn đề nghiêm trọng Thế kỉ XVIII, xã hội Thái phải xây dựng lại sau khi vương quốc Ayudhya kéo dài bốn thế kỉ bị phá hủy hầu như toàn bộ bởi các đạo quân người Miến Điện Thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, các áp lực của phương Tây đã buộc Thái Lan phải tiến hành những điều chỉnh lớn về chính phủ, nền kinh tế và tổ chức xã hội truyền thống của mình Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Thái Lan phải điều chỉnh theo
áp lực của quân đội Nhật, và đất nước phải gánh chịu sự phân cắt sâu sắc về kinh
tế Sau này, Thái Lan trở thành một quốc gia tuyến đầu trong cuộc chiến tranh lạnh, và số phận của nó gắn với những lợi ích của Hoa Kì
Vào thế kỉ XIII, một số vương quốc nhỏ hình thành dọc khu vực, ngày nay được gọi là vùng đồng bằng Miến Điện, vùng bắc Thái và Lào Những tiểu vương quốc này đã thành lập quốc gia của các cộng đồng người Tày Người Tày là tổ tiên chính, không những của người Thái mà còn là của người Lào, người Shan của Miến Điện Thiết chế chủ yếu cho những nhà dựng nước người Tày là Angkor Vào thế kỉ XIII, nước nổi tiếng nhất trong số các nước buổi đầu của người Tày, là Vương quốc Sukhothai Người Thái hiện nay xem Sukhothai là cái nôi của nước Thái
Từ năm 1351 - 1767 là thời kì tồn tại của vương quốc Ayudhya Người thành lập Ayudhya là U Thong, một thương gia người Hoa giàu có và có uy tín nhờ các mối quan hệ buôn bán với triều đình Trung Hoa Ayudhya phát triển thịnh vượng, một phần là do vị trí chiến lược của nó nằm trên sông Chaophraya rộng lớn chỉ cách biển 70 km Điều này giúp nó trở thành một trong những cảng thương mại lớn của Đông Nam Á Đồng thời, nó còn trấn giữ một đồng bằng Chaopharaya phì nhiêu rộng lớn, cung cấp lúa gạo để nuôi sống số dân đang gia tăng và để xuất khẩu
Vua Trailok trị vì từ năm 1448 - 1488, đã thảo chi tiết vị trí và nghĩa vụ của các đối tượng trong một xã hội có tôn ti trật tự nghiêm ngặt Tuy nhiên, tới năm 1568
Trang 9khi vua Miến Điện là Bayinnaung đã bao vây Ayudhya thì thành phố này bị thất thủ năm 1569 và bị phá hủy Nhưng khi Narasuan lên thừa kế ngai vàng đã tìm cách xây dựng lại Vương quốc Đến khoảng đầu thế kỉ XVII, Ayudhya lại là một cường quốc lớn Và cũng vào thế kỉ XVII thì Ayudhya được xem là một trung tâm
buôn bán giàu có và nổi tiếng “Việc mở cửa buôn bán của Ayudhya - cũng là mở cửa đón nhận thông tin và tư tưởng mới do các thương buôn mang tới - có thể là một trong các sức mạnh của nó.” [31; 234] Tuy nhiên, từ năm 1688 đã xảy ra
việc tranh giành quyền lực trong giai cấp thống trị, cùng với việc bao vây ồ ạt khác của người Miến Điện vào năm 1766 đã khiến Ayudhya trở nên yếu ớt Cho đến tháng 4/1767, thành phố bị thất thủ và kẻ thù bắt đầu triệt hạ sức mạnh của nhà nước Thái, giai cấp thống trị của Ayudhya bị tiêu diệt Cũng chính trong thời
kì khủng hoảng này đã xuất hiện hai nhà chỉ huy quân sự Thái xuất sắc là Taksin
và viên tướng chỉ huy của ông là Chaophraya Chakri Năm 1770, Taksin xây dựng lại một đế quốc, bao gồm cả Chiêng Mai ở phía Bắc Tuy nhiên, những năm sau
đó Takisin đã trở nên chuyên quyền Năm 1782 với cuộc đảo chính trong nước, Taksin đã bị phế truất và xử tử Những người lãnh đạo cuộc đảo chính đã mời Chaophraya lên ngôi
Từ năm 1782 - 1809 là sự trị vì của Rama I Ông là người có tài quân sự, quản lí và trí tuệ Sau khi lên ngôi Rama I đã xây dựng kinh đô mới Bangkok Vào năm 1782, nó đã sớm trở thành một cảng quốc tế quan trọng “Như vậy triều đình Bangkok đã bước vào thế kỉ XIX với một trí tuệ sắc sảo và một nền văn hóa phong phú.” [31; 236] Sau này những người kế tục Rama I là Rama II, III, IV đã tiến hành cải tổ Bangkok theo hướng phương Tây
Tuy nhiên, việc “Hiện đại hóa” Vương quốc chỉ thật sự bắt đầu vào thời kì
ChulalongKorn, con trai của Rama V “Năm 1783, lúc 21 tuổi ông tuyên bố một số cải cách luật pháp và tài chính làm giới bảo thủ hoảng hốt và gây ra cuộc đảo chính năm 1784… Ông lại tiếp tục thực hiện một chiến lược được tuyên bố vào năm 1783 nhằm xóa bỏ dần chế độ nô lệ.” [31; 238] Từ đó chế độ nô lệ biến mất
trong những thập niên kế tiếp Sau đó, ông dần dần không dùng lao dịch, mà thay
Trang 10bằng thuế thân Bên cạnh đó, ông thực hiện cải tổ lớn về chính phủ giữa năm
1880 “Các ban hoạt động theo từng chức năng bắt đầu xuất hiện Nội các chính phủ được thành lập trong thời gian từ 1888 - 1892.” [31; 238] Sau đó ông tiếp tục
công cuộc hiện đại hóa đất nước của mình cho đến khi ông mất vào năm 1910
Từ năm 1910 - 1932, Thái Lan bước vào giai đoạn suy tàn của chế độ quân chủ Ngay dưới triều vua Rama VI - Vajiravudh thì đã nổi lên sự bất mãn với công cuộc hiện đại hóa mập mờ và sự lệ thuộc kinh tế của Thái Lan đã gia tăng trong các tầng lớp nhân dân Cho nên từ giai đoạn 1932 - 1948 với việc suy tàn của chế
độ quân chủ thì đã dẫn đến sự hình thành của chính quyền quân sự Từ năm 1932 thì quân đội đã nắm chính quyền Các chính quyền liên tiếp do quân đội thống trị
đã tiếp tục công cuộc hiện đại hóa, phát triển kinh tế và mở rộng giáo dục cùng các dịch vụ khác
Từ năm 1933 với sự xuất hiện của Phibun Songkhram - năm 1934 trở thành
Bộ trưởng quốc phòng Phibun đã thi hành một loạt các chính sách đối nội, đối ngoại nhằm thay đổi kinh tế, xã hội Với những chính sách này của Phibun đã có ảnh hưởng lâu dài đối với đất nước Thái Lan Cũng từ đây các mối quan hệ của Thái Lan với các nước châu Á và phương Tây bắt đầu Đặc biệt trong đó là mối quan hệ đồng minh quân sự với Nhật Bản (1/1942), quan hệ đồng minh với Mĩ dưới thời thủ tướng Thanom Kittikahchorn Lịch sử Thái Lan bước vào những biến cố mới
1.2.2 Vài nét về văn hóa
