1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thiên nhiên và con người nam bộ trong “đất rừng phương nam” của đoàn giỏi

67 162 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 687,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là tác phẩm xuất sắc nhất trong sự nghiệp sáng tạo văn chương của Đoàn Giỏi, được lựa chọn trích dẫn trong chương trình Ngữ văn 6, được dựng thành phim, được bạn đọc trong và ngoài nước

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

- -

NGUYỄN THỊ LINH NGÂN

Thiên nhiên và con người Nam Bộ trong “Đất

rừng phương Nam” của Đoàn Giỏi

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Nam Bộ là mảnh đất có truyền thống văn chương Truyền thống ấy

được viết nên bởi sự gắn bó máu thịt giữa người nghệ sĩ với chất hiện thực ngồn ngộn luôn sẵn có của một vùng đất mới Bằng lối văn thông tục, những nhà văn

ưu tú của lục tỉnh Nam kỳ đã đưa hình ảnh quê hương mình từ một mảnh đất mới mẻ, xa lạ và đầy bí ẩn trở nên vô cùng gần gũi với đồng bào cả nước

Cùng với Hồ Biểu Chánh, Trang Thế Hy, Anh Đức, Sơn Nam, Nguyễn Quang Sáng… Đoàn Giỏi được đánh giá là cây bút văn xuôi độc đáo trong việc làm sống dậy cá tính và bản lĩnh người phương Nam Bằng tình yêu và trách nhiệm đối với quê hương, bằng lối viết mộc mạc nhưng có khả năng thu

hút bạn đọc ở mọi lứa tuổi, Đoàn Giỏi đã sớm tạo dựng tên tuổi trong “vườn

văn” Nam Bộ

1.2 Gắn với tên tuổi Đoàn Giỏi, Đất rừng phương Nam đã để lại ấn

tượng đẹp trong lòng bao thế hệ độc giả Với đứa con tinh thần này, Đoàn Giỏi đã làm tốt nhiệm vụ của một nhà văn khi thổi vào tác phẩm của mình hồn khí của thiên nhiên và con người miền Nam Qua những trang văn thấm

Trang 3

đẫm hơi thở của sông nước, rừng cây, của dáng hình, thần thái con người Nam Bộ, Đoàn Giỏi đã kể cho chúng ta nghe câu chuyện tưởng như được viết nên từ huyền thoại Bên cạnh đó, ông còn thể hiện khả năng biến những câu chữ tưởng như vô hồn trở nên vô cùng sinh động

1.3 Cái nôi của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại chính là Nam Bộ Ở

mảnh đất trù phú này, hàng loạt những tác phẩm mở đầu cho khuynh hướng hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã được

đăng đàn Nam Bộ là “đất của tiểu thuyết”, vậy thì không lý gì những cuốn

tiểu thuyết độc đáo của Nam Bộ lại không xứng đáng được giành đất để nghiên cứu Là tác phẩm xuất sắc nhất trong sự nghiệp sáng tạo văn chương của Đoàn Giỏi, được lựa chọn trích dẫn trong chương trình Ngữ văn 6, được dựng thành phim, được bạn đọc trong và ngoài nước đón nhận nồng nhiệt, thế

nhưng hầu như những bài nghiên cứu về Đất rừng phương Nam vẫn chỉ xuất

hiện dưới hình thức những bài phê bình mang tính chất nhỏ lẻ

Chọn, nghiên cứu đề tài Thiên nhiên và con người Nam Bộ trong

“Đất rừng phương Nam” của Đoàn Giỏi, khóa luận đi đến nhận diện những

đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Qua đó, có những đánh giá xác đáng về đóng góp của Đoàn Giỏi đối với mảng văn xuôi Nam Bộ

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Có thể khẳng định, Đoàn Giỏi là một nhà văn tài hoa Càng lão luyện, ông lại càng thể hiện sức viết của một ngòi bút đầy tinh lực Thế nhưng, những bài viết, những công trình nghiên cứu về Đoàn Giỏi và văn nghiệp của

ông lại vô cùng khiêm tốn so với những gì mà ông đã cống hiến

2.1 Về tác giả Đoàn Giỏi:

Trong một số giáo trình, từ điển văn học, từ điển nhà văn,… cuộc đời và

sự nghiệp văn chương Đoàn Giỏi cũng được đề cập đến, song chỉ dừng lại ở những bài giới thiệu có tính khái quát Có thể viện dẫn một số công trình sau:

Trang 4

- Nguyễn Đăng Mạnh - Bùi Duy Tân - Nguyễn Như Ý (Đồng chủ biên,

2004), Từ điển tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam dùng cho nhà trường ,

Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội

- Hội nhà văn Việt Nam (1997), Nhà văn Việt Nam hiện đại, Nxb Hội

nhà văn, Hà Nội

- Ngô Văn Phú - Phong Vũ - Nguyễn Phan Hách (1999), Nhà văn Việt

Nam thế kỷ XX (Tập 2), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội

- Trần Mạnh Thường - biên soạn (2003), Từ điển tác gia văn học thế

kỷ XX, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội

Bên cạnh đó, qua hồi ký của một số đồng nghiệp, hoặc qua một số giai thoại được truyền lại trong làng văn, chân dung Đoàn Giỏi cũng hiện lên khá

rõ nét Theo hồi ức Nhớ Đoàn Giỏi của Sơn Nam thì Đoàn Giỏi có tác phong

“khệ nệ” của người khu 8, Mỹ Tho và những thói quen ăn vận, cư xử đậm

chất Nam Bộ Hồi ức cũng cho thấy Đoàn Giỏi là người nghiêm túc, tận tâm với nghề nghiệp, hễ nghe ai nói trật một dấu hỏi, dấu ngã là ông sửa ngay cho

đến ý tưởng cải biên “ngâm thơ” thành “thét thơ” vô cùng độc đáo

Bài viết Đoàn Giỏi - Nhà văn ưu tú của Nam Bộ kể về những kỷ niệm

của nhà văn Anh Đức từ lúc nhận được sự dìu dắt của Đoàn Giỏi cho đến khi

ông vĩnh biệt tác giả của Đất rừng phương Nam Qua bài viết này, bên cạnh

hình ảnh một Đoàn Giỏi mẫn cán, nhiệt tình đào tạo nhà văn trẻ cho đất nước, Anh Đức còn khẳng định vị trí của cây bút Đoàn Giỏi từ khi còn ở chốn bưng biền Nam Bộ cho đến những ngày sống giữa thủ đô

Chân dung Đoàn Giỏi cũng được nhà văn Nguyễn Thụy Kha phục

dựng qua bài viết Đoàn Giỏi “cậu bé” nhiều tuổi đăng trên tạp chí Văn học

& Tuổi trẻ Từ sự xuất hiện của Đoàn Giỏi trong Từ điển văn hóa Việt Nam

cùng những ảnh hưởng của văn chương Đoàn Giỏi đến tuổi thơ của mình,

Trang 5

Nguyễn Thụy Kha khẳng định: “Để bước vào đội ngũ nhân vật chí Việt Nam

từ ngày lập quốc, thật không phải dễ dàng…”

Trong tập tiểu luận - phê bình Tiếng vọng những mùa qua, Nguyễn

Thị Thanh Xuân nhận định: “Có mảnh đất sinh ra những nhà văn, và ngược

lại, có nhà văn từ trang viết đã biến miền quê riêng của mình thành miền quê chung thân thuộc trong tâm tưởng bao người Với Đoàn Giỏi, tôi nghĩ rằng ông đã đón nhận được cái hạnh phúc đó Ông đã đem đến cho bạn đọc cả nước những hiểu biết và tình cảm về một vùng đất mà trước đó xa ngái, hoang sơ trong hình dung của mọi người Ông đã xây dựng những nhân vật lòng đầy nghĩa khí mà tinh tế và giàu chất văn hóa ”

Ngoài ra trên các trang thông tin điện tử, đặc biệt là trên các chuyên mục về văn học nghệ thuật, thi thoảng cũng xuất hiện những nhận xét, đánh giá về Đoàn Giỏi và văn nghiệp của ông

Trên blog của nhà nghiên cứu văn hóa, văn học Vương Trí Nhàn (www.vuongdangbi.blogspot.com) có đăng cuộc trò chuyện giữa ông và Đoàn Giỏi về Hà Nội - mảnh đất mà Đoàn Giỏi đã gửi gắm một mảnh tâm hồn mình Qua cuộc trò chuyện Đoàn Giỏi bộc bạch, chỉ có ở Hà Nội, ông mới có thể viết hay về quê hương miền Nam và ngược lại, chỉ khi trở về miền Nam, ông mới có thể trả mối nợ thâm tình cho Hà Nội Tâm sự này đã được Vương

Trí Nhàn đúc kết: “Đoàn Giỏi là một nhà văn của những kỷ niệm”

Đồng quan điểm với Vương Trí Nhàn, TS Phạm Văn Tình trong bài

viết Mái đình - nét đẹp trong hồn quê Việt Nam nhận định: “Nhà văn Đoàn

Giỏi, trong bài tùy bút “Măng tầm vông” đã có những dòng thật cảm động,

mô tả tâm trạng của người con miền Nam tập kết ra Bắc, ngồi trên thuyền nhìn lại xóm làng của mình lần cuối: “Tôi đứng mãi trên boong, chờ đợi phút qua ngang nhà Làng tôi, xanh ngắt những tàu dừa, tàu chuối Mái đình cháy

