Tuy nó là phần học quen thuộc, không quá khó để tiếp cận nhưng để tổ chức tốt việc tự học phần học này cũng không phải dễ vì để tự vận dụng những lý thuyết chung vào một bài tập tự luận
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA VẬT LÝ
- -
LÊ THỊ NGUYỆT PHƯƠNG
Thực trạng và giải pháp phát huy tính tự học môn VLĐC phần cơ học của SV trường ĐH Sư phạm – ĐH Đà Nẵng dào tạo theo HCTC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SƯ PHẠM VẬT LÝ
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan …ii
Lời cảm ơn iii
Danh mục các chữ viết tắt iiii
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Mục tiêu của đề tài 7
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của đề tài 9
7 Cấu trúc luận văn 10
NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC TỰ HỌC PHẦN CƠ HỌC MÔN VLĐC TRONG SV THEO HCTC 11
1.1 Khái niệm về tự học 11
1.2 Các hình thức tự học 12
1.3 Ý nghĩa của tự học 13
1.4 Các giai đoạn tự học của SV 14
1.5 Sự khác nhau cơ bản giữa hoạt động tự học trong học chế niên chế và HCTC 16
1.6 Hướng dẫn việc tổ chức tự học môn VLĐC 17
1.6.1 Hướng dẫn việc tổ chức tự học 17
1.6.2 Đặc điểm về môn học VLĐC phần cơ học 18
1.6.3 Hướng dẫn việc tổ chức tự học môn VLĐC phần cơ học 19
1.7 Kết luận chương 1 19
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TỰ HỌC CHUNG VÀ TỰ HỌC MÔN VLĐC PHẦN CƠ HỌC CỦA SV TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐH ĐÀ NẴNG ĐÀO TẠO THEO HCTC HIỆN NAY 21
Trang 32.1 Khái quát về tình hình tự học chung của SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng 21
2.2 Vai trò của việc tổ chức tự học đối với SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng 22
2.3 Thực trạng tình hình tự học của SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng 23
2.3.1 Kiến thức, thái độ và kĩ năng tình hình tự học của SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng 23
2.3.1.1 Nhận thức về kiến thức, thái độ tự học của SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng 23
2.3.1.2 Những kĩ năng tự học của SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng 25
2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tự học của SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng 26
2.3.2.2 Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quá trình tự học của SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng 30
2.3.3 Hệ thống hỗ trợ SV tự học môn VLĐC đào tạo theo HCTC hiện nay 36
2.4 Kết luận chương 2 37
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY TÍNH TỰ HỌC MÔN VLĐC PHẦN CƠ HỌC THÔNG QUA CHƯƠNG “ ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM” CỦA SV TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM – ĐH ĐÀ NẴNG ĐÀO TẠO THEO HCTC 39
3.1 Giải pháp chung 39
3.1.1 SV và GV cần nắm vững kiến thức của hệ thống phương pháp tự học tích cực 39
3.1.2 Hướng dẫn SV kỹ năng tự học với tài liệu và kỹ năng đọc giáo trình 40
3.1.3 SV ứng dụng CNTT trong quá trình tự học 41
3.1.4 Cơ sở vật chất trong quá trình tự học 42
3.1.5 Tăng cường năng lực tự học trên lớp 42
3.2 Mục tiêu và định hướng giải bài tập VLĐC 42
3.2.1 Mục tiêu về học môn VLĐC 42
3.2.2 Định hướng tự học các bước giải bài tập VLĐC nói chung 44
3.3 Giải pháp hỗ trợ tự học môn VLĐC Chương “Động lực học chất điểm” trong đào tạo theo HCTC 44
3.3.1 Hỗ trợ về những kiến thức cơ bản để SV tự ôn tập 45
Trang 43.3.1.1 Nội dung kiến thức của chương “Động lực học chất điểm” 45
3.3.1.2 Hệ thống những kiến thức cơ bản chương “Động lực học chất điểm” hỗ trợ SV tự ôn tập 46
3.3.2 Sử dụng phần mềm Wondershare QuizCreator để thiết lập các câu hỏi trắc nghiệm chương “Động lực học chất điểm” hỗ trợ SV tự học môn VLĐC phần cơ học 51
3.3.2.1 Giới thiệu ưu điểm của phần mềm Wondershare QuizCreator 51
3.3.2.2 Một số ví dụ ứng dụng phần mềm Wondershare QuizCreator 52
3.3.3 Phương pháp giải bài tập cơ học dưới hình thức tự luận chương “Động lực học chất điểm” môn VLĐC 58
3.3.3.1 Phương pháp động lực học để giải một số bài toán cơ học 58
3.3.3.2 Các dạng bài tập vận dụng phương pháp động lực học 59
3.3.3.3 Bài tập luyện tập có hướng dẫn dưới dạng bài tập điền khuyết 66
3.3.3.4 Bài tập SV tự giải 68
3.4 Kết luận chương 3 71
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
1 Một số kết luận 73
2 Một số kiến nghị 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75 PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phát triển Giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu mà Đảng và Nhà nước đã khẳng định thông qua văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX Đây là một trong những động lực quan trọng nhất thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Để giáo dục và đào tạo thực sự là sự nghiệp của toàn Đảng, của nhà nước và của toàn dân ta, thì phải coi trọng tất cả các mặt của giáo dục – đào tạo: từ mở rộng quy mô,
đa dạng hoá các hình thức đào tạo, nâng cao chất lượng đến phát huy hiệu quả của sự nghiệp giáo dục - đào tạo Chỉ thị 15 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo năm 1999 đã viết như sau: "Đổi mới phương pháp dạy và học trong các nhà trường sư phạm nhằm tích cực hoá hoạt động học tập, phát huy tính chủ động, tính sáng tạo và năng lực tự học, tự nghiên cứu của sinh viên (SV)" Đây là nhiệm vụ mới có ý nghĩa chiến lược vô cùng quan trọng trong việc đào tạo ra nguồn nhân lực có đủ phẩm chất năng lực, có tư duy độc lập, năng động, tự chủ, sáng tạo thích ứng với sự biến đổi không ngừng của xã hội Vì vậy, việc tự học trong SV càng đóng vai trò quan trọng và cần phải đề cập chú ý đến
Chúng ta đang sống trong những năm đầu của thế kỷ 21, thế kỷ mà sự tiến bộ không ngừng của khoa học – công nghệ với những bước nhảy vượt bậc Nếu không muốn tụt hậu với thời đại, kịp thời nắm bắt những tri thức khoa học kĩ thuật tiên tiến, mỗi con người phải không ngừng học hỏi, vươn lên tự hoàn thiện mình Trước nhu cầu tất yếu của
xã hội, đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục là bài toán mà lâu nay các nhà quản lí, các nhà nghiên cứu đang đi tìm lời giải Mục tiêu của giáo dục Việt Nam về cách học, khuyến khích SV lấy tự học là chính, học tập một cách chủ động và sáng tạo Đáng tiếc là trong thực tế, những điều đó chưa được thực hiện tốt nếu không nói là còn nhiều yếu kém, thậm chí xa rời mục tiêu, hạ thấp yêu cầu học tập đến mức chỉ còn quan tâm đến điểm số
mà không chú ý đến chất lượng Vì vậy, việc đổi mới phương pháp học tập cần được chú
ý hơn nữa để qua đó rèn cho SV khả năng kiên trì, học hỏi tiếp cận cái mới phù hợp thực tiễn, phát huy nội lực tự học của SV để tạo nên cuộc cách mạng về học tập là việc làm cấp thiết của các nhà giáo dục
Trang 6Vật Lí Đại Cương (VLĐC) là một môn học làm cơ sở quan trọng trong chất lượng đại cương, nó trang bị kiến thức nền cho nhiều đối tượng SV các ngành khối tự nhiên, là nền tảng cho việc xây dựng kiến thức về cơ học của chương trình VLĐC Phần cơ học là phần học mở đầu của môn VLĐC, nó là một nội dung quan trọng không thể thiếu những kiến thức của môn học này chính là cơ sở và tiền đề rất cần thiết để học tốt các môn tiếp theo Cơ học nghiên cứu một dạng vận động của vật chất là vận động cơ: là sự chuyển động và tương tác của các vật vĩ mô trong không gian và thời gian Tuy nó là phần học quen thuộc, không quá khó để tiếp cận nhưng để tổ chức tốt việc tự học phần học này cũng không phải dễ vì để tự vận dụng những lý thuyết chung vào một bài tập tự luận cụ thể ta phải biết bài tập đó thuộc dạng bài tập nào, loại bài tập nào phải vận dụng những kiến thức lý thuyết nào để giải được hay những loại bài tập trắc nghiệm thì đòi hỏi giải như thế nào nhanh và chính xác để có kết quả tốt ưu nhất Như vậy việc đưa ra những giải pháp giúp SV tổ chức tự học tốt hơn là điều cần thiết
