Hệ sinh thái đáy cứng, rạn san hô - một trong những đặc thù của Vịnh Hạ Long - là hệ sinh thái có năng suất sinh thái cao, giúp làm sạch môi trường nước, tập trung ở khu vực Hang Trai, C
PHẦN MỞ ĐẦU
Lí do chọn đề tài
Nằm trong vùng nhiệt đới, vùng biển nước ta có điều kiện sinh thái thuận lợi cho sự phát triển của san hô Từ lâu san hô là nguồn cung cấp hải sản quý, là nguồn đá vôi xây dựng, là nơi trú ẩn của rất nhiều loài sinh vật biển Chúng đã được khai thác cho hoạt động du lịch, nghiên cứu khoa học Tuy nhiên sự phát triển kinh tế xã hội kéo theo vấn đề ô nhiễm môi trường biển đã tác động đến hệ sinh thái nhạy cảm này làm cho chúng bị thương tổn, suy thoái
Nằm trong vịnh Bắc Bộ, Hạ Long được đánh giá là nơi có tiềm năng kinh tế biển lớn của nước ta Đây cũng là nơi có sự đa dạng sinh học cao Hệ sinh thái đáy cứng, rạn san hô - một trong những đặc thù của Vịnh Hạ Long - là hệ sinh thái có năng suất sinh thái cao, giúp làm sạch môi trường nước, tập trung ở khu vực Hang Trai, Cống Đỏ, Vạn Giò Rạn san hô Hạ Long cũng là nơi cư trú của nhiều loài sinh vật biển nơi đây
Tuy nhiên hiện nay sự phát triển kinh tế biển với các hoạt động du lịch, sự di chuyển của tàu bè, việc thải các chất ô nhiễm từ hoạt động nuôi trồng thuỷ sản trên vịnh, bên cạnh đó rác thải thải xả trực tiếp xuống vịnh và cả các nguồn xả thải từ trên đất liền nước thải của các khu công nghiệp, khu dân cư hoạt động khai thác than… đã làm ô nhiễm môi trường biển và từ đó ảnh hưởng không nhỏ đến hệ sinh thái san hô
Hiện nay trước tình trạng hệ sinh thái san hô ở Hạ Long đang bị suy thoái mạnh mẽ, các cấp chính quyền cũng đã có những giải pháp chiến lược để bảo vệ hệ sinh thái này, tuy nhiên hiệu quả của những giải pháp này chưa cao, đặc biệt là môi trường nước đang bị khai thác thiếu qui hoạch
Chính vì những lí do trên tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu tình hình ô nhiễm môi trường nước tại vịnh Hạ Long và ảnh hưởng của nó đến hệ sinh thái san hô
- các giải pháp bảo tồn hệ sinh thái san hô”
Mục đích nghiên cứu
-Đánh giá được hiện trạng môi trường của vịnh Hạ Long
-Tìm hiểu được hiện trạng suy thoái của HST san hô ở vịnh
-Đề ra được các giải pháp hữu hiệu nhằm hạn chế tình trạng suy thoái của HST san hô tại vịnh.
Nhiệm vụ nghiên cứu
-Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài nghiên cứu
-Thu thập tài liệu và phân tích hiện trạng môi trường của vịnh Hạ Long
-Tìm hiểu tác động của môi trường nước đến hệ sinh thái san hô
-Đề xuất giải pháp hạn chế ô nhiễm môi trường nước của vịnh và bảo tồn hệ sinh thái san hô.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-Đối tượng của đề tài là việc suy thoái hệ sinh thái san hô do tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay
-Phạm vi nghiên cứu đề tài chỉ nghiên cứu trên phạm vi vịnh Hạ Long.
Lịch sử nghiên cứu
Nghiên cứu về hệ sinh thái san hô đã có một số công trình như:
-Đề tài: “ Nghiên cứu khả năng phục hồi hệ sinh thái san hô và triển khai mô hình quản lí cộng đồng tại đảo san hô” được thực hiện từ năm 2007- 2009 của các cán bộ thuộc Viện Tài nguyên và Môi trường biển
-Đề tài “Đánh giá hiện trạng phân bố san hô vùng biển ven bờ trên cơ sở tư liệu ảnh vệ tinh và khảo sát ngầm”, Th.s Trần Văn Điện
-Một số các dự án của Nhật bản trong khảo sát thăm dò nhằm phục hồi các rạn san hô tại vịnh Hạ Long.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê số liệu
- Phương pháp điều tra phỏng vấn cộng đồng
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC VÀ HỆ SINH THÁI SAN HÔ
Tổng quan về ô nhiễm môi trường nước
Sự ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi thành phần tính chất của nước gây ảnh hưởng đến hoạt động sống bình thường của con người và sinh vật Khi sự thay đổi thành phần và tính chất của nước vượt quá một ngưỡng cho phép thì sự ô nhiễm nước đã ở một mức độ nguy hiểm và có thể gây ra một số bệnh cho người
Theo hiến chương châu Âu “ Sự ô nhiễm nước là một biến đổi chủ yếu do con người gây ra đối với chất lượng nước, làm ô nhiễm nước và gây nguy hại cho việc sử dụng, cho công nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi - giải trí, cho động vật nuôi cũng như các loài hoang dại”
Sự ô nhiễm môi trường nước có thể do tự nhiên hoặc nhân tạo
Nguồn gốc tự nhiên là do mưa, băng tuyết tan, gió ,bão lụt…kéo theo các chất bẩn xuống sông, hồ, hoặc các sản phẩm của hoạt động sống của sinh vật, kể cả xác chết của chúng
Nguồn gốc nhân tạo là do nước xả thải từ các khu công nghiệp, hoạt động giao thông vận tải, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ…vào môi trường nước
Theo bản chất của các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân biệt: ô nhiễm vô cơ, ô nhiễm hữu cơ, ô nhiễm hóa hoc, ô nhiễm vi sinh vật, cơ học hay vật lí, ô nhiễm phóng xạ
Theo phạm vi thải vào môi trường nước người ta phân ra: ô nhiễm điểm, ô nhiễm diện
Theo vị trí không gian, người ta phân biệt: ô nhiễm sông, ô nhiễm hồ, ô nhiễm biển, ô nhiễm nước mặt, ô nhiễm nước ngầm.
