1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của biến đổi khí hậu đến chế độ dòng chảy hệ thống sông thu bồn – vu gia

65 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 901,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA ĐỊA LÝ ------ NGUYỄN THỊ CẨM VY Tác động của biến đổi khí hậu đến chế độ dòng chảy hệ thống sông Thu Bồn – Vu Gia KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA ĐỊA LÝ

- -

NGUYỄN THỊ CẨM VY

Tác động của biến đổi khí hậu đến chế độ dòng chảy

hệ thống sông Thu Bồn – Vu Gia

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

SƯ PHẠM ĐỊA LÝ

Trang 2

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Biến đổi khí hậu đang là một trong những vấn đề nóng bỏng được toàn thể nhân loại quan tâm Biến đổi khí hậu đã tác động mạnh mẽ đến tất cả các thành phần của tự nhiên như khí quyển, sinh quyển, thủy quyển và thạch quyển cũng như các hoạt động sản xuất của con người trên Trái đất

Hầu hết các nhà khoa học đều công nhận biến đổi khí hậu hiện nay là do con người gây ra, làm cho nồng độ của các khí nhà kính trong khí quyển tăng lên ở mức

độ cao Bản thân nó đã làm cho nhiệt độ Trái Đất nóng lên và tạo ra hàng loạt các biến đổi trong các vấn đề thời tiết hiện nay như: băng tan ở hai cực, mực nước biển dâng, gia tăng các trạng thái thời tiết cực đoan như nóng bức, lạnh giá, bão tố, lốc xoáy, lũ lụt, hạn hán, mưa đá và các trạng thái có tính tổng hợp (El Nino và La Nina)… làm ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng tỷ người trên Trái đất

Việt Nam được đánh giá là một trong năm quốc gia trên thế giới bị ảnh hưởng nặng nề nhất do biến đổi khí hậu gây ra Riêng năm 2007, tổng thiệt hại do thiên tai gây ra trên toàn quốc ước tính lên tới 11.600 tỷ đồng Đáng quan tâm là các diễn biến thời tiết ở đồng bằng sông Cửu Long, vấn đề triều cường ở thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và vấn đề bão, lũ lụt ở miền Trung còn nan giải hơn rất nhiều khi tính đến các yếu tố liên quan bởi hiện tượng biến đổi khí hậu

Với mong muốn góp phần nhỏ bé công sức của mình nhằm cảnh báo các tác động do biến đổi khí hậu gây ra, đồng thời với lòng mong muốn được tìm hiểu các tác động sâu sắc của biến đổi khí hậu đến dòng chảy sông ngòi trên địa bàn đang

sinh sống nên tôi chọn đề tài: “Tác động của biến đổi khí hậu đến chế độ dòng chảy hệ thống sông Thu Bồn – Vu Gia” trên địa bàn Quảng Nam – Đà Nẵng”

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1- Mục tiêu

Mục tiêu của đề tài là tìm hiểu sự biến đổi khí hậu (chế độ nhiệt và chế độ mưa - ẩm) trên địa bàn Quảng Nam – Đà Nẵng và các tác động của nó đến sự thay đổi chế độ dòng chảy của hệ thống sông Thu Bồn – Vu Gia

2.2- Nhiệm vụ

Trang 3

Thu thập các tài liệu, số liệu liên quan nhằm giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến tình hình biến đổi khí hậu trên thế giới nói chung và khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng nói riêng

- Phân tích sự biến động của các yếu tố khí hậu trên khu vực Quảng Nam –

Đà Nẵng

- Phân tích các đại lượng dòng chảy của hệ thống sông Thu Bồn – Vu Gia để thấy được sự biến động dòng chảy qua các năm

- Tìm hiểu và đề ra một số biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu và vấn đề

sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước ở địa phương

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Đề tài tập trung đi sâu vào nghiên cứu tác động của sự biến đổi khí hậu (chế độ nhiệt và chế độ mưa - ẩm) đến chế độ dòng chảy của hệ thống sông Thu Bồn – Vu Gia

Phạm vi nghiên cứu: Khu vực Quảng Nam - Đà Nẵng

4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Việt Nam được xem là một trong năm quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu Vì vậy, biến đổi khí hậu đang ngày càng được các nhà khoa học và quản lý quan tâm Trong nước đã có nhiều đề tài, hội thảo tầm cỡ quốc gia nhằm đánh giá các tác động và đề ra các giải pháp ứng phó như:

- Chương trình biến đổi khí hậu của Viện khoa học và thủy văn môi trường

- Đề tài độc lập cấp Nhà nước của Viện khoa học và thủy văn môi trường : “ Điều tra, nghiên cứu và cảnh báo lũ lụt, phục vụ phòng tránh thiên tai ở các lưu vực sông miền Trung”

Đối với hệ thống sông Thu Bồn – Vu Gia trên địa bàn Quảng Nam – Đà Nẵng cũng có một số bài viết, đề tài nghiên cứu về hệ thống sông này Tuy nhiên,

để đi sâu vào tìm hiểu tác động của biến đổi khí hậu đến chế độ dòng chảy của sông Thu Bồn-Vu Gia trong những năm gần đây (2005-2010) thì vẫn còn là một vấn đề mới mẻ Vì vậy, em đi sâu vào tìm hiểu vấn đề này là hết sức cần thiết

Trang 4

5 Một số quan điểm và phương pháp nghiên cứu

5.1- Quan điểm nghiên cứu

5.1.1- Quan điểm hệ thống

Theo quan điểm này, sông ngòi chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như khí hậu, địa chất – địa hình, thổ nhưỡng, sinh vật…của lưu vực Vì vậy khi nghiên cứu

về sự biến động dòng chảy cũng cần có cái nhìn tổng quan tất cả các yếu tố làm nên

sự biến động đó, đồng thời đề ra các biện pháp ứng phó thích hợp đem lại hiệu quả kinh tế cao và đảm bảo hệ sinh thái phát triển bền vững

5.1.2- Quan điểm tổng hợp lãnh thổ

Quan điểm này được vận dụng để phát hiện cấu trúc bên trong và động lực của nó, đặc biệt là cảnh quan tự nhiên rồi sau đó là các hình thái kinh tế - xã hội ở địa phương

Quan điểm này được vận dụng sau khi đã phân tích hoạt động của từng thành phần, từng yếu tố tự nhiên để đi đến phác họa một tổng thể tự nhiên cùng các mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau trên lãnh thổ nghiên cứu

5.1.3- Quan điểm lịch sử

Trong đề tài, quan điểm lịch sử có ý nghĩa rất quan trọng, bởi hiểu rõ về lịch

sử mới nhận thấy được các diễn biến, tiến trình của các yếu tố khí hậu, thủy văn thay đổi theo thời gian, từ đó mới đưa ra được hướng giải quyết đúng đắn

5.2- Phương pháp nghiên cứu

5.2.1- Phương pháp thu thập, xử lý, phân tích và tổng hợp số liệu

Đến Đài Khí tượng & Thủy văn Trung Trung Bộ để thu thập nguồn tài liệu lưu trữ, các số liệu thống kê liên quan đến khí tượng, thủy văn trên lưu vực hệ thống sông Thu Bồn –Vu Gia