Mặc dù ở Thái Lan có sự hiện diện của nền văn hóa thế giới ở các thành phố và một số vùng nông thôn, nhưng cuộc sống xã hội và thậm chí cả cuộc sống nghề nghiệp vẫn được định hình bằng sự tuân thủ những giá trị và những quy tắc ứng xử có gốc rễ sâu xa trong truyền thống của Thái Lan
Những lối sống của người Thái vẫn được duy trì, đó là người Thái tin tưởng vào “cung cách Thái” - điều này có nghĩa là dù có chuyện gì xảy ra đi nữa, thì vẫn phải duy trì được sự hài hòa, là cái cần thiết để đảm bảo cho một cuộc sống tốt đẹp Những nguyên tắc lí tưởng như tính khiêm tốn, lịch thiệp, tôn trọng và phục
Trang 11tùng là những nguyên tắc được nhấn mạnh trong mọi giai đoạn dưỡng dục của người Thái và là nguyên tắc quan trọng trong tất cả các ứng xử xã hội của họ Như vậy, văn hóa ứng xử của người Thái Lan rất được chú ý, người Thái Lan rất quan tâm đến các mối quan hệ trong xã hội Khi tiếp xúc với những người có địa vị cao hơn hay thấp hơn thì phải biết cách nói năng cho chính đáng, sử dụng những cử chỉ điệu bộ thích hợp và những hành động phù hợp với những tình huống xã hội nhất định Trong mối quan hệ xã hội thì quan hệ gia đình rất được coi trọng Những mối quan hệ trong gia đình dựa vào việc con cái phải tôn trọng và vâng lời ông bà, cha mẹ và phải khiêm cung trước họ
Ở Thái Lan, tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của người Thái Trong đó đạo Phật được xem là một trong ba “trụ cột” chính của đất nước này
H 3 Kiến trúc Phật giáo ở Thái Lan
Các nhà sư tham gia vào mọi hoạt động sinh hoạt của cuộc sống con người Thái Lan, kể cả những việc tụng kinh cầu phúc cho các tòa nhà đang được xây dựng Người Thái thường đi đến các đền chùa bất cứ lúc nào họ muốn hay trong trường hợp cấp bách cần phải được cầu đức Phật Ngoài đạo Phật ở Thái Lan còn tồn tại nhiều tôn giáo khác như Thiên chúa giáo, đạo Hồi… Bên cạnh đó các tín ngưỡng riêng vẫn được duy trì tại những bộ tộc miền núi
Trang 12Thái Lan còn có một nền nghệ thuật phong phú và đa dạng Trước hết là về văn học, những câu chuyện dân gian được người Thái sáng tác và lưu truyền sâu
rộng trong nhân dân, “Nhất là về những chiến công siêu phàm, những chàng phiêu lưu lãng mạn, những cô gái xinh đẹp không nơi nương tựa.” [20; 134] Ngoài ra
còn có nhiều bài thơ tiếng Phạn và tiếng Pali
Cùng với sự phát triển của Phật giáo thì kiến trúc Phật giáo cũng được phát triển Đó là những khối nhà và những ngọn tháp có kiến trúc độc đáo Nghệ thuật
và nghề thủ công mĩ nghệ cũng được hưởng lợi từ khát khao của dân chúng muốn tạo ra kiến trúc tôn giáo thật đẹp đẽ Và có lẽ lôi cuốn nhất trong tất cả các loại hình nghệ thuật đền chùa là những bức họa tôn giáo và lịch sử Những bức tranh như thế cho người ta biết được nhiều điều về đất nước Thái Lan của những thế kỉ
đã qua
Ở Thái Lan bên cạnh việc phát triển nghệ thuật kiến trúc, thì loại hình nghệ thuật sân khấu cũng được phát triển Trong đó kịch múa là một môn nghệ thuật biểu diễn lôi cuốn nhất vào đầu triều đại vua Chakri Nó đặc biệt vì do Hoàng gia
Trang 13Các lễ hội này là thời gian mà người dân Thái Lan được nghỉ ngơi, vui chơi vui vẻ
Văn hóa ẩm thực Thái Lan cũng rất hấp dẫn Bên cạnh những cách thức nấu
ăn địa phương, ẩm thực Thái còn là sự kết hợp những ảnh hưởng của Trung Quốc
và Ấn Độ
H 6 Lẩu Thái
Phong cách ăn uống truyền thống của người Thái Lan vẫn được lưu giữ Đó
là người Thái ăn cơm theo kiểu ngồi thành một vòng tròn, xung quanh có một bàn nhỏ
Như vậy, ta có thể thấy văn hóa Thái Lan rất phong phú Bên cạnh việc tiếp nhận những giá trị hiện đại, thì Thái Lan vẫn lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống Đặc biệt là những giá trị của những quy tắc ứng xử có từ lâu đời Hơn nữa đối với đất nước Thái Lan thì đạo Phật là một trong ba “trụ cột” chính của họ Nên các lĩnh vực văn hóa từ đời sống xã hội, nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật sân khấu
hay là những lễ hội Thái Lan đều chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Phật giáo “Về mặt văn hóa, dân Thái khá đồng nhất, không có vết rạn nứt nghiêm trọng nào về địa lí, dân tộc, ngôn ngữ hay tôn giáo đe dọa đến sự cố kết quốc gia.” [31; 228]
Trang 141.3 Chính sách đối ngoại của Vương quốc Thái Lan sau Chiến tranh thế giới thứ hai
Thái Lan sau Chiến tranh thế giới thứ hai có nhiều bất ổn về tình hình chính trị với sự thay thế của những nhà cầm quyền khác nhau Vì vậy chính sách đối ngoại của Thái Lan qua từng thời kì cũng có sự khác nhau
Trong những năm 1946 - 1947 Thái Lan có những chính sách đối ngoại tiến
bộ như chính phủ của Priđi Panômiêng đã thi hành chính sách ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Dương và Đông Nam Á Khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Đông Dương, các nhà lãnh đạo của phong trào cách mạng Lào, bao gồm cả Hoàng thân Xuphanuvông, cũng như các nhà lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc ở Campuchia, đều được chính quyền Thái Lan tiếp đón, giúp đỡ Mùa thu năm 1947 liên minh các dân tộc Đông Nam Á đã được thành lập tại Bangkok, mà một trong những thành viên sáng lập là Priđi Panômiêng Đường lối chính trị mà chính phủ Priđi Panômiêng thực hiện nói lên khuynh hướng dân chủ của nó Tuy nhiên, chính phủ này không có được chỗ dựa rộng rãi trong nhân dân, đặc biệt là sự tấn công của những phần tử đối lập với nền dân chủ Vì vậy, tháng 8 năm 1946 chính phủ của ông phải từ chức, Priđi Panômiêng chuyển chính quyền lại cho đô đốc Thamrông Navasavát Dưới thời chính phủ Thamrông Navasavát, đạo luật chống cộng sản ban hành năm 1933 đã được xóa bỏ, Thái Lan thiết lập quan hệ với Liên Xô, và gia nhập Liên Hiệp Quốc vào ngày 12/12/1946 Nhưng trong điều kiện các thế lực cực hữu nổi lên và được tập hợp lại với sự ủng hộ trực tiếp của Mĩ, chính phủ “quá độ” của Thamrông Navasavát cũng không tồn tại được lâu Và từ năm 1947 - 1957, Thái Lan lại bước vào giai đoạn độc tài quân sự của tướng Phibun Songkram Ngày 8/4/1948, một chính phủ mới đã được thành lập đứng đầu là Phibun Songkram đánh dấu một lần nữa, nền độc tài quân sự lại được thiết lập ở Thái Lan dưới sự cầm quyền của viên tướng 50 tuổi này Trong khoảng thời gian gần 10 năm cầm quyền (4/1948 - 9/1957) Phibun Songkram đã thi hành các chính sách đối nội, đối ngoại có tính chất quân phiệt, độc tài Chính quyền Phibun Songkram thi hành đường lối đối ngoại là ngả hẳn về phía Mĩ, tức là
