1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sự tương tác hành vi ngôn ngữ qua lời thoại trong tiểu thuyết mảnh đất lắm người nhiều ma của nguyễn khắc trường

72 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 652,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cách tiếp cận của tác giả là cơ sở để chúng tôi có cách phân chia ngữ nghĩa lời trao - đáp trong sự tương tác hội thoại một cách phù hợp nhất.. Tác giả Dương Thị Thanh Huyền với Đặc trưn

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

của Nguyễn Khắc Trường

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

A MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Như chúng ta biết giao tiếp là hành động tiếp xúc giữa con người với con người trong xã hội thông qua một phương tiện nhất định, trong đó ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất Giao tiếp có thể diễn ra ở dạng nói hoặc dạng viết, tuy nhiên dạng nói là phổ biến và chủ yếu Trong giao tiếp dạng nói thì hội thoại là hình thức giao tiếp phổ biến Như vậy hội thoại là hoạt động giao tiếp

cơ bản của ngôn ngữ Trong tác phẩm văn học, các nhà văn thường vận dụng lời

ăn tiếng nói hàng ngày thể hiện qua lời thoại nhân vật góp phần làm cho tác phẩm chân thật và sinh động hơn

Văn học Việt Nam sau 1975 có sự đổi mới về tư duy nghệ thuật và được thể hiện rõ qua tiểu thuyết Tiểu thuyết có chuyển biến đa dạng tập trung phản ánh hiện thực đời thường Nguyễn Khắc Trường là một trong số ít tác giả đặt những

bước chân đầu tiên để lại dấu ấn trong lòng người đọc với Mảnh đất lắm người nhiều ma Tác giả đã đưa vào trong tác phẩm một hệ thống nhân vật để phản ánh

hiện thực cuộc sống nông thôn sau đổi mới Sau khi ra đời tác phẩm được nhiều người biết đến và được đạo diễn Nguyễn Hữu Phần chuyển thể thành phim

truyền hình Đất và người

Trang 3

Để nhận ra những giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, không có gì

thú vị hơn là tìm hiểu hệ thống nhân vật, đặc biệt là lời thoại nhân vật Nghiên

cứu vấn đề tương tác hành vi ngôn ngữ qua lời thoại trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường là việc làm cần thiết Nó không

chỉ giúp chúng ta tiếp cận một vấn đề khoa học hết sức lý thú mà còn khẳng định tài năng của nhà văn Nguyễn Khắc Trường

Đó là lí do chúng tôi chọn đề tài “Sự tương tác hành vi ngôn ngữ qua lời thoại trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường” để

làm khóa luận tốt nghiệp

2 Lịch sử vấn đề

- Trên phương diện ngôn ngữ

Trên thế giới đã từ lâu, ngữ dụng học phát triển một cách mạnh mẽ và ngày càng

có vị trí đặc biệt trong ngôn ngữ học Ngữ dụng học được các nhà ngôn ngữ học nước ngoài xây dựng, trên cơ sở tiếp thu kết quả nghiên cứu đó, một số nhà ngôn ngữ trong nước đã trình bày lại và vận dụng vào việc nghiên cứu tiếng Việt Chúng ta phải kể đến các tác giả đầu ngành như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Thiện Giáp, Cao Xuân Hạo với những công trình nghiên cứu về các phương diện liên quan đến ngành ngữ dụng học

Ở vấn đề này, trước hết phải kể đến tác giả Đỗ Hữu Châu Ông có các công

trình tiêu biểu về ngữ dụng học như: “Cơ sở ngữ dụng học” (2003), “Đại cương ngôn ngữ học” (2006), “Giáo trình ngữ dụng học” (2007) Các vấn đề về lý

thuyết hội thoại, vận động hội thoại, quy tắc hội thoại, cấu trúc hội thoại được tác

Trang 4

giả Đỗ Hữu Châu trình bày một cách có hệ thống, đầy đủ, giúp cho người đọc có

những cách tiếp cận mới đối với một lĩnh vực vừa mới vừa khó Trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học, tập hai, nội dung đầu tiên Đỗ Hữu Châu trình bày là vận

động hội thoại, ông cho rằng trong bất cứ cuộc hội thoại nào cũng có ba vận động

chủ yếu: trao lời, đáp lời, và tương tác Theo ông, quy tắc, cấu trúc, chức năng

trong hội thoại đều do ba vận động tương tác này mà có Cùng với ba vận động

hội thoại, Đỗ Hữu Châu còn trình bày quy tắc hội thoại và cấu trúc hội thoại

Theo Đỗ Hữu Châu, quy tắc luân phiên lượt lời có mục đích phục vụ cho sự phát triển nội dung cuộc thoại Quy tắc luân phiên lượt lời có vận hành tốt thì hội thoại mới có kết quả Còn quy tắc điều hành nội dung của cuộc thoại có chức năng điều hành nội dung của hội thoại

Trong cuốn Ngữ dụng học, tập một, (1998) Nguyễn Đức Dân đã trình bày các

vấn đề lý luận chung và đưa ra các ví dụ phục vụ cho phần lý thuyết Đặc biệt là trong phần hành vi ngôn ngữ và hội thoại, ông trình bày một cách chi tiết các vấn

đề như các loại hành vi ngôn ngữ, hành vi tại lời trực tiếp, hành vi tại lời gián tiếp, những vấn đề đại cương về hội thoại, cấu trúc hội thoại, nguyên lý hội thoại

và phép lịch sự Nguyễn Đức Dân đã đề cập đến cấu trúc hội thoại với các thành

tố: lượt lời, mở thoại, cặp thoại; trong lượt lời có sự phân biệt giữa tranh lời với trao lời đã giúp chúng tôi có hướng tiếp cận sâu sắc hơn

Ngoài ra phải kể đến những công trình của các tác giả như Nguyễn Thiện Giáp

với cuốn Dụng học Việt ngữ, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình ngữ dụng học (2008), 777 khái niệm ngôn ngữ học (2010) Trong cuốn sách Dụng học Việt ngữ tác giả viết rất kĩ về Lí thuyết hành động ngôn từ và lí thuyết hội thoại

Ở Lí thuyết hành động ngôn từ tác giả trình bày về sự ra đời của Lí thuyết hành động ngôn từ, các hành động ngôn từ và chú ý các kiểu hành động ngoài lời Về

Trang 5

lí thuyết hội thoại tác giả Nguyễn Thiện Giáp trình bày rất kĩ về các mặt nhất là

về các yếu tố cấu trúc của hội thoại Có thể thấy qua cuốn sách “Ngữ pháp chức năng tiếng Việt” (2000) và “Tiếng Việt sơ khảo ngữ pháp chức năng” (2006), tác

giả Cao Xuân Hạo đã trình bày một cách cụ thể các mô hình lý thuyết ba bình

diện trong ngôn ngữ học hiện đại: kết học, nghĩa học và dụng pháp, trong đó dụng pháp được chú ý nhiều nhất Theo tác giả bình diện này cũng thuộc một mặt

nội dung câu biểu đạt, nó gồm có tất cả những gì hiện rõ khi câu được nói ra do một người cụ thể trong một tình huống cụ thể, hay được đặt trong một văn cảnh nhất định Và theo hướng tiếp cận này đã gợi cho chúng tôi phân chia kiểu hành

vi ngôn ngữ trực tiếp và hình vi ngôn ngữ gián tiếp mang nhiều nghĩa khác nhau khi được đặt trong sự tương tác

Tác giả Đỗ Thị Kim Liên là người tiếp thu làm rõ hơn về lí thuyết hội thoại và

hành động ngôn ngữ, điều này thể hiện qua cuốn Giáo trình Ngữ dụng học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Ngoài ra, trong công trình Ngữ nghĩa lời hội thoại tác

giả cũng đã cung cấp một số kiến thức về vấn đề hội thoại Đây là những vấn đề

có tính chất cốt lõi để đi vào tìm hiểu hội thoại Đặc biệt tác giả đi sâu vào vấn đề trọng tâm là ngữ nghĩa lời hội thoại Ngữ nghĩa lời hội thoại với những yếu tố cơ bản cấu thành lời hội thoại Cách tiếp cận của tác giả là cơ sở để chúng tôi có cách phân chia ngữ nghĩa lời trao - đáp trong sự tương tác hội thoại một cách phù hợp nhất