Trang 6

hơn một nửa, nhô ra giữa rặng cây Bờ tầm vông thấp thoáng, ngọn tầm vông hoe vàng trong ánh nắng một chiều thu”

Trên trang thông tin điện tử của Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh

(www.nhavantphcm.com.vn) cũng có hai bài viết: Đoàn Giỏi - nhà văn của

núi cả cây ngàn của Đỗ Thành Nam và Đoàn Giỏi và những áng văn của đất của rừng phương Nam của Huỳnh Mẫn Chi Nếu như Đỗ Thành Nam

nghiêng về tóm tắt tiểu sử và nhấn mạnh tình yêu thiên nhiên của Đoàn Giỏi qua kho tư liệu được ghi chép tỉ mỉ về những câu chuyện chỉ có ở phương Nam thì Huỳnh Mẫn Chi tập trung tìm hiểu con người, sự nghiệp văn chương

và đôi nét về tác phẩm cuối cùng đang còn dang dở của Đoàn Giỏi

Trên trang báo điện tử của văn nghệ sĩ vùng sông Cửu Long

(www.vannghesongcuulong.org.vn) có bài viết Nhớ Đoàn Giỏi - Nhà văn

chiến sĩ công an của tác giả Đoàn Minh Tuấn Bài viết này được xem như là

một nén nhang tưởng nhớ nhà văn - chiến sĩ Tiền Giang tài hoa đã để lại cho đời những trang văn thấm đượm tình người Qua bài viết, hình ảnh Đoàn Giỏi trong những ngày cuối đời được tác giả ghi lại khá rõ nét

2.2 Về tác phẩm Đất rừng phương Nam

Hiện, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn

diện giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Đất rừng phương Nam Rải

rác trong một số công trình nghiên cứu, một số bài viết về văn học 1945 -

1975, tác phẩm cũng được điểm qua bằng một vài nhận xét có tính khái lược

Có thể kể đến bài phê bình Đất rừng phương Nam của Tô Hoài trong cuốn Phê bình - bình luận văn học do Vũ Tiến Quỳnh biên soạn (1998) Ở

bài viết này, Tô Hoài khẳng định “những sáng tác viết cho thiếu nhi của

Đoàn Giỏi như tiểu thuyết Cuộc truy tầm kho vũ khí, tiểu thuyết Đất rừng phương Nam, truyện Cái trống con… Có thể nói tất cả các sáng tác viết cho

Trang 7

lứa tuổi nhỏ của nhà văn Đoàn Giỏi là những khám phá cái đẹp của con người và đất nước [21, tr.218]

Nhân kỷ niệm 23 năm ngày mất của nhà văn Đoàn Giỏi (4-1989 /

2-4-2012), Báo Giáo Dục TP.HCM đăng bài viết Nông thôn Nam bộ trong tiểu

thuyết Đoàn Giỏi: Thấu hiểu nỗi khổ nghèo của người dân Nam bộ của tác

giả Lê Thị Vân như một lời tri ân gửi đến nhà văn của “đất rừng phương

Nam” Bài viết khai thác nội dung một số tác phẩm của Đoàn Giỏi, trong đó

chủ yếu là Đất rừng phương Nam với hình ảnh của nông thôn Nam Bộ trù

phú nhưng cũng ẩn chứa nhiều hiểm nguy

Ngoài ra trong các công trình như Nhà văn Việt Nam hiện đại và Tác

giả văn học thiếu nhi Việt Nam cũng giới thiệu đôi nét về Đoàn Giỏi và trích

dẫn một số nhận định của Tế Hanh, Sơn Nam, Nguyễn Quang Sáng, Ma Văn

Kháng… về giá trị của Đất rừng phương Nam cùng những ảnh hưởng của

cuốn tiểu thuyết đối với thế hệ trẻ

Có thể thấy, Đoàn Giỏi cũng như những tác phẩm của ông, đặc biệt là

tiểu thuyết Đất rừng phương Nam đã có những đóng góp nhất định đối với

văn học Nam Bộ Tuy nhiên, cho đến nay tác phẩm vẫn chưa được nhìn nhận

và đánh giá thỏa đáng Một vài bài viết đơn lẻ thi thoảng xuất hiện trên một số chuyên luận, một số trang web quả thật khập khiễng so với giá trị của tác phẩm Nhưng dầu sao đó cũng là những gợi ý bổ ích có tính chất mở đường

để khóa luận đi vào khảo sát tác phẩm

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng khảo sát chính là tác phẩm Đất rừng phương Nam in trong

Đoàn Giỏi tuyển tập, Nxb Văn hóa thông tin (2010) Ngoài ra, chúng tôi còn

tham khảo thêm một số tác phẩm khác của nhà văn Đoàn Giỏi và tác phẩm của một số nhà văn Nam Bộ để vận dụng trong quá trình so sánh, đối chiếu

Trang 8

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Khóa luận tập trung nghiên cứu các vấn đề chính sau: Thiên nhiên, con người Nam Bộ và các phương thức biểu hiện thiên nhiên và con người Nam

Bộ trong Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong đề tài này, chúng tôi vận dụng kết hợp một số phương pháp sau:

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

- Phương pháp hệ thống

- Phương pháp so sánh - đối chiếu

- Phương pháp tiểu sử

5 BỐ CỤC CỦA KHÓA LUẬN

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, khóa luận được cấu trúc thành ba chương:

Chương 1: Đoàn Giỏi - đời người, đời văn

Chương 2: Bức tranh thiên nhiên và con người Nam Bộ trong Đất rừng

phương Nam

Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện thiên nhiên và con người Nam Bộ

trong Đất rừng phương Nam

Trang 9

Chương 1 ĐOÀN GIỎI - ĐỜI NGƯỜI, ĐỜI VĂN 1.1 ĐOÀN GIỎI - “NGƯỜI HÀN SĨ ĐẤT THỦ KHOA HUÂN”

1.1.1 Đoàn Giỏi - “cây chò chỉ” trước thử thách cuộc đời

Nhà văn Đoàn Giỏi tên đầy đủ là Đoàn Văn Giỏi Ông còn có các bút danh khác như Nguyễn Hoài, Nguyễn Phú Lễ, Huyền Tư… Ông là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy viên Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam các khóa I, II và III

Đoàn Giỏi sinh ngày 17 - 5 - 1925 ở thị xã Mỹ Tho, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc xã Tân Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang) Ông xuất thân trong một gia đình địa chủ lớn, có hàng trăm mẫu ruộng màu mỡ ven sông Tiền Ông là con thứ tư của ông Đoàn Văn Vàng và bà Nguyễn Thị Kiểu Ông bà

có tất cả mười người con: Đoàn Văn Mỹ, Đoàn Thị Ba, Đoàn Thị Tư, Đoàn Giỏi, Đoàn Phú, Đoàn Thị Đức, Đoàn Ngọc Hưng, Đoàn Nhân và Đoàn Thị Tuyết Trong những người con ấy, Đoàn Giỏi, Đoàn Phú, Đoàn Nhân sớm giác ngộ và tham gia các hoạt động cách mạng trong thời kỳ kháng chiến

Trang 10

chống Pháp Họ đều là những chiến sĩ bất khuất, trung kiên, dũng cảm trên nhiều chiến trường

Đoàn Giỏi có niềm say mê đặc biệt với hội họa Ông đã từng giấu gia đình thi vào trường Mỹ thuật Gia Định Nhưng chỉ học hơn một năm thì gia đình biết được và yêu cầu ông nghỉ học (1939-1940) Từ đó, ông chuyển sang

sáng tác văn chương và cho ra đời truyện ngắn đầu tay Nhớ cố hương (1943)

Sau Cách mạng tháng Tám, Đoàn Giỏi quay trở về quê hương tham gia hoạt động cách mạng Mặc dù bộc lộ tư chất văn chương và hội họa từ rất sớm nhưng đến năm 1947, Đoàn Giỏi lại có một lối rẽ bất ngờ khi quyết định công tác trong lực lượng công an Ông là một chiến sĩ an ninh dũng cảm, kiên cường, trung thành với cách mạng Có lúc, ông làm đến chức trưởng công an huyện Châu Thành Thời gian này, Đoàn Giỏi cũng tiếp tục sáng tác và có

nhiều tác phẩm gửi đăng trên các báo ở vùng tạm chiếm như Tư lương nhân trên tờ Dân báo, Mười hai bến nước trên tờ Ánh sáng, Hướng về thủ đô trên

tờ Thông tin Mỹ Tho…

Năm 1948, Đoàn Giỏi được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương

và giữ chức Phó ty Tuyên truyền tỉnh Định Tường (nay thuộc tỉnh Tiền

Giang) Ông cũng kiêm luôn vị trí chủ bút tờ báo Tiền Phong của Mặt trận

Việt Minh Mỹ Tho

Đến năm 1950, Đoàn Giỏi từ Mỹ Tho chuyển lên công tác ở Ty Văn hóa - Thông tin tỉnh Rạch Giá (bấy giờ chưa đổi là Kiên Giang) Ông giữ

chức Phó Trưởng ty Thông tin Khi tỉnh Rạch Giá giải tán, do sự cố “vụ bẻ cổ

vịt”, Đoàn Giỏi chuyển về công tác ở Chi hội Văn nghệ Nam Bộ rồi làm Phó

phòng Văn nghệ Sở Thông tin Nam Bộ Đồng thời, ông là thành viên của Hội

đồng biên tập tạp chí Lá lúa (Lưu Quý Kỳ chủ nhiệm) và cộng tác viết bài cho tờ Văn nghệ miền Nam Ông cũng tích cực tham gia hoạt động trong

nhóm Văn nghệ Đồng Tháp Mười (gồm Nguyễn Bính, Đoàn Giỏi, Bảo Định

Trang 11

Giang, Nguyễn Đức Hinh, Việt Ánh), tham gia dịch và giới thiệu một số tác

phẩm văn học nước ngoài như Anh chỉ nói với em về niềm hy vọng của George Amado đăng trên Thông tin Rạch Giá (1950), Bà mẹ kiên nhẫn của