Trang 15nguyên tắc dựa vào “người bạn mạnh” trong ngoại giao Nhóm đảo chính của Phibun Songkram là sự đại diện cho quyền lợi của khoảng 400 gia đình “thượng lưu” ở Thái Lan khi đó, đã tìm thấy chố dựa mới của mình ở bên ngoài là Mĩ
“Năm 1950, là năm đánh dấu việc chính quyền độc tài của Phibun Songkram theo
Mĩ trong quan hệ quốc tế” [23; 211]
Tháng 6/1950 chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, chính quyền Phibun Songkram là một trong những chính phủ đầu tiên đáp lại lời hô hào của Mĩ trong việc quốc tế hóa cuộc chiến tranh Triều Tiên, gửi 4.000 binh lính Thái Lan sang chiến trường Triều Tiên Đối với Lào, nếu trước đây chính phủ Priđi Panômiêng rất có thiện cảm với phong trào giải phóng dân tộc ở đây, thì từ khi Pathet Lào giành được quyền chủ động ở Trung và Hạ Lào năm 1953, Phibun Songkram đã đưa ra đề nghị thành lập “Khối phòng thủ Phật giáo chống cộng” với nhà cầm quyền ở Viên Chăn và Phnôm Pênh Sau đó nhà cầm quyền Bangkok đã tỏ ý sẵn sàng đưa quân sang Lào (1954), và bao vây kinh tế Lào Nhưng kết quả của phong trào giải phóng dân tộc ở Lào, và hội nghị Giơnevơ về Đông Dương năm 1954 đã ngăn cản nhiều ý đồ của Bangkok và Mĩ
Năm 1951 Thái Lan đã thi hành chính sách cấm vận đối với các nước xã hội chủ nghĩa Đặc biệt ngày 8/9/1954, Thái Lan đã kí hiệp ước Manila tham gia khối quân sự Đông Nam Á (SEATO) Trụ sở của khối SEATO được đặt tại Bangkok và sĩ quan cao cấp Thái Lan làm Tổng thư kí
Như vậy, chính sách đối ngoại của Thái Lan sau Chiến tranh thế giới thứ hai có sự thay đổi theo hướng quay lưng lại với những tiến bộ xã hội Điều này thể hiện rõ trong các hành động của chính phủ Thái Lan, từ chỗ ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân thế giới, trực tiếp là nhân dân Đông Dương, quan
hệ tốt với Liên Xô, Trung Quốc Sau cuộc đảo chính tháng 11/1947, Thái Lan nghiêng hẳn về phía Mĩ, ủng hộ Mĩ trong việc thực hiện “chiến lược toàn cầu” ,
để đổi lại các khoản viên trợ lớn về kinh tế, quân sự Điều này lí giải vì sao Thái Lan trở thành một nước chư hầu, thành đồng minh của Mĩ trong cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam
Trang 16Chương 2: Thái Lan và cuộc chiến tranh xâm lược miền
Nam Việt Nam của Mĩ (1965 - 1973)
2.1 Cơ sở để xây dựng mối quan hệ đồng minh Mĩ - Thái Lan sau Chiến tranh thế giới thứ hai
2.1.1 Thái Lan được trao trả độc lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai
Từ cuối thế kỉ XIX, Thái Lan trở thành “nước đệm” của hệ thống thuộc địa Anh và Pháp, nhờ sự phát triển tương đối hơn so với các quốc gia Đông Nam Á khác và nhờ chính sách ngoại giao khôn khéo, những cải cách kịp thời nên Thái Lan vẫn giữ được nền độc lập về chính trị, không trở thành thuộc địa của các cường quốc tư bản phương Tây Song trên thực tế thực dân Anh là kẻ đã có rất nhiều quyền lợi ở Thái Lan trong thời kì bấy giờ
Cuộc Chiến tranh thế giới nổ ra vào tháng 9/1939, trục phát xít đã nhanh chóng thu được nhiều thắng lợi ở chiến trường châu Âu và châu Á - Thái Bình Dương Năm 1940, phát xít Nhật vào Đông Dương Trước sức mạnh của quân đội Nhật và mong muốn loại bỏ ảnh hưởng của Anh, Pháp, lấy lại những phần đất đã
bị mất, Chính phủ Thái Lan đưa ra chính sách “nghiêng hẳn về phía Nhật”
[11;129] Ngày 11/12/1941, Chính phủ Thái Lan kí với Nhật hiệp ước liên minh bí mật tại Tokyo, theo đó Nhật Bản giúp Thái Lan lấy lại những lãnh thổ đã bị mất vào tay bọn thực dân Anh, Pháp, đổi lại Thái Lan phải giúp đỡ Nhật Bản trong cuộc chiến chống lại Đồng minh
Như vậy kể từ đây đến khi cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Thái Lan là lực lượng thuộc trục phát xít để chống lại quân Đồng minh
Tháng 12/1942 Nhật đưa quân vào đất Thái, quân đội Thái Lan “chỉ chống
cự một cách yếu ớt và mang tính tượng trưng” [11;130] Cũng trong thời gian này
Thái Lan tuyên chiến với Anh, Mĩ Tháng 10/1942, Thái Lan tuyên chiến với Pháp Thông qua các cuộc chiến này, Thái Lan lấy lại được những quyền lợi đã bị mất vào tay Anh và Pháp trước đây, lấy lại được vùng đất phía hữu ngạn sông Mê
Trang 17Công và miền Tây Campuchia từ tay Pháp, lấy lại 4 bang của Mã Lai từ tay thực dân Anh là Kedah, Kelantan, Trengganu và Perlis
Có thể nói, bằng đường lối ngoại giao “hợp thời” của mình, Chính phủ Thái Lan đã thu lại được rất nhiều quyền lợi của quốc gia, dân tộc Tuy nhiên sau đó không lâu, số phận đất nước Thái Lan lại chịu sự phán xét của các cường quốc tư bản phương Tây Tháng 8/1945, phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, Thái Lan mất
đi chỗ dựa và bị Anh, Pháp coi là thuộc trục phát xít
Sau hội nghị Ianta, theo điều khoản Hội nghị thì Anh được quyền giải giáp quân Nhật ở phía Nam, trong đó có vùng Đông Nam châu Á, thêm vào đó các cường quốc Liên Xô, Mĩ phân chia phạm vi ảnh hưởng, những vùng còn lại giữ nguyên vị trí Như vậy, Anh và Pháp có quyền quay lại Thái Lan sau chiến tranh,
họ đòi những vùng đất mà Thái Lan đã chiếm từ tay họ trong chiến tranh Tuy nhiên, Mĩ lại không chấp nhận điều này, quan điểm của Mĩ lại hoàn toàn khác, Mĩ
