Tuy nhiên không phải ai cũng tiếp xúc được công nghệ, cụ thể là đối với những người khiếm thính việc thao tác sử dụng máy tính, truy cập internet dường như đối với họ là không thể nếu kh
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2KT CNTT là chiếc chìa khóa vàng giúp người KT tiếp cận với thế giới bên ngoài
Vì thế hơn bất cứ ai, người KT có nhu cầu tiếp cận CNTT rất lớn CNTT giúp người
KT nắm bắt mọi thông tin bên ngoài, giúp họ mở mang kiến thức trong mọi lĩnh vực
và tạo lập các mối quan hệ Không những thế, CNTT còn trở thành kế sinh nhai của không ít người KT Anh Hoàng Xuân Hạnh, Giám đốc Trung tâm Hoàng Kim, một người khiếm thị chia sẻ: “Là một giáo viên ngày ngày dạy công nghệ thông tin cho người khiếm thị, tôi hiểu rất rõ tác dụng to lớn của công nghệ thông tin đối với người khiếm thị Từ khi được học máy vi tính, người khiếm thị đã có phương tiện học tập, nâng cao trình độ hiểu biết.”
Kết quả nghiên cứu mới đây được công bố của cơ quan phụ trách vấn đề người
KT Nomensa cho biết: có tới 97% Website toàn cầu không đáp ứng ngay cả những tiêu chuẩn tối thiểu nhất về tính dễ truy cập cho người KT Như vậy chúng ta đang
bỏ quên khoảng 600 triệu người KT - tương đương với khoảng 10% dân số thế giới Tại Việt Nam, nhận thấy vai trò quan trọng của CNTT đối với người KT, Bộ Thông tin và truyền thông đã quan tâm nghiên cứu các biện pháp nhằm hỗ trợ người
KT tiếp cận CNTT như việc ban hành Thông tư số 28/2009/TT-BTTTT ngày 14/9/2009 quy định việc áp dụng tiêu chuẩn, công nghệ hỗ trợ người KT tiếp cận CNTT&TT Kèm theo Thông tư này là Danh mục tiêu chuẩn hỗ trợ người KT tiếp cận, sử dụng CNTT&TT Trên cơ sở Danh mục tiêu chuẩn hỗ trợ người KT, Bộ TT&TT cũng đang từng bước nghiên cứu xây dựng các tiêu chuẩn quốc gia tương ứng trong danh mục để từng bước cụ thể hóa áp dụng phù hợp và thuận tiện tại Việt Nam, nhằm góp phần nâng cao điều kiện sống, làm việc cho người KT
Trang 3Tuy nhiên, số người KT ở Việt Nam được tiếp cận với CNTT và ứng dụng nó vào cuộc sống vẫn là số ít Nguyên nhân chủ yếu là do hầu hết các phần mềm trên Internet chưa chú ý đến các giải pháp hỗ trợ kỹ thuật cho những người KT, hầu hết các phần mềm học CNTT đều chưa hộ trợ được cho người KT… Thời gian vừa qua, thực hiện Thông tư số 28/2009/TT-BTTTT ngày 14/9/2009 của Bộ TT&TT, tất cả các ngành, các cấp và cả các doanh nghiệp đã và đang triển khai tích cực các biện pháp giúp người KT hòa nhập với cuộc sống, trong đó có việc tiếp cận và ứng dụng CNTT vào cuộc sống
Hàng năm Bộ TT&TT tổ chức giải thưởng “Hiệp sỹ CNTT” để vinh danh
những người có đóng góp cho việc đưa CNTT đến với người KT và những người
KT có thành tích trong lĩnh vực CNTT Công ty Sitec phối hợp với nhóm sinh viên VCR (ĐH BK TP.HCM) phát triển phần mềm hỗ trợ âm thanh Braille giúp người
mù có thể dùng được máy tính Sau đó là phần mềm NDC để có thể soạn thảo tiếng Việt Tháng 10 vừa qua, cổng thông tin nghề nghiệp của người khiếm thị Thegioimatxa.net đã chính thức ra mắt và đi vào hoạt động Cổng thông tin do Công
ty Eastern Sun Việt Nam (ESVN) cùng với Trung tâm hướng nghiệp và hỗ trợ việc làm Hoàng Kim phối hợp triển khai “Trong thời gian tới, ESVN sẽ tiếp tục hỗ trợ
để mô hình này được nhân rộng không chỉ cho người khiếm thị mà còn cho cả những người KT khác nữa, góp phần nhỏ bé của mình vào mục tiêu chung của đất nước” (Ông Đào Quang Dũng, Chủ tịch HĐQT, kiêm TGĐ Công ty ESVN)
Để người KT có thể tiếp cận với CNTT đã là một điều khó khăn, việc giúp họ ứng dụng CNTT vào cuộc sống lại càng khó khăn hơn gấp bội Các cơ quan chức năng cần đưa ra các biện pháp, quy định cụ thể để hỗ trợ người KT trong việc tiếp cận CNTT Bên cạnh đó, cần sự phối hợp của các bộ, ban, ngành liên quan và cả các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực CNTT
Do vậy, dạy tin học cho trẻ KT là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa không chỉ cho bản thân người KT mà còn có ý nghĩa thực tiễn cao Bởi nó không chỉ giúp họ tiếp cận với tri thức dễ dàng hơn mà còn giúp họ dễ giao tiếp với mọi người hơn Ngoài ra, nó còn giúp họ có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân giảm đi gánh nặng cho gia đình và xã hội Từ đó họ sẽ tự tin bước vào cuộc sống để
Trang 4cống hiến cho đời và khẳng định giá trị bản thân Ngày nay, người ta quan niệm rằng không biết tin học là mù chữ nên việc dạy tin trong các trường nhà trường càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Hơn nữa, ngày nay, khoa học công nghệ đã dần trở nên quen thuộc với chúng ta, là một phần thiết yếu trong cuộc sống Từ hoạt động đọc báo, xem tin tức, hay mua hàng online thông qua website đã giúp tiết kiệm được thời gian, cũng như khoản chi phí không cần thiết, thuận tiện cho cả người tiêu dùng và nhà đầu tư Tuy nhiên không phải ai cũng tiếp xúc được công nghệ, cụ thể
là đối với những người khiếm thính việc thao tác sử dụng máy tính, truy cập internet dường như đối với họ là không thể nếu không được đào tạo vì người khiếm thính không có khả năng phát triển ngôn ngữ nên tư duy của họ không thể phát triển bình thường nếu không thông qua quá trình giáo dục Vì thế các hướng dẫn bình thường
họ sẽ khó lòng hiểu được
Nhận thức được vấn đề cấp thiết này nên giáo dục đã không ngừng cải cách cho phù hợp với xu thế của thời đại Tin học đã được công nhận là môn chính ở cấp trung học phổ thông và dần dần ở cấp tiểu học cũng được biết đến và ngày nay cũng
đã được đưa vào các trường mầm non Thế nhưng họ đã quên mất một đối tượng nữa cũng cần được quan tâm đến việc cải cách nhất là việc đưa tin học vào môi trường học tập đó là người KT Dường như họ đã bị bỏ quên trong chương trình cải cách giáo dục của nước ta trong khi thành phần này có số lượng không nhỏ riêng trẻ
em đã gần một triệu người Họ cũng cần được công nhận quyền được học tập như bao người khác, họ rất cần được chương trình học thiết thực, một phương pháp phù hợp và thiết bị đầy đủ Trong các KT của con người thì khiếm thính được xem là loại KT nhẹ nhàng nhất Tuy nhiên, thực tế các em bé khiếm thính bẩm sinh vì không thể nghe được các âm thanh trong đời sống hàng ngày nên không thể phát triển ngôn ngữ và đã gặp rất nhiều khó khăn trong đời sống
Vì thế chúng tôi muốn đi sâu sát vào vấn đề dạy tin học cho trẻ KT với đề tài:
“Thực trạng và giải pháp dạy tin học cho học sinh khiếm thính tại các cơ sở
chuyên biệt thành phố Đà Nẵng” Bởi tin học không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế,
xã hội mà còn có ý nghĩa trong lĩnh vực y tế, nó cũng là một trong những phương pháp trị liệu, phục hồi chức năng cho người KT Qua đề tài này chúng tôi muốn thay
Trang 5những con người chịu nhiều thiệt thòi, đau khổ này trình bày khát khao của mình với xã hội, đồng thời muốn mọi người “hãy cho tôi một cơ hội” để họ khẳng định vị trí của mình trong xã hội
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
a Đối tượng nghiên cứu :
+ Nghiên cứu nội dung chương trình SGK, phương pháp giảng dạy, các yếu tố ảnh hưởng đến việc dạy tin học, sự quản lý của các ngành giáo dục và các tổ chức tài trợ, đài thọ cho những học sinh này
+ Nghiên cứu thực trạng dạy và học tin học ở trẻ khiếm thính
b Phạm vi nghiên cứu:
+ Nghiên cứu thực tiễn tại 2 trường có trẻ khiếm thính :
Trường chuyên biệt Tương Lai:
+ Cơ sở 1: 22 Trần Bình Trọng, Đà Nẵng
+ Cơ sở 2: 102 Huy Cận, Quận Cẩm Lệ, Đà Nẵng
Trường chuyên biệt Thanh Tâm (đ/c 157B Phan Tứ, phường Mỹ An Quận Ngũ Hành Sơn)
- Từ đó có thể giúp những học sinh này một cách lĩnh hội tri thức mới, đồng thời qua công nghệ thông tin nói chung và tin học nói riêng có thể giúp cho các em
tự tin để giao tiếp với mọi người hơn Hơn nữa tin học và các ứng dụng của nó cũng
là một ngành mà nhiều em mong ước nên trong quá trình dạy nếu phát hiện những
Trang 6học sinh có năng khiếu giáo viên có thể giúp định hướng nghề nghiệp trong tương lai phù hợp với từng đối tượng để họ tự nuôi sống bản thân và khẳng định giá trị của mình trong cuộc sống
- Đối tượng khảo sát: Học sinh khiếm thính
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận: nghiên cứu, tìm hiểu thông qua các tài liệu, sách báo…
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp quan sát : Quan sát giờ học, điều kiện máy móc,cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học tin học của trẻ KT
+Phương pháp khảo sát :
Phỏng vấn, trò chuyện
Phiếu điều tra
- Sử dụng các phương pháp toán học nhằm: Tổng hợp ý kiến, tính tỷ lệ phần trăm trong phiếu khảo sát và lập biểu đồ
5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu:
a Ý nghĩa lý luận :
Ngày nay, sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin và truyền thông đóng một vai trò không nhỏ trong sự phát triển chung của nhân loại Trong thế giới hiện đại tin học là một lĩnh vực khoa học – công nghệ mũi nhọn quyết định sự phát triển của nhiều ngành nghề khác nhau đặc biệt là trong ngành giáo dục