Tổng quan về hệ sinh thái rạn san hô
1.2.1 Khái niệm về san hô
1.2.1.1 Khái niệm hệ sinh thái:
Hệ sinh thái là tổ hợp của một quần xã sinh vật với môi trường vật lý mà quần xã đó tồn tại, trong đó các sinh vật tương tác với nhau và với môi trường để tạo nên chu trình vật chất (chu trình Sinh-địa-hóa) và sự chuyển hóa của năng lượng
* San hô là lớp đặc sắc của ngành ruột khoang Nó có khoảng 6000 loài, tồn tại dưới dạng các cá thể polyp nhỏ giống hải quỳ, thường sống thành các quần thể gồm nhiều cá thể giống hệt nhau Các cá thể này tiết ra Cacbonat can xi để tạo bộ xương cứng, xây nên các RSH tại các vùng biển nhiệt đới
* Polyp san hô là các cá thể thành phần trong tập đoàn san hô do chúng hấp thụ carbonat canxi hòa tan trong nước hình thành nên, chúng có thể sống đơn độc hoặc sống thành tập đoàn Hầu hết các polyp có kích thước nhỏ bé thường dưới 1mm Tuy nhiên có một số polyp có kích thước lớn
Là tên gọi chung của một loại rạn có nguồn gốc từ sinh vật đặc trưng cho vùng biển nông nhiệt đới, thành phần quan trọng nhất tạo nên rạn là từ nhóm san hô cứng tạo rạn và rong san hô- chính vì vậy gọi là rạn san hô Ngoài ra, tham gia tạo rạn còn có nhiều nhóm sinh vật khác, sau khi chết chúng để lại vỏ và xương làm cho rạn san hô ngày càng lớn lên
Rạn được xây dựng từ một lượng lớn đá vôi có nguồn gốc sinh vật, kết với nhau thành nhiều tầng, nhiều lớp với nhiều hang hốc lớn nhỏ, lớp trên là xương của các sinh vật đang sống, lớp dưới là phần còn lại của sinh vật đã chết Khối đá vôi giàu cơ thể sống này có thể kéo dài hàng ngàn cây số không chỉ là một quần cư sinh vật mà còn là một cấu trúc địa chất biển có nguồn gốc sinh vật
Thành phần cấu trúc nên RSH là các loài san hô cứng gọi chung là san hô tạo rạn Mỗi tập đoàn san hô có hàng ngàn cá thể dạng pôlyp bám trên một khung xương đá vôi chung Trong thành phần thịt san hô trung bình cứ trên 1cm 2 có tới 1-
5 triệu tảo vàng đơn bào
San hô là nhóm sinh vật đòi hỏi các yếu tố môi trường xác định và ít biến đổi, các RSH chỉ có ở vùng biển nước trong có độ muối cao trên 28 ‰, đáy đá Trong vùng biển Việt Nam san hô thường phân thành các dải hẹp tới độ sâu 5-20m tùy từng vùng biển san hô cứng chỉ phân bố ở độ sâu không quá 60m Tuy san hô được tìm thấy ở cả các vùng biển nhiệt đới cũng như ôn đới, nhưng các rạn san hô chỉ hình thành ở khu vực hai bên đường xích đạo trải từ vĩ độ 30° Bắc đến 30° Nam Nhiệt độ có ảnh hưởng ít hơn đến phân bố của san hô, nhiệt độ thuận lợi cho sự phát triển của san hô là từ 20°C- 30°C , không có san hô sống trong những vùng nước có nhiệt độ dưới 18 °C
San hô thường có quan hệ cộng sinh đặc sắc với các nhóm sinh vật khác, từ tảo đơn bào đến tôm kí cư, cua, cá… Trong quan hệ cộng sinh với tảo, tảo sử dụng các sản phẩm trao đổi chất của san hô như CO2 để quang hợp và các sản phẩm N, P để tạo prôtêin, ngược lại san hô được tảo cộng sinh cung cấp O2 trong quá trình quang hợp
1.2.4.1 Chức năng sinh thái đối với vùng biển
Các RSH là HST tự nhiên có năng suất sơ cấp cao không phụ thuộc vào năng suất, độ phì nhiêu và dinh dưỡng của các vực nước biển bao quanh
Khoảng 30%-40% sản phẩm sơ cấp của các RSH được thấm vào môi trường biển dưới dạng các chất nhầy, làm cho dự trữ hữu cơ trong rạn cao hơn từ 1,5- 4 lần so với lượng hữu cơ hòa tan trong nước biển Thông qua các hoạt động hấp thụ chuyển hóa của vi sinh vật, các chất hữu cơ này được tham gia chu trình thức ăn trong HST biển, làm cho các cơ sở vật chất và năng lượng vùng RSH và vùng biển xung quanh phong phú Vì thế HST RSH được coi là cơ sở dinh dưỡng hữu cơ, là nguồn cung cấp thức ăn không chỉ cho chính bản thân sinh vật sống trong RSH mà còn có ý nghĩa đối với toàn vùng biển
Cấu trúc của các kiểu rạn viền bờ tạo thành các đới: Lagoon ven bờ, mặt bằng rạn, đới sóng vỗ, sườn dốc, sườn dốc và chân rạn đã tạo nên sinh cảnh địa phương đa dạng là cơ sở habitat phong phú cho nhiều nhóm sinh vật với rất nhiều lối sống khác nhau trú ngụ Vùng đầm phá ven bờ thường tồn tại nhóm sinh vật nhỏ, hoạt động nhanh hoặc nhóm rộng sinh thái Đới mặt bằng phù hợp cho nhóm sinh vật sống chui rúc…
Sự đa dạng về các dạng tập đoàn: Dạng khối, dạng cành, dạng phủ… tạo nên một bề mặt lồi lõm đa dạng, là chỗ ở lý tưởng cho các sinh vật nhỏ bé biển khơi đồng thời là nơi kiếm mồi lý tưởng của các nhóm sinh vật ăn thịt
Các HST RSH có chức năng bảo vệ vùng bờ biển Các quá trình sói lở và trượt lở sẽ bị giảm nếu như có san hô bao phủ Ngoài ra san hô còn có chức năng bảo vệ môi trường nước giúp cho môi trường nước trở lên trong sạch hơn
1.2.5 Đặc điểm hình thái của san hô ở vịnh Hạ Long
Các rạn san hô ở Hạ Long đều có dạng viền bờ, song do địa hình phức tạp nên hình thái của chúng cũng có sự khác nhau đáng kể, đặc biệt ở những khu vực kín sóng hoặc trong các tùng áng rạn san hô chỉ là một dải hẹp ( bề ngang chỉ rộng khoảng 2-3m Ở các áng kín như Bù Xám, rạn san hô bao quanh tạo thành một vòng khép kín ôm lấy hồ nước ở giữa giống như dạng atoll, kiểu này có thể gọi là giả atoll Các rạn ở những nơi chịu tác động của sóng thì thường rộng hơn ( 10-20m) và có dạng thoải đều đến độ sâu 5-6m.
Khái quát về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của thành phố Hạ Long
Là một vịnh nhỏ, bộ phận của vịnh Bắc Bộ, Vịnh Hạ Long được giới hạn với phía Đông Bắc giáp vịnh Bái Tử Long; phía Tây Nam giáp quần đảo Cát Bà; phía Tây và Tây Bắc giáp đất liền bằng đường bờ biển khoảng 120km kéo dài từ huyện Yên Hưng, qua thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả đến hết huyện đảo Vân Đồn; phía Đông Nam và phía Nam hướng ra vịnh Bắc Bộ Trong diện tích 1.553km² gồm vùng lõi và vùng đệm, nằm tại các tọa độ từ 106°58′-107°22′ Đông và 20°45′-
20°50′ Bắc, vịnh Hạ Long bao gồm 1.969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo có tên và 980 đảo chưa được đặt tên
Vịnh Hạ Long là vùng biển đảo có khí hậu phân hóa 2 mùa rõ rệt: mùa hạ nóng ẩm với nhiệt độ khoảng 27-29°C và mùa đông khô lạnh với nhiệt độ 16-18°C, nhiệt độ trung bình năm dao động trong khoảng 15-25°C Lượng mưa trên vịnh Hạ Long vào khoảng từ 2.000mm–2.200mm tuy có tài liệu chi tiết hóa lượng mưa là 1.680mm với khoảng trên 300mm vào mùa nóng nhất trong năm (từ tháng 6 đến tháng 8) và dưới 30mm vào mùa khô nhất trong năm (từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau) Hệ thủy triều tại vịnh Hạ Long rất đặc trưng với mức triều cường vào khoảng 3,5-4m/ngày Độ mặn trong nước biển trên vùng Vịnh dao động từ 31 đến 34.5MT vào mùa khô nhưng vào mùa mưa, mức này có thể thấp hơn Mực nước biển trong vùng Vịnh khá cạn, có độ sâu chỉ khoảng 6m đến 10m và các đảo đều không lưu giữ nước bề mặt
Trên vịnh Hạ Long và Bái Tử Long có hàng ngàn đảo đá vôi nguyên là vùng địa hình karst bị nước bào mòn tạo nên muôn nghìn hình dáng bên ngoài và trong lòng là những hang động kỳ thú Địa hình đáy biển Hạ Long, không bằng phẳng, độ sâu trung bình là 20 m
Có những lạch sâu là di tích các dòng chảy cổ và có những dải đá ngầm làm nơi sinh trưởng các rạn san hô rất đa dạng Các dòng chảy hiện nay nối với các lạch sâu đáy biển còn tạo nên hàng loạt luồng lạch và hải cảng trên dải bờ biển khúc khuỷu kín gió Nhờ những hành lang đảo che chắn
Trong vùng Vịnh Hạ Long tồn tại 10 kiểu hệ sinh thái rất đặc thù của quần đảo đá vôi vùng nhiệt đới: Các hệ sinh thái rừng ngập mặn, cỏ biển, vùng triều đáy mềm, vùng triều đáy cứng, bãi triều cát, rạn san hô, tùng-áng và vùng ngập nước thường xuyên ven bờ, các thảm thực vật trên đảo và hang động Giá trị các hệ sinh thái Vịnh Hạ Long, ít nơi sánh kịp đặc biệt các giá trị bảo tồn của hang động, tùng áng có thể coi là giá trị nổi bật của các hệ sinh thái Vịnh Hạ Long
* Tài nguyên khoáng sản Đối với địa bàn thành phố Hạ Long bao gồm chủ yếu là than đá và nguyên vật liệu xây dựng Tổng trữ lượng than đá đã thăm dò được đến thời điểm này là trên 530 triệu tấn, nằm ở phía bắc và đông bắc Thành phố trên địa bàn các phường
Hà Khánh, Hà Lầm, Hà Trung, Hà Phong, Hà Tu (Đại Yên và Việt Hưng nằm trong vùng cấm hoạt động khoáng sản)
Theo số liệu thống kê tính đến hết năm 2009, trên địa bàn thành phố có tổng diện tích đất rừng là 5.862,08 ha/tổng diện tích thành phố là 27.153,40 ha Tỷ lệ che phủ của rừng đạt: 21,58 % Trong đó rừng trồng 5.445,69 ha và rừng tự nhiên 416,39ha (bao gồm: rừng gỗ 27,94 ha, rừng tre nứa 17,31 ha, rừng ngập mặn 371,14 ha)
Vịnh Hạ Long là một trong những điểm du lịch nổi tiếng trên toàn thế giới…Bên cạnh đó, vùng biển Hạ Long cũng rất phong phú về các loại động vật và thực vật dưới nước Theo nghiên cứu có 950 loài cá, 500 loài động vật thân mềm và
400 loài giáp xác, trong đó có nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao như cá thu, cá nhụ, cá song, cá hồi, cá tráp, cá chim và tôm, cua, mực, ngọc trai, bào ngư, sò huyết… 117 loài san hô thuộc 40 họ, 12 nhóm
1.3.3 Điều kiện kinh tế xã hội
Hiện trên vịnh Hạ Long có 635 hộ dân với 2.237 người sinh sống, trong đó
1672 người sống tại vùng trung tâm di sản và 542 người sống tại vùng đệm di sản Hiện tại có 3 khu dân cư trong vùng di sản gồm: Khu dân cư Ba Hang, khu dân cư Cửa Vạn, khu dân cư Vông Viêng
Nghề nghiệp của ngư dân sống trên vịnh chủ yếu là: Đánh bắt và nuôi trồng thủy sản phục vụ du lịch và bán một số hàng tạp hóa như xăng dầu, lương thực, thực phẩm, nước…
Thu nhập của các hộ dân giao dộng từ 0,8-3 triệu đồng/ tháng Các hộ dân sống gần các điểm du lịch thường có thu nhập cao hơn 1,3-3 triệu đồng/ tháng, tại các điểm như: Ba Hang, Bồ Nâu, Cửa Vạn Các hộ dân xa các tuyến, điểm du lịch thu nhập thấp hơn
Vịnh có nhiều các cảng lớn nhỏ như: Cái Lân, Hòn Gai, Cẩm Phả… là những đầu mối giao thông quan trọng của tỉnh, trên vịnh có 420 chiếc tàu du lịch đang hoạt động chất lượng tàu thuyền ngày càng cao phục vụ nhu cầu phát triển du lịch Hạ Long có hệ thống nhà hàng, khách sạn khá hoàn thiện với 468 cơ sở lưu trú chiếm trên 50% lượng khách của toàn tỉnh Thành phố có 38 nhà hàng phục vụ
1.3.3.3 Tốc độ đô thị hóa
Hiện nay thành phố cũng đã quy hoạch và xây dựng nhiều dự án xây dựng khu đô thị mới và tạo quỹ đất cho hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động kinh tế xã hội khác Các dự án san lấn biển được triển khai tập trung tại các khu vực vùng đệm vịnh, trong đó tập trung chủ yếu tại 3 khu vực chính đó là : Đảo Tuần Châu, khu đô thị mới Hùng Thắng và khu đô thị mới Lán Bè- Cột 8, gồm 31 dự án với tổng diện tích san lấp là 755,87 ha Khi dự án đã hoàn thành, dự án có ảnh hưởng rất lớn đối với môi trường vịnh Hạ Long như làm thu hẹp các bãi triều, diện tích các rừng ngập mặn Việc san lấn biển làm thay đổi kết cấu ven bờ làm cho vịnh tăng nguy cơ sói lở, bồi lắng, tăng độ đục của nước ảnh hưởng đến các hệ sinh thái.
Khái quát đặc trưng hải văn vùng biển Hạ Long
1.4.1 Sóng Độ cao sóng tương đối lớn, đạt trung bình 0,82 m cả năm và trung bình riêng các tháng chưa tới 1,0 m, khoảng 0,75 – 0,95 m Sóng hợp với trường gió theo mùa, có hướng Đông vào thời kỳ chuyển tiếp Sóng hướng Tây, Tây Nam hay Tây Bắc rất hiếm Độ cao sóng lớn nhất có thể tới 4m trong bão
Trong vịnh Bắc Bộ có dòng hải lưu chảy theo phương bắc nam kéo theo nước lạnh lại có gió mùa đông bắc nên đây là vùng biển lạnh nhất nước ta Nhiệt độ có khi xuống tới 13°C
Chế độ thuỷ triều ở đây là nhật triều điển hình, biên độ tới 3-4 m Nét riêng biệt ở đây là hiện tượng sinh "con nước" và thuỷ triều lên cao nhất vào các buổi chiều các tháng mùa hạ, buổi sáng các tháng mùa đông những ngày có con nước cường
Các tháng 5 và 10 có biên độ triều lớn nhất Khoảng từ tháng 4 tới tháng 8 nước lớn về đêm, cạn vào ban ngày; từ tháng 9 tới tháng 3 năm sau nước thường lớn vào ban ngày và cạn về đêm Thời điểm nước lớn và mực nước cao, thấp là yếu tố ảnh hưởng rất nhiều tới đặc tính sinh trưởng, phát triển của các loài thuỷ sản, đồng thời cũng là yếu tố ảnh hưởng rất sâu sắc tới các hoạt động đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, giao thông và dịch vụ du lịch
HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC TẠI VỊNH HẠ LONG
Hiện trạng ô nhiễm môi trường vịnh Hạ Long
Có 2 nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến môi trường nước vịnh Hạ Long đó là do tự nhiên và các hoạt động do con người gây ra
*Khí hậu khu vực nghiên cứu mang tính nhiệt đới gió mùa Mùa hè từ tháng 5 – 9, nóng, ẩm và mưa nhiều
Lượng mưa lớn lại tập trung vào các tháng mùa hè gây xói mòn đất trên các đảo, làm ngọt hóa và đục hóa vùng nước trong vịnh gây nên một số ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái san hô
Trung bình hàng năm ở vịnh Hạ Long có khoảng 1,5 cơn bão đổ bộ trực tiếp vào khu vực Hạ Long và 3-4 cơn bão và áp thấp nhiệt đới có ảnh hưởng đến khu vực Bão thường có mưa lớn kèm theo và gió mạnh làm xáo trộn nền đáy, tăng cao độ đục và đánh dập nát các rạn san hô
* Trong khu vực vịnh Hạ Long có nhiều sông suối nhỏ đổ vào đáng chú ý là: Hệ thống sông cửa Lục, sông Yên Lập, hệ thống sông Cấm- Bạch Đằng Lưu lượng của các con sông đổ vào vịnh sẽ vận chuyển một khối lượng lớn bùn, cát chất ô nhiễm làm ảnh hưởng đến môi trường vịnh Hạ Long
* Hoạt động khai thác than
Hoạt động khai thác than có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường nước của vịnh
Hạ Long Khu vực Hạ Long cũng là nơi tập trung các mỏ than quan trọng của tỉnh như: mỏ Bình Minh, Suối lại, Hà Tu, Hà Lầm, Vàng Danh và Bắc Vàng Danh… Hoạt động khai thác than đã tạo ra một số tác động đến môi trường biển như:
- Chất thải rắn ( đất dá bóc, vụn than):tấn/ 6 tấn than
- Nước thải mỏ và sang tuyển: 1,2 m 3 nước/tấn than
- Bụi, khí độc hại: Khoảng 7.500 hạt bụi/m 3 ; khí độc hại gồm CO, CO2,
CH4, H2S, NO2, đặc biệt sau khi nổ mìn phá đất đá
- Các chất phóng xạ: Hoạt động khai thác than đã giải phóng một lượng lớn các chất phóng xạ ảnh hưởng đến môi trường nước như Uranium, Thali, Kali, Radon…
* Hoạt động dịch vụ và du lịch
Theo thống kê của Sở Giao thông – Vận tải, trên vịnh Hạ Long có 420 chiếc tàu du lịch đang hoạt động Công tác bảo vệ môi trường vịnh Hạ Long đối với tàu thuyền du lịch được chú trọng Các tàu du lịch hoạt động trên vịnh đều có thiết bị thu gom nước và rác thải theo qui định Khu vực cũng có khoảng 38 nhà hàng phục vụ các món ăn, lượng nước thải của khu vực thành phố được thải vào Vịnh qua 3 cửa cống chính ( đoạn từ khu du lịch Thanh Niên đến bãi tắm Hoàng Gia)
Tuy nhiên, ý thức cộng đồng đối với việc bảo vệ môi trường sinh thái Vịnh
Hạ Long còn hạn chế, vẫn còn tình trạng khách du lịch vứt rác xuống biển, chưa có tàu để thu gom rác thải của các tàu thuyền du lịch Vấn đề xử lí chất thải rắn còn có nhiều bất cập như chưa có thiết bị hiện đại xử lí rác, vị trí xử lí cũng chưa phù hợp Hơn nữa sự hoạt động của các tàu thuyền cũng làm dò rỉ dầu xuống Vịnh Hạ Long gây ô nhiễm vịnh
Hiện nay trên vịnh Hạ Long có nhiều hình thức du lịch : như du lịch tắm biển, nghỉ dưỡng, nghiên cứu, du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm… Lượng khách du lịch có sự thay đổi theo mùa, thường tập trung vào tháng 4 đến tháng 8 thu hút một lượng khách lớn chính sự tập trung của khách du lịch kéo theo sự phát thải các nước thải sinh hoạt, rác thải của khách du lịch xuống vịnh làm ô nhiễm môi trường Vịnh
* Nhà bè trên Vịnh Hạ Long
Theo thống kê của UBND Thành phố Hạ Long có 618 nhà bè, số lượng nhà bè không ngừng tăng trong khu vực di sản Tác động của dân cư nhà bè đến môi trường sinh thái Vịnh Hạ Long là không tránh khỏi Nước thải sinh hoạt của các hộ dân hiện chưa được thu gom và xử lý, gây ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sinh thái Vịnh Các thức ăn thừa, thuốc kháng sinh là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm hữu cơ và hóa học cho các vùng nước trên Vịnh Việc sử dụng phao xốp làm vật nổi cho nhà bè, trong quá trình sử dụng góp phần gây ô nhiễm môi trường cho mặt nước của vịnh Một số ngư dân còn sử dụng các phương thức khai thác mang tính hủy diệt như mìn, điện, chất độc
Hạ Long là đầu mối giao thông của tỉnh, cũng là nơi tập trung nhiều bến cảng phục vụ cho việc xuất nhập khẩu, du lịch, vận tải hàng hóa và nghề cá Với điều kiện quản lí như hiện nay, mặc dù đã được cải thiện, nhưng vẫn có những tác động đến môi trường vịnh làm ô nhiễm, tăng cao độ đục, do hằng hải và đổ bùn thải cát nạo vét luồng, neo đậu tàu thuyền làm hủy hoại các rạn san hô và đặc biệt là các tai nạn tàu thuyền gây tràn dầu và đổ các hóa chất xuống vịnh
* Tốc độ đô thị hóa tăng nhanh
Trên cơ sở quy hoạch chung của thành phố dã được phê duyệt, UBND tỉnh đã cho phép thực hiện các dự án san lấp tại một số khu vực ven bờ của Vịnh Hạ Long để xây dựng các khu đô thị mới và tạo quỹ đất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và các hoạt động kinh tế xã hội khác Các dự án san lấn biển được triển khai tại khu vực vùng đệm khu di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, trong đó tập trung tại 3 khu vực: Đảo Tuần Châu, Khu đô thị mới Hùng Thắng, Khu đô thị mới Lán Bè- Cột 8, gồm 31 dự án với tổng diện tích san lấp là 755,87 ha Do quy mô triển khai lớn như vậy, nên ảnh hưởng của việc đô thị hóa tới vịnh Hạ Long là rất lớn Việc san lấn biển làm cho thay đổi kết cấu của đất ven bờ Vịnh, tăng nguy cơ xói lở, bồi lắng, tăng độ đục của nước, làm ảnh hưởng đến HST san hô
* Mức độ định cư của cư dân trên vịnh ngày càng gia tăng
Hiện nay trên vịnh Hạ Long có 635 hộ dân với 2.237 người sinh sống, trong đó có 1.672 người sống ở vùng trung tâm Di sản và 542 người sống tại vùng đệm
Di sản Cư đân trên vịnh ngày càng tăng Nghề nghiệp chủ yếu của họ là: Đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản phục vụ du lịch và bán một số các loại hàng tạp hóa như lượng thực, thực phẩm, nước, xăng dầu Khi mức độ cư trú tăng thì kéo theo sự gia tăng các chất thải sinh hoạt, chất thải trong quá trình sản xuất kinh doanh làm ô nhiễm môi trường vịnh
2.1.2 Hiện trạng môi trường nước vịnh Hạ Long
Hậu quả của các quá trình tự nhiên, hoạt động kinh tế xã hội có tác động to lớn đến đa dạng sinh học của Vịnh Đặc biệt sự ô nhiễm môi trường nước đã thể hiện rõ trong những năm gần đây
Sự phân bố độ muối của nước có đặc điểm phân dị theo không gian và biến động theo thời gian rất rõ rệt:
Theo thời gian, độ muối biến động theo hai mùa chính trong năm, mùa mưa và mùa khô Kết quả khảo sát tháng 12 đại diện cho mùa khô, độ muối thường tăng cao và khá ổn định, dao động trong khoảng từ 29‰ đến 33‰, trung bình 31‰, nước thuộc loại nước mặn Tháng 7 đại diện mùa mưa, độ muối biến động mạnh, dao động từ 18,5‰ đến 30,5‰, trung bình 24,5‰, nước thuộc loại nước lợ đến lợ mặn
Theo không gian, khu vực Cọc Chèo, Hang Trai xa bờ, giáp đảo Cát Bà, độ muối cả hai mùa đều cao, dao động trong khoảng từ 28‰ đến 33‰, nước thuộc loại nước mặn Trong khi đó tại vùng biển Cửa Lục, hang Đầu Gỗ, độ muối chênh lệch giữa hai mùa lớn, dao động từ 18‰ (mùa mưa) đến 33‰ (mùa khô)
Bảng 2.1 Sự phân tầng của độ muối tại một số địa điểm trong khu vực vịnh
Hạ Long Địa điểm Tầng nước Độ muối (S%o)
Vạn Bội Mặt 21 32 Đáy 27 33 Đầm Nam Mặt 22 31.5 Đáy 30 32
(Nguồn: Ban quản lí Vịnh Hạ Long)
Như vậy độ muối ở khu vưc Hạ Long trong các mùa, ở mọi khu vực đều rất thuận lợi cho sự phát triển của san hô
Biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường
2.2.1 Các giải pháp trước mắt
Trước mắt tập trung chỉ đạo để khắc phục ngay một số vấn đề trên khu vực vịnh ven thành phố Hạ Long
Rà soát, điều chỉnh quy mô san lấp các công trình hạ tầng, các hoạt động sản xuất công nghiệp dịch vụ
Dừng bốc rót than trên Vịnh, đổ bùn than trên Vịnh
Tổ chức lại lực lượng thu gom xử lý rác thải thông qua việc thành lập doanh nghiệp
Nghiên cứu sắp xếp tổ chức tua, tuyến du lịch theo hướng một tổ chức điều hành thống nhất hoạt động này
Tăng cường lực lượng Công an, Giao thông - Vận tải, Thuỷ sản để lập lực lượng kiểm tra liên ngành trực thuộc Ban Quản lý Vịnh nhằm đủ hiệu lực quản lý, xử lý trực tiếp các vi phạm
2.2.2 Các biện pháp lâu dài
2.2.2.1 Đẩy mạnh và đa dạng hoá công tác tuyên truyền Đẩy mạnh và đa dạng hoá công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức tạo chuyển biến trong ý thức và hành động của cộng đồng trong việc tham gia quản lý bảo tồn, phát huy giá trị di sản vịnh Hạ Long
2.2.2.2 Về công tác bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị di sản Vịnh Hạ Long
Lập dự án, quy hoạch chi tiết để cụ thể hoá Quy hoạch tổng thể về bảo tồn, phát huy giá trị di sản đã được phê duyệt cùng với việc lập quy hoạch và dự án phát triển ngành thuỷ sản, du lịch, thương mại, quản lý ổn định dân cư
Xác lập các dự án thành phần cần ưu tiên đầu tư từ nay đến 2010 để bảo tồn phát huy giá trị di sản
2.2.2.3 Đổi mới và tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả đầu tư đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh:
Ngành thuỷ sản cần quy hoạch vùng nuôi và vùng đánh bắt, xác định tiêu chuẩn về thức ăn và dụng cụ đánh bắt, vùng cấm đánh bắt, mùa cấm đánh bắt, nghiên cứu sản phẩm nuôi không ảnh hưởng đến môi trường; ngành nông nghiệp cần quy hoạch bảo tồn, bổ sung rừng ngập mặn, các loại cây con trên các đảo đất, đá; ngành du lịch nghiên cứu lại các tua tuyến du lịch, điều hành tập trung, xây dựng tiêu chuẩn bắt buọc đối với tàu đưa khách, tàu nghỉ và các loại dịch vụ khác ; ngành thương mại tăng cường quản lý các phương tiện kinh doanh xăng dầu trên vịnh đặc biệt là các cơ sở kinh doanh trôi nổi
2.2.2.4 Về quản lý cư dân
Nghiên cứu lại mô hình tổ chức hành chính, có thể theo hướng thành lập phường riêng đối với cư dân sinh sống trên Vịnh
Không cho tách hộ ở mới, có chính sách hỗ trợ lên đất liền
Tổ chức các hoạt động quản lý, bảo tồn di sản cho cộng đồng dân cư trên Vịnh
2.2.2 5 Bảo vệ, tái tạo môi trường:
Lập lực lượng chuyên trách quản lý, thu gom rác, nước thải trên Vịnh Áp dụng các tiêu chuẩn quản lý bắt buộc đối với các hoạt động trên Vịnh, xung quanh Vịnh; Cụ thể các giải pháp bảo vệ môi trường đối với các dự án, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ở ven bờ Vịnh
Rà soát, quy hoạch, điều chỉnh quản lý một số lĩnh vực: Xây dựng và tổ chức lại hệ thống cảng; Lập dự án khảo sát nghiên cứu nạo vét 1 số luồng bị bồi lắng; đẩy mạnh triển khai trồng rừng ngập mặn
2.2.2.6 Về chỉ đạo điều hành:
- Tập trung củng cố kiện toàn Ban Quản lý Vịnh Hạ Long
+ Bổ sung lực lượng cán bộ quản lý chung, lực lượng Thanh tra, quản lý đầu tư xây dựng, môi trường, văn hóa
+ Tổ chức lại mô hình Đội quản lý toàn diện các khu vực hành chính được tham gia
+ Tăng cường đào tạo hướng dẫn viên
+ Lập Ban quản lý dự án Bảo tàng sinh thái Hạ Long
- Ban hành quy chế mới về quản lý Vịnh để thống nhất các văn bản quy phạm quản lý Vịnh đã ban hành tạo cơ sở pháp lý chung cho công tác quản lý, chỉ đạo các hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh, thăm quan du lịch, sinh sống trên Vịnh
- Tiếp tục nghiên cứu về cơ chế chính sách thu hút đầu tư, quản lý đầu tư, quản lý môi trường
* Biện pháp bảo vệ môi trường vịnh quan trọng nhất là tổ chức thành lập tổ chức chuyên trách về quản lí và bảo vệ môi trường vịnh Hạ Long tránh sự chồng chéo trong quản lí Vì khi đã có sự quản lí chặt chẽ thì sẽ hạn chế được tình trạng đầu tư, xả thải tràn lan không có sự quản lí của các công ty, xí nghiệp, và các cá nhân Vì chỉ có quản lí tốt thì mới tránh được tình trạng ô nhiễm rồi mới lo xử lí Quan tâm đến sinh kế của người dân trên vịnh Làm cho người dân cũng được hưởng lợi từ hoạt động bảo vệ môi trường Ví dụ như phát triển các loại hình du lịch cộng đồng gần gũi với thiên nhiên Chỉ khi họ có được nguồn lợi từ hoạt động bảo vệ môi trường thì họ mới bảo vệ môi trường Đây cũng là giải pháp ít tốn kém so với việc sử dụng các thiết bị hiện đại để xử lý ô nhiễm trên vịnh.
TÁC ĐỘNG CỦA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC TỚI HỆ
Những nhân tố môi trường ảnh hưởng đến hệ sinh thái san hô
* Độ mặn: San hô là loại động vật sống trong môi trường có độ mặn cao Ít khi độ muối trở nên quá cao ảnh hưởng đến hệ sinh thái san hô Độ muối thấp ảnh hưởng rõ rệt hơn đến phân bố rạn và phân vùng san hô Ảnh hưởng chính lên độ mặn là do nước mưa San hô có khả năng chịu đựng độ muối thấp trong một giai đoạn ngắn nhưng khi mưa rất to cùng với triều thấp thì có mặt bằng rạn có thể bị hại, thậm chí bị phá hủy hoàn toàn
* Mức chênh triều khác nhau ảnh hưởng đến sự phân vùng của quần xã san hô Triều càng cao, ảnh hưởng của sự ngập triều và khả năng vận chuyển chất dinh dưỡng cũng ảnh hưởng đến hệ sinh thái san hô
* Ánh sáng: sự khuyếch tán ánh sáng tán xạ trong nước được coi là nguồn năng lượng bổ sung cho quá trình quang hợp của tảo và nhiều hoạt động sống khác Việc quang hợp của tảo là nguồn cung cấp chính lượng O2 cho san hô vì vậy ánh sáng cũng là một nhân tố môi trường tác động lên sự phát triển của san hô
*Nhiệt độ: Nhiệt độ cũng có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển và phân bố của san hô San hô chỉ có thể chịu được nền nhiệt cao, ổn định Hầu hết san hô sẽ biến mất nếu nhiệt độ vượt mức bình thường 1C trong 2 tháng liền hoặc 2C trong 1 tháng liền Nhiệt độ giới hạn sinh trưởng và phát triển của rạn Độ sâu kiểm soát chủ yếu hình dạng của rạn và các bậc cũng như độ sâu sườn dốc của rạn
* Độ trong của nước: Độ trong của nước do hàm lượng các chất rắn lơ lửng, các loài rong tảo sống trong môi trường đó, vi khuẩn… Ảnh hưởng đến việc truyền ánh sáng trong nước Chúng đóng vai trò quan trọng trong đời sống san hô
3.1.2 Các mối quan hệ trong quần xã
Trong một hệ sinh thái, mỗi loài cạnh tranh với loài khác về không gian, ánh sáng và các lợi ích khác Kết quả cuối cùng của tất cả các mối quan hệ và sự cân bằng làm cho quần xã san hô trở nên đa dạng nhất trong tất cả các quần xã trên trái đất Các mối quan hệ cần được xem xét gồm:
3.1.2.1 Quan hệ cộng sinh giữa san hô và tảo vàng
Phần không nhỏ chất hữu cơ do tảo vàng tổng hợp được bằng quang hợp nuôi trực tiếp các cơ thể san hô Tảo cung cấp cho san hô tới 80% nhu cầu thức ăn tổng số của nó Ngược lại san hô cung cấp cho tảo nơi sống và các chất thải ra của động vật như phospho và nitrat Ngoài ra trong rạn còn gặp nhiều biểu hiện của quan hệ hội sinh, hỗ sinh giữa san hô và tôm cá
3.1.2.2 Quan hệ cạnh tranh dành nơi bám có ánh sáng giữa san hô với tảo và giữa các loài san hô với nhau
Trong quan hệ này, để dành phần thắng, san hô hoặc là lớn nhanh vượt lên trên các loài khác hoặc là tấn công trực tiếp và tiêu diệt chúng bằng các xúc tua và dây vị Tuy nhiên đối với tảo trong môi trường nước biển bình thường, nghèo chất dinh dưỡng không cho phép tảo phát triển nhanh Nhưng khi môi trường bị ô nhiễm bằng chất tảo hữu cơ thì tảo phát triển nhanh chèn ép và ảnh hưởng đến san hô tạo rạn
3.1.2.3 Quan hệ giữa san hô với sinh vật ăn san hô
Một số sinh vật dùng san hô làm thức ăn, hoặc chỉ ăn polyp, hoặc ngắt cả ngọn san hô Khi môi trường bị ô nhiễm môi trường gây mất cân bằng sinh thái, sao biển gai phát triển mạnh nó ăn và tiêu diệt san hô
3.1.2.4 Ảnh hưởng của nhân tố con người
Thông qua các hoạt động của mình, con người đã tác động trực tiếp đến môi trường vịnh Hạ Long Những tác động đó làm thay đổi chất lượng môi trường nước từ đó ảnh hưởng đến quá trình phát triển và phân bố của các RSH Con người có thể coi là nhân tố tác động mạnh mẽ nhất tới hệ sinh thái san hô Ô nhiễm từ lục địa, bao gồm: tác động của các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, khai thác than, xây dựng các công trình ven bờ, đặc biệt là quá trình đô thị hoá tăng nhanh tại Hạ Long, và các thành phố, thị trấn trong khu vực Đối với RSH rõ ràng nhất là độ đục tăng cao vào các thời kỳ có các công trình ven biển Ô nhiễm do hoạt động của tàu thuyền Khu vực có những cảng lớn nh- Hải Phòng, Cái Lân, Hòn Gai , Cẩm Phả, Cửa Ông nhiều tàu bè ra vào, l-ợng tàu du lịch, đánh cá nhiều nên l-ợng dầu mỡ, dầu cặn thải xuống biển khá lớn đã tác động đến rạn san hô và các sinh vật sống trên rạn.
Những tác động của ô nhiễm môi trường nước đến hệ sinh thái san san hô
3.2.1 Sự suy giảm về độ phủ
Thành phần nền đáy và độ phủ của san hô sống là một chỉ tiêu sinh thái quan trọng nói lên hiện trạng của rạn san hô
Bảng 3.1 Tỷ lệ phủ của san hô và các dạng chất đáy khác dọc theo mặt cắt đẳng sâu (WWF - Việt Nam, 1993) Địa điểm Mặt cắt San hô sèng
Cọc Chèo Mặt bằng rạn S-ờn rạn
Tùng Giỏ Mặt bằng rạn S-ờn rạn
Cát Dứa Mặt bằng rạn S-ờn rạn
Ba Cát Dài Mặt bằng rạn S-ờn rạn
Hòn Mây Mặt bằng rạn
S-ờn rạn áng Thảm Mặt bằng rạn S-ờn rạn
(Nguồn: Ban quản lí Vịnh Hạ Long)
Trên các mặt cắt đẳng sâu cho thấy, đới mặt bằng rạn có độ phủ dao động trong khoảng 34 - 68 %, trung bình 53%, cao hơn đới s-ờn rạn với độ phủ dao động trong khoảng 26 - 67%, trung bình là 47%
Trong các điểm thì Cọc Chèo là nơi có độ phủ tốt nhất, độ phủ san hô sống là 68% ở đới mặt bằng rạn và 44% ở sườn rạn
Nhìn chung là độ phủ san hô sống tại thời điểm năm 1993 còn tương đối tốt do môi trường chưa bị ô nhiễm nhiều Các tác động đến HST san hô chủ yếu là các tác động cơ học, tác động do neo bám tàu thuyền
Các số liệu cho thấy san hô đã có sự suy giảm so với năm 1993 Chỉ còn rạn Hai Hẹn và Trà Giới là có độ phủ tương đối tốt Còn lại hầu như chỉ còn không quá 50%,do môi trường cũng đã có những biểu hiện ô nhiễm môi trường ở một số các thông số
Bảng 3.2 Tỷ lệ % độ phủ của một số yếu tố nền đáy trên mặt cắt đẳng sâu
% độ phủ của các kiểu chất đáy San hô sèng
San hô chÕt Đá gèc
(Theo b/c của Dự án Đa dạng sinh học vịnh Hạ Long,
Kết quả khảo sát độ phủ thể hiện:
Bảng 3.3 Độ phủ san hô tại một số điểm năm 2008
Hợp phần đáy Cọc chèo Áng dù Cống Đỏ
San hô mới chết(RKC) 4.375 0.625 0 Đá san hô (DC) 10 20.625 0
Hải miên(SP) 1.875 1.25 7.5 Đá (RC) 23.75 10.625 16.875
(Nguồn: Ban quản lí Vịnh Hạ Long)
Như vậy trong 3 rạn được lựa chọn khảo sát có rạn Cọc Chèo là có độ phủ thuộc loại rạn tốt, rạn Áng Dù và Cống Đỏ thuộc loại trung bình Các rạn Bù Xám,
Bồ Hòn trước đây san hô cũng khá phát triển nhưng đến nay san hô chết gần hết, trên rạn chỉ còn phần lớn đá san hô chết và dần dần bị bùn vùi lấp
Nhìn chung từ năm 1993 đến năm 2010 ta có thể thấy được sự suy giảm dộ phủ của san hô qua bảng tổng kết sau:
Bảng 3.4: Sự suy giảm độ phủ san hô qua các năm ở Vịnh Hạ Long
Cống Lá Ba Trái Đào
Hang Trai Cống Đỏ Cọc Chèo
( Nguồn: Ban quản lí Vịnh Hạ Long)
Hình 3.1 Sự Suy giảm độ phủ san hô ở vịnh Hạ Long qua các năm
Suy giảm độ phủ san hô sống trên vịnh Hạ
Cống Lá Ba Trá i Đ ào Hang Trai Cống Đ ỏ Cọc Chè o
Nhìn chung độ phủ san hô vịnh Hạ Long suy giảm nhanh trong vòng 12 năm qua Tất cả các địa điểm được thống kê đều có sự suy giảm về độ phủ
Trong đó địa điểm có sự suy giảm về độ phủ nặng nề nhất đó là Ba Trái Đào Nếu như năm 1993 đây là nơi có độ phủ tốt nhất 85% thì đến năm 2003 bị suy giảm trầm trọng còn 44,6%, đến năm 2010 thì chỉ còn 35 % đứng thứ 3 trong số các điểm khảo sát
Trong khi đó Hang Trai là khu vực có sự suy giảm chậm nhất từ 78% đến năm 2010 là 50% và là khu vực có độ phủ tốt nhất so với các địa điểm còn lại
Cống đỏ là địa điểm luôn có độ phủ thấp nhất Và đến năm 2003 thì gần như san hô ở nơi đây bị tiêu diệt độ phủ chỉ là 1% Do các quá trình khai thác san hô một cách bừa bãi để phục vụ cho các mục đích kinh tế
Các điểm càng gần bờ thì độ phủ càng bị suy giảm mạnh mẽ Vì bờ là khu vực dễ dàng chịu những biến động của nguồn thải từ lục địa Như các trận mưa lớn, hay thủy triều, nguồn ô nhiễm do hoạt động của tàu thuyền chất thải từ thành phố đổ ra
3.2.2 Sự suy giảm về thành phần loài
Ngoài sự suy giảm về độ phủ, ô nhiễm môi trường còn ảnh hưởng đến thành phần loài của san hô tại vịnh Hạ Long điều đó thể hiện qua bảng số liệu:
Bảng 3.5 Thành phần loài của san hô vịnh Hạ Long 2008
STT Tên Họ Giống Loài
Số lượng Tỷ lệ% Số lượng Tỷ lệ%
(Nguồn Ban quản lý Vịnh Hạ Long ) Đến tháng 12/2008 trên toàn vịnh Hạ Long chỉ còn 102 loài san hô thuộc 11 họ, 32 giống Trong đó số loài tập trung nhiều ở khu vực đảo Cống Đỏ, Hang Trai, Đầu Bê và vụng Hà Trên rạn san hô ở vịnh Hạ Long các giống loài san hô dạng khối chiếm ưu thế, chỉ riêng hai rạn Trà Sản và Voi Ván san hô cành lại chiếm ưu thế Trong thành phần cấu trúc khu hệ, họ Faviidae có số giống và số loài nhiều nhất
( 7 giống, 25 loài) chiếm tỉ lệ 21,9 và 24,5 % Đến năm 2008 với số giống loài trên có thể thấy tỷ lệ san hô dạng khối và dạng phiến chiếm tỷ lệ khá lớn trên 80% Trong khi đó san hô cành chỉ có một giống duy nhất là Acropora với 10 loài chiếm gần 10% So với các kết quả nghiên cứu trước đây thì giảm 9 giống, 20 loài so với kết quả JICA năm 1998 và 16 giống,
48 loài so với các kết quả nghiên cứu công bố trước năm 1998
Bảng 3.6 Sự suy giảm thành phần loài cả san hô trên vịnh Ha Long
Hình 3.2 Biểu đồ sự suy giảm số loài san hô trên vịnh Hạ Long
Từ biểu đồ ta có thể thấy độ phủ của các rạn san hô ở các điểm đều suy giảm liên tục
Suy giảm mạnh nhất là rạn san hô tại Hang Trai giảm 63 loài Nếu như năm
1998 ở đây có số giống loài cao nhất là 478 loài thì đến năm 2010 chỉ còn 25 loài và là nơi có số loài thấp nhất
Cọc chèo là nơi có sự suy giảm chậm 23 loài đến năm 2010 đây là nơi có số loài nhiều nhất trong vịnh 35 loài
` Như vậy có thể thấy hiện nay san hô vịnh Hạ Long có xu thế đơn điệu hoá và nó sẽ không tạo đươc sự đa dạng về kiểu dáng, kiểu hình hay tạo ra được các tiểu sinh cảnh để hấp dẫn các sinh vật biển đến cư trú Đặc biệt ở đây mỗi rạn thường có một loài chủ đạo chiếm ưu thế và có những rạn san hô chỉ có 1 loài chiếm đến 90- 95% diện tích của rạn
3.2.3 Ảnh hưởng đến sự phân bố
San hô phân bố chủ yếu ở phía Đông Nam Cát Bà lên đến các đảo phía nam Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long Trên các nền đáy cứng xung quanh các đảo phía
Sự suy giảm số loài san hô trên vịnh Hạ Long
Cống Lá Ba Trá i Đ ào Hang Trai Cống Đ ỏ Cọc Chè o lo à i Tr- ớ c nă m 1998
Hậu quả của suy thoái hệ sinh thái san hô đến môi trường tự nhiên và môi trường kinh tế xã hội
3.3.1.1 Đối với môi trường vịnh
San hô là bộ máy lọc nước tự nhiên, giúp cho môi trường nước trong sạch hơn San hô còn là con đê chắn sóng, bão hiệu quả Khi san hô mất đi không những môi trường nước bị ảnh hưởng mà nền đáy biển còn bị hủy hoại mỗi khi có bão
3.3.1.2 Đối với các hệ sinh thái khác
Sự suy giảm của các rạn san hô ảnh hưởng nghiên trọng đến hệ sinh thái biển vì có tới một phần tư các loài cá biển sống ở các rạn san hô ngầm Hơn nữa san hô còn là sinh kế của rất nhiều người dân sống xung quanh các rạn san hô
Các rạn san hô bị suy thoái và huỷ diệt kéo theo sự suy giảm đa dạng sinh học cũng như nguồn lợi hải sản do nhiều loài cá không còn bãi đẻ Hậu quả này thể hiện rõ nhất ở sự vắng bóng của nhiều loài hải sản quý hiếm như cá bướm, ốc nón, ốc tù tại vịnh Hạ Long và các vùng xung quanh trong các đợt khảo sát gần đây
Sự suy thoái của các hệ sinh thái sẽ đặt các giống, loài trước nguy cơ bị tuyệt chủng
3.3.2 Các hoạt động kinh tế
San hô suy giảm làm cho Hạ Long mất đi một sản phẩm du lịch độc đáo Đặc biệt là hoạt động du lịch lặn biển
3.3.2.2 Hoạt động kinh tế khác
San hô còn là nguồn vật liệu xây dựng quan trọng Khi san hô mất đi đồng nghĩa với mất đi nguồn vật liệu xây dựng, mất đi nguồn nguyên liệu làm đồ trang sức, đồ thủ công mỹ nghệ.
Giải pháp bảo tồn hệ sinh thái san hô
3.4.1 Về chiến lược chính sách quản lí
Kinh nghiệm khai thác sinh vật biển trong khoảng 30 năm trở lại đây ở nước ta cũng như các nước khác trong khu vực cho thấy, phương thức khai thác nguồn lợi đúng đạt hiệu quả cao phải dựa trên đặc điểm nguồn lợi trên cơ sở hiểu biết đầy đủ những đặc trưng sinh học và giá trị kinh tế của chúng HST rạn san hô thuộc loại HST phức tạp, nhiều bậc dinh dưỡng và các chuỗi thức ăn đan xen nhau như mạng lưới, đồng thời là HST nhạy cảm, dễ bị tổn thương Muốn khai thác lâu bền phải chú ý giữ được môi trường sinh thái ổn định đồng thời giữ cân bằng trong hệ Để đạt được yêu cầu này, cần phải có những biện pháp cụ thể qui định phương thức khai thác và bảo vệ môi trường Đối với bản thân san hô tạo rạn: San hô là nhóm sinh vật chủ đạo của HST RSH, song lại có tốc độ sinh trưởng rất chậm (bình quân là 2cm/năm) Nếu lấy đi một cành san hô cao 20 cm tức là đã lấy đi sự tích lũy của tự nhiên trong khoảng 10 năm trước tại đó Mặt khác, khai thác san hô sống sẽ làm cho rạn mỏng đi, độ phủ giảm, kéo theo là sự biến đổi Habitat, đa dạng tại chỗ giảm đi Vì thế không nên khai thác các rạn san hô sống với bất kì mục đích nào trừ phục vụ cho nghiên cứu khoa học Đối với hải sản trên rạn san hô: Hải sản trên rạn san hô rất đa dạng về chủng loại và có giá trị kinh tế cao, song thường có số lượng hạn chế Phần lớn các loài đều sống lâu năm, tốc độ sinh trưởng chậm nên môi trường bị suy thoái sẽ làm giảm nguồn lợi nhanh chóng, làm mất cân bằng sinh thái trong hệ rạn Đối với HST rạn san hô
Nghiêm cấm các hoạt động mang tính hủy diệt như dùng chất nổ, thuốc độc Sớm xác định các vùng RSH có thể xây dựng hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên
Từng bước xây dựng các khu bảo tồn theo quy trình quốc tế về qui mô và tổ chức
Cần có kế hoạch quản lí và tăng cường các yếu tố đa dạng Nghiên cứu để phục hồi các rạn
Tổ chức khảo sát đánh giá toàn bộ các rạn san hô về hiện trạng, quy mô phân bố và đa dạng sinh học cũng như các giá trị bảo tồn
Thiết lập các dự án độc lập cấp quốc gia về bảo vệ giám sát và quản lí các rạn san hô biển
Thiết lập Tiểu ban san hô trong Tổ chức nghiên cứu bảo vệ và quản lí vùng ven biển
Ban hành bổ sung, điều chỉnh các quy chế quy định quản lý về những lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội trên vịnh Có chính sách thu hút các nhà đầu tư trong việc tái tạo bảo vệ và phục hồi các RSH
Nghiên cứu xây dựng qui chế quản lí và đề xuất các biện pháp bảo vệ tài nguyên sinh thái biển trong đó có RSH
Xây dựng các quy ước bảo vệ rừng, biển và các vùng chức năng bảo tồn đa dạng sinh học trên biển và giúp người dân nắm được luật đa dạng sinh học Nếu được tuyên truyền đầy đủ người dân sẽ vui mừng vì: “luật không cấm họ khai thác nguồn lợi từ các rạn san hô mà chỉ cho họ khai thác như thế nào cho lợi nhất” Luật đa dang sinh học là chìa khóa quan trọng để cộng đồng tham gia bảo vệ đa dạng sinh học
Xây dựng cơ chế tài chính, đảm bảo đủ nguồn lực phục vụ cho việc bảo vệ và xử lí môi trường vịnh Hạ Long Lập quỹ bảo vệ môi trường vịnh Hạ Long: xây dựng qui định thu phí môi trường đối với các đối tượng sinh sống, hoạt động và hưởng lợi trên vịnh Hạ Long Vận động cộng đồng trong và ngoài nước tham gia đóng góp kinh phí và sáng kiến về bảo vệ môi trường sinh thái vịnh Hạ Long Trích một phần kinh phí thu được cho hoạt động bảo vệ môi trường
Phân vùng chức năng là một trong những công cụ quản lý quan trọng Gianh giới các vùng cần đảm bảo tính khả thi cũng nh- khu vực lãnh thổ để loài có thể tồn tại và phát triển Về vấn đề phân vùng, các dự án tr-ớc đây về Bảo tồn Đa dạng sinh học vịnh Hạ Long, đều đã đề xuất những ý t-ởng về phân vùng quản lý nh-ng còn ít đ-ợc quan tâm Dựa trên kết quả khảo sát từ tr-ớc đến nay cú thể phân thành 3 vùng quản lý nh- sau (hình 4):
Vùng lõi bao gồm: Đầu Bê – Hang Trai – Vụng Hạ – Bọ Hung – Cống Đỏ – Vạn Gió
Vùng phục vụ du lịch: Bắc - Đông Cát Bà;
Vùng bảo tồn: Vùng n-ớc hở còn lại
Các biện pháp quản lý cần đối với mỗi vùng chức năng cần đ-ợc chi tiết hoá Nh-ng đây phải là nhiệm vụ của các nhà quản lý, chính họ mới là ng-ời thực thi những nhiệm vụ đó
3.4.2.2 Tăng c-ờng năng lực quản lý cho Ban Quản lớ vịnh Hạ Long về bảo tồn đa dạng sinh học
Nhìn chung, công tác bảo tồn đa dạng sinh học biển còn ít đ-ợc quan tâm, một phần do năng lực cán bộ của các cơ quan chức năng còn hạn chế, thiếu cán bộ chuyên môn, mặt khác, tiềm lực về ph-ơng tiện, thiết bị cứu hộ cũng còn thiếu Chúng ta mới chỉ quan tâm đến bảo tồn cảnh quan và môi tr-ờng nh-ng cũng chỉ ở mức độ thấp Vì vậy việc tăng c-ờng năng lực quản lý, bảo vệ bao gồm:
Về con ng-ời: cần có đội ngũ hoàn thiện, hiểu biết nhiệm vụ, chức năng của công tác bảo tồn đa dạng sinh học biển;
Về ph-ơng tiện: cần đ-ợc trang bị những ph-ơng tiện cần thiết nh- tàu tuần tra, Trạm quan trắc, hệ thống thông tin cần thiết;
Về thể chế: cần có các quy chế hoạt động rõ ràng cho các ph-ơng tiện hoạt động trong vùng lãnh thổ của các đơn vị trên
3.4.2.3 Quan trắc cảnh báo và nghiên cứu khoa học
Các đơn vị quản lý có nhiệm vụ quan trắc các biến động về đa dạng sinh học, môi tr-ờng của khu vực một cách th-ờng xuyên, cảnh báo các sự cố đã và có thể xảy ra cho các quần xã sinh vật, các hệ sinh thái và các habitat đặc tr-ng, trong đó có rạn san hô Từ đó đặt ra những vấn đề cấp thiết về các mặt quản lý, khoa học, biện pháp thực hiện cần phải giải quyết;
Nghiên cứu khoa học trong khu vực cần tập trung vào sinh học của các đối t-ợng đang bị đe doạ, các biện pháp phục hồi chúng, từ đó bổ xung những quy định bảo vệ đa dạng sinh học, điều này không chỉ liên quan đến san hô, sinh vật sống trên rạn san hô mà cả các habitat đặc tr-ng khác Nghiên cứu các áp lực của sự phát triển, khai thác để đề ra các chiến l-ợc hợp lý