cho rằng “Thái Lan không phải là nước đứng trong trục phát xít, không phải là lực lượng chống lại Đồng minh mà chỉ là một nước bị Nhật chiếm đóng” [11; 130]
Sở dĩ Mĩ có thể đưa ra những quan điểm khác Anh như vậy, theo chúng tôi thì có một số lí do sau đây:
Thứ nhất, sau chiến tranh thế giới thứ II, Mĩ là một cường quốc tư bản
mạnh nhất thế giới, các quốc gia khác là con nợ, phụ thuộc vào Mĩ nên rõ ràng tiếng nói của Mĩ có trọng lượng hơn rất nhiều so với các nước này trên trường quốc tế, Mĩ có thể can thiệp vào các vấn đề quốc tế một cách dễ dàng
Thứ hai, Mĩ không muốn để cho Anh có quyền lợi ở khu vực Đông Nam Á
và có tầm ảnh hưởng lớn ở khu vực này Vì vậy Mĩ dựa trên thế lực kinh tế, quân
sự của mình đã gạt ảnh hưởng của Anh ra khỏi Thái Lan
Thứ ba, trong chính sách đối ngoại của mình Mĩ muốn thực hiện “chiến
lược toàn cầu”, mở rộng ảnh hưởng của mình khắp thế giới, tiêu diệt phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, tiêu diệt chủ nghĩa xã hội Để ngăn chặn ảnh hưởng của cộng sản ở Đông Nam Á, Mĩ đã coi Thái Lan là một trong những chỗ dựa, một đồng minh của mình ở khu vực này
Trang 18Vì vậy, Mĩ đã can thiệp vào Thái Lan từ rất sớm, điều này đã giúp cho nền độc lập của Thái Lan được giữ vững trước âm mưu quay lại của Anh, kể từ đây quan hệ Mĩ - Thái Lan cũng bắt đầu có bước chuyển tốt đẹp
2.1.2 Thái Lan từng bước phụ thuộc vào Mĩ
Nền độc lập của Thái Lan có được sau chiến tranh là nhờ một phần công lao to lớn của nước Mĩ, nhờ sự can thiệp của Mĩ, chính điều này đã mở ra quan hệ tốt đẹp Mĩ - Thái Lan, và cũng là tiền đề, điều kiện cho Mĩ thâm nhập ngày càng sâu vào Thái Lan, đầu tư vào Thái Lan ngày càng nhiều
Về mặt chính trị, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Chính phủ Thái Lan liên tục thay đổi Trong thời gian 1945 - 1947, Chính quyền Thái Lan do Priđi Panômiêng và sau đó là Thamrông Navasavát đứng đầu đã có nhiều chính cách tiến bộ, dân chủ như xóa bỏ Đạo luật chống cộng sản (ban hành năm 1933), đặt quan hệ ngoại giao với Liên Xô và gia nhập Liên Hợp quốc (tháng 12/1946) Trước tình hình đó, để ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội, Mĩ đã giúp đỡ nhóm quân sự do Phibun Songkram lãnh đạo thực hiện cuộc đảo chính đêm 8/11/1947 lật đổ chính phủ Thamrông Navasavát Kể từ đây, nền chính trị Thái Lan do phái quân sự nắm giữ Trước phong trào dân chủ đang phát triển mạnh mẽ,
tình hình chính trị bất ổn và tiềm lực đất nước yếu kém, Phibun đã “chọn con đường dựa vào sức mạnh kinh tế, quân sự của các cường quốc tư bản, trước nhất
là Mĩ, để vượt qua những khó khăn trước mắt và cho sự phát triển lâu dài của đất nước” [11; 133]
Trong những năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến thập niên 60 của thế
kỉ XX, quan hệ chính trị Mĩ - Thái Lan ngày càng thắt chặt và hai bên đã kí kết rất nhiều Hiệp định tương trợ Cùng với đó, ngày 6/3/1962 trong cuộc họp cấp Bộ trưởng ngoại giao Mĩ - Thái Lan để bàn về tình hình khu vực Đông Nam Á và nền
an ninh của Thái Lan, ngoại trưởng Mĩ Đin Raxcơ và Bộ trưởng ngoại giao Thái
Lan Thanat Khoman ra tuyên bố chung, trong đó khẳng định: “Mĩ coi việc bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Thái Lan là vấn đề sống còn đối với quyền lợi quốc gia và với nền hòa bình thế giới” [11; 137]
Trang 19Như vậy, với tư cách là một cường quốc hùng mạnh, Mĩ đã thâm nhập sâu vào nền chính trị Thái Lan, thực chất của việc thâm nhập này là lôi kéo, buộc Thái Lan phụ thuộc Mĩ, trở thành đồng minh của Mĩ
Về quân sự, ngày 17/10/1950, Hiệp ước tương trợ quân sự Mĩ - Thái được
kí kết, đến cuối năm 1951, cơ quan đại diện an ninh và hợp tác Mĩ - Thái được thành lập nhằm thúc đẩy chương trình “Viện trợ kinh tế, kĩ thuật và quân sự” giữa hai nước Và năm 1954, chính phủ Thái Lan kí Hiệp ước Manila, trở thành thành viên khối quân sự Đông Nam Á (SEATO)
Theo mối quan hệ tương trợ này, nguồn viện trợ quân sự của Mĩ cho Thái Lan từ năm 1951 đến năm 1958 tăng lên nhanh chóng, cụ thể: năm 1951 Mĩ viện trợ cho quân đội Thái Lan 4,5 triệu đô la, đến năm 1953 là 22,7 triệu đô la và sang năm 1958 là 26,1 triệu đô la Riêng trong thời kì 1954 - 1956 có tới 130 triệu đô la
Mĩ viện trợ cho Thái Lan để phát triển quân sự [11; 135]
Hiệp định tương trợ song phương Mĩ - Thái Lan được kí kết năm 1962 đã
tăng nguồn viện trợ của Mĩ cho Thái Lan một cách nhanh chóng, “theo số liệu thống kê, trong giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1971, viện trợ quân sự của Mĩ cho Thái Lan lên tới 756,6 triệu đô la Mĩ, tăng hơn gấp hai lần so với giai đoạn từ năm 1951 đến năm 1960” [11; 137]
Về kinh tế, thông qua các Hiệp ước tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau như Hiệp ước kinh tế - kĩ thuật tháng 9/1950… thì viện trợ kinh tế của Mĩ cho Thái Lan
cũng không ngừng tăng lên Nếu “trong thời gian 1950 - 1956, tổng số tiền viện trợ của Mĩ là 104,6 triệu USD thì đến năm 1957 - 1965 là 294 triệu USD Đáng chú ý là sau 1965, khi Thái Lan tham gia chiến tranh xâm lược Việt Nam thì số viện trợ càng tăng nhanh: 1966: 56 triệu USD, 1967: 77 triệu USD, 1968: 100 triệu USD” [11;34]
Như vậy, bằng cách viện trợ kinh tế, quân sự Mĩ dần dần đưa Thái Lan vào
kế hoạch quân sự do mình đặt ra Mặc dù nền kinh tế và quân đội Thái Lan có bước phát triển mạnh so với trước, nhưng đổi lại Thái Lan từng bước phụ thuộc vào Mĩ Mở đầu cho sự phụ thuộc đó là Thái Lan để cho Mĩ can thiệp vào nội bộ
Trang 20của mình, giúp Phibun thực hiện cuộc đảo chính, điều này có thể nói quyền tự tôn dân tộc và quyền dân tộc tự quyết của Thái Lan bị xâm hại nghiêm trọng
Tiếp theo là bằng các khoản viện trợ của mình, Mĩ buộc Thái Lan xây dựng lực lượng quân sự theo cơ cấu của Mĩ, buộc Thái Lan phải đi theo đường lối
