Thông qua các trò chơi các em sẽ lĩnh hội được những tri thức toán học một cách dễ dàng; củng cố, khắc sâu kiến thức một cách vững chắc; tạo cho các em niềm say Chính vì những lí do trên
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON
- -
PHAN LÊ THANH THỦY
Thiết kế một số trò chơi toán học nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh lớp
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Bậc Tiểu học được coi như cái nền móng của ngôi nhà tri thức Bậc Tiểu học tạo những cơ sở ban đầu rất cơ bản và bền vững cho các em tiếp tục học các bậc học trên Trong chương trình giáo dục tiểu học hiện nay, môn Toán cùng với các môn học khác cung cấp những tri thức khoa học ban đầu, những hiểu biết về thế giới xung quanh nhằm phát triển các năng lực nhận thức, hoạt động tư duy và bồi dưỡng tình cảm đạo đức tốt đẹp của con người; góp phần quan trọng đào tạo nên những con người phát triển toàn diện Toán học là môn khoa học tự nhiên có tính logic và tính chính xác cao, nó là chìa khoá mở ra sự phát triển của các bộ môn khoa học khác Môn Toán ở trường tiểu học là một môn học độc lập, chiếm phần lớn thời gian trong chương trình học của trẻ
Muốn học sinh tiểu học học tốt được môn toán thì người giáo viên không phải chỉ truyền đạt, giảng giải theo những tài liệu có sẵn trong sách giáo khoa, trong các sách hướng dẫn, sách thiết kế bài giảng một cách dập khuôn, máy móc làm cho học sinh học tập một cách thụ động Nếu giáo viên chỉ dạy như vậy thì hoạt động học của học sinh sẽ diễn ra một cách đơn điệu, tẻ nhạt và kết quả học tập sẽ không cao Đây chính là một trong những nguyên nhân gây cản trở việc đào tạo các em thành những con người năng động, sáng tạo, tự tin, sẵn sàng đối phó với những đổi mới diễn ra hàng ngày
Hiện nay, ngành Giáo dục và Đào tạo chủ trương đổi mới phương pháp dạy học trong môn Toán ở bậc Tiểu học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh Vì vậy người giáo viên phải gây được hứng thú học tập cho các em bằng cách lôi cuốn các em tham gia vào các hoạt động học tập Trong tiết học Toán, giáo viên có thể sử dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau như: Phương pháp trực quan, phương pháp gợi mở - vấn đáp, phương pháp thực hành - luyện tập, phương pháp giảng giải – minh hoạ, phương pháp trò chơi…Trong đó, trò chơi học tập có thể nói là phương pháp gây hứng thú nhất cho học sinh Các trò
Trang 3chơi có nội dung toán học lý thú và bổ ích phù hợp với việc nhận thức của các em Thông qua các trò chơi các em sẽ lĩnh hội được những tri thức toán học một cách
dễ dàng; củng cố, khắc sâu kiến thức một cách vững chắc; tạo cho các em niềm say
Chính vì những lí do trên, tôi chọn đề tài: “Thiết kế một số trò chơi toán học
nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh lớp 3”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đây không phải là vần đề mới mẻ, trong quá trình đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học có rất nhiều nhà giáo dục đã nghiên cứu, tìm tòi, thiết kế nên các trò chơi nhằm giáo dục toàn diện, tạo hứng thú học tập cho các em như:
- Hà Nhật Thăng (chủ biên) với cuốn “Tổ chức hoạt động vui chơi ở Tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí tuệ, thể lực cho học sinh”
- Bùi Sĩ Tụng, Trần Quang Đức (đồng chủ biên) với cuốn “150 trò chơi thiếu nhi”
Ở các tài liệu này, tác giả đã đề cập rất rõ vai trò của trò chơi, đưa ra những hoạt động vui chơi chung chung, chưa đi sâu vào ứng dụng của trò chơi trong môn học cụ thể
Đối với môn Toán ở Tiểu học nói chung cũng đã có đề tài nghiên cứu về vấn
đề này đó là: “Thiết kế hệ thống trò chơi toán học có yếu tố hình học nhằm phát huy khả năng phân tích, tổng hợp của học sinh lớp 4 trong việc học Toán” của sinh viên Trần Thị Bích Vân Tuy nhiên, đề tài mới chỉ dừng lại ở việc thiết kế hệ thống
Trang 4trò chơi toán học có yếu tố hình học nhằm phát huy khả năng phân tích, tổng hợp của học sinh lớp 4
Qua tìm hiểu các tài liệu, tôi thấy chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu vấn đề thiết kế trò chơi học toán cho từng mạch kiến thức trong chương trình Toán lớp 3
Vì vậy mà tôi quyết định chọn đề tài “Thiết kế một số trò chơi toán học nhằm gây
hứng thú học tập cho học sinh lớp 3” để nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu trên là tài liệu tham khảo quý báu để tôi thực hiện
đề tài này
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này mục đích của tôi nhằm:
- Thiết kế một số trò chơi toán học nhằm gây hứng thú cho học sinh lớp 3
- Nâng cao trình độ nghiệp vụ sư phạm cho bản thân
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài cần phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu một số vấn đề cơ sở lí luận về tổ chức trò chơi trong dạy học môn Toán ở Tiểu học
- Nghiên cứu sách giáo khoa, sách giáo viên, sách thiết kế bài giảng Toán lớp
3 để thiết kế trò chơi theo từng mạch kiến thức
5 Giả thuyết khoa học
- Việc tổ chức trò chơi học tập trong môn toán là một việc làm cần thiết để gây hứng thú học tập cho học sinh Nếu các em được tham gia các trò chơi có nội dung toán học sẽ giúp các em dễ dàng tiếp thu tri thức và củng cố, khắc sâu kiến thức một cách vững chắc
Trang 5- Nếu giáo viên đưa ra được các trò chơi toán học một cách thường xuyên, khoa học thì chắc chắn chất lượng dạy học môn toán sẽ ngày được nâng cao
6 Đối tượng nghiên cứu
- Các trò chơi học tập trong dạy học môn Toán lớp 3
- Học sinh lớp 3
7 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này tôi sử dụng các phương pháp sau:
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Nghiên cứu tài liệu về một số vấn đề cơ sở lí luận về tổ chức trò chơi trong dạy học môn Toán ở Tiểu học
- Nghiên cứu tài liệu về đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học
- Nghiên cứu sách giáo khoa, sách giáo viên, sách thiết kế bài giảng môn Toán lớp 3
7.2 Phương pháp quan sát, điều tra
- Tiến hành trao đổi với một số giáo viên dạy Toán lớp 3 để tìm hiểu về cách
tổ chức trò chơi trong dạy học môn Toán ở lớp 3
- Dự một số giờ Toán ở lớp 3 để thấy được hiệu quả và những hạn chế của trò chơi trong dạy học môn Toán ở lớp 3
8 Cấu trúc khoá luận tốt nghiệp
Khoá luận tốt nghiệp gồm có 3 phần:
Phần mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trang 63 Mục đích nghiên cứu
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
5 Giả thuyết khoa học
6 Đối tượng nghiên cứu
7 Phương pháp nghiên cứu
8 Cấu trúc khoá luận tốt nghiệp
Phần nội dung: Gồm có 4 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Cơ sở thực tiễn
Chương 3: Thiết kế một số trò chơi toán học nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh lớp 3
Chương 4: Thực nghiệm sư phạm
Phần kết luận
1 Một số kết quả đạt được
2 Hướng nghiên cứu sau đề tài
Trang 7PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý luận
1.1 Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học
Tri giác của học sinh tiểu học mang tính chất đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và
mang tính không chủ định, do đó các em phân biệt những đối tượng còn chưa chính
xác, dễ mắc sai lầm, có khi còn lẫn lộn
Ở các lớp đầu bậc Tiểu học, tri giác của trẻ em thường gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn, trẻ chỉ cảm nhận được những cái nó cầm nắm Còn ở các lớp cuối cấp, tri giác của các em mang tính mục đích và có phương hướng rõ ràng hơn