Chúng tôi còn nhận thấy tác giả Nguyễn Thị Lương đã trình bày khá đầy đủ các

loại hành vi ngôn ngữ Trong cuốn Câu tiếng Việt tác giả cũng cho rằng hành vi

ngôn ngữ có 2 loại: hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp Tác giả cho rằng hành vi ngôn ngữ trực tiếp có các kiểu câu: câu trần thuật, câu

Trang 6

nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán, câu phủ định Còn hành vi gián tiếp thì có nhiều kiểu câu khác nhau:

hỏi – ra lệnh, hỏi – khuyên, hỏi – mời, trần thuật – hứa hẹn Cách phân chia của tác giả khá cụ thể đó là định hướng để chúng tôi tiếp cận đề tài nghiên cứu

Ngoài các công trình nghiên cứu tiêu biểu trên, khi bàn về hội thoại và các hành vi ngôn ngữ còn có nhiều bài viết liên quan của các tác giả Nguyễn Thị Thìn, Diệp Quang Ban đã cung cấp khái niệm về hội thoại, cặp thoại, ngữ cảnh giao tiếp, hành vi ngôn ngữ Trên Tạp chí Ngôn ngữ có những bài viết về hành vi ngôn ngữ gián tiếp của các tác giả Lê Thị Thu Hoài, Đào Thanh Lan

Gần đây có nhiều khóa luận tốt nghiệp của sinh viên trường ĐHSP Đà Nẵng

đã đi vào giải quyết các vấn đề riêng lẻ về hành vi ngôn ngữ trong tác phẩm văn

học như: Đối thoại nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Khải sau 1975 của tác giả Phạm Thị Huế, tác giả Hoàng Minh Nguyệt với Hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong hội thoại qua truyện ngắn Nam Cao, tác giả Bùi Minh Toan với Hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong hội thoại qua truyện ngắn Nguyễn Công Hoan Hay Đặc trưng ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn Nam Cao của Vũ Thị Hạnh Tác giả Dương Thị Thanh Huyền với Đặc trưng ngôn ngữ hội thoại trong tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán, Phạm Thị Hồng với Tìm hiểu đặc điểm ngữ nghĩa lời đáp nghi vấn trong quan hệ với lời trao hình thức không nghi vấn…

Nhìn chung các nhà ngôn ngữ đã nghiên cứu và đưa ra nhiều vấn đề về hội thoại và hành vi ngôn ngữ Tuy có trình bày khác nhau về lí thuyết hội thoại và hành vi ngôn ngữ nhưng nhìn chung về cơ bản có điểm tương đồng Như vậy, qua các công trình được trình bày ở trên đã cho thấy hành vi ngôn ngữ và lý thuyết hội thoại thực sự là mảnh đất màu mỡ được các nhà ngôn ngữ học quan tâm Các khóa luận tốt nghiệp của sinh viên đã đi vào nghiên cứu các khía cạnh

Trang 7

của hành vi ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương nhưng chúng tôi nhận thấy đề

tài sự tương tác về hành vi ngôn ngữ qua lời thoại trong tác phẩm Mảnh đất lắm người nhiều ma thì chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập tới

- Trên phương diện phê bình văn học:

Từ lâu, Nguyễn Khắc Trường được giới nghiên cứu chú ý bởi nét riêng của nhà văn mang phẩm chất người lính Nhà văn sớm định hình cho mình một nét riêng, ngày càng tỏ rõ bản lĩnh nghệ thuật

Có một số công trình nghiên cứu về văn chương của Nguyễn Khắc Trường Tuy nhiên, hầu như công trình nào cũng nghiên cứu truyện ngắn của

Nguyễn Khắc Trường từ góc độ lí luận văn học Trong cuốn sách Tinh tuyển văn học Việt Nam, tập 8 Văn học giai đoạn 1945 -2000 do giáo sư Trần Đình Sử chủ biên có bài viết của tác giả Phạm Xuân Nguyên Ông cho rằng “Có những nhà văn vào nghề bằng một tác phẩm để đời và tất cả những cái viết về sau đều nhạt nhòa không vượt hơn cái đã đạt được Lại có những nhà văn đi hết nghề bỗng chợt thấy đời mình chưa có gì rồi chợt như được tổ nghề ban cho một tác phẩm làm vẻ vang tên mình Nguyễn Khắc Trường thuộc loại thứ hai, không dưng mà khi xuất bản tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma ông lại lấy tên khai sinh của mình, rũ bỏ cái bút danh Thao Trường đã gắn bó với nhiều tác phẩm trước

đó của ông Nhìn rộng ra trường hợp Nguyễn Khắc Trường có tính đại diện cho một số nhà văn đã có quá trình sáng tác từ trước nhưng vào thời đại mới khi nhà văn về lại chính mình sục vào những điều đã day dứt ám ảnh dằn vặt đeo đẳng suốt đời mình thì những trang viết bỗng có sinh khí, có sức nặng, neo được trong lòng người đọc cùng những nghĩ suy trăn trở Ở bề sau, bề sâu câu chữ, về mặt này Nguyễn Khắc Trường còn may mắn hơn nhiều đồng nghiệp khác, ông tìm được chính mình”

Trang 8

( 20, tr 1082)

Trong cuốn Chân dung và bút tích nhà văn Việt Nam do tác giả Trần Thanh

Phương và Phan Thu Hương (đồng chủ biên), NXB Giáo dục (2008) có đề cập một số nét về cuộc đời, sự nghiệp về tác giả Nguyễn Khắc Trường

Trong cuốn Điểm tựa phê bình văn học, tác giả Nguyễn Hữu Sơn có bài

“Bóng đêm- một phương diện tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma” Bài viết chủ yếu khảo sát thủ pháp nghệ thuật, cụ thể là thời

gian nghệ thuật của tiểu thuyết này

Cho đến bây giờ,chúng tôi chưa tìm thấy một công trình nào nghiên cứu về tác phẩm của Nguyển Khắc Trường từ góc độ ngôn ngữ học Kế thừa một phần thành quả của các công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học, các nhà phê

bình văn học, ở đề tài Sự tương tác hành vi ngôn ngữ qua lời thoại trong tiểu thuyết “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nguyễn Khắc Trường, người viết sẽ

tìm hiểu về lời thoại nghệ thuật của Nguyễn Khắc Trường từ góc độ ngữ dụng học Cụ thể hơn, người viết sẽ tìm hiểu ngôn ngữ trong mối tương quan với chủ thể và hoàn cảnh phát ngôn

Thực hiện đề tài này, người viết muốn thông qua việc phân tích các hành động ngôn từ mà nhân vật thực hiện trong các cuộc thoại của quá trình hội thoại để hướng tới mục đích tìm hiểu tâm lí, tính cách của nhân vật và tư tưởng của Nguyễn Khắc Trường thể hiện trong tác phẩm Đồng thời, chúng tôi khẳng định tầm quan trọng của hội thoại trong việc xây dựng hình tượng nhân vật trong tác phẩm của Nguyễn Khắc Trường cũng như vai trò của tương tác hành vi ngôn ngữ trong việc gián tiếp biểu hiện các giá trị tư tưởng, tình cảm nhà văn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 9

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là sự tương tác hành vi ngôn ngữ qua lời

thoại nhân vật

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là cuốn tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều

ma của Nguyễn Khắc Trường (1992, NXB Hội nhà văn)

4 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài này chúng sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

Chương 1: Một số vấn đề lí luận chung liên quan đến đề tài

Chương 2: Phân loại sự tương tác hành vi ngôn ngữ qua lời thoại trong tiểu

thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường

Chương 3: Giá trị biểu đạt của hành vi ngôn ngữ trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma

Trang 10

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG

1.1 Hội thoại và những vấn đề liên quan đến đề tài

1.1.1 Khái niệm hội thoại

Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về hội thoại Tác giả Đỗ Hữu Châu

cũng khẳng định: “Hội thoại là hoạt động giao tiếp căn bản thường xuyên, phổ biến của sự hành chức ngôn ngữ Các hình thức hành chức khác của ngôn ngữ đều được giải thích dựa vào hình thức hoạt động bản căn này” [7, tr.276]

Theo Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Hội thoại là sử dụng một ngôn ngữ để nói chuyện với nhau” [18, tr.444]

Có thể nói khái niệm hội thoại lâu nay thường được sử dụng trong việc dạy

và học ngoại ngữ Người ta quan niệm đây là một bộ môn dạy về hoạt động ngôn ngữ bằng lời nhằm trao đổi với nhau về các vấn đề cá nhân để đối lập với bộ môn

dịch Khi bàn về vấn đề này tác giả Nguyễn Đức Dân cho rằng: “Trong giao tiếp hai chiều, bên này nói bên kia nghe và phản hồi trở lại Lúc đó vai trò của hai bên thay đổi: bên nghe lại trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe

Đó là hội thoại Hoạt động giao tiếp phổ biến nhất, căn bản nhất là hội thoại”

[8, tr.76]

Trang 11

Sau khi đề cập các khái niệm mà các nhà ngôn ngữ đưa ra chúng tôi xin

được tiếp thu quan niệm của tác giả Đỗ Thị Kim Liên: “Hội thoại là một hoạt động ngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa họ có sự tương tác về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định ” [13, tr.18]

Xét trong mối quan hệ với chủ thể phát ngôn, có các dạng hội thoại: song thoại, tam thoại và đa thoại Tuy nhiên, song thoại là hình thức giao tiếp quan trọng và phổ biến nhất

1.1.2 Các vận động hội thoại

Hội thoại là hoạt động cơ bản thường xuyên của sự hành chức ngôn ngữ Trong giới hạn đề tài này chúng tôi chỉ đề cập đến dạng song thoại Vận động hội thoại giữa hai nhân vật bao gồm ba nhân tố: vận động trao lời, vận động đáp lời

và vận động tương tác

1.1.2.1 Vận động trao lời

Trao lời là vận động mà người nói nói lượt lời của mình ra và hướng lượt lời của mình về phía người nghe, nhằm làm cho người nghe nhận biết được rằng

lượt lời được nói ra đó là dành cho người nghe Hay sự trao lời là sự vận động

của người nói A hướng lời nói của mình vào người nghe B Một chuỗi các đơn

vị ngôn ngữ được một nhân vật hội thoại nói ra kể từ lúc bắt đầu cho đến lúc chấm dứt để cho nhân vật hội thoại kia nói chuỗi của mình là một lượt lời Trừ trường hợp độc thoại, Sp1 và Sp2 là hai người khác nhau Trong lời trao, sự có mặt của Sp1 là điều tất yếu, được thể hiện ở từ xưng hô ngôi thứ nhất, ở tình cảm, thái độ, hiểu biết, ở quan điểm của Sp1 trong nội dung của lượt lời trao Cuộc thoại chính thức hình thành khi Sp2 nói ra lượt lời đáp lại Sp1

Ví dụ:

Trang 12

Đào bưng chén nước lã vào run run đặt bên cạnh, rồi nhìn ông hỏi khẽ:

- Có cần gì nữa không thầy?

- Thôi đi xuống nhà, để thầy nói chuyện với u mày!

[1, tr.282]

Trong ví dụ trên có nhân vật cụ thể hướng lời nói của mình về phía người nghe

cụ thể

1.1.2.2 Vận động đáp lời (trao đáp)

Đáp lời hay còn gọi là trao đáp là lời của người nghe dùng để đáp lại lời

của người nói Khi lời trao không có lời đáp thì không thành cuộc thoại Vận động này là cốt lõi của hội thoại, nó diễn ra liên tục nhịp nhàng với sự thay đổi linh hoạt Diễn ngôn là sản phẩm của hành vi ngôn ngữ Tất cả các hành vi ngôn ngữ đều đòi hỏi có sự đáp lời Sự đáp lời có thể bằng các hành vi ngôn ngữ tương thích với hành vi dẫn nhập

- Khái niệm tương tác

Theo Từ điển tiếng Việt thì Tương tác là sự tác động qua lại lẫn nhau

Sự tương tác được hiểu là: Các nhân vật giao tiếp ảnh hưởng lẫn nhau, tác động qua lại lẫn nhau, tác động đến cách ứng xử của từng người trong quá trình

Trang 13

hội thoại Theo tác giả Đỗ Hữu Châu thì: “ Tương tác có nghĩa là tác động qua lại mà những người trong cuộc gây ra tác động đến hành động của nhau khi họ đối mặt với nhau”

[7, tr.281]

Trong quá trình trao đáp của hội thoại, sự tương tác thể hiện ở chỗ các nhân vật ảnh hưởng lẫn nhau, tác động qua lại với nhau làm cho hội thoại biến đổi Trước khi có hội thoại, các nhân vật tham gia hội thoại thường có sự khác biệt, thậm chí trái ngược về các mặt Nhưng trong quá trình hội thoại, do sự tương tác, những khác biệt ấy có thể giảm đi hoặc mở rộng ra, đôi khi căng lên thành một xung đột Như vậy, trong quá trình hội thoại các nhân vật luôn có sự tác động qua lại đến nhau biểu hiện qua cách sử dụng từ xưng hô, thay từ xưng

hô, cách hiểu về nội dung thông tin do mỗi phía cung cấp dẫn đến sự điều chỉnh thích hợp như: hiểu biết lẫn nhau, vỡ lẽ, bực tức, nghi ngờ

Trong hội thoại nhân vật hội thoại cũng là nhân vật liên tương tác, họ tác

động lẫn nhau về mọi phương diện mà quan trọng nhất là lời nói Liên tương tác trong hội thoại trước hết là liên tương tác giữa các lượt lời của Sp1 và Sp2 Từ đó cho thấy lượt lời vừa chịu tác động vừa là phương tiện mà Sp1, Sp2 sử dụng để gây ra tác động đối với lời nói và qua lời nói mà tác động đến tâm lí, sinh lí, vật lí của nhau Trong các tác phẩm văn chương tự sự, qua vận động hội thoại trong các cuộc hội thoại của nhân vật, chúng ta ít nhiều nhận thấy được sự vận động nội tâm cũng như tính cách nhân vật

- Các phương diện tương tác

+ Tương tác về nhân vật giao tiếp

Trước khi giao tiếp người nói và người nghe đôi khi đã có sự hiểu nhau,

giữa họ đã có khoảng cách nhất định về mối quan hệ thân sơ và từ đó họ chọn từ

Trang 14

xưng hô thích hợp Trong sự giao tiếp các nhân vật có thể hiểu nhau hơn hoặc mâu thuẫn hơn

+ Tương tác với chính cuộc thoại

Như chúng ta biết hội thoại có thể ở hai cực là điều hòa nhịp nhàng hoặc hỗn độn vướng mắc Khi các nhân vật cùng có sự thống nhất trong các hành vi ngôn ngữ thì cuộc thoại diễn ra theo chiều thuận, trôi chảy nhưng nếu các nhân vật bất đồng về quan điểm, về hành vi ngôn ngữ dẫn đến cuộc thoại diễn ra không nhịp nhàng, chứa mâu thuẫn

