Định nghĩa PHT Theo từ điển Tiếng Việt thì từ “phiếu” gồm có 3 nghĩa: - Tờ giấy rời có cỡ nhất định, ghi chép những nội dung nhất định nhằm để phân loại, sắp xếp theo một hệ thống nào đ
Trang 1GVHD: Nguyễn Bảo Hoàng Thanh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP SVTH : Lê Thị Dung
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
cực trong học tập của học sinh
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SƯ PHẠM VẬT LÝ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, yêu cầu thực tiễn của việc đổi mới phương pháp giáo dục, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh Các số liệu, kết quả được trình bày trong đề tài là hoàn toàn trung thực
LỜI CẢM ƠN
Đề tài luận văn này được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh - Trường Đại học Sư phạm- Đại học Đà Nẵng Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy đã hướng dẫn và có ý kiến chỉ dẫn quý báu trong quá trình em nghiên cứu đề tài luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong khoa Vật lí- Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng đã trực tiếp chỉ dẫn cho em trong suốt thời gian học tập tại trường
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo thuộc tổ Vật lí trường THPT Nguyễn Duy Hiệu và trường THPT Nguyễn Khuyến cùng một số học sinh của trường đã nhiệt tình đóng góp ý kiến trong quá trình khảo sát thực tiễn của em
Trang 3GVHD: Nguyễn Bảo Hoàng Thanh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP SVTH : Lê Thị Dung
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, Việt Nam là thành viên của nhiều tổ chức Quốc tế và khu vực như WTO, khối liên minh quốc tế, tổ chức APEC…Những sự kiện trên chứng tỏ một quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra sôi nổi ở trong nước nói riêng và tất cả các quốc gia nói chung Để đứng vững trong xu thế hội nhập đó đòi hỏi phải có một chiến lược, sách lược phát triên riêng Đây là một thách thức rất lớn đối với toàn ngành của nước ta Trong đó, đổi mới phương pháp dạy học là một trong những quốc sách hàng đầu
Giáo dục được xem là ngành đặt biệt quan trọng, là nền tản phát triển lâu dài của quốc gia Quan điểm này đã được thể hiện trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp Hành Trung ương Đảng khoá VIII: “Thực sự coi giáo dục-đào tạo là quốc sách hàng đầu” Nhà nước Việt Nam cũng đánh dấu tầm quan trọng của mục tiêu này qua điều 28 luật giáo dục 2005: “ Phương pháp giáo dục phổ thông đã phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặt trưng của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học; khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn…” Như vậy, giáo dục không chỉ đem lại kiến thức mới mà còn cho học sinh hiểu sâu rộng nhiều khía cạch trong xã hội , rèn luyện nhân cách và sự vận dụng được những kiến thức ở trường…
Vào những năm đầu hội nhập, ngành giáo dục đã có nhiều đổi mới toàn diện về nội dung và PPDH, tuy nhiên trên thực tế thì chất lượng và hiệu quả giáo dục vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu nói trên Trước tính trạng đó, nhiều nhà giáo dục cũng
đã đề cập đến việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tăng cường tính tích cực, chủ động sáng tạo trong quá trình chiếm lĩnh tri thức của học sinh Trong đó, PHT trong dạy học là một trong những PP hữu hiệu
Thực tế hiện nay, việc sử dụng PHT trong dạy học VL nói chung chưa có hiệu quả cao và chưa có sự quan tâm đúng mức, sử dụng phiếu học tập gây ra tình trạng cháy giáo án Nguyên nhân dẫn đến thực trạng này là do giáo viên chưa có quan niệm cụ thể về PHT, chưa biết cách xây dựng và sử dụng PHT có hiệu quả…Do đó, việc nghiên cứu bổ sung vào hệ thống cơ sở lý luận của việc thiết kế và sử dụng PHT trong DH để có thể áp dụng với từng bài học cụ thể là rất thiết thực nhằm đổi
Trang 5GVHD: Nguyễn Bảo Hoàng Thanh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP SVTH : Lê Thị Dung
mới PP DH VL theo đúng hướng đã đề ra Tuy nhiên do hạn chế về mặt thời gian, thực nghiệm sư phạm nên đề tài chỉ tiến hành đối với chương Điện tích – Điện trường trong chương trình VL 11 NC
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thiết kế và sử dụng PHT trong dạy học VL phần Điện tích – Điện trường nhằm nâng cao tính tích cực trong học tập của học sinh”
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Vấn đề thiết kế và sử dụng PHT trong DH được đề cập trong một số tài liệu sau: Bài báo “Thiết kế và sử dụng PHT trong DH hợp tác” của tác giả Đặng Thành Hưng trong báo phát triển Giáo dục số 8, tháng 8/2004 Tác giả đã nêu định nghĩa, chức năng của một số dạng PHT, nêu cách thiết kế và quy trình sử dụng PHT trong
DH hợp tác Đây là bài viết quan trọng giúp cho đề tài có định hướng đúng trong việc nghiên cứu
Bài báo “ Xây dựng PHT dùng trong DH trên lớp môn Địa lí lớp 10 THPT” của tác giả Đậu Thị Hoà, khao Địa lí, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng trong tạp chí giáo dục tháng 5/2008 Bài báo đã nêu lên bản chất của PHT, nguyên tắc và quy trình sử dụng PHT trong DH trên lớp môn Đia lí 10
Bài báo “ phương pháp sử dụng PHT trong dạy học Địa lí lớp 10 nhằm phát huy tính tích cực và độc lập của học sinh” của tác giả Đậu Thị Hoà, khao Địa lí, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng trong tạp chí giáo dục số 195 tháng 8/2008 Tác giả đã trình bày nguyên tắc và phương pháp sử dụng PHT trong dạy bài mới và củng cố bài học Những bài báo là nguồn tài liệu rất quan trọng giúp cho việc nghiên cứu đề tài
Luận văn thạc sĩ “Thiết kế và sử dụng PHT trong DH Địa lí 12 THPT” của Trần Thuỳ Uyên, Huế-2005 Luận văn đã trình bày định nghĩa, chức năng, các dạng PHT trong dạy học Địa lí; nêu lên nguyên tắc thiết kế và sử dụng PHT
Sách “Đổi mới phương pháp, chương trình và SGK” của Trần Bá Hoành (2007) Tác giả đã trình bày một số dạng phiếu hoạt động học tập và ví dụ về các PHT trong
DH môn Sinh học
Từ các tài liệu trên, đây là cơ sở cho việc nghiên cứu thiết kế và sử dụng PHT trong DH đối với môn VL
Trang 63 Mục tiêu của đề tài
- Thiết kế được các dạng PHT trong DH VL phần Điện tích – Điện trường
- Xây dựng được tiến trình sử dụng PHT trong DH VL phần Điện tích – Điện trường nhằm phát huy tính tích cực nhận thức cho học sinh
4 Giả thuyết khoa học
Việc đưa PHT vào DH nhằm góp phần kích thích tính tự học của học sinh nhưng chưa được khai thác đúng với tiềm năng của nó
Nếu thiết kế và sử dụng PHT một cách có khao học trong DH chương Điện tích Điện trường thì sẽ phát huy tính tích cực, tự học, chủ động của học sinh trong hoạt động cá nhân hay hoạt động nhóm, qua đó sẽ nâng cao chất lượng DH VL lớp 11 NC
5 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc thiết kế và sử dụng PHT trong DH VL
- Nghiên cứu mục tiêu, nội dung, chương trình và SGK VL 11 NC
- Xây dựng quy trình thiết kế và sử dụng PHT trong DH VL, áp dụng cho chương Điện tích – Điện trường VL 11 NC