“chống cộng” và lôi kéo Thái Lan tham gia Khối phòng thủ Đông Nam Á Không
những thế, Thái Lan còn phải nhượng đất để cho Mĩ xây dựng các căn cứ quân sự, xây dựng sân bay, bến cảng và đóng quân trên lãnh thổ đất nước mình
Rõ ràng việc để cho nước ngoài xây dựng căn cứ và đóng quân trên lãnh thổ quốc gia là một điều tối kị không thể chấp nhận được, cho dù mối quan hệ song phương có tốt đến bao nhiêu Thế nhưng chính phủ Thái Lan buộc phải để điều đó xảy ra mặc cho phong trào phản đối của nhân dân nổ ra mạnh mẽ
Cao hơn hết là Thái Lan buộc phải “chia sẻ trách nhiệm” với Mĩ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam Năm 1965, Thái Lan với tư cách là đồng minh của Mĩ đã đem quân sang xâm lược miền Nam Việt Nam Tháng 3/1967, một bộ phận sư đoàn “Mãng xà vương” gồm 2300 lính được điều sang miền Nam Việt Nam Cuối 1968, số binh lính Thái Lan ở chiến trường Việt Nam lên đến 5000 người Tháng 7/1968, quân đoàn “Báo đen” cũng được đưa sang tham chiến tại Việt Nam Cũng vì việc làm này gây cho Thái Lan một tình hình chính trị bất ổn nghiêm trọng, đó là sự thay đổi nội các liên tục, phong trào phản đối của nhân dân bùng lên mạnh mẽ Trong những năm 60, đã có những tổ chức chủ trương tiến hành đấu tranh vũ trang chống nền độc tài quân sự: Tổ chức “Mặt trận yêu nước Thái Lan” chủ trương tiến hành đấu tranh vũ trang từ năm 1965 đến năm 1968, quân du kích đã nổi dậy ở nhiều nơi, đặc biệt là họ tấn công vào sân bay Uđontani (tháng 8/1968) Phối hợp đấu tranh là các tầng lớp trong xã hội Từ những năm
70, sinh viên Thái Lan đã liên tiếp tổ chức đấu tranh chính trị, lôi kéo các tầng lớp khác trong xã hội tham gia Riêng năm 1972 có 55 cuộc đấu tranh, năm 1973 có
128 cuộc bãi công với sự tham gia của 30 nghìn công nhân, viên chức… [11;34]
2.1.3 Thái Lan tham gia khối quân sự SEATO do Mĩ đứng đầu
Trang 21Sau mối quan hệ Mĩ - Thái Lan ngày một thắt chặt, và bằng các viện trợ quân sự, Mĩ đã đưa Thái Lan vào trong kế hoạch phòng thủ Đông Nam Á của mình Tại Hội nghị Manila (Philippin) gồm 8 nước Mỹ, Anh, Pháp, Ốxtrâylia, Niu Dilân, Pakixtan, Thái Lan, Philíppin vào ngày 8/9/1954 đã kí hết Hiệp ước Manila Nội dung căn bản của bản hiệp ước này là việc thành lập “Tổ chức Hiệp ước phòng thủ Đông Nam Á” (The Southeast Asia Treaty Organization - SEATO) do
Mĩ đứng đầu, đặt trụ sở chính ở thủ đô Bangkok (Thái Lan) Khối SEATO được coi là chỗ dựa chủ yếu để giữ cho quân cờ Đôminô Nam Việt Nam không bị sụp
đổ Những người sáng lập Tổ chức hiệp ước phòng thủ tập thể Đông Nam Á cố tìm cách che đậy mục đích và hành động xâm lược của các nước đế quốc bằng những lời lẽ có vẻ rất thiện chí như “phòng thủ tập thể”, “bảo vệ hòa bình và an ninh” Với lớp hỏa mù “phòng thủ” đó, bất kì một phong trào đấu tranh nào của
nhân dân các nước cũng có thể bị coi là “hoạt động phá hoại được điều khiển từ bên ngoài” [11; 20] và là cái cớ cho các nước đế quốc can thiệp Nhưng thực chất
đây là khối quân sự - chính trị nhằm chống lại phong trào giải phóng dân tộc và các lực lượng tiến bộ ở khu vực Đông Nam Á Theo điều khoản của hiệp ước, các thành viên của khối SEATO có trách nhiệm giúp đỡ lẫn nhau trong trường hợp một nước bị tấn công hay có “nguy cơ bị tấn công” Không những thế, bản hiệp ước còn cho phép các nước này tiến hành các hoạt động quân sự ngoài khu vực của các nước thành viên Các nước tham gia hiệp ước còn ký một văn kiện bổ sung cho phép thực hiện các điều khoản của Hiệp ước ở miền Nam Việt Nam, Lào, Campuchia, điều này đã vi phạm trắng trợn các nghị quyết của Hội nghị Giơnevơ năm 1954
Tổ chức này mang tên “Tổ chức Hiệp ước phòng thủ Đông Nam Á”, nhưng
nó chỉ có hai quốc gia Đông Nam Á tham gia là Thái Lan và Philippin Việc Thái Lan tham gia tổ chức này một phần dựa trên mối quan hệ Mĩ - Thái Lan ngày càng chặt chẽ, Thái Lan bị ràng buộc, bị phụ thuộc vào Mĩ; một phần Thái Lan mong muốn tiêu diệt được Đảng cộng sản trên lãnh thổ nước mình, mong muốn lập được công lớn trong sự nghiệp chống cộng sản
Trang 22Mặc dù không có quân đội riêng nhưng hàng năm SEATO tổ chức nhiều cuộc tập trận, tích cực ủng hộ và can thiệp trực tiếp vào cuộc chiến tranh của Mỹ ở Đông Dương Do những mâu thuẫn trong nội bộ các nước thành viên, năm 1976 khối SEATO tự tuyên bố giải tán
Có thể thấy rõ bản chất của Mĩ khi thành lập tổ chức SEATO là để dùng lãnh thổ của các nước đồng minh xây dựng căn cứ quân sự bao vây các địa bàn chiến lược, làm bàn đạp tấn công các nước xã hội chủ nghĩa và huy động lực lượng của các nước đồng minh tham gia các cuộc chiến tranh do Mĩ phát động Có
thể thấy khối SEATO là một hiểm họa đối với các nước Châu Á, “Châu Á bị áp đặt khối SEATO, một khối khiến họ lo ngại rằng họ có thể bị lôi kéo vào chiến tranh nhiều hơn là đem lại cho họ cảm giác an ninh.” [11;23]
2.1.4 Sự phát triển về kinh tế, quân sự của Thái Lan sau Chiến tranh thế giới thứ hai
Những khoản viện trợ của Mĩ cho Thái Lan trong những thập niên sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã làm cho Thái Lan phụ thuộc chặt chẽ vào Mĩ Tuy nhiên, cũng nhờ đó và nhờ vào các chính sách kinh tế hợp lí mà nền kinh tế, quân
sự Thái Lan sau chiến tranh phát triển một cách nhanh chóng
Trên lĩnh vực kinh tế, sau Chiến tranh thế giới thứ hai Thái Lan là “một nước nông nghiệp lạc hậu với tỉ trọng công nghiệp chỉ chiếm hơn 4%, thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt khoảng 80 đô la Mĩ/năm” [28; 350] Năm 1947,
chính phủ Thái Lan đã điều đình để Mĩ mua dự trữ vàng của Thái Lan ở ngân hàng
dự trữ Niu-oóc để chính phủ có thêm chi phí Năm 1949, Thái Lan tham gia vào quĩ tiền tệ quốc tế và ngân hàng phát triển châu Á Nhiều cơ quan kinh tế mới được thành lập: Hội đồng kinh tế quốc gia (1950), Ủy ban hợp tác khoa học kĩ thuật (1951), Cục thống kê trung ương (1953), Cục thu nhập quốc dân (1954),…