Trong xu thế hội nhập và phát triển của đất nước, Bộ GD-ĐT đã đưa tin học trở thành môn học chính thức trong các trường học nhằm định hướng cho các em sớm tiếp cận với các công nghệ hiện đại Tuy nhiên, đây vẫn còn là một lĩnh vực khá mới
mẻ trong các trường học nên còn gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình dạy và học Đối với các em KT nói chung và các em khiếm thính nói riêng việc hòa nhập với cuộc sống sinh hoạt hàng ngày đã gặp vô vàn khó khăn thì việc học lại càng vất vả bội phần Các em cần có một chương trình học tập phù hợp, phương pháp giảng dạy
Trang 7dễ hiểu để các em có thể tiếp thu kiến thức tốt hơn Hiểu được tầm quan trọng của vấn đề trên, nhóm chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu thực trạng việc dạy và học môn tin của trẻ khiếm thính và thông qua đó đưa ra một số giải pháp nhằm giúp các em
học tập đạt hiệu quả hơn
b Ý nghĩa thực tiễn:
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng của việc dạy tin học cho trẻ khiếm nhằm đưa
ra các phương pháp dạy học phù hợp cho đối tượng này
- Giúp cán bộ hiểu thêm những khó khăn của các em và những ước muốn nghề nghiệp trong tương lai để giúp đỡ các em thực hiện được ước muốn của bản thân
- Đề xuất các chương trình dạy phù hợp đối với từng đối tượng
c Hướng phát triển đề tài:
- Xây dựng phần mềm luyện nghe cho trẻ khiếm thính
- Xây dựng trang web học tập cho từng đối tượng riêng
- Xây dựng khung chương trình có nội dung phù hợp với từng đối tượng học sinh
6 Nhiệm vụ của đề tài:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng dạy tin học đối với các trường chuyên biệt ở thành phố Đà Nẵng
- Đề xuất các giải pháp
Trang 8CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC TRẺ KHIẾM THÍNH TRONG TRƯỜNG CHUYÊN BIỆT
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu:
Theo cục thống kê Đà Nẵng cho biết: Thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên là 1.255,53 km2; trong đó, các quận nội thành chiếm diện tích 213,05 km2, các huyện ngoại thành chiếm diện tích 1.042,48km2
Đà Nẵng là một thành phố lớn nhất ở miền Trung Việt Nam, đồng thời là trung tâm kinh tế (cảng biển và công nghiệp), giáo dục (với 5 trường đại học, Cao đẳng), văn hóa (Khu di tích Chămpa và thánh địa Mỹ Sơn) Kết quả thống kê gần nhất cho thấy Đà Nẵng có tổng số dân là 887,069 người, là thành phố đông dân thứ 5 của Việt Nam Với gần 90% dân số ở thành thị Các dân tộc chính của Đà Nẵng là Kinh, Hoa, Cơ tu và Tày Đà Nẵng có nhiều đặc điểm văn hóa đặc thù cho khu vực miền Trung, chịu ảnh hưởng của điều kiện khí hậu khắc nghiệt với lũ lụt và hạn hán triền miên Ảnh hưởng về mặt địa lí này cũng góp phần làm nên tính cách kiên cường của người dân Đà Nẵng, vốn sống cuộc đời giản đơn nhằm cho phép họ nhanh chóng hồi phục sau những khó khăn
Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ngành GD-ĐT Đà Nẵng đã có bước chuyển mình thực sự Khởi đầu là hội nghị CNTT (năm 2001) trong ngành GD-ĐT
Đà Nẵng thu hút sự tham gia của các sở, ngành khu vực ven biển miền Trung Sau hội nghị này, mọi chiến lược đẩy mạnh môn tin học được định hình rõ nét, ngân sách địa phương đầu tư cho ngành GD CNTT liên tục phát triển Cũng từ đó, tình hình giáo dục cho người KT ngày càng được chú trọng và đẩy mạnh Người KT đã từng bước vượt lên những khó khăn, khuyết điểm của mình để từng bước hòa nhập với cuộc sống, tham gia học tập, lao động và cống hiến hết mình cho đất nước Nhìn chung, hầu hết các trường đều được trang bị máy vi tính và các phương tiện phục vụ cho các em tham gia học tập môn tin Theo chỉ thị của UBND thành phố đang lập đề án huy động vốn từ phụ huynh học và các công ty đóng trên địa bàn Không chỉ nỗ lực trong công tác đào tạo, nhiều năm qua, ngành GD-ĐT Đà Nẵng còn đạt được nhiều tiến bộ trong công nghệ ứng dụng các phần mềm phục vụ
Trang 9quản lý Ngoài ra, Sở GD&ĐT cũng nhận thấy lực lượng giáo viên giảng dạy môn tin học tại các trường nói chung và các trường dạy trẻ KT toàn thành phố nói riêng
là quá mỏng, chủ yếu từ môn toán hoặc môn lý chuyển sang Năng lực giảng dạy của các giáo viên rất hạn chế, chưa được đào tạo chuyên sâu theo đặc thù giáo dục ở các trường chuyên biệt, để đáp ứng nhu cầu học tập môn tin học cho các em KT Vì thế, Sở GD-ĐT đã có kế hoạch bồi dưỡng, tổ chức các lớp tập huấn về sử dụng CNTT trong công tác giảng dạy nhất là chuyên môn hóa đội ngũ dạy tin
Theo điều tra của của Viện Chiến lược và phát triển chương trình giáo dục đặc biệt thì trẻ khiếm thính chiếm tỷ lệ khoảng 20% trong tổng số trẻ KT Như vậy, sự tồn tại của trẻ khiếm thính là một thực tế khách quan ở tất cả các nước trên thế giới
và trong mọi giai đoạn lịch sử khác nhau của xã hội loài người
Trong lịch sử giáo dục trẻ KT, giáo dục trẻ khiếm thính luôn là mối quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia Các mô hình giáo dục trẻ khiếm thính ra đời sớm hơn nhiều so với mô hình giáo dục trẻ KT ở các dạng khác Đồng thời giáo dục trẻ khiếm thính cũng là đề tài có nhiều ý kiến và chứa đựng những ẩn số khác nhau giữa các nhà giáo dục đặc biệt, nhà tâm lý học, xã hội học,…
Bắt đầu từ thế kỷ XVI, những thành tựu to lớn của nhiều ngành khoa học, đặc biệt là y học đã xuất hiện những quan điểm trong cách giải thích về trẻ khiếm thính
Y học cho rằng, tật khiếm thính là do những nguyên nhân khác nhau từ bản thân đứa trẻ Giáo dục chuyên biệt là mô hình xuất hiện sớm nhất trong lịch sử giáo dục trẻ khiếm thính, nó được thực hiện từ những năm đầu của thế kỷ XVI, ở các nước Pháp (1784), Đức (1808), Italy (1818), Mỹ (1817) và một số nước châu Âu khác Các trường chuyên biệt phát triển mạnh mẽ trong những năm cuối của thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và rất ít thay đổi cho đến ngày nay
Trong xu thế phát triển chung của giáo dục trẻ KT, giáo dục trẻ khiếm thính có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, đặc biệt là trong năm thập kỷ cuối của thế kỷ
XX xuất hiện nhiều trường dạy trẻ khiếm thính theo những phương pháp khác nhau Trường phái theo “Phương pháp câm” của Pháp đề xướng vào năm 1776 Trường phái này cho rằng trẻ bị câm điếc thì không có khả năng tiếp nhận âm thanh,
Trang 10ngôn ngữ, chỉ có khả năng học những ngôn ngữ cử chỉ, điệu bộ Việc sử dụng ngôn ngữ cử chỉ, điệu bộ trong giáo dục trẻ khiếm thính làm trẻ mất hoàn toàn khả năng lĩnh hội ngôn ngữ nói Cách dạy này hạn chế rất nhiều tư duy ngôn ngữ trẻ
Trường phái theo “Phương pháp nói” thì ngược lại, đây là hệ thống giáo dục của Đức xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, họ cho rằng trẻ khiếm thính có thể phát triển được, đặc biệt là phát triển tư duy thông qua giáo dục bằng ngôn ngữ nói Đây
là ý tưởng rất tốt đẹp Tuy nhiên, trong thực tế phương pháp này hết sức khó khăn, thậm chí không thể làm được nếu không sử dụng đến ngôn ngữ cử chỉ, điệu bộ Trước những ưu điểm và tồn tại của hai phương pháp trên, những người theo trường phái thứ ba đã sử dụng phương pháp hỗn hợp Theo hướng này, người ta sử dụng cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ cử chỉ, điệu bộ để dạy trẻ khiếm thính Song ngay cả phương pháp này cũng có nhiều ý kiến khác nhau Một số thì dùng ngôn ngữ nói nhiều hơn, số khác thì ngược lại Thực tế chỉ có trên cơ sở phân tích đối tượng trẻ khiếm thính cụ thể mới chọn được phương pháp thích hợp và hiệu quả
Cũng đề cập đến vấn đề trên, trong cuốn sách Các lựa chọn trong giao tiếp và
việc giáo dục trẻ điếc của Wendy Lynar đã chỉ rõ những ưu điểm, nhược điểm, cách
sử dụng, quan điểm, thái độ đối với phương pháp dùng lời và phương pháp giao tiếp tổng thể Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến một phương pháp hoàn toàn mới, chưa được thử nghiệm và áp dụng rộng rãi nhưng gần đây đã thu hút được sự chú ý của rất nhiều người, đó là “Phương pháp song ngữ” Tiếp theo là công trình nghiên cứu của M.Johnson vào năm 1963 dưới sự chỉ đạo của Bộ GD&ĐT Anh, nghiên cứu của J.C.Johnson vào năm 1962, của Conrad vào khoảng những năm 1970 cũng tại Anh
đã tiến hành nghiên cứu kết quả học tập của học sinh khiếm thính Conrad khẳng định: “Chính sự suy giảm thính lực là nguyên nhân chính hạn chế khả năng học tập của trẻ khiếm thính chứ không phải do môi trường học tập, đặc biệt là đối với trẻ khiếm thính nặng và sâu”
Việc dạy trẻ khiếm thính theo các lớp chuyên biệt được đưa vào Việt Nam từ thế kỷ XIX Đầu tiên là trường dạy trẻ khiếm thính ở Lái Thiêu – Sông Bé, nay là Trung tâm Giáo dục trẻ KT Thuận An Ở đây, trẻ được giáo dục theo “phương pháp
Trang 11câm”, các em học ngôn ngữ cử chỉ, điệu bộ Qua nhiều giai đoạn phát triển, đến nay trường vẫn còn với số học sinh khoảng 200 – 250 học sinh khiếm thính theo học Năm 1979, trường dạy trẻ khiếm thính Xã Đàn – Hà Nội ra đời Tiếp theo là hàng loạt các trường dạy trẻ khiếm thính ở các tỉnh được thành lập do quyết định của chính quyền địa phương: Trường dạy trẻ khiếm thính Hải Phòng (1978), trường dạy trẻ khiếm thính huyện Phù Tiên (Hải Hưng), Đông Hưng (Thái Bình), Ba Thá (Hà Sơn Bình),…Vào những năm 80, thành phố HCM đã thành lập trường dạy trẻ khiếm thính với cái tên chung là “Hy Vọng” ở các quận 1, 4, 5, 8, Gò Vấp, Bình Thạnh,… Riêng ở Đà Nẵng cũng đã có vài cơ sở dạy trẻ khiếm thính (Làng Hy Vọng, Trường CB tư thục Thanh Tâm, trường Tiểu học CB Tương Lai)