Trí nhớ trực quan – hình tượng của học sinh tiểu học được phát triển hơn trí
nhớ từ ngữ - logic do hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất ở học sinh lứa tuổi này tương đối chiếm ưu thế Các em nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những lời giải thích dài dòng
Chú ý có chủ định của học sinh tiểu học còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý
một cách có ý chí chưa mạnh Sự chú ý của học sinh đòi hỏi một động cơ gần thúc đẩy Trong lứa tuổi học sinh tiểu học chú ý không chủ định được phát triển Những
gì mang tính mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác thường dễ dàng lôi cuốn sự chú ý của các em Nhu cầu, hứng thú có thể kích thích và duy trì được chú ý không chủ định cho nên mỗi giáo viên cần tìm cách làm cho giờ học được hấp dẫn và lý thú
Khả năng phát triển của chú ý có chủ định, bền vững, tập trung của học sinh tiểu học trong quá trình học tập là rất cao
Tư duy của trẻ em mới đến trường là tư duy cụ thể, mang tính hình thức bằng
cách dựa vào những đặc điểm trực quan của những đối tượng và hiện tượng cụ thể Nhờ ảnh hưởng của việc học tập, học sinh tiểu học dần dần chuyển từ nhận thức các mặt bên ngoài của các hiện tượng đến nhận thức được các thuộc tính và dấu hiệu bản chất của hiện tượng vào tư duy Điều đó tạo khả năng tiến hành những khái quát đầu tiên, so sánh đầu tiên, xây dựng suy luận sơ đẳng Trên cơ sở đó học
Trang 8sinh dần dần học tập các khái niệm khoa học Hoạt động phân tích - tổng hợp còn
sơ đẳng, học sinh các lớp đầu bậc tiểu học chủ yểu tiến hành phân tích - trực quan - hành động khi tri giác trực tiếp đối tượng Học sinh cuối bậc tiểu học có thể phân tích đối tượng mà không cần hành động thực tiễn đối với đối tượng đó
1.2 Lý luận chung về hứng thú và hứng thú học tập
1.2.1 Hứng thú
* Khái niệm hứng thú
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về hứng thú:
Nhà tâm lý học I.PH Shecbac cho rằng, hứng thú là thuộc tính bẩm sinh vốn
có của con người, nó được biểu hiện thông qua thái độ, tình cảm của con người vào một đối tượng nào đó trong thế giới khách quan Một số nhà tâm lý khác cho rằng, hứng thú là dấu hiệu của nhu cầu bản năng cần được thỏa mãn Hứng thú là trường
Nhóm tác giả: Phạm Minh Hạc – Lê Khanh – Trần Trọng Thủy cho rằng: Khi
ta có hứng thú về một cái gì đó, thì cái đó bao giờ cũng được ta ý thức, ta hiểu ý nghĩa của nó đối với cuộc sống của ta Hơn nữa ở ta xuất hiện một tình cảm đặc biệt đối với nó, do đó hứng thú lôi cuốn hấp dẫn chúng ta về phía đối tượng của nó
Theo Trần Thị Minh Đức: “Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng đem lại khoái
Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về hứng thú, nhưng tất cả đều coi hứng thú được biểu hiện ở trạng thái tập trung chú ý cao độ; ở sự say mê, sự hấp dẫn bởi nội dung hoạt động; ở bề dày, chiều sâu của sự yêu thích; hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, làm tăng hiệu quả của hoạt động nhận thức, làm tăng sức làm việc
Trang 9Phân tích cấu trúc của hứng thú, N.G Marôzôva đã nêu ra ít nhất 3 yếu tố đặc trưng cho hứng thú:
- Có cảm xúc đúng đắn đối với hoạt động
- Có khía cạnh nhận thức của cảm xúc này (được gọi là niềm vui tìm hiểu và nhận thức)
- Có động cơ trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động, tức là hoạt động tự nó lôi cuốn và kích thích, không phụ thuộc vào các động cơ khác Những động cơ khác (động cơ tinh thần, nghĩa vụ phải thực hiện, yêu cầu của xã hội…) có thể hỗ trợ, làm nảy sinh và duy trì hứng thú nhưng những động cơ đó không xác định được bản chất của hứng thú
Ba thành tố trên có liên quan chặt chẽ với nhau trong hứng thú của cá nhân Ở mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của hứng thú, mỗi thành tố đó có thể nổi lên mạnh hay yếu, ít hay nhiều
Những năm gần đây có nhiều nhà tâm lý học đã nghiêng về cách giải thích cấu trúc hứng thú; tán thành với sự phân tích của N.G Marôzôva Một số tác giả thấy rằng, trong rất nhiều trường hợp, hứng thú phải có 3 yếu tố kể trên
- Đối với hoạt động nói chung: Trong quá trình hoạt động của con người, cùng với nhu cầu, hứng thú kích thích làm cho con người say mê hoạt động đem lại hiệu quả cao Công việc nào có hứng thú cao thì người thực hiện nó sẽ tìm thấy được niềm vui và công việc đó trở nên nhẹ nhàng, ít tốn công sức hơn, có sự tập trung cao hơn Ngược lại nếu không có hứng thú thì người ta sẽ cảm thấy gượng ép, công việc trở nên nặng nhọc khó khăn, chất lượng hoạt động giảm rõ rệt
- Đối với hoạt động nhận thức: Hứng thú là động lực giúp con người tiến hành hoạt động nhận thức đạt hiệu quả, hứng thú tạo ra động cơ quan trọng của hoạt động Hứng thú làm tích cực hóa các quá trình tâm lý (tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng )
Trang 10- Đối với năng lực: Khi chúng ta được làm việc phù hợp với hứng thú, thì dù phải vượt qua muôn ngàn khó khăn, người ta vẫn cảm thấy thoải mái làm cho năng lực trong lĩnh vực hoạt động ấy dễ dàng hình thành, phát triển
Hứng thú là yếu tố quyết định đến sự hình thành và phát triển năng lực cá nhân Hứng thú và năng lực có quan hệ biện chứng với nhau, cái này làm tiền đề cho cái kia và ngược lại Hứng thú và năng lực là một cặp không tách rời khỏi nhau, có nghĩa là tài năng sẽ bị thui chột nếu hứng thú không thực sự sâu sắc, đầy
đủ, nói chung hứng thú không được nuôi dưỡng lâu dài nếu không có những năng lực cần thiết để thỏa mãn hứng thú
- Đối với người học: Hứng thú học tập có vai trò rất quan trọng Nó tạo ra động
cơ chủ đạo của hoạt động học tập, đối với người học, vì vậy việc hình thành và phát triển hứng thú nói chung hứng thú học tập nói riêng của người học là mục đích gần của người giảng viên
1.2.2 Hứng thú học tập
Theo A K Marcôva và V V Kepkin, hứng thú học tập và hứng thú nhận thức
có những dấu hiệu khác nhau Tuy nhiên, việc tách rời giữa hứng thú học tập với hứng thú nhận thức là chưa thoả đáng
Chúng tôi cho rằng: Hứng thú học tập chính là thái độ lựa chọn đặc biệt của chủ thể đối với hoạt động học tập, vì sự lôi cuốn về mặt tình cảm và ý nghĩa thiết thực của nó trong quá trình nhận thức và trong đời sống của cá nhân
- Hứng thú gián tiếp trong hoạt động học tập
Hứng thú gián tiếp trong hoạt động học tập là thái độ lựa chọn đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng của hoạt động học tập do những yếu tố bên ngoài đối tượng của hoạt động này gây nên và gián tiếp liên quan đến đối tượng ấy
Hứng thú gián tiếp trong hoạt động học tập có một số đặc điểm sau:
Trang 11+ Nó thường hướng tới những khía cạnh bên ngoài, có liên quan đến đối tượng cảu hoạt động học tập (khen thưởng, điểm số,…)
+ Có tính chất tình huống rõ nét: Khi đã nhận được tri thức cần thiết hoặc khi
đã kết thúc hành động hứng thú cũng biến mất, các dấu hiệu của sự thờ ơ lại xuất hiện (theo phong trào, ảnh hưởng của bạn, được kèm cặp,…)
+ Ít có tác dụng thúc đẩy hành động, học sinh không chú ý đến đối tượng của hoạt động theo sáng kiến riêng của mình
+ Không được ý thức một cách rõ ràng Học sinh không thể giải thích được: đó
có phải là hứng thú học tập hay không? Vì sao các em lại hứng thú với đối tượng đó?