Từ những số liệu và thông tin thu thập được, tiến hành xử lý để chọn ra nội dung phù hợp và tổng hợp để làm cơ sở nghiên cứu nhằm phục vụ cho việc hoàn thành đề tài

5.2.2- Phương pháp thống kê toán học

Trong nghiên cứu địa lý địa phương hiện nay, phương pháp thống kê toán học được sử dụng ngày càng nhiều để phân tích, xử lý số liệu và mô tả rõ ràng được nhiều hiện tượng hơn

Trang 5

5.2.3- Phương pháp phân tích bản đồ

Sử dụng bản đồ tự nhiên, bản đồ lưu vực sông của Quảng Nam – Đà Nẵng để

xác định vị trí, phân tích và rút ra những vấn đề cần nghiên cứu

6 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài gồm có ba chương chính:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Tình hình biến đổi khí hậu của khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng

Chương 3: Tác động của biến đổi khí hậu đến chế độ dòng chảy hệ thống

sông Thu Bồn – Vu Gia:

Trang 6

B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1- Những vấn đề liên quan đến biến đổi khí hậu

1.1.1-Một số khái niệm liên quan

a- Khí hậu

Khí hậu bao gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, áp suất khí quyển, gió, các hiện tượng xảy ra trong khí quyển và nhiều yếu tố khí tượng khác trong khoảng thời gian dài (trung bình là 30 năm) ở một vùng, miền xác định

Khí hậu là giá trị trung bình nhiều năm của thời tiết, vì vậy khí hậu mang tính chất bền vững tương đối Khí hậu của một khu vực phụ thuộc vào nhiều yếu tố:

vĩ độ, độ cao địa hình và bề mặt đệm

b-Biến đối khí hậu

Theo các nhà Khí Tượng Học biến đổi khí hậu là sự thay đổi trạng thái của khí hậu làm cho các yếu tố của khí hậu lệch ra khỏi các giá trị trung bình của chúng, diễn ra trong thời gian kéo dài, trên phạm vi toàn thế giới

Tác động của BĐKH toàn cầu không những trực tiếp đến khí quyển, sinh quyển mà còn đến thủy quyển và thạch quyển Điều đặc biệt lưu ý là ngày nay khí hậu Trái đất đã đạt tới độ cân bằng tốt nhất để duy trì và phát triển sự sống Vì vậy khi xảy ra BĐKH toàn cầu có nghĩa rằng khí hậu Trái Đất sẽ thay đổi theo hướng có hại cho sinh vật nói chung và cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại nói riêng

Các biểu hiện của biến đổi khí hậu:

+ Biểu hiện bao trùm nhất của BĐKH toàn cầu hiện nay là sự nóng lên của khí quyển và Trái Đất nói chung

+ Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên Trái đất

+ Sự dâng cao mực nước biển do băng tan, dẫn tới sự ngập úng ở các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển

+ Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của Trái đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người

Trang 7

+ Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác

+ Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển

1.1.2-Nguyên nhân BĐKH

Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu toàn cầu có thể do tự nhiên (do tương tác giữa Trái Đất với Vũ Trụ, do hiệu ứng nhà kính, do bức xạ Mặt Trời, do động đất, núi lửa…) Hầu hết các nhà khoa học đều công nhận biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay là do con người gây ra, sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính (CO2, CH4, N2O, HFCs, PFCs và SF6), các hoạt động khai thác quá mức các hệ hấp thụ khí nhà kính như rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác đã làm cho nồng độ của các khí nhà kính trong khí quyển tăng lên ở mức độ cao

Các hoạt động của con người làm phát thải các khí nhà kính như:

+ CO2 phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là nguồn khí nhà kính chủ yếu do con người gây ra trong khí quyển CO2 cũng sinh ra

từ các hoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cán thép

+ CH4 sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại, hệ thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than

+ N2O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp

+ HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn (ODS) và HFC-23 là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất HCFC-22

+ PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm

+ SF6 sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magiê

1.2-Khái quát đặc điểm tự nhiên khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng:

1.2.1-Vị trí địa lý

Quảng Nam và Đà Nẵng là hai địa phương thuộc vùng Trung Trung Bộ Phía Bắc giáp Huế, phía Nam giáp Quảng Ngãi, Kon Tum, phía Tây giáp Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và phía Đông giáp biển Đông

Kéo dài từ 15023’ Bắc đến 16°40’ Bắc Phía Đông giáp biển nên đây là khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão

Trang 8

1.2.2-Địa hình

Địa hình chia thành ba phần rõ rệt: Phía Tây là núi, ở giữa là vùng đồi trung

du, phía đông là dải đồng bằng ven biển Địa hình đồi núi chiếm diện tích lớn, cao ở Tây và Tây Bắc, thấp dần về Đông và Đông Nam Dãy Trường Sơn chạy dọc ở phía Tây, ngoài ra còn có nhiều dãy núi ăn lan ra sát biển, điển hình là dãy Bạch Mã

Dọc ven biển là một dải cồn cát, thường xuyên chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn Nhiều nơi trên dải cồn cát còn phát triển các đụn cát cao di động

Do địa hình thấp ở phía Đông, cao ở phía Tây nên khi các cơn bão từ biển thổi vào đất liền sẽ bị các dãy núi cao ở phía Tây chắn lại làm bão tan nhanh, gây mưa to, lũ quét và sạt lở đất Dãy Trường Sơn ở phía Tây gây hiệu ứng phơn, khô nóng khi đón gió Tây Nam từ vịnh Bengan thổi lên, tác động lớn đến đặc điểm khí hậu khu vực Quảng Nam-Đà Nẵng

1.2.3-Khí hậu

Quảng Nam-Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động, trung bình là 25,50C, độ ẩm không khí trung bình đạt trên 80%/năm, lượng mưa trung bình từ 2000 – 2500mm/năm

Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: Mùa khô (tháng I - VII) và mùa mưa (tháng XII) Thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông ảnh hưởng làm cho nhiệt độ vùng đồng bằng có thể xuống dưới 200C

VIII-1.2.4 -Mạng lưới thủy văn

Do nằm trong vùng có lượng mưa lớn nên hệ thống sông ngòi cũng khá phát triển, nhưng chủ yếu là các sông nhỏ, ngắn dốc, bắt nguồn từ miền núi phía Tây và Tây Bắc Sông ở khu vực Quảng Nam - Đà Nẵng thuộc loại sông miền núi nên lũ lên nhanh, xuống nhanh

Lớn nhất là hệ thống sông Thu Bồn-Vu Gia Các sông có lưu lượng dòng chảy lớn, đầy nước quanh năm, lưu lượng dòng chảy sông Vu Gia là 400m3/s, Thu Bồn là 200m3/s có giá trị thủy điện, giao thông và thủy nông lớn

Do đặc điểm mạng lưới sông ngòi khá phức tạp nên khi có những biến động

về thời tiết, khí hậu (đặc biệt trong chế độ mưa- ẩm) sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến chế độ dòng chảy của sông ngòi

Trang 9

1.2.5-Thổ nhưỡng –sinh vật

Thổ nhưỡng ảnh hưởng gián tiếp đến khí hậu thông qua lớp phủ thực vật Khu vực Quảng Nam-Đà Nẵng nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nên đất feralit chiếm phần lớn diện tích Ở ven biển phổ biến các loại đất cát, đất phèn, đất mặn nên thực vật kém phát triển