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song tỷ lệ trẻ KT được đến lớp học hiện nay là quá
ít Trong tổng số 28 triệu trẻ em hiện nay, số trẻ KT ước tính là 950.000 em (3,47%) Trong đó chỉ khoảng gần 230.000 (24,22%) trẻ KT đi học ở các loại hình trường lớp, chưa đạt đến một nửa chỉ số 50% mà Viện Chiến lược phát triển GD&ĐT đề ra năm 2005 Một vấn đề quan trọng là hệ thống mạng lưới trường lớp dành cho giáo dục trẻ KT nói chung và trẻ khiếm thính nói riêng chưa được tập trung, thống nhất Các cơ sở này được tổ chức dưới nhiều hình thức như công lập, bán công, dân lập do các cơ quan khác nhau quản lý Tình trạng này gây trở ngại cho việc chỉ đạo thống nhất hướng đi cũng như nội dung, chương trình, phương pháp dạy trẻ khiếm thính,
từ đó ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục trong nhiều năm liền Kể từ năm 1995, theo Nghị định 26/CP của Chính phủ thì tất cả các trường dạy trẻ KT đều do Ngành
GD quản lý Tuy nhiên, cho đến nay Bộ GD&ĐT vẫn chưa ban hành qui chế, nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy, sách giáo khoa,… cho các trường dạy trẻ điếc Hiện nay, ở nước ta có ba trung tâm lớn nghiên cứu vấn đề giáo dục trẻ khiếm thính: Viện Chiến lược và Phát triển Chương trình Giáo dục, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Giáo dục Đặc biệt thuộc trường ĐH Sư phạm Hà Nội, Trung tâm nghiên cứu và Giáo dục trẻ KT thành phố HCM
Cùng với việc phát triển các trường lớp dành cho trẻ khiếm thính có rất nhiều công trình nghiên cứu về việc giáo dục trẻ khiếm thính trong trường chuyên biệt như các nghiên cứu của Trung tâm Tật học – Viện Chiến lược Giáo dục, của TS Lê Văn
Trang 12Tạc – khoa GD Đặc biệt – trường ĐH Sư phạm Hà Nội Năm 1998, Bộ GD&ĐT, Trung tâm tật học – Viện Chiến lược Giáo dục đã đưa ra “Chương trình các môn học dành cho trẻ điếc bậc Tiểu học”, được biên soạn dựa trên kiến thức và nội dung của
chương trình Tiểu học hiện hành Bên cạnh đó còn có một số cuốn sách như Nội
dung và phương pháp dạy trẻ điếc, Giáo dục trẻ KT thính giác Đây là những tài liệu
rất quan trọng cho các giáo viên đang dạy học cho trẻ khuyết thính
Đã có rất nhiều công trình viết về vấn đề giáo dục trẻ em khiếm thính ở trong nước cũng như ở nước ngoài Nhưng vấn đề dạy học môn Tin học cho các trẻ khiếm thính vẫn chưa được quan tâm đến Đây là lĩnh vực còn phải nghiên cứu rất nhiều, cần phải đầu tư công sức, tài chính, tâm huyết, đòi hỏi nhiều công trình nghiên cứu của các nhà giáo dục, các chuyên gia tật học, cũng như việc tổng kết, đánh giá, đúc kết kinh nghiệm từ thực tế của các trường dạy trẻ khiếm thính Thực tế, tài liệu nói
về việc dạy Tin học cho trẻ khiếm thính ở thành phố Đà Nẵng chưa được nghiên cứu
và đầu tư một cách thỏa đáng trên qui mô thành phố, cũng như tại các cơ sở đào tạo
1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu
1.2.1 Khái niệm về quá trình dạy học và phương pháp dạy học
1.2.1.1 Khái niệm về quá trình dạy học
Quá trình dạy học là một quá trình điều khiển hoạt động và giao lưu của học
sinh nhằm đạt được các mục tiêu dạy học Đây là quá trình điều khiển con người chứ không phải là điều khiển máy móc Vì vậy, cần quan tâm tới cả yếu tố tâm lý như học sinh có sẵn sàng, có hứng thú thực hiện hoạt động này hay hoạt động khác Quá trình dạy học có hai hoạt động gắn liền với nhau bao gồm việc dạy của thầy và việc học của trò mà đối tượng lĩnh hội của việc học là nội dung môn học, còn bản thân việc học lại là đối tượng điều khiển của việc dạy Trong đó thầy giữ vai trò chủ đạo và trò giữ vai trò chủ động
1.2.1.2 Khái niệm về phương pháp dạy học:
Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động và giao lưu của thầy gây nên
Trang 13Luật giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định:
“phương pháp giáo dục phải phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy, sáng tạo của học sinh phù với đặc điểm của từng lớp học, môn học Bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại hứng thú học tập của học sinh” Thật vậy, sự phát triển xã hội và đổi mới đất đang đòi hỏi cấp bách phải nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo
- Hoạt động dạy : Dưới ảnh hưởng của các nhân tố khác nhau, đặc biệt là sự tác
động qua lại với học sinh Trong quá trình dạy, trình độ chuyên môn, trình độ nghiệp vụ sư phạm, trình độ hoạt động xã hội của thầy đã không ngừng được nâng cao Không những thế những mặt khác trong nhân cách của người thầy cũng được hoàn thiện Do đó, hoạt động dạy ngày càng đáp ứng yêu cầu cao của quá trình dạy
- Hoạt động học : Dưới ảnh hưởng của nhiều nhân tố, đặc biệt là người thầy và
hoạt động dạy, học sinh và hoạt động học không ngừng được phát triển Từ chưa ý thức được đầy đủ, chính xác đến ý thức được đầy đủ hơn, chính xác hơn, sâu sắc hơn mục đích, nhiệm vụ học tập Từ chưa biết đến biết ngày càng sâu sắc và hoàn thiện Từ nắm được tri thức đến nắm kỹ năng, kỹ xảo ngày càng ở mức độ cao
1.2.1.3 Khái niệm giáo dục chuyên biệt :
Giáo dục chuyên biệt là hình thức tách trẻ em có các dạng KT khác nhau vào học trong các cơ sở giáo dục riêng Mỗi lớp học có nhiều trẻ KT ở những mức độ
KT khác nhau, không giống nhau về năng lực Vì vậy, trẻ cần được học trong những trường lớp riêng biệt, chương trình học riêng, phương tiện dạy – học riêng
1.2.2 Khái niệm trẻ KT :
1.2.2.1 Khái niệm trẻ KT
Trẻ KT là những đứa trẻ bị tổn thương về cơ thể hoặc rối loạn các chức năng nhất định gây nên những khó khăn đặc thù trong các hoạt động học tập, vui chơi và lao động
Trang 14Trẻ KT có thể tham gia các hoạt động như mọi thành viên khác trong cộng đồng Tuy nhiên, trẻ có được tham gia các hoạt động đó để thể hiện và phát triển các tiềm năng của bản thân hay không còn tùy thuộc phần lớn vào sự tạo điều kiện của cộng đồng và toàn xã hội Để tồn tại và phát triển, trẻ KT có những nhu cầu như mọi trẻ em khác, gồm: nhu cầu về thể chất (ăn, mặc, ở); nhu cầu được an toàn (được che chở); nhu cầu xã hội (được giao lưu, tiếp xúc với những người xung quanh); nhu cầu được quan tâm và tôn trọng; nhu cầu phát triển nhân cách
Do những khó khăn đặc thù, trẻ KT có những nhu cầu đặc thù để có thể tham gia vào các loại hình hoạt động khác nhau Chẳng hạn trong học tập: trẻ khó khăn về nghe cần các phương tiện trợ thính và môi trường nghe – nói thuận lợi, hoặc các hình thức giao tiếp qua kênh thị giác thay thế ngôn ngữ nói thuần túy; trẻ khó khăn
về nói cần được giúp sửa lỗi phát âm hoặc hướng dẫn các hình thức biểu đạt thay thế trong quá trình bài học
1.2.2.2 Khái niệm trẻ khiếm thính
Hiện nay có hai quan điểm chính về cách nhìn nhận trẻ khiếm thính hay tật điếc: quan điểm lâm sàng và quan điểm tôn trọng văn hóa
- Quan điểm lâm sàng: (còn gọi là quan điểm y học hay quan điểm bệnh học) Quan điểm này nhìn nhận trẻ khiếm thính trong việc so sánh với khả năng nghe bình thường và ảnh hưởng của khả năng nghe đến khả năng sử dụng ngôn ngữ nói và khả năng giao tiếp Quan điểm này cho rằng: trẻ khiếm thính là những trẻ bị mất hoặc suy giảm về sức nghe kéo theo những hạn chế về phát triển ngôn ngữ nói cũng như khả năng giao tiếp
Dựa vào mục đích riêng của từng chuyên ngành, trẻ khiếm thính được phân loại khác nhau Ngành Tai – Mũi – Họng và Thính học với mục đích chữa trị và can thiệp, căn cứ vào bản chất và vị trí tổn thương, phân loại trẻ khiếm thính theo các dạng: điếc dẫn truyền, điếc tiếp nhận,… Ngành Giáo dục với mục đích giáo dục và phát triển, trẻ khiếm thính được phân loại dựa trên hai cơ sở: khả năng nghe còn lại
và thời gian xuất hiện khiếm thính
Trang 15Căn cứ vào khả năng nghe còn lại, được đo bằng âm thanh đơn trong dải tần từ 500Hz đến 4.000Hz, trẻ khiếm thính được chia thành bốn mức độ khác nhau:
Mức 3: Khiếm thính ở mức độ nặng
Mất thính lực từ 71 – 90 dB Trẻ chỉ nghe được tiếng nói to, sát tai Mức 4: Khiếm thính ở mức độ sâu
Mất thính lực trên 90 dB
Trẻ hầu như không nghe được, trừ một số
âm thanh thật to như tiếng sấm, tiếng trống
to
Bảng 1: Mức độ khiếm thính
Trẻ khiếm thính ở mức độ 1 và 2 được gọi là trẻ nghễnh ngãng, ở mức độ 3 và
4 gọi là trẻ điếc Theo thời gian xuất hiện khiếm thính, trẻ khiếm thính được chia thành hai loại: trước 2 tuổi – giai đoạn hình thành ngôn ngữ nói cơ bản và sau 2 tuổi– giai đoạn phát triển ngôn ngữ sau khi ngôn ngữ nói đã cơ bản được hình thành
- Quan điểm tôn trọng văn hóa: đặc thù coi khiếm thính là hiện tượng bình thường, không phải là bệnh hay KT cần phải phòng ngừa hay chữa trị Khả năng nói