3.4.3 Giải pháp giáo dục truyền thông
Do ng-ời dân còn có nhận thức thấp về giá trị đa dạng sinh học nên không nhận thức đ-ợc yêu cầu cần phải bảo vệ Mặt khác khách du lịch th-ờng có nhận thức và tri thức khác nhau về vấn đề trên Vì vậy, cần có những ph-ơng pháp tuyên truyền giáo dục khác nhau đối với các nhóm khách khác nhau nh- in b-ớm, truyền thanh, truyền hình, tổ chức tuyên truyền trong các đoàn du khách Công tác tuyên truyền, giáo dục cần đ-ợc tiến hành th-ờ ng xuyên, lâu dài và cần đ-ợc đ-a vào kế hoạch hoạt động hàng năm của các tổ chức: Ban quản lớ vịnh Hạ Long, các đơn vị kinh doanh du lịch và Nhà tr-ờng Hình thức cần phong phú, đa dạng để phù hợp với hoàn cảnh và đối t-ợng
3.4.4 Giải pháp kĩ thuật công nghệ
3.4.4.1 Hồi sinh san hô bằng điện:
Những thân san hô này bám vào hàng chục khung kim loại bị đánh chìm xuống biển, và được nuôi sống bằng những dây cáp phát đi dòng điện có điện áp thấp Các nhà bảo tồn cho rằng dòng điện yếu sẽ giúp khôi phục và gia tăng tốc độ lớn của san hô
Dự án (có tên gọi Bio-Rock, hay Đá Nhân tạo) là phát kiến của nhà khoa học Thomas Goreau và kiến trúc sư Wolf Hilbertz Hai người đã đặt những cấu trúc tương tự như vậy ở khoảng 20 quốc gia khác, nhưng thí nghiệm tại Bali là hiệu quả nhất
Trong dự án, Goreau và cộng sự đã chế tạo những khung kim loại, thường hình vòm hoặc hình nhà kính, và đánh chìm xuống vịnh Khi cho một dòng điện có điện áp thấp đi qua, đá vôi (thành phần cơ bản của san hô) sẽ tụ lại trên khung kim loại Các công nhân sau đó sẽ thu nhặt những mảnh san hô bị gẫy của rạn san hô hư hại cũ và gắn nó vào khung trên
PHẦN KẾT LUẬN
Qua việc phân tích một số thông số môi trường chủ yếu ảnh hưởng đến HST san hô ta có thể kết luận
- Tình trạng ô nhiễm môi trường đã ảnh hưởng đến HST san hô Hầu như các nhân tố đều có tác động đến hệ sinh thái rõ rệt nhất là sự tác động của hàm lượng TSS, Dầu, và hàm lượng dinh dưỡng Những nhân tố môi trường bị ô nhiễm đã ảnh hưởng đến san hô thông qua việc cung cấp lượng thức ăn, ánh sáng, ảnh hưởng đến các sinh vật cộng sinh với san hô làm ảnh hưởng đến toàn bộ HST
- Hiện nay Ban quản lí vịnh và các cấp, các ngành cũng đang thực hiện nhiều biện pháp để hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường nhằm bảo vệ đa dạng sinh học của vịnh Hạ Long nói chung và HST san hô nói riêng
-Trong Vịnh Hạ Long tồn tại HST san hô với số loài phong phú và độ phủ lớn Tuy nhiên tình trạng ô nhiễm môi trường đã làm cho HST san hô ở đay bị suy thoái nghiêm trọng Nếu như trong những năm 90 còn tồn tại hơn 200 loài thì đến nay chỉ còn chỉ còn 102 loài san hô thuộc 11 họ, 32 giống San hô vịnh đang bị đơn điệu hóa Không những thế san hô còn bị suy thoái về độ phủ đặc biệt là những khu vực gần bờ chịu ảnh hưởng mạnh từ đất liền
- Biện pháp quan trọng nhất để bảo vệ HST san hô ở Hạ Long là có cơ chế chính sách đảm bảo nguồn lực để bảo vệ di sản, nhanh chóng bảo vệ trồng san hô nhân tạo tại các khu vực bị đe dọa nghiêm trọng để không chỉ bảo vệ san hô mà còn bảo vệ các loài sống nhờ vào san hô, xây dựng các mô hình bảo vệ và có kế hoạch cụ thể, từng bước bảo vệ HST quan trọng này
- Xử lí nghiêm các công ty, đơn vị, cá nhân gây ô nhiễm môi trường
- Ngăn cấm triệt để tình trạng chặt phá rừng đầu nguồn, gây ra hiện tượng lũ quét, xói mòn đất đá, làm tăng độ đục của nước biển ảnh hưởng đến sự phát triển của san hô
- Kiểm kê các nguồn gây ô nhiễm môi trường vịnh Hạ Long để thành lập bản đồ ô nhiễm để tiện trong việc quản lí môi trường vịnh Hạ Long
- Xây dựng hành lang bảo vệ môi trường vịnh Hạ Long
- Bước đầu áp dụng các biện pháp kĩ thuật nuôi cấy san hô nhân tạo nhằm bảo vệ nhân giống các loài san hô.
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46 PHỤ LỤC
1 Nghiên cứu giá trị đa dạng sinh học Vịnh Hạ Long phục vụ cho việc quản lý, phát huy giá trị đa dạng sinh học của di sản Ban quản lí vịnh Hạ Long
2 Động vật học không xương sống, Thái Trần Bái, NXB giáo dục
3 Sinh học và sinh thái học biển, Vũ Trung Tạng, NXB Đại học quốc gia Hà Nội
4 Sự suy thoái san hô và nguyên nhân gây chết san hô tại quần đảo cô tô, Viện tài nguyên và môi trường biển
4 Sinh thái môi trường ứng dụng, Lâm Huy Bá, NXB Khoa học và kỹ thuật
5 Lê Văn Khoa , Khoa học môi trường, N Giáo Dục
6 Báo cáo tổng kết hiện trạng môi trường Quảng Ninh 2006-2010, Sở Tài nguyên và Môi Trường Quảng Ninh
7 Chi cục môi trường tỉnh Quảng Ninh, Báo cáo hiện trạng môi trường Quảng Ninh năm 2003
8 Chi cục môi trường tỉnh Quảng Ninh, Báo cáo hiện trạng môi trường Quảng Ninh năm 2008
9 Bách Khoa thủy sản, Nxb nông nghiệp Hà Nội
10 San hô ở khu di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long, Lăng Văn Kẻn- Phân viện hải dương học tại Hải Phòng
11 Xây dựng bản đồ sinh cư biển ở khu di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long, Lăng Văn Kẻn- Phân viện hải dương học tại Hải Phòng
12 Nguyễn Đình Hòe, Môi trường và phát triển bền vững, NXB giáo dục
13 Fundamentals of oceanography, Alison B Duxbury
15 The world’s oceans, Keith A Sverdrup
PHỤ LỤC 1: Một số hình ảnh san hô vịnh Hạ Long
Danh mục san hô phát hiện đ-ợc ở vịnh Hạ Long từ tr-ớc đến nay và
(+) trong đợt khảo sát năm 2002
Ghi chú: 1- tổng số loài phát hiện đ-ợc; 2 - Tên loài,
3 – 14: điểm khảo sát 7/2002 (3 – Tùng Ngón; 4 – Tùng Hai Hẹn; 5 – Tùng Hói; 6 –Đông đảo Luỡi Liềm; 7 – Vụng Hà; 8 – Đông bắc đảo Bọ Hung; 9 – Đông Nam đảo Cống Đỏ;
10 – Đông đảo Cặp La; 11 – Tây đảo Soi Ván; 12 – Nam đảo Vạn Gió; 13 – Tây-Nam đảo Trà Giới; 14 – Đông Nam đảo Bù Xám
Bộ San hô bò Stolonifera
Bộ San hô mềm Alcyonacea
Bộ San hô sừng Gorgonacea