- Các cách thức điều hành vận động tương tác

Có thể nhận định rằng không phải hai người thay nhau nói là tạo thành một

cuộc thoại Trong hoạt động giao tiếp mỗi người phải có ý thức và trách nhiệm khởi động và duy trì cuộc thoại Các nhân vật tham gia hội thoại bộc lộ ý thức này thông qua việc sử dụng hệ thống phương tiện hợp thức hóa liên phát ngôn Khi một người nói cần phải có một người nghe nhưng nếu người nghe không hưởng ứng thì cuộc thoại của họ trở nên tẻ nhạt Tác giả Đỗ Thị Kim Liên đưa ra sáu phương tiện ngôn ngữ điều hành sự vận động hội thoại theo chiều tiến triển Bao gồm: Lời chào và những nghi thức tạo lập duy trì củng cố quan hệ hôi thoại; Dùng những từ hô gọi tổ hợp tình thái để người nghe chú ý đến nội dung trong lời thoại của người nói; Dùng những tổ hợp tình thái thể hiện các trạng thái cảm xúc của người nói khi mới gặp đối tượng hiện thực nào đó gây sự chú ý của người nghe; Dẫn dắt người nghe vào nội dung cuộc thoại; Chuyển hướng cuộc thoại; Dùng hệ thống luân phiên lượt lời

Như vậy, để cuộc thoại tiến triển theo hướng tích cực đúng mong muốn thì các nhân vật tham gia hội thoại cần có sự tương tác, lúc này họ là những nhân vật liên tương tác Sự tương tác trong hội thoại tác động đến cách ứng xử của các

Trang 15

nhân vật khiến cho mỗi người phải có sự phối hợp về nhiều mặt Giữa các nhân vật liên tương tác có sự liên hòa phối – tức là sự phối hợp, sự tự hòa phối của từng nhân vật Sự liên hòa phối đồng thời diễn ra khi cả hai cùng thực hiện sự tự hòa phối Tương tác vào lượt lời và bằng lượt lời trong hội thoại được thực hiện thông qua vận động liên hòa phối Sự liên hòa phối trong đối thoại được đảm bảo nhờ các tín hiệu phát ngôn.Và cuối cùng để có cuộc thoại vận động và tiến triển mỗi nhân vật tham gia cần phải góp phần tích cực để đưa cuộc thoại đi đến đích

Ba vận động trao lời, trao đáp và tương tác là ba vận động đặc trưng của hội thoại, trong đó vận động thứ nhất và vận động thứ hai do từng đối tác thực hiện nhằm phối hợp với nhau thành vận động thứ ba Bởi tương tác là tác động chủ yếu trong hội thoại cho nên ngữ dụng học hội thoại còn được gọi là ngữ dụng học tương tác Sự liên hòa phối khiến cho một cuộc thoại là một hoạt động đặc

biệt của con người, trong đó “có thể xem mỗi nhân vật tương tác là những nhạc công trong bản giao hưởng vô hình mà phần nhạc họ chơi không được biên soạn

từ trước, mỗi người tự soạn ra trong diễn tiến của cuộc hòa nhạc, một cuộc hòa nhạc không có nhạc trưởng” [3, tr.219]

1.1.3 Ngữ cảnh

1.1.3.1 Khái niệm

Khi nói đến giao tiếp không thể không đề cập đến khái niệm ngữ cảnh

Khái niệm này được hiểu không đồng nhất ở những tác giả khác nhau Trong Từ

điển Tiếng Việt định nghĩa “ Ngữ cảnh là tổng thể nói chung những đơn vị đứng trước và đứng sau một đơn vị ngôn ngữ đang xét, quy định ý nghĩa và giá trị cụ thể của đơn vị đó trong chuỗi lời nói Căn cứ vào ngữ cảnh giải thích nghĩa của từ” [18, tr.673] Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Ngữ cảnh là những nhân tố có mặt trong cuộc giao tiếp nhưng nằm ngoài diễn ngôn Ngữ cảnh bao gồm hai

Trang 16

nhân tố là nhân vật giao tiếp va hoàn cảnh giao tiếp” [ 7, tr.15] Còn tác giả Đỗ

Thị Kim Liên lại tách nhân tố nhân vật giao tiếp thành một nhân tố riêng Như vậy ở đây khái niệm ngữ cảnh trùng với nhân tố hoàn cảnh giao tiếp của tác giả

Đỗ Hữu Châu Ngữ cảnh giao tiếp gồm:

- Ngữ cảnh giao tiếp rộng là những hiểu biết về thế giới vật lý, sinh lý, tâm

lý, xã hội, văn hóa, tôn giáo, lịch sử, các ngành khoa học nghệ thuật của nhân vật giao tiếp Chúng tạo nên cái không gian – thời gian trong đó đang diễn ra cuộc hội thoại, cho phép nhân vật giao tiếp với nhau không lệch kênh

- Ngữ cảnh giao tiếp hẹp là toàn bộ không gian, thời gian cụ thể cho phép một câu nói được hay không nói được

Ngữ cảnh giao tiếp rộng và ngữ cảnh giao tiếp hẹp luôn đi liền nhau, gắn bó với nhau, ngữ cảnh giao tiếp hẹp như là những mảnh cắt của thời gian, của đời sống hiện thực được nối kết thành ngữ cảnh giao cảnh giao tiếp rộng

Trong hội thoại ngữ cảnh đã ảnh hưởng đến ngữ nghĩa của câu: Ngữ cảnh cho phép hiểu câu đơn nghĩa, hiểu một câu vừa có nghĩa hiển ngôn và nghĩa hàm ngôn Như vậy ngữ cảnh khác nhau thì có những câu trả lời khác nhau cho cùng một câu hỏi

1.1.3.2 Nhân vật giao tiếp

Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào một cuộc giao tiếp bằng

ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra các lời nói, các diễn ngôn sẽ tác động vào nhau Đó là những người tương tác bằng ngôn ngữ, giữa các nhân vật giao tiếp có quan hệ vai giao tiếp và quan hệ liên cá nhân

Về vai giao tiếp có thể thấy được sự phân vai, có vai nói Sp1 và vai nghe Sp2 Trong quá trình giao tiếp luôn có sự luân chuyển Sp1 sau khi nói xong chuyển thành vai nghe Sp2 và ngược lại

Trang 17

Quan hệ liên cá nhân là quan hệ xét trong tương quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp với nhau Quan hệ vai giao tiếp là quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp đối với sự phát nhận trong giao tiếp Quan hệ liên cá nhân chi phối cả tiến trình giao tiếp, cả nội dung lẫn hình thức của diễn ngôn Trong tiếng Việt xưng hô chịu áp lực rất lớn của quan hệ liên cá nhân nên những người đối thoại thường có sự thay đổi cách xưng hô

1.1.4 Hành động ngôn ngữ

1.1.4.1.Khái niệm

Khái niệm hành động được sử dụng để chỉ các hoạt động của con người nói chung Đồng thời con người lại dùng ngôn ngữ để nói với nhau, thông tin cho nhau về các nội dung khác nhau, làm cho nhau cùng biến đổi ta gọi là hành động ngôn ngữ Khi giao tiếp vai nói và vai nghe luôn đảm nhiệm vai trò khác nhau và như vậy có thể thấy giao tiếp là một dạng hành động xã hội của con người bằng ngôn ngữ

1.1.4.2 Phân loại hành động ngôn ngữ

Theo quan điểm của J.L Austin có ba loại hành động ngôn ngữ: Hành

động tạo lời, hành động mượn lời và hành động ở lời

- Hành động tạo lời

Là hành động sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, vốn từ, qui tắc kết hợp để tạo thành những phát ngôn hay những văn bản có thể hiểu được

- Hành động mượn lời

Là hành động mượn phương tiện ngôn ngữ, mượn các phát ngôn để gây ra

sự tác động hay hiệu quả ngoài ngôn ngữ đối với người nghe Có thể thấy hiệu quả của hành động mượn lời tác động đến người nghe khác nhau, không có tính qui ước

Trang 18

- Hành động ở lời

Là hành động người nói thực hiện ngay khi nói năng Hiệu quả của chúng gây ra sự tác động thuộc về ngôn ngữ, gây phản ứng với người nghe Hành động này có tính qui ước mà qui tắc vận hành chúng được mọi người trong cộng đồng ngôn ngữ tuân theo một cách tự giác Chúng đặt người nói và người nghe vào trong những nghĩa vụ và quyền lợi mới so với tình trạng trước khi có câu nói trên

bề mặt Vì vậy, ngữ dụng học tập trung nghiên cứu hành động ở lời

1.1.4.3 Hành động ở lời trực tiếp và hành động tại lời gián tiếp

Khi giao tiếp không phải bao giờ nhân vật cũng sử dụng hành động ở lời trực tiếp bởi những lí do khác nhau Tùy vào từng hoàn cảnh cụ thể mà nhân vật giao tiếp lựa chọn phương thức phù hợp