-Thiết kế một số giáo án mẫu có sử dụng PHT chương Điện tích – Điện trường
7 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động dạy học có sử dụng PHT chương Điện tích – Điện trường VL 11 NC
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, các văn bản của nhà nước và của ngành giáo dục đào tạo
- Nghiên cứu các sách, bài báo, luận văn, luận án, tạp chí chuyên ngành
- Nghiên cứu chương trình SGK, sách bài tập, tài liệu tham khảo VL 11 NC
Trang 7GVHD: Nguyễn Bảo Hoàng Thanh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP SVTH : Lê Thị Dung
8.2 Phương pháp điều tra:
- Trao đổi với giáo viên về việc xây dựng PHT trong DH VL ở trường phổ thông
- Lấy ý kiến giáo viên, học sinh về việc thiết kế vào sử dụng PHT trong DH VL
8.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
- Quan sát, kiểm tra, đánh giá hoạt động học tập của học sinh trong các giờ học
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thiết kế và sử dụng PHT
Chương 2: Thiết kế và sử dụng PHT trong DH VL chương Điện tích- Điện trường VL 11 NC
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Phần kết luận
Tài liệu tham khảo
Trang 8NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ
VÀ SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ
1.1 Quan niệm về PHT
1.1.1 Định nghĩa PHT
Theo từ điển Tiếng Việt thì từ “phiếu” gồm có 3 nghĩa:
- Tờ giấy rời có cỡ nhất định, ghi chép những nội dung nhất định nhằm để phân loại, sắp xếp theo một hệ thống nào đó, ví dụ như phiếu điều tra, phiếu tra cứu…
- Tờ giấy ghi nhận quyền lợi nào đó của người sử dụng, ví dụ như phiếu chuyển tiền, phiếu khám sức khỏe…
- Tờ giấy biểu thị ý kiến trong cuộc bầu cử hoặc biểu quyết, ví dụ như phiếu bầu cử…
Từ định nghĩa về “phiếu”, có nhiều định nghĩa về PHT như sau:
Theo PGS.TS Nguyễn Đức Vũ thì PHT là “ tờ giấy rời, trên đó ghi các câu hỏi, bài tập, nhiệm vụ học tập…kèm theo gợi ý, hướng dẫn, dựa vào đó HS thực hiện hoặc ghi các thông tin cần thiết để giúp mở rộng bổ sung kiến thức bài học”
Theo PGS.TS Đặng Thành Hưng thì “PHT là một trong những phương tiện DH
cụ thể, đơn giản và có khả năng tương thích rất cao với tuyệt đại đa số người học thuộc mọi lứa tuổi và trong lĩnh vực học tập Đó là văn bản bằng giấy hoặc dạng giấy do GV tự làm, gồm một hoặc một số tờ, có vai trò học liệu để bổ sung cho sách
và tài liệu giáo khao quy định, có chức năng hỗ trợ học tập và giảng dạy vừa như công cụ hoạt động, vừa như điều kiện hoạt động của người dạy và người học, mà trước hết như một nguồn thông tin học tập”
Theo cô Nông Thị Nhung, một giáo viên dạy Địa lí thì “ PHT là những tờ giấy rời có nội dung hướng dẫn, yêu cầu HS làm việc trong một thời gian ngắn tại lớp học hoặc được làm ở nhà trước mỗi bài học”
Từ những định nghĩa trên cho thấy mỗi tác giả có một cách định nghĩ về PHT khác nhau Tuy nhiên, các định nghĩa đó đều thống nhất cùng một quan điểm PHT
là phương tiện DH do GV tự thiết kế gồm một hoặc một số tờ giấy rời có ghi những nhiệm vụ học tập mà HS phải hoàn thành kèm theo những hướng dẫn, gợi ý hoặc thông tin bổ sung cho bài học
Trang 9GVHD: Nguyễn Bảo Hoàng Thanh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP SVTH : Lê Thị Dung
1.1.2 Các chức năng cơ bản của PHT trong DH
PHT được phân làm nhiều kiểu, nhiều dạng khác nhau Tuy nhiên chúng đều có những chức năng giáo dục tương đối chung Theo nhiều tài liệu, các nhà nghiên cứu đều có sự thống nhất về 2 chức năng cơ bản của PHT như sau:
1.1.2.1 Chức năng cung cấp thông tin sự kiện
PHT có chức năng thông tin sự kiện cho học sinh Những thông tin sự kiện này
là nhưng thông tin sự kiện không có trong SGK nhưng lại có liên quan đến bài học
GV sử dụng chức năng này của PHT để cung cấp những thông tin bổ sung cho HS, giúp HS có thể hiểu bài, giải được bài tập, làm sáng tỏ thêm kiến thức của bài học Theo PGS.TS Đặng Thành Hưng thì “ trong PHT có thể là văn bản, biểu thị số liệu, hình ảnh, sơ đồ…,tóm tắt hoặc trình bày bằng những cấu trúc nhất định một lượng thông tin, dữ liệu hoặc sự kiện xuất phát cần thiết cho người học”
Như vậy những thông tin sự kiện trong PHT có thể là văn bản, biểu số liệu, hình ảnh…không có trong SGK nhưng cần thiết cho người học
1.1.2.2 Chức năng công cụ và hoạt động giao tiếp
PHT còn có một chức năng quan trọng, đó là chức năng công cụ và hoạt động giao tiếp Chức năng này của PHT giúp cho quá trình dạy được tiến hành chặt chẽ
và tăng khả năng cho quá trình lĩnh hội tri thức của HS
Theo PGS.TS Đặng Thành Hưng thì “PHT còn nêu lên những nhiệm vụ học tập, những yêu cầu hoạt động, những hướng dẫn học tập, những công việc và vấn đề
để người học thực hiện hoặc giải quyết Thông qua nội dung và tính chất này nó thực hiện chức năng công cụ hoạt động và giao tiếp trong quá trình học tập của người học”
Còn với PGS.TS Nguyễn Đức Vũ khi nói về chức năng này của PHT thì cho rằng: “ PHT chứa đựng các câu hỏi, bài tập, yêu cầu hoạt động, những vấn đề và công việc để HS giải quyết hoặc thực hiện, kèm theo hướng dẫn, gợi ý cách làm Thông qua nội dung này, PHT thực hiện chức năng là công cụ hoạt động và giao tiếp trong quá trình học tập của HS
Như vậy, PHT có 2 chức năng rất quan trọng là cung cấp, thông tin sự kiện và
là công cụ hoạt động, giao tiếp Thông qua PHT, GV có thể đưa ra những nhiệm
vụ, công viêc…để học sinh thực hiện Đồng thời, HS nắm những thông tin được
Trang 10cung cấp từ PHT và hoàn thành những nhiệm vụ trong PHT để chiếm lĩnh kiến thức của bài học
1.1.3 Các dạng PHT trong DH VL
Tuỳ theo cách phân loại mà PHT có những dạng khác nhau:
1.1.3.1 Căn cứ vào chức năng của PHT
Như đã nói, PHT có hai chức năng Dựa và đó có thể phân PHT thành 2 loại như sau:
- Phiếu cung cấp thông tin sự kiện
Loại phiếu này có chứa nội dung là những thông tin bổ sung không có trong SGK nhưng lại cần thiết để làm rõ hơn kiến thức của bài học Phiếu này được sử dụng để dạy những bài có nội dung trừu tượng, khó hiểu hoặc những bài, mục mà trong SGK viết qua ngắn và HS không thể hiểu nếu không có thông tin bổ sung
Để xây dựng được loại phiếu này, GV cần thu thập thông tin, tài liệu tạo thành một kho tư liệu cần thiết để có thể chọn lọc, xử lý thông tin biến chúng trở thành nội dung trong PHT
- Phiếu là công cụ hoạt động giao tiếp
Loại phiếu này có chứa nội dung là những câu hỏi, bài tập, yêu cầu, nhiệm vụ…kèm theo những gợi ý, hướng dẫn để HS hoàn thành Từ đó, HS lĩnh hội tri thức của bài học
Phiếu này được sử dụng trong rất nhiều trường hợp khác nhau như kiểm tra bài
cũ, củng cố bài học, ôn tập…
Loại phiếu này có rất nhiều ưu điểm Khi sử dụng phiếu này, GV làm ít, nói ít, còn HS phải làm việc nhiều, điều này rất phù hợp với quan điểm DH lấy HS làm trung tâp, GV chỉ là người hướng dẫn HS đến với kiến thức bài học Tuy nhiên, sự hạn chế về mặt giao tiếp bằng lời giữa GV và HS cũng chính là nhược điểm của loại phiếu này Vì vậy, khi xây dựng loại phiếu này đòi hỏi GV phải có cách trình bày hết sức khoa học, rõ ràng và chính xác để đảm bảo tất cả mọi HS có thể hiểu được