Về công nghiệp, đầu năm 1952, Hội đồng kinh tế quốc gia Thái Lan đã đề
ra chương trình phát triển nền công nghiệp dân tộc, với tổng dự chi khoảng 2 tỉ bạt, và cuối năm đó, Quốc hội Thái Lan đã thông qua kế hoạch 5 năm phát triển công nghiệp (1953 - 1957) với số vốn khoảng 840 triệu bạt [26; 208] Nhờ vậy,
Trang 23đến cuối thập niên 50, đầu thập niên 60 nền kinh tế Thái Lan đã có bước đột phá
quan trọng, “các ngành công nghiệp chiếm tỉ trọng đáng kể trong nền kinh tế quốc dân, đời sống nhân dân được nâng cao, tỉ lệ lạm phát chỉ ở mức 2%/ năm” [29;
350]
Năm 1963, Thái Lan có 20.600 xí nghiệp, con số này tiếp tục tăng đến năm
1968 là 164.000 xí nghiệp Nhà nước đã thực hiện các kế hoạch năm năm phát triển kinh tế toàn diện và thu được nhiều thành tựu rực rỡ Trong kế hoạch năm năm lần thứ nhất (1961 - 1966), Thái Lan không chỉ phát triển công nghiệp nhẹ mà
đã bắt đầu xây dựng công nghiệp nặng Năm 1964, nhà máy hóa dầu đầu tiên được xây dựng, năm 1965 nhà máy luyện thiếc lớn cũng được thiết lập
Trong kế hoạch kinh tế năm năm lần thứ hai (1967 - 1971), Thái Lan đạt mức tăng trưởng hàng năm ổn định và lên tới 9,2%, đến năm 1970 Thái Lan trở thành nước đứng thứ hai thế giới về sản xuất thiếc [26; 223]
Trong nông nghiệp, “nhà nước đã hỗ trợ vốn cho nông dân bằng cách vay tiền của các ngân hàng rồi cho nông dân vay lại với lãi suất thấp Tới cuối năm
1966, nhà nước đã vay của các ngân hàng 688 triệu bạt để cho nông dân vay lại, bình quân cứ mỗi hộ nông dân được vay khoảng 150 bạt/năm” [26; 233] Với số
vốn như trên, người nông dân Thái Lan đã có thể đầu tư vào để phát triển nông nghiệp Đồng thời việc cơ khí hóa nông nghiệp cũng được đẩy mạnh, nhà nước còn khuyến khích nhân dân chuyển dần từ nền nông nghiệp độc canh sang nền nông nghiệp đa canh theo lối hàng hóa Chính phủ Thái Lan chủ động lập những
đội phát triển cơ động, “mỗi đội khoảng 120 người bao gồm nhân viên quân sự, dân sự, đại diện của các bộ trong chính phủ” [26; 223] để giúp đỡ nông dân sản
xuất, phát triển giáo dục, y tế và xây dựng các cơ sở vật chất
Nhờ các chính sách phát triển nông nghiệp này, đến năm 1963, “toàn Thái Lan có 1.468 máy cày, 7% dùng máy móc động cơ điện, 37% số hộ nông dân dùng phân hóa học Diện tích tưới tiêu đã tăng từ 980 vạn rai (1961) lên 1.170 vạn rai ( ² )
(1966)” [26; 223] Các sản phẩm nông nghiệp trở nên đa dạng, từ chỗ chỉ có gạo
và cao su đã được bổ sung thêm nhiều sản phẩm khác như ngô, sắn, kê,…
Trang 24Có thể nói, từ cuối thập niên 50 đến đầu thập niên 70 của thế kỉ XX, nền kinh tế Thái Lan có bước phát triển mạnh mẽ Nếu như trước thời kì bắt đầu chiến lược phát triển mới (chiến lược phát triển công nghiệp năm 1953), nông nghiệp còn chiếm 60% tổng sản phẩm quốc dân, thì 10 năm sau, tỉ lệ đó chỉ còn là 30% Trong khi đó, tỉ lệ của công nghiệp và dịch vụ trong toàn sản phẩm quốc dân từ 12% và 28% tăng lên, tương ứng là 15% và 31% [26; 224]
Những thành tựu về kinh tế của Thái Lan sau Chiến tranh thế giới thứ hai là
rất to lớn, nó đã được thế giới công nhận khi đánh giá: “Ảnh hưởng của những cố gắng phát triển của chính phủ (Thái Lan) trong những năm 60 đầu 70 là rất to lớn Kế hoạch phát triển kinh tế sáu năm đã tăng nguồn thu nhập quốc dân hàng năm tới 7,6% so với 5% trong thập niên 50 Tổng sản phẩm quốc dân từ 55 tỉ bạt vào năm 1961 lên tới 97 tỉ bạt vào 1966 Dự trữ vàng và ngoại tệ tăng 15% mỗi năm Đồng bạt trở thành một trong những đồng tiền ổn định nhất thế giới ” [22;
50]
Như vậy, nền kinh tế Thái Lan từ thập niên 50 đến thập niên 70 của thế kỉ
XX luôn luôn thu được nhiều thành tựu to lớn Chính những thành tựu này đã đưa Thái Lan trở thành một quốc gia lớn mạnh trong khu vực Đông Nam Á Tuy nhiên, bước phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đó lại nhờ một phần rất lớn vào các nhà tư bản nước ngoài, trong đó Mĩ đóng vai trò quan trọng Vì vậy, nền kinh
tế Thái Lan bấy giờ cũng có nhiều bất cập như sự phân hóa giàu nghèo, công nghiệp chưa đáp ứng nhu cầu trong nước Đồng thời, mối quan hệ của Thái Lan với các nước tư bản ngày càng thắt chặt, giới cầm quyền tìm mọi cách ủng hộ các nước tư bản chống lại chủ nghĩa xã hội, chống lại phong trào cộng sản và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân thế giới
Về quân sự, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, quân đội Thái Lan bị phân tán
và có cơ cấu thiếu chặt chẽ, việc phân chia quyền lực không đồng đều đã dẫn tới các cuộc tranh giành giữa hải quân và lục quân vào năm 1949 và 1951 Tuy nhiên, nhờ vào các khoản viện trợ của Mĩ và các chính sách phát triển quân đội Thái Lan
Trang 25mà trong thập niên 50 trở về sau quân đội Thái Lan được cơ cấu lại và trang bị đầy
đủ hơn
Năm 1951, quân đội Thái Lan đã có đầy đủ các binh chủng, quân chủng và được trang bị các loại vũ khí tương đối hiện đại của Mĩ với 42.000 quân cơ cấu theo số lượng cụ thể là lục quân 28.000 người, hải quân 8.000 người và không quân 6.000 người Số lượng quân đội tăng nhanh trong thập niên 50 Đến năm
1958 quân đội Thái Lan gồm 86.000 người, trong đó lục quân là 50.000 người, hải quân 21.000 người và không quân là 15.000 người [11; 135]
Cùng với quân số của lực lượng quân đội là các căn cứ quân sự được xây
dựng và trang bị ngày càng đầy đủ Năm 1956, “không quân Thái Lan có tới 344 máy bay quân sự các loại, hải quân có 27 hải đội với hàng trăm tàu chiến Bên cạnh đó nhiều sân bay, quân cảng cũng được xây dựng như: sân bay Takli, căn cứ không quân Don Muang, quân cảng Ban Pak Nam, Songkhla…” [11; 135]