Thảm thực vật khá phát triển, thuộc hệ sinh thái rừng rậm nội chí tuyến gió mùa ẩm thường xanh có tác dụng rất lớn ngăn cản gió bão và phòng chống lũ lụt Vùng đồng bằng ven biển chủ yếu là cây trồng nông nghiệp, ven biển phổ biến là phi lao, cây bụi góp phần chắn cát, chắn gió Ngoài ra, hệ thống rừng phòng hộ đang được trồng ở nhiều nơi để hạn chế phần nào các thiên tai do bão, lũ lụt và hạn hán gây ra

Trang 10

CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA KHU VỰC

QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG 2.1-Biến động trong chế độ nhiệt

Nhiệt độ không khí là yếu tố khí hậu thể hiện rõ nhất ảnh hưởng của vị trí địa

lý, hoàn lưu, chế độ nắng…Nhiệt độ không khí thay đổi theo chu kỳ thời gian (ngày, tháng, năm…) nhưng luôn xoay quanh một giá trị trung bình nhiều năm (TBNN)

Cùng với những chuyển biến phức tạp do biến đổi khí hậu gây ra, chế độ nhiệt trong những năm gần đây ở khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng cũng có sự dao động

so với TBNN Điều này thể hiện qua biến động nhiệt độ không khí trung bình năm, nhiệt độ không khí tối cao và nhiệt độ không khí tối thấp

2.1.1-Biến động nhiệt độ không khí trung bình

Bảng 2.1-Nhiệt độ không khí trung bình tại Đà Nẵng giai đoạn 2005 - 2010

(+): Cao hơn TBNN; (-): Thấp hơn TBNN (Đv: 0 C)

năm TBNN 21.4 22.0 24.0 26.4 27.6 29.1 29.1 28.8 27.3 25.8 24.9 21.9 25.7

Trang 11

2010 23.1 24.4 24.6 26.9 29.4 29.7 29.1 28.1 27.7 25.9 23.7 22.5 26.2

So với

TBNN

+1.7 +2.4 +0.6 +0.5 +1.8 +0.6 0 -0.7 +0.4 +0.1 -1.2 +0.6 +0.5

Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực Trung Trung Bộ

Bảng 2.2-Nhiệt độ không khí trung bình tại Tam Kỳ giai đoạn 2005 – 2010

(+) Cao hơn TBNN; (-) Thấp hơn TBNN (Đv: 0 C)

năm TBNN 21.2 22.4 24.2 26.1 27.9 28.7 25.1 25.2 24.3 23.0 21.9 19.7 24.1

Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực Trung Trung Bộ

Qua hai bảng số liệu trên ta thấy nhiệt độ trung bình năm trên toàn khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng có sự biến động trong các năm từ 2005-2010 và biến động

so với giá trị TBNN Cụ thể:

- Năm 2005: Nhiệt độ trung bình năm trên toàn khu vực đều cao hơn nhiệt độ TBNN từ 0.4 – 2.00C Hầu hết các tháng trong năm đều có nhiệt độ trung bình cao hơn TBNN từ 0.3 – 3.30C Tuy nhiên, cũng có tháng thấp hơn TBNN, tại Đà Nẵng

Trang 12

có các tháng III, IV, VII, VIII, XII đạt mức xấp xỉ và thấp hơn TBNN cùng kỳ từ 0.1 – 1.20C, trong khi đó tại Tam Kỳ chỉ có tháng III thấp hơn TBNN là 1.30C

- Năm 2006: Nhiệt độ trung bình năm trên toàn khu vực dao động từ 26.2 – 26.30C, tăng nhẹ so với nhiệt độ trung bình năm 2005 là 0.1-0.20C, đồng thời cao hơn nhiệt độ TBNN từ 0.6-2.10C Đáng chú ý nhiệt độ trung bình tất cả các tháng trong năm đều vượt mức TBNN từ 0.2 - 4.50C, riêng chỉ có tháng VIII tại Đà Nẵng

là thấp hơn TBNN Tháng VII và tháng XI thường có chuẩn sai lớn nhất, cao hơn TBNN từ 1.3 – 4.50C

- Năm 2007: Nhiệt độ trung bình năm giảm nhẹ so với nhiệt độ trung bình năm 2006 từ 0.2 – 0.40C, song vẫn cao hơn mức TBNN là 0.40C (tại Đà Nẵng) và 1.70C (tại Tam Kỳ) Nhiệt độ trung bình các tháng I, IV, XI thường xấp xỉ và thấp hơn TBNN Các tháng còn lại đều vượt mức TBNN, tại Đà Nẵng các tháng này cao hơn TBNN cùng kỳ từ 0.2 – 1.70C, trong khi tại Tam Kỳ các tháng này cao hơn mức TBNN khá nhiều, phổ biến từ 0.6 – 3.90C

- Năm 2008: Nhiệt độ trung bình năm trên toàn khu vực đạt từ 25.3 – 25.50C, tiếp tục giảm so với nhiệt độ trung bình năm 2007 là 0.5 – 0.60C So sánh với giá trị TBNN ta thấy có sự khác biệt giữa hai trạm, tại Đà Nẵng thấp hơn mức TBNN là 0.20C, còn Tam Kỳ lại cao hơn TBNN đến 1.20C Các tháng đầu năm chịu ảnh hưởng liên tục của không khí lạnh nên nhiệt độ hạ thấp đáng kể so với TBNN cùng

kỳ từ 0.2 – 3.00C, trong đó tháng II có mức chuẩn sai lớn nhất Các tháng còn lại đều cao hơn TBNN, phổ biến từ 0.3 – 4.10C

- Năm 2009: Nhiệt độ trung bình năm trên toàn khu vực tăng 0.70C so với nhiệt độ trung bình năm 2008, và cao hơn TBNN từ 0.5 – 1.90C Các tháng II, III,

VI, VIII, X, XII có nhiệt độ cao hơn mức TBNN khá nhiều (từ 0.4 – 3.30C) Các tháng còn lại trong năm có nhiệt độ xấp xỉ và thấp hơn TBNN cùng kỳ từ 0.5 – 1.00C

- Năm 2010: Nhiệt độ trung bình năm trên toàn khu vực xấp xỉ và tăng nhẹ

so với nhiệt độ trung bình năm 2009, dao động từ 26.2 – 26.40C So sánh với nhiệt

độ TBNN, ta thấy tại Đà Nẵng cao hơn TBNN là 0.50C và Tam Kỳ cao hơn 2.30C Các tháng I – VI thường có nhiệt độ cao hơn TBNN cùng kỳ, còn các tháng VIII và XII thường ở mức thấp hơn Năm 2010 cũng là năm có mức chênh lệch lớn nhất so

Trang 13

với giá trị TBNN trong chuỗi các năm từ 2005 – 2010, đồng thời có nhiều tháng trong năm vượt mức TBNN khá lớn, từ 1 – 40C