+ Nó được xuất hiện theo những phản ứng có thể rất mạnh nhưng cũng thường ngắn ngủi
- Hứng thú trực tiếp trong hoạt động học tập
Hứng thú trực tiếp trong học tập là hứng thú đối với nội dung tri thức, quá trình học tập và những phương pháp tiếp thu, vận dụng tri thức đó Nói cách khác, hứng thú trực tiếp là sự say mê hướng vào đối tượng và cách thức chiếm lĩnh đối tượng
đó
Hứng thú học tập là một dạng đặc biệt của hứng thú, nó có đầy đủ các đặc điểm của hứng thú Bên cạnh đó, hứng thú học tập còn có những đặc điểm riêng của nó Hứng thú học tập đòi hỏi chủ thể phải hoạt động tích cực, tìm tòi, sáng tạo
mà không đòi hỏi sự định hướng đơn giản vào cái mới, cái bất ngờ - những cái thường là trung tâm của nhiều hứng thú khác
Ngoài ra, A K Marcôva và N V Kepkin cho rằng: hứng thú học tập còn có một số đặc điểm quan trọng khác:
- Hứng thú học tập lúc đầu hướng tới nội dụng tri thức khoa học, sau đó, hướng tới các phương pháp khám phá ra nội dung đó
Trang 12- Hứng thú học tập dần có được tính bền vững nếu được củng cố trong những điều kiện của tình huống đã làm nó xuất hiện thì loại hứng thú này được phân biệt bằng tính không bảo hoà: sự làm quen với đối tượng của hoạt động nhận thức càng sâu sắc, sự cuốn hút nó càng cao và càng xuất hiện những vấn đề mới
- Hứng thú học tập là sự biểu hiện của một trong những động lực mạnh nhất, thúc đẩy học sinh nghiên cứu đối tượng trong phạm vi của nó
- Nó luôn được nhận thức một cách rõ ràng, nhanh chóng, đúng dắn, học sinh giải thích đúng, có cơ sở những nguyên nhân tạo ra hứng thú của bản thân
- Được xuất hiện trong những xúc cảm trí tuệ lâu dài, có nội dung sâu sắc
1.3 Hứng thú học môn Toán của học sinh tiểu học
* Khái niệm hứng thú học môn Toán
Hứng thú học môn Toán là thái độ lựa chọn đặc biệt của học sinh đối với quá trình, kết quả lĩnh hội và vận dụng những tri thức toán học trong quá trình học tập cũng như trong cuộc sống do thấy được sự hấp dẫn và ý nghĩa thiết thực của môn
- Biểu hiện về mặt xúc cảm: Học sinh có xúc cảm tích cực (yêu thích, say mê,…) đối với môn Toán, các em thực sự yêu thích môn Toán, coi việc học Toán
là niềm vui niềm hạnh phúc
- Biểu hiện về mặt nhận thức: Học sinh nhận thức đầy đủ, rõ ràng những nguyên nhân của sự yêu thích trên; những nguyên nhân đó có thể trực tiếp liên quan đến đối tượng của hoạt động học Toán (đến nội dung và phương pháp tư duy toán học), hoặc gián tiếp liên quan đến đối tượng trên (Toán học được ứng dụng nhiều trong thực tiễn, giáo viên dạy toán hay,…), hoặc giúp học sinh biết suy nghĩ thông minh hơn,…
Trang 13- Biểu hiện về mặt hành động: Học sinh biểu hiện bằng các hành động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo không chỉ trong giờ lên lớp mà còn ở cả ngoài giờ lên lớp hàng ngày như:
+ Trong giờ lên lớp:
Say mê học tập, chăm chú nghe giảng
Ghi chép bài đầy đủ, cẩn thận
Tích cực suy nghĩ, hăng hái phát biểu xây dựng bài, hay nêu thắc mắc với giáo viên
Tích cực làm việc cùng nhóm để hoàn thành nhiệm vụ
+ Ở ngoài lớp và ở nhà:
Độc lập và tự giác trong việc học tập
Học bài, làm bài đầy đủ
Tự giác làm thêm nhiều bài tập (ngoài yêu cầu của giáo viên)
Tự sưu tầm, đọc thêm nhiều tài liệu, sách tham khảo có liên quan đến môn Toán
Tự nguyện tham gia các hoạt động ngoại khoá về Toán học
Tự tìm ra công thức giải tổng quát cho một bài toán (nếu có)
Tự tổng kết những phần, những chương mục đã học và tìm ra mối liên hệ bên trong giữa chúng
Từng bước tập vận dụng những kiến thức toán học vào thực tiễn
Có sổ tay toán học để ghi chép lại những phần tổng kết, những kiến thức đã học, những phương pháp giải toán hay đã sưu tầm được,…
- Biểu hiện về mặt kết quả học tập: Kết quả học tập môn Toán đạt loại khá, giỏi
Trang 141.4 Một số vấn đề chung về dạy học môn Toán ở Tiểu học
1.4.1 Mục tiêu chung của dạy học môn Toán ở Tiểu học 2 , 10
Nội dung chương trình môn Toán Tiểu học nhấn mạnh đến việc cung cấp cho học sinh những kiến thức và kĩ năng căn bản, thiết thực có hệ thống, chú ý hơn đến tính hoàn chỉnh tương đối của các kiến thức và kĩ năng cơ bản đó (bên cạnh việc dạy học các số tự nhiên, số thập phân, có dạy học phân số và các phép tính phân số, ngoài các mạch kiến thức quen thuộc, ở Tiểu học còn có giới thiệu các yếu tố thống kê)
Nội dung chương trình môn Toán Tiểu học đã quan tâm đúng mức hơn đến: + Rèn luyện khả năng diễn đạt, ứng xử, giải quyết các tình huống có vấn đề + Phát triển các năng lực thao tác tư duy theo đặc trưng môn học
+ Xây dựng các phương pháp học tập Toán
1.4.2 Mục tiêu dạy học môn Toán lớp 3 3 , 7 9
Học xong môn Toán ở lớp 3 học sinh phải đạt được:
* Về số và phép tính
- Biết đếm (từ một số nào đó, đếm thêm một số đơn vị,…) trong phạm vi
100000
- Biết đọc, viết các số có đến bốn hoặc năn chữ số
- Biết so sánh và sắp xếp các số theo thứ tự từ bé đến lớn hoặc ngược lại
- Biết thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong phạm vi 100 000, bao gồm:
+ Thuộc các bảng tính và biết tính nhẩm trong phạm vi các bảng tính hoặc trong một số trường hợp đơn giản, thường gặp về cộng, trừ, nhân, chia
+ Biết thực hiện phép cộng và phép trừ với các số có đến năm chữ số
+ Biết thực hiện phép nhân số có đến ba hoặc bốn chữ số với số có một chữ số + Biết thực hiện phép chia số có đến năm chữ số cho số có một chữ số (phép chia hết hoặc phép chia có dư)
Trang 15- Biết tính giá trị của các biểu thức số có đến hai dấu phép tính (có hoặc không
có dấu ngoặc)
- Biết tìm một thành phần chưa biết của phép tính
- Biết tìm một trong các phần bằng nhau của một số (trong phạm vi các phép chia đơn giản đã học)
* Về đại lượng và đo đại lượng
- Có hiểu biết ban đầu về bảng đơn vị đo độ dài; biết mối quan hệ giữa một số đợn vị đo dộ dài thông dụng; biết sử dụng một số dụng cụ để đo độ dài và biết ước lượng độ dài (trong một số trường hợp đơn giản); biết chuyển đổi số đo dộ dài (từ đơn vị lớn ra đợn vị bé)
- Biết 1kg = 1000g và biết đo khối lượng với 2 đơn vị kg và g
- Biết sử dụng đồng hồ, lịch để đo thời gian
- Biết sử dụng tiền Việt Nam (từ 100 đồng đến 100 000 đồng) trong sinh hoạt hàng ngày
tích
* Về yếu tố hình học
- Biết một số đặc điểm của hình vuông, hình chử nhật Biết thêm về tâm, bán kính, đường kính của hình tròn; biết vẽ hình tròn bằng compa