Trong những năm 60 của thế kỉ XX, quân số của lực lượng vũ trang Thái Lan đã tăng lên nhiều và thường xuyên duy trì ở mức cao, từ 230.000 đến 250.000 quân, trong đó có 150.000 quân chính qui, 13.000 quân đặc nhiệm, trên 65.000 quân cảnh Ngoài ra còn có khoảng 40.000 quân thuộc lực lượng bán vũ trang và trên 20.000 quân dự bị [11; 138]
Với trang bị như trên, “đến đầu những năm 50 của thế kỉ XX, quân đội Thái Lan trở thành một quân đội mạnh trong khu vực” Mặc dù vậy, sự phát triển quân đội Thái Lan sau chiến tranh tỉ lệ với số tiền viện trợ của Mĩ cho quân đội Thái Lan Điều này cho thấy Thái Lan phụ thuộc chặt chẽ vào Mĩ về mặt quân sự Vì vậy chính quyền Thái Lan phải chấp nhận để cho Mĩ xây dựng căn cứ quân sự trên lãnh thổ nước mình, và trong cuộc chiến tranh Việt Nam thì quân đội Thái Lan đã trở thành quân chư hầu của Mĩ
2.1.5 Tư tưởng “chống cộng” và tham vọng của Thái Lan
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chính phủ Thái Lan đứng đầu là Priđi Panômiêng đã thực hiện nhiều chính sách tiến bộ nhằm ủng hộ phong trào dân chủ trong nước và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các nước
Trang 26thuộc địa Ngày 10/5/1946, bản Hiến pháp mới của Thái Lan được bạn hành, theo
đó Quốc hội sẽ bao gồm hai viện là Hạ nghị viện do dân bầu ra, Thượng nghị viện
trước đây do nhà vua chỉ định thì nay cũng được bầu trực tiếp “Tất cả các công dân Thái đến độ tuổi đều có quyền bầu cử, vì điều kiện về mức thuế đối với cử tr i
đã bị bãi bỏ” [26; 202] Chính phủ ban hành các quyền dân chủ, xóa bỏ Đạo luật
chống cộng sản ban hành năm 1933
Về đối ngoại, chính phủ Thái Lan đã thiết lập quan hệ với Liên Xô, gia nhập Liên Hợp Quốc, giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc của các nước Việt
Nam, Lào và Campuchia “Bấy giờ, Việt Nam đã được Thái Lan cho phép đặt một
cơ quan đại diện chính phủ tại Bangkok Thái Lan còn giúp Việt Nam một số vũ khí đủ trang bị cho hai tiểu đoàn, giúp đỡ người Việt tản cư sang đất Thái ” [13;
Năm 1952, chính phủ Thái Lan cho khôi phục lại Đạo luật chống cộng sản
Năm 1954, Thái Lan tham gia vào Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (The Southeast Asia Treaty Organization - SEATO) với mục đích chống chủ nghĩa cộng sản qua liên minh với phương Tây và các quốc gia thân phương Tây Năm 1957, tướng Sarit Thanarat làm cuộc đảo chính lên nằm quyền lực, Thái Lan được coi là bàn đạp của Hoa Kì trong cuộc chiến chống lại phong trào cộng sản tại khu vực Đông Dương
Trang 27Năm 1959, hàng loạt đảng viên Đảng Cộng sản Thái Lan bị truy bắt Cũng trong năm này chính phủ Thái Lan còn ra lệnh cấm nhập hàng hóa Trung Quốc Năm 1960, nằm trong kế hoạch phá vỡ liên minh cộng sản Đông Dương, quân đội Thái Lan đã hành quân bí mật với quân đội Mỹ trên chiến trường Lào Thỏa hiệp mang tên Thanat-Rush được ký kết giữa Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Đin Raxcơ và
Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan Thanat Khoman vào năm 1962 nhằm xác định Hoa Kì sát cánh cùng Thái Lan chống lại các cuộc tấn công của cộng sản trong nước và từ nước ngoài Theo thỏa hiệp Hoa Kì cũng hứa viện trợ kinh tế và xã hội cho Thái Lan Quân đội Thái được Hoa Kì huấn luyện và tài trợ Đổi lại, Thái Lan cho phép bảy căn cứ Không quân Mỹ được hiện diện trên đất Thái để chống cộng sản Đông Dương
Từ những hành động trên cho thấy tư tưởng “chống cộng” của Thái Lan
ngày càng rõ ràng Khi đế quốc Mĩ tiến hành chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam Việt Nam vào tháng 3/1965, trong bài phát biểu của mình, ngoại trưởng
Thanat Khoman nói rằng: “Tình hình Việt Nam sẽ l à đối tượng quan tâm, liên quan đến chúng tôi bởi vì nếu cộng sản mà thắng lợi ở Việt Nam thì chúng tôi sẽ cảm thấy thực sự bị bao vây… Điều đó giải thích vì sao chúng tôi ủng hộ những chính sách, biện pháp mà Hoa Kì đang thực hiện… tôi nghĩ những gì Hoa Kì đang thực thi ở Việt Nam sẽ đi vào lịch sử như một quyết định dũng cảm, và biện pháp
đó không chỉ cứu Nam Việt Nam mà cả Đông Nam Á thoát khỏi ách thống trị cộng sản: nói cách khác, Đông Nam Á sẽ giành được tự do của mình về cho Hoa Kì và những binh lính Hoa Kì bây giờ đang thực hiện nhiệm vụ cao đẹp ở miền Nam Việt Nam” [13; 29]
Như vậy, thông qua những hành động, phát biểu trên thì chính phủ Thái Lan lúc bấy giờ đã thể hiện rõ tính chất phản động của mình, nhìn nhận cộng sản với con mắt kì thị, và kiên quyết chống lại phong trào cộng sản Ngay sau những tuyên bố phản động trắng trợn đó, Thái Lan trực tiếp đem quân sang tham chiến tại miền Nam Việt Nam để “chống lại sự xâm lược của cộng sản Bắc Việt”, chống lại phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và chống lại cuộc đấu tranh chính
Trang 28nghĩa của nhân dân Việt Nam nhằm lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân mới
Tư tưởng “chống cộng” của Thái Lan được hình thành dẫn đến những hành
động phản tiến bộ của nó trong những thập niên 50 đến thập niên 70 của thế kỉ XX theo chúng tôi nó xuất phát từ một số nguyên nhân sau:
Thứ nhất, trong khoảng thời gian này, Thái Lan chịu ảnh hưởng nặng nề
của thuyết Đômiô(³), là học thuyết chống lại phe chủ nghĩa xã hội, chống lại phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, cụ thể là ở khu vực Đông Nam Á
Thứ hai, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Thái Lan quan hệ chặt chẽ với Mĩ
và từng bước phụ thuộc vào Mĩ Vì vậy chính sách ngoại giao của Thái Lan là chính sách thân Mĩ
Thứ ba, việc Thái Lan nghiêng hẳn về phía Mĩ để chống lại phong trào
cộng sản xuất phát từ những tham vọng to lớn của chính quyền Thái Lan đương thời Đó là nhằm tranh thủ nguồn viện trợ to lớn của Mĩ cho Thái Lan, và đồng thời cũng hi vọng rằng nếu Mĩ giành thắng lợi trong cuộc chiến chống lại phong trào cộng sản, chống phe xã hội chủ nghĩa thì vị thế của Thái Lan sẽ được nâng lên trên trường quốc tế, trước hết là có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ trong khu vực