Pierre Gamarra đăng trên Văn nghệ miền Nam (1951) Năm 1954, Đoàn Giỏi

vào vùng địch hậu Vĩnh Châu, tham gia đoàn Tuyên truyền báo chí

Sau Hiệp định Giơnevơ, Đoàn Giỏi tập kết ra Bắc Ông làm việc tại phòng Văn học thuộc Đài Tiếng nói Việt Nam, sau đó chuyển về làm việc tại Hội Nhà văn Việt Nam (1957) Ở Hà Nội, Đoàn Giỏi và anh em viết văn Nam

Bộ cùng sống chung trong một ngôi nhà, đầu tiên là ở số 19 - Tôn Đản, về sau

ở số 2 - Cổ Tân

Sau khi đất nước thống nhất, Đoàn Giỏi trở về miền Nam hoạt động văn nghệ tại thành phố Hồ Chí Minh Cho đến ngày 02 - 4 - 1989, sau một thời gian dài chống chọi với căn bệnh ung thư, nhà văn Đoàn Giỏi đã ra đi, để

lại tập bản thảo Núi cả cây ngàn và ước mơ về một tác phẩm để đời đang còn

dang dở Ngày 07 - 4 - 2000, Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định đặt tên ông cho một con phố thuộc quận Tân Phú Tại Tiền Giang, trường tiểu học Tân Hiệp đã được đổi tên thành trường phổ thông cơ sở Đoàn Giỏi (nay là trường THCS Đoàn Giỏi)

1.1.2 Đoàn Giỏi - nhà văn của “núi cả cây ngàn”

Trong hành trình sáng tạo văn chương của mình, Đoàn Giỏi ý thức rất

rõ rằng mình chỉ có thể làm nên chuyện một khi viết về quê hương xứ sở Có

lần, ông đã tâm sự với nhà văn Anh Đức: “Ở đất Bắc, giỏi lắm tao chỉ lấy đề

tài viết tới bút ký thôi, còn truyện ngắn hay tiểu thuyết thì tao phải viết truyện quê nhà!” [21, tr.382] Chính vì hiểu được sở trường của mình, Đoàn Giỏi đã

viết rất thành công và để lại rất nhiều những tác phẩm có giá trị cho quê hương phương Nam ấm áp

Trang 12

Tiền Giang là một vùng đất giàu nghĩa khí, là địa chỉ đỏ của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ oanh liệt Đặc biệt, mảnh đất Tiền Giang cũng là quê hương

của những anh hùng dân tộc “vì nước quên thân, vì dân diệt bạo” như Nguyễn Hữu Huân, Trương Định, “tứ kiệt” Nguyễn Thanh Long, Trần Công

Thận, Trương Văn Rộng, Ngô Tấn Đước… Không chỉ nổi tiếng là mảnh đất kiên cường, Tiền Giang còn là mảnh đất lý tưởng cho sự phát triển của văn học viết đầu thế kỉ XX Tiền đề ấy đã góp phần sản sinh ra không ít nhà văn, nhà thơ tên tuổi, có nhiều đóng góp đối với quá trình phát triển của văn học dân tộc như Hồ Biểu Chánh, Hoàng Tố Nguyên, Bảo Định Giang, Nguyễn Thị Manh Manh…

Đầu thế kỉ XX, đời sống văn học của Tiền Giang phát triển đặc biệt ở thị xã Mỹ Tho và Gò Công - hai địa điểm tập trung đông đảo tầng lớp trí thức Tây học và công chúng thị dân Hơn nữa, Mỹ Tho và Gò Công còn là hai mảnh đất thịnh vượng cả về kinh tế và văn hóa, có đủ điều kiện để khai sinh

nền văn học đô thị Nhiều nhà in xuất hiện (Lửa hồng, Tấn phát, Đông

phương thư xã, Xưa và nay…), báo chí được phát hành rộng rãi (Phụ nữ tân văn, Tiếng chuông rè, Dân quyền…), các thư quán lần lượt ra đời (Chiêu anh thơ quán, Đông phương thơ xã, Nữ lưu thơ quán…) Đặc biệt, Nam Bộ là nơi

tích cực nhất thực hiện chủ trương viết văn bằng “tiếng An Nam ròng”, đề

cao lối văn đơn sơ, dễ hiểu, ít điển tích, ít dùng chữ Nho

Vùng quê anh hùng với không khí cách mạng sôi nổi và truyền thống văn chương ấy đã góp phần quan trọng bồi đắp ý chí và tâm hồn Đoàn Giỏi Qua tác phẩm của ông, người đọc sẽ không khó để nhận ra quê hương Tiền Giang, mảnh đất Nam Bộ đã trở thành nguồn cảm hứng thường trực trong các

sáng tác của “người hàn sĩ đất Thủ khoa Huân”

Cho dù sinh sống ở đâu, ông cũng luôn hoài niệm về quê hương Tiền Giang - nơi chôn nhau cắt rốn của mình Trong những năm nhận công tác ở

Trang 13

Rạch Giá, ông vẫn luôn buồn nhớ về đất Mỹ Tho, cứ chiều chiều lại ra ngồi nhìn ngược dòng bờ sông Long Mỹ Nỗi nhớ ấy đã đi vào trang văn của ông,

đúng như những gì nhà văn Anh Đức từng nhận xét: “Văn anh Đoàn Giỏi vừa

mang chất trữ tình lại vừa mang chất ly kỳ, sôi động và bao trùm lên hơi văn của anh là lòng hoài niệm, vương vít khôn nguôi nỗi nhớ cố hương” [21,

tr.212] Trong bài Ký Nhớ Tiền Giang, Đoàn Giỏi đã tự hào viết:“ Con nhà

tông không giống lông cũng giống cánh! Là nói cho vui vậy, chứ không vậy, không có cái tính nghệ sĩ gốc của ông bà đó, không phải là đất phát tích của cải lương thì làm gì bật lên ở Nam kỳ và cả nước các dĩa hát với các giọng ca Phùng Há, Năm Phỉ, Ba Du, Tư Xe, Bảy Nam… Thì làm gì có một soạn giả Trần Hữu Trang ở Phú Kiết - Con người nho nhã như thư sinh, ra Hà Nội cũng mặt bộ quần áo bà ba trắng, trước khi viết Đời Cô Lựu, Tô Ánh Nguyệt

đã sáng tác những bài ca quốc sự… Đâu phải ngẫu nhiên mà có Trần Văn Khê - con ông Bái Ba ở chợ Giữa - Vĩnh Kim một gia đình từ cha con, anh em đều giỏi nhạc… Và cũng tại đó, đầu tiên trên toàn quốc, thành lập gánh hát toàn con gái - gánh Đồng Nữ của cô ba Diện, chuyên trình diễn những tấm gương ái quốc, những tuồng lịch sử chống xâm lăng… Ta lại có họa sĩ Nguyễn Sáng - người Chợ Gạo, một nghệ sĩ tài hoa, sáng tạo nhiều tác phẩm hiện đại đầy tính dân tộc, đã vượt tầm cỡ quốc gia, lấp lánh giữa trời sao tài năng hội họa thế giới…”

Trong hồi ức của các đồng nghiệp, Đoàn Giỏi lúc nào cũng là một con người đặc sệt Nam Bộ Dù sống ở quê nhà hay đất Bắc, dù đến các nước châu

Á hay sang tận trời Âu, Đoàn Giỏi vẫn luôn giữ những thói quen đậm chất miền tây Trong hồi ức của mình, nhà văn Sơn Nam đã từng mô tả Đoàn Giỏi

có “dáng người lùn và mập, có tác phong “khệ nệ” của người khu 8, Mỹ Tho

xuống, khá văn minh… Đoàn Giỏi mặc áo quần bà ba đen, nhưng rất sạch sẽ, thích uống trà đậm, mỗi ngày ít nhất ba cử… Uống xong lại hút thuốc Đoàn

Trang 14

Giỏi trang bị được cái dọc tẩu của Pháp với nhãn hiệu Rốp (Ropp), không thuốc thơm thì lấy thuốc rê, lấy cây kéo cắt nhỏ mà nhét vào, một kiểu khệ nệ khác là anh bày ra cách phát âm chuẩn, phần lớn là phát âm theo đồng bằng sông Hồng và Bắc Bộ…” [9, tr.26] Đến khi sang tận Hunggari, Đoàn Giỏi

cũng mang theo mấy chai rượu đế và tìm mua cho bằng được dụng cụ nấu nước sôi để pha trà uống khi ở khách sạn