Nhưng với sự phát triển của khoa học công nghệ, lượng thông tin ngày càng gia tăng Theo tính toán của các chuyên gia trong lĩnh vực xã hội học, thì lượng thông tin tăng gấp đôi cứ sau khoảng 5-6 năm Bên cạnh đó, chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ (HCTC) được thiết kế theo hướng ngày càng tinh gọn Chẳng hạn số tiết học của môn VLĐC này bị giảm xuống đáng kể từ 90 tiết xuống 60 tiết, từ 60 tiết xuống còn 45 tiết nhưng khối lượng kiến thức thì không thay đổi tức là số tiết truyền đạt trực tiếp trên lớp giảm còn hai phần ba so với trước đây, trong khi yêu cầu đối với người học ngày càng cao Do vậy, hơn lúc nào hết, tầm quan trọng của tự học môn VLĐC phần cơ học của SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng tăng nhanh
Bên cạnh đó, thực tế việc dạy học vẫn còn nhiều điểm tồn tại, việc dạy học chủ yếu nhằm cung cấp một khối lượng kiến thức xác định trong các giờ lên lớp còn ít có sự quan tâm tìm kiếm đúng mức các biện pháp của việc tổ chức hoạt động tự học cho SV và thực
sự quan tâm đến việc rèn luyện hệ thống kĩ năng sư phạm cho SV, chưa thực hiện được nhiệm vụ giáo dục ở các trường ĐH là “biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo của SV” Vì vậy hiệu quả tự học của SV không đạt yêu cầu Do đó, việc đưa ra các giải pháp tổ chức tốt việc tự học cho SV khi học phần cơ học môn VLĐC nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của các trường ĐH theo hình thức tín chỉ hiện nay là việc cấp thiết
Trang 7Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu hiện nay mới chỉ tập trung nghiên cứu riêng rẽ, chưa thấy sự kết hợp giữa thực trạng tự học môn VLĐC phần cơ học hiện nay ra sao và đưa ra các giải pháp phù hợp rèn luyện kĩ năng tự học theo lối học tín chỉ của SV trường
ĐH Sư phạm – ĐH Đà Nẵng Bên cạnh đó cũng chưa thấy nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu bàn về vấn đề hướng dẫn SV tự học, tự nghiên cứu, khiến cho việc tự học môn VLĐC gặp nhiều khó khăn, lúng túng Chính vì vậy trong khóa luận này việc tìm hiểu thực trạng SV tổ chức tự học môn VLĐC phần cơ học để từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp là một việc làm cần thiết và cấp bách góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy cũng như phân loại và phương pháp giải bài tập VLĐC thiết lập một kho tưu liệu để
SV ôn tập kiến thức hổ trợ cho SV tự học tốt hơn
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu:
“Thực trạng và giải pháp phát huy tính tự học môn VLĐC phần cơ học của SV trường
ĐH Sư phạm – ĐH Đà Nẵng dào tạo theo HCTC”
2 Mục tiêu của đề tài
Khóa luận này sẽ hướng vào các mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau:
* Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về việc tự học, vai trò, hình thức, thời gian tổ chức tự học phần cơ học môn VLĐC theo HCTC
* Khảo sát thực tiễn quá trình tổ chức tự học của SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng (trên địa bàn Đà Nẵng) các khó khăn, thuận lợi mà SV gặp phải trong quá trình tổ chức tự học
* Trên cơ sở khóa luận nghiên cứu thực trạng của việc tổ chức tự học chung và tự học môn VLĐC phần cơ học của SV trường ĐH Sư phạm - ĐH Đà Nẵng đề xuất các giải pháp khắc phục những khó khăn giúp nâng cao hiệu quả học tập trong SV trường ĐH Sư phạm – ĐH Đà Nẵng nói riêng và các trường ĐH, Cao đẳng đào tạo theo HCTC nói chung phát huy được tính tích cực, chủ động trong tự học cho SV, đáp ứng yêu cầu đào tạo giáo dục
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là thực trạng và giải pháp phát huy tính tự học chung và tự học môn VLĐC phần cơ học của SV theo HCTC hiện nay
Trang 8* Phạm vi nghiên cứu
Trong thời gian và khả năng cho phép, tôi chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát huy tính tự học chung và tự học môn VLĐC phần cơ học trong SV trường
ĐH Sư phạm – ĐH Đà Nẵng
4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, đề tài cần phải thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận hoạt động tự học chung của SV cũng như tự học phần cơ học môn VLĐC hiện nay
- Phân tích thực trạng của việc tổ chức tự học chung và tự học phần cơ học môn VLĐC trong SV thông qua việc nghiên cứu cách xử lí số liệu qua quá trình điều tra của các SV trường ĐH Sư phạm – ĐH Đà Nẵng
- Nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao quá trình tự học chung và tự học phần cơ học môn VLĐC của SV
- Nghiên cứu chương trình, sách giáo trình, sách bài tập và các tài liệu tham khảo phần cơ học môn VLĐC
Trong thời gian và khả năng cho phép, tôi chỉ tập trung nghiên cứu quá trình tổ chức tự học chung và tự học phần cơ học môn VLĐC của SV trường ĐH Sư phạm – ĐH
Đà Nẵng
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành tốt các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tôi sử dụng các phương
pháp sau đây:
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Sưu tầm, đọc, tra cứu, nghiên cứu tài liệu, sách báo có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, phân tích tổng hợp hệ thống hóa theo mục đích nghiên cứu của đề tài
5.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
5.2 1 Phương pháp quan sát
Theo dõi quá trình học tập trên lớp, ngoài giờ lên lớp, đặc biệt là theo dõi thời gian
tổ chức tự học của SV nhằm đánh giá thực trạng, tìm nguyên nhân và đề xuất giải pháp
phù hợp nâng cao hiệu quả tự học của SV
Trang 95.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi (xem phụ lục 1,2 phiếu điều tra)
Phiếu điều tra của tôi hướng tới khách thể là 610 SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng Số lượng nghiên cứu cụ thể như sau:
5.2.3 Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến các giảng viên ĐH, các chuyên gia về giáo dục học, các nhà thống kê xã hội học để xây dựng công cụ điều tra và khẳng định giá trị của các giải pháp nâng cao hiệu quả tự học trong SV
5.2.4 Phương pháp thống kê Excel
Sử dụng phương pháp thống kê bằng phần mềm Excel để xử lí các kết quả thực nghiệm sư phạm một cách trực quan và thông qua số liệu xử lí vẽ được biểu đồ thể hiện quá trình tổ chức tự học của SV nhằm kiểm định lại về sự khác nhau giữa tự học của SV hiện nay và của HS
6 Đóng góp của đề tài
Khảo sát thực trạng tự học chung và tự học môn VLĐC phần cơ học của SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng để đề xuất một số giải pháp khắc phục những khó khăn mà SV gặp phải giúp SV rèn luyện kĩ năng tự học theo kế hoạch phát huy tính tích cực nhằm tìm thấy niềm đam mê, hứng thú tự học và chủ động hơn trong quá trình học tập, tích lũy kiến thức môn VLĐC nói riêng hay các môn học khác nói chung nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo
- Thông qua đề tài này tôi đã hệ thống lại một số kiến thức cơ bản về chương
“Động lực học chất điểm” môn VLĐC, định hướng và lựa chọn phương pháp giải bài tập
Trang 10VLĐC tối ưu cùng một số bài tập vận dụng của chương để SV tham khảo Thông qua đó
SV có thể dể dàng hơn trong việc vận dụng lý thuyết vào bài tập cụ thể
- Các bài tập trong giải pháp tôi đưa ra sẽ giúp SV làm quen với việc phân tích và giải từng bài toán cơ học cụ thể, hình thành khả năng tư duy nhạy bén cho SV như vậy việc tự học của SV sẽ đạt hiệu quả cao hơn
7 Cấu trúc luận văn
Luận văn có cấu trúc như sau:
Trang 11NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC TỰ HỌC PHẦN CƠ HỌC MÔN VLĐC
TRONG SV THEO HCTC
1.1 Khái niệm về tự học
“Tự học” ngay trong nội hàm của khái niệm này cũng cho ta thấy tự học đề cập đến tính chủ động của chủ thể trong việc học, đó là việc người học phải tự mình vận động, tìm tòi lĩnh hội kiến thức một cách chủ động, hiệu quả Đó là quá trình mà bản thân người học phải tự giác, tích cực chiếm lĩnh tri thức, làm chủ tri thức và vận dụng những tri thức đó vào cuộc sống một cách linh hoạt, hiệu quả
Trong các giáo trình, tài liệu, các tác giả đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về tự học, sau đây là một số định nghĩa cơ bản:
- Nhà tâm lý học N.ARubakin coi: Tự tìm lấy kiến thức – có nghĩa là tự học Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội, lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các
mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng , kỹ xảo của chủ thể
- Trong cuốn “Học tập hợp lí” R.Retke chủ biên, coi “Tự học là việc hoàn thành các nhiệm vụ khác không nằm trong các lần tổ chức giảng dạy”
- Theo Tiến sĩ Hà Thị Đức: Tự học là hoạt động nhận thức của SV nhằm nắm vững
tri thức, kỹ năng, thái độ cho bản thân người học tiến hành trên lớp hoặc ngoài lớp
- Theo tác giả Lê Khánh Bằng: thì tự học (self learning) là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ, các phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định
- Nguyên Phó Chủ Tịch Nước Nguyễn Thị Bình nêu vấn đề: "Nếu biết kết hợp quá
trình đào tạo ở trường, lớp với quyết tâm tự học - tự đào tạo thì là con đường ngắn nhất để tạo ra "nội lực" cần thiết cho sự phát triển của một con người và cho đất nước”
Trang 12- Theo tác giả Nguyễn Văn Đạo: “Tự học phải là công việc tự giác của mỗi người
do nhận thức được đúng vai trò quyết định của nó đến sự tích luỹ kiến thức cho bản thân, cho chất lượng công việc mình đảm nhiệm, cho sự tiến bộ của xã hội”
- Theo Giáo sư – Tiến sỹ Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học – là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi cả
cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”
Tự học môn VLĐC là việc SV tự giác, tích cực độc lập chiếm lĩnh những tri thức
xã hội để áp dụng vào trong cuộc sống hàng ngày bằng chính những sự nỗ lực, cố gắng của bản thân
Các định nghĩa trên đều đề cập đến tính chủ động, tự vận động các năng lực vào trong việc học Nhưng mỗi định nghĩa có đề cập sâu về một nội dung nào đó như: hình thức, phương tiện hay nhằm đến mục tiêu và hiệu quả mà người học tiến tới Tổng hợp
những định nghĩa trên, tôi đi đến định nghĩa về tự học như sau: “Tự học là quá trình cá
nhân người học tự giác, tích cực, là quá trình tự động não, huy động tất cả mọi năng lực trí óc, tinh thần, tình cảm, sức khoẻ và sử dụng tối đa những điều kiện khách quan có thể có vào hỗ trợ cho việc chiếm lĩnh tri thức”
1.2 Các hình thức tự học
Hoạt động tự học diễn ra dưới hình thức và mức độ khác nhau:
* Hình thức 1: Cá nhân tự mày mò theo sở thích và hứng thú độc lập không có
sách và sự hướng dẫn của GV
* Hình thức 2: Tự học có sách nhưng không có GV bên cạnh
Ở hình thức tự học này có thể diễn ra ở hai mức:
- Thứ nhất, tự học theo sách mà không có sự hướng dẫn của thầy
- Thứ hai, tự học có thầy ở xa hướng dẫn
* Hình thức 3: Tự học có sách, sau đó SV về nhà tự học dưới sự hướng dẫn gián
tiếp của GV thông qua các tiết dạy
Trang 13* Hình thức 4: Tự học ở nhà thông qua mạng vẫn thấy và nghe GV giảng dạy kèm
theo bài tập vận dụng linh hoạt như trên một tiết học ở lớp
* Hình thức 5: Tự học thông qua bạn bè, học nhóm
Các nhà nghiên cứu cho rằng, “Dù nội dung môn học như thế nào thì SV tự học
thông qua bạn bè hay học nhóm nhỏ cũng có khuynh hướng học được nhiều hơn những gì được dạy và nhớ lâu hơn so với các hình thức dạy học khác’’
Như vậy, hình thức tự học là hết sức đa dạng và phong phú Nhìn chung thì mỗi người đều tự tìm tòi, đúc rút kinh nghiệm để xác định cho mình một phương pháp tự học riêng Tuy nhiên, đối với nhiều người, đó là việc làm không dễ Do đó, tự học là một trong những phẩm chất quan trọng nhất mà GV cần trang bị cho SV, vì nó không những giúp các
em học tập tốt khi còn trong môi trường ĐH mà còn cần thiết cho sự phát triển lâu dài và thành đạt tương lai sau này
1.3 Ý nghĩa của tự học
Trong xu thế toàn cầu hóa, đặc biệt là trong đổi mới đào tạo theo hệ thống tín chỉ thì vấn đề tự học của SV được đặt ra và trở thành một trong những vấn đề then chốt cho hình thức đào tạo này Chính tự học của SV là chìa khóa cho sự thành công không chỉ cho chính bản thân SV mà còn góp phần thực hiện thành công đổi mới phương thức đào tạo của nhà trường Vì thế, tự học có ý nghĩa hết sức quan trọng Tuy nhiên đối với SV ở các trường ĐH tự học lại càng thiết thực hơn bởi hoạt động tự học của SV theo HCTC hiện nay có nét đặc thù so với phổ thông, thể hiện hoạt động nhận thức của SV ở mức cao hơn, mang tính chất độc lập, tự lực, tự giác, sáng tạo trong việc tiếp thu tri thức cũng như việc vận dụng tri thức vào các tình huống cụ thể
Hoạt động tự học của SV không chỉ nâng cao năng lực nhận thức, rèn luyện thói quen, kỹ năng, kỹ xảo vận dụng tri thức của bản thân vào cuộc sống mà còn giáo dục tình cảm và những phẩm chất đạo đức của bản thân Mặt khác hoạt động tự học không những
là yêu cầu cấp bách, thiết yếu của SV đang đào tạo dưới mái trường ĐH để họ tiếp nhận tri thức, nâng cao trình độ hiểu biết của bản thân mà còn có ý nghĩa lâu dài trong suốt cuộc đời mỗi con người, đó là thói quen học tập suốt đời: “Học, học nữa, học mãi”, ở môi trường ĐH này quan trọng hơn gấp bội lần sự học tập ở lớp thấp hơn để mang hiệu quả, ảnh hưởng của nó đến cá nhân con người và đến xã hội
Trang 14Nhờ có tự học và chỉ bằng con đường tự học, người học mới có thể nắm vững tri thức, thông hiểu tri thức, bổ xung và hoàn thiện tri thức cũng như hình thành những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng Điều này đã được K.Đ.Usinxki nói: chỉ có công tác tự học của
SV mới tạo điều kiện cho việc thông hiểu tri thức Và như vậy hoạt động tự học sẽ quyết định chất lượng giáo dục - đào tạo của nhà trường
Tự học không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân người học mà còn góp phần to lớn nâng cao chất lượng dạy học và đào tạo Nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp vai trò trách nhiệm của người GV mà dưới sự tổ chức, hướng dẫn, chỉ đạo của người GV, HS đã biết cách tự học, chủ động, sáng tạo chiếm lĩnh kho tàng tri thức của nhân loại
Như vậy muốn nâng cao chất lượng học tập của SV trong trường học nói chung, khoa vật lý nói riêng, chúng ta cần phải quan tâm ĐÚNG mức đến việc bồi dưỡng kiến thức, nâng cao trình độ nghiệp vụ của người GV đồng thời phải đặc biệt chú ý đến vị trí trung tâm của người SV trong hoạt động tập thể để làm sao khai thác triệt để những tiềm năng vốn có trong người họ, phát huy tính tự giác, tích cực sáng tạo, chủ động trong quá trình lĩnh hội tri thức nhằm đào tạo nhân tài cho đất nước, đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp TDTT đất nước
1.4 Các giai đoạn tự học của SV
Để xây dựng được qui trình tự học một cách hợp lí có thể chia thành ba bước như sau :
* Bước 1: Xây dựng kế hoạch tự học
SV cần xây dựng kế hoạch, thời gian tự học một cách hợp lí đảm bảo:
- Đảm bảo thời gian tự học cho từng môn phù hợp với khối lượng thông tin tương ứng
- Đảm bảo xen kẽ, luân phiên một cách hợp lý các dạng tự học, các bộ môn khác
- Đảm bảo xen kẽ một cách hợp lý giữa tự học và nghỉ ngơi
- Đảm bảo tính mềm dẻo và tính thực tế của kế hoạch và thời gian biểu tự học
* Bước 2: Thực hiện kế hoạch và thời gian biểu tự học
- Phải làm việc độc lập : Hoạt động tự học đòi hỏi SV phải nắm được cách thức làm việc độc lập, đọc sách và tài liệu học tập, hoàn thành các bài tập, chuẩn bị xêmina, thực tập, thực hành…
Trang 15- Tập trung và không bị chi phối của môi trường: khi bắt tay vào tự học, SV cần tạo cho mình thói quen tập trung vào bài học, không lãng phí thời gian học hoặc giảm thời gian lãng phí đến mức thấp nhất trong những tình huống đặc biệt
Để tự học đạt kết quả cao, SV cần biết sử dụng thời gian một cách hợp lý Vì vậy
SV phải:
- Làm việc một cách tự giác, tích cực chủ động không lơ là, hời hợt
- Tổ chức ngăn nắp, có trật tự nơi tự học để có thể dễ dàng, nhanh chóng tìm kiếm được những thứ cần dùng (Sách vở, tài liệu, học cụ…) tránh thói quen lộn xộn, bừa bãi