1.1.3.2 Căn cứ vào mục đích sử dụng PHT
Theo mục đích sử dụng PHT thì có thể phân thành các loại PHT như sau:
- Phiếu dùng để kiểm tra bài cũ
Loại phiếu này được sử dụng để kiểm tra bài cũ trước khi vào bài mới Nội dung
của phiếu này như một bài kiểm tra ngắn được in và ghi sẵn
Trang 11GVHD: Nguyễn Bảo Hoàng Thanh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP SVTH : Lê Thị Dung
Loại phiếu này có một ưu điểm nổi bậc là có thể giúp GV kiểm tra cùng lúc được nhiều HS, khắc phục được tình trang GV chỉ gọi một hoặc một vài HS kiểm tra, còn các HS khác chỉ ngồi nghe và làm việc riêng Tuy nhiên sử dụng loại phiếu này nhiều thì sẽ không phát huy được khả năng trình bày, diễn đạt bằng lời nói trực tiếp của HS Đây chính là nhược điểm của loại phiếu này Do vậy, GV cần kết hợp cân đối giữa PP kiểm tra bài cũ bằng PHT và PP kiểm tra bài cũ truyền thống
Ví dụ: PHT dùng để kiểm tra bài cũ trước khi dạy bài 2 – Thuyết electron Định luật bảo toàn điện tích, VL 11 NC
- Phiếu dùng trong dạy bài mới
Loại phiếu này dùng để dạy bài mới, phiếu có ghi rõ các công việc, nhiệm vụ được sắp xếp có hệ thống và lôgic để HS thực hiện, từ đó HS tự tìm ra kiến thức mới của bài học Phiếu này thường có những thông tin bổ sung không có trong SGK hoặc những gợi ý, hướng dẫn để HS dựa vào đó tự hoàn thành phiếu
Khi sử dụng phiếu này trong quá trình dạy bài mới có rất nhiều ưu điểm Thứ nhất nó phát huy được tính tích cực học tập của HS Thứ hai, tiết kiệm được thời gian GV giao câu hỏi, bài tập, nhiệm vụ Thứ ba, HS phải làm việc nhiều, đảm bảo được việc DH lấy HS làm trung tâm Thứ tư, thông qua việc hoàn thành PHT, GV
có thể nhận biết được thái độ, năng lực của từng HS để tìm cách tác động phù hợp
Họ và tên: ……… …………Lớp: ………
PHIẾU HỌC TẬP (Dùng để kiểm tra bài cũ bài 1- Điện tích Định luật Cu-lông) Câu 1: Phát biểu nội dung và viết biểu thức định luật Cu-lông ………
………
………
………
Câu 2: Biểu diễn lực tương tác giữa hai điện tích cùng dấu và ngược dấu ………
………
………
Câu 3: Tính lực tương tác giữa hai điện tích q1 = 6.10-7C và q2 = ─ 5 10-7C đặt trong chân không, cách nhau một khoảng r = 5 cm ………
………
………
………
Trang 12cho mỗi HS Tuy nhiên, loại phiếu này hạn chế khả năng giao tiếp giữa GV và HS
do vậy không rèn luyện cho hoc sinh cách trình bày diễn giải trước lớp Mặt khác, không phải HS nào cũng có khả năng hiểu và hoàn thành phiếu, do vậy đòi hỏi GV phải hướng dẫn riêng cho từng HS
Ví dụ: PHT dùng trong bài 2 – Thuyết electron Định luật bảo toàn điện tích, VL
11 NC
- Phiếu dùng trong củng cố bài
Loại phiếu này được sử dụng sau khi dạy bài mới, hoặc sau một phần nào đó của bài học nhằm củng cố và khắc sâu kiến thức Nội dung của phiếu là những câu hỏi, bài tập hoặc những yêu cầu để học sinh thực hiện nhằm mục đích khái quát hóa, hệ thống lại những kiến thức, kỹ năng vừa học
Ngoài ra, nội dung của phiếu có thêm những câu hỏi khó, nhằm giúp học sinh vận dụng, khắc sâu và mở rộng kiến thức hơn
Họ và tên: ……… …………Lớp: ………
PHIẾU HỌC TẬP Bài 2: Thuyết electron Định luật bảo toàn điện tích (Dùng cho phần 3: Giải thích ba hiện tượng nhiễm điện) Tham khảo bài viết và hình vẽ 2.3 , hình 2.4 và hình 2.5 trả lời các câu hỏi sau: Câu 1: Hiện tượng gì xảy ra nếu cho thanh thủy tinh cọ xát vào miếng lụa? Giải thích tại sao có hiện tượng trên? ………
………
………
………
Câu 2: Hiên tượng gì xảy ra nếu ta cho thanh kim loại trung hòa về điện tiếp xúc với quả cầu mang điện tích âm? Giải thích tại sao có hiện tượng trên? ………
………
………
………
Câu 3: Hiện tượng gì xảy ra nếu ta cho thanh kim loại trung hòa về điện đến gần một quả cầu nhiễm điện âm? Giải thích tại sao có hiện tượng trên? ………
………
………
………
Gợi ý: Để giải thích các hiện tượng trên ta dựa vào sự dịch chuyển của các electron
Trang 13GVHD: Nguyễn Bảo Hoàng Thanh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP SVTH : Lê Thị Dung
Ví dụ: PHT dùng để củng cố khi học xong bài 2 – Thuyết electron Định luật bảo toàn điện tích, VL 11 NC
- Phiếu học tập dùng để giao bài tập về nhà
Đây là loại phiếu được sử dụng để GV giao bài tập về nhà cho HS Trên phiếu
có ghi rõ nội dung, nhiệm vụ mà học sinh phải làm trong giờ tự học ở nhà Phiếu này còn có những bài tập bổ sung, nâng cao cho HS Ưu điểm của loại phiếu này là
GV có thể kiểm tra khả năng tự học của HS Qua đó, giúp HS ôn tập, vận dụng kỹ năng vừa được học, hoặc yêu cầu học sinh chuẩn bị bài mới
Ví dụ: PHT dùng để giao bài tập về nhà sau khi học xong bài 3 – Điện trường
Họ và tên: ……… …………Lớp: ………
PHIẾU HỌC TẬP Bài 2: Thuyết electron Định luật bảo toàn điện tích (Dùng cho phần củng cố bài học) I Trắc nghiệm : Chọn câu trả lời đúng nhất Câu 1 Chọn câu sai trong các câu sau đây: A Trước và sau khi một vật nhiễm điện, tổng đại số các điện tích trên vật dẫn đó lúc sau luôn khác với lúc đầu B Trong hệ cô lập về điện, tổng đại số các điện tích luôn là một hằng số C Trong nhiễm điện do cọ sát, sự xuất hiện các điện tích âm trên vật này luôn kèm theo sự xuất hiện các điện tích dương và có cùng độ lớn trên vật kia D Điện tích của vật nhiễm điện luôn là bội số nguyên của điện tích nguyên tố Câu 2 Chọn câu trả lời đúng Một vật cách điện mang điện tích dương đặt gần (nhưng không chạm vào ) hai quả cầu kim loại tiếp xúc nhau Hai quả cầu sau đó được tách nhau ra Quả cầu lúc đầu đặt xa vật cách điện hơn sẽ: A không mang điện tích B mang điện tích âm C mang điện tích dương D mang điện tích âm hoặc dương Câu 3 Hai quả cầu như nhau được tích điện có độ lớn khác nhau Sau khi được cho chạm vào nhau rồi tách ra thì chúng sẽ luôn: A đẩy nhau B hút nhau C trung hòa về điện D không đẩy cũng không hút II Tự luận Hiên tượng gì xảy ra nếu ta cho thanh kim loại nhiễm điện dương xúc với quả cầu trung hòa về điện? Giải thích tại sao có hiện tượng trên? ………
………
………
………
Trang 141.1.3.3 Căn cứ vào nội dung PHT
Dựa vào nội dung của PHT, có các loại phiếu sau:
- Phiếu bài tập
Nội dung của loại phiếu này là đề bài tập, các bài tập mà HS cần phải làm Ngoài ra trong loại phiếu này còn có gợi ý, hướng dẫn để HS dựa vào đó có thể tự giải quyết được bài toán hay đáp án bài toán nhằm giúp HS so sách kiểm tra lại kết quả đã làm Ưu điểm của loại phiếu này là có thể rèn luyện được kỹ năng giải bài tập của HS
Loại phiếu này được sử dụng trong tiết bài tập hoặc để củng cố, giao bài tập về nhà
Ví dụ: PHT dùng trong bài 5 – Bài tập về lực Cu-lông và điện trường
Họ và tên: ……… …………Lớp: ………
PHIẾU HỌC TẬP Bài 3: Điện trường (Dùng để giao bài tập về nhà) Câu 1: Một hạt bụi có khối lượng 3.10-6 kg được tích điện tích 3ϻC Để hạt bụi lơ lửng trong không khí thì cường độ điện trường có độ lớn là bao nhiêu (lấy g = 10m/s) ………
………
………
Câu 2: Có hai điện tích q1 và q2 đặt cách nhau 10 cm trong chân không Điện tích q1 = 5.10-9 C, q2 = -5.10-9 C Xác định điện trường tại điểm M nằm trên đường thẳng đi qua hai điện tích đó và a) cách đều hai điện tích b) cách q1 một khoảng 5cm và cách q2 một khoảng 15cm ………