- Biết tính chu vi, diện tích của hình chử nhật, hình vuông
* Về vận dụng kiến thức và kĩ năng cơ bản của môn Toán để giải quyết các vấn
đề đơn giản, thường gặp
- Biết đọc và sắp xếp các số liệu thống kê
- Biết giải bài toán có lời văn không quá hai bước tính, trong đó có bài toán liên quan đến rút về đơn vị, bài toán có nội dung hình học,…
- Biết thực hành đo và ước lượng số đo một số đại lượng trong trường hợp đơn giản
* Về phát triển tư duy, ngôn ngữ và các năng lực khác
Trang 16Thông qua các hoạt động học tập, học sinh biết cách tự học tích cực, chủ động, sáng tạo và:
- Phát triển các năng lực tư duy (so sánh, lựa chọn, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá,…); phát triển trí tượng tượng không gian; tập nhận xét các số liệu thu thập được…
- Phát triển khả năng diễn đạt (bằng lời, bằng kí hiệu,…) gọn, rõ, chính xác các thông tin
- Rèn luyện đức tính cẩn thận, chăm chỉ, tự tin, trung thực; hứng thú và hợp tác trong học tập và thực hành toán
1.4.3 Đặc điểm cấu trúc, nội dung chương trình môn Toán ở Tiểu học 2 , 23
- Chương trình môn Toán Tiểu học đưa vào một số nội dung có nhiều ứng dụng trong học tập và đời sống; chẳng hạn: dạy học phân số hoàn chỉnh hơn với thời lượng nhiều hơn so với chương trình cải cách giáo dục đã điều chỉnh; giới thiệu thêm về hình bình hành, hình thoi, hình trụ, hình cầu; giới thiệu một số yếu tố thống kê phù hợp với trình độ học sinh tiểu học; bước đầu làm quen với máy tính
và sử dụng máy tính đúng mức Coi trọng công tác thực hành toán học, đặc biệt là thực hành giải quyết vấn đề trong học tập và trong đời sống
- Chương trình được sắp xếp theo nguyên tắc đồng tâm hợp lí, mở rộng và phát triển dần theo các vòng số, từ các số trong phạm vi 10, trong phạm vi 100, 1000,
100 000 đến các số co nhiều chữ số, phân số, số thập phân đảm bảo tính hệ thống
và thực hiện ôn tập, củng cố thường xuyên
- Dạy học số học tập trung vào số tự nhiên và số thập phân Dạy học phân số chỉ giới thiệu một số nội dung cơ bản và sơ giản nhất phục vụ chủ yếu cho dạy học
số thập phân và một số ứng dụng trong thực tế Các yếu tố đại số được tích hợp trong số học, góp phần làm nổi rõ dần một số quan hệ số lượng và cấu trúc của các tập hợp số
Trang 171.4.4 Cấu trúc chương trình môn Toán lớp 3 2 , 16 17
Nội dung, chương trình môn Toán lớp 3 gồm 175 tiết được phân bố trong 35 tuần, mỗi tuần 5 tiết Trong đó:
* Số học và yếu tố đại số
- Phép nhân và phép chia trong phạm vi 1000 (tiếp):
+ Củng cố các bảng nhân với 2, 3, 4, 5 (tích không quá 50) và các bảng chia cho 2, 3, 4, 5 (số bị chia không quá 50) Bổ sung cộng, trừ các số có 3 chữ số (có nhớ không quá một lần)
+ Lập các bảng nhân với 6, 7, 8, 9, 10 (tích không quá 100) và các bảng chia cho 6, 7, 8, 9, 10 (số bị chia không quá 100)
+ Hoàn thiện các bảng nhân và bảng chia
+ Nhân, chia ngoài bảng trong phạm vi 1000: nhân số có 2, 3 chữ số với số có
1 chữ số (có nhớ không quá một lần); chia số có 2, 3 chữ số cho số có một chữ số Chia hết và chia có dư
+ Thực hành tính: Tính nhẩm trong phạm vi các bảng tính; nhân nhẩm số có hai chữ số với số có một chữ số (không nhớ); chia nhẩm số có hai chữ số cho số có một chữ số (không có số dư ở từng bước chia) Củng cố về cộng, trừ, nhân, chia trong phạm vi 1000 theo các mức độ đã xác định
+ Làm quen với biểu thức số và giá trị biểu thức
+ Giới thiệu thứ tự thực hiện các phép tính trong biểu thức số có đến hai dấu phép tính, có hoặc không có dấu ngoặc
+ Giải các bài tập dạng: “Tìm x biết: a : x = b (với a, b là số trong phạm vi đã
học)”
- Giới thiệu các số trong phạm vi 100 000 Giới thiệu hàng nghìn, hàng vạn, hàng chục vạn
+ Phép cộng và phép trừ có nhớ không liên tiếp và không quá 2 lần trong phạm
vi 100 000 Phép chia số có đến 5 chữ số cho số có 1 chữ số (chia hết và chia có dư)
Trang 18+ Tính giá trị các biểu thức số có đến 3 dấu phép tính, có hoặc không có dấu ngoặc
+ Giới thiệu các phần bằng nhau của đơn vị (dạng
n
đến 10 và n = 100, n = 1000) Thực hành so sánh các phần bằng nhau của đơn vị trên hình vẽ và trong trường hợp đơn giản
+ Giới thiệu bước đầu về chữ số La Mã
* Đại lượng và đo đại lượng
- Bổ sung và lập bảng các đơn vị đo độ dài từ milimet đến kilomet Nêu mối quan hệ giữa hai đơn vị tiếp liền nhau; giữa met với kilomet; giữa met với xangtimet, milimet Thực hành đo và ước lượng độ dài
- Giới thiệu đơn vị đo diện tích: xangtimet vuông
- Giới thiệu gam Đọc, viết, làm tính với các số đo theo đơn vị gam Giới thiệu 1kg = 1000g
- Ngày, tháng, năm Thực hành xem lịch
- Phút, giờ Thực hành xem đồng hồ (chính xác đến phút) Tập ước lượng khoảng thời gian trong phạm vi 1 phút
- Giới thiệu tiếp về tiền Việt Nam Tập đổi tiền với các trường hợp đơn giản
Trang 19* Yếu tố thống kê
- Giới thiệu bảng số liệu đơn giản
- Tập sắp xếp lại các số liệu của bảng theo mục đích, yêu cầu cho trước
* Giải bài toán
- Giải các bài toán có đến 2 bước tính với các mối quan hệ trực tiếp và đơn giản
- Giải bài toán quy về đơn vị và các bài toán có nội dung hình học
1.5 Một số vấn đề chung về tổ chức trò chơi học tập trong dạy học môn Toán ở Tiểu học
1.5.1 Quan niệm về trò chơi toán học
Trò chơi toán học là trò chơi trong đó chứa đựng một yếu tố toán học nào đó Trò chơi có thể phân loại theo số người tham gia chơi: trò chơi tập thể, trò chơi cá nhân Trò chơi có thể là trò chơi vận động, có thể là trò chơi trí tuệ, cũng có thể kết
1.5.2 Vai trò, tác dụng của trò chơi toán học 8 , 4
Đối với học sinh Tiểu học, vui chơi vẫn là nhân tố quan trọng trong hoạt động của học sinh Với nhiều cách chơi khác nhau sẽ giúp học sinh “Học mà chơi, chơi
mà học”, học sinh thêm hứng thú học tập và tiếp thu bài tốt hơn Vì thế cùng với các phương pháp khác, trò chơi học tập là phương pháp nhằm tích cực hoá đối tượng học sinh
Trò chơi học tập làm thay đổi hình thức hoạt động của học sinh, giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách tự giác tích cực; giúp học sinh rèn luyện, củng cố kiến thức đồng thời phát triển vốn kinh nghiệm được tích luỹ qua hoạt động chơi
Trang 20Khi tham gia trò chơi, học sinh thường vận dụng hết khả năng về sức lực, tập trung sự chú ý, trí thông minh và sự sáng tạo của mình