Được nhận xét là nhà văn Nam Bộ mang nhiều tính cách của con người Nam Bộ, Đoàn Giỏi luôn xuất hiện trong trí nhớ của các đồng nghiệp như một con người phóng khoáng, vũ dũng và nặng tình với mảnh đất miền Nam Tác phẩm của Đoàn Giỏi thường hào hùng và đậm chất nghĩa khí Bản chất Đoàn Giỏi lại là người rất chịu khó tìm tòi và hay nghiên cứu mọi chuyện một cách ngọn ngành, cho nên, văn của ông thường rất góc cạnh, gồ ghề nhưng cũng chân tình và hồn nhiên như chính miền đất Tây Nam Bộ hoang sơ và hào phóng Để bạn đọc có thể hiểu hơn về xứ sở của mình, trong quá trình khai

thác thực tế, Đoàn Giỏi thường có thói quen “ngắm nhìn từng chiếc lá, từng

rễ cây, từng ngọn đước, ghi ghi chép chép cẩn thận Đêm dưới ánh trăng không đủ sáng để nhìn, anh rọi đèn pin xem từng con cua, con còng, con cá kèo… bò ra khỏi hang kiếm ăn” Thậm chí, Đoàn Giỏi say mê miền quê còn

hoang sơ của mình đến nỗi có cả một kho tư liệu ghi chép tỉ mỉ về vùng đất phương Nam

Vốn là một nhà văn hết sức chú trọng đến tình tiết bản sắc của vùng đất, đặc biệt là những câu chuyện gian truân gay cấn của thời khai mở cho

nên vào những năm cuối đời, Đoàn Giỏi đã ấp ủ viết cuốn Núi cả cây ngàn

với mong muốn đưa độc giả cùng phiêu lưu đến nhiều nơi, nhiều vùng trên mảnh đất Nam Bộ trong thời kỳ đầu chống thực dân Pháp Thế nhưng, nguyện ước về một tác phẩm để đời viết về quê hương xứ sở của ông đã không thể trở thành hiện thực vì bệnh tật hiểm nghèo

Trang 15

Suốt cuộc đời mình, Đoàn Giỏi đã sống và viết vì tình yêu và nỗi nhớ

dành cho quê hương Và dù “suối nguồn nào cũng trở lại với dòng sông” thì

hình ảnh về một nhà văn lưu giữ huyền thoại phương Nam trong trang sách của mình sẽ sống mãi cùng thời gian, bằng tình cảm của những bạn đọc yêu quê hương, nguồn cội

1.2 ĐẤT RỪNG PHƯƠNG NAM – TÁC PHẨM LƯU DẤU NHỮNG

HUYỀN THOẠI

1.2.1 Câu chuyện về sức sống của một cuốn tiểu thuyết thiếu nhi

Đoàn Giỏi được sinh ra tại Tiền Giang, nơi nổi tiếng là địa đàng của những con rạch nhiều nhánh nhóc, quanh năm phù sa bồi đắp Ắt hẳn, chính vùng đất trù phú cùng những con người phóng khoáng, hào hiệp nơi đây đã thổi hồn cho những trang văn của Đoàn Giỏi viết về đất và người phương Nam Và sự thật, ông đã không phụ lòng bà con Nam Bộ khi đã để lại cho

miền sông nước này một tác phẩm văn học “rặt” hình dáng và tâm tình vùng

chín nhánh sông Cửu Long

Năm 1957, Đất rừng phương Nam được xuất bản Tác phẩm ra đời đã

phần nào làm nguôi ngoai nỗi nhớ quê hương của Đoàn Giỏi và biết bao đồng bào chiến sĩ miền Nam trong những ngày tập kết ra Bắc Không chỉ dừng lại ở

đó, từ khi mới ra đời cuốn tiểu thuyết viết riêng cho thiếu nhi này đã thu hút được sự quan tâm của bạn đọc ở mọi lứa tuổi Bất ngờ hơn nữa, không chỉ

được tái bản nhiều lần trong Tủ Sách Vàng của Nxb Kim Đồng, Đất rừng

phương Nam còn vươn vai bước vào văn đàn thế giới, qua nhiều lượt dịch ra

các thứ tiếng Nga, Ba Lan, Trung Quốc, Đức, Tây Ban Nha…và được độc giả

ở những nơi cuốn sách đi qua đón nhận với thái độ nồng nhiệt

Bạn đọc còn cảm thấy thú vị hơn khi được biết về hoàn cảnh ra đời có

một không hai của Đất rừng phương Nam Theo Giai thoại làng văn Việt

Nam (Nxb Văn hóa dân tộc, 1999): Trần Thanh Địch vốn là biên tập viên về

Trang 16

mảng sách miền Nam của Nxb Kim Đồng Một hôm, ông tìm đến nhà Đoàn Giỏi để đặt hàng một cuốn truyện viết về đề tài miền Nam dành riêng cho các cháu thiếu nhi Đoàn Giỏi vui vẻ nhận lời Để tạo động lực cho ngòi bút nhà văn, Trần Thanh Địch phấn khởi đề nghị nhà xuất bản giúp đỡ ông 300 đồng tiền tạm ứng nhuận bút và lời hẹn khoảng bốn tháng nữa sẽ sang xin bản thảo Trở về sau 3 tháng thực tế ở Vĩnh Linh, Trần Thanh Địch nhẩm tính còn 28 ngày nữa phải nộp bản thảo cho lãnh đạo cơ quan, ông vội vàng đến nhà Đoàn Giỏi Trước lời hối thúc về tập bản thảo của Trần Thanh Địch, Đoàn Giỏi ngơ

ngác: “Viết cái gì nhỉ?” khiến cho biên tập viên của nhà xuất bản Kim Đồng tái mặt: “Tôi đã hẹn với Giám đốc là sẽ nộp bản thảo đúng hẹn Tôi bạc cả

tóc rồi mà còn để người ta trách là thiếu tinh thần trách nhiệm hay sao?” Hôm

ấy là ngày mồng 4, Đoàn Giỏi đã chỉ tay lên trán và vào ngực trái của mình để hẹn Trần Thanh Địch ngày 25 đến lấy bản thảo Y lời dặn của nhà văn, không được gọi điện thoại, không được giục, đúng hẹn, Trần Thanh Địch đến, cũng vừa lúc Đoàn Giỏi kết thúc những dòng cuối của cuốn truyện Phải biết được

hoàn cảnh ra đời cấp bách ấy của Đất rừng phương Nam mới có thể hiểu hết

được tài năng của Đoàn Giỏi Và điều này đã góp phần khẳng định: thiên nhiên

và con người miền Nam luôn ở trong ký ức và trái tim của nhà văn Chỉ có như thế, cuốn truyện ngồn ngộn những hiểu biết về đất và người phương Nam này mới có thể ra đời trong một thời gian ngắn không thể tưởng

Xuyên suốt Đất rừng phương Nam là phần đời trôi nổi của An, một

cậu bé bị lạc mất mẹ cha trong thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp Bằng hành trình tìm lại người thân của cậu bé, Đoàn Giỏi đã khéo léo dẫn dắt bạn đọc đi qua các miền quê vùng tây Nam Bộ và mang đến những dư vị kỳ diệu

về bối cảnh, con người, tập tục văn hóa nơi đây Giới thiệu về vùng đất phương Nam đang còn lạ lẫm, Đoàn Giỏi đã thõa mãn được trí tò mò của bạn đọc về một miền đất mới - một miền đất hứa Ở nơi đó, có thiên nhiên vô

Trang 17

cùng trù phú, hào phóng, hùng vĩ cùng những con người sống rất tài tử nhưng cũng vô cùng quyết liệt, làm hết sức và đánh giặc cũng hết mình

Có thể nói, Đất rừng phương Nam chính là xã hội của miền sông nước

tây Nam Bộ thu nhỏ Cái tài tình của Đoàn Giỏi là đã tái tạo thành công bối cảnh sông nước, con người từ thuở cha anh đi khai hoang, mở mang vùng đất phương Nam Thông qua tác phẩm, chúng ta có thể dễ dàng hình dung cuộc sống của những người dân dọc sông Tiền, sông Hậu trải dài đến Kiên Giang - Rạch Giá, rồi xuống tận rừng U Minh, sau đó dừng lại ở Năm Căn, Cà Mau

Bối cảnh trong Đất rừng phương Nam là cả một đất trời thiên nhiên ưu đãi,

cánh đồng bát ngát mênh mông, sóng nước rì rầm, rừng rậm bạt ngàn trù phú,

thú rừng muôn loài hoang dã… Trao đổi với các nhà văn nước ngoài về Đất

rừng phương Nam, nhà thơ Tế Hanh đánh giá: “Chúng tôi có thể gọi Đất

rừng phương Nam đó là truyện “Rôbinxơn” của Việt Nam vậy! Vì nó cũng là những trang vàng huyền thoại phiêu lưu hấp dẫn không kém”