và nghe không phải là mục tiêu thực tế của người khiếm thính, vì họ đã sử dụng ngôn ngữ ký hiệu Người khiếm thính tự hào là nhóm thiểu số trong xã hội, “Thời gian gần đây, một số người đã đề xuất thành lập Trung tâm nghiên cứu khiếm thính nhằm phát hiện sớm, chữa trị và phòng ngừa tật này Nhiều người điếc đã phản đối
vì họ là nhóm thiểu số và yêu cầu Chính phủ không được miệt thị người thiểu số”
1.2.3 Các mô hình giáo dục trẻ KT
- Mô hình giáo dục chuyên biệt
Trang 16Giáo dục chuyên biệt là các cơ sở giáo dục riêng dành cho trẻ KT, thường thì các trẻ có chung một dạng tật được đưa vào cùng một nhóm Đây là mô hình xuất hiện sớm nhất trong lịch sử giáo dục trẻ KT Đầu tiên, một số tu sĩ tập trung những trẻ mù, trẻ điếc – câm vào các lớp học trong nhà thờ để dạy Dần dần cách tập trung những trẻ KT để dạy được phát triển ở nhiều nước và trở thành hệ thống các trường chuyên biệt dạy trẻ KT Mỗi loại trẻ KT lại được chia thành những loại nặng, nhẹ khác nhau được dạy trong những lớp học, trường riêng Ở đây trẻ được dạy theo chương trình riêng theo những phương pháp riêng, tách biệt với hệ thống quốc dân
- Mô hình giáo dục hội nhập
Giáo dục hội nhập là phương thức giáo dục trẻ KT trong lớp học chuyên biệt được đặt trong trường phổ thông bình thường, trẻ KT nào có “khả năng” sẽ được học chung một số môn học hoặc tham gia một số hoạt động cùng với trẻ bình thường Về bản chất vẫn dựa vào mô hình y tế - mô hình phục hồi chức năng Trẻ được xếp vào các nhóm, mức độ tật khác nhau Sau khi “xét thấy” đã có sự phát triển gần với trẻ lành, trẻ được đưa vào trong trường phổ thông ở một số tiết học hoặc tham gia vào một số hoạt động cùng với trẻ lành
Ture Johson đã đưa ra khái niệm về các mức độ hội nhập như sau:
1 Hội nhập về thể chất
Trẻ lành với trẻ KT được giao lưu với nhau hay cùng chơi với nhau trong một địa điểm, trong cùng một thời gian nhất định
2 Hội nhập chức năng Trẻ lành và trẻ KT được tham gia cùng nhau trong một
số hoạt động như thể dục, vẽ
3 Hội nhập xã hội
Trẻ cùng được học với nhau trong một trường nhưng theo những chương trình khác nhau, có những giờ học chung và có cả những giờ học riêng tùy theo môn học
và khả năng học của trẻ
4 Hội nhập hoàn toàn Trẻ học tập như trẻ lành theo một chương trình cứng
bắt buộc
Trang 17Thực chất các khái niệm trên đã sắp xếp trẻ thành các loại khác nhau và gây ra không ít khó khăn cho các trường khi giảng dạy Một loạt vấn đề cần được giải quyết khi giáo dục hội nhập theo kiểu này như: Khi nào thì hội nhập về thể chất? Khi nào thì hội nhập về chức năng? Ai là người quyết định cho trẻ các mức đó? Kết quả nhiều năm tiến hành hội nhập cho thấy, học sinh tuy có nhiều tiến bộ
về mặt xã hội, có thêm nhiều bạn bè nhưng mô hình này cũng bộc lộ nhiều hạn chế:
- Học sinh KT chưa thực sự được hòa nhập với học sinh lành
- Việc học tập của trẻ trong các lớp chuyên biệt theo một chương trình riêng không trùng lặp với các lớp khác nên trẻ không thích ứng được
1.2.3.3 Giáo dục hòa nhập
Giáo dục hòa nhập là phương pháp giáo dục trong đó trẻ KT cùng học chung
với trẻ bình thường, trong trường phổ thông ngay tại nơi trẻ sinh sống
Quan điểm về giáo dục hòa nhập
Giáo dục hòa nhập dựa trên quan điểm xã hội trong việc nhìn nhận trẻ KT Nguyên nhân gây ra KT không phải chỉ do khiếm khuyết của bản thân trẻ mà còn là khiếm khuyết từ xã hội Trong đó, khiếm khuyết từ xã hội là chủ yếu Trẻ KT về vận động như bại liệt sẽ mất khả năng nếu không có các phương tiện đi lại, không được tham gia các hoạt động xã hội, sẽ trở thành tàn phế nếu không có người chăm sóc, giúp đỡ Nhưng cũng trẻ đó, nếu được hỗ trợ, có phương tiện đi lại và tham gia các hoạt động thì trẻ đó sẽ có cơ hội bình đẳng và phát triển như những trẻ khác
Giáo dục hòa nhập dựa trên quan điểm tích cực, đánh giá đúng trẻ KT: trẻ KT được nhìn nhận như mọi trẻ em khác, mọi trẻ KT đều có những năng lực nhất định
Từ đó, người ta tập trung quan tâm, tìm kiếm những cái mà trẻ KT có thể làm được Các em sẽ làm tốt khi những việc đó phù hợp với nhu cầu và khả năng của các em Trong lớp hòa nhập, trẻ KT sẽ học cùng một chương trình, cùng lớp, cùng trường với những học sinh bình thường khác, trẻ KT được coi là trung tâm của quá trình giáo dục các em được tham gia đầy đủ và bình đẳng trong mọi công việc của
Trang 18nhà trường, của cộng đồng nhằm thực hiện mục tiêu “Trường học cho mọi trẻ em, trong một xã cho mọi người” Chính lý tưởng đó đã tạo cho trẻ KT niềm tin, lòng tự trọng, ý chí vươn lên để đạt đến mức cao nhất khả năng của bản thân trẻ
Bản chất của giáo dục hòa nhập
- Giáo dục cho mọi đối tượng học sinh Trong môi trường giáo dục hòa nhập không có sự phân biệt đối xử
- Học ở trường nơi mình sinh sống
- Mọi học sinh đều cùng hưởng một chương trình giáo dục phổ thông
- Thay đổi quan điểm và cách đánh giá học sinh KT là vấn đề cốt lõi để giáo dục hòa nhập đạt hiệu quả cao nhất Điều chỉnh chương trình là việc làm tất yếu của giáo dục hòa nhập nhằm tạo sự phù hợp với nhu cầu và khả năng khác nhau của mỗi đối tượng Giáo dục hòa nhập không đánh đồng mọi trẻ như nhau, mỗi trẻ là một cá thể riêng biệt, một nhân cách với năng lực khác nhau, với cách học, tốc độ học không như nhau Vì thế việc điều chỉnh chương trình phù hợp là một việc làm cần thiết
Trang 19cơ bản của sự vật (sự việc), cái làm cho sự vật này phân biệt với sự vật khác” Hoặc
“Chất lượng là mức hoàn thiện, đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ liệu, các thông số cơ bản của một sự vật, sự việc nào đó”
Hơn một thập kỷ trở lại đây trên thế giới đã có nhiều hội nghị về giáo dục được đề cập đến và mỗi hội nghị đưa ra một tuyên bố về một chủ đề về chất lượng của giáo dục, nhưng đó không phải là toàn bộ quan niệm về chất lượng của giáo dục Tuyên bố Jomtien-1990 đưa ra chủ đề chất lượng giáo dục gắn liền và mở rộng cơ hội học tập cho mọi người Tuyên bố Dakar – 2000 của UNESCO đưa ra 10 thành tố của chất lượng giáo dục đối với một cơ sở giáo dục, đó là:
1 Người học khỏe mạnh, được nuôi dưỡng tốt, được khuyến khích thường xuyên
để có động cơ học tập chủ động
2 Giáo viên thành thạo nghề nghiệp và được động viên đúng mức
3 Phương pháp và kỷ luật dạy học – học tập tích cực
4 Chương trình giáo dục thích hợp với người dạy và người học
5 Trang thiết bị, phương tiện và đồ dùng học tập, giảng dạy, học liệu và công nghệ thích hợp, dễ tiếp cận và thân thiện với người sử dụng
6 Môi trường học tập bảo đảm vệ sinh, an toàn, lành mạnh
7 Hệ thống đánh giá thích hợp với môi trường, quá trình GD và kết quả GD
8 Hệ thống quản lý giáo dục có tính cùng tham gia và dân chủ
9 Tôn trọng và thu hút cộng đồng cũng như nền văn hóa địa phương trong hoạt động giáo dục
10 Các thiết chế, chương trình giáo dục có nguồn lực thích hợp, thỏa đáng và bình đẳng (chính sách và đầu tư)
Có thể sắp xếp các yếu tố này trong ba thành phần cơ bản về chất lượng của một cơ sở giáo dục trên nền ngữ cảnh cụ thể (C-I-P-O):
Trang 20Sơ đồ 1 Chất lượng của một cơ sở giáo dục
Chất lượng giáo dục biểu hiện tập trung nhất ở nhân cách học sinh, thể hiện chủ yếu ở học lực và hạnh kiểm Chất lượng giáo dục biểu hiện qua các tiêu chí:
- Tri thức của người học đạt được trong quá trình học tập thể hiện bằng sự toàn diện, sâu sắc, hệ thống, chặt chẽ, vững chắc, khả năng đáp ứng nhanh
- Kỹ năng: là sự vận dụng kiến thức đã học vào trong thực hành, linh hoạt sáng tạo trong giải quyết các tình huống mà họ gặp phải Có khả năng tự học, tự vươn lên trong cuộc sống
- Thái độ biểu hiện trong mối quan hệ với tự nhiên, xã hội, công việc Là sự biểu hiện tính trung thực, ý thức thực hiện nội qui, pháp luật, cách ứng xử trong mối quan hệ với mọi người
Chất lượng giáo dục phụ thuộc vào nhiều điều kiện khách quan như: hoàn cảnh kinh tế - xã hội, các điều kiện vật chất và các điều kiện chủ quan như: chất lượng đội ngũ giáo viên, sự quan tâm phối hợp của gia đình,
1.2.4.2 Chất lượng giáo dục tin học ở trẻ khiếm thính:
Đánh giá chất lượng giáo dục môn tin học ở trẻ khiếm thính cần qua hệ thống tiêu chí gồm các nhóm sau:
Quá trình (Process)
VD:
- - Phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực
- - Hệ thống đánh giá thích hợp
- - Giáo viên thành thạo nghề nghiệp
NGỮ CẢNH (Context)
Cộng đồng cùng tham gia giáo dục Dân cư, Nhận thức và thái độ của cộng đồng, Tình trạng phát triển kinh tế - xã hội
Trang 21Nhóm 1: Nhân tố góp phần chất lượng (chỉ số đầu vào), gồm: quy mô phát triển trường, lớp, nhóm học sinh KT, cơ sở vật chất, môi trường giáo dục (địa điểm, diện tích lớp, trường…); Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên (số lượng và trình độ) tài chính, chế độ chính sách; Mức độ khiếm thính của các em học sinh (có 4 mức độ khiếm thính)
Nhóm 2: Nhân tố quyết định chất lượng (chỉ số quá trình), bao gồm: quan hệ giao tiếp (CBGV- trẻ - gia đình – cộng đồng); chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy của giáo viên…
Nhóm 3 : Nhân tố chất lượng sản phẩm của chất lượng giáo dục (chỉ số đầu ra)
đó là khả năng tiếp thu bài, mức độ hiểu biết môn học, kỹ năng mà các em thu nhận được trong quá trình học