Trò chơi học tập rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, thúc đẩy hoạt động trí tuệ Nhờ sử dụng trò chơi học tập mà quá trình dạy học trở thành một hoạt động vui vẻ và hấp dẫn hơn, cơ hội học tập đa dạng hơn Trò chơi sẽ làm thay đổi không khí học tập của cả lớp, làm cho không khí trở nên dễ chịu, thoải mái hơn; học sinh sẽ thấy vui hơn, cởi mở hơn, thư thái và cảm thấy khoẻ hơn sau một quá trình tập trung cao độ vào việc tiếp thu tri thức
Bên cạnh đó, trò chơi học tập còn tạo cho các em khả năng quan sát tốt, tinh thần đoàn kết, giao lưu trong tổ, lớp tạo tính chủ động, tự tin, mạnh dạn cho các
em
Mặt khác, trò chơi học tập còn là con đường thuận lợi để học sinh khắc sâu kiến thức vừa học Trò chơi không chỉ là phương tiện mà còn là phương pháp giáo dục
Như vậy, trò chơi nói chung và trò chơi học tập nói riêng giúp học sinh phát triển toàn diện: Đức - Trí - Thể - Mĩ
1.5.3 Tiêu chí và quy trình thiết kế trò chơi toán học
1.5.3.1 Tiêu chí thiết kế trò chơi toán học
* Dựa vào yếu tố xác định trò chơi 11 , 16
Một trò chơi toán học cần phải có:
- Nội dung và chủ đề chơi; những phương tiện cần thiết để tổ chức trò chơi
- Quy tắc chơi, luật chơi: Mỗi trò chơi toán học phải có luật chơi nhất định nhằm đạt được mục đích đã đề ra
- Yếu tố thời gian của trò chơi: Yếu tố tốc độ của trò chơi đóng vai trò rất quan trọng Cần chọn thời gian phù hợp với khả năng của học sinh, phù hợp với yêu cầu của trò chơi, nếu đưa ra thời gian không phù hợp thì hiệu quả sẽ không đạt như mong muốn Với tốc độ chậm chậm sẽ làm cho các em cảm thấy mệt mỏi mất đi sự
Trang 21hứng thú với trò chơi, còn tốc độ nhanh quá sẽ làm cho các em trở nên hấp tấp vội vã…
- Trò chơi phải có yếu tố thi đua (có tính thắng thua) Do đó người tham gia cuộc chơi phải tìm được điều kiện để giành thắng lợi Trong những trò chơi toán học muốn thắng lợi thì người chơi phải nắm được thế của trò chơi
* Dựa vào mục tiêu, nội dung chương trình môn Toán lớp 3
Như đã trình bày ở mục 1.4.2 và 1.4.4 của đề tài này, nội dung chương trình môn Toán lớp 3 có 5 mạch kiến thức tương ứng với 5 mục tiêu cần đạt được Việc thiết kế trò chơi toán học trong đề tài này không nằm ngoài các nội dung và mục tiêu trên
* Dựa vào tính chất, đặc điểm tiết học
Khi thiết kế trò chơi học toán cần hướng tới đặc điểm, tính chất của tiết học: hình thành kiến thức mới, luyện tập, luyện tập chung, ôn tập, ngoại khoá…Vì mỗi tiết học có một đặc trưng riêng Ví dụ, tiết hình thành kiến thức mới thì cung cấp cho học sinh kiến thức mới; tiết ôn tập, luyện tập thì củng cố kiến thức đã học; tiết ngoại khoá thì củng cố, mở rộng kiến thức
* Dựa vào đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học
Đối với học sinh tiểu học, nhu cầu học tập của các em không chỉ đơn thuần là nhu cầu nhận thức mà nó còn gắn liền với nhu cầu vui chơi Các em hứng thú với những trò chơi có quy tắc, đòi hỏi sự cố gắng, sự khéo léo nhất định, giàu trí tưởng tượng, nhất là các trò chơi được đánh giá bằng cách tính điểm Vì vậy khi thiết kế một trò chơi toán học nào đó, cần phải chú ý đến những đặc điểm này để thiết kế trò chơi gây hứng thú cho các em, nhằm đạt được mục đích giáo dục
* Dựa vào điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học
Thiết kế trò chơi cần dựa vào điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của nhà trường, giáo viên, học sinh Nên thiết kế trò chơi sử dụng đồ dùng và phương tiện
sử dụng có sẵn của môn học ở thư viện, đồ dùng của giáo viên, đồ dùng của học
Trang 22sinh…Các đồ dùng khai thác từ những vật liệu gần gũi xung quanh, dễ làm, dễ kiếm; phải đảm bảo tính khoa học, tính giáo dục, tính thẩm mĩ nhưng ít tốn kém
Trong khuôn khổ đề tài này, tôi lựa chọn tiêu chí “Dựa vào mục tiêu, nội dung
chương trình môn Toán lớp 3” để thiết kế một số trò chơi toán học nhằm gây
hứng thú học tập cho học sinh lớp 3
1.5.3.2 Quy trình thiết kế trò chơi toán học
Mỗi trò chơi toán học trong đề tài này được thiết kế theo trình tự sau đây:
- Căn cứ thiết kế trò chơi
- Tên trò chơi: Mỗi trò chơi có tên gọi ngộ nghĩnh, chứa đựng yếu tố may rủi, kích thích người tam gia, bộc lộ kiến thức và kĩ năng thực sự
- Nêu một số lưu ý khi sử dụng trò chơi toán học
- Nêu được tác dụng của trò chơi đối với học sinh, các em hứng thú với trò chơi như thế nào
- Nêu các dạng bài có thể sử dụng trò chơi toán học
Trang 231.5.4 Quy trình tổ chức trò chơi toán học 5 , 7
Để tổ chức một trò chơi toán học cần đi theo 5 bước sau:
- Bước 1: Nêu tên trò chơi
- Bước 2: Phổ biến luật chơi: Chỉ rõ quy tắc của hành động chơi, quy định đối với người chơi, quy định thắng thua của trò chơi
- Bước 3: Tiến hành chơi
- Bước 4: Thảo luận rút ra kiến thức
- Bước 5: Đánh giá, kết luận
1.5.5 Một số điều cần lưu ý khi tổ chức trò chơi học tập 8 , 9
Việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học muốn đạt kết quả cao thì người giáo viên cần phải chú ý những điều sau:
- Các trò chơi học tập cần phải đáp ứng những yêu cầu của mục đích dạy học, phải đặt ra cho trẻ các nhiệm vụ học tập tương ứng với nội dung dạy học Mỗi trò chơi cần có một vị trí và đóng góp cụ thể trong tiến trình thực hiện mục đích dạy học Tên trò chơi phải ẩn chứa mục tiêu của bài và gây sự chú ý, tò mò đối với học sinh Trò chơi phải củng cố được kĩ năng, kiến thức của bài vừa học
- Giáo viên phải lựa chọn các thời điểm thích hợp để tổ chức trò chơi học tập cho học sinh Các thời điểm đó là:
+ Sau khi hoàn thành một bài học, cách này có ưu điểm là kích thích được hứng thứ học tập của học sinh, giờ học tránh được không khí căng thẳng mà trở thành giờ học vui vẻ, sôi động
+ Sau khi hoàn thành một chương trình học, nhóm các chủ đề
- Khi tổ chức các trò chơi giáo viên phải sắp xếp các tình huống sao cho tất cả mọi học sinh trong lớp đề được tham gia trò chơi Tuy nhiên, tuỳ vào từng tình huống, tuỳ vào từng trò chơi mà có thể không chơi hết cả lớp nhưng các học sinh ở dưới lớp không chơi thì có thể làm cổ động viên cổ vũ cho các bạn Việc cổ vũ ở đây không phải thể hiện sự la hét mà có thể là theo dõi các bạn chơi, nhắc nhỡ
Trang 24bạn…Như vậy các học sinh ở dưới lớp mặc dù không tham gia chơi nhưng cũng phải suy nghĩ đến các vấn đề đó
- Khi tổ chức trò chơi, giáo viên nên tổ chức thi đua giữa những người có cùng năng lực Trong quá trình chơi, giáo viên hay người quản trò tránh làm lúng túng hay làm xấu hổ cho những học sinh không hoàn thành nhiệm vụ; luôn quan tâm, khích lệ, động viên hơn là so sánh, tỏ ý không hài lòng