………
………
………
………
………
………
………
Câu 3: Phát biểu khái niệm và viết biểu thức công cơ học Viết biểu thức lực tương tác Cu-lông và cường độ điện trường ………
………
………
………
Trang 15GVHD: Nguyễn Bảo Hoàng Thanh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP SVTH : Lê Thị Dung
Phiếu yêu cầu giải quyết tình huống
Loại phiếu này có nội dung yêu cầu HS giải quyết một hoặc một số tình huống nào đó Những vấn đề này, HS phải thảo luận nhóm, nghiên cứu để giải quyết được tình huống yêu cầu Qua đó, HS có thể lĩnh hội được kiến thức Loại phiếu này cũng thường hay sử dụng để dạy bài mới, củng cố, kiểm tra bài cũ hay ra bài tập về nhà
Ví dụ: PHT dùng cho bài 2 – Thuyết electron-Định luật bảo toàn điện tích SGK
VL 11 NC
Họ và tên: ……… …………Lớp: ………
PHIẾU HỌC TẬP Bài 5 : Bài tập về lực Cu-lông và điện trường Câu 1: Hai điện tích đặt cách nhau 5 cm trong không khí thì hút nhau một lực F = 72.10-4N Tính độ lớn của mỗi điện tích, biết điện tích tổng cộng của chúng là 10-8C ………
………
………
………
Đáp số: 5 10-4C và - 4 10-4C Câu 2: Hai quả cầu bằng kim loại giống hệt nhau mang điện tích q1 = 4ϻC và q2 = 2 ϻC đặt cách nhau 3 cm trong chân không a) Tính lực đẩy giữa hai quả cầu b) Cho hai quả cầu tiếp xúc nhau rồi đưa chúng về vị trí cũ thì chúng hút hay đẩy nhau một lực bằng bao nhiêu? ………
………
………
………
………
Đáp số: a) 80N b) 90N Câu 3: Trong chân không hai điện tích dương q1 = 2 10-6C và q2 = 8 10-6C đặt tại hai điểm A và B với AB=9cm Đặt một điện tích q0 tại điểm M Xác định vị trí của M để q0 cân bằng ………
………
………
………
Đáp số: AM = 3cm; BM = 6cm
Trang 16- Phiếu thực hành
Loại phiếu này có nội dung là những yêu cầu nhiệm vụ thực hành Ưu điểm của khi sử dụng phiếu này là rèn luyện được cho học sinh kỹ năng thí nghiệm thực hành
Phiếu này được sử dụng trong các tiết thí nghiệm thực hành
1.1.3.4 Căn cứ vào tiêu chí phát triển kỹ năng
Theo tiêu chí phát triển kỹ năng có thể phân thành các loại sau:
- Phiếu phát triển kỹ năng quan sát
Loại phiếu này có nội dung là những câu hỏi, nhiệm vụ học tập Để hoàn thành phiếu, HS phải sử dụng thị giác kết hợp với các giác quan khác để xem xét sự vật hiên tượng Đối tượng quan sát ở đây có thể là hình vẽ, đồ thị, một thí nghiêm hay một đoạn video…Đối với hình vẽ, đồ thị thường in sẳn trên PHT Với thí nghiệm
có thể làm trực tiếp hoặc cho học sinh xem thí nghiệm ảo qua video
Ví dụ: PHT dùng cho bài 6 – Vật dẫn và điện môi trong điện trường SGK VL
11 NC
Họ và tên:……… Lớp:………
PHIẾU HỌC TẬP (Dùng cho phần 1 , bài 2 – Thuyết electron- Định luật bảo toàn điện tích) Câu 1: Dựa vào hình 2.1 SGK trang 10 VL 11 NC hãy mô tả lại cấu tạo của nguyên tử? ………
………
………
Câu 2: Dựa vào hình 2.2 SGK trang 10 VL 11 NC hãy cho biết khi nào nguyên tử trở thành ion âm, khi nào nguyên tử trở thành ion dương? ………
………
………
Nhóm……… Lớp:………
PHIẾU HỌC TẬP
(Dùng cho phần 1, bài 6 – Vật dẫn và điện môi trong điện trường VL 11 NC)
Câu 1: Quan sát thí nghiệm về sự phân bố điện tích ở mặt ngoài vật dẫn (hình 6.3 SGK) hãy cho biết
a) Khi cho quả cầu thử tiếp xúc với mặt ngoài quả cầu kim loại rồi cho chạm với núm kim loại của điện nghiệm thì 2 lá kim loại như thế nào?
Trang 17GVHD: Nguyễn Bảo Hoàng Thanh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP SVTH : Lê Thị Dung
- Phiếu phát triển kỹ năng phân tích
Loại phiếu này có yêu cầu cao Để hoàn thành phiếu, học sinh phải dựa vào các kiến thức đã học, phân tích mối quan hệ giữa các kiến thức đó rồi rút ra các nhận xét, kết luận
- Phiếu học tập phát triển kỹ năng so sánh
Loại phiếu này thường có nội dung yêu cầu HS so sánh các sự vật hiện tượng với nhau Để hoàn thành phiếu, học sinh phải nắm vững kiến thức, có sự đối chiếu
để rút ra các đặc điểm giống và khác nhau về đặc điểm, tính chất…của các vấn đề đem so sanh Ưu điểm của loại phiếu này là rèn luyện được cho HS kỹ năng so sánh Qua đó còn có tác dụng giúp HS hiểu, nhớ, khắc sâu kiến thức
………
……… b) Khi cho quả cầu thử tiếp xúc với mặt trong quả cầu kim loại rồi cho chạm với núm kim loại của điện nghiệm thì 2 lá kim loại như thế nào?
………
……… c) Rút ra kết luận gì từ thí nghiệm trên?
………
……… Câu 2: Quan sát thí nghiệm về sự phân bố điện tích ở vật dẫn trong trường hợp mặt ngoài có chỗ lồi chỗ lõm (hình 6.4 SGK) hãy cho biết:
a) Độ xòe ra của hai lá kim loại trong 3 trường hợp như thế nào?
………
………
……… b) Rút ra kết luận gì về sự phân bố điện tích ở vật dẫn trong thí nghiệm trên?
………
………
Họ và tên: ……….Lớp: ………
PHIẾU HỌC TẬP (Dùng cho phần 2 bài 3 – Điện trường SGK VL 11 NC)
Dựa vào công thức F q E
hãy cho biết:
1 Với điều kiện nào của q thì F
và E cùng chiều?
………
2 Với điều kiện nào của q thì F
và E ngược chiều?
………
Trang 18Ví dụ: PHT dùng để củng cố bài 7 – Tụ điện SGK VL 11 NC
- Phiếu phát triển kỹ năng quy nạp, khái quát hoá
Phiếu này yêu cầu HS tóm tắc một đoạn trong SGK, sơ đồ hoá lại kiến thức, hay rút ra những đặc điểm chung từ những tính chất rời rạc cụ thể…hay logic hoá, hình thành kiến thức từ cái riêng đến cái chung, cái tổng thể
Ví dụ : Phiếu dùng khi dạy bài 6 – Vật dẫn và điện môi trong điện trường SGK
Hiệu điện thế của bộ tụ ……… ………
Họ và
tên:………Lớp:………
PHIẾU HỌC TẬP
(Dùng trong bài 6 – Vật dẫn và điện môi trong điện trường SGK VL 11 NC)
1 Từ thí nghiệm về điện thế ở mặt ngoài vật dẫn (hình 6.2 SGK) rút ra kết luận
gì về điện thế tại các điểm trên mặt ngoài vật dẫn?
………
………
………
2 Từ thí nghiệm về sự phân bố điện tích ở mặt ngoài vật dẫn (Hình 6.3 SGK) rút
ra kết luận gì về sự phân bố điện tích đối với vật dẫn rỗng nhiễm điện?
………
………
………
Trang 19GVHD: Nguyễn Bảo Hoàng Thanh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP SVTH : Lê Thị Dung
- Phiếu phát triển kỹ năng suy luận đề xuất giả thuyết
Dạng phiếu này có thể đưa ra một giả thuyết để HS suy luận hay quan sát hình
vẽ, thí nghiệm… để đề xuất giả thuyết hay đưa ra những ý tưởng mới, những cách giải quyết mới cho vấn đề Để hoàn thành được loại phiếu này, HS phải có năng lực
tư duy logic
Ví dụ: Phiếu dùng để dạy phần 2 bài 7 – Tụ điện SGK VL 11 NC
1.1.3.5 Căn cứ vào tiêu chí dùng PHT để rèn luyện kỹ năng Vật lí cho học sinh
Theo tiêu chí này có thể phân PHT thành các dạng sau:
- Phiếu phát triển kỹ năng giải thích hiện tượng VL
Loại phiếu này có nội dung là những câu hỏi, yêu cầu kèm theo những gợi ý, hướng dẫn HS giải thích một hiện tượng VL nào đó Ưu điểm khi sử dụng loại phiếu này là rèn luyện cho HS các kỹ năng giải thích hiện tượng như kỹ năng phân tích hiện tượng, kỹ năng xây dựng lập luận giả thuyết, kỹ năng biện luận… để chỉ ra
sự logic hợp lí quy luật diễn biến của các hiện tượng nhằm khẳng đinh, kiểm nghiệm lại các định luật, định lí, thuyết VL…
3 Dựa vào thí nghiệm ở hình 6.4 hãy quan sát và so sánh độ xoè ra của 2 lá kim loại trong điện nghiệm ở 3 trường hợp hình vẽ? Tại sao lại có sự chênh lệch đó? Kết quả thí nghiệm cho thấy sự phân bố điện tích ở vật dẫn trong trường hợp mặt ngoài có chỗ lồi chỗ lõm như thế nào?
………
………
………
Họ và tên: ……….Lớp:………
PHIẾU HỌC TẬP (Dùng cho phần 2 bài 7 – Tụ điện SGK VL 11 NC) 1 Dựa vào định nghĩa điện dung của tụ điện hãy lập biểu thức tính điện tích Q của tụ Từ biểu thức này cho biết 1 đơn vị Fara là gì? ………
………
………
2 Dựa vào công thức d S C 4 10 9 9 hãy đề xuất các cách làm tăng điện dung của tụ này? ………
………
………
Trang 20Ví dụ: Phiếu dùng để giao bài tập về nhà sau khi học xong bài 6 – Vật dẫn và điện môi trong điện trường SGK VL 11 NC
- Phiếu phát triển kỹ năng làm thí nghiệm thực hành VL
Nội dung của loại phiếu này là những yêu cầu, những hướng dẫn đưa ra để HS tiến hành các bài thí nghiệm Ưu điểm khi sử dụng phiếu là rèn luyện cho HS các kỹ năng như sử dụng dụng cụ thí nghiệm, lắp đặt tiến hành thí nghiệm, thu thập, xử lí
số liệu, phân tích, đánh giá, nhận xét kết quả thí nghiệm…
- Phiếu phát triển kỹ năng giải bài tập VL
Trên loại phiếu này có in những bài tập mà học sinh cần phải hoàn thành Nội dung của phiếu còn có những gợi ý, hướng dẫn nếu cần thiết đối với những bài khó Ngoài ra GV có thể cho đáp số trước hoặc trình bày đáp số dưới dạng trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn Khi thực hiện loại phiếu này, HS sẽ được hình thành các kỹ năng giải bài tập như kỹ năng tóm tắt đề, phân tích dữ kiện bài toán, nêu được các định luật và công thức liên quan, đổi đơn vị…
Ví dụ: Phiếu dùng để giao bài tập về nhà sau khi học xong bài 9 – Bài tập về tụ điện SGK VL 11 NC
Họ và tên: ………Lớp: ………
PHIẾU HỌC TẬP
( Dùng để giao bài tập về nhà sau khi học xong bài 6 – Vật dẫn và điện môi trong
điện trường SGK VL 11 NC)
Vận dụng sự phân bố điện tích trong vật dẫn hãy giải thích:
1 Tai sao phía sau đuôi máy bay thường có những cánh nhỏ nhọn?
( Bài tập về nhà sau khi học xong bài 9 – Bài tập về tụ điện SGK VL 11 NC)
Bài 1: Một tụ điện phẳng không khí được nối với nguồn điện thế không đổi Sau
đó đưa bản tụ lại gần nhau để khoảng cách giữa các bản giảm một nữa Năng lượng của tụ điện tăng hay giảm bao nhiêu lần?
Trang 21GVHD: Nguyễn Bảo Hoàng Thanh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP SVTH : Lê Thị Dung
- Phiếu phát triển tổng hợp nhiều kỹ năng
Nội dung của loại phiếu này có chứa những yêu cầu mà để hoàn thành HS phải vận dụng linh hoạt các kỹ năng đã học như kỹ năng giải bài tập, kỹ năng giải thích hiện tượng
Ví dụ: Phiếu dùng cho phần 2 bài 8 - Năng lượng điện trường SGK VL 11 NC
1.1.4 Vai trò của PHT trong dạy học VL phát huy tính tích cực nhận thức của HS
1.1.4.1 DH phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh
Phát huy tính tích cực nhận thức của HS trong quá trình DH có nghĩa là DH trong đó phải lấy HS làm chủ thể, HS là người chủ động, tích cực tìm kiếm kiến thức, còn GV là người tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ để HS tự mình tiếp cận, khám phá kiến thức mới
Để phát huy tính tích cực nhận thức của HS thì cần có những đặc trưng sau:
………
………
………
………
Bài 2: Một tụ điện phẳng không khí được nối với nguồn điện thế không đổi Ngắt tụ ra khỏi nguồn, sau đó đưa bản tụ lại gần nhau để khoảng cách giữa các bản giảm một nữa Năng lượng của tụ điện tăng hay giảm bao nhiêu lần? ………
………
………
………
Họ và tên: ………Lớp:………
PHIẾU HỌC TẬP ( Dùng trong phần 2 bài 8 – Năng lượng điện trường SGK VL 11 NC) 1 Dựa vào công thức tính điện dung của tụ điện phẳng d S C 4 10 9 9 và hệ thức liên hệ giữa điện trường và hiệu điện thế, hãy thiết lập công thức tính năng lượng điện trường trong tụ điện phẳng và mật độ năng lượng điện trường ………
………
………
2 Giả sử đây là một tụ điện không khí, điện trường giữa hai bản tụ là 4.104 V/m, hai bản tụ hình tròn bán kính 9cm, cách nhau 1cm Tính năng lượng điện trường và mật độ năng lượng điện trường của tụ điện này ………
………
………
………
…………
Trang 22- Thức nhất là DH thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS
Hiện nay, các PPDH tích cực lấy HS làm trung tâm DH không có nghĩa là lúc nào cũng cung cấp kiến thức cho HS một cách máy móc, mà phải biết tổ chức hướng dẫn HS tự tìm đến với những kiến thức đó, tạo điều kiện để HS tự lực khám phá và lĩnh hội những kiến thức mới Cách DH hữu hiệu là tạo ra những tình huống học tập nhằm tăng sự tò mò, hứng thú cho HS Từ đó, HS có thể trực tiếp quan sát, thảo luận, hoặc tiến hành thí nghiệm…để giải quyết tình huống đã đặt ra Bằng cách này, HS sẽ nắm được kiến thức mới, kỹ năng mới, đồng thời xây dựng được PP hình thành kiên thức, kỹ năng đó
- Thứ hai là DH chú trọng rèn luyện PP tự học
Hiện nay, viêc học ngày càng được chú trọng, không còn hiện tượng thất học, trình độ dân trí của con người tăng cao Do vậy, nhiều người cho rằng viêc day-học chỉ là cố nhồi nhét vào đầu HS một lượng kiến thức càng nhiều càng tốt Tuy nhiên, với cách dạy nhồi nhét như vậy, tạo cho HS một cách học máy móc, rập khuôn Điều cần thiết là phải dạy cho HS PP tự học Khi đã có PP tự học, HS sẽ ham học hơn, chủ động hơn trong việc khám phá kiến thức
- Thứ ba là tăng cường DH cá thể, phối hợp DH hợp tác
Quá trình DH bằng cách tổ chức cho HS tự tiếp cận với kiến thức là một PP có hiệu quả cao trong việc đổi mới các PP giáo dục hiện nay Tuy nhiên, để người học khám phá kiến thức thì đòi hỏi sự cố gắng trí tuệ và nghị lực cao của HS Tuy nhiên, năng lực và trí tuệ là không giống nhau ở các HS Do vậy việc hoàn thành nhiệm vụ học tập của HS có sự phân hóa rõ rệt Chính vì thế, GV cần tăng cường
DH cá thể để đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của HS
Bên cạnh DH cá nhân, cần phải phối hợp DH hợp tác DH hợp tác là xây dựng các phương pháp học theo nhóm, tập thể Thông qua viêc thảo luận nhóm, tranh luận tập thể, mỗi cá nhân HS thể hiện được ý kiến của mình, khẳng định hay bác bỏ
ý kiến của những cá nhân khác thông qua những kiến thức kinh nghiệm của bản thân Trong học tập hợp tác, mỗi cá nhân có những nhiệm vụ riêng, nhưng đều hướng về một mục tiêu chung được giao Do vậy, sự phối hợp giữa các cá nhận tăng cường hoàn thành xuất sắc mục tiêu chung
Thứ tư là kết hợp đánh giá của GV và tự đánh giá của HS
Trang 23GVHD: Nguyễn Bảo Hoàng Thanh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP SVTH : Lê Thị Dung
Việc đánh giá HS của GV đóng một vai trò quan trọng trong quá trình dạy-học Đánh giá HS nhằm giúp GV biết được mức độ học tập của từng cá nhân HS Từ đó,
có hướng tác động phù hợp Trong PP DH tích cực, không những GV đánh giá HS
mà còn phải hướng HS tự đánh giá mình Từ đó HS tự đánh gia được mức độ đạt và chưa đạt, cũng như thực trang việc học của mình Đây là hướng cơ sở cho HS tự rút
ra những phương pháp, thay đổi cách học tập phù hợp với bản thân
Đối với PPDH tích cực, khi lên lớp, HS là người hoạt động chính, GV chỉ đóng vai trò là người dẫn dắt, tổ chức các hoạt động của HS Tuy nhiên, với PPDH này,
GV cần đầu tư công sức, thời gian rất nhiều để thiết kế một bài DH mới có thể thực hiện được vai trò gợi mở, xúc tác, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động khám phá, tranh luận của HS
1.1.4.2 Vai trò của PHT trong DH phát huy tính tích cực nhận thức của HS
Giáo dục được xem là quốc sách hàng đầu của mỗi quốc gia, nhà nước luôn tiến hành đổi mới PP giáo dục theo từng giai đoạn để phù hợp với sự phát triển đi lên của nước ta PP giáo dục hiện nay đều hướng tới mục tiêu phát huy tính tích cực nhận thức của HS Để đáp ứng mục tiêu đó, PPDH trong đó đề cao hoạt động chủ động, tích cực sáng tạo của HS được xem là PPDH hiệu quả nhất
PHT là một phương tiên DH do GV tự thiết kế bao gồm những nhiệm vụ học tập được trình bày một cách logic, khoa học Trong đó GV đã tính toán kỹ từng nội dung phù hợp với mức độ của HS, để HS có thể tự hoàn thành, từ đó chiếm lĩnh kiến thức mới PHT đồng thời cũng là công cụ để GV tổ chức động học tập cho HS
HS sử dụng PHT như một công cụ, một tài liệu để hoàn thành các nhiệm vụ học tập được giao Để hoàn thành được các nhiệm vụ đó, HS có thể làm việc độc lập hay hoạt động theo nhóm Qua đây, HS còn hình thành kỹ năng học tập độc lập, hợp tác,
kỹ năng trình bày ý kiến, thảo luận…
Khi sử dụng PHT, HS phải tự nghiên cứu SGK và các tài liệu tham khảo, mọi
HS phải tự thực hiện nhiệm vụ được giao trong PHT, hạn chế được những thói quen
ỷ lai, dựa dẫm của đa số HS yếu kém Đồng thời trong quá trình hoàn thành PHT,
HS phải thực hiện các hoạt động học tập bằng tay, các biến đổi sinh hóa được diễn
ra mạnh mẽ, sâu sắc trong não của các em, từ đó giúp các em hiểu sâu và nhớ lâu kiến thức hơn Trong quá trình hoạt động học tập theo nhóm, HS phải thảo luận,
Trang 24tranh luận…để hoàn thành nhiệm vụ chung Do đó, HS được trình bày ý kiến của mình trước tập thể, rèn luyện kỹ năng hùng biện của bản thân Những ý kiến đóng góp của HS thể hiện được quan niệm của chính các em, từ đó GV sẽ có hướng tác động thay đổi những quan niệm sai lầm của HS Đồng thời trong quá trình đóng góp
ý kiến, sẽ có sự tiếp nhận ý kiến của các thành viên trong tập thể, do vậy các em sẽ
tự sửa đổi, tiếp thu, tự đánh giá được kết quả làm việc của mình trong nhóm
Bên cạnh đó, khi HS thực hiện nhiệm vụ trong PHT, qua quan sát, GV có thể thu nhận những thông tin về năng lực, thái độ học tập của HS để có những biện pháp uốn nắn kịp thời Đồng thời, khi HS có sản phẩm quá trình hoàn thành PHT,
GV có được nguồn thông tin phản hồi trung thực hơn, từ đó điều chỉnh được PPDH của mình
Như vậy, việc sử dụng PHT đóng một vai trò quan trọng trong PPDH phát huy được tính tích cực của HS Do đó việc thiết kế vào sử dụng PHT trong DH VL là rất quan trọng và cần thiết
1.2 Đặt điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thực của học sinh THPT
Ở độ tuổi này, các em đã có sự hoàn thiện về mặt thể chất và sự phát triển trí tuệ Trong giai đoạn này, hệ xương phát triển hoàn thiện, cơ bắp phát triển mạnh, nhất là ở các học sinh nam., hệ tim mạnh và hệ thần kinh đều phát triển cân bằng và
ổn định Đặc biệt, cầu trúc bên trong của não phức tạp hơn, các chức năng thần kinh
đã hoàn thiện, số lượng dây thần kinh liên hợp liên kết các phần của vỏ não tăng lên tạo điều kiện cho quá trình phân tích và tổng hợp ở một mức độ cao hơn Về mặt nhận thức, các em đã biết định hướng, có mục đính riêng cho tương lai của mình Trong học tập, các em đã hình thành được PP học tập, biết điều khiển quá trình học tập độc lập, tự giác tìm tòi học hỏi những kiến thức ở sách vở Vì vậy, nhìn chung
HS THPT đã có sự thay đổi căn bản hoạt động học tập, từ thụ động đến năng động, độc lập, sáng tạo hơn trong quá trình tiếp cận và lĩnh hội kiến thức Đặc điểm này
đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong học tập
Về mặt phát triển trí tuệ, tính chủ định phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức HS nhạy cảm hơn, cảm giác và tri giác phát triển mạnh, do đó khả năng cảm thụ âm nhạc, hội họa…khá tinh tế Tri giác phát triển đạt đến một mức độ cao
Trang 25GVHD: Nguyễn Bảo Hoàng Thanh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP SVTH : Lê Thị Dung
Do vậy, trong quá trình quan sát các em biết phân tích tổng hợp, khái quát hóa , nhìn nhận phân biệt các hiện tượng một cách đầy đủ và chi tiết hơn Đặc biệt, ở lứa tuổi này, trí nhớ có chủ định đóng vai trò quan trong trong quá trình ghi nhớ của HS THPT Trong đó, ghi nhớ trừu tượng lôgíc đóng vai trò ưu thế Trong học tập các
em biết xây dưng dàn bài, tìm ra những kiến thức trọng tâm, lập bản so sánh để ghi nhớ và nắm vững kiến thức hơn Do vậy, các em có khả năng ghi nhớ một lượng kiến thức khá lớn Đặc điểm này phù hợp với quá trình thi tốt nghiệp cũng như thi đại học của các em
Về mặt tư duy, bộ não của các em khá hoàn thiện, do vậy tư duy của các em đã
có sự phát triển về mọi mặt Giai đoạn này, khả năng sáng tạo, tính độc lập và phê phán của tư duy phát triển mạnh Đặc biệt, ở lứa tuổi này, các em có sự tư duy lôgic song hành với sự ghi nhớ lôgic, do vậy quá trình tư duy và ghi nhớ đạt một hiệu quả rất cao Trong quá trình tư duy, các em linh hoạt hơn, lập luận chặt chẽ, nhất quán hơn Bên cạch sự phát triển tư duy, ngôn ngữ cũng phát triển mạnh, vốn từ ngữ của các em khá phong phú, ngôn ngữ giàu hình tượng gợi cảm Do vậy, khả năng tư duy
và sử dụng ngôn ngữ bày tỏ ý kiến tư duy của mình khá sâu sắc Trong quá trình hoạt động nhóm, các em thích bày tỏ ý kiến của mình, thích tranh luận và nhu cầu giải quyết các mâu thuẫn một cách thấu đáo Chính đặc điểm này tạo điều kiện thuận lợi cho GV tổ chức các hoạt động học tập theo nhóm, theo tập thể để HS có thể hợp tác và tự lực trong học tập Đồng thời, ở tuổi này rất giàu trí tưởng tượng, sáng tạo Do vậy GV cần tạo điều kiện để các em tự do sáng tạo theo khả năng riêng trong hoạt động khai phá kiến thức
Về mặt ý thức, ở độ tuổi này, sự tự ý thức được phát triển mạnh Các em nhận thức được tầm quan trọng của việc học, biết lo lắng cho bản thân về nghề nghiệp trong tương lai, vì vậy các em có ý thức cao trong việc học, có thái độ nghiêm túc, đúng đắn trong học tập Các em đã nhận thức được phẩm chất đạo đức, ý chí, những nét tính cách và thuộc tính của bản thân Trên cơ sở nhận thức về bản thân, các em ở
độ tuổi này biểu hiện thái độ với bản thân khá mạnh mẽ và rõ nét Lòng tự trọng, tính
tự phế phán của các em rất cao, các em thấy xấu hổ, tự phê phán bản thân khi mắc sai lầm, dễ bi quan, có khi tiêu cực nếu bị lên án mạnh mẽ từ bên ngoài Do vậy trong công tác DH, GV cần có sự giúp đỡ kịp thời để các em vượt qua được mặt cảm
Trang 26Một đặc điểm nổi bậc ở độ tuổi này là sự tự khẳng định Do có sự nhận thức rõ
về bản thân, các em cũng có khả năng đánh giá bản thân mình Đa số các em đều thích tuyên dương, được tin tưởng và tôn trọng Bản thân các em có khả năng đánh giá được các mặt ưu và nhược điểm của mình, từ đó các em có hướng phát triển ưu điểm cũng như khắc phục hạn chế các nhược điểm Tuy nhiên, chính mặt này tạo cho các em sự kỳ vọng quá cao về bản thân, do vậy khi các em không đạt được các mục đính đề ra thì thường rơi vào tâm trạng thất vọng, tâm lí áp lực, chán nán, mất niềm tin mỗi khi vấp ngã Đồng thời ở độ tuổi này, ngoài sự giáo dục của nhà trường, gia đình các em còn biết cách tự giáo dục chính bản thân mình Các em biết lập kế hoạnh, lên chương trình rèn luyện của bản thân, và nghiêm khắc thực hiện các mục tiêu đó Trong quá trình này, ý chí nghị lực của các em thể hiện rõ rệt Những đặc điểm này thể hiện được tính tổ chức, kỹ luật cao ở HS THPT
Như vậy, HS THPT bên cạnh sự phát triển trưởng thành về mặt thể chất, các em còn hoàn thiện, rèn luyện về mặt ý thức, tính cách, đạo đức…Với các em, ý thức học tập ngày càng phát triển, cảm giác, tri giác ngày càng tăng, trí nhớ có chủ động chiếm ưu thế, tư duy lôgic phát triển mạnh, trí tưởng tượng đa dạng, ngôn ngữ phong phú Các em có đủ những điều kiện thuận lợi để GV có thể kết hợp sử dụng PHT trong DH để phát huy hơn nữa tính chủ động, tích cực, tự lực của HS
1.3 Thực trạng của việc thiết kế và sử dụng PHT trong dạy học Vật lí của
GV hiện nay
Để nắm được thực trạng của việc thiết kế và sử dụng PHT trong DH bộ môn Vật lí chúng tôi đã tiến hành khảo sát, thăm dò ý kiến của một số GV dạy VL ở các trường
phổ thông thuộc huyện Điện Bàn- Tỉnh Quảng Nam
1.3.1 Nội dung của phiếu thăm dò ý kiến GV
PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN GIÁO VIÊN VỀ TÌNH HÌNH THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG Kính thưa các thầy cô giáo!
Hôm nay chúng tôi đang tiến hành thực hiện đề tài “Thiết kế và sử dụng PHT trong dạy học VL phần Điện tích – Điện trường VL 11 NC” Để hiểu rõ về tình hình thực
tế của việc thiết kế và sử dụng PHT trong dạy học VL ở trường phổ thông hiện nay, làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài, xin thầy cô vui lòng cho biết ý kiến của mình
về những vấn đề sau Rất mong được sự giúp đỡ hợp tác của các thầy (cô) giáo
Trang 27GVHD: Nguyễn Bảo Hoàng Thanh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP SVTH : Lê Thị Dung
Xin chân thành cảm ơn!
Họ và tên giáo viên:………
Trường: ………
Xin thầy cô đánh dấu X vào ô lựa chọn
Câu 1: Theo thầy (cô) phiếu học tập là gì?
A Là tờ giấy rời ghi các yêu cầu, nhiệm vụ mà HS phải tự lực hoàn thành
B Là phương tiện dạy học đơn giản do GV tự thiết kế
C Là công cụ hướng dẫn HS khám phá tri thức
D Tất cả các ý trên
Câu 2: Theo thầy (cô) phiếu học tập có chức năng nào:
A Cung cấp thông tin và sự kiện
B Là công cụ để hướng dẫn HS tiếp cận tri thức dưới sự hướng dẫn của GV
C Là phương tiện giao tiếp của GV và HS
D Tất cả các ý trên
Câu 3: Theo thầy (cô) phiếu học tập được sử dụng nhằm mục đích gì?
A Bổ sung thêm thông tin sự kiện ngoài SGK có liên quan đến bài học
B Nhằm hướng dẫn HS cách tự khai phá tri thức
C Nhằm hình thành ở HS thói quen tự học
D Nhằm rèn luyện cho HS kỹ năng học tập hợp tác
E Tất cả các ý trên
Bổ sung thêm mục đích khác:……… Câu 4: Theo thầy (cô) mức độ cần thiết của việc thiết kế và sử dụng phiếu học tập
A Rất cần thiết B Cần thiết C Bình thường
D Không cần thiết lằm E Hoàn toàn không cần thiết
Câu 5: Thầy (cô) có sử dụng phiếu học tập trong dạy học không?
A Thường xuyên B Không thường xuyên C Rất ít khi
D Hoàn toàn không
Câu 6: Thầy (cô) thường sử dụng phiếu học tập trong trường hợp nào
A Kiểm tra bài cũ B Dạy bài mới C Củng cố D Giao bài tập về nhà Câu 7: Thầy (cô) thường sử dụng phiếu học tập với phương pháp dạy học nào
A Phương pháp thảo luận nhóm B Phương pháp thuyết trình, diễn giải
Trang 28C Phương pháp đàm thoại gợi mở D Phương pháp trực quan, thực nghiệm Câu 8: Theo thầy (cô) hiệu quả của việc sử dụng phiếu học tập trong dạy học của mình là:
A Rất tốt B Tốt C Khá
D Trung bình E Dưới trung bình
Câu 9: Những thuận lợi và khó khăn trong việc thiết kế và sử dụng PHT
Thuận lơi:……… Khó khăn: ………
Xin chân thành cảm ơn sự hợp tác của các thầy cô!
1.3.2 Kết quả khảo sát
* Quan niệm của GV về PHT
Về định nghĩa PHT, qua kết quả điều tra trong tổng số 24 GV thì có 16 GV đồng
ý với cả 3 ý được đưa ra về định nghĩa PHT, còn 8 GV chọn 1 hoặc 2 trong 3 ý, trong
đó có 5 sự lựa chọn PHT là tờ giấy rời ghi rõ những yêu cầu mà HS cần phải tự lực hoàn thành, 2 sự lựa chọn PHT là phương tiện dạy học do GV tự thiết kế, 1 sự lựa chọn PHT là công cụ hướng dẫn HS khám phá tri thức mới
Về chức năng của PHT, kết quả thăm dò ý kiến của 24 GV cho thấy có 14 GV cho rằng chức năng của PHT vừa cung cấp thông tin sự kiện, vừa là công cụ để HS hoạt động dưới sự hướng dẫn của GV, vừa là phương tiện giao tiếp giữa GV và HS, 7 GV nhất trí với chức năng công cụ để HS hoạt động dưới sự hướng dẫn của GV, 2 ý kiến cho rằng chức năng của PHT là phương tiên giao tiếp giữa GV và HS và chỉ có 1 GV đồng ý với chức năng cung cấp thông tin sự kiện của PHT
Qua kết quả khảo sát cho thấy phần lớn GV đã có những quan niệm khái quát về PHT Bên cạch đó, một phần GV có những quan niệm chưa được đầy đủ và chính xác về định nghĩa cũng như chức năng của PHT Hầu như các GV chưa nhận thấy
và khai thác hết các chức năng của PHT trong quá trình DH, như các chức năng cung cấp thông tin và sự kiện, công cụ hướng dẫn HS khám phá kiến thức mới…Do vậy, việc đưa ra những khái niệm cơ bản về PHT là hết sức cần thiết cho tình hình thực tế hiện nay
* Mục đích của việc sử dụng PHT trong DH VL
Kết quả khảo sát ý kiến của GV về mục đích của việc sử dụng PHT trong dạy học
VL như sau: 12 GV cho rằng sử dụng PHT trong DH VL nhằm mục đích bổ sung
Trang 29GVHD: Nguyễn Bảo Hoàng Thanh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP SVTH : Lê Thị Dung
những thông tin ngoài sách giáo khao có liên quan đến bài học, hướng dẫn HS cách làm việc khai phá tri thức mới, hình thành thói quen tự lực, độc lập nghiên cứu, rèn luyện các kỹ năng VL, đồng thời phát triển kỹ năng học tập hợp tác Một nữa GV còn lại chỉ chọn một trong các mục đích đã đề ra Cụ thể là: 4 GV nhất trí với mục đích bổ sung thêm thông tin ngoài SGK có liên quan đến bài học, 2 GV cho rằng việc sử dụng PHT trong DH VL nhằm mục đích hướng dẫn HS cách làm việc khai phá trí thức mới, 6 GV lại đồng ý với mục đích rèn luyện kỹ năng VL của việc sử dụng PHT trong DH VL
Qua số liệu trên cho thấy có thể hầu hết các GV đều đánh giá cao những mục đích của việc sử dụng PHT trong DH VL, những mục đích này đều rất quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Do vậy việc thiết kế và sử dụng PHT trong DH VL là rất cần thiết
* Tính cần thiết của việc thiết kế và sử dụng PHT trong DH VL
Kết quả điều tra được thể hiện bằng đồ thị sau:
Kết quả cho thấy, hơn 60 % GV cho rằng việc thiết kế và sử dụng PHT trong DH VL
ở cấp độ rất cần thiết và cần thiết Những GV này là những người đã sử dụng nhiều PHT để DH VL, và cũng thấy được hiệu quả của phương pháp này Còn lại dưới 40 %
GV nhất trí với việc sử dụng PHT trong DH VL ở mức độ bình thường, không cần thiết lắm Chỉ có 4 % GV lại cho rằng việc sử dụng PHT trong DHVL là hoàn toàn không cần thiết Như vậy, PHT cần được sử dụng trong DH đề phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của HS theo yêu cầu đổi mới PP giáo dục hiện nay
* Mức độ sử dụng PHT trong DH VL
Kết quả điều tra được thể hiện bằng đồ thi dưới đây:
Biều đồ1.1 Tính cần thiết của việc thiết kế và sử dụng PHT
trong DH VL
Trang 30Từ kết quả trên cho thấy: 100% các GV đều có sử dụng PHT trong DH VL nhưng với những mức độ thường xuyên khác nhau Cụ thể là: 14 GV không thường xuyên
sử dụng PHT trong DH VL chiếm tỉ lệ 58 % Số GV rất ít khi sử dụng PHT là 7 chiếm tỉ lệ 29 % Chỉ có 3 GV sử dụng PHT ở mức độ thường xuyên Qua số liệu trên cho thấy, số GV thường xuyên sử dụng PHT trong DH VL là rất ít, vì việc thiết kế và
sử dụng PHT đòi hỏi GV đầu tư nhiều công sức và thời gian Đối với các GV lớn tuổi, có kinh nghiệm giảng dạy lâu năm thường rất ít khi sử dụng PHT trong DH VL
* Hình thức tổ chức DH với PHT trong DH VL
Kết quả thăm dò ý kiến của GV về hình thức tổ chức DH với PHT trong DH VL được thể hiện rõ ở biểu đồ sau:
Kết quả khảo sát về hình thức DH với PHT trong DH VL cho thấy: hầu hết GV
sử dụng PHT kết hợp với hình thức dạy học theo nhóm và dạy học theo cá nhân Số