1.2.5 Những lý luận chung về giáo dục trẻ khiếm thính trong trường CB.
1.2.5.1 Thông tin chung
Giáo dục đào tạo luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới bởi một lẽ “đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển” Đại hội lần thứ VII của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Thực hiện chủ trương này, Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm giáo dục cho tất cả các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh thiếu niên trong đó có trẻ KT Việc chăm sóc, giáo dục trẻ em bị KT không chỉ là một việc làm từ thiện mà đây là một việc làm có ý nghĩa kinh tế - xã hội Mối quan hệ giữa các yếu tố trong sơ đồ sau cho thấy mối liên hệ nhân quả giữa tình trạng đói nghèo và sự tàn tật
Sơ đồ 2 Mối liên hệ nhân quả giữa tình trạng đói nghèo và sự tàn tật
ĐÓI NGHÈO
SUY DINH DƯỠNG TÀN TẬT
KHÔNG ĐƯỢC GIÁO DỤC
Trang 22Nhiều công trình nghiên cứu của UNESCO và UNICEF đều đi đến kết luận: tình trạng đói nghèo thường dẫn đến tàn tật Trẻ em tàn tật không được giáo dục lại góp phần làm cho xã hội thêm đói nghèo Và đương nhiên là trình độ dân trí không thể nâng cao, nhân lực không thể tăng trưởng, nhân tài không thể nảy nở thuận lợi Đầu tư cho giáo dục trẻ KT là đầu tư để hạn chế “sự tàn tật”, để giảm bớt sự lạc hậu, nghèo khổ, đồng thời cũng là đầu tư góp phần đào tạo nhân lực cho xã hội, góp phần nâng cao dân trí cho con người
Đối với trẻ khiếm thính, kể cả những em ở mức độ nặng hoặc nhẹ, nếu các em không được giáo dục, không được phục hồi chức năng nghe và nói của các em này ngày càng suy giảm nghiêm trọng đến khi mất hoàn toàn Ngược lại nếu các em được giáo dục, các chức năng sẽ được khôi phục dần dần, đặc biệt là chức năng nghe và nói, các em sẽ tiếp thu được văn hóa và học được nghề, có điều kiện phát triển như một công dân bình thường
1.2.5.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục trẻ khiếm thính trong trường CB
để khi ra trường có một cuộc sống tự lập và bình đẳng với mọi người trong xã hội” Căn cứ vào mục tiêu chung trên, mỗi nơi, mỗi trường lại đề ra những mục tiêu
cụ thể cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng trường
1.2.5.2.2 Nhiệm vụ
Trường CB dạy trẻ khiếm thính phải đảm bảo những nhiêm vụ cơ bản sau:
- Nhiệm vụ thứ nhất là: Phục hồi chức năng nghe và nói, để làm công cụ và phương tiện giao tiếp, phát triển tư duy bằng lời của trẻ
Trang 23Trẻ khiếm thính khi đến trường không có ngôn ngữ như những đứa trẻ bình thường khác Việc giáo dục các em gặp rất nhiều khó khăn Cho nên, nhiệm vụ trước tiên của trường chuyên biệt dạy trẻ khiếm thính là phải hình thành và phát triển tiếng nói Thực hiện tốt nhiệm vụ cơ bản này sẽ giúp học sinh có điều kiện phát triển về nhiều măt
- Nhiệm vụ thứ hai là: Hình thành ở học sinh khiếm thính những phẩm chất tư tưởng và đạo đức xã hội chủ nghĩa, lấy năm điều Bác Hồ dạy làm nội dung cơ bản Giáo dục theo năm điều Bác Hồ dạy, nhà trường sẽ hình thành được ở học sinh những phẩm chất tốt đẹp của một con người trong xã hội và như vậy trẻ khiếm thính
sẽ sống hòa mình với mọi người chung quanh một cách bình đẳng và thân ái
- Nhiệm vụ thứ ba là: Nhà trường phải cung cấp cho học sinh khiếm thính một trình độ học vấn tương đương với cấp tiểu học
- Nhiệm vụ thứ tư là: Giáo dục lao động và hướng nghiệp cho học sinh điếc cần coi trọng ngang hàng với các bộ môn văn hóa và phải được đặt ra sớm hơn một bước so với học sinh bình thường cùng lứa tuổi Nhà trường cần dạy cho học sinh một vài nghề phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý cá nhân và đặc điểm kinh tế địa phương để khi ra trường các em có thể sống bằng nghề nghiệp đó
1.2.5.3 Nội dung giáo dục trẻ khiếm thính
Giáo dục trẻ KT thính giác được tiến hành theo ba nội dung cơ bản sau:
- Phục hồi chức năng nghe và nói: được thực hiện ở giai đoạn trước tuổi học và kéo dài trong suốt thời gian học ở trường CB, nó gắn liền với quá trình học văn hóa Việc này tùy thuộc mức độ nặng nhẹ của tật và khả năng phục hồi của từng em
- Dạy văn hóa: nhìn chung cơ bản giống như chương trình ở phổ thông Tuy nhiên nội dung được giảm bớt, có sự điều chỉnh cho phù hợp với khả năng của trẻ
- Hướng nghiệp và dạy nghề: phải thực hiện sớm hơn so với học sinh bình thường Việc này phụ thuộc vào khả năng và những hạn chế do tật nguyền gây ra Cho nên hướng nghiệp cho trẻ phải ổn định và có giới hạn về phạm vi nghề nghiệp
Trang 241.2.5.4 Phương pháp dạy trẻ khiếm thính
Để thực hiện được mục tiêu và những nội dung phục hồi chức năng, chủ yếu
là nghe và nói, dạy trẻ điếc theo những phương pháp dạy ngôn ngữ như sau:
a Phương pháp hội thoại
Trong quá trình trẻ hoạt động, nhu cầu giao tiếp được nảy sinh Những tình huống cụ thể được nảy sinh trong quá trình hội thoại sẽ là mối kích thích cần thiết để ngôn ngữ xuất hiện ở trẻ Nhiệm vụ chính của giao tiếp trong hội thoại là hình thành
và phát triển ngôn ngữ nói cho trẻ Làm thế nào để thực hiện nhiệm vụ đó? Điều này phụ thuộc phần lớn vào người đối thoại với trẻ đang làm gì, đang muốn gì, Đồng thời, thông qua những hành động, điệu bộ của trẻ, ta sẽ hiểu trẻ muốn gì
b Phương pháp dạy phát âm
Ngôn ngữ của trẻ được hình thành thông qua các hoạt động trong và ngoài lớp học Có hai phương pháp chính thường dạy trong dạy phát âm cho trẻ khiếm thính
đó là: phương pháp bắt chước và phương pháp tác động từ bên ngoài Trong đó phương pháp bắt chước là phương pháp chủ yếu dùng để dạy Để giảm bớt phần nào những khó khăn do tật điếc gây ra, khi dạy trẻ phát âm cần phát huy những khả năng cảm nhận tiếng nói của trẻ như sử dụng phần thính lực còn lại (đeo máy trợ thính)
c Tập đọc hình miệng
Đối với trẻ điếc, “đọc hình miệng” không những là biện pháp bổ sung mà còn
là một trong những phương pháp đóng vai trò chủ yếu để tiếp nhận tiếng nói Nếu trẻ điếc được huấn luyện có phương pháp khoa học từ sớm, trẻ có thể tiếp thu được tiếng nói bằng thị giác đến 60 – 70% lượng thông tin Đọc hình miệng là cách hiểu tiếng nói bằng cách nhìn chuyển động của cơ quan phát âm ( chủ yếu là sự môi)
d Phương pháp luyện nghe
Trẻ KT thính giác dù ở mức độ nào đi chăng nữa bao giờ cũng có phần thính lực còn sót lại Nhưng trẻ tự mình lại không biết dùng phần thính lực nhỏ nhoi đó để nghe nếu không được huấn luyện
Trang 25Đối với những trẻ điếc nặng nhiều khi trẻ chỉ nghe được những tiếng động mạnh như tiếng trống, tiếng sấm, tiếng hét, Khi luyện nghe cho trẻ này cần bắt đầu bằng những âm đơn giản nhất Đối với trẻ điếc nhẹ và vừa có vai trò rất quan trọng trong công tác phục hồi chức năng Một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để luyện nghe là cho trẻ đeo máy trợ thính Trong quá trình luyện nghe cần cho trẻ khiếm thính kết hợp với các giác quan khác như thị giác, xúc giác
e Giao tiếp bằng chữ cái ngón tay và thủ ngữ điệu bộ
Chữ cái ngón tay là dạng chữ viết trong không gian, cho nên các quy tắc sử dụng như chữ viết thông thường, ở đây mỗi chữ cái được biểu thị bằng những chuyển động của các ngón tay Dạng ngôn ngữ này có ưu điểm là dễ học, nên chỉ trong thời gian ngắn trẻ có thể sử dụng một cách thành thạo Tuy nhiên, không thể dùng chữ cái ngón tay để giảng dạy được Do đó, nó chỉ được dùng như một biện pháp hổ trợ cho quá trình phát triển tiếng nói ở trẻ
Thủ ngữ điệu bộ là dạng ngôn ngữ dễ nhất và tự nó hình thành ở những người điếc Nếu chỉ dùng thủ ngữ điệu bộ để dạy trẻ điếc thì như thế là vô tình tách trẻ ra khỏi cuộc sống xã hội bình thường Mặc dù vậy, thủ ngữ điệu bộ và chữ cái ngón tay lại rất cần cho trẻ điếc quá nặng, không có khả năng hình thành tiếng nói
f Nguyên lý giáo dục trẻ khiếm thính trong trường chuyên biệt
Nhà trường dạy trẻ khiếm thính muốn thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ GD&ĐT thì phải thực hiện nguyên lý giáo dục xã hội chủ nghĩa: GD kết hợp với lao động sản xuất và hoạt động xã hội, học đi đôi với hành, lý luận liên hệ với thực tế
Nó được thể hiện ở nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục theo hướng sau:
- Nội dung GD trong nhà trường phải phản ánh cuộc sống thực ở ngoài xã hội Nhằm mục đích làm cho nội dung GD mang đậm chất liệu thực tiễn
- Nhà trường phải tích cực mở rộng phạm vi hoạt động giáo dục dạy học ngoài lớp, ngoài trường Tạo điều kiện cho học sinh có tình huống giao tiếp để phục hồi chức năng nghe và nói, đồng thời vận dụng tri thức đã học vào thực tiễn đời sống
Trang 26- Trên cơ sở lao động dạy nghề nhằm mục đích nâng cao tay nghề cho học sinh, đồng thời tạo ra của cải vật chất góp phần xây dựng cơ sở vật chất cho nhà trường và cải tạo đời sống của học sinh Các hình thức lao động sản xuất như: xưởng, vườn trường, lao động công ích, tham gia sản xuất trong xí nghiệp, Mọi hình thức lao động phải nhằm mục đích và có nội dung giáo dục là chính Cho nên, phải căn cứ vào đặc điểm lứa tuổi và KT để tổ chức cho phù hợp
Thông qua hình thức hoạt động xã hội và lao động sản xuất gắn liền với thực tiễn và động viên mọi lực lượng nhân dân tham gia xây dựng nhà trường, thực hiện phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm vì tình thương và trách nhiệm Nhà trường cần tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của chính quyền địa phương, các công nông trường, xí nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp, các cơ quan đoàn thể, đặc biệt là cha mẹ học sinh để chức lao động dạy nghề và hướng nghiệp cho học sinh, tạo mọi điều kiện ưu tiên (sử dụng) học sinh khiếm thính vào các cơ sở sản xuất
1.2.6 Các đặc thù của môn tin học dạy trong nhà trường chuyên biệt:
Thực hành trên máy tính là chủ yếu và bắt buộc
Môn tin học rất khó dạy nếu giáo viên hoàn toàn không được dùng máy tính để minh họa hay thực hành các thao tác mẫu của bài học Nếu thầy và trò trên lớp được học tập hoàn toàn với phấn và bảng, việc tiếp thu kiến thức bài học có thể giảm đến 90% Mặc dù theo thiết kế của chương trình và cố gắng của các tập thể tác giả sách giáo khoa việc trình bày các kiến thức của bài học đã cố gắng độc lập tối đa với các thao tác cụ thể trên máy tính, việc truyền đạt của giáo viên vẫn phụ thuộc rất nhiều vào việc minh họa hay trình diễn trên máy tính Nhiều kiến thức và bài học được diễn đạt thông qua các bước thực hành và thao tác cụ thể trên máy tính Rất nhiều bài học (ví dụ các bài học Tin học văn phòng) được diễn đạt hoàn toàn thông qua các thao tác cụ thể với phần mềm Cần chú ý đặc điểm này để giáo viên chủ động trong việc diễn đạt bài học trong trường hợp không có máy tính trình diễn trên lớp Kiến thức môn học gắn liền với công nghệ và thay đổi rất nhanh trên thế giới Môi trường thực hành rất đa dạng và không thống nhất
Trang 27Là một môn học mới chưa có nhiều kinh nghiệm và về lý luận cũng như thực tế cho việc giảng dạy trong các nhà trường chuyên biệt dành cho trẻ KT
Tin học là một ngành công nghệ phát triển rất nhanh trên thế giới Tại Việt Nam, Tin học chưa được đưa vào nhà trường thành môn học chính thức và phổ cập đại trà (thời điểm 2005) Chính vì các lý do trên mà Tin học, Máy tính mặc dù đối với xã hội đã phổ cập nhưng đối với nhà trường lại rất mới mẻ
1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học môn tin học cho học sinh khiếm thính trong các trường chuyên biệt
Như chúng ta đều biết, người KT là những người rất thiệt thòi về nhiều mặt Nhưng ở họ có một ý chí phấn đấu mạnh mẽ, họ không phó mặc số phận của mình
mà họ biết vươn lên trong cuộc sống Bằng chứng là các trẻ em KT đã đến trường,
và không ngừng học tập, các em muốn sẽ trở thành người có ích cho xã hội Ngày nay, CNTT phát triển không ngừng, nó giúp ích cho cuộc sống chúng ta, và môn tin cũng đã được đưa vào dạy học ở các trường học nói chung, và trường dạy trẻ khiếm thính nói riêng Tuy nhiên việc dạy và học tin ở các trường dành cho trẻ KT có học sinh khiếm thính không phải là việc đơn giản, nó chịu nhiều yếu tố ảnh hưởng:
1.3.1 Nội dung chương trình giảng dạy:
SGK là những kiến thức chính cơ bản các em cần tiếp thu Nội dung SGK phải phù hợp với khả năng của học sinh thì chất lượng đào tạo mới đạt kết quả cao Đối với học sinh khiếm thính, khả năng nói và nghe của các em không được như người bình thường, nên khả năng tiếp thu kiến thức của các em sẽ gặp vô vàn khó khăn Tin học là một môn học mới được đưa vào dạy chính thức ở các trường học, nó còn khá mới mẽ, đối với các em KT thì nó lại càng khó khăn hơn Vì vậy cần có chương trình chuẩn cho việc học dành cho trẻ KT để các em có thể tiếp thu bài học tốt hơn
1.3.2 Học sinh khiếm thính và khả năng của học sinh khiếm thính
Trẻ KT thính giác ở Việt Nam có khoảng từ 35.000 đến 40.000 em (chiếm 10% tổng số trẻ KT) và được chia ra các mức độ nặng nhẹ khác nhau Nhưng dù là trẻ KT thính giác nặng hay nhẹ đều có thể học và đạt kết quả
Trang 28Tuy nhiên, tùy vào hoàn cảnh và khả năng nghe còn lại của từng trẻ mà có thể giáo dục dưới hình thức nào Trẻ nghễnh ngãng (chiếm 2/3 trẻ khiếm thính) có thể đến trường phổ thông học hòa nhập với trẻ bình thường Giáo viên cần có kế hoạch giúp đỡ và chăm sóc cá biệt cùng với sự hổ trợ của bạn bè trong lớp Trẻ điếc nặng, một số cũng có thể học hòa nhập như trẻ nghễnh ngãng, nhưng cũng cần có thời gian để được bồi dưỡng, chuẩn bị trước khi đến trường phổ thông Một số điếc quá nặng cần được giáo dục trong các lớp, trường CB với nội dung và phương pháp phù hợp với khả năng của trẻ Dù có nhiều cố gắng trong phương pháp giáo dục, cách thức và tiến trình dạy học, các nhà giáo dục trẻ khiếm thính cũng phải thừa nhận có sự khác biệt về trình độ nhận thức giữa trẻ khiếm thính và trẻ bình thường Khả năng học tập của trẻ trong môi trường giáo dục chuyên biệt lại phụ thuộc vào một số yếu tố như: kỳ vọng của xã hội hoặc gia đình, độ tuổi được can thiệp sớm, chất lượng của cả tiến trình được can thiệp sớm về mặt giáo dục, mức độ mất thính lực, chỉ số thông minh, điều kiện gia đình, sự giáo dục trong giai đoạn trước,
1.3.3 Đội ngũ giáo viên và phương pháp giảng dạy:
Giáo viên ở các trường chuyên biệt cần có niềm đam mê với nghề, lòng nhiệt huyết, tấm lòng yêu trẻ, có tình thương người, đặc biệt các em học sinh KT
Giáo viên phải hiểu biết về tâm lý trẻ chuyên biệt
Phải thông thạo ngôn ngữ nói của người khiếm thính
Phương pháp giáo dục trẻ KT cần được đặc biệt chú tâm, vì trẻ KT không giống với các trẻ bình thường khác cả về ngoại hình và tâm lý
Phương pháp dạy của giáo viên là yếu tố quyết định trong việc truyền đạt kiến thức tới các em, phương pháp dạy của phù hợp với bài dạy sẽ giúp học sinh tiếp thu bài một cách nhanh chóng, đồng thời sử dụng các phương pháp khác nhau đối với từng đối tượng KT khác nhau
Đối với học sinh khiếm thính thì không thể giảng giải bằng cách thuyết trình,
mà phải dùng các hình ảnh minh họa
Trang 29Đội ngũ giáo viên và phương pháp dạy là yếu tố quan trọng trong việc tiếp thu bài học của các em học sinh, cũng như sự đam mê môn học đó của các em
1.3.4 Cơ sở vật chất:
Cơ sở vật chất của trường chuyên biệt dành cho học sinh khiếm thính là toàn
bộ phương tiện vật chất và kỹ thuật khác nhau nhằm phục vụ cho hoạt động giáo dục của trẻ Bao gồm đồ dùng dạy học, đồ chơi, những của cải vật chất và tinh thần, môi trường thiên nhiên xung quanh trường
Đây cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy nhiều nhất Những trẻ này thường phải có sự hỗ trợ về phương tiện giảng dạy và cơ
sở vật chất đầy đủ thì mới dễ lĩnh hội được kiến thức mà giáo viên truyền đạt
- Nội dung cơ sở vật chất:
+ Quy mô trường lớp: phụ thuộc vào nhu cầu thực tiễn của địa phương, địa điểm của trường Bố cục và yêu cầu thiết kế xây dựng trường lớp cần có các khối chính: khối lớp học, sân trường, khối phục vụ; các phòng học phải độc lập với nhau, được xây dựng một cách vững chắc, thiết kế sao cho thoáng mát về mùa hè, ấm áp
về mùa đông; đồ dùng trong lớp phải sắp xếp sao cho vừa phù hợp, mang tính thẩm
mỹ vừa kích thích được tính tích cực hoạt động của học sinh
+ Trang thiết bị cơ bản của trường học: đồ dùng nhằm phục vụ các hoạt động trong lớp như bàn ghế, đồ dùng dạy học, bảng,