- Người giáo viên khi nêu luật chơi phải ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu để học sinh nắm được mục đích, quy tắc và cách chơi; có thể sử dụng một vài học sinh chơi thử
để giúp các em hình dung rõ quy tắc và cách chơi
- Người giáo viên phải là người trọng tài công bằng khi đánh giá Sau khi các
em chơi xong, giáo viên phải có những nhận xét, đánh giá kịp thời, toàn diện Đánh giá của giáo viên rất quan trọng, giáo viên không chỉ đánh giá ở mức độ đúng sai
mà còn nhận xét ý thức tham gia, cách phối hợp tổ chức giữa các thành viên trong nhóm
- Trò chơi học tập phải giáo dục đạo đức và ý thức công dân cho học sinh Đó chính là sự đoàn kết trong lớp học và rộng hơn nữa là sự đoàn kết trong xã hội Giáo viên phải chú ý nhắc nhở học sinh tránh tư tưởng ích kỉ, hẹp hòi
Trang 25Chương 2: Cơ sở thực tiễn
2.1 Về giáo viên
2.1.1 Đối tượng điều tra
Do điều kiện khách quan nên đối tượng điều tra của tôi khi thực hiện đề tài này
là những giáo viên đang giảng dạy khối lớp 3 của bảy trường Tiểu học:
+ Trường Tiểu học Hướng Tân: Xã Hướng Tân, Huyện Hướng Hoá, Tỉnh Quảng Trị
+ Trường Tiểu học số 1 Thị trấn Khe Sanh: Thị trấn Khe Sanh, Huyện Hướng Hoá, Tỉnh Quảng Trị
+ Trường Tiểu học số 2 Thị trấn Khe Sanh: Thị trấn Khe Sanh, Huyện Hướng Hoá, Tỉnh Quảng Trị
+ Trường Tiểu học Húc: xã Húc, Huyện Hướng Hoá, Tỉnh Quảng Trị
+ Trường Tiểu học Hướng Phùng: Xã Hướng Phùng, Huyện Hướng Hoá, Tỉnh Quảng Trị
+ Trường Tiểu học Hướng Linh: Xã Hướng Linh, Huyện Hướng Hoá, Tỉnh Quảng Trị
+ Trường Tiểu học Hướng Việt: Xã Hướng Việt, Huyện Hướng Hoá, Tỉnh Quảng Trị
Trong đó, hầu hết các giáo viên đều có kinh nghiệm giảng dạy lâu năm, đạt trình độ chuẩn của giáo dục Tiểu học
2.1.2 Nội dung điều tra
Để thu thập tài liệu cho việc thực hiện đề tài này tôi đã tiến hành điều tra các nội dung sau:
- Mức độ sử dụng trò chơi học tập trong dạy học môn Toán lớp 3 của giáo viên
Trang 26- Nhận thức của giáo viên về việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học môn Toán lớp 3
- Tình hình lớp học như thế nào khi giáo viên tổ chức trò chơi học tập trong các giờ học Toán
- Những khó khăn mà giáo viên gặp phải khi tổ chức trò chơi học tập trong dạy học môn Toán lớp 3
2.1.3 Phương pháp điều tra
- Phương pháp điều tra bằng Anket: Những nội dung điều tra trên được thực hiện dưới dạng câu hỏi trong phiếu điều tra (Anket) trao tận tay giáo viên
- Phương pháp quan sát: Qua các tiết dự giờ một số tiết Toán ở lớp 3, tôi tìm hiểu việc sử dụng trò chơi học tập của giáo viên với những mặt tích cực và tiêu cực của nó
- Phương pháp thực nghiệm: Việc trực tiếp giảng dạy 2 tiết Toán ở lớp 3 đã giúp tôi thấy được vai trò quan trọng của trò chơi học tập, đồng thời giúp tôi biết được cách vận dụng, kết hợp nhiều phương pháp, hình thức dạy học trong một tiết dạy để đem lại hiệu quả cao nhất
- Phương pháp xử lý thống kê: Sau khi phát phiếu điều tra thăm dò ý kiến của giáo viên, với những phiếu thu lại tôi tiến hành xử lý, thống kê trên cơ sở đó mà khái quát được thực trạng
Thông qua việc điều tra, bước đầu giúp tôi nhận thấy được thực trạng giảng dạy cũng như thực tế việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học môn Toán của giáo viên khối lớp 3 ở một số trường Tiểu học
2.1.4 Kết quả điều tra
- Tổng số phiếu phát ra là: 45 phiếu
- Tổng số phiếu thu lại là: 42 phiếu
Qua sử dụng những phương pháp điều tra trên tôi đã thu được kết quả như sau:
Trang 27Câu hỏi Câu trả lời Số phiếu Tỉ lệ
các trò chơi trong các giờ học toán, luôn tiếp thu học hỏi kinh nghiệm của đồng
nghiệp thông qua các tiết dự giờ, thao giảng Tuy nhiên việc vận dụng các trò chơi toán học đó còn hạn chế, hầu như trong các giờ học toán bình thường giáo viên ít
sử dụng các trò chơi để thay đổi không khí học tập và nâng cao hiệu quả giờ học
mà chỉ sử dụng các trò chơi trong các tiết thao giảng hoặc các tiết được dự giờ
Qua bảng thống kê trên, tôi nhận thấy, tất cả giáo viên đều nhận thức được vai trò, tác dụng của trò chơi học tập trong dạy học môn Toán, trong đó có 20/42 giáo viên (chiếm 47,6 %) cho rằng việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học môn Toán có tác dụng gây hứng thú, kích thích hoạt động học tập của học sinh
3
Gây hứng thú, kích thích hoạt động học tập của học sinh
Trang 28Trong câu hỏi này, tôi để một ý kiến mở nhằm phát hiện được nhiều hơn những tác dụng của trò chơi học tập và nhận được phản hồi là: 7/42 giáo viên (chiếm16,7% ) đều cho rằng cả 3 ý kiến trên đều đúng, tức là việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học môn Toán có tác dụng: Củng cố kiến thức; rèn luyện kĩ năng; gây hứng thú, kích thích hoạt động học tập của học sinh
Bên cạnh đó cũng có giáo viên cho rằng một số học sinh không thích các trò chơi, không khí lớp học bình thường, hiệu quả giờ học bình thường Trao đổi với giáo viên về vấn đề này, Cô Phan Thị Hiền (Trường Tiểu học Hướng Tân, Xã Hướng Tân, Huyện Hướng Hoá, Tỉnh Quảng Trị) cho biết: Có một số trò chơi học tập khi sử dụng không mang lại hiệu quả cao cho tiết dạy vì nó chưa huy động được tất cả học sinh tham gia chơi Do đó, chỉ có các học sinh tham gia chơi và một
Trang 29số học sinh trong lớp hào hứng, tích cực tham gia vào trò chơi; còn một số học sinh
cá biệt, học sinh học chậm không hào hứng lắm với các trò chơi học tập nên dễ làm các việc riêng Mặt khác, một tiết học toán ở Tiểu học khoảng 35 phút trong khi đó
để tổ chức một trò chơi mất khoảng 5 – 10 phút (tức là chiếm 14,3% - 28,6%), việc này chiếm một tỉ lệ khá lớn thời gian của một tiết học Vì vậy, khi chơi trò chơi, giáo viên thường có tâm lý tổ chức cho nhanh gọn nên thường chọn các học sinh năng nổ, học sinh khá giỏi tham gia chơi cho nhanh; dẫn đến các học sinh trầm, học chậm ít được tham gia trò chơi Việc này diễn ra liên tục khiến những học sinh học chậm, rụt rè không có hứng thú với các trò chơi vì các em biết mình sẽ không được
cô (thầy) chọn tham gia chơi nên những học sinh này thường không thích chơi trò chơi
7
Trang 3035 phút nhưng lượng kiến thức phải truyền đạt là quá nhiều cho nên hầu như không