Như vậy, ta thấy nhiệt độ trung bình năm trên toàn khu vực Quảng Nam –

Đà Nẵng có xu hướng tăng nhẹ từ 0.1 – 0.30C trong giai đoạn 2005 – 2010 So sánh với giá trị TBNN, ta thấy hầu hết các năm trong khu vực đều cao hơn TBNN từ 0.4 – 2.30C, riêng năm 2008 tại Đà Nẵng có nhiệt độ trung bình thấp hơn mức TBNN là 0.20C So sánh giữa hai trạm ta thấy trạm Tam Kỳ có mức chênh lệch lớn so với TBNN (cao hơn TBNN từ 1.2 – 2.30C), trong khi đó trạm Đà Nẵng mức chênh lệch này chỉ xấp xỉ và cao hơn TBNN không nhiều, chỉ từ 0.4 – 0.60C

Trang 14

24 24.5

25 25.5

26 26.5

27

HÌNH 2.2-BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN S Ự BIẾN ĐỘNG NHIỆT ĐỘ KHÔNG KHÍ TRUNG BÌNH TẠI TAM KỲ GIAI ĐOẠN 2005-2010

Nhiệt độ không khí trung bình năm

2.1.2-Biến động nhiệt độ không khí tối cao

Nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối theo tháng trong những năm gần đây cũng có sự biến động so với TBNN

Bảng 2.3- Nhiệt độ không khí tối cao theo tháng tại Đà Nẵng (Đv: 0 C)

Năm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII TBNN 29.5 30.8 33.3 34.4 37.3 37.5 37.6 36.3 35.2 32.3 30.7 28.7

Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực Trung Trung Bộ

Bảng 2.4- Nhiệt độ không khí tối cao theo tháng tại Tam Kỳ (Đv: 0 C)

Năm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII TBNN 29.2 30.9 34.4 35.9 37.5 37.4 37.6 36.5 35.2 33.1 30.9 28.8

Trang 15

2009 27.2 32.6 34.5 38.3 35 38.3 37.2 37.5 35.3 33 32.2 29.1

2010 29.3 34.9 35.2 36.2 40.2 38.5 38 35.8 35.3 32.1 28.9 29.4

Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực Trung Trung Bộ

Qua hai bảng số liệu trên ta thấy nhiệt độ cao nhất tuyệt đối có sự biến động

so với giá trị TBNN và biến động qua các năm từ 2005 – 2010

- Tại Đà Nẵng: Trong năm có nhiều tháng có nhiệt độ cao nhất tuyệt đối cao hơn giá trị TBNN, đặc biệt các năm 2005, 2007, 2010 có 7 - 8 tháng trong năm có nhiệt độ cao nhất tuyệt đối cao hơn TBNN, thường rơi vào từ tháng IV - VII Các năm 2006, 2008, 2009 có 5 - 6 tháng cao hơn TBNN

Nhiệt độ cao nhất của các năm đều vượt giá trị cao nhất của TBNN từ 0.10C

- 1.90C Cụ thể nhiệt độ cao nhất tuyệt đối năm 2005 là 39.50C, năm 2006 là 38.70C, năm 2007 là 38.10C, năm 2008 và 2009 là 37.70C (xấp xỉ TBNN), năm 2010 là 39.10C Nhiệt độ cao nhất trong năm thường xảy ra từ tháng V-VII, song chủ yếu là

tháng V (bảng 2.3)

- Tại Tam Kỳ: Các năm từ 2005-2010 có 7 - 9 tháng có nhiệt độ cao nhất tuyệt đối cao hơn giá trị TBNN, phổ biến từ 0.20C - 2.60C, đặc biệt năm 2010 có nhiệt độ cao nhất đạt 40.20C (cao hơn đến 2.60C so với TBNN) Riêng năm 2006 là năm có nền nhiệt độ khá ôn hòa với 5 tháng có nhiệt độ cao nhất tuyệt đối cao hơn TBNN, nhiệt độ cao nhất trong năm chỉ cao hơn giá trị TBNN là 0.20C (bảng 2.4)

Như vậy từ 2005-2010 nhiều tháng trong năm có nhiệt độ cao nhất tuyệt đối cao hơn TBNN và giá trị nhiệt độ cao nhất ngày càng đạt mức cao (tháng V/2010 tại trạm Tam Kỳ đạt 40.20C)

Trang 16

HÌNH 2.3-BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN SỰ BIẾN ĐỘNG NHIỆT ĐỘ

KHÔNG KHÍ TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG

HÌNH 2.4-BIỂU ĐỒ BIỂU HIỆN SỰ BIẾN ĐỘNG NHIỆT ĐỘ KHÔNG

KHÍ TỐI CAO TẠI TAM KỲ

0C

0C

Trang 17

2.1.3-Biến động nhiệt độ không khí tối thấp

Cũng như nhiệt độ không khí trung bình và nhiệt độ cao nhất tuyệt đối, nhiệt

độ thấp nhất tuyệt đối cũng có sự biến động từ 2005 – 2010

Bảng 2.5- Nhiệt độ không khí tối thấp theo tháng tại Đà Nẵng (Đv: 0 C)

Năm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII TBNN 15.7 16.8 16.8 21.5 22.9 24.2 24.3 23.5 23 21.4 18.4 16.5

Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực Trung Trung Bộ

Bảng 2.6- Nhiệt độ không khí tối thấp theo tháng tại Tam Kỳ (Đv: 0 C)

Năm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII TBNN 16.4 16.8 17.6 21.6 23.0 23.9 23.7 23.4 22.8 21.2 18.3 16.7

Trang 18

HÌNH 2.5- BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN SỰ BIẾN ĐỘNG NHIỆT ĐỘ KHÔNG

Qua bảng số liệu, ta thấy nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối trong nhiều tháng từ

2005 – 2010 cao hơn giá trị TBNN

- Tại Đà Nẵng: Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối trong các tháng III, IV, VI, X

thường xấp xỉ hoặc cao hơn TBNN từ 0.10C – 3.30C Các tháng V, VII thấp hơn TBNN cùng kỳ

Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối trong các năm xảy ra chủ yếu vào tháng XII và tháng I Năm 2006, nhiệt độ thấp nhất tương đương giá trị thấp nhất của TBNN là 15.70C Nhiệt độ thấp nhất năm 2010 cao hơn TBNN là 0.60C Trong khi đó, các năm 2005 và 2007 – 2009 đều ở mức thấp hơn TBNN, đặc biệt năm 2005 có nhiệt

độ thấp nhất chỉ 13.50C (tháng I), thấp hơn 2.20C so với TBNN (bảng 2.5)

- Tại Tam Kỳ: Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối trong các tháng II, IV, VI, X thường xấp xỉ hoặc cao hơn mức TBNN cùng kỳ từ 0.10C – 1.90C Trong khi đó các tháng III, VII, IX, XII thường thấp hơn mức TBNN cùng kỳ từ 0.10C–2.00C

Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối trong các năm thường xảy ra vào các tháng XII,

I, II Nhiệt độ thấp nhất các năm 2005, 2007, 2009 dao động ở mức 14.70C – 15.20C, thấp hơn giá trị thấp nhất của TBNN Trong khi đó, các năm 2006, 2010 cao hơn TBNN

0C

Trang 19

So với nhiệt độ thấp nhất năm 2005 là 14.70C thì nhiệt độ thấp nhất năm

2010 cao hơn gần 30C và đạt 17.60C vào tháng II/2010 (bảng 2.6)