+ Phòng máy tính đầy đủ để các em có thế thực hành tốt
- Máy chiếu phục vụ cho việc dạy và học
- Máy tính phải đầy đủ, đảm bảo chất lượng để các em thực hành tốt + Nguồn tài chính của trường: ngân sách do nhà nước cấp, ngân sách từ các xã, phường, cơ quan, xí nghiệp, các nhà tài trợ, từ cha mẹ học sinh,
Để chất lượng dạy và học môn tin học hiệu quả hơn thì điều kiện cần là đáp ứng tốt về cơ sở vật chất để cho các em có điều kiện thực hành, giáo viên truyền đạt kiến thức một cách dễ dàng hơn
Trang 301.3.5 Công tác tổ chức quản lý giáo dục và các chính sách giáo dục trẻ
1.3 1 Tổ chức quản lý giáo dục trong trường chuyên biệt
Những vấn đề chung về quản lý và tổ chức nhà trường chuyên biệt day trẻ khiếm thính được thể hiện theo qui chế nhà trường phổ thông đã ban hành
Quản lý trường chuyên biệt cũng là một bộ phận của quản lý giáo dục ở các cấp khác nhau Cũng như công tác giáo dục nói chung, việc quản lý con người là yếu tố trung tâm của công tác quản lý trong trường chuyên biệt, thể hiện trước hết ở khả năng làm việc, biết đánh giá, bồi dưỡng, phát huy những khả năng của mỗi cá nhân và động viên mọi người làm việc tự giác, tích cực và có tinh thần trách nhiệm Quản lý trong trường chuyên biệt nhằm thực hiện mục tiêu cơ bản của hoạt động giáo dục trường chuyên biệt là đánh giá đúng nhu cầu, khả năng của trẻ, phục hồi chức năng, thực hiện giáo dục và chuẩn bị cho quá trình hòa nhập với cộng đồng, giúp các em chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc sống sau này Hiện nay, hệ thống quản lý nhà nước về giáo dục KT đã được hình thành và đi vào nề nếp hoạt động
1.3.5.2 Chính sách giáo dục trẻ
Chưa có chương trình hành động quốc gia thống nhất về giáo dục trẻ KT Các chương trình xây dựng chính sách, chiến lược và kế hoạch giáo dục trẻ KT hiện nay hầu như mới bắt đầu ở giai đoạn xây dựng Mặc dù đã có những chế độ, chính sách
do các địa phương tự đề xuất nhưng còn manh mún và trên phương diện chung chưa
có chính sách đối với học sinh KT, chính sách trợ gia đình trẻ KT, chính sách hổ trợ
về phương tiện và chuyên môn cho các cơ sở giáo dục chuyên biệt
Chế độ, chính sách về giáo dục học sinh KT ở một số địa phương đã đáp ứng được yêu cầu nhất thời, giải quyết vấn đề một cách tình thế, nhưng còn một khoảng cách khá xa mới đáp ứng được các vấn đề đặc thù của loại hình giáo dục đặc biệt này, nhất là trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay
- Những yếu tố quan trọng khác:
Trang 31+ Sự quan tâm của của gia đình, nhà trường, xã hội là một yếu tố quan trọng giúp các em có điều kiện học tập tốt hơn
+ Tâm lý: Có muốn học hay không? Nếu em học sinh đó không muốn học thì
dù cơ sở vật chất tốt đến mấy, giáo viên nhiệt tình có phương pháp giảng dạy phù hợp và hay đến mấy thì em đó cũng không thể nắm kiến thức của môn học
Trang 32CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DẠY TIN HỌC CHO HỌC SINH KHIẾM THÍNH Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1 Thực trạng việc giáo dục cho học sinh khiếm thính ở các trường chuyên biệt tại thành phố Đà Nẵng
2.1.1 Thông tin chung
Sự tồn tại một bộ phần không nhỏ trẻ KT là thực tế khách quan ở mọi thời
kỳ, mọi giai đoạn Trong tất cả các loại tật, trẻ bị phá hủy thính giác chịu hậu quả rất nặng nề Nếu không có giáo dục đặc biệt, các em phải sống suốt đời trong im lặng gần như tuyệt đối Các em không có điều kiện giao tiếp giữa người với người Vì vậy, những em này không có được quá trình phát triển như những em bình thường Các em trở thành gánh nặng cho gia đình, cho xã hội
Trách nhiệm của chúng ta là cần phải phát hiện được tất cả trẻ khiếm thính, cần chẩn đoán, phân loại để biết mức độ, thời gian phá hủy và khả năng phục hồi của từng em Từ đó để tổ chức, tiến hành giáo dục trong các loại hình cho phù hợp Trong đề tài này, chúng tôi đề cập đến thực trạng giáo dục trẻ khiếm thính tại các trường chuyên biệt
Trong quá trình giáo dục trẻ khiếm thính phải lấy sự hình thành, phát triển ngôn ngữ nói, giao tiếp làm nhiệm vụ trung tâm ở mọi thời kỳ, mọi hoạt động của trẻ Phục hồi chức năng nghe và nói cho trẻ KT là giai đoạn đầu tiên, và là việc làm trong suốt quá trình giáo dục trẻ Mục tiêu của phục hồi chức năng là:
- Làm khởi động một chức năng vốn chưa được hoạt động, bị dừng hoặc bị suy giảm sự phát triển
- Làm thích nghi trở lại một chức năng vốn đã mất khả năng hoạt động bình thường, chủ yếu bằng huấn luyện
- Làm thay thế một chức năng vốn đã bị suy giảm bằng huấn luyện những cơ quan, chức năng khác có khả năng bù trừ Tuy nhiên sự bù trừ này phụ thuộc rất nhiều vào quá trình huấn luyện
Trang 332.1.2 Thực trạng giáo dục trẻ khiếm thính tại các cơ sở CB tại Đà Nẵng
2.1.3.1 Việc chỉ đạo dạy học sinh khiếm thính
Hiện nay ở Đà Nẵng có 3 cơ sở chuyên biệt dành cho trẻ: trường THCB Tương Lai trực thuộc ngành Giáo dục, trường Thanh Tâm trực thuộc dòng Thánh Paolo, Làng Hy Vọng lại trực thuộc Ủy ban Dân số Gia Đình và Trẻ em (UBDSGĐ
& TE) Vì vậy, sự chỉ đạo thống nhất tại 3 cơ sở này còn nhiều bất cập
2.1.3.2 Các điều kiện về cơ sở vật chất
So với các địa phương khác, các trường dành cho trẻ KT nói chung nói chung tương đối khang trang và đáp ứng được nhu cầu giáo dục cho học sinh KT
2.1.3.3 Về đội ngũ giáo viên
Trong quá trình giáo dục trẻ có tật, người giáo viên có vai trò quan trọng:
- Là người có tình thương, lòng nhân ái
- Là người hoàn toàn thông cảm với trẻ vì hơn ai hết giáo viên hiểu cặn kẽ những khó khăn do KT gây ra đối với trẻ
- Là người hiểu rõ và biết thực hành thành thạo từng thao tác trong quá trình giáo dục trẻ khiếm thính
- Là người tổ chức chính mọi hoạt động giáo dục đặc biệt Vấn đề tổ chức giáo dục đặc biệt cần phù hợp với mức độ KT của trẻ, với khả năng đáp ứng của trường, với tình hình địa phương
- Là cầu nối giữa nhà trường và gia đình trẻ khiếm thính, giúp đỡ bố mẹ trẻ KT hiểu được những tri thức tật học cần thiết để tham gia phối hợp giáo dục trẻ
Thực tế, tại các cơ sở giáo dục chuyên biệt, hầu hết giáo viên được đào tạo sư phạm tình nguyện về dạy trẻ KT Vì vậy, các cô rất tận tụy với công việc và đã thực
sự trở thành người mẹ thứ hai Tuy nhiên đa số giáo viên chưa được đào tạo chuyên sâu về tật học Thậm chí vẫn còn nhiều giáo viên chưa được bồi dưỡng nên còn gặp
Trang 34nhiều khó khăn trong quá trình giảng dạy, nâng cao chất lượng giáo dục trẻ KT, điều
đó được thể hiện trong bảng tổng hợp sau:
3 23,1%
5 38,5%
2 15,3%
2 15,3%
5 38,5%
6 46,2%
Bảng 2: Trình độ chuyên môn của giáo viên dạy trẻ khiếm thính tại Đà nẵng
Qua bảng tổng hợp trên cho thấy tổng số giáo viên dạy trẻ khiếm thính trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, tại các cơ sở giáo dục chuyên biệt là 13 người, trong đó
số giáo viên có trình độ được đào tạo tật học chuyên sâu rất ít (2 giáo viên – 15,3%) Hầu hết các giáo viên chỉ được đào tạo qua các lớp bồi dưỡng ngắn hạn hoặc tự bồi dưỡng ở trường Ngoài ra, giáo viên còn được đi tham quan kết hợp học tập ở các trường như Hà Nội, Tp.HCM, Hải Phòng, Đà Lạt Vì vậy, giáo viên luôn phải tự nghiên cứu tài liệu và học hỏi lẫn nhau để tìm tòi, sáng tạo trong công tác giảng dạy
2.1.3.4 Nội dung chương trình dạy học ở trường chuyên biệt
Nội dung giáo dục trẻ khiếm thính gồm có:
a Can thiệp sớm
Chương trình can thiệp sớm là chương trình dành cho trẻ khiếm thính được phát hiện tật điếc trong độ tuổi từ 0 đến 6 tuổi nhằm kích thích và huy động sự phát triển tối đa của trẻ, tạo điều kiện và chuẩn bị tốt cho trẻ tham gia vào hệ thống giáo dục và cuộc sống sau này
Trang 35Các hình thức tổ chức thực hiện can thiêp sớm
- Hướng dẫn phụ huynh tại nhà:Mỗi tuần GV đến nhà trẻ một lần nhằm cung cấp tài liệu hướng dẫn để phụ huynh dạy cho trẻ đồng thời nắm bắt những thông tin tiến bộ hằng ngày của trẻ, hướng dẫn cho phụ huynh cách đeo và sử dụng máy trợ thính Mỗi tuần phụ huynh lại đưa trẻ đến trường một lần để GV hướng dẫn thêm