GV sử dụng PHT để dạy học theo lớp là rất ít, chỉ chiếm 24 % Dạy học theo nhóm hay theo cá nhân là hình thức DH phù hợp khi sử dụng PHT, tăng cường được sự học tập tự lực và học tập hợp tác của HS Ngoài ra một số GV còn lựa chọn PP trực quan, PP thực nghiệm kiểm chứng…Đây là cơ sở quan trọng cho việc thiết kế vào
sử dụng PHT được hoàn chỉnh hơn
Biểu đồ 1.2 Mức độ sử dụng PHT trong DH VL
Biểu đồ 1.3 Hình thức dạy học với PHT trong DH VL
Trang 31GVHD: Nguyễn Bảo Hoàng Thanh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP SVTH : Lê Thị Dung
* Việc sử dụng PHT trong các khâu của tiến trình DH VL
Kết quả điều tra cho đa số GV đều lựa chọn việc sử dụng PHT trong tất cả các khâu kiểm tra bài cũ, dạy bài mới, củng cố bài học, giao bài tập về nha Tuy nhiên, hầu hết GV ưu tiên sử dụng PHT cho khâu dạy bài mới và củng cố bài học, và đặc biệt là khâu củng cố bài học Các GV cho rằng khi sử dụng PHT cho khâu này thì có thể kiểm tra được sự hiểu bài của HS, đồng thời kết hợp sử dụng PHT khi củng cố bài học sẽ đánh giá được mức độ nắm bài của nhiều HS, từ đó tìm hướng tác động đối với mỗi HS, đặc biệt là các HS chưa nắm vững kiến thức Một số GV cũng lựa chọn PHT trong khâu kiểm tra bài cũ để có thể kiểm tra kiến thức của nhiều HS cùng một lần Số lượng GV sử dụng PHT để giao bài tập về nhà thì ít hơn Tuy nhiên, các GV còn đưa ra ý kiến là việc kết hợp sử dụng PHT trong khâu nào là tùy thuộc vào từng bài học và đặc điểm riêng của từng lượng kiến thức khác nhau
Qua kết quả điều tra thực tế ý kiến của GV về việc sử dụng PHT trong các khâu của quá trình DH đã cho chúng tôi có thêm những thông tin, những định hướng trong việc thiết kế vào sử dụng PHT trong DH VL
* PPDH được sử dụng kết hợp với PHT trong DH VL
Khi điều tra về việc các GV lựa chọn sử dụng PPDH kết hợp với PHT trong DH
VL chúng tôi đã thu được kết quả như sau: đa số các GV đều lựa chọn PP thảo luận nhóm kết hợp PHT trong DH VL, chiếm 83 %, 58 % GV chọn PP thuyết trình diễn giải kết hợp với PHT để nâng cao chất lượng DH, PP đàm thoại gợi mở thì có 67 %
ý kiến nhất trí, 38 % GV lựa chọn PP nghiên cứu Đây là cơ sở để chúng tôi định hướng hơn trong việc thiết kế vào sử dụng PHT trong DH VL
* Hiệu quả của việc sử dụng PHT trong DH VL
Kết quả điều tra thực tế hiệu quả của việc sử dụng PHT trong DH VL được thể
hiện ở biểu đồ dưới đây:
Biểu đồ 1.4 Hiệu quả việc sử dụng PHT trong DH VL
Trang 32Từ số liệu của biểu đồ trên cho thấy đa số GV đều đánh giá cao hiệu quả của việc sử dụng PHT trong DH VL, 76 % ý kiến của GV cho rằng hiệu quả của việc sử dụng PHT là rất tốt và tốt, còn 25 % GV đánh giá hiệu quả của việc sử dụng PHT ở mức độ khá Như vậy, việc sử dụng PHT thực sự có tác dụng trong việc nâng cao chất lượng dạy và học
1.3.3 Những thuận lợi và khó khăn của việc thiết kế và sử dụng PHT
Do vậy, GV nhận được sự ủng hộ của nhà trường trong việc đổi mới PP giáo dục,
mà việc sử dụng PHT rất phù hợp với xu hướng đổi mới đó
Thứ ba là những thuận lợi ngay trong quá trình sử dụng PHT vào DH VL Hứng thú của HS khi làm việc với PHT là rất cao Bên cạch đó, bằng cách sử dụng PHT tạo điều kiện cho HS tự thể hiện sự chủ động, sáng tạo của mình khi tiếp cận kiến thức Phương Pháp này còn giúp GV đánh giá đồng bộ hơn thái độ cũng như năng lực học tập của mỗi HS
1.3.3.2 Khó khăn
Bên cạch những thuận lợi thì việc sử dụng PHT cũng gây cho GV rất nhiều khó khăn Qua kết quả điều tra chúng tôi đã thu được một số ý kiến về mặt khó khăn khi
sử dụng PHT của GV như sau:
Thứ nhất là việc biên soạn PHT mất rất nhiều thời gian, GV phải đầu tư nhiều công sức Đây là khó khăn của hầu hết các GV
Trang 33GVHD: Nguyễn Bảo Hoàng Thanh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP SVTH : Lê Thị Dung
Thứ hai là việc sử dụng PHT tốn kém trong việc in ấn, photo phiếu Số lượng PHT sử dụng trong một tiết học có thể là 1 hoặc 2 hoặc 3 hay có thể là nhiều hơn, đồng thời số lượng HS cũng rất đông Do vậy chi phí cho công việc này không phải nhỏ đối với mức thu nhập của người GV hiện nay
Thứ ba thời gian cho một tiết học quá ngắn, từ 45 đến 50 phút nhưng lượng kiến thức trong thời gian đó thì không ít, do vậy không đủ cho HS hoàn thành PHT Đồng thời quá trình phát PHT cho HS cũng mất một thời gian nhất định Để khắc phục khó khăn đó, các GV cho rằng khi sử dụng PHT để dạy bài mới nên phát cho
HS ở tiết học trước và PHT được sử dụng cho tiết học kế tiếp
Thứ tư là cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng trong dạy học hiện nay còn lạc hậu, thiếu thốn, hư hỏng, đặc biệt là các thiết bị thí nghiệm Đồng thời số lượng HS trong một lớp học quá đông…chưa đáp ứng được yêu cầu khi sử dụng PHT
1.4 Kết luận chương 1
Khi thực hiện chương này, chúng tôi đã tập trung nghiên cứu và trình bày một cách có hệ thống cơ sở lí luận của việc thiết kế và sử dụng PHT trong DH VL Đồng thời chúng tôi cũng đã thăm dò, khảo sát thực tế ý kiến của GV về tình hình thiết kế và sử dụng PHT trong DH VL ở trường THPT hiện nay Bên cạch đó, chúng tôi cũng tìm hiểu về tâm sinh lí của HS để làm cơ sở cho việc đưa PHT vào
sử dụng để nâng cao tính chủ động tích cực của HS trong học tập Cụ thể:
+ Nghiên cứu khái niệm về PHT, chức năng và các dạng PHT trong DH VL, vai trò của PHT trong DH nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của HS Đồng thời thiết
kế được 15 loại PHT khác nhau có thể sử dụng cho chương Điện tích – Điện trường + Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lí của HS để có cơ sở về mặt tâm lí nhận thức của
HS khi hoàn thành PHT do GV thiết kế
+ Khảo sát ý kiến của GV về những quan niệm về PHT, chức năng, mục đích sử dụng, tính cần thiết của PHT, kết quả của việc sử dụng PHT và những thuận lợi, khó khăn của GV khi tiến hành thiết kế và sử dụng PHT trong DH VL
Như vậy qua những nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy PHT là một công cụ thiết thực khi DH, tạo nên hứng thú, rèn luyện tính tích cực của HS trong nhận thức kiến thức, phù hợp với PP đổi mới giáo dục hiện nay Tuy nhiên việc thiết kế và sử dụng PHT trong DH VL vẫn chưa được quan tâm đúng mức do nhiều lí do khách quan cũng như chủ quan
Trang 34Chương II: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ PHẦN ĐIỆN TÍCH – ĐIỆN TRƯỜNG, VẬT LÍ 11 NÂNG CAO
2.1 Đặc điểm phần Điện tích – Điện trường, Vật lí 11 nâng cao
2.1.1 Điện tích - Định luật Cu-lông
- Có hai loại điện tích là điện tích dương và điện tích âm: các điện tích cùng dấu thì đẩy nhau và khác dấu thì hút nhau
- Có thể làm vật nhiễm điện bằng các cách: cọ xát, hưởng ứng hay tiếp xúc
- Trong một hệ cô lập về điện, tổng đại số các điện tích luôn luôn là một hằng số
- Electron (điện tử) là phần tử bền vững mang điện tích nguyên tố âm
F
r là khoảng cách giữa hai điện tích điểm q1 và q2
k là hệ số tỉ lệ phụ thuộc vào hệ đơn vị Trong hệ SI, k = 9.109 Nm2/C2
Trong điện môi 1 22
r
q.qkF
là hằng số điện môi Chân không có 1
Chất Thuỷ tinh Sứ êbônit Giấy Nước Dầu hoả Không khí