Tiểu thuyết Đất rừng phương Nam đã được hãng phim truyền hình thành phố Hồ Chí Minh (TFS) chuyển thể thành kịch bản phim Bộ phim Đất

phương Nam dài 11 tập do Nguyễn Vinh Sơn viết kịch bản và đạo diễn Tác

phẩm điện ảnh này đã để lại dấu ấn trong lòng khán giả bằng mảnh đời gian truân của cậu bé An trên con đường vào Nam tìm cha Dựa trên cuốn tiểu thuyết, bộ phim là sự khắc họa chân thực những mảnh đời lầm than của người nông dân miền Nam dưới ách áp bức của phong kiến và thực dân Những giọt nước mắt của nhân vật đã làm thổn thức biết bao khán giả Bộ phim với ý nghĩa nhân văn sâu sắc đã làm lay động trái tim của đông đảo tầng lớp người xem về tấm lòng nhân ái của đồng bào miền Nam, về sự dũng cảm kiên

cường khi họ cùng nhau “rũ bùn” đứng dậy làm cách mạng

Đã 15 năm kể từ khi bộ phim được công chiếu nhưng hình ảnh cậu bé

An (diễn viên Hùng Thuận đóng) và những giai điệu ngọt ngào, sâu lắng của

Trang 18

câu hò Nam Bộ, của ca khúc Bài ca đất phương Nam vẫn còn in sâu trong

tâm trí nhiều thế hệ người Việt Chiếm được tình cảm của cả một thế hệ khán giả lúc bấy giờ, để đến tận hôm nay, mỗi khi bài hát chủ đề của bộ phim ngân

lên đâu đó: “Nhắn ai đi về miền đất phương Nam, đồng xanh mây trắng, soi

dòng Cửu Long giang Mênh mông rừng tràm, bạt ngàn dừa xanh Tiếng chang đước đong đưa, nhớ người xưa từng ở nơi này Cho ta thêm yêu dấu chân ngàn năm đi mở đất Cho ta thêm yêu bầy chim sáo sổ lồng…”, thì

không ít người lại bồi hồi vì dư âm của những thước phim cảm động cứ mãi

in sâu trong kí ức Và thành công ấy đã mang lại vinh dự cho đoàn làm phim khi nhận giải A của Hội Điện ảnh Việt Nam vào năm 1997

Không dừng lại ở sự nồng nhiệt của khán giả Việt, bộ phim Đất

phương Nam đã được công chiếu ở Mỹ và được đông đảo khán giả Mỹ đón

nhận Đây được xem là một sự kiện hiếm hoi đối với các nhà làm phim trong nước Vì bộ phim này là phim truyện Việt Nam đầu tiên được lưu hành ở nước ngoài và nhận được những lời giới thiệu rất lạc quan: tác phẩm được

chuyển thể từ tiểu thuyết Đất rừng phương Nam của nhà văn Đoàn Giỏi, tác

phẩm có thể sánh với những kiệt tác của Charles Dickens và Mark Twain

1.2.2 Tiểu thuyết Đất rừng phương Nam trong mạch văn của

Đoàn Giỏi

Thưở còn tham gia kháng chiến ở Nam Bộ, Đoàn Giỏi là một trong những cây bút viết sớm Bị gia đình ngăn cấm niềm đam mê hội họa, Đoàn Giỏi đã rẽ lối và chọn văn chương làm cái nghiệp của đời mình với tác phẩm

đầu tay là Nhớ cố hương (1943) Tác phẩm đã được Hồ Biểu Chánh khen,

sửa chữa và được nhà văn đệ nhất Nam Kỳ lục tỉnh này chọn đăng trên số

xuân của Nam Kỳ tuần báo Từ đó, Đoàn Giỏi liên tục sáng tác, có những tác

phẩm gây được tiếng vang: Người Nam thà chết không hàng (kịch thơ, 1947), Khí hùng đất nước (ký sự lịch sử, 1948), Những dòng chữ máu Nam

Trang 19

Kỳ 1940 (ký, 1948), Đường về gia hương (truyện ngắn được sửa và nới rộng

ra từ Nhớ cố hương, 1948), Chiến sĩ Tháp Mười (kịch thơ, 1949), Giữ vững

niềm tin (thơ, 1954), Chuyện thằng Cồi (truyện thơ, 1954)…

Tuy đã có vị trí nhất định trong văn học miền Nam nhưng vốn sống, vốn văn hóa, kinh nghiệm sáng tác của Đoàn Giỏi lúc bấy giờ còn khá hạn chế Điều này được thể hiện rõ nét trong các sáng tác bằng văn vần Thơ Đoàn

Giỏi được nhận xét là “vừa có cái chất phác, vừa có cái cầu kỳ Câu thơ thiếu

cái thanh thoát tự nhiên mà còn nặng nề khuôn sáo” Tuy nhiên, tính khuôn

sáo ấy lúc bấy giờ đã trở thành đặc điểm chung của cả một dòng văn học như

chính Đoàn Giỏi đã từng thừa nhận: “Năm 1948, tỉnh điều tôi sang làm Phó

ty Tuyên truyền Mỹ Tho, vừa phụ trách luôn phòng văn nghệ Trong thời gian này tôi vẫn làm thơ, ngôn ngữ còn hoa mỹ, khuôn sáo, như bài gửi cho Thẩm Thệ Hà - người bạn trước kia cùng học - đang dạy học ở vùng tạm chiến Đường không cách mấy quan san/ Ta chờ ngươi ở bến trăng sông Tần” Hồi

đó nếu ai còn dùng quan san, ngươi, sông Tần cũng là chuyện bình thường”

(nguồn: Cách mạng kháng chiến và đời sống văn học 1945-1975, Nxb Hội

nhà văn, 2002, tr.728; trích dẫn trong “Đoàn Giỏi - người lưu giữ huyền thoại

phương Nam” - Lưu Hồng Sơn)

Khác với các văn nghệ sĩ cùng thời với mình, cột mốc đánh dấu sự trưởng thành trong văn chương của Đoàn Giỏi là sự kiện Hiệp định Giơnevơ được ký kết Có lẽ, điều này càng khẳng định rõ hơn câu nói của Vương Trí

Nhàn: “Đoàn Giỏi là nhà văn của những kỷ niệm” Những trang văn ra đời

bằng hồi ức, trí nhớ của nhà văn chắc hẳn đã được tinh lọc, luôn đủ sức bừng sáng khi nó có độ lùi về thời gian

Sau Hiệp định Giơnevơ, Đoàn Giỏi ra Hà Nội tập kết Mặc dù còn nhiều hạn chế trong cách viết nhưng với niềm đam mê, chí cốt với nghề, lại gặp được mảnh đất văn chương màu mỡ, được học lớp bồi dưỡng ở Trường

Trang 20

viết văn Nguyễn Du, đi tham quan thực tế trong và ngoài nước, được các nhà văn, nhà thơ đàn anh ân cần dìu dắt, động viên khích lệ… nên tập kết ra Bắc chưa đầy một năm, tên tuổi Đoàn Giỏi đã được biết đến với một phong cách

mới lạ, chững chạc, riêng biệt qua bài ký Đèn tôi bay về Lục Hồ Chí Minh

Nhận ra sở trường của mình, Đoàn Giỏi chuyên chú vào các thể loại ký, truyện ngắn và đặc biệt là tiểu thuyết Ông đã đưa bạn đọc đi từ ngạc nhiên này qua ngạc nhiên khác bằng hàng loạt tác phẩm thú vị, ly kỳ về miền đất

phương Nam, đầy chất Nam Bộ, hài hòa dưới ngòi bút tài hoa và sắc sảo: Cây

đước Cà Mau (ký, 1955), Cuộc truy tầm kho vũ khí (truyện, 1962), Người đồng hương (truyện, 1971),…

Bất cứ một ai khi đọc văn của Đoàn Giỏi đều có cảm giác như đang đọc được những trang lịch sử mang đậm chất văn hóa đặc trưng của một vùng đất

Đọc Người và đất Cà Mau, chúng ta dường như cứ bị cuốn đi trong những

trang văn ngồn ngộn nguồn tư liệu và vốn sống của ông “Người Cà Mau

sống trước hết bằng tấm lòng Họ không so đo tính toán Ngày họ tới đây chỉ

có mỗi chiếc xuồng, một con dao rựa và một con chó Trong chốn cô đơn đầy nguy hiểm này, con chó là bạn trung thành duy nhất Họ không bao giờ ăn thịt chó Của cải của họ ở ngay dưới nước, trong rừng, miễn có sức bỏ ra là thu vào ngay trước mắt Điều đó cắt nghĩa tại sao những con người ở đây đều

là những người trọng nghĩa khinh tài Và họ là những người hiếu khách bực nhất Dù lạ dù quen, anh vẫn có thể cứ ở chơi, cứ ăn cơm hàng tháng bất cứ nhà nào Cuộc sống nham đầy họ tới nơi hoang địa này, chỉ làm bạn với con chó cho nên họ rất thèm gặp người…” [5, tr.625]

Với một nguồn tư liệu dồi dào, một nguồn cảm xúc tột đỉnh, Đoàn Giỏi

đã viết Người thủy thủ trên hòn đảo lưu đày (1963), một cuốn truyện về vị

cố Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng trong những tháng ngày bị giam giữ ở Côn Lôn Được biết khi đặt bút viết tác phẩm này, Đoàn Giỏi đã nhiều lần gặp Bác