- Hành động ở lời gián tiếp

Là hành động không có sự tương ứng giữa cấu trúc phát ngôn trên bề mặt với hiệu lực của nó gây nên

Ví dụ : Bây giờ là mấy giờ? Hành động ở lời hỏi nhưng hiệu lực gây ra là người

nói muốn cảnh cáo người nghe đi học muộn khi đặt trong ngữ cảnh cụ thể Trong trường hợp này thông qua hành vi trực tiếp hỏi, thầy giáo muốn thể hiện hành vi ngôn ngữ gián tiếp cảnh cáo học sinh Học sinh cũng nhận biết được sự cảnh cáo

Trang 19

này cho nên thường đáp lại bằng câu trả lời Em biết lỗi rồi và mong thầy tha thứ nhằm thanh minh chứ không phải bằng phát ngôn kiểu Thưa thầy, 7h30 rồi ạ

1.1.5 Các đơn vị hội thoại

- Cuộc thoại:

Cuộc thoại là toàn bộ cuộc đối đáp của các nhân vật từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc Cuộc thoại chỉ xoay quanh đề tài hay một mục đích nhưng cũng có thể gồm nhiều đề tài, nhiều đích khác nhau

- Đoạn thoại:

Đoạn thoại là một bộ phận của cuộc thoại, do các cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng (về ngữ nghĩa đó là các đơn vị có sự liên kết nhờ chủ đề Về ngữ dụng đó là các đơn vị có tính duy nhất về đích hội thoại) Như vậy, trong cuộc hội thoại mặt đối mặt thì đoạn thoại được đánh dấu bằng sự thống nhất một dề tài và một đích Tiêu chí để tách cuộc thoại thành đoạn thoại đó là sự chuyển hướng đề tài

- Cặp thoại:

Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại tối thiểu, cũng tức là cặp kế cận gồm một hành vi dẫn nhập và một hành vi hồi đáp Cặp thoại được hiện thực hóa qua tham thoại trao đáp

- Tham thoại:

Tham thoại là đơn vị đơn thoại do một cá nhân nói ra cùng với tham thoại

khác lập thành một cuộc thoại Theo tác giả Đỗ Hữu Châu phân biệt rạch ròi tham thoại và lượt lời Lượt lời là chuỗi đơn vị ngôn ngữ được một nhân vật hội thoại nói ra kể từ lúc bắt đầu đến lúc chấm dứt để cho nhân vật hội thoại kia nói chuỗi của mình là một lượt lời Tham thoại có thể trùng, lớn hơn hoặc nhỏ hơn

Trang 20

một tham thoại Nếu cặp thoại là đơn vi lưỡng thoại thì tham thoại là đơn vị đơn thoại, dùng để cấu tạo nên cặp thoại

- Hành vi ngôn ngữ:

Là đơn vị tối thiểu tạo nên tham thoại Đây là đơn vị nhỏ nhất của ngữ pháp

hội thoại Trong một phát ngôn có thể có một hay nhiều hành vi ngôn ngữ Xét trong quan hệ hội thoại, các hành vi ngôn ngữ có thể chia thành hai nhóm:

Nhóm hành vi có hiệu lực ở lời ->hành vi chủ hướng

Nhóm hành vi liên hành vi->hành vi phụ thuộc

Khi thực hiện một hành vi có hiệu lực ở lời người nói có trách nhiệm đối với phát ngôn của mình và có quyền đòi hỏi người đối thoại phải hồi đáp lại bằng một hành vi ngôn ngữ tương ứng

1.1.6 Phân biệt lời thoại và lời dẫn thoại trong tác phẩm văn học

- Lời dẫn thoại là lời tường thuật của tác giả trong tác phẩm văn học Nó không chứa đựng lời nói của nhân vật Lời dẫn thoại có chức năng cơ bản là dẫn dắt, báo trước sự xuất hiện, sự tồn tại của nhừng lời nói nhân vật khiến lời dẫn thoại xuất hiện không đột ngột mà luôn gắn với một chủ thể tình huống, ngữ cảnh nhất định

Vì vậy, dạng lời nói này không chỉ đóng vai trò chuyển tiếp, nối liền các sự kiện mà còn cung cấp thông tin về hành động, nói năng của nhân vật giúp người đọc hiểu rõ nội dung phát ngôn

- Lời thoại có hai loại:

+ Lời đối thoại: là những lời đối đáp trong cuộc giao tiếp song phương, đa phương thường là những phát ngôn đáp lại phát ngôn đi trước Thường kèm theo những cử chỉ, động tác biểu cảm của hai người trở lên

Trang 21

+ Lời độc thoại: là lời đối thoại không đòi hỏi đáp lại, độc lập với người tiếp nhận, được thể hiện rõ trong hình thức nói và viết Thường bị ngắt quãng nhưng cũng có khi bị ngắt quãng do độc thoại trong tưởng tượng

Trong đề tài này, chúng tôi tiến hành khảo sát lời thoại chủ yếu là lời đối thoại

để thấy được sự tương tác hành vi ngôn ngữ giữa các nhân vật

1.1.7 Câu phân loại theo mục đích nói

Người ta có thể phân loại câu thành câu đơn, câu ghép và trong câu đơn lại chia ra câu đơn hai thành phần, câu đặc biệt là dựa vào cấu trúc Ngoài ra còn phân loại câu theo mục đích nói, tức chủ yếu dựa vào mục đích chủ quan của người nói thể hiện trong mỗi câu nói Khi phân loại câu theo mục đích nói chúng

ta có các kiểu: câu trần thuật, câu cầu khiến – mệnh lệnh, câu hỏi và câu cảm thán

1.1.7.1 Câu trần thuật

Câu trần thuật dùng để xác nhận về sự tồn tại của sư vật hay các đặc trưng, hoạt động, trạng thái của sự vật Đây là loại câu được dùng rộng rãi nhất Về hình thức biểu hiện cuối câu trần thuật thường có dấu chấm (.) Về nội dung có hai nhóm: câu tường thuật khẳng định và câu tường thuật phủ định

- Câu tường thuật khẳng định: Loại này thường nêu lên sự vật, hiện tượng được nhận định là có tồn tại

- Câu tường thuật phủ định: Thường xác nhận sự vắng mặt hay không tồn tại của sự vật hiện tượng hay là tường thuật một sự việc nhưng theo chiều phủ định

1.1.7.2 Câu hỏi

Câu hỏi dùng để thể hiện sự nghi vấn của người nói về một vấn đề gì đó và mong muốn người nghe đáp lời Cuối câu nghi vấn thường có dấu chấm hỏi (?) Nhờ trọng điểm hỏi chứa ở đại từ để hỏi cùng các yếu tố từ vựng trong câu hỏi

Trang 22

mà câu đáp có thể có dạng đầy đủ hoặc tỉnh lược chỉ còn chủ ngữ, vị ngữ hay bổ ngữ Tùy theo vị thế của người đáp trong quan hệ tương tác với người hỏi mà người đáp có thể sử dụng các kiểu câu đáp với những tình thái phù hợp Việc sử dụng hoặc không sử dụng từ xưng hô đứng trước hay cuối câu có ảnh hưởng tới

sự thể hiện thái độ của người đáp: tôn trọng, suồng sã, bình đẳng, chống đối

1.1.7.3 Câu cầu khiến – mệnh lệnh

Loại này được dùng để bày tỏ thái độ cầu khiến (mong muốn người nghe thực hiện) hay mệnh lệnh (bắt buộc người nghe phải thực hiện) Theo tác giả

Nguyễn Kim Thản: “Câu cầu khiến nhằm mục đích nêu lên ý chí của người nói

và đòi hỏi, mong muốn người nghe phải thực hiện những điều nêu ra trong câu cầu khiến” Theo tác giả Diệp Quang Ban: “ Câu mệnh lệnh được dùng để bày tỏ, muốn nhờ hay bắt buộc người nghe thực hiện điều được nêu trong câu và có những dấu hiệu hình thức nhất định”

[4, tr.238]

Các tác giả Lê Cận, Phan Thiều, Hoàng Văn Thung cho rằng: “Câu mệnh lệnh cầu khiến nói lên ý muồn, lời cầu mong, mệnh lệnh của người nói truyền đạt cho người đối thoại với mục đích yêu cầu người đối thoại thực hiện” Như vậy, các

tác giả ngữ pháp truyền thống đều nhất trí về kiểu câu mệnh lệnh – cầu khiến Tuy vậy họ chưa đi vào miêu tả kỹ kiểu câu này Xét trên những ý nghĩa lớn có hai nhóm lớn là câu mệnh lệnh và câu cầu khiến

- Câu mệnh lệnh: Câu mệnh lệnh thường sử dụng những động từ như: bước, cút, đi, ra, vào…kèm ngữ điệu mạnh nhằm thể hiện thái độ dứt khoát của người

nói bắt người nghe thực hiện

Trang 23

- Câu cầu khiến: Kiểu này thể hiện nguyện vọng của người nói hướng đến người nghe thực hiện hành vi đề nghị: biểu thị sự thúc giục; biểu thị sự yêu cầu cùng hành động; biểu thị một lời chúc thân mật khi chia tay

Có khi dùng ngữ điệu kèm theo tính từ, động từ, danh từ để biểu thị một nguyện

vọng, lời đề nghị hay một yêu cầu Dùng động từ để, cho đứng ở câu, sau động

từ để, cho là động từ và đại từ nhân xưng ngôi thứ ba Có khi dùng động từ kết

hợp với từ thay cụm từ để biểu thị: sự ngăn cản, sự mời mọc, lời đề nghị Dùng

động từ cứ ở đầu câu để biểu thị yêu cầu người nghe tiếp tục một hành vi được

bắt đầu từ trước

1.1.7.4 Câu cảm thán

Tác giả Bùi Minh Toán cho rằng: “ Câu cảm thán dùng để bộc lộ những

cảm xúc, tình cảm, thái độ của người nói đối với sự vật hay hiện tượng được nói đến” [12, tr.98]

Câu cảm thán là câu sử dụng các từ ngữ chuyên biệt để biểu thị những cảm xúc mạnh, đột ngột, có tính bộc phát của người nói, thường được dùng trong ngôn ngữ sinh hoạt và ngôn ngữ văn chương

Trong tiếng Việt, mặc dù tần số xuất hiện không nhiều nhưng câu cảm thán giữ vai trò hết sức quan trọng trong giao tiếp Đây là câu đặc biệt cả về mặt nội dung

ý nghĩa lẫn hình thức biểu hiện và có giá trị biểu cảm rất lớn

1.2 Vài nét về tác giả - tác phẩm

1.2.1 Nhà văn Nguyễn Khắc Trường

Nhà văn có tên khai sinh là Nguyễn Khắc Trường sinh năm 1946 tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên Từ khi tham gia sáng tác nhà văn lấy bút danh Thao Trường Nguyễn Khắc Trường gia nhập quân đội từ 1965 và công tác tại quân chủng phòng không không quân Sau 1975 ông học tại trường viết văn Nguyễn

Trang 24

Du và sau khi tốt nghiệp được về làm biên tập tại Tạp chí văn nghệ quân đội Ông là đảng viên Đảng cộng sản và là hội viên Hội nhà văn Việt Nam năm 1982, còn hiện nay ông đang công tác tại tuần báo văn nghệ Suốt quãng đời cầm bút Nguyễn Khắc Trường đã cống hiến hết mình hi vọng góp thêm phần nhỏ của bản thân vào việc đổi mới nền văn học nước nhà Nguyễn Khắc Trường viết không nhiều nhưng mỗi tác phẩm của ông lại có những giá trị sâu sắc không thể không

nhắc đến Các tác phẩm đã xuất bản gồm: Cửa khẩu (truyện vừa, 1972), Thác rừng (tập truyện, 1976), Miền đất mặt trời (tập truyện, 1982), Mảnh đất lắm người nhiều ma (tiểu thuyết, 1990) Nhờ sự nỗ lực cố gắng, không ngừng tìm tòi

phát hiện với những đề tài mới nhà văn đã gặt hái được nhiều thành công, đó là khi đạt giải nhất cuộc thi bút kí do tuần báo văn nghệ và đài tiếng nói Việt Nam

phối hợp tổ chức năm 1986 với bút kí Gặp lại anh hùng Núp Đặc biệt nhất phải

kể đến giải thưởng văn học Hội nhà văn Việt Nam năm 1991 với tiểu thuyết

Mảnh đất lắm người nhiều ma

Là một nhà văn mang phẩm chất cao quý của người lính Nguyễn Khắc

Trường từng tâm niệm rằng : “Một quyển sách hay cũng giống như một người bạn tốt Sách hay càng đọc càng ngẫm ra nhiều điều Bạn tốt mới có nhu cầu giao tiếp thường xuyên mà không nhàm chán Mua một quyển sách dễ như chọn nhầm phải một người bạn xấu chơi Ai cũng biết vậy, thế mà sách không hay vẫn

cứ nhiều Còn những người xấu chơi? Hẳn là cuộc sống như thế mới không cần đến văn học và không có một thứ máy nào thay thế được bộ óc và tay bút Ngồi vào bàn trong nỗi cô đơn nhà văn nhìn sâu vào cõi người, nhìn sâu vào những thiện ác”.[ 22, tr.378]

1.2.2.Tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma

Trang 25

Mảnh đất lắm người nhiều ma được sáng tác vào năm 1990 Tác phẩm được dịch ra tiếng Pháp và xuất bản cùng lúc ở Việt Nam và Pháp (1996) Mảnh đất lắm người nhiều ma chính là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất làm nên

tên tuổi Nguyễn Khắc Trường Như vậy có thể thấy rằng cuốn tiểu thuyết không phải dày dạn song lại có một cái tên hết sức hấp dẫn, một tiêu đề gợi mở nhiều suy tư triết lí Loại tác phẩm có tiêu đề gợi mở triết lí như vậy không nhiều Cuốn

tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma vượt qua được cái khó để được nhận

giải thưởng của Hội nhà văn năm 1991

Tác phẩm viết về nông thôn sau đổi mới được nhiều nhà nghiên cứu đánh

giá khá cao và đã được chuyển thể thành phim truyền hình với tiêu đề Đất và người bởi đạo diễn Nguyễn Hữu Phần Không gian câu chuyện là địa bàn nông

thôn ven sông Công (Thái Nguyên) trong những năm 1988 khi Việt Nam đang bắt đầu thời kì đổi mới Nội dung chính của tiểu thuyết xoay quanh sự đấu đá của hai dòng họ Vũ Đình và họ Trịnh Bá ở làng Giếng Chùa với hai đại diện là Vũ Đình Phúc (trưởng họ Vũ Đình) và Trịnh Bá Hàm (trưởng họ Trịnh Bá) cùng mối thù truyền kiếp Hai họ này lớn nhất và có máu mặt trong làng nhưng lại có những thù oán khó giải Câu chuyện cứ liên tục xoay quanh những ân oán giữa hai họ cùng đấu đá trong làng quê Đỉnh cao của ân oán là việc ông Hàm âm mưu đào mộ bố Phúc để yểm bùa ám hại dòng họ Vũ nhưng bị phát hiện Từ việc này

đã lôi kéo bà Son vào làm tăng độ kịch tính cho câu chuyện Những thủ đoạn của Thủ lần lượt được bày ra lộ rõ con người của Thủ Mâu thuẫn được đẩy đến đỉnh điểm khi bà Son bị cưỡng bách cao độ, xấu hổ thấy không còn lối thoát đã nhảy xuống sông tự vẫn Ngoài ra còn có mối tình oan trái giữa Đào –con gái ông Hàm với Tùng- cháu ông Phúc Chuyện tình của Tùng và Đào tưởng chừng dang dở khi việc làm xấu của ông Hàm bị Tùng phát hiện Mâu thuẫn của họ được giải

Trang 26

quyết ở cuối câu chuyện Bên cạnh đó tiểu thuyết còn đề cập đến những câu chuyện rắc rối quanh lũy tre làng thông qua những mối quan hệ phức tạp Câu chuyện cũng bị che phủ bởi những bóng ma từ huyền thoại ma ám nhân vật Quỳnh cho đến sự hiện diện của cô Thống Bệu

Tiểu thuyết kết thúc dang dở khi những mâu thuẫn bắt đầu được hạ nhiệt

và những bóng đen hắc ám bắt đầu được lộ rõ Mối tình của đôi trẻ có những tín hiệu tốt đẹp và cùng hướng đến ngay mai tươi sáng hơn

Qua việc tìm hiểu tác phẩm Mảnh đất lắm người nhiều ma với nhiều

đoạn hội thoại đặc sắc, chúng tôi khảo sát được 229 hành vi ngôn ngữ Chúng tôi phân thành hai loại chính đó là:

Hành vi đáp lời trực tiếp trong sự

tương tác với hành vi trao

Trang 27

Hành vi đáp lời gián tiếp trong sự

tương tác với hành vi trao

2.1 Hành vi đáp trực tiếp trong sự tương tác với hành vi trao

Chúng ta có thể thấy hành vi trao lời thể hiện khá đa dạng Lời trao có thể

là hành vi hỏi, hành vi cầu khiến, hành vi trần thuật Qua khảo sát chúng tôi thấy hành vi hỏi chiếm số lượng nhiều nhất Có nhiều kiểu hành vi đáp lời trong sự tương tác với hành vi trao lời Hành vi đáp lời trong sự tương tác với hành vi trao thường bị hành vi trao lời khống chế về những phạm vi ngữ nghĩa nhất định nên thường mang những nội dung: thể hiện sự đồng tình hưởng ứng, thể hiện sự bác bỏ, sự từ chối Dưới đây chúng tôi tập trung đi vào sự tương tác giữa hành vi

đáp trực tiếp với hành vi trao trực tiếp và trao gián tiếp

2.1.1 Hành vi trao lời là hành vi hỏi

2.1.1.1 Hành vi hỏi trực tiếp - đáp trực tiếp

Trong cuộc sống hành vi hỏi được sử dụng thường xuyên phổ biến, khi đưa

ra câu hỏi người ta đều muốn nhận lại sự phản hồi từ phía người nghe Như vậy cặp hành vi hỏi – trả lời là cặp thoại đơn giản nhất, dễ hiểu nhất và được sử dụng nhiều nhất Hành vi hỏi trực tiếp có mục đích thúc giục người nghe thông báo

Trang 28

một điều gì đó mà người nói nghe chưa rõ hoặc được người nói đưa ra như một yêu cầu cần làm sáng rõ Câu hỏi sử dụng để hỏi còn gọi là câu hỏi chính danh Câu hỏi trong hội thoại là đơn vị của lời nói dùng để nêu lên một sự chất vấn về những điều chưa biết hoặc cần làm sáng rõ và trực tiếp chờ người đáp đáp lời Đây là hình thức câu hỏi được sử dụng đúng với chức năng hỏi

Ví dụ 1:

Ông Hàm như bỏ ngoài tai chuyện công tác, vẫn hỏi theo chủ đề của ông:

- Thế anh học được những nghề gì?

- Dạ, đóng gạch và đốt gạch thì cháu đã thạo Nghề mộc mới sơ

sơ Ban đêm cháu đi học võ!

- Lại cả học võ nữa?

- Dạ Đơn vị cháu có mấy anh rất giỏi Ka ra te

- Anh khá đấy! –Ông Hàm gật gù, mặt vẫn tỉnh khô, không biết

ông khen thật hay khen đùa

[1, tr.56]

Trong đoạn thoại trên là cuộc trao đổi giữa ông Hàm và Tùng khi Tùng đến nhà ông chơi Mỗi lời trao của ông Hàm đều chú trọng vào nhân vật giao tiếp ở đây là Tùng Lời đáp của Tùng đã hướng đúng trọng tâm, yêu cầu của câu hỏi

Từ đó tạo điều kiện để cuộc thoại phát triển

Ví dụ 2:

Ông Chỉnh đang ngồi tựa vào thành phên nứa, quay lại nhìn một nửa người Tùng cứ loáng thoáng trong ánh lửa lò, sửng sốt ?

- Có chuyện gì thế? Mới họp đảng ủy à?Lại có chuyện bè cánh à?

- Không, cổ cánh gì đâu! Chuyện con gái! Chuyện tình yêu của cháu!

[1, tr.139)]

Trang 29

Đây là đoạn hội thoại giữa nhân vật Chỉnh và nhân vật Tùng Khi thấy Tùng với vẻ mặt khác thường, Chỉnh đã đoán ngay có chuyện gì xảy ra Lời trao của Chỉnh là hành vi hỏi gián tiếp khẳng định có chuyện bè cánh xảy ra khiến Tùng như vậy Lời đáp của Tùng hướng đến trọng điểm câu hỏi, không đi lệch phạm vi nội dung lời trao đưa ra Từ đó tạo điều kiện để cuộc thoại tiếp tục phát triển

Ví dụ 3:

Vừa trông thấy Quàng từ xa, Ích đã bổ ra với bộ mặt vô cùng hốt hoảng:

- Chết đứt rồi bác Quàng ơi! Làm thế nào bây giờ? Không phải tại em đâu Em không giục bác ấy đâu, làm được đến đâu thì làm Không phải tại em

Quàng nhiu nhíu bộ mặt nhỏ thó và sắc lạnh, cũ kỹ như một đồng xu đã

bỏ, gắt lên với Ích:

- Làm gì mà anh cứ rối tít rối mù lên thế! Bác ấy thế nào?

Ích vẫn còn nói như rên:

- Còn thế nào nữa, chết rồi! Bác ấy chết rồi!

Trước cái chết quá bất ngờ của Quềnh, Ích tỏ ra rất sợ sệt lo lắng bởi Quềnh chết do làm việc cho nhà Ích Lời đáp của Quàng vừa phản ứng gay gắt

với Ích vừa có một hành vi hỏi Bác ấy thế nào? Lời đáp của Ích khẳng định rằng

Quềnh đã chết thật rồi

2.2.1.2 Hành vi hỏi gián tiếp – đáp trực tiếp

Hành vi hỏi là một hiện tượng có tính phổ quát trong đời sống, giao tiếp

ngôn ngữ của con người, đây là một trong những hành vi có tính chất phức tạp,

đa diện nhưng khá thú vị bởi hỏi không chỉ đơn thuần để hỏi Lời trao là câu hỏi

có hình thức hỏi nhưng mục đích không phải để hỏi mà nhằm mục đích khác như: yêu cầu, khẳng định, trách móc Có sự tương tác giữa lời đáp với lời trao

Trang 30

Khi Sp1 đưa ra câu trao là câu hỏi gián tiếp thì Sp2 đưa ra câu đáp thể hiện sự đồng tình, có khi đáp lại bằng hình thức nghi vấn để thể hiện sự phủ định lại thông tin Sp1 đưa ra Ở đây chúng tôi xét các câu đáp trực tiếp

Ví dụ 1:

- Ối dào tưởng ai, hóa ra lão Quềnh đấy hử? Người ta bảo lão có thân bằng con voi nhưng cái óc lại bằng con kiến, thật không oan! Đến đây mà lại chịu về không à?

- Sao lại làm thế?- Lão Quềnh sừng sộ

Thó vẫn tỉnh như tiền, nhe răng cười hít vào, điệu cười lúc Thó thèm ăn:

- Sao với giăng cái con khẹc! Im đi! Ngồi đây rồi cùng tớ nhắm

rượu! Ông làm cả ngày cho tay Quàng nhưng nó đãi ông cái gì nào? Mấy lưng cơm với tý tương chua như giấm dĩ hả?(…)

- Thế ra chú vừa lần vào bếp bà Phúc đấy?