HÌNH 2.6-BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN SỰ BIẾN ĐỘNG NHIỆT ĐỘ KHÔNG

KHÍ TỐI THẤP TẠI TAM KỲ

2.2-Biến động trong chế độ mưa - ẩm

2.2.1-Biến động trong chế độ mưa

Mưa là yếu tố thời tiết biến động rất lớn trong không gian và thời gian, phụ thuộc nhiều vào những hoàn lưu, yếu tố địa hình và sự biến đổi môi trường sinh thái

do con người tạo nên

So với yếu tố nhiệt độ thì mưa là yếu tố biến động hơn nhiều Những giá trị cực đại và cực tiểu của lượng mưa có sự chênh lệch rất lớn, có khi lên đến hàng chục, thậm chí hàng trăm lần

Biến động trong chế độ mưa có thể phụ thuộc vào các yếu tố như: tính ổn định của các nhân tố gây mưa, hoàn lưu, sự xuất hiện của các nhiễu động thời tiết (bão, front…)

Đặc điểm nổi bật nhất của chế độ mưa ở nước ta là mưa theo mùa, do gió mùa mùa đông khô tương phản với gió mùa mùa hạ ẩm Mùa khô mưa ít, có tháng không có giọt mưa nào Mùa mưa chiếm đến 80-85% lượng mưa năm Mùa mưa ở

0C

Trang 20

khu vực Trung Trung Bộ kéo dài từ tháng VIII đến tháng I năm sau, có nơi thêm mưa tiểu mãn vào vào tháng V - tháng VI Mùa mưa ở miền Trung lệch pha so với

cả nước, chỉ có ba tháng trùng với mùa mưa toàn quốc là tháng XI, XII, I Nguyên nhân dẫn đến sự lệch pha này là do sự tác động của gió Tây Nam khô nóng khi vượt qua dãy Trường Sơn vào đầu mùa hạ và tác động của front lạnh vào mùa thu đông Tháng mưa cực đại ở Trung Trung Bộ là tháng XI

a-Biến động về lượng mưa

Bảng 2.7- Lượng mưa trung bình tại Đà Nẵng giai đoạn 2005–2010 (mm)

năm TBNN 80.4 19.5 32.7 37.2 99.6 74.1 109 228.6 389.7 632.3 424.2 190.1 2317

Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực Trung Trung Bộ

Bảng 2.8- Lượng mưa trung bình tại Tam Kỳ giai đoạn 2005 – 2010 (mm)

năm TBNN 239.9 23.6 41.3 78.7 118.5 48.8 114.2 170.1 509.8 776.5 676.3 316.6 3114

Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực Trung Trung Bộ

Bảng 2.9- Lượng mưa trung bình tại trạm Nông Sơn (2005-2010) (mm)

năm TBNN 58.3 25.5 28.7 74.1 218.8 215.9 140 155.6 316.9 721.5 565.6 214 2734.9

2005 28.3 43.1 33 128.2 119.6 126.9 182.7 182.4 420.3 1043 447.6 390.4 3145

Trang 21

Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực Trung Trung Bộ

Bảng 2.10- Lượng mưa trung bình tại trạm Thành Mỹ (2005-2010) (mm)

năm TBNN 29.8 15.6 25.3 74.8 220.8 139.2 149.8 151.2 272.2 562.1 300.2 83.9 2024.9

Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực Trung Trung Bộ

Qua các bảng số liệu trên ta thấy có sự biến đổi cả về lượng mưa lẫn thời gian mưa qua các năm từ 2005 – 2010

- Năm 2005: Tổng lượng mưa năm 2005 hầu hết các nơi trong khu vực xấp

xỉ và cao hơn TBNN, đạt từ 109 – 115%, chỉ có Đà Nẵng lượng mưa năm thấp hơn

TBNN, đạt 81% TBNN (xem bảng 1- phụ lục)

Đặc điểm nổi bật về tình hình mưa năm 2005 tại khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng là lượng mưa trong mùa ít mưa (tháng I – VII) các nơi trên toàn khu vực đều xấp xỉ và thấp hơn TBNN cùng kỳ, đặc biệt tại Đà Nẵng có lượng mưa rất thấp (chỉ đạt 59% TBNN) Ngược lại, mùa mưa năm 2005 lượng mưa các nơi trên toàn khu vực đều xấp xỉ và cao hơn TBNN cùng kỳ, đạt từ 107 – 126% TBNN, riêng Đà

Nẵng là thấp hơn TBNN (xem bảng phục lục 1.1)

Mùa mưa năm 2005 bắt đầu sớm hơn năm 2004 khoảng nửa tháng, thời gian kết thúc cũng muộn hơn so với quy luật trung bình khí hậu Đợt mưa to đầu tiên trong năm 2005 bắt đầu từ cuối tháng VIII và kết thúc vào giữa tháng XII Do sự phân bố mưa trong năm như vậy nên đã xảy ra tình trạng khô hạn trong mùa ít mưa, nhưng vì mùa mưa đến sớm nên tình hình khô hạn trong năm không trầm trọng

Trang 22

- Năm 2006: Tổng lượng mưa năm hầu hết các nơi trong khu vực đạt mức thấp hơn TBNN nhưng không nhiều (đạt từ 76 – 96% TBNN), riêng Nông Sơn đạt trên 100% TBNN Mùa mưa năm 2006 bắt đầu sớm hơn năm 2005 khoảng nửa tháng, ngày 11 – 16/VIII đã có đợt mưa to đầu tiên trên toàn khu vực Thời gian kết thúc mưa lớn trong năm cũng muộn hơn so với quy luật nhiều năm, đợt mưa to cuối cùng kết thúc vào giữa tháng XII Ngoài ra mãi đến tháng I/2007 vẫn có mưa vừa đến mưa to trên diện rộng

Lượng mưa trong mùa khô giảm so với TBNN từ 6 – 29%, riêng Nông Sơn cao hơn TBNN là 21% Lượng mưa trong mùa mưa cũng chỉ đạt mức xấp xỉ và thấp

hơn TBNN (đạt từ 77 – 101% TBNN) (xem bảng 1-phụ lục), các tháng giữa mùa

mưa như tháng X, XI thường có lượng mưa ít, thấp hơn mức TBNN khá nhiều

- Các năm 2007 – 2009 là những năm mưa nhiều, tổng lượng mưa trên toàn khu vực đều đạt mức cao hơn TBNN, đạt từ 109 – 160% Lượng mưa trong hai mùa mưa và mùa khô đều cao hơn TBNN Lượng mưa phân bố khá điều hòa trong năm, song chủ yếu tập trung tháng IX – XII

- Năm 2010 có nhiều khác biệt so với quy luật nhiều năm Tồng lượng mưa năm 2010 đạt từ 87 – 119% TBNN Lượng mưa trong các tháng mùa khô cao hơn TBNN, đạt từ 107 – 123% TBNN, riêng Tam Kỳ thấp hơn TBNN khá nhiều (chỉ đạt 49% TBNN), đáng chú ý có tháng II tại Đà Nẵng trong tháng không có giọt mưa

nào và tại Tam Kỳ lượng mưa cũng chỉ đạt 0.4mm (dưới 2% TBNN) ( xem bảng 2.7

và 2.8) nên gây hạn hán trên diện rộng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và

kinh tế của nhân dân trong tỉnh Trong mùa khô có ba đợt mưa lớn trên diện rộng, trong đó đợt mưa từ ngày 19 – 20/I cũng là đợt mưa lớn đầu tiên trong năm, hai đợt còn lại xảy ra trong tháng VII Mùa mưa trên khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng cũng đạt mức 94 – 117% TBNN Các tháng VIII, X, XI thường có lượng mưa lớn Ngược lại, lượng mưa trong tháng IX, XII thấp hơn TBNN cùng kỳ, chỉ đạt 27 – 42% TBNN gây nguy cơ thiếu nước cho vụ Xuân – Hè 2011

Như vậy, qua phân tích ở trên ta thấy do tác động của biến đổi khí hậu nên lượng mưa có xu hướng thay đổi thất thường qua các năm, cụ thể:

Lượng mưa phân bố không đều qua các năm, có năm mưa nhiều, có năm mưa ít so với lượng mưa TBNN Cụ thể các năm 2007- 2010 là những năm mưa

Trang 23

nhiều (lượng mưa thường đạt từ 2300-3900 mm) và các năm 2005, 2006 là những năm mưa ít so với TBNN (tại Đà Nẵng và Thành Mỹ lượng mưa dao động từ 1800 – 2200 mm)

Thời gian mưa cũng diễn biến phức tạp qua các năm Có năm mùa mưa đến sớm và kết thúc muộn hơn so với quy luật chung khí hậu như năm 2005 và 2006 Các năm còn lại nhìn chung không có biến động nhiều so với quy luật chung

Mùa mưa diễn ra từ tháng VIII-XII, song lượng mưa chủ yếu tập trung vào hai tháng X, XI Tuy nhiên có năm lượng mưa lớn nhất tập trung và tháng X, XI nhưng cũng có năm lượng mưa lớn nhất không rơi vào hai tháng này Chẳng hạn năm tháng IX/ 2009 có lượng mưa lớn nhất, trong khi đó tháng X và XI lượng mưa

chỉ đạt mức xấp xỉ với một số tháng mùa khô (xem bảng 2.7 – 2.10)

Mưa tiểu mãn (tháng V, VI) là một đặc trưng của mùa mưa khu vực Trung Trung Bộ Qua các bảng số liệu về lượng mưa trên lưu vực ta thấy các năm 2005,

2006, 2010 trong mùa khô không xuất hiện mưa tiểu mãn Điều này cũng nói lên sự

sự thất thường trong diễn biến mưa của khu vực Quảng Nam- Đà Nẵng trong những năm gần đây

HÌNH 2.7- BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN LƯỢNG MƯA TẠI TRẠM THỦY VĂN

NÔNG SƠN (S THU BỒN) GIAI ĐOẠN 2005-2010

Tổng lượng mưa năm

Trang 24

2025 1998 1926

3237

0 1000 2000 3000

4000 mm

HÌNH 2.8-BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN LƯỢNG MƯA TẠI TRẠM THỦY VĂN

THÀNH MỸ (2005-2010)

Tổng lượng mưa năm

b-Biến động về số ngày mưa

Quảng Nam – Đà Nẵng là khu vực có số ngày mưa tương đối nhiều so với cả nước, số ngày mưa trung bình năm là 120 – 140 ngày Số ngày mưa thường tập trung vào các tháng mùa mưa, nhiều nhất là từ tháng X –XII Từ tháng II –IV có số ngày mưa trung bình ít nhất trong năm

Để thấy được sự biến động về số ngày mưa ở khu vực ta xét số ngày mưa tại hai trạm là Đà Nẵng và Tam Kỳ

Bảng 2.11- Số ngày mưa theo tháng tại Đà Nẵng - Đv: Ngày

Trang 25

Bảng 2.12- Số ngày mưa theo tháng tại Tam Kỳ (2005-2010) - Đv: Ngày

Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực Trung Trung Bộ

Cũng như lượng mưa trung bình, số ngày mưa cũng có sự biến động giữa các năm và có nhiều khác biệt so với TBNN

Nhìn chung số ngày mưa trên toàn khu vực có xu hướng giảm dần từ 2005 –

2010, số ngày mưa năm 2010 tại Đà Nẵng giảm 7 ngày và Tam Kỳ giảm 22 ngày so với năm 2005 So sánh với số ngày mưa TBNN cũng có sự khác nhau giữa các năm

- Số ngày mưa 2005 tại Đà Nẵng giảm so với TBNN là 5 ngày, trong khi đó Tam Kỳ có số ngày mưa nhiều hơn TBNN là 9 ngày Trong mùa khô 2005, số ngày mưa ít hơn TBNN từ 1 – 8 ngày, tháng IV có số ngày mưa ít nhất Trái lại, số ngày mưa trong mùa mưa lại nhiều hơn TBNN từ 3 – 10 ngày, tháng 12 có số ngày mưa

nhiều nhất năm với 24 – 29 ngày mưa (xem bảng phụ lục 2 và 3)

- Năm 2006, trên toàn khu vực có số ngày mưa ít hơn TBNN 17 ngày Số ngày mưa trong hai mùa mưa và khô đều giảm so với TBNN, tháng III, VI là những tháng có số ngày mưa ít nhất (2 – 6 ngày), tháng X –XII là những tháng có số ngày mưa tập trung nhiều nhất trong năm nhưng tháng X – XII/ 2006 thấp hơn số ngày

mưa của TBNN từ 1 – 12 ngày (xem bảng phụ lục 2 và 3)

- Năm 2007–2009 là những năm mưa nhiều vì vậy số ngày mưa cũng tăng so với TBNN từ 1–19 ngày Số ngày mưa các tháng X–XII của năm 2007 và 2008 đều cao hơn TBNN, trong khi tháng X–XII/2009 lại thấp hơn TBNN Tháng IV, V là những tháng ít mưa nhất trong năm thì cũng có số ngày mưa từ 3–19 ngày, nhiều hơn mức TBNN

- Năm 2010 là năm có nhiều biến động so với quy luật nhiều năm Số ngày mưa 2010 giảm so với năm 2005 từ 7 - 22 ngày và giảm so với TBNN là 12 – 13

Trang 26

ngày Số ngày mưa trong các tháng mùa khô ít hơn TBNN 14 – 20 ngày, số ngày mưa ít tập trung từ tháng II – V, cá biệt có tháng II/2010 tại Đà Nẵng không ngày mưa nào trong tháng và Tam Kỳ cũng chỉ có 1 ngày mưa Số ngày mưa trong các tháng mùa mưa đạt mức xấp xỉ TBNN, tháng X, XII thường có số ngày mưa ít hơn

TBNN (xem bảng phụ lục 2 và 3)

Như vậy, số ngày mưa trong những năm gần đây có nhiều biến động Nhìn chung số ngày mưa có xu hướng giảm từ 2005 – 2010 So sánh với TBNN, nhận thấy các năm 2007 – 2009 có số ngày mưa nhiều, trong khi các năm 2005, 2006,

2010 có số ngày mưa ít hơn Ngoài ra, có sự chênh lệch lớn giữa tháng có số ngày mưa nhiều nhất và tháng có số ngày mưa ít nhất (ví dụ tại Đà Nẵng, vào năm 2010 mức chênh lệch giữa tháng có số ngày mưa nhiều nhất và tháng có số ngày mưa ít nhất là 26 ngày)

Trong thực tế độ ẩm tuyệt đối chịu ảnh hưởng sâu sắc của nhiệt độ, vì thế theo thời gian của độ ẩm tuyệt đối tương tự phân bố theo nhiệt độ cho nên thường chú trọng đến độ ẩm tương đối

Độ ẩm tương đối biến đổi theo thời gian rõ rệt hơn phân bố không gian Biến trình ngày của độ ẩm tương đối hướng ngược lại với nhiệt độ Ban đêm thường ẩm,

ẩm nhất vào sáng sớm và tương đối khô vào trưa chiều, tuần hoàn ngày của độ ẩm

Trang 27

tương đối tồn tại phổ biến mọi vĩ độ, cả vùng cao lẫn vùng thấp Biến trình năm của

độ ẩm tương đối vừa ảnh hưởng của nền nhiệt độ vừa chịu tác động của mùa mưa

Bảng 2.13- Độ ẩm tương đối trung bình tại Đà Nẵng qua các năm (%)

Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực Trung Trung Bộ

Bảng 2.14- Độ ẩm tương đối trung bình tại Tam Kỳ qua các năm (%)

Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực Trung Trung Bộ

So với nhiệt độ và lượng mưa thì độ ẩm tương đối trung bình năm trên khu vực Quảng Nam- Đà Nẵng không có nhiều biến động trong giai đoạn 2005 – 2010

So sánh với giá trị TBNN thì độ ẩm các năm chỉ chênh lệch từ 1 – 3%

- Năm 2005, độ ẩm trong khu vực ngang bằng độ ẩm TBNN, tại Đà Nẵng đạt 82% và Tam Kỳ đạt 84% Hầu hết các tháng trong năm đạt mức xấp xỉ TBNN Độ

ẩm thấp nhất đạt 71-73% (tháng VI), độ ẩm cao nhất trong năm đạt 88 – 94% (tháng

XII) Độ ẩm thấp nhất tuyệt đối theo tháng dao động trong khoảng 38-69% (xem bảng phụ lục 4 và 5)

- Năm 2006, độ ẩm tương đối trong khu vực tương đương với giá trị TBNN

Vào mùa khô (tháng I –VII), độ ẩm tương đối thấp hơn TBNN từ 3 – 6%, đây là thời gian hoạt động của gió Tây Nam khô nóng, nhiệt độ không khí tăng, lượng bốc

Trang 28

hơi tăng do đó độ ẩm thấp Độ ẩm thấp nhất tuyệt đối xuống dưới 40% và thường xảy ra vào tháng VI, VII, cá biệt tháng V/2006 độ ẩm thấp nhất tuyệt đối chỉ đạt

23% (xem bảng phụ lục 4 và 5) Vào mùa ẩm (tháng VIII – XII), do lượng mưa

trong năm 2006 bị thiếu hụt so với TBNN do đó các tháng mùa ẩm có độ ẩm xuống

dưới mức TBNN từ 1 – 4%

- Các năm 2007 – 2009 là những năm mưa nhiều với lượng mưa đạt từ 109 –

132% lượng mưa TBNN Vì vậy, độ ẩm tương đối trong các năm này trên toàn khu vực đều đạt mức xấp xỉ và cao hơn TBNN từ 2 – 3%, riêng năm 2009 tại trạm Đà Nẵng, độ ẩm thấp hơn TBNN là 1% Vào mùa khô do lượng mưa được tăng cường nên độ ẩm cũng cao hơn TBNN, đặc biệt các tháng I, III, V thường cao hơn TBNN

từ 1 – 5% Vào mùa ẩm, hầu hết các tháng đều có độ ẩm cao hơn TBNN Đáng chú

ý, độ ẩm thấp nhất tuyệt đối theo tháng trong các năm 2007 – 2009 đều trên 40%

(xem bảng phụ lục 4 và 5)

- Năm 2010, độ ẩm tương đối đạt mức xấp xỉ TBNN, độ ẩm tại Đà Nẵng đạt 82% và Tam Kỳ đạt 85% Độ ẩm các tháng mùa khô thấp hơn TBNN từ 1 – 3%, tuy

vậy độ ẩm thấp nhất tuyệt đối vẫn trên 40% (xem bảng phụ lục 4 và 5) Vào mùa

mưa, hầu hết các tháng đều có độ ẩm xấp xỉ và cao hơn TBNN, tháng XI có độ ẩm

lớn nhất trong năm, độ ẩm tương đối trung bình từ 88 – 94%

- Như vậy, sự biến động trong chế độ ẩm phụ thuộc vào chế độ nhiệt và chế

độ mưa Những năm có gió mùa Đông Bắc hoạt động mạnh kết hợp với những nhiễu động thời tiết như bão, áp thấp nhiệt đới gây mưa to sẽ đem lại độ ẩm lớn (như các năm 2007-2009) Những năm có gió Tây Nam khô nóng hoạt động mạnh thường có độ ẩm tương đối thấp Độ ẩm thấp nhất tuyệt đối có khi chỉ đạt 23%

(tháng V/2006, trạm Đà Nẵng)

Trang 29

CHƯƠNG III-TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN CHẾ ĐỘ DÒNG

CHẢY CỦA HỆ THỐNG SÔNG THU BỒN – VU GIA 3.1-Khái quát chung về hệ thống sông Thu Bồn – Vu Gia

Hệ thống sông Thu Bồn – Vu Gia là một trong chín hệ thống sông lớn của Việt Nam và là hệ thống sông lớn nhất phía Bắc Tây Nguyên và Nam Trường Sơn Trải trên diện tích 10 350 km2, chiếm trên 80% diện tích tự nhiên của tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng, trên địa bàn 13 huyện, thị là Trà My, Tiên Phước, Phước Sơn, Hiệp Đức, Nam Giang, Quế Sơn, Duy Xuyên, Điện Bàn, Đông Giang, Tây Giang, Đại Lộc, Hội An, Thăng Bình của Quảng Nam và huyện Hòa Vang của thành phố Đà Nẵng

Hệ thống sông Thu Bồn – Vu Gia gồm 18 sông lớn nhỏ hợp thành, trong đó sông Thu Bồn là dòng chính dài 205km (tính đến Cửa Đại), diện tích lưu vực Flv= 4750km2 (tính đến Câu Lâu) và sông Vu Gia có chiều dài 130km với diện tích lưu vực Flv= 5434 km2 (tính đến Ái Nghĩa)

Thượng nguồn sông Thu Bồn hay còn gọi là sông Tranh (hay sông Tĩnh Gia), bắt nguồn từ sườn Đông của dãy Ngọc Lĩnh ở độ cao 2000m, chảy theo hướng Bắc – Nam qua địa bàn các huyện Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đức, Quế Sơn Từ Giao Thủy trở lên, sông Thu Bồn có nhiều nhánh lớn như sông Trường, sông Tiên, sông Diên, sông Khe Le, sông Khe Cống…đến Giao Thủy sông Thu Bồn tiếp nhận thêm nước từ phân lưu Quảng Huế của sông Vu Gia đổ vào Tại vùng hạ lưu sông Thu Bồn có một số phân lưu ngoài dòng chính chảy ra Cửa Đại như: Vĩnh Điện chảy ra sông Hàn và ra cửa Đà Nẵng, Chiêm Sơn – Bà Rén đổ ra cửa Hội An, Trường Giang đổ ra sông Tam Kỳ Các phân lưu lớn đó cùng với các nhánh sông nhỏ đã chia vùng đồng bằng thành nhiều khu vực

Lưu vực sông Vu Gia nằm bên bờ trái dòng chính Thu Bồn thuộc địa phận các huyện Đông Giang, Tây Giang, Giằng, Đại Lộc, Điện Bàn, Hòa Vang của tỉnh Quảng Nam và TP Đà Nẵng Sông Vu Gia là một trong hai sông hợp thành hệ thống sông Thu Bồn – Vu Gia Sông gồm nhiều nhánh sông nhỏ như sông Cái, sông Côn, sông Bung…Trong đó sông Cái được xem là dòng chính của sông Vu Gia, bắt nguồn từ sườn Tây Nam của dãy núi Ngọc Lĩnh thuộc địa phận tỉnh Kon Tum, chảy theo hướng gần Bắc Nam đến gần thượng lưu Hội Khánh thì nhận thêm nước sông

Trang 30

Bung và sông Côn Khi đến Ái Nghĩa một phần nước sông Vu Gia chảy vào sông Thu Bồn qua phân lưu Quảng Huế Từ Ái Nghĩa trở xuống, ngoài dòng chính Ái Nghĩa, Vu Gia đổ ra biển theo các phân lưu: Sông Yên, sông La Thọ, sông Quá Giáng, sông Thanh Quýt…

Nhìn chung mạng lưới sông có dạng gần giống nan quạt, một số nơi có dạng song song Do đặc điểm lưới sông cùng với yếu tố địa hình mà lũ ở hạ lưu sông thường là lũ kép hay lũ hoàn toàn, tập trung lũ của dòng chính và của các phụ lưu dồn về nên thường lớn và đột ngột, rất nguy hiểm cho vùng hạ lưu

Hệ thống sông Thu Bồn – Vu Gia có mật độ sông suối khoảng 0.47 km/km2 , trong khi mật độ trung bình của cả nước là 0.8 km/km2 Như vậy, mật độ sông suối của sông Thu Bồn – Vu Gia thấp hơn mức trung bình cả nước Tuy nhiên trên toàn lưu vực, mật độ này cũng có sự phân hóa sâu sắc:

+ Vùng thượng nguồn với sông suối nhiều, bị cắt xẻ nên mật độ khoảng 0.4 km/km2, trong đó thượng nguồn sông Vu Gia có mật độ là 0.33 km/km2

+ Vùng hạ lưu, nơi dòng sông chảy qua một vùng đồng bằng nhỏ hẹp, lượng mưa tuy nhỏ nhưng là nơi tập trung lũ nên mật độ lưới sông khá dày khoảng 0.6 km/km2

Do sự tương phản sâu sắc giữa địa hình đồi núi và địa hình đồng bằng mà có

sự thay đổi đột ngột giữa vùng thượng lưu và hạ lưu sông Dòng sông ở thượng lưu rất dốc Độ cao trung bình của lưu vực là 552m và độ dốc bình quân lưu vực là 25.5% Trên suốt hành trình từ thượng nguồn về hạ lưu sông Thu Bồn – Vu Gia chảy qua một vùng địa hình khá phức tạp, sông chảy quanh co, lòng sông tương đối hẹp nhưng thường xuyên biến động Bề rộng của sông không ổn định, có đoạn thu hẹp, dốc đứng có đoạn mở rộng ra, bờ thoai thoải Trắc diện dọc của sông ở vùng hạ lưu khá dốc (>20%), còn độ dốc chỉ khoảng 5% Sự chênh lệch này là tác nhân gây nên những trận lũ lớn, đột ngột và nguy hiểm cho vùng hạ lưu

3.2-Các đặc trưng của dòng chảy hệ thống sông Thu Bồn-Vu Gia

3.2.1-Các đại lượng đặc trưng của dòng chảy giai đoạn 2005-2010

Các đại lượng đặc trưng của dòng chảy sông ngòi bao gồm các yếu tố như mực nước (cm), lưu lượng dòng chảy Q (m3/s), modul dòng chảy M (l/s/km2), độ sâu dòng chảy Y (mm), tổng lượng dòng chảy W (m3) Các đại lượng này phụ thuộc

Trang 31

khá nhiều vào lượng mưa trên lưu vực nên chúng không ổn định mà thường có sự biến động theo không gian và thời gian

a- Mực nước

Trong nhóm các nhân tố khí tượng có thể nói rằng mưa là nhân tố quan trọng nhất, có vai trò chủ đạo trong việc hình thành chế độ dòng chảy của hệ thống sông Lượng mưa trên lưu vực hệ thống sông Thu Bồn–Vu Gia khá lớn (> 2000 mm/năm) và có sự phân hóa sâu sắc theo không gian và thời gian Mùa cạn tương ứng với thời kỳ mùa khô (tháng I–VII) và lượng mưa trong mùa này cũng chỉ đạt 20-30% tổng lượng mưa năm Mùa lũ trên sông trùng với mùa mưa nhiều (tháng VIII–XII), song chủ yếu tập trung vào hai tháng X, XI với lượng mưa chiếm khoảng 40-60% tổng lượng mưa năm Đây cũng là nguồn cung cấp nước sông dồi dào, đồng thời cũng gây nguy cơ lũ lụt khá cao Do sự tương quan giữa hai thời kỳ mưa như vậy mà mực nước sông Thu Bồn–Vu Gia không những có sự chênh lệch giữa các tháng trong năm mà còn có sự chuyển biến theo thời gian

Để có thể thấy rõ hơn sự biến động về mực nước của lưu vực sông Thu

Bồn-Vu Gia ta sẽ khảo sát hai trạm thủy văn tiêu biểu: Trạm Thành Mỹ đại diện cho sông Cái (Vu Gia) và trạm Nông Sơn đại diện cho sông Thu Bồn giai đoạn 2005-

2010

Bảng 3.1-Mực nước trung bình tại trạm Nông Sơn (S Thu Bồn)- Đv: cm

Năm TBNN 463 406 371 353 374 373 353 349 408 581 694 599 444

Trang 32

HÌNH 3.1-BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA LƯỢNG MƯA VÀ ĐỘ CAO MỰC NƯỚC HỆ THỐNG SÔNG

THU BỒN-VU GIA (TRẠM NÔNG SƠN)

487 524

526 532

480 505

444

3248 3465

3460 3921

2884 3145

Mực nước trung bình Tổng lượng mưa năm

Bảng 3.2-Mực nước trung bình tại trạm Thành Mỹ (S.Vu Gia)- Đv: cm

năm TBNN 1111 1071 1047 1035 1049 1054 1043 1048 1092 1211 1276 1206 1104

Ngày đăng: 08/05/2021, 21:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w