Về việc thực hiện tham vọng này, Thái Lan đã có một số thành công nhất định Đó là nhận được rất nhiều tiền viện trợ từ phía Mĩ để phát triển kinh tế, quân
sự Tuy nhiên, đổi lại Thái Lan bị mất rất nhiều thứ, đó là sự phụ thuộc chặt chẽ vào Mĩ, là phong trào đấu tranh của nhân dân bùng lên mạnh mẽ, là sự bất ổn về chính trị dẫn đến sự thay đổi nội các liên tục Và đặc biệt, sau thất bại của Mĩ trên chiến trường miền Nam Việt Nam thì Thái Lan bị dư luận trong nước và thế giới chỉ trích nặng nề
2.2 Thái Lan trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mĩ (1965 - 1973)
2.2.1 Ủng hộ Mĩ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam
Vào giữa những năm 60 của thế kỉ XX, khi Mĩ đưa quân vào miền Nam Việt Nam tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới, thì Thái Lan đã xóa
bỏ chính sách trung lập và không can thiệp vốn là truyền thống của nhân dân Thái
Trang 29Lan trước đây, đồng thời tham gia vào các quyết sách của Mĩ về vấn đề Việt Nam Việc Thái Lan quyết định nghiêng hẳn và ủng hộ Mĩ xuất phát từ 3 nguyên nhân:
“Thứ nhất, Thái Lan bị ràng buộc bởi hiệp ước Manila, mà họ là một thành viên
Thứ hai, họ muốn có vai trò và trách nhiệm nhiều hơn trong việc “phòng thủ” Đông Nam Á, vì Thái Lan là nước bị tác động mạnh bởi học thuyết
“Đôminô” Đối với Thái Lan, việc tham gia vào cuộc chiến tranh Việt Nam còn là
cơ hội để tranh thủ các nguồn viện trợ của Mĩ, phục vụ cho việc phát triển đất nước và hiện đại hóa quân đội
Thứ ba, Thái Lan cho rằng, nếu Mĩ dành thắng lợi trong cuộc chiến tại Việt Nam, thì sau đó, với tư cách là một nước đồng minh thắng trận, họ sẽ có tiếng nói
và vị thế mạnh hơn trong khu vực…” [11; 136]
Như vậy, suy cho cùng việc Thái Lan ủng hộ Mĩ đều xuất phát từ lợi ích của Thái Lan Đó là Thái Lan từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai rất khó khăn, nếu ủng hộ Mĩ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam thì họ sẽ nhận được sự viện trợ to lớn của Mĩ để phát triển đất nước Thái Lan đã từng bước thay đổi thái độ của mình, từng bước rút khỏi lập trường ủng hộ cách mạng Việt Nam, ngả dần về phía Mĩ
Việc ủng hộ này, trước hết được thể hiện ở chỗ, Thái Lan cũng xem Việt
Nam là kẻ thù, là mối đe dọa “Thái Lan là nước nằm cạnh Việt Nam và sẽ là mục tiêu tấn công tiếp theo của cộng sản” [13; 2]
Vào tháng 2 năm 1950, nội các Thái đã ba lần họp để cân nhắc xem việc nên công nhận chính phủ Bảo Đại hay chính phủ Hồ Chí Minh, cuối cùng vào ngày 28/2/1950, Thái Lan đã chọn giải pháp công nhận chính phủ của Bảo Đại
Sau sự kiện này, chính phủ Thái yêu cầu phía Việt Nam dân chủ Cộng hòa phải đóng cửa cơ quan đại diện của mình tại Bangkok từ tháng 12/1951, mở đầu một thời kì căng thẳng trong quan hệ Thái - Việt, cũng mở đầu các mối quan hệ đồng minh Thái - Mĩ, liên quan chặt chẽ đến cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam
Trang 30Đặc biệt vào tháng 3/1965, những đơn vị lính thủy đánh bộ đầu tiên đã đổ
bộ lên Đà Nẵng, chính thức mở màn “Chiến tranh cục bộ” mà tổng thống Johnson
hy vọng dành thắng lợi Và Thái Lan đã tỏ rõ sự ủng hộ đối với hành động của Mĩ
thông qua tuyên bố của ngoại trưởng Thanat Khorman bấy giờ “Tình hình Việt Nam sẽ còn là đối tượng quan tâm liên quan đến chúng tôi, bởi vì nếu cộng sản
mà thắng lợi ở Việt Nam thì chúng tôi sẽ cảm thấy thật sự bị bao vây… Điều đó giải thích vì sao, chúng tôi đã và đang ủng hộ chính sách, biện pháp mà Hoa Kì đang thực hiện” [13; 29].
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng Thái Lan đã ra sức ủng hộ Mĩ trong
việc tiến hành chiến tranh ở Việt Nam, và trong tư tưởng “chống cộng” Việc ủng
hộ của Thái Lan cho Mĩ không chỉ thể hiện qua lời nói mà còn qua hành động Đó chính là việc cho Mĩ đóng quân, xây dựng căn cứ ngay trên đất Thái, mà đỉnh cao
là việc đưa quân sang tham chiến cùng Mĩ tại chiến trường Nam Việt Nam
Sau sự kiện “Vịnh Bắc Bộ”, Mĩ bắt đầu leo thang chiến tranh bắn phá miền Bắc Việt Nam Trước hành động như vậy của Mĩ, các lực lượng yêu chuộng hòa bình, có cả nhân dân tiến bộ Mĩ đều phản đối Trong khi đó, các chính khách Thái
Lan lại ủng hộ hành động này của Mĩ Và “Họ đã lấy làm lo lắng khi tổng thống Johnson tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam vào ngày 31/3/1968, phó thủ tướng Thái Parapart tuyên bố rằng “… Ném bom không có gì phải nghi ngờ ngoài việc phải tăng cường hơn nữa”” [13; 30] và Thái Lan không quên nhắc nhở
người Mĩ là phải tiếp tục ném bom lãnh thổ Việt Nam
2.2.2 Cho Mĩ xây dựng căn cứ quân sự và hậu cần trên đất Thái
Thái Lan không chỉ ủng hộ Mĩ về mặt tinh thần trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, mà Thái Lan còn cho phép Mĩ xây dựng các căn cứ quân sự và hậu cần trên đất Thái
Trang 31H 7 B-52 (trên) và máy bay tiếp dầu KC-135 tại căn cứ U-Tapao, Thái Lan
Ngày 6/3/1962, sau cuộc họp cấp Bộ trưởng ngoại giao Mĩ - Thái Lan để bàn về tình hình khu vực Đông Nam Á và nền an ninh của Thái Lan, ngoại trưởng
Mĩ Đin Raxcơ và Bộ trưởng ngoại giao Thái Lan Thanat Khoman ra Tuyên bố chung Chủ yếu là bàn đến các vấn đề về an ninh - quốc phòng, hai bên còn thỏa thuận hàng loạt vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội… Sau khi ra Tuyên bố chung, hai nước đã kí nhiều hiệp định, trong đó phải kể đến hiệp định tương trợ quân sự song phương Trong khuôn khổ của hiệp ước quân sự Mĩ - Thái, Thái Lan còn chấp nhận để Mĩ xây dựng các căn cứ quân sự phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm
lược Việt Nam và Đông Dương