- Hướng dẫn phụ huynh từ xa: Bằng nhiều hình thức như: gửi thư, tài liệu qua đường bưu điện, gọi điện thoại,
- Mẫu giáo hòa nhập: Các em KT được hòa nhập với trẻ bình thường Buổi chiều các em sẽ được GV can thiệp sớm, phụ đạo thêm và dạy một số môn đặc thù Hiện nay trường Tương Lai đang thực hiện can thiệp sớm dưới hai hình thức: hướng dẫn phụ huynh tại nhà và hướng dẫn phụ huynh từ xa Trường Thanh Tâm thực hiên cả 3 hình thức trên
b Phục hồi chức năng nghe – nói
Đây là việc làm hết sức quan trọng, là nội dung chính trong chương trình chăm sóc – giáo dục cho trẻ KT Do đó, nội dung này thực hiện sớm càng mang lại hiệu quả cao đồng thời thực hiện trong suốt quá trình học trong trường CB Phục hồi chức năng nghe – nói cho học sinh được thực hiện song song nội dung dạy văn hóa
c Dạy văn hóa
Hiện nay chưa có chương trình dạy văn hóa riêng cho học sinh khiếm thính nên các trường chuyên biệt tại Đà nẵng dựa vào chương trình Tiểu học bình thường
có sự điều chỉnh nội dung dạy học cho phù với trẻ Do đó, nội dung dạy ăn hóa cho trẻ KT ở mỗi trường có sự khác nhau
Đối với trẻ khiếm thính, muốn đạt trình độ tương tương với cấp tiểu học cần phải thực hiện khoảng 10 năm học (gấp 2 lần so với học sinh bình thường)
d Dạy nghề phù hợp:
Một trong những mục tiêu cuối cùng của chương trình dạy trẻ KT là giúp các
em hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng Muốn như vậy sau khi ra trường học sinh
Trang 36phải có một nghề cơ bản để sống tự lập Hiện nay trường Tiểu học chuyên biệt Tương Lai đã dạy một số nghề sau đây: nghề may, in lụa, sửa chữa vi tính, Trường Thanh Tâm dạy nghề vi tính, in lụa, uốn tóc, may Làng Hy Vọng dạy nghề vi tính Điều tra GV tại các cơ sở GDCB ở Đà Nẵng về nội dung dạy học, giáo dục cho học sinh khiếm thính hiện nay, mà cụ thể là về dạy văn hóa, dạy nghề và phục hồi chức năng thì nhận được ý kiến của họ không giống nhau về mức độ: nhiều, tương đối nhiều và ít Có thể biểu đạt trên sơ đồ sau:
0 2 4 6 8 10 12 14 16 18
Dạy văn hóa Dạy nghề Phục hồi chức năng
Sơ đồ 1: Các nội dung dạy học, giáo dục cho học sinh khiếm thính tại Đà Nẵng
2.1.4 Chương trình giảng dạy
Do chưa có thống nhất từ Bộ nên các trường CB tại các tỉnh dạy theo chương trình khác nhau: có trường dạy chương trình thử nghiệm của Viện chiến lược, có trường dạy theo chương trình 165 tuần, có trường dạy theo chương trình phổ cập Tại Đà nẵng trước đây các trường đều dạy theo chương trình thử nghiệm của Viện Bước đầu cũng có nhiều thuận lợi Nhưng trong quá trình áp dụng chương trình này chúng tôi thấy phát sinh một số điều không phù hợp:
+ Chương trình thử nghiệm của Viện dựa trên chương trình phổ thông cũ (1996) Hiện nay phổ thông dã áp dụng chương trình cải cách nên nhiều nội dung của chương trình không còn phù hợp
+ Chương trình thử nghiệm áp dụng cho các trường dạy học 1 buổi, trong khi các trường chuyên biệt tại Đà Nẵng dạy 2 buổi
Trang 37+ Cấu tạo chương trình thử nghiệm chia làm 8 năm bậc Tiểu học dựa trên 5 năm của PT, không có một ranh giới chung cho tất cả các môn học và các cấp học Theo điều tra của chúng tôi, tại 2 cơ sở GDCB tại Đà Nẵng, cũng như trẻ em bình thường khác, học sinh khiếm thính rất năng động và ham học hỏi tất cả các môn Tuy nhiên, do đặc thù thiểu năng, nên một số môn học đối với các em lại gây những hứng thú nổi trội hơn các môn khác so với các em học sinh bình thường Chúng tôi khảo sát các em thích học môn nào, như: nghe, nói, tập đọc, tiếng Việt, Toán, Tự nhiên- xã hội, đạo đức, múa, vẽ, vi tính, thì thu được những kết quả khá thú vị, cụ thể như biểu đồ sau:
Nghe Nói Tập đọc Tiếng Việt Toán
TNXH Đạo đức Múa Vẽ
Vi tính
112 110
160 150 70
80
25 24
Vạn sự khởi đầu nan, việc áp dụng CNTT vào việc dạy học cho trẻ khiếm thính
là một bài toán khó đối với nhiều GV của Trung tâm Hiểu đuợc điều này, hè vừa qua, Phòng Giáo dục của Trung tâm đã mở lớp bồi duỡng kiến thức sử dụng chương
Trang 38trình trình chiếu Power Point cho GV tại Trung tâm Một số GV tại đây cho biết, trước đây, họ đã phải đánh vật với giáo án điện tử; nhưng nay, qua thời gian thực hành, kỹ năng soạn bài giảng của họ ngày càng thuần thục hơn và cũng nhờ biết cách truy cập Internet nên bài soạn trở nên phong phú hơn
Đối với học sinh khiếm thính, việc tiếp nhận thông tin bên ngoài chủ yếu qua thị giác Do đó việc ứng dụng CNTT, trình chiếu trên Power Point cho thấy hiệu quả rất cao trong việc lĩnh hội kiến thức Các môn học xã hội như : lịch sử, địa lý hay sinh học… là những môn học đòi học sinh phải có tư duy kiến thức và luợng kiến thức rộng về xã hội, do vậy việc viết bảng hay tranh ảnh tỉnh không thể diễn tả hết nội dung bài học cũng như ý nghĩa của vấn đề Để giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn ý nghĩa và nội dung bài học, người GV phải truyền đạt không chỉ bằng lời mà còn bằng những hình ảnh sinh động Với những tiết dạy như thế, khi ứng dụng CNTT, giáo viên đã có thể lồng ghép những đoạn phim minh hoạ, những hình ảnh rõ ràng làm cho bài giảng thêm phong phú, sinh động và thu hút học sinh hơn Các bài giảng này không chỉ mang hơi thở cuộc sống hiện đại gần gũi hơn với học sinh mà vô hình chung đã thúc đẩy giáo viên liên tục cập nhật kiến thức để làm giàu thêm vốn kiến thức giảng dạy của mình
2.2 Thực trạng dạy và học tin học các trường CB tại thành phố Đà Nẵng
2.2.1 Trường CB Tương Lai:
a Giới thiệu chung:
- Trường Tiểu học chuyên biệt (THCB) Tương Lai thành lập tháng 6/1994
- Hiệu trưởng: Cô Trần Bích Thủy
- Là đơn vị nuôi, dạy trẻ thuộc 2 loại tật chủ
yếu là khiếm thính và trẻ chậm phát triển trí tuệ
- Để nâng cao chất lượng học tập văn hóa cho
trẻ KT, nhà trường đã có nhiều biện pháp Đối
với trẻ khiếm thính, nhà trường đã từng bước
nghiên cứu triển khai thực hiện chương trình 8
Trang 39năm theo sự hướng dẫn của Viện Chiến lược và chương trình giáo dục (tức là biên
soạn chương trình 5 năm dành cho học sinh Tiểu học phát triển bình thường thành chương trình 8 năm cho học sinh khiếm thính)
Sau khi phát hiện những bất cập, nhà trường chuyển sang nghiên cứu thực hiện chương trình 165 tuần song chia thành 10 năm Đồng thời với việc nghiên cứu triển khai thực hiện chương trình phù hợp với học sinh KT, nhà trường chú trọng đầu tư các điều kiện nhằm nâng cao khả năng giao tiếp cho trẻ khiếm thính: bố trí phòng cách âm, tạo môi trường yên tĩnh để luyện nghe – nói cho học sinh khiếm thính; vận động phụ huynh mua máy trợ thính và vận đông cac tổ chức, cá nhân từ thiện hỗ trợ kinh phí mua máy trợ thính cho trẻ; định kỳ 6 đến 12 tháng thay núm tai phù hợp với độ lớn của trẻ
Bên cạnh đó nhà trường còn tổ chức nhiều hoạt động rèn luyện kỹ năng sống,
đinh hướng nghề nghiệp cho các em như tham gia “Vẽ trang cổ động Seagames và
Paragames” do báo nhi đồng tổ chức, tham gia hội diễn văn nghệ và thể thao dành
cho trẻ KT, tham gia đầy đủ các hạt đông hội trại “Vòng tay yêu thương”
Kết quả đào tạo trẻ KT có nhiều tiến bộ: loại giỏi 52,5%, loại khá 35,6%, loại
+ Cơ sở 2: 102 Huy Cận, Quận Cẩm Lệ, Đà Nẵng cơ sở này dạy học sinh khiếm thính Tổng số phòng: 13 trong đó có 09 phòng học; 01 phòng bộ môn; 01 phòng âm nhạc và 02 phòng khác Có sân chơi vườn hoa Giai đoạn 2 sẽ xây dựng khu dạy nghề và các phòng chức năng cho học sinh KT
Trang 40Cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học tin học:
Được trang bị 13 máy vi tính, các máy tính đã tương đối cũ, cấu hình thấp, tốc
Đội ngũ giáo viên : 1 giáo viên chuyên tin
Dạy tin vào các buổi chiều 2, 3, 4, 5
Thầy tâm sự : “Đặc điểm của trẻ khiếm thính là các em thiếu giao tiếp, đầu óc bình thường, vì thế khi học xong tin học các em có thể làm Photoshop hoặc tin văn phòng, dạy và tạo cho các em các kênh thông tin để truyền tải kiến thức cơ bản ngoài ra còn để cho các em tự tìm tòi”
Về nội dung dạy:
Không dạy cao cho các em kém phát triển vì các em tiếp thu chậm, chỉ cần dạy
cơ bản xóa mù tin cho các em, đối với các em khiếm thính với đặc điểm là dễ bắt chước, nhớ nhanh hình ảnh nên có thể dạy nâng cao cho các em các phần mềm như Corel, Quảng cáo…