có thời gian để tổ chức trò chơi cho học sinh, hoặc nếu có thì cũng rất ít Hiện nay, trò chơi toán học còn rất đơn lẻ, ít được phổ biến và nhiều giáo viên biết rất ít trò chơi vì ít có tài liệu tham khảo cũng như ngại tìm tòi, sưu tầm, thiết kế
Ngoài ra, khối lượng công việc của một giáo viên Tiểu học quá nhiều, họ vừa làm công tác giảng dạy vừa làm công tác chủ nhiệm, hàng ngày phải dạy 3 – 5 tiết cho nên việc chuẩn bị bài giảng, chuẩn bị dụng cụ dạy học cho từng môn học rất vất vả và mất nhiều thời gian, công sức Đây cũng là một trong những khó khăn của giáo viên khi tổ chức trò chơi học tập cho học sinh
Qua tìm hiểu một số giáo viên dạy lớp 3, tôi nhận thấy các giáo viên nói chung
đều rất quan tâm đến việc sử dụng các trò chơi trong các giờ học toán; luôn tiếp thu
học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp thông qua các tiết dự giờ, thao giảng; luôn có
ý thức tìm tòi, sưu tầm các tài liệu về trò chơi học tập môn Toán lớp 3 trên các phương tiện thông tin: Internet, sách tham khảo, báo, ti vi….Đặc biệt, một số giáo viên đã tự thiết kế các trò chơi học tập để sử dụng trong các tiết dạy của mình cho phù hợp và cũng đã thu được hiệu quả cao
Trong câu hỏi 8, tôi để một ý kiến mở nhằm phát hiện những cách thức sử dụng trò chơi học tập của giáo viên và nhận được phản hồi là: có 17/42 giáo viên (chiếm 40,5%) sử dụng các trò chơi do mình sưu tầm được trên Internet, sách, báo,
ti vi, trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp…sau đó thiết kế lại theo ý tưởng của mình và cũng đã thu được hiệu quả cao Theo tôi, đây cũng là một cách làm rất hay, nhằm làm phong phú thêm vốn trò chơi học tập để sử dụng vào các giờ học Toán giúp học sinh hứng thú học tập
Trong đề tài này, tôi cũng học hỏi cách làm trên của các giáo viên để thực hiện chương 3: Thiết kế một số trò chơi học toán nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh lớp 3 Tôi đã thiết kế một số trò chơi học tập dựa trên những tài liệu thu thập được từ Internet (các sáng kiến kinh nghiệm, các đề tài nghiên cứu khoa học…), từ các tiết dự giờ, từ các kinh nghiệm học hỏi được của giáo viên
Trang 312.2 Về học sinh
2.2.1 Đối tượng điều tra
Do điều kiện khách quan nên đối tượng điều tra của tôi khi thực hiện đề tài này
là những học sinh khối lớp 3 của bốn trường Tiểu học:
+ Trường Tiểu học Hướng Tân: Xã Hướng Tân, Huyện Hướng Hoá, Tỉnh Quảng Trị
+ Trường Tiểu học số 1 Thị trấn Khe Sanh: Thị trấn Khe Sanh, Huyện Hướng Hoá, Tỉnh Quảng Trị
+ Trường Tiểu học số 2 Thị trấn Khe Sanh: Thị trấn Khe Sanh, Huyện Hướng Hoá, Tỉnh Quảng Trị
+ Trường Tiểu học Húc: Xã Húc, Huyện Hướng Hoá, Tỉnh Quảng Trị
2.2.2 Nội dung điều tra
Để thu thập tài liệu cho việc thực hiện đề tài này tôi đã tiến hành điều tra các nội dung sau:
- Mức độ hứng thú của học sinh đối với các trò chơi học tập mà giáo viên sử dụng trong các giờ học Toán
- Nhận thức của học sinh về việc giáo viên sử dụng trò chơi học tập trong các giờ học Toán
2.2.3 Phương pháp điều tra
- Phương pháp điều tra bằng Anket: Những nội dung điều tra trên được thực hiện dưới dạng câu hỏi trong phiếu điều tra (Anket) trao tận tay học sinh
- Phương pháp quan sát: Qua các tiết dự giờ một số tiết Toán ở lớp 3, tôi tìm hiểu mức độ hứng thú của học sinh khi tham gia các trò chơi và hiệu quả của các giờ học có sử dụng trò chơi học tập
- Phương pháp thực nghiệm: Việc trực tiếp giảng dạy 2 tiết Toán ở lớp 3 đã giúp tôi thấy được vai trò quan trọng của trò chơi học tập, đồng thời giúp tôi biết
Trang 32được cách vận dụng, kết hợp nhiều phương pháp, hình thức dạy học trong một tiết dạy để đem lại hiệu quả cao nhất
- Phương pháp xử lý thống kê: Sau khi phát phiếu điều tra thăm dò ý kiến của học sinh, với những phiếu thu lại tôi tiến hành xử lý, thống kê trên cơ sở đó mà khái quát được thực trạng
2.2.4 Kết quả điều tra
- Tổng số phiếu phát ra là: 210 phiếu
- Tổng số phiếu thu lại là: 180 phiếu
Qua sử dụng những phương pháp điều tra trên tôi đã thu được kết quả như sau:
Qua trao đổi với một số học sinh không thích học Toán các em tâm sự rằng: Các em không thích học môn Toán là khá nhiều vì nó khó, khô khan và mỗi khi bắt đầu giờ học Toán các em luôn cảm thấy nặng nề, căng thẳng…Nhưng các em rất thích các trò chơi học tập mà giáo viên tổ chức trong các giờ học Toán vì: chơi trò
Trang 33chơi các em cảm thấy vui vẻ, thoải mái, được khắc sâu các kiến thức, được khen ngợi, được nhận quà…
vì vậy các em rất dễ nhàm chán, dẫn đến không còn hứng thú khi giáo viên tổ chức trò chơi nữa Điều này ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của giờ học
Nói tóm lại, dựa trên những cơ sở lí luận và thực tiễn nêu trên, tôi thấy việc thiết kế một số trò chơi học toán nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh lớp 3 là
vô cùng cần thiết
Trang 34Chương 3: Thiết kế một số trò chơi học toán nhằm gây hứng thú
cho học sinh lớp 3
3.1 Trò chơi có nội dung số học và yếu tố đại số
3.1.1 Trò chơi: XẾP SỐ THEO THỨ TỰ
3.1.1.1 Căn cứ thiết kế trò chơi
- Bài “Đọc, viết, so sánh các số có ba chữ số”, Bài tập 5/trang 3 SGK có đưa
ra bài toán như sau:
Căn cứ vào các yếu tố trên, tôi thiết kế trò chơi như sau:
3.1.1.2 Trò chơi: Xếp số theo thứ tự
* Mục đích
- Giúp học sinh củng cố cách so sánh và sắp xếp các số theo thứ tự từ lớn đến
bé hoặc từ bé đến lớn
- Rèn cho học sinh tính nhanh nhẹn, kĩ luật
*Thời gian chơi: 5 phút
* Chuẩn bị
- 2 lá cờ hiệu (làm bằng giấy màu, 2 lá cờ 2 màu khác nhau)
162, 830, 241, 519, 425 (2 tấm bìa cùng ghi 1 số) như sau:
Trang 35- 1 tờ giấy ghi kết quả đúng để khi nhận xét, đánh giá khỏi mất thời gian suy nghĩ
“Tập hợp theo thứ tự từ bé đến lớn” (hay “Tập hợp theo thứ tự từ lớn đến bé”) đồng thời giơ 2 lá cờ trên 2 tay về hướng nào thì các đội xếp hàng theo thứ tự bắt đầu từ giáo viên Nếu giáo viên đưa cờ sang ngang thì tập hợp hàng ngang, nếu giáo viên đưa cờ ra phía trước thì tập hợp hàng dọc
- Cách tính điểm:
+ Mỗi học sinh thực hiện đúng được 10 điểm, sai 0 điểm
+ Đội nào xếp nhanh, thẳng hàng, trật tự được cộng 10 điểm
Đội nào có tổng số điểm cao hơn thì đội đó giành chiến thắng
- Tổ chức nhận xét, đánh giá:
Khi các đội đã xếp hàng xong, giáo viên yêu cầu học sinh dưới lớp nhận xét, đánh giá xem các đội chơi đã thực hiện đúng chưa bằng cách: Gọi học sinh nhận xét lần lượt từng đội, nếu đúng thì hỏi “Vì sao đúng?”, nếu sai thì hỏi “Vì sao sai?”