Trang 21

Tôn Chính những lần gặp gỡ ấy đã giúp tác giả thu thập tư liệu và viết bằng tất cả tấm lòng kính nể, trân trọng đối với một vị Chủ tịch nước kiên trung, anh dũng nhưng cũng rất chan hòa và nhân ái Ngoài ra, Đoàn Giỏi còn viết

thêm quyển hồi ký Từ đất Tiền Giang Ông gần như ghi chép lại một cách

chính xác về người phụ nữ bất khuất kiên trung ở đất mảnh đất quê hương mình Đó là bà Nguyễn Thị Thập, người phụ nữ có công lớn trong cuộc Nam

kỳ khởi nghĩa Nhưng tiếc thay, hai tác phẩm có giá trị văn học và lịch sử này

vì lí do chiến tranh đã bị thất lạc bản thảo

Một thế kỷ kháng chiến chống Pháp, Mỹ đã để lại cho dân tộc ta những nỗi đau tột cùng Chính vì vậy mà chiến tranh và những hậu quả của nó đã trở thành chủ đề xuyên suốt trong văn học Việt Nam thế kỷ XX Không phải là

một ngoại lệ, những truyện Trần Văn Ơn (1955), Người tù chính trị năm

tuổi (1973)… của Đoàn Giỏi cũng nằm trong nguồn mạch chung ấy Tuy

nhiên, dù lấy hình ảnh người lính và những năm tháng chiến tranh làm bối cảnh thì tác phẩm của Đoàn Giỏi cũng đều để lại ấn tượng về cuộc sống, con

người, quê hương đất nước: Cá bống mú (truyện, 1955), Hoa hướng dương (truyện, 1960), Ngọn tầm vông (truyện ký, 1956)…

Tiểu thuyết Đất rừng phương Nam chính là tác phẩm nổi bật nhất

trong gần nửa thế kỷ cầm bút của Đoàn Giỏi Vịn vào hành trình lưu lạc của một cậu bé trong thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ, Đoàn Giỏi

đã khéo léo dẫn dắt bạn đọc về chiêm ngưỡng những bối cảnh rất đặc trưng của vùng tây Nam Bộ Không dừng lại ở đó, phương Nam trù phú còn hiện ra như là mảnh đất của những con người mang trong mình dòng máu khai hoang

với đầy đủ những phẩm chất đáng trân trọng Có thể nói, Đất rừng phương

Nam đã góp công nối liền một vùng quê còn xa lạ vào nguồn chung của đất

nước, tạo dựng niềm tin về tinh thần đoàn kết của cả một dân tộc cùng hướng

về kháng chiến

Trang 22

Sau giải phóng, bạn đọc dễ dàng nhận ra sự thay đổi trong các sáng tác

của Đoàn Giỏi Những truyện ngắn, Rừng đêm xào xạc (1984), Chú bé Hà

Nội và con ó lửa trên Đồng Tháp Mười (1987)… có phần mạnh mẽ hơn,

điêu luyện hơn, ngập tràn cảm xúc hơn Những truyện: Chuyến xe thổ mộ

ngày giáp tết (1977), Tiếng gọi ngàn (1982)… tạo cho người đọc một sự day

dứt, suy nghĩ về những gì mà tác giả đã viết, đã bộc bạch qua từng câu chữ

Có lẽ càng trải nghiệm, càng đi về cuối những trang đời thì những trang văn của Đoàn Giỏi lại càng tỏ ra sâu sắc và mang nhiều chiêm nghiệm hơn

Nhìn chung, những truyện, ký Đoàn Giỏi viết về quê hương, về vùng đất mà ông đã đi qua, đã từng sinh sống đều có chung một dấu ấn Ấy chính là nét nhân bản ở con người, là niềm tự hào và nỗi nhớ về quê hương và xứ sở

Qua Đất rừng phương Nam, Rừng đêm xào xạc, Người và đất Cà Mau…

người đọc có thể nhận diện được chân dung Đoàn Giỏi - một người con xa xứ luôn sáng tác bằng hoài niệm, trong hoài tưởng về quê hương, với những

trang văn đậm chất tư liệu, vốn sống, và sự từng trải

Trang 23

Chương 2

BỨC TRANH THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƯỜI NAM BỘ

TRONG ĐẤT RỪNG PHƯƠNG NAM

2.1 ĐẤT RỪNG PHƯƠNG NAM - MIỀN SÔNG NƯỚC NAM BỘ

THU NHỎ

2.1.1 Miền sông nước hữu tình với phong vị, đặc trưng khó lẫn

Cảnh sắc vùng chín nhánh sông Cửu Long vẫn luôn là nguồn cảm hứng

vô tận của biết bao văn nghệ sĩ Đặc biệt, khung cảnh hoang sơ từ thưở mang

gươm đi mở cõi vẫn luôn là nguồn đề tài hấp dẫn, đã ghi dấu trên trang sách

của bao cây đa, cây đề văn học miền Nam như Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, Anh Đức, Trang Thế Hy Không phải là một ngoại lệ, trong văn nghiệp của mình, Đoàn Giỏi cũng đã giành rất nhiều trang viết tâm huyết cho quê hương

Nam Bộ mà xuất sắc nhất phải kể đến là Đất rừng phương Nam - một cuốn

sách văn học viết riêng cho thiếu nhi nhưng có khả năng lôi cuốn mọi thế hệ

độc giả ước ao được đến và khám phá vùng đất tận cùng của Tổ quốc, “xa

lắc, xa lơ đầy bí ẩn”

Trang 24

Đoàn Giỏi đã từng được nhận xét là nhà văn của kỷ niệm Trong những tháng ngày sống tại thủ đô xa xôi, tất cả nỗi nhớ quê đã được ông chuyển tải

qua góc nhìn của An, một cậu bé lạc mất mẹ cha luôn tìm về “một nơi nào xa

lắm, đôi khi không trông rõ, dường nửa thực nửa hư” Nơi có “dòng kênh xanh ngắt lặng lẽ chạy hút vào chân trời Một cánh buồm nhỏ xíu bồng bềnh trên khói nước” [5, tr.17]

Sông nước miền Nam, vốn đã đẹp, nay được phản chiếu qua những dòng

ký ức của “người hàn sĩ đất Thủ khoa Huân” lại càng trở nên lung linh hơn

Trong Đất rừng phương Nam, thiên nhiên Nam Bộ được tả rất gợi tình, rất

màu sắc và nghệ thuật, đẹp mĩ miều như một bức tranh lụa:“Buổi sáng, đất

rừng thật là yên tĩnh Trời không gió, nhưng không khí thật mát lạnh Cái lành lạnh của hơi nước sông ngòi, mương rạch, của đất ẩm và dưỡng khí thảo mộc thở ra từ bình minh Ánh sáng trong vắt, hơi gợn một chút óng ánh trên những đầu hoa tràm giác như là nó bao qua một lớp thủy tinh” [5, tr.127]

Hay:

“…Chim hót líu lo Nắng bốc hương hoa tràm thơm ngây ngất Gió đưa mùi hương ngọt lan ra, phảng phất khắp rừng Mấy con kỳ nhông nằm vươn mình phơi lưng trên gốc cây mục, sắc da lưng luôn biến đổi từ xanh hóa vàng, từ vàng hóa đỏ, từ đỏ hóa tím xanh…” [5, tr.130]

Thông qua hành trình lưu lạc của An, sông nước miền tây Nam Bộ dần hiện ra không những hữu tình mà còn rất hoang sơ Khi đi đường, người ta còn phải dùng dao rừng phát quang cây cỏ để tìm lối Nhiều nơi trông mắt ra

xa, “chỉ thấy đồng cỏ mịt mùng, lau sậy nối liền với chân trời” Khi An cùng

bố nuôi chèo thuyền xuôi theo dòng sông, nhìn thấy “những con rắn mai gầm

khoang đen khoang vàng nằm khoanh như những đống dây thừng” vắt vẻo

trên những cành chà là, An quơ mái chèo gạt lên mình nhưng chúng cũng

Trang 25

không thèm bỏ chạy Những con rắn nơi đây dường như vẫn chưa quen với việc con người chính là mối nguy hiểm cho mạng sống của chúng

Đất rừng phương Nam mở ra trước mắt người đọc bao cảnh mới mẻ,

kì thú và còn rất hoang sơ của thiên nhiên vùng sông nước Cửu Long Đó là

những cánh rừng trải ra như vô tận, những rừng đước mênh mông “mọc dài

tăm tắp, cây nào cây nấy thẳng như cây nến khổng lồ”, những cánh đồng

“lúa vàng gợn lên mênh mông như sóng biển”, “ngập tím một màu hoa lục bình”, những con kênh dài sóng sánh trên mặt nước chiếu “ánh phản quang của ráng chiều sắp tắt”, những rừng tràm uy nghi cây cối xanh tươi, những

sân “chim đậu chen nhau trắng xóa trên những đầu cây mắm, cây chà là, cây

vẹt rụng trụi gần hết lá”…

Nổi tiếng với những khung cảnh thiên nhiên hoang sơ, một phần, cũng bởi phương Nam còn là vùng đất của những con thú hiếm khi tìm thấy ở nơi

khác Đó là những con kỳ đà khổng lồ “nom như một con rồng có cái lưỡi dài

đỏ hỏn le ra thụt vào nhanh như chớp”… Là những con cá sấu hung tợn

“mình dài có tới hơn năm mét Chỗ quãng bụng giữa, ước chừng một vòng rưỡi tay người lớn ôm mới giáp Có mõm dài sọc, đầy răng chơm chởm”

Những con chim hồng hoàng to như con ngỗng, sắc lông đen, chiếc mỏ cong

to tướng Nào là rắn đủ loại: rắn ri vặn mình da vồng lên như gai mít, rắn mai gầm, rắn cạp nong cạp nia, hổ đất, hổ mang, hổ lửa ở nước và đầm lầy… Những cá tôm, rùa, hàng ngàn loài chim lạ… hay những đàn ong mật bay đen

cả rừng tràm…

Từ ngàn xưa cho đến khi đi vào trang sách Đoàn Giỏi, đồng bằng sông

Cửu Long đã nổi tiếng với nền “văn minh sông nước” Thấp thoáng trên các

mặt sông, nào ghe, nào thuyền, xuồng ba lá, xuồng tam bản… sinh hoạt ngày đêm xuôi ngược Đó đơn giản chỉ là phương tiện đi lại, vận chuyển hàng hóa

hay cũng có thể, mỗi chiếc ghe là một “ngôi nhà lưu động” trên sông Và đối

Trang 26

với những người dân nơi đây, dù lênh đênh dưới sông nước hay định cư trên cạn thì cuộc sống cũng chẳng có gì khác biệt

Người ta nói rằng, sông nước là đặc thù của vùng đất miền tây “Càng

đổ gần về hướng mũi Cà Mau thì sông ngòi, kênh rạch càng bủa giăng chi chít như mạng nhện” Đặc điểm này đã chi phối đến từng chi tiết nhỏ trong

sinh hoạt của người dân địa phương Ngay cả thời gian hàng ngày, người ta

cũng ước lượng theo mức nước sông lên xuống (“Họ đi rồi Đi từ tám hoánh

nào rồi! Nhổ sào từ hồi nước mới ròng.”) Nhưng đặc biệt hơn cả vẫn là

những khu chợ diễn ra trên sông, ghe thuyền qua lại như mắc cửi

Có sông ngòi, kênh, rạch chi chít, có phương tiện vận tải thủy, con người sinh hoạt, mua bán trao đổi hàng hóa, tựu trung lại tất cả cảnh mua bán ngộ nghĩnh trên sông, người ta gọi đó là chợ nổi, một nét đặc trưng văn hóa sông nước Cửu Long Hàng trăm ghe xuồng ngày đêm tụ họp, bán đủ thứ hàng hóa của miệt vườn như rau, củ, hoa, trái, tôm, cua, rùa, rắn Để người mua nhận biết mặt hàng, trên mỗi thuyền, người ta cắm một chiếc sào cao,

treo tất cả hàng hóa muốn bán lên đó Ở những khu chợ này, người ta “có thể

mua từ cây kim cuộn chỉ, những vật dụng cần thiết, một bộ quần áo may sẵn hay một món nữ trang đắt giá chẳng hạn, mà không cần phải bước ra khỏi thuyền” [5, tr.220] Khi mặt trời khuất sau rặng cây phía xa xa thì cũng là lúc

“thành phố nổi” lên đèn Ban đêm, khu chợ càng trở nên lộng lẫy,“đèn người mua, đèn người bán cứ như sao sa”

Viết về thiên nhiên Nam Bộ những năm giữa thế kỷ XX, Đoàn Giỏi đã cho người đọc cả nước hiểu thêm một vùng văn hóa mới với bao cảnh sắc độc

đáo Nơi đó có những “cánh chim tung trời về đất phương Nam Người xưa

lưu dấu in hình thuở mang gươm Bao la tình đời Màu lục bình trôi Hoàng hôn tím ven sông, tiếng hò khoan còn tỏa đôi bờ Lênh đênh mây trôi, khói sương chiều miên man nỗi nhớ Nghe trong âm ba từng con sóng vỗ về…”

Trang 27

2.1.2 Thiên nhiên giàu có, hào phóng

Từ thuở khẩn hoang, đồng bằng sông Cửu Long được cả nước ca ngợi

là môi trường “mần chơi ăn thiệt” Đó là bởi cá tôm lềnh sông rạch, cây trái trĩu cành, lúa gạo oằn bông trên cánh đồng “thẳng cánh cò bay”

Nhìn vào những vật dụng thường ngày của cư dân Nam Bộ trong Đất

rừng phương Nam, bạn đọc cũng đủ thấy sự hào phóng của mẹ tự nhiên Đó

là những chiếc túi da beo, những con dao cán làm bằng sừng nai, những chiếc

áo, những tấm chăn được làm từ lông chim, thậm chí là những bộ cờ tướng làm bằng răng nanh cá sấu

Những cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn chính là nguồn dự trữ thực phẩm dồi dào của cư dân miền tây Không kể đến những món thịt rừng quá ư quen thuộc, chỉ với rắn thôi cũng đã đủ chế biến được bao nhiêu món lạ, ngon

và hấp dẫn “Rắn hổ đất nấu cháo đậu xanh nước cốt dừa thì phải biết nhá!

Già bảy mươi tuổi ăn món ấy thấy trẻ tráng ra như con trai mười bảy Sơ sài thì rắn nước, rắn bông súng ướp xì dầu, cặp gắp nguyên cả con mà nướng, bẻ từng khúc cầm tay xé ra chấm muối ớt nhậu Thịt ngọt không gì bằng Cầu kỳ thì rắn hổ đất, mèo mun chưng thuốc bắc, gọi là “long hổ hội” Thường thường thì xào băm sả ớt, hoặc nấu cà-ri nước dừa… Khối cách ăn Nhưng gì thì gì cũng không bằng nấu cháo Vừa bổ lại vừa mát.” [5, tr.41]

Sông nước Nam Bộ dồi dào tôm cá Người ta truyền tai nhau rằng, thuở xưa, những cư dân nơi đây có thể dùng rổ hớt tôm cá dưới sông lên một cách

dễ dàng Trong Đất rừng phương Nam, mảnh đất được thiên nhiên ưu đãi ấy

cũng hiện lên vô cùng giàu có: “Cá trê đi từng đàn, bơi đặc cả nước, quẫy

móng lách tách lục ục như nước cơm sôi, lăm tăm một quãng dài trên sông.”

[5, tr.121] Trên dòng sông Năm Căn mênh mông, “cá nước bơi hàng đàn

đen trũi nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng.”

[5, tr.219] Tôm cá đầy sông lại không thể bán, người dân nghĩ ra cách làm

Trang 28

mắm và phơi khô thịt cá ăn dần Nhà nào cũng có mắm, có thịt cá khô dự trữ quanh năm, dần dần trở thành một nét văn hóa miệt vườn Nét văn hóa ấy in đậm trong sáng tác của Đoàn Giỏi, góp phần làm phong phú, sinh động hơn bức tranh nông thôn Nam Bộ Nào mắm cá lóc, mắm cá trê, mắm ba khía, cá kho khô, thịt khô nướng… Khi đi làm đồng, đi rừng, hay có việc đi xa, lương thực mang theo dọc đường cũng là nắm cơm vắt và mắm sống

Có lẽ, ám ảnh nhất đối với những ai đọc Đất rừng phương Nam chính

là sự hung dữ của hàng đàn cá sấu Nhưng với bản tính táo bạo và đôi khi cũng hết sức liều lĩnh của người dân nơi đây, săn cá sấu đã trở thành một

nghề làm ăn, một món lợi “đặc sản” Thịt cá sấu “trắng lắm, lại giòn, mùi

thơm ngon như thịt gà” còn tấm da thì vô cùng giá trị Nếu như trong Hương rừng Cà Mau của nhà văn Sơn Nam, cuộc chiến giữa con người và cá sấu là

để tranh giành môi trường sống thì trong Đất rừng phương Nam, cuộc chiến

đó lại mang tính chất của một cuộc đi săn Đó là không gian lí tưởng giúp Đoàn Giỏi phô diễn bao kinh nghiệm khai phá tự nhiên của những con người hành nghề lâu năm trong phường săn cá sấu và niềm tự hào về trí dũng của người miền Nam

Nếu dưới sông, cá sấu trở thành một nguồn lợi thì trên rừng chim chóc

là thứ đặc sản tưởng chừng chẳng bao giờ vơi Đó là những sân chim tự nhiên với hàng ngàn loài chim hoang dã Mỗi khi cất cánh bay lên, trông đàn chim

“giống hệt đàn kiến từ lòng quả đất chui ra, bò li ti đen ngòm lên da trời Càng đến gần, khi bóng chim chưa hiện rõ hình đôi cánh, thì quang cảnh đàn chim bay lên giống như đám gió bốc tro tiền, tàn bay hên tri hồ điệp.” [5,

tr.217] Nguồn tài sản vô giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho người dân Nam

Bộ đã phần nào giải thích thêm về môi trường “mần chơi ăn thiệt” của người

dân nơi đây Chỉ riêng trứng chim đẻ rơi trên đồng cỏ cũng đủ để họ sống một

Trang 29

cuộc đời nhàn nhã, “ăn bữa nay không thèm lo bữa mai”, chẳng phải lo đến

lúc trời bỗng dưng nổi gió thiếu chăn áo ấm

Không chỉ là những sân chim bạt ngàn, đó còn là những tổ ong khi bị

con người hun khói khai thác mật, “chúng bay vù vù, đen ngòm loạn xạ,

thành một vân đen như cái chiếu” Ở đây, chỉ lo đàn ong bị chuồn chuồn, bọ

ngựa, nhện và cả ó rằn ăn chứ “ăn làm sao hết được mật rừng U Minh này”