- Thì đã sao! Túng nên phải tính! Đừng có be lên như bê nghe

chửa!

[1, tr.31]

Trong cặp thoại trao đáp ta thấy nhân vật Thó đến đám tang nhà ông Phúc

để kiếm ăn trước sự ngơ ngác của Quềnh Ý của Thó đến đây phải có gì để đem

về, không thể về tay không được còn Quềnh thì phản đối lại việc làm đó của Thó Quềnh sử dụng hai hành vi hỏi gián tiếp, một để bác bỏ, không đồng tình với việc làm của Thó, một câu hỏi gián tiếp khẳng định Thó là người vừa trộm trong bếp nhà bà Phúc Cả hai hành vi hỏi của Quềnh đều nhận được hành vi đáp lời trực tiếp của Thó Hành vi đáp của Thó nhận chính mình là kẻ trộm, thể hiện thái độ không lo sợ gì hết

Ví dụ 2 :

Trang 31

Thủ: Ai? Cái Đào hả?

Đào: Phải! cháu đây! Chú đã cứu người ruột thịt của chú như thế đấy!

[1, tr.105]

Lời trao của nhân vật Thủ là câu hỏi gián tiếp khẳng định người vừa gọi mình là Đào Trong hoàn cảnh người cha của cô vừa bị bắt về việc đào trộm mộ, Đào rất buồn bực bởi ngay bây giờ người chú làm bí thư cũng không thể giúp gì

được Lời đáp của Đào đưa ra ngắn gọn để xác nhận chính cô đang đi tìm gặp

người chú để nói về việc ông Hàm bị bắt

2.2.2 Hành vi trao lời là hành vi cầu khiến

Hành vi cầu khiến là hành vi được sử dụng khi người nói đưa ra phát ngôn

về một yêu cầu nào đó, mong muốn người nghe thực hiện Sự khác biệt giữa hành vi cầu khiến và hành vi hỏi ở chỗ hành vi cầu khiến hướng người nghe thực hiện một hành động trong thực tế hay theo dự kiến mong muốn của người nói Hành vi cầu khiến không chỉ mong muốn người nghe thực hiện điều mình muốn

mà cũng giống các hành vi ở lời khác, hành vi cầu khiến cũng có những đích khác nhau Tuy nhiên mức độ thể hiện đích khác nhau ở hành vi cầu khiến thường xảy ra ít hơn các hành vi khác Tùy thuộc đích ở lời mà có những lời đáp tương ứng

Trang 32

[1, tr 203]

Ví dụ 2:

Bà Lộc lại the thé:

- Nhưng phải giữ ba người phạm pháp này lại không được thả

Thủ khoát tay dứt khoát:

- Tôi đồng ý

[1, tr.103]

Trong cặp thoại này lời trao của bà Lộc yêu cầu phải giữ lại ba người phạm pháp, lời yêu cầu này được Thủ đồng ý, thể hiện qua lời đáp Trong hoàn cảnh ba bác cháu ông Hàm đi đào trộm mộ bố ông Phúc bị người ta bắt được quả tang thì Thủ tỏ ra nhũn nhặn, đáp ứng đúng yêu cầu của đối phương

Trang 33

2.2.2.2 Hành vi cầu khiến gián tiếp – đáp trực tiếp

Ví dụ 1:

Người đàn bà quệt nước mắt, rồi sán đến ôm lấy chân ông Hàm, càng nức nở:

- Xin ông làm phúc làm đức đừng đuổi cháu !Cháu xin làm con tôi con đòi hầu hạ ông suốt đời!

Ông Hàm bỗng rùng mình luống cuống né sang bên (…)

- Thôi chị không phải van nài, chị cứ ở đây! Mọi việc ở nhà này

là tôi quyết định Tôi thấy chị cũng biết làm ăn

[1, tr.263]

Lời trao của người đàn bà cầu khiến gián tiếp nhằm mong được ở lại trong nhà Chị không có nhà cửa, lang thang, đến đây chị tìm được nơi nương tựa và chị không muốn bị đuổi ra ngoài Lời đáp của ông Hàm chấp nhận ước mong của người đàn bà Xét trong hoàn cảnh hiện tại vợ ông đã mất và người đàn bà trở

thành lao động chính trong nhà ông

2.2.3 Hành vi trao lời là hành vi trần thuật

Hành vi trần thuật được sử dụng phổ biến trong giao tiếp và thường dùng

để kể, thông báo hay nhận định vấn đề nào đó Trong bài viết chúng tôi xét hành

vi đáp lời trực tiếp trong sự tương tác với hành vi trần thuật trực tiếp và hành vi trần thuật gián tiếp Chúng tôi dựa vào ngữ cảnh phát ngôn, đích ở lời để đưa ra

sự phân loại

0

Trang 34

2.2.3.1 Hành vi trần thuật trực tiếp – đáp trực tiếp

Ví dụ 1:

- Hôm nay tôi sang chủ yếu là nói chuyện với bá, chứ với đồng chí Phúc thì chúng tôi đã gặp nhau trên tinh thần đảng viên, nói hết ngọn ngành rồi – Thủ nhìn sang bà Dần nói thao thao

- Gia đình chúng tôi cứ chờ bác sang từ mấy hôm nay Các

cô, các dượng nó tối nào cũng đến hỏi, rầy la ông ấy nhà tôi

(1, tr 219) Thủ đưa ra lời trao trình bày việc qua nhà ông Phúc để nói về việc rút đơn kiện Lời đáp của bà Dần hưởng ứng việc này Trong khi cả hai dòng họ đang rắc rối trong việc giải quyết vụ việc ông Hàm thì Thủ với những thủ đoạn

đã tìm được cách gỡ rối một cách êm đẹp

2.2.3 2 Hành vi trần thuật gián tiếp – đáp trực tiếp

Ví dụ:

- Bác để nhà cửa bẩn quá đấy – Thủ vào nhà nhìn quanh, nói nhẹ

nhàng nhưng lạnh lùng

Bõ Vòi vừa tìm chổi, vừa nói lầm bầm, trong lòng càng thấy lạ:

- Chiều hôm qua các ông ấy họp về muộn, tôi chưa kịp dọn Hôm

nay có khách ở trên về hả anh?

- Không có trên nào cả, nhưng vẫn phải sạch sẽ, có nước chè

Dựa vào ngữ cảnh phát ngôn, ta thấy lời trao của Thủ là hành vi trần thuật nhằm trách móc Bõ Vòi việc không dọn dẹp nhà cửa Lời trao đáp của Bõ Vòi vừa nhằm thanh minh do chiều qua mấy người về muộn nên chưa kịp dọn dẹp,

Trang 35

vừa là lời trao hỏi có khách ở trên về phải không Lời đáp lại của Thủ ngắn gọn, khẳng định phòng làm việc phải sạch sẽ, đàng hoàng

2.2 Hành vi đáp lời gián tiếp trong sự tương tác với hành vi trao

2.2.1 Hành vi đáp lời là hành vi hỏi trong sự tương tác với trao lời

Chúng tôi đưa ra bảng sau:

Hành vi đáp lời là hành vi trực tiếp hỏi Số lượng Tỉ lệ

(%) Hành vi đáp lời trực tiếp hỏi, gián tiếp trách

móc, mỉa mai

2 Hành vi đáp lời trực tiếp hỏi, gián tiếp ngạc

Trang 36

định 6,7

00

2.2.1.1 Hành vi đáp lời trực tiếp hỏi gián tiếp trách móc, mỉa mai

Sp1 đưa ra câu hỏi gián tiếp mỉa mai và người nghe phản ứng lại bằng lượt lời kế tiếp

nó lại cho men vào thì lên chai hết!Đúng là tướng đàn ông răng hô mồm cá ngão chỉ siêng ăn nhác làm!

Thủ phì cười cũng nói tếu:

- Ai bảo bà đẻ cho lắm vào? Thóc gạo đã ít lại đẻ gấp đôi gấp

Ngày đăng: 08/05/2021, 21:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w