và yêu cầu học sinh đó sửa lại cho đúng
Trang 36Sau khi học sinh nhận xét thì giáo viên nhận xét và đưa ra kết quả đúng Học sinh được chọn làm thư kí quan sát, ghi điểm cho các đội chơi
Cuối cùng, giáo viên tuyên bố đội thắng cuộc; tuyên dương, khen thưởng đội thắng cuộc và những học sinh nhận xét đúng; động viên đội thua cuộc; nhắc nhở những học sinh chơi sai hoặc nhận xét sai
* Lưu ý:
- Trò chơi này tổ chức chơi 2 lần: 1 lần là “Tập hợp theo thứ tự từ bé đến lớn”,
1 lần là “Tập hợp theo thứ tự từ lớn đến bé”; mỗi lần chơi là 2 đội Như vậy sẽ có 4 đội (24 học sinh) tham gia trò chơi này, các học sinh còn lại ngồi dưới lớp cũng làm theo hiệu lệnh của giáo viên nhưng bằng cách nhẩm trong đầu hoặc ghi ra giấy nháp để giáo viên gọi nhận xét
- Giáo viên hô hiệu lệnh ngẫu nhiên (không nhất thiết theo thứ tự các yêu cầu trong sách giáo khoa), đưa cờ ngẫu nhiên (đưa 2 cờ về hai phía (sang ngang), đưa 2
cờ ra phía trước, đưa 1 cờ sang ngang (trái hoặc phải) 1 cờ ra phía trước)
* Hứng thú của học sinh khi chơi trò chơi
Trò chơi “Xếp số theo thứ tự” được xây dựng từ bài tập trong sách giáo khoa, khi tổ chức cho học sinh chơi trò chơi sẽ thay đổi không khí học tập căng thẳng sang không khí vui chơi thoải mái, học sinh hứng thú học tập Trò chơi này thi đua giữa các nhóm nên mỗi học sinh đều tích cực làm việc cùng nhóm để hoàn thành nhiệm vụ
3.1.1.3 Các dạng bài có thể sử dụng trò chơi “Xếp số theo thứ tự”
Trò chơi này có thể áp dụng cho các dạng bài sau:
- Bài “Đọc, viết, so sánh các số có ba chữ số” trang 3
- Các số có bốn chữ số
- Bài “Số 10 000 – Luyện tập” trang 97
- Bài “So sánh các số trong phạm vi 10 000” trang 100
- Các số có năm chữ số
Trang 37- Bài “Số 100 000 – Luyện tập” trang 146
- Bài “So sánh các số trong phạm vi 100 000” trang 147
3.1.2 Trò chơi: TRUYỀN ĐIỆN
3.1.2.1 Căn cứ thiết kế trò chơi
- Trò chơi “Xì điện”: Giáo viên gọi 1 học sinh xung phong xướng to 1 phép tính và chỉ tay vào 1 học sinh khác hô “Xì điện” Học sinh bị “Xì điện” đứng dậy trả lời nhanh kết quả tương ứng của phép tính đó; nếu trả lời đúng được khen và
Căn cứ vào cách chơi của trò chơi “Xì điện” tôi thiết kế trò chơi “Truyền điện” như sau:
3.1.2.2 Trò chơi: Truyền điện
* Mục đích
- Rèn luyện, củng cố cho học sinh kĩ năng tính nhẩm nhanh các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong phạm vi 1000, 10 000, 100 000; tính nhẩm nhanh giá trị biểu thức
- Rèn luyện cho học sinh khả năng phản xạ nhanh
* Thời gian chơi: 4 - 5 phút
Trang 38- Tổ chức nhận xét, đánh giá:
Kết thúc trò chơi, giáo viên nhận xét; khen và thưởng một tràng pháo tay cho những học sinh chơi đúng; phạt những học sinh chơi sai (các học sinh bị đứng trên bảng) bằng cách yêu cầu các em vừa hát vừa múa 1 bài do cả lớp chọn; đồng thời nhắc nhở các em những lỗi sai, những cái chưa được để lần sau các em chơi tốt hơn
* Lưu ý:
- Trước khi chơi thật, giáo viên cho học sinh chơi thử để hiểu rõ luật chơi
- Chọn người chơi đầu tiên (học sinh A) nhanh nhẹn, hoạt bát
- Khi những học sinh bị “truyền điện” trả lời, giáo viên nên để các học sinh trong lớp tự phát hiện và đánh giá là “đúng” hay “sai”, giáo viên chỉ đóng vai trò là
“trọng tài”
* Hứng thú của học sinh khi chơi trò chơi
Trò chơi này thi đua giữa cá nhân nên mỗi học sinh phải tập trung chú ý cao độ
để nghe phép tính của bạn đưa ra; tư duy, phân tích, vận dụng kiến thức đã học để nhẩm nhanh kết quả; đồng thời luôn luôn ở tư thế sẳn sàng vì không biết ai sẽ là nười bị “Truyền điện” Trò chơi có thưởng – phạt rõ ràng nên học sinh nào cũng tham gia tích cực để được thể hiện mình
3.1.2.3 Các dạng bài có thể sử dụng trò chơi “Truyền điện”
Trò chơi này có thể áp dụng cho các dạng bài sau:
- Cộng, trừ các số có ba chữ số
- Các bảng nhân, bảng chia
- Nhân số có hai chữ số với số có một chữ số
- Chia số có hai chữ số với số có một chữ số
- Bài “Gấp một số lên nhiều lần” trang 33, 34
- Bài “Giảm đi một số lần” trang 37, 38
- Tìm x
Trang 393.1.3 Trò chơi: TIẾP SỨC
3.1.3.1 Căn cứ thiết kế trò chơi
- Bài “Luyện tập”, Bài tập 1/trang 38 SGK, có đưa ra bài toán như sau:
Viết (theo mẫu) :
Mẫu:
- Trò chơi “Giành cờ chiến thắng”: Giáo viên phát cho mỗi dãy một phiếu ghi nội dung trò chơi Em ngồi đầu dãy làm phép tính đầu tiên, viết kết quả vào hình tròn rồi chuyển phiếu cho bạn thứ 2 trong dãy làm tiếp Cứ như vậy cho đến hết
Căn cứ vào các yếu tố trên, tôi thiết kế trò chơi “Tiếp sức” như sau:
3.1.3.2 Trò chơi: Tiếp sức
* Mục đích
- Củng cố khái niệm gấp một số lên nhiều lần và giảm đi một số lần
- Rèn luyện cho học sinh tính nhanh nhẹn, tinh thần tập thể
*Thời gian chơi: 8 – 10 phút
Trang 40- 5 tờ giấy A2 (5 bảng phụ) ghi nội dung trò chơi như sau: