1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sử dụng phương pháp luyện tập trong dạy học môn mỹ thuật lớp 4 ở tiểu học

115 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sử dụng phương pháp luyện tập kết hợp với các phương pháp dạy học khác trong dạy học môn Mỹ thuật lớp 4 ở Tiểu học.... Sử dụng phương pháp luyện tập kết hợp với các đồ dùng dạy học trong

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON

- -

LÊ THỊ HƯƠNG

Sử dụng phương pháp luyện tập trong dạy

học môn Mỹ thuật lớp 4 ở Tiểu học

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

XHCN: Xã hội chủ nghĩa

SL : Số lượng SGK : Sách giáo khoa SGV : Sách giáo viên

GV : Giáo viên

HS : Học sinh

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4

8 Cấu trúc luận văn 4

PHẦN NỘI DUNG .5

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP LUYỆN TẬP TRONG DẠY HỌC MÔN MỸ THUẬT LỚP 4 Ở TIỂU HỌC 5

1.1 Cơ sở lí luận 5

1.1.1 Các khái niệm cơ bản 5

1.1.2 Phân loại phương pháp dạy học 7

1.1.3 Đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học 8

1.1.4 Đặc điểm của môn học Mỹ thuật ở Tiểu học 11

1.1.5 Một số phương pháp dạy học đặc thù của môn Mỹ thuật ở Tiểu học 14

1.1.6 Tổng quan về phương pháp luyện tập trong dạy học Mỹ thuật ở Tiểu học 16

1.2 Cơ sở thực tiễn 18

1.2.1 Mục tiêu môn Mỹ thuật ở nhà trường Tiểu học 18

1.2.2 Những điểm đổi mới của chương trình Mỹ thuật ở Tiểu học 18

1.2.3 Tìm hiểu tình hình dạy và học môn Mỹ thuật ở trường Tiểu học 20

Chương 2: BIỆN PHÁP SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP LUYỆN TẬP TRONG DẠY HỌC MÔN MỸ THUẬT LỚP 4 Ở TIỂU HỌC 26

2.1 Mục tiêu, nội dung chương trình môn Mỹ thuật lớp 4 ở Tiểu học 26

2.2.1 Mục tiêu môn Mỹ thuật lớp 4 ở Tiểu học 26

2.2.2 Cấu trúc và nội dung chương trình SGK Mỹ thuật lớp 4 ở Tiểu học 26

2.2 Phương pháp dạy học các phân môn Mỹ thuật lớp 4 ở Tiểu học 28

Trang 4

2.2.1 Phương pháp dạy - học vẽ trang trí 28

2.2.2 Phương pháp dạy - học vẽ theo mẫu 29

2.2.3 Phương pháp dạy - học vẽ tranh 30

2.2.4 Phương pháp dạy - học tập nặn tạo dáng 32

2.2.5 Phương pháp dạy - học thường thức mỹ thuật 33

2.3 Dạy học sử dụng phương pháp luyện tập trong các phân môn Mỹ thuật lớp 4 ở Tiểu học 33

2.3.1 Dạy học sử dụng phương pháp luyện tập trong phân môn : Vẽ trang trí 34

2.3.2 Dạy học sử dụng phương pháp luyện tập trong phân môn : Vẽ theo mẫu 37

2.3.3 Dạy học sử dụng phương pháp luyện tập trong phân môn : Vẽ tranh 41

2.3.4.Dạy học sử dụng phương pháp luyện tập trong phân môn:Tập nặn tạo dáng 45

2.3.5 Dạy học sử dụng phương pháp luyện tập trong phân môn : Thường thức mỹ thuật 46

2.4 Mối quan hệ giữa phương pháp luyện tập với các phương pháp dạy học khác trong môn Mỹ thuật lớp 4 ở Tiểu học 50

2.4.1 Phương pháp luyện tập kết hợp với các phương pháp dạy học trực quan 50

2.4.2 Phương pháp luyện tập kết hợp vớ phương pháp gợi mở 51

2.4.3 Phương pháp luyện tập kết hợp với phương pháp trò chơi học tập 53

2.4.4 Phương pháp luyện tập kết hợp với phương pháp làm việc theo nhóm 55

2.4.5 Sử dụng phương pháp luyện tập kết hợp với các phương pháp dạy học khác trong dạy học môn Mỹ thuật lớp 4 ở Tiểu học 58

2.5 Sử dụng phương pháp luyện tập kết hợp với các đồ dùng dạy học trong dạy học môn Mỹ thuật lớp 4 ở Tiểu học 59

2.5.1 Đồ dùng dạy - học 59

2.5.2 Tác dụng của đồ dùng dạy - học 61

2.5.3 Sử dụng phương pháp luyện tập kết hợp với các loại đồ dùng dạy - học trong môn Mỹ thuật lớp 4 ở Tiểu học 61

2.6 Cách thiết kế, tổ chức tiến hành phương pháp luyện tập với các hình thức dạy học môn Mỹ thuật lớp 4 ở Tiểu học 63

2.6.1 Hình thức tổ chức hoạt động Cá nhân: 64

2.6.2 Hình thức tổ chức hoạt động Nhóm: 64

2.6.3 Hình thức tổ chức hoạt động Lớp: 65

Trang 5

2.6.5.Các hình thức hoạt động ngoại khoá 65

2.7 Sử dụng phương pháp luyện tập để phát huy tính tích cực học tập và khả năng sáng tạo của học sinh trong dạy học môn Mỹ thuật lớp 4 66

2.7.1 Phát huy tính tích cực học tập của học sinh 66

2.7.2 Phát huy khả năng sáng tạo của học sinh 67

2.8 Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp luyện tập trong học môn Mỹ thuật lớp 4 đạt hiệu quả 69

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 71

3.1 Mục đích thực nghiệm 71

3.2 Chuẩn bị thực nghiệm 71

3.2.1 Địa điểm thực nghiệm 71

3.2.2 Đối tượng thực nghiệm 76

3.2.3.Nội dung thực nghiệm 77

3.2.4 Tiêu chí đánh giá 77

3.3 Tiến hành thực nghiệm 77

3.4 Kết quả thực nghiệm 89

3.4.1 Bài 25 Vẽ tranh: Đề tài trường em 89

3.4.2 Bài 27 Vẽ trang trí :Trang trí lọ hoa 90

3.5 Tổng kết thực nghiệm 91

PHẦN KẾT LUẬN 92

1 Kết luận chung 92

2 Một số ý kiến đề xuất 93

2.1 Đối với giáo viên 94

2.2 Đối với các cấp lãnh đạo 95

2.3 Hạn chế của đề tài 95

3 Một số hướng nghiên cứu sau đề tài 96

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Lí do chọn đề tài

Mục tiêu của nền giáo dục Việt Nam là: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất, năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm thực hiện hai mục tiêu chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN” Trong đó, mục tiêu của giáo dục Tiểu học là giúp cho học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở

Để thực hiện mục tiêu trên, giáo dục phải đầu tư ngay từ bậc học đầu tiên đó là bậc học Tiểu học Do đó, việc truyền đạt những tri thức qua tất cả các môn học nhằm cung cấp cho các em những hiểu biết về tự nhiên, xã hội, con người Từ đó hình thành cho học sinh những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết để các em có thể vận dụng vào cuộc sống

Nằm trong hệ thống các môn học ở bậc Tiểu học, Mỹ thuật là môn học có vị trí khá quan trọng Môn học này giúp học sinh có những kiến thức và kĩ năng cơ bản về mỹ thuật như : đường nét, hình khối, màu sắc, vận dụng những tri thức này

để tiến hành trên bài vẽ Đồng thời môn học còn rèn cho học sinh kĩ năng luyện tập, góp phần phát triển tư duy sáng tạo, giáo dục thẩm mỹ, hình thành những phẩm chất của người lao động mới : cần cù, cẩn thận, tiết kiệm làm việc khoa học, có kế hoạch

và tác phong nhanh nhẹn

Mỹ thuật là môn học thuộc lĩnh vực năng khiếu, tùy vào đặc điểm của từng khối lớp, từng chương, từng bài mà người giáo viên sử dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau nhằm phát huy năng khiếu của học sinh Dạy học mỹ thuật ở Tiểu học, người giáo viên sử dụng nhiều phương pháp trong đó có phương pháp luyện tập Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến không chỉ trong môn Mỹ thuật mà trong các môn học khác như: Tiếng Việt, Toán, Thủ công - Kĩ thuật, Tự

Trang 7

nhiên và xã hội Chỉ thông qua việc luyện tập học sinh mới thể hiện được năng lực của chính các em Việc luyện tập, thực hành thường xuyên còn là động lực thúc đẩy

ý chí không ngừng cố gắng, vươn tới cái đẹp hoàn thiện, rèn tính kiên trì, bền bỉ, phát huy óc sáng tạo và khiếu thẩm mỹ Phương pháp luyện tập giúp học sinh ghi nhận lại những sự vật hiện tượng trong cuộc sống một cách sinh động, cụ thể

Vì vậy, để dạy tốt môn Mỹ thuật người giáo viên cần phối hợp nhiều phương pháp dạy học một cách linh hoạt, nhằm tích cực hóa hoạt động học tập và phát huy năng lực tự học của học sinh Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm ,nhược điểm, tác dụng nhất định nên người giáo viên cần phải nắm rõ yêu cầu và sử dụng phương pháp dạy học phù hợp để nâng cao chất lượng dạy và học Trong dạy học môn Mỹ thuật thì phương pháp dạy học có vai trò phát triển năng lực thực hành trên từng bài tập cụ thể.Trên cơ sở đó giúp giáo viên nắm rõ tình hình học tập của từng

em đồng thời điều chỉnh hoạt dộng dạy sao cho phù hợp với tiến trình bài học Như vậy, việc sử dụng phương pháp luyện tập vào dạy học môn Mỹ thuật ở lớp 4 nói riêng và môn Mỹ thuật nói chung là rất cần thiết Xuất phát từ những lí do

trên tôi quyết định chọn đề tài : "Sử dụng phương pháp luyện tập trong dạy học

môn Mỹ thuật lớp 4 ở Tiểu học" Nhằm làm rõ nội dung và cách sử dụng phương

pháp luyện tập đem lại hiệu quả cao trong dạy học Mỹ thuật lớp 4 ở Tiểu học

- Nội dung dạy học môn Mỹ thuật lớp 4, ở Tiểu học

3.2 Đối tượng nghiên cứu

- Việc sử dụng phương pháp luyện tập trong dạy học môn Mỹ thuật lớp 4 ở Tiểu học

Trang 8

4 Giả thuyết khoa học

Ở các trường Tiểu học, môn học Mỹ thuật là môn học năng khiếu, số tiết học còn ít Đôi khi, học sinh chưa thể hoàn thành bài tập trên lớp nên giáo viên phải cho học sinh về nhà làm bài Chính vì vậy, việc giáo viên tổ chức cho học sinh luyện tập một cách hiệu quả sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Mỹ thuật theo mục tiêu môn học đề ra

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn có liên quan đến các phương pháp dạy học ở Tiểu học và phương pháp luyện tập trong trong dạy học môn Mỹ thuật

- Tìm hiểu nội dung chương trình môn Mỹ thuật lớp 4 và phương pháp dạy học Mỹ thuật ở lớp 4

- Thiết kế một số bài học Mỹ thuật lớp 4 có sử dụng phương pháp luyện tập

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để làm rõ việc sử dụng phương pháp luyện tập nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học môn Mỹ thuật lớp 4

- Đề xuất một số ý kiến, biện pháp nhằm giúp giáo viên sử dụng tốt phương pháp luyện tập trong dạy học môn Mỹ thuật ở lớp 4

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu việc sử dụng phương pháp luyện tập trong môn Mỹ thuật lớp 4 ở trường Tiểu học Hải Vân – TP Đà Nẵng

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

Tiến hành thu thập tài liệu, sách, báo có liên quan đến đề tài Sau đó, chúng tôi tiến hành phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các nguồn thông tin

có liên quan đến môn Mỹ thuật ở Tiểu học, trọng tâm là sử dụng phương pháp luyện tập trong dạy học môn Mỹ thuật lớp 4 để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu

6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát : Dự giờ một số tiết dạy mẫu môn Mỹ thuật lớp 4

Trang 9

- Phương pháp điều tra bằng Anket : Tiến hành điều tra trên giáo viên và học sinh để tìm hiểu thực tiễn dạy và học môn Mỹ thuật lớp 4 ở trường Tiểu học

- Phương pháp thực nghiệm : Tiến hành giảng dạy một số tiết Mỹ thuật lớp 4, tại cơ sở thực tập

7 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Nghiên cứu đề tài này giúp tôi từng bước tích lũy kinh nghiệm để sau này, tôi có thể giảng dạy tốt môn Mỹ thuật và các môn học khác ở trường Tiểu học

- Với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả học tập cho học sinh trong môn Mỹ thuật, khi tôi ra trường giảng dạy tại các trường Tiểu học

8 Cấu trúc luận văn

Luận văn gồm có 3 phần:

- Phần mở đầu

- Phần nội dung : gồm 3 chương

Chương 1 : Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc sử dụng phương pháp luyện tập trong dạy học môn Mỹ thuật lớp 4 ở Tiểu học

Chương 2 : Biện pháp sử dụng phương pháp luyện tập trong dạy học môn Mỹ thuật

ở lớp 4 ở Tiểu học

Chương 3 : Thực nghiệm sư phạm

- Phần kết luận

Trang 10

1.1.1.2 Phương pháp dạy học

a Các khái niệm

Phương pháp dạy học là một khái niệm rất trìu tượng vì nó không mô tả những trạng thái, những tồn tại tĩnh trong thế giới hiện thực, mà chủ yếu mô tả phương pháp vận động trong quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Phương pháp dạy học, là phương pháp được xây dựng và vận dụng vào một quá trình cụ thể - quá trình dạy học Đây là một quá trình đặc trưng bởi tính hai mặt, bao gồm hai hoạt động : hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Hai hoạt động này cùng xảy ra trong cùng một thời gian, có mối quan hệ biện chứng Hoạt động đó được diễn ra như sau: thầy giáo cung cấp kiến thức và tổ chức cho học sinh tiếp nhận Thầy giáo cần nghĩ cách dạy và tổ chức như thế nào để học sinh tiếp nhận được tốt – đó là phương pháp dạy Học sinh cũng cần có cách học như thế nào để

lĩnh hội kiến thức từ thầy giáo sao cho có hiệu quả nhất – đó là phương pháp học

Vì vậy, phương pháp dạy học là tổng hợp những cách thức làm việc của cả thầy và trò Trong quá trình thực hiện những cách thức đó người thầy phải giữ vai trò tổ chức, điều khiển để giúp học sinh chủ động, tích cực giải quyết nhiệm vụ học tập

Trang 11

Như vậy, phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học

- Phương pháp dạy : Phương pháp tổ chức nhận thức, phương pháp điều khiển các hoạt động trí tuệ và thực hành, phương pháp giáo dục ý thức và thái độ dúng đắn cho học sinh

- Phương pháp học: Phương pháp tự nhận thức và rèn luyện để hình thành hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo thực hành góp phần hình thành nhân cách người học Hai phương pháp này không tồn tại độc lập mà nó liên quan và phụ thuộc lẫn nhau, chúng vừa là mục đích và nguyên nhân tồn tại của nhau

Có nhiều định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy học:

+ Phương pháp dạy học là cách thức tương tác giữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học ( I.u K Babanxki, 1981)

+ Phương pháp dạy học là một hệ thống những hành động có mục đích của giáo viên nhằm tổ chức những hoạt động tổ chức và thực hành của học sinh, đảm bảo học sinh lĩnh hội nội dung học vấn ( I.Ia Lecne, 1981)

+ Theo quan điểm logic, phương pháp dạy học là những thủ thuật logic được

sử dụng để giúp học sinh nắm kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo một cách tự giác

+ Theo bản chất của nội dung, phương pháp dạy học là sự vận động của nội dung dạy học

Như vậy, có nhiều cách hiểu khác nhau về phương pháp dạy học Mặc dù chưa

có ý kiến thống nhất về khái niệm phương pháp dạy học, tuy nhiên từ những định nghĩa trên cho thấy hầu hết các tác giả đều thừa nhận phương pháp dạy học có những dấu hiệu đặc trưng sau:

+ Phương pháp dạy học phản ánh sự vận động quá trình nhận thức của học sinh nhằm đạt được mục đích đề ra

+ Phương pháp dạy học phản ánh sự vận động của nội dung đã được nhà trường quy định

+ Phương pháp dạy học phản ánh cách thức trao đổi thông tin giữa thầy và trò

Trang 12

+ Phương pháp dạy học phản ánh cách thức điều khiển hoạt động nhận thức

và kiểm tra đánh giá hoạt động

+ Phương pháp dạy học phụ thuộc vào nội dung dạy học ở Tiểu học Nội dung dạy học thay đổi kéo theo sự thay đổi của phương pháp dạy học Do đó phải sử dụng kết hợp các phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại

+ Phụ thuộc vào đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh Tiểu học

Như vậy, đặc trưng của dạy học Mỹ thuật khác với dạy học Toán, Văn, Lịch sử…Vì vậy, việc ứng dụng các phương pháp trong dạy học trước hết cần phải bám sát mục tiêu cấp học, môn học, bài học, tìm hiểu đối tượng để có hướng tổ chức, điều khiển trong quá trình dạy học Đặc biệt cần phải luôn linh hoạt và sáng tạo trong vận dụng phương pháp, chỉ có như vậy bài giảng của giáo viên mới có sự hấp dẫn, thu hút và tạo hứng thú, chủ động, sáng tạo trong học tập của học sinh

1.1.1.3 Phương pháp dạy học Mỹ thuật

Phương pháp dạy học Mỹ thuật ở Tiểu học là sự vận dụng các phương pháp dạy học nói chung phù hợp với mục tiêu, nội dung và các phương pháp dạy học đặc trưng như: Phương pháp trực quan, phương pháp quan sát, phương pháp hỏi đáp, phương pháp luyện tập; phương pháp hoạt động theo nhóm, phương pháp trò chơi Mỗi phương pháp dạy học đều có tác dụng tích cực đối với quá trình dạy học

Tuy nhiên, không có phương pháp nào là vạn năng Vì vậy, người giáo viên cần phải biết lựa chọn, phối hợp sử dụng các phương pháp dạy học một cách nhuần nhuyễn để phát huy tối đa tinh thần tích cực, chủ động sáng tạo cho học sinh, góp phần nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học môn Mỹ thuật

1.1.2 Phân loại phương pháp dạy học

Hệ thống các phương pháp dạy học được phân loại theo nhiều cách khác nhau, song phổ biến được chia thành bốn nhóm phương pháp đặc trưng:

- Nhóm phương pháp dạy học sử dụng ngôn ngữ gồm : phương pháp thuyết trình, vấn đáp, thảo luận và sử dụng tài liệu sách giáo khoa

- Nhóm phương pháp trực quan bao gồm : phương pháp minh họa, quan sát, sử dụng công nghệ thông tin

Trang 13

- Nhóm phương pháp thực hành gồm có : phương pháp luyện tập, thực hiện các bài tập sáng tạo

- Nhóm phương pháp kiểm tra đánh giá kiến thức của học sinh gồm: kiểm tra, nhận xét, đánh giá, chấm điểm

Mỗi phương pháp có cấu trúc cụ thể và có cách tổ chức, thực hiện, vận dụng khác nhau trong quá trình dạy học, nhằm đạt được được hiệu quả cao nhất Mỗi môn học lại có những đặc thù riêng Do vậy, việc ứng dụng các phương pháp dạy học cũng mang những đặc trưng riêng của nó Trong đó, phát huy tính tích cực, độc lập suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo của học sinh là tư tưởng của phương pháp dạy học, là tinh thần đổi mới cách vận dụng phương pháp dạy học hiện nay, là xu thế chung có tính chất toàn cầu

1.1.3 Đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học

1.1.3.1.Nhận thức cảm tính

- Tri giác: Tri giác của học sinh Tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết

và mang tính không ổn định: ở đầu tuổi Tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối tuổi Tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng

+ Tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó )

1.1.3.2.Nhận thức lý tính

- Tư duy: Tư duy chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động Các phẩm chất

tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh Tiểu học

- Tưởng tượng: Tưởng tượng của học sinh Tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:

Trang 14

Ở đầu tuổi Tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và

dễ thay đổi

Ở cuối tuổi Tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi Tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em

1.1.3.3 Ngôn ngữ và sự phát triển nhận thức của học sinh Tiểu học

Hầu hết học sinh Tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ

1.1.3.4 Chú ý và sự phát triển nhận thức của học sinh Tiểu học

Ở đầu tuổi Tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học

có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập

Ở cuối tuổi Tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và

cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định

1.1.3.5.Trí nhớ và sự phát triển nhận thức của học sinh Tiểu học

Giai đoạn lớp 1,2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế

hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý

Trang 15

nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu

Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em

1.1.3.6 Ý chí và sự phát triển nhận thức của học sinh Tiểu học

Ở đầu tuổi Tiểu học hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào yêu cầu của người lớn Khi đó, sự điều chỉnh ý chí đối với việc thực thi hành vi ở các em còn yếu Đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thực hiện đến cùng mục đích đã đề ra

nếu gặp khó khăn

Đến cuối tuổi Tiểu học các em đã có khả năng biến yêu cầu của người lớn thành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hứng thú nhất thời

1.1.3.7 Sự phát triển tình cảm của học sinh Tiểu học

Tình cảm của học sinh Tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền với các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ Lúc này khả năng kiềm chế cảm xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện cụ thể là trẻ dễ khóc

mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư

Trong quá trình hình thành và phát triển tình cảm của học sinh Tiểu học luôn luôn kèm theo sự phát triển năng khiếu: Trẻ nhi đồng có thể xuất hiện các năng khiếu như thơ, ca, hội họa, kĩ thuật, khoa học Khi đó cần phát hiện và bồi dưỡng kịp thời cho trẻ sao cho vẫn đảm bảo kết quả học tập và năng khiếu của trẻ

1.1.3.8 Sự phát triển nhân cách của học sinh Tiểu học

Nét tính cách của trẻ đang dần được hình thành, đặc biệt trong môi trường nhà trường còn mới lạ, trẻ có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sôi nổi, mạnh dạn Sau 5 năm học, nhân cách mới dần ổn định và bền vững ở trẻ

Nhìn chung, việc hình thành nhân cách của học sinh Tiểu học mang những đặc

điểm cơ bản sau: Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên

Trang 16

trong quá trình phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng; nhân cách của các

em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, những năng lực, tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển; và đặc biệt nhân cách của các em còn mang tính đang hình thành, việc hình thành nhân cách không thể diễn ra một sớm một chiều, với học sinh Tiểu học còn đang trong quá trình phát triển toàn diện về mọi mặt vì thế mà nhân cách của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình

Như vậy, việc hiểu được tâm sinh lí của học sinh Tiểu học giữ một vai trò quan trọng trong quá trình dạy học Nếu chúng ta tác động vào đối tượng mà không hiểu tâm lí của đối tượng thì kết quả sẽ không đạt như mong muốn Chính vì vậy, trong quá trình dạy học, giáo viên cần phải dựa vào đặc điểm tâm lí đối tượng để lựa chọn và xây dựng những phương pháp, phương tiện và hình thức dạy học phù hợp Có như thế, việc dạy học mới đạt được hiệu quả cao

1.1.4 Đặc điểm của môn học Mỹ thuật ở Tiểu học

1.1.4.1 Tính cụ thể và tính trừu tượng của môn học

- Tính cụ thể của môn học được thể hiện ở nội dung môn học có đề cập đến những đồ vật và các vật dụng dùng sinh hoạt hằng ngày (như : cái ca, cái phích nước, cái khăn, hoa, lá, quả ), cũng như các thao tác bằng tay: vẽ, nặn, trang trí) Những kiến thức trực quan này giúp học sinh dễ dàng tri giác ngay trên đối tượng nghiên cứu hoặc thông qua các động tác và lời giới thiệu của giáo viên mà học sinh tiếp thu kiến thức nhanh hơn Do vậy để thể hiện tốt tính cụ thể của môn học giáo viên cần thực hiện:

+ Thường xuyên cho học sinh quan sát các vật thật, mẫu vật, thao tác mỹ thuật cụ thể ( vẽ, phác họa, kẻ khung hình chung, kẻ khung hình riêng, trang trí; các mẫu vật như : lọ hoa, cái bàn cái ghế, tranh con mèo, tranh phong cảnh, hoa, cành hoa, lá và quả)

+ Coi đối tượng của trực quan như điều kiện, phương tiện, cho quá trình lĩnh hội kiến thức mỹ thuật Vì vậy, tính cụ thể giúp người dạy có thể thực hiện tốt

Trang 17

nguyên tắc về sự thống nhất giữa cụ thể và trừu tượng trong quá trình dạy học Đây

là điểm xuất phát là giai đoạn đầu của quá trình nhận thức

- Tính trừu tượng phản ánh trong hệ thống các khái niệm như ( bố cục,màu sắc, đường nét, phác họa, trang trí ), những hình ảnh mang tính nghệ thuật mà học sinh không thể trực tiếp tri giác được Những nội dung đó học sinh muốn hiểu phải

tư duy trừu tượng (nhận thức lí tính) Song để có tư liệu cho tư duy cần phải có nhận thức cảm tính (trực quan sinh động) Vì thế trong các tài liệu mỹ thuật người

ta phải tăng cường trực quan ( hình vẽ, mẫu vật, tranh ảnh, vật thật)

Tính cụ thể và tính trừu tượng của môn học yêu cầu người giáo viên trong quá trình dạy học phải biết:

+ Tìm thấy điểm xuất phát của mỗi khâu nhận thức Từ cái cụ thể trực quan hay cái trừu tượng lí thuyết , điều này có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức diều khiển nhận thức cho học sinh trong quá trình dạy học; đây cũng là cơ sở để vận dụng các phương pháp dạy học và lựa chọn con đường diễn dịch hay quy nạp trong dạy học

+ Xác định đúng đắn vai trò, thấy được ý nghĩa của trực quan trong dạy học, coi đó là điều kiện, phương tiện của quá trình chuyển biến biện chứng từ trực quan sinh động sang tư duy trừu tượng và ngược lại

1.1.4.2 Tính tổng hợp của môn học

Mỹ thuật là môn học tổng hợp của các môn học như : Toán học, Hóa học, Vật

lí, Sinh học, Khoa học, Lịch sử, Địa lí

- Môn học Mỹ thuật là môn học có tính tổng hợp, kiến thức của nó có liên quan, móc nối với kiến thức các môn học khác

- Ví dụ:

+ Môn Văn: ở cách bố cục, cách tìm hình và xây dựng hình tượng

+ Môn Lịch sử : các sự kiện lịch sử, các công trình văn hóa

+ Môn Địa lý: các địa danh và sự phát triển kinh tế xã hội

+ Môn Toán: phân tích, nhận xét và phương pháp tư duy

+ Môn Vật lý : ánh sáng và sự biến đổi của màu sắc

Đặc điểm này của môn học đòi hỏi người dạy phải biết:

Trang 18

+ Kết hợp kiến thức của các môn học khác có liên quan đến kiến thức của từng bài học cụ thể Điều này giúp học sinh dễ tiếp thu kiến thức, kiến thức đỡ trùng lặp

+ Vạch ra ý nghĩa thực tiễn của môn học, áp dụng một cách linh hoạt kiến thức của các môn học khác và kiến thức thực tiễn vào môn mỹ thuật

+ Khi giới thiệu kiến thức có liên quan đến kiến thức của các môn học khác người giáo viên phải sử dụng ngôn ngữ phù hợp và có sự biến đổi linh hoạt không

áp dụng cứng nhắc chúng, cần tránh trường hợp chỉ ra nhưng không giải thích kiến thức mới

1.1.4.3 Tính thực tiễn của môn học

Môn học Mỹ thuật có đặc điểm này là đối tượng nghiên cứu và nội dung môn học phản ánh môi trường tự nhiên, và xã hội và hoạt động thực tế của con người

Đó là không gian, phong cảnh, hoạt động sinh hoạt hằng ngày của con người, hoạt động lao động sản xuất Thông qua những hoạt động đó môn học tái hiện lịch sử đất nước, nó còn giúp chúng ta thấy được vẻ đẹp thiên nhiên, phong tục tập quán, thói quen sinh hoạt, những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam nói riêng cũng như của người dân trên khắp thế giới nói chung Môn học Mỹ thuật là cây cầu nối giữa các quốc gia về mặt địa lí, lịch sử, văn hóa

Đặc điểm này làm cho nội dung môn học thêm phong phú, đa dạng Nội dung của bài giảng bao giờ cũng gần gũi, thiết thực với học sinh nhỏ tuổi mà không làm giảm ý nghĩa khoa học của môn học

1.1.4.4 Ngôn ngữ và thuật ngữ của môn học

Ngoài việc sử dụng ngôn ngữ chung (lời nói, chữ viết), môn Mỹ thuật còn có đặc trưng của nó Đó là những quy ước, quy trình vẽ, các thuật ngữ chuyên môn Ngôn ngữ đặc trưng này vừa mang tính nghệ thuật vừa mang tính quy ước quốc tế Những thuật ngữ được sử dụng phù hợp với từng chuyên nghành, cấp học, bậc học

và đều thống nhất với một tên gọi chung

Đặc điểm này yêu câu người giáo viên phải biết :

+ Hình thành và giúp học sinh sử dụng chính xác các khái niệm, quy trình

vẽ

Trang 19

+ Hướng dẫn học sinh cách sử dụng các đồ dùng trong môn học : cách chọn màu, tô màu, trang trí các họa tiết, cách kẻ khung hình bằng thước

+ Hướng dẫn học sinh vẽ và tô màu theo ý thích, khuyến khích tinh thần sáng tạo trong vẽ tranh về đề tài tự do

1.1.5 Một số phương pháp dạy học đặc thù của môn Mỹ thuật ở Tiểu học

1.1.5.1 Phương pháp trực quan

Mỹ thuật là môn học trực quan Đối tượng của Mỹ thuật là những gì ta có thể nhìn thấy, có hình khối, có đậm nhạt, có màu sắc, ở xung quanh ta gần gũi và quen thuộc

Dạy học nói chung – dạy học Mỹ thuật nói riêng thường dạy và học bằng trực quan và như vậy bao giờ cũng mang lại hiệu quả cao Riêng đối với Mỹ thuật, tất cả các loại bài học đều phải sử dụng đồ dùng dạy học, bao gồm những gì có thực như các đồ vật, hoa, quả, động vật, cỏ cây hình vẽ trên bảng, biểu bảng, bài vẽ của học sinh

Dạy học Mỹ thuật thường dạy và học trên đồ dùng dạy học Do vậy đồ dùng dạy học là nội dung, là kiến thức của bài học Đồ dùng dạy học còn phản ánh mức

độ kiến thức của bài học, trình độ của học sinh Cho nên chuẩn bị tốt đồ dùng dạy học coi như giáo viên đã nắm được nội dung và phương pháp dạy - học

1.1.5.2 Phương pháp vấn đáp

Theo cách hiểu thông thường thì vấn là hỏi, đáp là trả lời Khi dạy học giáo viên thường nêu các câu hỏi cho học sinh suy nghĩ và trả lời về nội dung bài học Các câu hỏi đều được giáo viên chuẩn bị trước Có câu hỏi đơn lẻ về một nội dung nào đó

Ví dụ:

- Thế nào là đường diềm?

- Cách vẽ họa tiết trang trí?

- Vì sao phải vẽ từ bao quát đến chi tiết?

Có thể có một hệ thống các câu hỏi, theo một logic của nội dung bài dạy Qua trả lời của học sinh giáo viên thấy được khả năng của các em và kết quả bài dạy, từ

đó giáo viên củng cố, bổ sung cho nội dung hoàn chỉnh hơn Khi câu hỏi được đặt

Trang 20

ra tất cả học sinh phải suy nghĩ, phải tìm kiếm, lựa chọn cách trả lời, lựa chọn nội dung Điều đó rất có lợi bởi nó giúp học sinh có thói quen suy nghĩ trước về một vấn đề nào đó rồi mới trả lời, đồng thời xây dựng cho học sinh ý thức tự giác học tập

1.1.5.3 Phương pháp gợi mở

Khi học sinh đang gặp khó khăn, chưa tìm ra cách vẽ như bố cục, cách phác hình, phân bố hình mảng, tìm hình tượng , tương quan đậm nhạt hoặc học sinh đang lúng túng như muốn tìm kiếm thêm một cái gì đó để hoàn chỉnh bài vẽ, lúc đó học sinh cần đến sự tác động của giáo viên Tác động đúng lúc, đúng chỗ, có mức độ, có chất lượng sẽ giúp học sinh suy nghĩ tìm tòi thêm, giải quyết được bài tập bằng khả năng của mình Như vậy gợi mở là gợi ý, mở ra, vạch ra hướng suy nghĩ, hướng giải quyết tiếp một vấn đề nào đó

Đối với Mỹ thuật, môn học yêu cầu nhiều đến suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo thì gợi mở để học sinh có cách nghĩ, cách giải quyết vấn đề theo ý mình, bằng khả năng của mình là rất cần thiết Vì thế giáo viên gợi ý ngay trên cơ sở đã có của bài vẽ (bố cục, hình tượng, đậm nhạt ) để mỗi học sinh suy nghĩ, tìm tòi, bổ sung nâng cao chất lượng bài vẽ của mình

Môn Mỹ thuật có nhiều dạng luyện tập, luyện tập quan sát, nhận xét, đánh giá

sự vật, hiện tượng xung quanh, luyện tập củng cố kĩ năng vẽ : bố cục, vẽ hình, vẽ màu, luyện tập về phương pháp vẽ - cách tiến hành vẽ, luyện tập nâng cao khả năng tìm tòi và bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ Mỗi dạng luyện tập được thể hiện trong những bài tập cụ thể, có yêu cầu, mức độ cho từng thời kì trong quá trình học tập và

ở một trình độ nhất định của học sinh

Trang 21

1.1.5.5 Phương pháp liên hệ với thực tiễn cuộc sống

Thực tiễn cuộc sống phong phú và đa dạng Mọi lí luận đều xuất phát từ thực tiễn sinh động Liên hệ với thực tiễn sẽ làm sự hiểu biết của học sinh sâu sắc thêm, giờ học trở nên hấp dẫn hơn Học đi đôi với hành, lí luận gắn liền với thực tiễn là nguyên lí, phương châm giáo dục

Thực tiễn cuộc sống rất rộng, bao gồm tất cả những gì có ở xung quanh Với môn Mỹ thuật là cỏ cây, hoa trái, các con vật, con người và mối quan hệ của chúng Thực tiễn cuộc sống còn được hiểu rộng hơn cả về sinh hoạt, học tập của con người ( phong tục, tập quán) Vì thế học sinh cần phải liên hệ với cuộc sống xung quanh để làm cho bài vẽ của mình thực hơn, sinh động hơn để hiểu mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống

1.1.6 Tổng quan về phương pháp luyện tập trong dạy học Mỹ thuật ở Tiểu học

1.1.6.1 Khái niệm

Phương pháp luyện tập là phương pháp được vận dụng thường xuyên trong suốt quá trình dạy học Mỹ thuật ở Tiểu học, là phương pháp làm việc song song giữa giáo viên và học sinh, giáo viên là người phát hiện những sai sót hoặc chỗ dựa hợp lí và chỉ ra cách khắc phục – người chỉ huy, người tổ chức Học sinh là người quan sát, nhận xét, nhận ra những chỗ sai hoặc còn thiếu và tìm ra phương án điều chỉnh theo ý mình

Giáo viên và học sinh làm tốt nhiệm vụ của mình ở giai đoạn này – giai đoạn học sinh làm bài tập, nhất định hiệu quả bài vẽ và nhận thức của học sinh sẽ được nâng lên rõ rệt Bởi dạy học Mỹ thuật tốt nhất là dạy và học trên thực trạng của mỗi bài vẽ, học sinh phải tự làm mới tìm thấy cái hay, cái dở, giáo viên trực tiếp tham gia mới thấy được cần dạy những gì và dạy thế nào Đây mới là thực dạy, thực học

1.1.6.2 Phân loại luyện tập

Luyện tập có trọng tâm cho từng thời kì nhất định, không tràn lan, không trùng lặp Có 2 dạng bài luyện tập:

 Với các bài lí thuyết:

Đối với loại bài này luyện tập bằng cách ra bài tập nhỏ, yêu cầu học sinh đọc, sưu tầm tài liệu, quan sát, nhận xét và ghi chép Hình thức luyện tập này thường tiến

Trang 22

hành thường xuyên sau mỗi bài, mỗi chương và kết hợp tham quan, dã ngoại Cố gắng khai thác những gì có ngay tại địa phương như : tư liệu ở các danh lam, bảo tàng, di tích lịch sử, văn hóa Đồng thời tổ chức các buổi nói chuyện về mỹ thuật, các cuộc thi vẽ tranh trong nhà trường, trưng bày tranh của các họa sĩ, các bài vẽ của học sinh vào ngày lễ hội và có nhận xét, đánh giá cũng là cách luyện tập bổ ích

và thú vị

 Với các bài luyện tập- thực hành:

Các bài luyện tập tùy theo yêu cầu đặt ra cho từng thời kì mà có các bài tập khác nhau

Ví dụ : Dạng bài luyện tập về bố cục, về cách tìm và vẽ họa tiết, cách vẽ màu,

vẽ hình hay vẽ đậm nhạt như vậy việc đánh giá cũng dựa vào yêu cầu đề ra không dánh giá chung chung

Thời gian luyện tập đối với từng loại kiến thức phải rõ ràng và cần thông báo trước để học sinh có ý thức hướng tới trọng tâm bài học Sau một thời gian luyện tập, kĩ năng thể hiện các loại kiến thức và đã đạt yêu cầu đề ra thì các bài luyện tập sau sẽ mang tính tổng hợp một cách rõ rệt

1.1.6.3 Phương pháp tiến hành

 Ra bài tập và nêu yêu cầu cần đạt được để học sinh nắm được trước khi làm bài

 Học sinh suy nghĩ tự giải quyết bài tập theo yêu cầu

 Học sinh trình bày ( đối với các bài lí thuyết), giáo viên góp ý, nhận xét Giáo viên nhận xét, góp ý trên cơ sở yêu cầu bài đề ra và thực tế bài vẽ, đồng thời có thể bổ sung thêm kiến thức nhưng phải dựa vào khả năng, mức độ tiếp thu của mỗi loại học sinh Trong khi hướng dẫn giáo viên kết hợp với phương pháp gợi

mở để học sinh tự quan sát, so sánh tìm ra cách giải quyết phù hợp với bài vẽ của mình Đây cũng là một đặc điểm của môn Mỹ thuật : cung cấp kiến thức chung cho tất cả nhưng lại hướng dẫn cụ thể với từng bài của học sinh Nếu được chỉ dẫn học sinh sẽ nhận ra ngay và lĩnh hội tri thức ngay trên bài vẽ của mình một cách trực quan và tự giác Đồng thời giáo viên cung cấp thêm những kiến thức thực tế hoặc gợi ý phát triển tiếp, góp phần nâng bài vẽ của học sinh lên mức độ cao hơn

Trang 23

Vì vậy, muốn vận dụng có hiệu quả phương pháp luyện tập trong dạy - học giáo viên dạy Mỹ thuật ở Tiểu học cần chú ý đến hiệu quả của phương pháp luyện tập thể hiện ở:

+ Tìm ra trọng tâm luyện tập cho các dạng bài

+ Phương pháp hướng dẫn cần phải cụ thể cho từng loại học sinh, không quá nặng về yêu cầu mà phải động viên, khích lệ hay gợi mở, tạo cho giờ học vui, sinh động, học sinh học tập tự giác hơn

+ Tạo cho học sinh có thói quen nghiên cứu kĩ yêu cầu bài tập để bài vẽ không chung chung, có sáng tạo về bố cục và hình tượng Yêu cầu học sinh suy nghĩ về gợi ý, chỉ dẫn của giáo viên, tìm cách thể hiện cho bài vẽ của mình phong

phú, đa dạng hơn

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Mục tiêu môn Mỹ thuật ở nhà trường Tiểu học

- Giáo dục thẩm mỹ, tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc, làm quen, cảm nhận

được vẻ đẹp của thiên nhiên, của đời sống và của các sản phẩm mỹ thuật

- Cung cấp cho học sinh một số kiến thức ban đầu về mỹ thuật nói chung và

mỹ thuật dân tộc nói riêng

- Bồi dưỡng năng lực quan sát, phân tích làm quen một số kĩ năng đơn giản

về vẽ và nặn, phát huy trí tưởng tượng, sáng tạo

- Phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu mỹ thuật của học sinh

1.2.2 Những điểm đổi mới của chương trình Mỹ thuật ở Tiểu học

Chương trình Mỹ thuật ở Tiểu học có những điểm mới:

* Cấu trúc: Chương trình Mỹ thuật được chia 2 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Ở lớp 1, 2, 3 Mỹ thuật cùng Âm nhạc Thủ công gọi là Nghệ thuật nhưng vẫn học riêng một tuần một tiết

Giai đoạn này học sinh không có Sách giáo khoa mà có vở Tập vẽ, giáo viên có sách hướng dẫn giảng dạy

- Giai đoạn 2: Ở lớp 4, 5 Mỹ thuật là môn học độc lập một tuần một tiết Giai đoạn này học sinh có Sách giáo khoa và vở Tập vẽ, giáo viên có sách hướng dẫn giảng dạy

Trang 24

* Nội dung: Chương trình môn Mỹ thuật có các phân môn:

+ Các phân môn được sắp xếp đan xen, theo trình tự từ dễ đến khó để có thể

bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau

* Nội dung cơ bản của môn Mỹ thuật ở trường Tiểu học

Nội dung môn Mỹ thuật từ lớp 1 đến lớp 5 được trình bày cụ thể trong chương trình từng khối lớp, nhìn chung có những nội dung chính sau:

- Vẽ theo mẫu: Hướng dẫn học sinh vẽ từ những nét đơn giản như thẳng, cong,…đến những mẫu có cấu trúc phức tạp như vẽ mẫu có hai đồ vật

- Vẽ trang trí: Hướng dẫn học sinh vẽ từ bài tập đơn giản như vẽ tiếp hình có sẵn, vẽ màu vào hình có sẵn đến những bài tập tập sáng tạo về bố cục và hoạ tiết một cách đơn giản,…

- Vẽ tranh: Hướng dẫn học sinh thể hiện cảm nhận của mình qua bài vẽ về những đề tài: sinh hoạt, lễ hội, phong cảnh hoặc vẽ chân dung, tĩnh vật và vẽ tự do,…

- Tập nặn tạo dáng: Hướng dẫn học sinh rèn luyện khả năng tạo hình theo ý thích qua hình khối đơn giản của trái cây, con vật và người,…

- Thường thức mỹ thuật: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu và cảm nhận một số tác phẩm nghệ thuật và một số tranh thiếu nhi trong nước và thế giới

* Điểm đổi mới:

- Chú trọng hơn giáo dục thẩm mỹ: giáo dục cái đẹp và cảm xúc trước cái đẹp

Trang 25

- Tăng cường thực hành, giảm lý thuyết, mở rộng ứng dụng cụ thể: + Giảm lý thuyết về màu sắc, phương pháp tiến hành bài vẽ

+ Các dạng bài tập gắn liền với sinh hoạt, học tập của học sinh và sát với thực tế địa phương

- Giảm số tiết và số đồ vật ở mẫu vẽ

- Tăng số tiết Vẽ tranh và Tập nặn tạo dáng

1.2.2.5 Đánh giá

Theo xu thế chung, môn Mỹ thuật ở Tiểu học không đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng thang điểm 10 như trước Đánh giá kết quả học Mỹ thuật của học sinh Tiểu học chia làm hai mức độ:

 Hoàn thành: chia làm hai mức độ:

+ Hoàn thành tốt (A+): Những bài đạt khá giỏi (vượt yêu cầu)

+ Hoàn thành (A) : Những bài đạt trung bình (theo mục tiêu của bài học đề ra)

 Chưa hoàn thành (B)

+ Những bài dưới trung bình: yếu, kém

1.2.3 Tìm hiểu tình hình dạy và học môn Mỹ thuật ở trường Tiểu học

1.2.3.1 Mục đích tìm hiểu

Xuất phát từ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài chúng tôi điều tra nhằm tìm hiểu tình hình giảng dạy và học tập môn Mỹ thuật hiện nay ở các trường Tiểu học nói trên Cụ thể:

- Tìm hiểu các phương pháp được áp dụng tại các trường Tiểu học hiện nay Tìm ra những ưu điểm và hạn chế trong quá trình sử dụng các phương pháp đó Từ

đó tìm hiểu, nghiên cứu hoàn thiện các phương pháp theo hướng tích cực (khai thác

ưu điểm) nhằm phát huy tính sáng tạo và năng khiếu của học sinh trong học tập môn Mỹ thuật

- Tìm hiểu cơ sở vật chất và các phương tiện kĩ thuật phục vụ cho việc dạy học môn Mỹ thuật

- Tìm hiểu mức độ hứng thú của học sinh đối với phương pháp và hình thức dạy học môn Mỹ thuật hiện nay đang được áp dụng

Trang 26

1.2.3.2.Đối tượng tìm hiểu

Chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu trên các đối tượng :

- Giáo viên dạy bộ môn Mỹ thuật của trường Tiểu học Hải Vân – TP Đà Nẵng

- Học sinh khối lớp 4 của trường Tiểu học Hải Vân - TP Đà Nẵng

- Học sinh khối lớp 4 của trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi – TP Đà Nẵng

1.2.3.3 Nội dung tìm hiểu

* Về phía học sinh

Chúng tôi điều tra theo nội dung các câu hỏi :

- Em có thích học môn Mỹ thuật không?

- Em thích tiết học nào của môn Mỹ thuật?

- Theo em để hoàn thành một bài vẽ có cần phải nắm trình tự của các bước vẽ không?

- Trong một tiết học Mỹ thuật, em thích hoạt động nào nhất?

- Em hãy cho biết ý kiến của mình về môn Mỹ thuật?

- Trong các tiết học môn Mỹ thuật có sử dụng tranh, ảnh, vật thật em thấy? (Rất thích, Bình thường, Hiểu bài và thích vẽ hơn)

- Trong những tiết luyện tập vẽ tranh em thích ? (Vừa học vừa nghe nhạc; Đi thăm quan và vẽ ngoài trời; Chỉ có bài tập về nhà)

- Trong các tiết vẽ tranh, em có hoàn thành bài vẽ mà thầy (cô) yêu cầu ngay trên lớp không?

- Các bài vẽ của em là? (Do em tự vẽ, Bố mẹ hoặc anh (chị) vẽ cho em, Em nhìn bài của bạn vẽ theo)

- Việc học vẽ giúp em cảm thấy? (Thoải mái, thư giãn; Tạo hứng thú cho học tập; Mệt mỏi)

* Về phía giáo viên

Chúng tôi tiến hành trao đổi trực tiếp với giáo viên dạy Mỹ thuật của trường thực tập về một số vấn đề liên quan đến dề tài Cụ thể:

Trang 27

Qua việc tham khảo ý kiến của cô giáo phụ trách dạy môn Mỹ thuật cho tất cả các khối tại trường Tiểu học Hải Vân – Quận Liên Chiểu – T.P Đà Nẵng Ý kiến của cô giáo như sau:

- “Phương pháp luyện tập có vai trò quan trọng trong quá trình dạy học môn

Mỹ thuật ở lớp 4 nói riêng và ở bậc Tiểu học nói chung Bởi đây là phương pháp chủ đạo trong quá trình dạy học, giúp học sinh hình thành kĩ năng làm bài một cách

tự giác, tích cực Thông qua hoạt động luyện tập giáo viên biết được năng lực học tập của từng học sinh đồng thời cũng phát hiện những em có năng khiếu về hội họa

để kịp thời bồi dưỡng, phát triển tài năng của các em”

- “Về những thuận lợi của việc sử dụng phương pháp luyện tập Nhờ có sự hỗ trợ của các phương tiện trực quan giúp học sinh hứng thú với giờ học và thêm yêu thích học vẽ Đặc biệt là có sự hỗ trợ của các phần mềm soạn giáo án điện tử giúp giáo viên tiết kiệm thời gian, có thêm thời gian cho học sinh luyện tập Trong tiết dạy Mỹ thuật lớp 4, sử dụng phương pháp luyện tập mức độ hoàn thành bài tập của các em ở mức độ cao Điều này chứng tỏ phương pháp luyện tập là phương pháp đặc trưng và chiếm vị trí quan trọng trong dạy học môn Mỹ thuật ở Tiểu học Như vậy sẽ nâng cao chất lượng dạy – học, giúp cho quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh diễn ra nhanh hơn, thuận lợi hơn”

Vì mỗi trường Tiểu học chỉ có một đến hai giáo viên dạy môn Mỹ thuật nên những ý kiến chúng tôi đã tham khảo trên chỉ mang tính chủ quan từ phía cô giáo, chúng tôi đã ghi nhận những ý kiến trên để làm tài liệu cho phần cơ sở thực tiễn trong bài khóa luận tốt nghiệp của mình

Trang 28

- Phương pháp quan sát : Thông qua việc dự giờ của giáo viên dạy Mỹ thuật trường Tiểu học Hải Vân chúng tôi tìm hiểu phương pháp dạy học trong môn Mỹ thuật mà đặc biệt là phương pháp luyện tập

- Phương pháp đàm thoại : Chúng tôi thu thập một số thông tin thông qua việc trò chuyện, trao đổi với giáo viên dạy Mỹ thuật có nhiều năm trong công tác giảng dạy

- Phương pháp thực nghiệm : Thông qua một số tiết mà chúng tôi trực tiếp giảng dạy, chúng tôi hiểu được vai trò quan trọng của việc sử dụng phương pháp luyện tập trong môn Mỹ thuật và việc sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học khác trong môn học

1.2.3.5 Kết quả tìm hiểu và tổng kết thực tiễn

* Thực tế giảng dạy của giáo viên

Trước đây, ở bậc học Tiểu học, giáo viên chủ nhiệm thường dạy tất cả các môn kể cả các môn năng khiếu như: Thể dục, Âm nhạc, Mỹ thuật Những năm trở lại đây, nhờ có sự quan tâm và đầu tư của Đảng và Nhà nước cho ngành giáo dục, ở Tiểu học có giáo viên riêng dạy các môn học năng khiếu cho học sinh

Giáo viên dạy Mỹ thuât được đào tạo chính quy chuyên ngành Mỹ thuật ở các trường Sư phạm, có kiến thức vững vàng,trình độ chuyên môn cao, đáp ứng được yêu cầu giáo dục đề ra

Đa số giáo viên dạy Mỹ thuật đều ý thức được sự cần thiết của môn học Mỹ thuật và tích cực trong công tác giảng dạy cũng như không ngừng tìm tòi các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh với môn học

Giáo viên thường xuyên được tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ theo định kì, cùng với kinh nghiệm giảng dạy thì các tiết học Mỹ thuật ở trường Tiểu học ngày càng có chất lượng cao

Bên cạnh những ưu điểm trên, thực tế giảng dạy môn Mỹ thuật ở trường Tiểu học vẫn còn một số hạn chế như:

Một bộ phận giáo viên Tiểu học, còn sử dụng giờ học Mỹ thuật để dạy các môn học khác, trong đó còn một số giáo viên Mỹ thuật coi đây là môn học phụ

Trang 29

Đồ dùng dạy học, các phương tiện trực quan còn thiếu thốn, sơ sài Do đó, giáo viên phải tự làm đồ dùng dạy học Việc làm đồ dùng dạy học còn mang tính hình thức, chủ yếu phục vụ cho tiết dự giờ, thao giảng Đây cũng là một hạn chế vì mỗi trường Tiểu học chỉ có một đến hai giáo viên dạy Mỹ thuật cho tất cả các khối lớp ( từ khối lớp1 đến khối lớp 5)

* Thực tế học tập của học sinh

 Ưu điểm:

Nhìn chung, học sinh Tiểu học rất thích vẽ và hứng thú với môn học Mỹ thuật Đối với đa số các em, vẽ không chỉ là hứng thú mà còn là phương tiện để bộc lộ nhận thức, cảm xúc về thế giới xung quanh

Học sinh Tiểu học ngày càng thông minh, các em được tiếp cận sớm với các phương tiện truyền thông nên cũng có nhiều hiểu biết rất phong phú Ngoài ra, các

em có nhiều thuận lợi về cơ sở vật chất, đồ dùng học vẽ tốt hơn, đầy đủ hơn Điều này là tiền đề cho việc rèn luyện kĩ năng thực hành cho học sinh

 Hạn chế:

Từ thực tế tìm hiểu, chúng tôi thấy rằng : Bên cạnh những học sinh yêu thích học môn Mỹ thuật còn một số rất ít học sinh coi đây là môn học phụ, không thích môn Mỹ thuật Điều này có nhiều lí do: Có thể người lớn áp đặt cho con em mình chỉ cần học tốt các môn học chính như Toán, Tiếng Việt, một số em vẽ chưa đẹp nhưng lại không được người lớn động viên, khuyến khích (thậm chí còn chê bai)…tạo ra tâm lí chán nản không muốn vẽ, không thích giờ học mỹ thuật

Do yêu cầu của các môn học khác như: phải dùng thước để kẻ đường thẳng, dùng com - pa để vẽ đường tròn Cách trình bày phải đẹp, tính toán phải đúng và chính xác…Những yêu cầu đó là đúng và cần thiết với các môn học như Tiếng Việt, Toán nhưng phần nào ảnh hưởng đến cách học môn Mỹ thuật của học sinh

Trong quá trình học học sinh ít được đi tham quan các địa danh, bảo tàng, tổ chức vẽ tranh ngoài trời hay nghe nhạc để tạo cảm hứng vẽ Tình trạng học sinh chưa hoàn thành bài trên lớp vẫn còn

Việc tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn là “kim chỉ nam” cho việc lựa chọn các phương pháp, phương tiện và hình thức dạy học phù hợp Nếu chúng ta tác

Trang 30

động vào đối tượng mà không hiểu bản chất, tâm lý, đặc điểm của đối tượng thì tác động đó không đạt hiệu quả Chính vì vậy, trong quá trình dạy học giáo viên cần phải dựa vào cơ sở lí luận cũng như thực tiễn phong phú để tổ chức hoạt động dạy – học có sử dụng những phương pháp dạy học nhằm mang lại hiệu quả cao nhất trong dạy học nói chung và dạy học môn Mỹ thuật nói riêng

Trang 31

Chương 2 BIỆN PHÁP SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP LUYỆN TẬP

TRONG DẠY HỌC MÔN MỸ THUẬT

LỚP 4 Ở TIỂU HỌC

2.1 Mục tiêu, nội dung chương trình môn Mỹ thuật lớp 4 ở Tiểu học

2.2.1 Mục tiêu môn Mỹ thuật lớp 4 ở Tiểu học

- Cung cấp thêm cho học sinh những kiến thức về mỹ thuật, hình thành và củng cố các kĩ năng cần thiết để học sinh hoàn thành các bài tập theo chương trình

- Củng cố, nâng cao những kiến thức ban đầu về mỹ thuật và kĩ năng thực hành (vẽ hình, vẽ màu, sắp xếp bố cục) cho học sinh để học sinh tiếp cận dần với môn Mỹ thuật ở Trung học cơ sở

- Giáo dục thẩm mỹ, tạo điều kiện cho các em cảm nhận cái đẹp và vận dụng kiến thức mỹ thuật vào học tập, sinh hoạt hằng ngày

2.2.2 Cấu trúc và nội dung chương trình SGK Mỹ thuật lớp 4 ở Tiểu học

* Cấu trúc của chương trình:

Số tiết Chương trình mới.(CTM)

Trang 32

Vẽ theo mẫu là phân môn cơ bản giúp học sinh cách quan sát, ước lượng, vẽ hình, tạo điều kiện cho các em vẽ trang trí, vẽ tranh thuận lợi hơn Đồng thời còn giúp các em cách làm việc khoa học : suy nghĩ làm gì trước, làm gì sau để công việc

có hiệu quả Cụ thể:

Nhận xét hình dáng, kích thước của vật bày mẫu

 Vẽ mẫu có hình đơn giản

 Vẽ trang trí

Vẽ trang trí là phân môn gây được hứng thú cho học sinh, bởi sự hấp dẫn của màu sắc và sự phong phú cũng như vẻ đẹp của họa tiết…do đó hiệu quả bài vẽ của học sinh thường cao hơn Đồng thời vẽ trang trí còn giúp học sinh hiểu và thêm yêu thích, trân trọng nền mỹ thuật dân tộc Cụ thể:

 Nhận biết thêm về phối hợp màu sắc

 Tập trang trí hình chữ nhật, hình tròn và một số bài trang trí ứng dụng

 Giới thiệu kiểu chữ nét đều

 Tập nặn tạo dáng

Tập nặn là loại bài được học sinh rất thích thú, tập nặn giúp học sinh làm quen với thế giới xung quanh, giúp học sinh tập quan sát, nhận xét và rèn luyện khả năng tạo hình bằng hình khối Tập nặn tạo dáng tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc, tìm hiểu và bước đầu có cảm nhận vẻ đẹp về hình khối của thế giới xung quanh, từ đó

có ý thức giữ gìn, bảo vệ vẻ đẹp của thiên nhiên, có ý thức tạo ra cái đẹp

 Thường thức mỹ thuật

Mục đích của các bài xem tranh nhằm cho học sinh làm quen tiếp xúc với các bức tranh đẹp, thông qua ngôn ngữ của mỹ thuật là hình, nét, màu sắc , bố cục…giúp cho các em có những hiểu biết ban đầu và các kiến thức sơ đẳng về

Trang 33

thưởng thức cái đẹp trong mỹ thuật, bước đầu hình thành cho các em tình cảm, thị hiếu thẩm mỹ tốt, lành mạnh

2.2 Phương pháp dạy học các phân môn Mỹ thuật lớp 4 ở Tiểu học

2.2.1 Phương pháp dạy - học vẽ trang trí

Trang trí là một nghệ thuật sắp xếp đường nét, hình mảng, họa tiết, màu sắc, hình khối trên mặt phẳng (giấy, vải, gỗ ) hay trong không gian (nhà, căn phòng, công viên ) theo những nguyên tắc chung để tạo nên sản phẩm đẹp, hợp nội dung đáp ứng được nhu cầu thẩm mỹ của con người

* Phương pháp dạy học vẽ trang trí:

 Với các bài lí thuyết chung:

- Giáo viên cần làm rõ các khái niệm (thế nào là ?)

- Nêu bật được nội dung cơ bản (trọng tâm của bài Ví dụ: Bố cục, họa tiết, màu sắc trong bài trang trí, )

- Liên hệ với thực tiễn làm sâu sắc, phong phú nhận thức cho học sinh

- Đồ dùng dạy học cần phong phú, có nhiều phương án khác nhau để lôi cuốn học sinh học tập, đồng thời gợi ý cho các em tìm tòi, suy nghĩ

 Với các bài luyện tập, thực hành

- Làm rõ khái niệm và đặc điểm (thế nào là trang trí hình vuông? đặc điểm về

bố cục? về màu, )

- Hướng dẫn học sinh cách vẽ:

Cần làm cho học sinh thấy được sự đa dạng trong bố cục (vẽ mảng, vẽ hình)

và sự phong phú trong cách vẽ màu Yêu cầu học sinh suy nghĩ tìm tòi để có bài vẽ theo cách riêng, không chung chung, không giống bài của bạn, không lặp lại chính mình Đây chính là đặc trưng của trang trí, phát huy tính độc lập suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo của học sinh mà các phân môn khác còn bị hạn chế

- Hướng dẫn học sinh làm bài:

Giáo viên cần theo dõi sát học sinh Hướng dẫn, gợi ý không dàn trải, có trọng tâm cho từng bài và từng đối tượng (khá, giỏi hay yếu kém) sao cho sát (về bố cục mảng, về hình vẽ hay màu sắc, ) Đồng thời có thể củng cố hay bổ sung kiến thức phù hợp cho học sinh ở từng bài cụ thể

Trang 34

2.2.2 Phương pháp dạy - học vẽ theo mẫu

Vẽ theo mẫu là một phân môn của mỹ thuật ở trường Tiểu học Vẽ theo mẫu

có một vị trí rất quan trọng trong chương trình mỹ thuật, là phân môn cơ bản, vẽ theo mẫu có ảnh hưởng, tác dụng lớn đến vẽ trang trí, vẽ tranh và thường thức mỹ thuật Ví dụ: khả năng quan sát, bố cục, vẽ tranh,

Vẽ theo mẫu chỉ yêu cầu tả lại, mô phỏng lại mẫu, không đò hỏi chính xác, đúng như mẫu Nét vẽ, hình vẽ ở vẽ theo mẫu tuyệt nhiên không được dùng thước hay com - pa mà chỉ dùng tay vẽ, để tả lại nét thẳng, nét cong của mẫu và cần có đậm, có nhạt để bài vẽ sinh động hơn

* Phương pháp dạy học vẽ theo mẫu:

 Với các bài lí thuyết chung:

- Giáo viên giải thích rõ khái niệm (Thế nào là ?)

- Khắc sâu những kiến thức cơ bản

- Liên hệ với thực tiễn cuộc sống để nội dung bài dạy trở nên rõ ràng, phong phú hơn

- Nghiên cứu nội dung bài dạy để tạo ra đồ dùng dạy học sát với yêu cầu, đẹp

+ Yêu cầu học sinh chuẩn bị mẫu và tham gia trình bày mẫu để tìm ra bố cục hợp lí, về hình, vị trí, đậm nhạt cho bài vẽ của mình, nhóm mình

- Hướng dẫn học sinh cách vẽ:

+ Hướng dẫn học sinh quan sát sơ bộ và nhận xét về hình dáng chung và cảm thụ chung về vẻ đẹp của mẫu Cần đặt các câu hỏi để tìm hiểu về : vị trí, đậm nhạt, hình dáng của mẫu

+ Hướng dẫn học sinh cách vẽ hình: Cần hướng dẫn cụ thể ở từng bài vẽ, không chung chung, từ đó rút ra đặc điểm của mẫu Khi hướng dẫn không đưa ra

Trang 35

một tỉ lệ nhất định Nếu học sinh đưa ra như vậy học sinh sẽ là theo, vừa không đúng với cách vẽ, như vậy bài vẽ sẽ khô cứng, rập khuôn, máy móc Nên dùng các câu hỏi gợi ý để học sinh quan sát, so sánh và rút ra nhận xét về tỉ lệ

Ví dụ : Em hãy so sánh giữa chiều cao và chiều ngang của cái lọ hoa?

+ Hướng dẫn học sinh cách vẽ đậm nhạt: Cùng với mẫu thực giáo viên đặt câu hỏi để học sinh:

Phân biệt được các độ đậm nhạt

Tìm ra ranh giới các mảng

Phác các mảng đậm nhạt theo cấu trúc của mẫu

Vẽ đậm nhạt

- Hướng dẫn học sinh làm bài:

Khi phát hiện bài vẽ của học sinh có sai sót, giáo viên đặt câu hỏi, đồng thời hướng dẫn các em quan sát trên mẫu thực để tìm ra chỗ cần sửa và tự sửa, không nên sửa giúp học sinh

2.2.3 Phương pháp dạy - học vẽ tranh

Vẽ tranh là tên chung gồm: Vẽ tranh đề tài; Vẽ tranh các thể loại; Vẽ tranh tự do

(theo ý thích)

- Vẽ tranh đề tài là vẽ tranh về đề tài cho trước như: đề tài phong cảnh, đề tài sinh hoạt, đề tài lễ hội không phụ thuộc vào người vẽ Có thể vẽ nhiều tranh về cùng một đề tài

Ví dụ: Đề tài nhà trường có thể vẽ tranh: phong cảnh sân trường trong giờ ra

chơi, giờ học trên lớp, giờ tan học, mừng ngày 20-11,

- Vẽ tranh các thể loại : vẽ chân dung, tĩnh vật

- Vẽ tự do hay vẽ theo ý thích : là vẽ tranh về một đề tài nào đó do người vẽ lựa chọn theo ý thích của mình Cách khai thác đề tài, chọn bố cục, chọn hình tượng, vẽ màu không khác với vẽ tranh các thể loại hoặc tranh về đề tài cho trước

* Phương pháp dạy học vẽ tranh:

 Với các bài lí thuyết giáo viên cần chú ý:

Trang 36

- Có minh họa đẹp, phong phú để làm rõ lí thuyết về bố cục, các hình thức bố cục và giới thiệu nhiều tranh đẹp của họa sĩ, của học sinh gây hứng thú học tập cho học sinh

- Khắc sâu hơn cách khai thác đề tài, cách tìm hình tượng, cách vẽ màu qua các tác phẩm của họa sĩ, của thiếu nhi

 Với các bài luyện tập:

- Nghiên cứu rõ chương trình để có kế hoạch, đánh giá có trọng tâm cho từng nội dung qua từng thời gian nhất định

Ví dụ : Thời gian nào chú ý đến bố cục mảng, sau đến các xây dựng hình

tượng, rồi đến cách vẽ màu, và đến một thời điểm nào đó là nhận xét, đánh giá mang tính tổng thể

- Chuẩn bị đồ dùng dạy học: tranh, ảnh gợi ý cách vẽ, các bài vẽ cùng một nội dung của học sinh các lớp trước

- Không hướng dẫn chung chung cho tất cả, cần có ý định với từng loại học sinh : giỏi, khá, trung bình, yếu kém

- Hướng dẫn học sinh làm bài theo quy trình:

+ Hướng dẫn học sinh khai thác nội dung

Qua hình minh họa, giáo viên gợi ý giúp các em hiểu sâu hơn về đề tài, tìm ra được các cách vẽ khác nhau cho tranh của mình

- Hướng dẫn học sinh làm bài

Giáo viên cố gắng làm việc với nhiều học sinh, giúp các em tìm cách thể hiện, bố cục mảng,vẽ hình và tìm màu

Nếu ở trên lớp giáo viên hướng dẫn kĩ, cung cấp nhiều tư liệu thì học sinh sẽ hoàn thành bài vẽ nhanh hoặc về nhà học sinh sẽ tiếp tục hoàn thành bài dễ dàng

Trang 37

hơn, hào hứng hơn Đồng thời còn có thể tạo đà cho các em tự vẽ tranh về những đề tài mà các em thích thú

2.2.4 Phương pháp dạy - học tập nặn tạo dáng

Tập nặn tạo dáng nhằm mục đích cho học sinh tập làm quen với hình khối đơn giản, tập tạo ra dáng sinh động cho đối tượng ở các tư thế tự nhiên nhằm phát huy trí tưởng tượng, sáng tạo của học sinh

* Phương pháp dạy - học tập nặn tạo dáng được tiến hành theo các bước:

a Hướng dẫn học sinh quan sát nhận xét mẫu (khoảng 5 - 7 phút)

+ Sử dụng đồ dùng dạy học như ảnh chụp, hình vẽ, tượng,… của đối tượng

để học sinh quan sát, tự nhận xét và phát biểu về cấu trúc, hình dáng sinh động, tự nhiên của đối tượng (có thể nhân cách hóa hình dáng các con vật)… sau đó giáo viên chốt lại ý chính

+ Gợi ý về các tư thế, động tác của đối tượng (ví dụ dùng phương pháp gợi mở hỏi: Dáng người chạy khác dáng đứng như thế nào? Dáng con mèo lúc đang ngủ khác với dáng đang rình bắt chuột? Dáng con gà đang mổ thóc khác với dáng con

gà đang gáy?,…)

+ Gợi ý về môi trường sống của đối tượng (ví dụ: Cá sống trong nước, trong nước còn có những con cá khác, có rong, bọt nước, …Mèo ăn cá xong, bên cạnh thường có cái gì? Bên cạnh con thỏ thường có củ gì?,…)

b Hướng dẫn học sinh cách nặn hoặc xé dán (khoảng 5 - 7 phút)

+ Cần phát huy kinh nghiệm, hiểu biết về nặn, xé dán của học sinh bằng hệ thống câu hỏi (Ví dụ: Muốn nặn hoặc có bức tranh xé dán hình người, con vật, cây,… các em làm như thế nào?), học sinh trao đổi, thảo luận và nêu ý kiến

+ Giáo viên củng cố cách nặn, xé dán bằng các thao tác mẫu

- Sử dụng đồ dùng dạy học kết hợp với những thao tác của giáo viên để gợi ý cho học sinh cách nặn hoặc xé dán

c Hướng dẫn học sinh làm bài (khoảng 20 - 25 phút)

- Giáo viên cần cất đồ dung dạy học

- Có thể cho học sinh thực hiện bài tập theo nhóm trên giấy khổ lớn hoặc làm việc cá nhân

Trang 38

- Gợi mở để sản phẩm của học sinh có bố cục, màu sắc, đậm nhạt … đẹp, tạo dáng sinh động cho đối tượng Lưu ý bố cục của đường hướng các khối trong bài tập nặn tạo dáng của học sinh

d Hướng dẫn học sinh nhận xét, đánh kết quả học tập (khoảng 5 - 6 phút)

- Đối với bài tập nặn tạo dáng, có thể cho học sinh trưng bày sản phẩm trên bàn,

giáo viên đến từng bàn quan sát một số bài đẹp để nhận xét

- Đối với bài xé dán, giáo viên tổ chức hoạt động này như ở các phân môn kh

ác

2.2.5 Phương pháp dạy - học thường thức mỹ thuật

Thường thức mỹ thuật là giới thiệu các tác phẩm mỹ thuật để học sinh tiếp

xúc, làm quen và thưởng thức vẻ đẹp của chúng Thông qua các tác phẩm mỹ thuật giúp học sinh hiểu biết hơn về cuộc sống, bồi dưỡng tình cảm với quê hương với cộng đồng, góp phần giáo dục tình cảm, giáo dục thẩm mỹ cho các em

* Phương pháp dạy học thường thức mỹ thuật: Phương pháp dạy - học thường thức mỹ thuật được tiến hành theo các bước:

a Hướng dẫn học sinh khai thác nội dung bài (khoảng 20 - 25 phút)

- Có thể vận dụng phương pháp đàm thoại hoặc học tập theo nhóm nhỏ

- Hướng dẫn học sinh cách xem tranh, tượng; tìm hiểu tên tác phẩm, tác giả, chất liệu, thể loại tranh, … tìm hiểu nội dung tranh, hình thức thể hiện (bố cục sắp xếp các mảng hình, cách thể hiện các nhân vật, màu sắc, đậm nhạt, …), cần chú ý tới yếu tố thẩm mỹ: bố cục, hình tượng, đường nét, màu sắc, tránh tình trạng liệt

kê hình ảnh, hướng dẫn học sinh nêu cảm nhận riêng về tác phẩm

b Hướng dẫn học sinh trình bày kết quả sau khi khai thác nội dung bài (khoảng 10 - 15 phút)

Học sinh phát biểu cảm nghĩ của mình về các tác phẩm vừa xem, sau đó giáo viên nhận xét, bổ sung

2.3 Dạy học sử dụng phương pháp luyện tập trong các phân môn Mỹ thuật lớp

4 ở Tiểu học

Phương pháp luyện tập được thể hiện thông qua các hoạt động giữa giáo viên

Trang 39

và học sinh để các em hoàn thành bài tập nhằm củng cố những kiến thức đã tiếp thu được từ bài học, từ thực tế cuộc sống

Kiến thức cơ bản của môn mỹ thuật được lặp đi lặp lại và nâng cao dần qua các bài tập, do vậy đối với từng phân môn, giáo viên cần hướng dẫn kĩ cách vẽ ở những bài đầu, những bài sau chỉ cần nhắc lại những ý chính, dành thời gian cho học sinh thực hành Có thể vận dụng phương pháp luyện tập như sau:

* Cách vận dụng :

- Cung cấp kiến thức chung cho tất cả, những bài đầu của mỗi loại bài tập cần hướng dẫn kỹ phương pháp thực hiện, những bài sau chỉ hướng dẫn những ý chính,

để thời gian cho học sinh luyện tập

- Ra bài tập và nêu yêu cầu bài tập để học sinh nắm được trước khi làm bài

- Khi học sinh làm bài, giáo viên không vẽ giúp cho học sinh

- Cần kết hợp bài với phương pháp gợi mở

2.3.1 Dạy học sử dụng phương pháp luyện tập trong phân môn : Vẽ trang trí

Vẽ theo mẫu; Vẽ tranh; Thường thức mỹ thuật; Tập nặn tạo dáng Trong đó có phân môn trang trí là phân môn gây hứng thú cho học sinh qua màu sắc cách sắp xếp bố cục, hoạ tiết Giúp học sinh hiểu hơn về cái đẹp và biết tạo ra cái đẹp trong việc học và trong cuộc sống hàng ngày

Kiến thức cơ bản của phân môn “ Vẽ trang trí” được lặp đi lặp lại và nâng cao dần qua các bài tập nên giáo viên cần hướng dẫn kĩ cách vẽ ở những bài đầu, những bài sau chỉ cần nhắc lại ý chính, dành cho học sinh luyện tập Khi hướng dẫn học sinh làm bài, giáo viên không nên áp đặt học sinh làm bài theo ý của giáo viên mà phải chú ý đến sự hài hòa giữa cảm xúc với thực tế tư duy non trẻ của các em

+ Giáo viên gợi mở trên thực tế bài , của học sinh, phù hợp với từng đối tượng học sinh giỏi, khá, trung bình,…

+ Các câu hỏi gợi mở phải mang tính khích lệ, động viên, không mang tính phủ định hay mệnh lệnh

+ Lời nhận xét, gợi mở luôn ở dạng nghi vấn

Với hoạt động hướng dẫn học sinh luyện tập như vậy sẽ tạo cho học sinh cảm giác thoải mái trong học tập, không bị gò bó, ràng buộc bởi những việc mà các em

Trang 40

không thích; điều đó có nghĩa là người giáo viên đã phát huy tối đa tính tích cực học tập, sáng tạo, độc lập trong suy nghĩ của học sinh mà vẫn đạt được mục tiêu bài học cũng như đặc trưng của môn học

Ngoài ra, một điều mà chúng ta còn thấy rõ là: Sự định hướng của giáo viên là chung cho cả lớp, nhưng kết quả đạt được lại là sự đa dạng, phong phú về màu sắc của sản phẩm Sự phong phú đó được thể hiện thông qua những suy nghĩ, những việc làm hết sức ngây thơ và hồn nhiên của trẻ thơ mà điều đó rất khó có được ở người lớn Đây chính là đặc trưng cơ bản của dạy học môn Mỹ thuật, mềm mỏng nhưng cần phải đúng, một môn học không có đáp số nhưng vẫn đạt được chuẩn mực về cái đẹp

* Một số lưu ý trước khi giáo viên tổ chức cho học sinh luyện tập vẽ trang trí:

- Cần có nhiều tranh mẫu đẹp để học sinh quan sát, tìm hiểu

- Cung cấp cho học sinh các hoa văn, họa tiết đẹp, đơn giản có liên quan đến từng bài học

- Chú ý rèn luyện cho học sinh cách vẽ hoạ tiết, cách sắp xếp các họa tiết và cách vẽ màu

- Không yêu cầu cao về kỹ năng vẽ, chú ý rèn luyện cách vẽ, cách sắp xếp họa tiết, cách vẽ màu ở từng bài trang trí

- Chú ý giúp đỡ các đối tượng thường xuyên không hoàn thành bài vẽ

- Lựa chọn các hoạt dộng trò chơi hỗ trợ phù hợp với nội dung bài học

- Động viên, khích lệ học sinh kịp thời trong quá trình học tập

* Ví dụ minh họa về tổ chức hoạt động sử dụng phương pháp luyện tập trong

phân môn Vẽ trang trí:

Bài 28: Trang trí lọ hoa (SGK Mỹ thuật 4, trang 67)

* Mục tiêu bài học:

- Hiểu vẻ đẹp về hình dáng và cách trang trí ở lọ hoa

- Biết cách vẽ trang trí lọ hoa

- Vẽ trang trí được lọ hoa theo ý thích

- Thêm yêu quý đồ vật lọ hoa, biết giữ gìn lọ hoa

* Giáo viên hướng dẫn học sinh luyện tập:

Ngày đăng: 08/05/2021, 21:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w