- Biết tận dụng những thời gian dự trữ bằng cách tận dụng cả những thời gian ngắn, cả những thời gian tưởng chừng như bỏ đi ( như tranh thủ xem sách, báo lúc chờ đợi tàu xe, lúc đi trên tàu…)
* Bước 3: Ý thức tự kiểm tra kết hợp với kiểm tra của GV
Việc SV tự kiểm tra hoạt động tự học của mình có tầm quan trọng đặc biệt
Trong quá trình tự học, việc kiểm tra của SV phải được thực hiện có hệ thống bằng nhiều hình thức như :
- Tái hiện những điều đã học theo bố cục, đề cương nhất định và tập trình bày cho bản thân hay cho người khác
TỰ KIỂM TRA
TỰ ĐIỀU CHỈNH LẬP KẾ HOẠCH
Trang 16Các giai đoạn nêu trên trong qui trình tự học không tách rời nhau mà đan xen nhau, liên
hệ chặt chẽ nhau Quá trình tự học ở mỗi người là một quá trình liên tục, đòi hỏi mỗi người chọn cho mình một phương pháp hay chu trình tự học thích hợp
1.5 Sự khác nhau cơ bản giữa hoạt động tự học trong học chế niên chế và HCTC
Theo HCTC, tự học là một thành phần hợp pháp trong cơ cấu giờ học của SV khác với theo học phần – niên chế thì khuyến khích tự học nhưng không phải là một phần bắt buộc theo quy định Trong HCTC SV tự nghiên cứu, tự tìm hiểu tài liệu để có kiến thức
GV chỉ là người cung cấp những nguồn tài liệu phù hợp và định hướng để cách tiếp cận vấn đề của SV dễ dàng và đúng hướng hơn Sự khác biệt giữa hoạt động tự học trong học chế niên chế so với học chế tín chỉ được thể hiện ở một số điểm sau:
- Thứ nhất, trong phương thức đào tạo theo niên chế, SV tuân thủ theo một chương trình do nhà trường định sẵn của từng học kỳ, từng năm học, từng khóa học căn cứ vào thời khóa biểu không phân biệt SV có điều kiện, năng lực tốt, hay SV có hoàn cảnh khó khăn, năng lực yếu Khi chuyển sang phương thức đào tạo theo HCTC, kế hoạch học tập
cụ thể phụ thuộc vào chính bản thân người học cho phép SV có thể chủ động học theo điều kiện và năng lực của mình SV có nhiệm vụ và quyền được lựa chọn môn học, thời gian học, tiến trình học nhanh, chậm phù hợp với điều kiện của mình
Vì vậy, hình thức đào tạo này đặt ra yêu cầu cao, nghiêm khắc và đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của SV Trong đó có việc tự học Phương thức này tạo cho SV năng lực chủ động trong việc lập kế hoạch học tập khoa học, xác định thời gian, phương tiện, biện pháp để thực hiện các mục tiêu đề ra trong kế hoạch học tập đó
- Thứ hai, hình thức tổ chức dạy học trong phương thức tín chỉ qui định hoạt động
tự học của SV như là một thành phần bắt buộc trong thời khóa biểu và là một nội dung quan trọng của đánh giá kết quả học tập Hoạt động dạy - học theo tín chỉ được tổ chức theo ba hình thức: lên lớp, thực hành và tự học Trong ba hình thức tổ chức dạy học này, hai hình thức đầu được tổ chức có sự tiếp xúc trực tiếp giữa giảng viên và SV, hình thức thứ ba có thể không có sự tiếp xúc trực tiếp giữa giảng viên và SV (giảng viên giao nội dung để SV tự học, tự nghiên cứu, tự thực hành và sẵn sàng tư vấn khi được yêu cầu) Ba hình thức tổ chức dạy học tương ứng với ba kiểu giờ tín chỉ: giờ tín chỉ lên lớp, giờ tín chỉ thực hành và giờ tín chỉ tự học
Trang 17Trong quá trình hội nhập tiến tới chương trình “tín chỉ hóa”, tự học là một yêu cầu
cấp thiết Luật Giáo dục 2005 đã ghi rõ: “Phương pháp giáo dục ĐH phải coi trọng việc
bồi dưỡng năng lực học nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng ” Tuy
nhiên, cũng như một số trường khác, vấn đề tự học của SV Trường ĐH Sư phạm – ĐH
Đà Nẵng còn nhiều điều đáng bàn Thiết nghĩ, cần thiết nêu lên thực trạng, chỉ ra nguyên nhân và tìm ra những giải pháp cụ thể mang tính chất khả thi mới có thể giúp SV giải quyết vấn đề tự học
1.6 Hướng dẫn việc tổ chức tự học môn VLĐC
1.6.1 Hướng dẫn việc tổ chức tự học
Có thể hiểu một cách khái quát rằng hướng dẫn việc tổ chức tự học là quá trình
giúp đỡ, hình thành cho người học có được những phương pháp, cách thức tự học, tự nghiên cứu hợp lý, hiệu quả, qua đó giúp họ không ngừng nâng cao chất lượng học tập, nghiên cứu khoa học cả khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường và khi đã bước vào lao động nghề nghiệp trong tương lai
Trong quá trình dạy học, người GV cần tăng cường sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm khơi dậy hứng thú, tính sáng tạo, óc tò mò khoa học cho người học, mặc khác bên cạnh việc trang bị cho người học hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo thì cần đặc biệt chú ý hình thành cho họ ý thức tự học, động cợ tự học đúng đắn Tiếp theo người
GV nên hướng dẫn người học có những phương pháp tự học, cách thức tiến hành tự học
cụ thể hiệu quả như:
- Biết cách xây dựng kế hoạch và thời gian biểu tự học hợp lý
- Biết cách thức làm việc độc lập, bao gồm: Biết đọc sách một cách có hệ thống, biết phân chia dung lượng kiến thức hợp lý để tiến hành học tập cho có hiệu quả, biết liên hệ, vận dụng lý thuyết để giải quyết các bài tập trong quá trình học ở trên lớp và trong thực tiễn
Trang 18- Biết tự kiểm tra, tự đánh giá trình độ của bản thân…
1.6.2 Đặc điểm về môn học VLĐC phần cơ học
Vật lý học là ngành khoa học tự nhiên nghiên cứu những qui luật và bản chất của
sự vận động, trong đó cơ học đi sâu nghiên cứu sự chuyển động của các vật thể, tức là sự thay đổi vị trí của vật trong không gian theo thời gian
VLĐC là một phần quan trọng của môn Vật Lý Nó là hệ thống những khái niệm, những định luật, những lí thuyết cơ bản của khoa học Vật Lý Các khái niệm, các định luật, các lí thuyết đó diễn ra hầu hết các qui luật vận động và bản chất của các sự vật hiện tượng trong tự nhiên và là cơ sở của Vật Lý Học Có thể nói VLĐC là xương sống của Khoa Học Vật Lý Vì vậy, VLĐC là một môn học làm cơ sở quan trọng trong chất lượng đại cương, nó trang bị kiến thức làm nền tảng cho nhiều đối tượng SV các ngành khối tự nhiên
Mặt khác, VLĐC là một trong những môn cơ bản đầu tiên của chương trình ĐH Nội dung môn học giới thiệu tổng quan về vật lý học và cơ học, cũng như cung cấp cho
SV những khái niệm cơ sở ban đầu về phương pháp nghiên cứu vật lý, về hệ đo lường và phương pháp luận về tư duy khoa học Phần cơ học là một nội dung quan trọng không thể thiếu Cơ học nghiên cứu một dạng vận động của vật chất là vận động cơ: là sự chuyển động và tương tác của các vật vĩ mô trong không gian và thời gian Nó là phần học mở đầu của môn VLĐC, những kiến thức của môn học này chính là cơ sở và tiền đề rất cần thiết để học tốt các môn tiếp theo Tuy nó là phần học quen thuộc, không quá khó để tiếp cận nó nhưng để tổ chức tốt việc tự học phần học này cũng không phải dễ vì để tự vận dụng những lý thuyết chung vào một bài tập tự luận cụ thể ta phải biết bài tập đó thuộc dạng bài tập nào, loại bài tập nào phải vận dụng những kiến thức lý thuyết nào để giải hay những loại bài tập trắc nghiệm thì đòi hỏi giải như thế nào nhanh và chính xác
Phần lớn những kiến thức của môn Cơ học đã được SV làm quen từ bậc THPT, do
đó những khái niệm, những định luật, định lí,…khá quen thuộc với SV Tuy nhiên, ở bậc phổ thông, SV chỉ nắm được những lý thuyết cơ bản và vận dụng được vào những bài tập rất đơn giản Phần Cơ học môn VLĐC này sẽ giúp cho SV nắm kỹ hơn, đào sâu hơn những kiến thức đó và có thể vận dụng chúng nhiều hơn trong thực tiễn đời sống và kỹ thuật Điều kiện trước tiên để học tốt phần Cơ học môn VLĐC này là SV đã được trang bị
Trang 19tương đối đầy đủ các cơ sở toán học logic
1.6.3 Hướng dẫn việc tổ chức tự học môn VLĐC phần cơ học
Từ khái niệm về hướng dẫn việc tổ chức tự học, chúng ta có thể hiểu hướng dẫn việc tổ chức tự học môn VLĐC phần cơ học là sự giúp đỡ, hình thành cho người học tổ chức hoạt động nhận thức của mình được tiến hành ở trên lớp hay ngoài lớp, khi có thầy
và cả khi không có thầy, hướng dẫn SV phương pháp, kĩ năng tổ chức tự học, cung cấp nguồn tài liệu phù hợp… nhằm chiếm lĩnh nội dung tri thức môn VLĐC, đáp ứng được nhu cầu xã hội và yêu cầu của thực tiễn
Chúng ta biết rằng muốn học tập tốt một bộ môn nào đó thì người SV phải hiểu được đặc điểm của môn học, tổ chức được những hoạt động tương ứng với môn học đó để lĩnh hội tri thức, chính bản thân người học chứ không phải ai khác phải thiết lập được mối quan hệ biện chứng giữa chủ thể (người học) và khách thể (môn học)
Việc tự học môn VLĐC cũng vậy, muốn học tập đạt kết quả cao trước hết SV phải
hiểu được tính chất, đặc điểm của môn học - đó là một bộ môn vừa mang tính chất tư duy,
tính trừu tượng, khái quát lại vừa áp dụng thực tiễn rất cao Việc học tập môn VLĐC
không chỉ đơn thuần là việc nắm vững những nguyên lý, định luật, những bài giảng mang tính chất lý thuyết mà phải gắn liền với việc am hiểu và nắm vững những kiến thức thực
tế vận dụng lý thuyết để giải một số bài tập Điều đó sẽ giúp họ xây dựng được ý thức tự học, tinh thần tự học, ý chí khắc phục khó khăn trong quá trình tự học
Bên cạnh đó, để tự học môn VLĐC đạt hiệu quả thì việc xây dựng phương pháp học tập khoa học và việc lựa chọn hình thức học tập phù hợp có một ý nghĩa vô cùng quan trọng Việc tổ chức tự học môn VLĐC phần cơ học không chỉ đơn thuần là học lại máy móc vở ghi, bài giảng của thầy mà người học còn phải làm quen với việc đọc sách, đọc các tài liệu tham khảo, các phương pháp giải bài tập để chúng ta có thể vận dụng linh hoạt với các bài tập khác nhau…tạo cho mình vốn tri thức, vốn kinh nghiệm phong phú
Đương nhiên để SV làm được điều đó thì vai trò của GV trong việc hướng dẫn việc
tổ chức tự học môn VLĐC phần cơ học là rất quan trọng
1.7 Kết luận chương 1
Tự học nói chung hay tự học môn VLĐC phần cơ học nói riêng phản ánh tính chủ động, tích cực, độc lập và tự chủ nghiên cứu của SV trong quá trình học tập Tự học bao
Trang 20giờ cũng là một nhân tố quyết định trong giáo dục ĐH Trong đào tạo theo HCTC, tự học lại càng quan trọng hơn Đó là con đường duy nhất đúng đắn nhất để người học hoàn thiện bản thân trên con đường chiếm lĩnh tri thức cũng như nhà trường hoàn thành sứ mệnh của mình Trong chương này tôi đã nghiên cứu:
- Nêu được các khái niệm về tự học trên quan điểm của nhiều tác giả khác nhau, nêu ra được hoạt động tự học diễn ra dưới các hình thức và mức độ như thế nào
- Bên cạnh đó tôi cũng đã khẳng định vai trò của hoạt động tự học, nó luôn giữ một
vị trí rất quan trọng trong quá trình học tập của người học Tự học là yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả của hoạt động học tập
- Muốn tổ chức việc tự học được thì cần phải có một chu trình tự học thích hợp cho người học, vì vậy tôi đi đến tìm hiểu các giai đoạn tự học của SV
- Học ở ĐH GV chỉ là người cung cấp những nguồn tài liệu phù hợp và định hướng
để cách tiếp cận vấn đề của SV dễ dàng và đúng hướng hơn, SV có thể chủ động học theo điều kiện và năng lực của mình Những SV giỏi có thể học theo đúng hoặc học vượt kế hoạch học tập toàn khóa, những SV bình thường và yếu có thể kéo dài thời gian học tập trong trường… Đó là một trong những quy định của HCTC hiện nay Vì vậy tôi đã đi nghiên cứu sự khác nhau giữa tự học trong đào tạo theo HCTC với đào tạo theo học phần
Trang 21CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TỰ HỌC CHUNG VÀ TỰ HỌC MÔN VLĐC PHẦN
CƠ HỌC CỦA SV TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐH ĐÀ NẴNG ĐÀO TẠO
THEO HCTC HIỆN NAY
2.1 Khái quát về tình hình tự học chung của SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng
Với khối lượng kiến thức được phân bổ qua các năm học, các học kì và từng học phần cụ thể đặc biệt theo HCTC hiện nay, đa số SV cảm thấy áp lực và khó khăn trong việc tổ chức việc tự học đạt hiệu quả cao SV được học các chuyên ngành khoa học, mỗi môn học đều có phương pháo logic đặc trưng Đối với các môn như: toán cao cấp, xác suất thống kê, VLĐC thì phương pháp tự học phải hoàn toàn khác với phương pháp tự học các môn học liên quan đến khoa học quản lý, giáo dục học, triết học hay các môn học khác mang tính lý thuyết, hàn lâm cao Vì vậy, việc lựa chọn phương pháp tự học như thế nào cho phù hợp là điều mà SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng không phải ai cũng làm được và thực tế SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng chưa thật sự tổ chức tự học
có hiệu quả
Phương pháp tự học là phương pháp phổ biến và được sử dụng thường xuyên trong học tập, hầu hết SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng từ năm thứ nhất đến năm thứ tư đều xem phương pháp này là phương pháp kích thích tư duy độc lập trên cơ sở tự tìm kiếm tài liệu liên quan, đọc sách, giáo trình và nghe bài giảng của GV khi đến lớp Trên thực tế đây là phương pháp chịu nhiều ảnh hưởng bởi các yếu tố khác nhau từ phương pháp dạy học của GV, cơ sở vật chất đến thời gian tự học, ứng dụng CNTT…
Cốt lõi của việc tổ chức tự học là việc độc lập tư duy đối với mỗi SV SV trường
ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng thường tiếp thu nguồn kiến thức qua lời nói, bài giảng, sách giáo khoa, giáo trình, tạp chí, và đặc biệt là qua bạn bè hay những kinh nghiệm của anh chị khóa trước, tài liệu không đầy đủ, tra cứu tài liệu từ mạng internet còn hạn chế…Trước một bài học, những SV tích cực thường đọc trước giáo trình, tìm tài liệu liên quan, nắm vững các nội dung cơ bản và khi gặp vấn đề khó khăn sẽ trao đổi trực tiếp với
GV Số SV còn lại thường tỏ ra bị động đón nhận kiến thức mới, lúng túng trong các vấn
Trang 22đề GV đưa ra, nhiều lúc chỉ lĩnh hội lượng kiến thức trên lớp rất ít nên cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình tổ chức tự học cho mình
Như vậy, việc tổ chức tự học tốt sẽ mang lại những hiệu quả nhất định cho người học Tuy nhiên, việc sử dụng phương pháp này mang lại hiệu quả chưa đồng đều và chỉ phù hợp với một số môn học Để khẳng định được hiệu quả của việc tổ chức tự học, SV phải có được các kỹ năng cơ bản như tự tổ chức hoạt động học, thu thập và xử lý thông tin, vận dụng bài tập và tự kiểm tra điều chỉnh kết quả học tập của từng bài
2.2 Vai trò của việc tổ chức tự học đối với SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng
Có một thực trạng là rất nhiều bạn có học lực khá ở bậc THPT nhưng khi vào các trường ĐH thì kết quả học tập lại không được như mong muốn Vấn đề không phải ở chỗ càng học lên cao thì kiến thức càng khó mà cái chính là do các bạn chưa thích nghi được với môi trường học tập mới cách học mới, chưa thoát khỏi cách học thụ động thầy đọc trò chép Việc nhiều bạn đi học chuyên cần, học hành chăm chỉ nhưng kết quả vẫn không được như mong muốn:
- Thứ nhất là do các bạn chưa có phương pháp tự học phù hợp
- Thứ hai là do các bạn quá phụ thuộc vào GV coi GV là cuốn bách kho a toàn thư
và mình chỉ cần học theo cuốn sách đó là đủ nên khả năng nắm bắt phân tích vấn đề chưa sâu, lối tư duy sáng tạo còn hạn chế
- Thứ ba là do cách học của các bạn vẫn mang nặng tính đối phó, học vệt chứ chưa thật sự tự giác tích lũy kiến thức trong khi ở những bậc học sau phổ thông chủ yếu là phải
tự nghiên cứu, tìm tòi còn GV chỉ là người hướng dẫn
Trong giới hạn nghiên cứu đề tài này điều tra 460 SV trường ĐH sư phạm – ĐH
Đà Nẵng về vấn đề tự học chung và 150 SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng tự học môn VLĐC tôi chỉ nghiên cứu hoạt động tự học của SV các lớp hệ đại học chủ yếu về các mặt: nhận thức về vị trí, vai trò, tác dụng của tự học, hình thức tự, thời gian tự học, kế hoạch tự học, hình thức, kỹ năng tự học, các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tự học của
SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng
Trang 232.3 Thực trạng tình hình tự học của SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng
2.3.1 Kiến thức, thái độ và kĩ năng tình hình tự học của SV trường ĐH sư phạm –
Biểu đồ 2.1: Nhận thức của SV về kiến thức học tập trên lớp
Vì vậy nhận thức của SV Trường ĐH Sư phạm - ĐH Đà Nẵng về tầm quan trọng của vấn
đề tự học trong đào tạo theo HCTC vẫn có, SV đã nắm được vai trò của việc tự học ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập của SV Cụ thể qua bảng số liệu dưới đây kết quả khảo sát về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của SV thì SV cho rằng khả năng tự học của SV chiếm tỉ lệ phần trăm lớn nhất chiếm đến 66% Như vậy độ tin vậy của các câu hỏi này là có cơ sở trong mẫu điều tra của tôi
Trang 24(47%) 215
(25%) 116
(66%) 304
(4%) 18
(5%) 23
1.4: CÁCH ĐÁNH GIÁ ĐIỂM 1.5: CÁC YẾU TỐ KHÁC
Biểu đồ 2.2: Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập
Vì vậy về phía người học, SV cần được cung cấp nhiều thông tin hơn về lợi ích của việc
tự học bằng cách tổ chức các buổi nói chuyện trao đổi học tập kinh nghiệm với các chuyên gia, giáo viên, các du học sinh hay các cựu SV thành công trong việc tự học Một khi SV có những kiến thức cơ bản của việc tự học, họ sẽ thấy rõ lợi ích mà tự học mang lại và SV sẽ chuyển sang cách học chủ động để nắm bắt kiến thức sâu hơn và tốt hơn
* Thái độ:
Bàn về tính không hiệu quả của giáo dục ngày nay đặc biệt là giáo dục ĐH theo HCTC, người ta thường đổ lỗi do thiếu trang thiết bị học tập, thương mại hóa giáo dục, phong cách giảng dạy của giảng viên, việc học thiên về lý thuyết nhiều hơn thực tiễn
mà quên đi thái độ tự học của SV trong việc học của mình Một SV có thái độ tự học tốt, phải là người biết cách sắp xếp thời gian học tập, biết phân phối sức lực để học tập, khát
khao hiểu biết, nghiên cứu, làm chủ những thành tự khoa học của nhân loại
Vì thế tôi khảo sát thái độ tự học của SV hiện nay như thế nào và thu được kết quả:
Trang 25Trong thực tế, chỉ có khoảng 13%, tức là vẫn có 1/7 số SV không có ý thức tự giác
tự học, theo thống kê xác suất tôi tổng hợp có 23% SV đã chọn không say mê với ngành học của mình vì nhiều lí do: rớt ngành, bố mẹ thích…Vì vậy đó cũng là một phần lí do làm cho SV không có hứng thú với ngành học của mình dẫn tới ý thức tự học kém Như vậy vẫn có số SV không có ý thức tốt trong việc tổ chức tự học, một khi SV không say
mê tự học, tự rèn luyện, không có thái độ tự học tốt vì thế SV lười học và học bị áp lực sẽ làm cho SV cảm thấy chán, dẫn đến học vẹt, hiệu quả học thấp
Qua quá trình khảo sát thực tiễn, đa số SV đều hiểu được vai trò quan trọng của tự học Tuy nhiên, sức ì và tính thụ động của SV còn rất lớn Hoạt động tự học vẫn còn
mang tính hình thức, đối phó với các bài kiểm tra Nhu cầu tự học nó xuất phát từ nhu
cầu, ý thức tự giác ở mỗi bản thân con người Trên cơ sở hiểu đúng, hiểu rõ tầm quan trọng của vấn đề tự học từ đó hình thành nên thói quen hứng thú trong học tập Tự học đang là yêu cầu cầp thiết của thời đại
2.3.1.2 Những kĩ năng tự học của SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng
Để có thể tìm ra các biện pháp giúp đỡ cho việc tự học chung cũng như tự học bộ môn VLĐC của SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng đạt kết quả tốt, một trong những điều quan trọng là chúng ta phải biết được trong thực tế, SV đã tiến hành tự học bộ môn này như thế nào? SV đã sử dụng những cách tự học nào để bổ xung mở rộng tri thức đã được học? Tôi đã đưa ra nhiều hình thức và kĩ năng tự học khác nhau để SV lựa chọn cách học nào mà SV thấy tối ưu nhất
(13%) 62
(16%) 75
(49%) 225 (40%) 182
(57%) 263
KĨ NĂNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC MÀ SV CHO RẰNG TỐT NHẤT
1.1: CÁ NHÂN TỰ MÀY MÒ THEO SỞ THÍCH VÀ HỨNG THÚ ĐỘC LẬP KHÔNG
CÓ SÁCH VÀ SỰ HƯỚNG DẪN CỦA GIÁO VIÊN
1.2: TỰ HỌC CÓ SÁCH NHƯNG KHÔNG CÓ GIÁO VIÊN BÊN CẠNH
1.3: TỰ HỌC CÓ SÁCH,SV VỀ NHÀ TỰ HỌC DƯỚI SỰ HƯỚNG DẪN GIÁN TIẾP CỦA GIÁO VIÊN THÔNG QUA CÁC TIẾT DẠY
1.4: TỰ HỌC Ở NHÀ THÔNG QUA MẠNG VẪN THẤY VÀ NGHE GV GIẢNG DẠY KÈM THEO BÀI TẬP VẬN DỤNG LINH HOẠT NHƯ TRÊN MỘT TIẾT HỌC Ở LỚP
1.5: TỰ HỌC THÔNG QUA BẠN BÈ,HỌC NHÓM
1.6: HÌNH THỨC KHÁC
Biểu đồ 2 4 Kĩ năng tổ chức hoạt động tự học SV cho rằng tối ưu nhất
Trang 26Ta thấy đa số SV chọn kĩ năng hoạt động nhóm, bạn bè là tốt nhất chiếm tới 57% với số SV là 263/460, kĩ năng tự học có sách cũng chiếm đa số chiếm tới 49% Qua quan sát tôi thấy kỹ năng hoạt động nhóm, bạn bè trên thực tế chưa thật hiệu quả ở 2 vấn đề:
- Đối với nhiệm vụ của GV giao cho SV làm bài tập theo nhóm: đây cũng xem như
là việc tổ chức tự học theo nhóm với sự hướng dẫn của GV và điều bất cập tôi quan sát được là sự phân công nhiệm vụ còn chưa phù hợp với năng lực, điều kiện, khả năng của từng thành viên trong nhóm, bạn quá nhiều việc bạn lại không có việc để làm nên đánh giá hiệu quả năng lực tự học thực hiện nhiệm vụ chưa cao
- Trong quá trình SV tự tổ chức học nhóm mâu thuẫn sẽ nảy sinh từ đó SV phải giải quyết “xung đột”, SV có thể cùng trao đổi kiến thức với nhau qua đó các bạn sẽ hỗ trợ lẫn nhau và kiến thức sẽ nhớ được lâu hơn nhưng SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà
ĐH hướng tới
Vì vậy nếu SV chỉ được tiếp thu bài học trên lớp mà về nhà không xem lại bài và
tái hiện lại các kiến thức đã học thì SV sẽ “Bán hết kiến thức cho thời gian” Do đó thời
Trang 27gian học ở nhà chiếm một phần rất lớn, và nếu như các em không biết sử dụng thời gian
đó một cách hợp lí thì kết quả học tập của các em sẽ ảnh hưởng rất lớn, như vậy thì hiệu quả giáo dục không có đạt được chất lượng
Tôi tiến hành khảo sát 460 phiếu điều tra tại trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng về thời gian SV tổ chức tự học và thu được kết quả:
BIỂU ĐỒ VỀ THỜI GIAN SV TỰ HỌC
79SV
Biểu đồ 2.5 Thời gian tự học của SV
Qua bảng thống kê và biểu đồ thể hiện thời gian tự học của SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng thì tôi thấy bình quân thời gian tự học của SV đa số là 2h/ngày chiếm tới 44% tức 204/460 SV Bên cạnh đó, 22% số SV có thời gian tự học 3h/ngày; 17% tự học 4h/ngày; 7% tự học 1h/ngày trong khi đó tự học 6h/ngày chỉ có 24/460 số SV chỉ chiếm 5%, quá ít so với yêu cầu thời gian tự học đặt ra Theo lí luận ta vừa nêu trên, trung bình mỗi ngày SV tự học tối thiểu là 6h/ngày là khoảng thời gian tối thiểu SV phải
tự học để tự lĩnh hội các kiến thức phù hợp với HCTC mà giáo dục ĐH hướng tới
Với kết quả thực trạng đa số SV tự học 2h/ngày như vậy, thời gian tổ chức tự học quá ít để có thể tiếp thu kiến thức, SV chưa hiểu rõ những quy định trong đào tạo theo HCTC hiện nay là: “Đào tạo tín chỉ với việc giảm thời lượng lên lớp không phải là giảm yêu cầu tự học” Trên thực tế đó, tôi đã đi tìm hiểu nguyên nhân tại sao SV tự học ít vậy cũng như những khó khăn mà SV gặp phải:
- Đa số SV vẫn chưa làm quen được với môi trường giáo dục mới Phương pháp học tập ở THPT vẫn chưa thể thoát ly trong suy nghĩ của SV
Trang 28- Trong điều kiện được “tự do” khi không còn áp lực của gia đình bên cạnh, đặc biệt SV năm thứ nhất nhiều bạn vẫn còn tâm lí nghỉ xã hơi khi đã đậu vào ĐH, đa số chưa
ý thức được vai trò tự giác của bản thân trong học tập và rèn luyện
- Thiếu các phương tiện hỗ trợ, tài liệu tham khảo trên thư viện còn hạn chế, phương pháp giải bài tập còn quá chung chung
- Bản thân một số giảng viên trong quá trình lên lớp cũng chưa đề cao yêu cầu yếu
tố tự học của SV
- Một thực tế hiện nay một số SV “rất lười đọc sách” Mặc dù sách tham khảo đã được GV hướng dẫn cụ thể ở từng nội dung bài học nhưng khi được hỏi về việc này, số đông SV đều lúng túng Đa số cho rằng họ “có đọc” nhưng chỉ một số cuốn sách chuyên ngành khi phải trình bày, báo cáo hay làm bài kiểm tra, có những SV năm cuối chưa từng một lần đến thư viện tìm sách
2.3.2.1.2 Ứng dụng CNTT trong tự học của SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng
Như vậy, hiện nay CNTT đang phát triển mạnh mẽ, đã và đang đạt được nhiều thành tựu to lớn Internet thì cung cấp nguồn tài liệu hết sức phong phú, đa dạng từ các trang web Internet là môi trường tốt để SV tự học đạt hiệu quả cao
Để tìm hiểu được trong thực tế SV trường trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng tự
học qua mạng có tốt không tôi tiến hành khảo sát và kết quả thu được thể hiện ở biểu đồ sau:
THỰC TRẠNG CỦA VIỆC TỰ HỌC QUA MẠNG
15%
19%
66%
1.1: TỐT 1.2: CHƯA TÔT LẮM 1.3: KÉM
303SV 86SV 71SV
Trang 29(11%) 51
(14%) 66
(63%) 288
(62%) 287 (48%)
222 (47%)214
(9%) 43
(9%) 41
(22%) 103
(5%) 22
(7%)
34 (4%)
20
0 50
Biểu đồ 2.7.Những kênh thông tin SV sử dụng trong quá trình tự học và đề cương ôn tập
Những kênh thông tin mà SV sử dụng trong quá trình tự học chủ yếu là hỏi từ anh
chị khóa trước chiếm 63% và bạn bè 48%, còn tự học thông qua một trang web của
trường (9%) và Website khác rất ít chỉ chiếm 7% cũng như đề cương để ôn tập thì đa số
cũng chỉ hỏi trực tiếp từ thầy cô (62%) mà ít lên tìm kiếm ở website trường hay trang web
tự học nào đó Qua đó ta càng thấy SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng chưa tận dụng
được hết tiềm năng mà Internet mang lại, ứng dụng CNTT không được tốt Ý kiến từ SV
cho thấy thư viện trường vẫn có máy tính vào mạng nhưng hầu như SV không được phép
sử dụng
Xét một khía cạnh nào đó có thể nói tài liệu, giáo trình bài giảng còn hạn chế
Những kênh thông tin hiện tại các bạn đang dùng thì rất hạn hẹp dẫn đến nhiều môn học
không có tài liệu phục vụ việc nghiên cứu, học tập Bởi vậy dẫn đến hậu quả SV không
Những kênh thông tin dùng trong quá trình tự học
1.1.Không được tiếp cận
1.2 Anh chị khóa trước
1.3 Bạn bè
1.4 Website của trường
1.5 Hỏi đáp trực tiếp với thầy cô
1.6 Website khác
1.7 Ý kiến khác
Đề cương tự ôn tập các môn học qua những kênh thông tin
1.1.Không được tiếp cận
1.2 Hỏi đáp trực tiếp với thầy cô
1.3 Bạn bè
1.4 Website của trường
1.5 Ý kiến khác
Trang 3030
cần nghiên cứu sâu, không cần đọc tài liệu, chỉ cần học những gì GV đã ghi chép được nên rất thụ động và có quá nhiều thì giờ nhàn rỗi làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập
và khả năng tư duy mở rộng kiến thức
2.3.2.2 Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quá trình tự học của SV trường ĐH
sư phạm – ĐH Đà Nẵng
2.3.2.2.1 Cách tổ chức giảng dạy và năng lực sư phạm của GV
Chất lượng của phương pháp dạy học ở GV cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình tổ chức tự học của SV Một sứ mệnh cao cả của người thầy là đánh thức được tiềm năng của học trò để họ có nhu cầu tự học và biết tự học Dù biết rằng, cuối cùng, việc học
và chất lượng học của từng cá thể SV do chính SV ấy quyết định, nhưng vai trò của người thầy chính là ở chỗ sẽ tổ chức đào tạo và dạy như thế nào để chuyển được học trò từ mốc giá trị này đến mốc giá trị kia, tiến bộ hơn, từ chỗ chán học đến chỗ thích học, từ chỗ chưa biết cách tự học đến chỗ biết cách tự học Nói cách khác, chất lượng tự học của SV phản ánh chất lượng của phương pháp dạy học
Giữa học và tự học có mối quan hệ với nhau, học chỉ có hiệu quả khi có sự tự học,
tự học là kết quả cuối cùng của học Như vậy, cốt lõi của học là tự học Khi nói học là hàm ý xét đến mối quan hệ với ngoại lực, tức là dạy Còn khi nói là tự học, là chỉ riêng nội lực ở người học Hai người cùng học một thầy nhưng kết quả tuỳ theo chất lượng tự học ở từng người Ngoại lực tác động đến nội lực như thế nào thì đó chính là thước đo chất lượng dạy học Nếu ngoại lực tác dụng tốt (thầy gợi mở, khuyến khích sáng tạo) sẽ
có tác dụng kích thích nội lực, nếu tác dụng không tốt (thầy áp đặt) có thể kìm hãm nội lực Tác dụng của ngoại lực vào nội lực sẽ tốt nhất khi có sự cộng hưởng giữa nội lực và ngoại lực, tức là có sự vừa sức Vì vậy, hoạt động tự học của SV gắn liền chặt chẽ với hoạt động dạy học ở trên lớp Do đó quá trình dạy học không còn là quá trình cung cấp tri thức một cách đơn thuần như trước đây mà là quá trình hướng dẫn điều khiển SV tự hoạt
động để lĩnh hội tri thức về nội dung kiến thức, kĩ năng, cách thức và cách tự học
* Thực trạng tự học chung của SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng
Tôi đi tìm hiểu, khảo sát lượng kiến thức SV tiếp nhận trên lớp chiếm bao nhiêu phần trăm và thực tế tôi thu được tỉ lệ phần trăm tương ứng trên mỗi cột của biểu đồ, đa
số SV hiểu lượng kiến thức được 50% chiếm 194/460 SV, 60% chiếm 92/460 SV, 70%
(42,2%) 194
(20%) 92 (12,2%)
56 (8,5%)
39 (0,4%) 2
(16,7%) 77
Trang 31chiếm 50/460 SV, 80% chiếm 39/460 SV, hiểu được 100% chỉ cs 2/460 SV, lượng kiến thức tiếp nhận trên lớp ít như vậy chắc chắn cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình tự học của SV
Biểu đồ 2.8 Tỉ lệ phần trăm SV tiếp nhận kiến thức trên lớp
Hiện nay vẫn còn một số GV có tình trạng “đọc chép” và đặc biệt “chiếu chép” lạm dụng quá nhiều CNTT ít quan tâm gì đến việc giảng giải chứng minh bằng phấn bảng gây cho SV áp lực các kiến thức bị dồn nén, tiếp thu kiến thức này chưa xong lại theo kiến thức mới khác Do đó, theo tôi, việc kết hợp CNTT và phương pháp giảng giải bằng phấn bảng giúp SV hiểu bài tốt hơn vận dụng vào các bài tập một cách linh hoạt hơn
Đào tạo theo HCTC phân bổ thời gian học trên trường quá ít nhưng khối lượng kiến thức ngày càng tăng nên nhiều lúc GV phải dạy nhanh cho đủ kiến thức điều đó gây áp lực cho cả người dạy và người học Vì vậy SV khó có thể theo kịp bài vở Do đó lúc này việc tự học càng có ý nghĩa quan trọng Nhiệm vụ to lớn của GV lúc này là hướng dẫn, định hướng cung cấp tài liệu cho SV tự tổ chức tự học theo kịp với kiến thức cần đạt Để việc học đạt được kết quả cao có đủ lượng kiến thức cần thiết cho quá trình làm việc sau này đòi đỏi SV không ngừng phấn đấu trong quá trình tự học phù hợp với năng lực và điều kiện cụ thể của bản thân
Vì vậy, qúa trình dạy học ở ĐH – cao đẵng là dạy cho SV cách tự học, để SV có được tư duy độc lập và phương pháp công tác độc lập Chính sự thay đổi cách dạy đòi hỏi mức độ làm việc độc lập của SV rất cao Nếu GV làm thay, ít khuyến khích SV làm việc độc lập, không đề ra yêu cầu cao cho SV thì dù GV có tích cực đến đâu mà SV không nổ lực tự học thì dạy học không có kết quả
Trang 32* Thực trạng tự học môn VLĐC phần cơ học của SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng
Từ thực trạng tự học chung, tôi tiếp tục đi khảo sát yếu tố GV ảnh hưởng đến quá trình tự học môn VLĐC của SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng với 150 phiếu được phát ra Giả sử nếu GV không cung cấp đầy đủ tài liệu thì bạn sẽ làm gì? Và kết quả thu được: chiếm đến 82% SV chọn tìm thêm tài liệu từ anh chị khóa trước hay bạn bè, chỉ có 30% nhờ GV cung cấp thêm
(13%) 19
(36%) 54 (19%) 28
(82%) 123
(23%) 35
0 0
Chỉ dùng tài liệu được cung cấp
Tìm tài liệu của anh chị khóa trước hay bạn bè Lên mạng tìm kiếm tài liệu liên quan
Ý kiến khác
Biểu đồ 2.9 SV làm gì khi GV cung cấp tài liệu không đầy đủ
Vấn đề đặt ra tại sao SV không trực tiếp hỏi thầy cô để biết tài liệu tham khảo phù hợp? Với thực trạng trên, ta thấy bản thân SV ngại còn rụt rè tạo khoảng cách với GV chưa khai thác triệt để nguồn tài liệu vô giá này Đào tạo theo HCTC như hiện nay thì phân bổ thời gian trên lớp quá ít, vì vậy ngoài giờ học SV có thể gặp trực tiếp từ GV để nhờ GV giải thích những vấn đề mà bản thân thấy thắc mắc và tham khảo tài liệu GV cũng tạo mọi điều kiện thuận lợi, hướng dẫn nhiệt tình cung cấp những tài liệu cần thiết
để SV làm tư liệu tổ chức tự học hiệu quả hơn
Trên cơ sở đó, tôi tiếp tục đi khảo sát những mong muốn mà SV cần từ GV khi học môn VLĐC để thấy được những khó khăn mà SV gặp phải và tôi thu được kết quả:
Trang 3326
(62%) 93
Bài tập thầy cô thường xuyên đưa lên mạng để
SV tham khảo
Ý kiến khác
Biểu đồ 2.10 Mong muốn của SV học môn VLĐC
Hầu như SV rất cần bài tập từ GV chiếm đến 62% làm tài liệu ôn tập, tự nghiên cứu Vì vậy, việc đưa thêm bài tập cùng một số phương pháp giải phù hợp để tham khảo tránh tình trạng làm toán theo mẫu SV không có sự tư duy sáng tạo cao là điều cấp thiết Cần chú ý, vẫn biết cách học ở ĐH chủ yếu là tự học, tự tìm tài liệu, nhưng với số lượng tài liệu vô cùng lớn mà SV tự mò mẫm chính xác tài liệu thích hợp cho môn học này thì rất khó Vì vậy, cần có sự hướng dẫn, định hướng cho SV từ thầy cô rất nhiều
Mặt khác, trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, khi hoạt động tự học là một thành phần bắt buộc trong cơ cấu thời khóa biểu thì cần phải có các hình thức kiểm tra - đánh giá hoạt động này Nếu GV chỉ giao nhiệm vụ tự học mà không tổ chức kiểm tra, đánh giá thì hoạt động học tập này chỉ mang tính hình thức, đối phó mà không đem lại kết quả như mong muốn.GV thường xuyên đánh giá SV trong suốt quá trình của môn học nay thông qua các hình thức kiểm tra đa dạng như bài tập cá nhân (tuần); bài tập nhóm (tháng); bài tập lớn (học kỳ thông thường là một bài tổng luận về môn học) và các bài thi giữa kỳ, cuối kỳ dưới hình thức tự luận, trắc nghiệm hay trắc nghiệm trên mạng và công
bố điểm ngay sau khi kiểm tra xong Qua đó hình thành cho SV cách làm việc nghiêm túc, tính tích cực và ý chí phấn đấu vươn lên để đạt kết quả cao trong học tập Vì vậy tôi tiếp tục đi khảo sát các hình thức kiểm tra, đánh giá SV tự học mà SV thấy tối ưu và thu được kết quả:
Trang 34BẠN MONG MUỐN THẦY CÔ CHO KIỂM TRA TỰ HỌC MÔN VẬT LÝ ĐẠI CƯƠNG
Biểu đồ 2.11 Hình thức kiểm tra tự học của SV
Và kết quả tôi thu được SV mong muốn hình thức đầu tiên là trắc nghiệm chiếm tới 52% và hình thức tự luận chiếm 41% Một điều dễ hiểu vì SV trường ta việc ứng dụng CNTT quá hạn chế nên hình thức kiểm tra trắc nghiệm trên mạng chỉ chiếm 7% Như vậy cũng đánh giá các câu hỏi trong phiếu điều tra mà tôi đưa ra có độ tin cậy cao Nhưng trên thực tế tôi thấy rằng vẫn có một số bài kiểm tra môn VLĐC được thực hiện để lấy đủ điểm số cho SV, mà không có việc kiểm tra-đánh giá kết quả tự học của SV
Để hoạt động tự học của SV đạt hiệu quả cao nhất thiết phải có sự kiểm tra- đánh giá của GV SV có thể tự mình kiểm tra đánh giá kết quả tự học của mình song nếu có sự can thiệp giúp đỡ của GV sẽ đạt hiệu quả cao hơn Vì không phải SV nào cũng có đủ khả năng để tự mình kiểm tra, hay có kiểm tra nhưng không đạt được hiệu quả Dựa vào kết quả này tôi sẽ có những giải pháp đáp ứng nhu cầu thiếu nguồn tài liệu phù hợp với các hình thức kiểm tra đánh giá của SV khi tự học môn VLĐC
2.3.2.2.2 Cơ sở vật chất ảnh hưởng đến quá trình tự học của SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng
Cơ sở vật chất là một trong những yếu tố không nhỏ ảnh hưởng tới quá trình tự học của SV như thư viện, phòng tự học, phòng máy…Nó được thiết kế nhằm đảm bảo một môi trường học tập hiện đại, thỏa mái, tiện nghi với mục đích đem đến SV hiệu quả tự học tốt nhất
Trang 35* Thực trạng tự học chung của SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng
Qua kết quả thông kê SV cho rằng yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến quá trình tự học của SV là cơ sở vật chất phục vụ cho việc tự học chiếm đến 58% ứng với 267 SV trên tổng sô 460 SV, sau đó mới tới yếu tố cách giảng dạy của GV
(53,3%) 245 (42,8%) 197
(58%) 267 (47%) 216
(0,7%) 3
0 50 100
YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC TỰ HỌC CỦA SV
1.1: CÁCH GIĂNG BÀI CỦA GV 1.2: ẢNH HƯỞNG CỦA GIA ĐÌNH 1.3: CƠ SỞ VẬT CHẤT CHO VIỆC TỰ HỌC 1.4: SỰ HAM HỌC VÀ ĐÀO SÂU KIẾN THỨC CỦA BẢN THÂN
1.5: YẾU TỐ KHÁC
Biểu đồ 2.12 Yếu tố ảnh hưởng đến việc tự học của SV trường ĐH sư phạm – ĐH ĐN
Vì vậy tôi khảo sát xem cơ sở vật chất ảnh hưởng đáp ứng nhu cầu tự học môn VLĐC của
SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng như thế nào và thu được kết quả:
* Thực trạng tự học môn VLĐC phần cơ học của SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng
Khi nói cơ sở vật chất ảnh hưởng đến quá trình tự học của SV thì rất nhiều: phòng học, tài liệu, thư viện…Vì thế, tôi tiếp tục lấy ý kiến đề xuất của SV về trang thiết bị phục
vụ tự học môn VLĐC thì thấy rằng: “Thư viện hiện nay tài liệu không đủ để SV mượn, nhiều lúc SV muốn tổ chức học nhóm thấy lớp học còn trống mà SV không được vào học”, “máy tính trên thư viện có kết nối Internet nhưng SV không được sử dụng” Chính
vì vậy các cơ sở vật chất phục vụ cho việc tự học môn VLĐC như giảng đường, phòng học, phòng chức năng, thư viện, phòng thí nghiệm…còn hạn chế do đó nhà trường cần chú ý nhằm đảm bảo tạo mọi điều kiện thuận lợi cho SV có môi trường tự học tốt nhất
Trang 36Thật vậy, về phía nhà trường, môi trường tự học chưa được nhà trường đầu tư đúng mức Khi được hỏi thư viện trường có đáp ứng nhu cầu tự học không thì đại đa số các SV được khảo sát của trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng, trả lời là “không” chiếm 68%,
“có” chiếm 32%:
THƯ VIỆN CỦA TRƯỜNG CÓ ĐÁP ỨNG NHU CẦU TÌM TÀI
LIỆU MÔN VLĐC BẠN KHÔNG?
68%
32%
Có Không
Biểu đồ 2.13: Tỉ lệ SV nhận xét về tính hiệu quả khi sử dụng thư viện để tự học
Trong đó lý do chủ yếu là thư viện chưa đáp ứng được nhu cầu học của SV về số lượng và chất lượng sách về VLĐC Qua quan sát hiện tại thư viện của trường có 6 máy
vi tính kết nối mạng Internet nhưng SV không được phép sử dụng Do đó, thư viện luôn giữ mối liên hệ với các khoa chuyên môn và phòng Đào tạo để cập nhật các thông tin về tài liệu tham khảo chính của môn học, làm cơ sở cho công tác bổ sung, công tác lập thư mục danh mục tài liệu để SV có thể tìm kiếm tư liệu tự học môn VLĐC này tốt hơn
2.3.3 Hệ thống hỗ trợ SV tự học môn VLĐC đào tạo theo HCTC hiện nay
Trong đào tạo theo HCTC, 01 tín chỉ = 15 tiết chuẩn = 12 tiết lên lớp lý thuyết + 3 tiết lên lớp thảo luận, bài tập và để tiếp thu được 01 tín chỉ SV phải tự học 30 tiết ở nhà Trong các tiết tự học ở nhà thì việc cung cấp tài liệu tự học môn VLĐC đạt hiệu quả tốt là điều cần thiết Đó cũng là một phần lí do mà tôi muốn điều tra SV cần hệ thống hỗ trợ qua những nội dung nào Qua biểu đồ dưới đây đã chứng minh nhận định trên là đúng, ta thấy mong muốn rất lớn ở SV trong việc tổ chức tự học thì phải cần tài liệu tham khảo chiếm tới 80% bên cạnh đó là những câu hỏi, bài tập đề thi thử để SV tự ôn tập (63%)
Trang 37(47%) 71
(26%) 39
(80%) 120
(31%)
47 (28%)42
(22%) 33 (13%) 19
(63%) 94
(15%) 23
Diễn đàn trao đổi với giảng viên những khó khăn khi học
Diễn đàn trao đổi giữa các sinh viên Các phần mềm mô phỏng kiến thức đang học
Các câu hỏi, đề thi thử để ôn tập
Tổ chức thi trực tuyến Cập nhât và thông báo điểm đến email của sinh viên
cậy của các câu hỏi trong phiếu điều tra có tính logic hay độ tin cậy cao Đây là nguyện
vọng của rất nhiều SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng và cần phải quan tâm để giúp
SV khắc phục những khó khăn nhằm nâng cao chất lượng tự học môn VLĐC nói riêng hay các môn học khác nói chung
2.4 Kết luận chương 2
Hoạt động học tập của SV chỉ có kết quả cao khi SV ý thức được tầm quan trọng của việc tự học và có sự thống nhất giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò, hơn nữa còn phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các biện pháp, kĩ năng tổ chức hoạt động
tự học với nhau
Trong chương này tôi đi nghiên cứu thực trạng tự học của SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng nói chung và SV tự học môn VLĐC nói riêng, quan sát SV có thật sự tổ chức tự học mà hiện nay đào tạo theo HCTC hướng tới hay chưa? Thực tế, đa số SV trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẵng có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của tự học