Mảnh đất phương Nam còn hoang vu và khắc nghiệt nhưng cuộc sống được thiên nhiên hào phóng ban tặng nhiều sản vật đã níu được bước chân của những lưu dân Đất nuôi người, người bảo vệ đất, họ gắn bó với khung

cảnh “miền tây xanh sắc mây trời, phù sa nước nổi” như chính quê hương

thứ hai của mình Phải như vậy thì khi biết giặc đốt rừng, tía nuôi An mới hét

một tiếng lớn: “An ơi!”, “một thứ tiếng kêu rụng rời, đầy khủng khiếp kinh

hoàng”, tưởng như nỗi đau của ông là sự mất mát đến đứt từng khúc ruột vậy

2.1.3 Mảnh đất “con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh”

Nam Bộ là vùng đất duy nhất của tổ quốc chỉ có hai mùa (mùa khô và mùa mưa) và dường như không có mùa đông Nhưng không phải vì thế mà

mùa hè nơi đây kém đi sự khắc nghiệt Bởi ở đó “có những giồng cát liên tiếp

nối nhau chạy dọc theo hai bờ con sông nhỏ… Hơi nóng rừng rực từ giồng cát bốc lên làm hoa cả mắt Nắng đốt vàng ngọn cỏ, thiêu vàng lá tre Lâu lâu

có một luồng gió từ xa chạy tới, cuốn từng vầng cát lớn bay mờ mịt, phủ mất bóng những đàn bò uể oải đứng gặm cỏ khô…” [5, tr.205]

Khí hậu miền tây Nam Bộ lại thoắt nắng thoắt mưa, “trời càng sắp

mưa thì càng oi bức khó chịu Ban ngày, mặt trời đổ nắng chang chang, nóng như giội lửa” thế nhưng khi những cơn dông bất chợt đến, nó cũng đủ sức

khiến cho cả “vũ trụ quay cuồng trong cơn gió mãnh liệt Những tia chớp xé

rạch bầu trời đen kịt phát ra những tiếng nổ kinh thiên động địa.” [5, tr.49]

Trang 30

Không chỉ có khí hậu khắc nghiệt, Nam Bộ trong suy nghĩ của nhiều

người vốn đã là vùng đất tiềm ẩn vô vàn những mối hiểm nguy “Dưới sông

sấu lội, trên bờ cọp đua”, những thảm họa đến từ thiên nhiên luôn rình rập,

bất cứ một phút lơ là có thể cướp đi mạng sống của con người và con người trở nên thật nhỏ bé trước tự nhiên

Qua những trang viết của Đoàn Giỏi, người đọc không khỏi rùng rợn

khi chứng kiến cảnh cả đàn muỗi “vu vơ từ bờ bay ra đuổi theo xuồng như

những đám mây” Lúc ấy chỉ cần nói đôi câu là muỗi bay vào đầy miệng

Nhưng ghê rợn hơn là cảm nhận đôi bàn tay “nhớt nhớt, ướt đầy máu” của

An khi cậu bé chạy đến vuốt muỗi trên người thằng Cò

Hay trên kênh Bọ Mắt, “tụ tập không biết cơ man nào là bọ mắt đen như

hạt vừng, chúng cứ bay theo thuyền từng bầy như những đám mây nhỏ, ta bị nó đốt vào da thịt chỗ nào là chỗ đó ngứa ngáy nổi mẩn đỏ tấy lên.” [5, tr.219]

Dưới những kênh rạch, mối hiểm nguy cho con người đến từ hàng đàn

cá sấu không phải là điều duy nhất Ngay cả loài cá tưởng chừng như vô hại cũng có thể là mối hiểm nguy Dân sông nước nhiều kinh nghiệm như tía nuôi

An cũng bị con cá ngát đâm vào bắp chân sưng tướng Thằng Cò “theo đám

trẻ phường chài lội dọc theo bãi đi thụt bắt cá bồng trong bẹ dừa nước, không may đạp nhằm cá mặt quỷ Nọc độc của con cá quái ác đã hành nó sốt mê man, bàn chân phù lên như chân voi” [5, tr.201] Thế nhưng cá mặt quỷ cũng

chẳng nhằm nhò gì so với hung thần của dòng sông Những con “rắn hổ đất

cứ bơi theo trên mặt nước để ăn bọt nhớt cá Đó là những con rắn đang luyện nọc, mình gầy đét, chỉ còn xương bọc da Nó nhịn ăn khoảng ba tháng mười ngày, chỉ lội nuốt nhớt cá trê Rắn đang luyện nọc, cắn ai thì chỉ có trời xuống cứu.” [5, tr.121]

Nguy hiểm không chỉ ẩn nấp dưới những lòng sông, rừng rậm hoang sơ của miền đất mới cũng là môi sinh lí tưởng của những đám ong sắt, ong lỗ mà

Trang 31

nếu đạp nhầm tổ của chúng, chỉ cần bị đốt một vết “thì thấy tám ông trời”

Nhưng như thế vẫn không là gì so với bao nhiêu thú dữ luôn rình rập, đe dọa tính mạng người dân nơi đây Và nguy hiểm nhất thì vẫn phải kể đến ông ba

mươi Đối với bất kì ai lạc giữa rừng, đặc biệt là trong đêm tối đen ngòm, tiếng con chim lệnh vang lên đã trở thành một nỗi ám ảnh “Tiếng boong…

boong… Krỏi… krỏi… âm vang rất xa… một thứ tiếng đồng tiếng sắt xé tan màn đêm, làm thức tỉnh và kinh hoàng tạo vật”, vì nó luôn báo hiệu chính xác

mối hiểm nguy đến từ loài cọp Loài thú hung dữ này chỉ chực thấy con người

là vồ lấy Nếu không có sức mạnh và trí dũng cỡ như Võ Tòng, hẳn chẳng ai

có thể thoát được móng vuốt của chúa sơn lâm

Thiên nhiên khắc nghiệt là vậy nhưng con người vẫn phải sống, phải kiên cường, nghị lực để chinh phục, đối đầu Họ hiểu rằng trên con đường tìm kiếm sự sống ở mảnh đất Nam Bộ, họ phải là những con người vũ dũng, khôn ngoan, phải nắm được những quy luật, đặc điểm của vùng đất bí ẩn này để làm chủ, để buộc thiên nhiên phải phục vụ mình Sự thật là rắn rết, ong độc,

cá sấu hung dữ… đã không còn là mối lo ngại mà trở thành nghề làm ăn của

cư dân địa phương

Qua lần thằng Cò dẫn An đi câu rắn, bạn đọc có dịp tìm hiểu được bao kinh nghiệm đi câu Rắn khỏe là nhờ sức mạnh của xương sống Khi mắc câu,

nó thường siết cho đến khi dây câu đứt để thoát thân “Nhưng loài vật làm

sao khôn hơn người được.” Dây câu “toàn là những sợi gai rời Hễ nó bắt đầu quấn thì gai mới bắt đầu săn Càng quấn càng săn Một lúc, thấy chưa đứt, nó bèn xoay ngược lại Tức thời cuộn gai lại tháo ra.” Chẳng có con rắn

nào có thể thoát khỏi dây câu của người dân nơi đây

Nhưng có lẽ thú vị nhất trong chuyến đi câu rắn của An và Cò chính là

làm sao để có thể… đuổi đàn muỗi rừng khát máu người Cò “lần lưng móc

ra một cái vỏ diêm Nó rút ra một que, đút vào phân nửa, đoạn nó đóng bao

Trang 32

diêm lại Một tay cầm vỏ diêm, một tay cầm đầu que diêm phía ngoài, nó bắt đầu kéo ra kéo vô nghe két… két… - Làm cho muỗi sợ Nó tưởng dơi… Quả thật, muỗi nghe két… két… kít… kít, sợ gặp đàn dơi, vo ve dần bay đi hết.”

[5, tr.124]

Thương cha nuôi của mình vất vả cùng phường săn cá sấu, trong đầu óc

ngây thơ của An đã cất lên tiếng thét rằng: “Hỡi thiên nhiên dữ dội và nham

hiểm, ngươi hãy coi chừng Không một sức mạnh nào ẩn chứa trong ngươi

mà con người không khuất phục nổi đâu” [5, tr.200] Suy nghĩ đó của An hay

của chính Đoàn Giỏi phải chăng là nỗi ám ảnh về một vùng đất còn ẩn chứa bao khó khăn, nguy hiểm trong bước đường chinh phục thiên nhiên của con người Nhưng đồng thời cũng là một lời hứa chắc chắn rằng rằng bao thế hệ người Việt sẽ khai phá và biến nơi đây trở thành thiên đường của sự sống

2.2 CON NGƯỜI NAM BỘ - KẾT TINH CỦA ĐẤT RỪNG PHƯƠNG NAM

2.2.1 Con người chất phác, hiền lành nhưng phóng khoáng, tài tử, bao dung

Hơn 300 năm trước, có một vùng đất hoang vu được con người đặt chân khai phá - đó chính là Nam bộ Lưu dân đến đây đã dựa vào nhau để sống, đã tin tưởng, yêu thương, gạt bỏ hiềm khích để cùng chống lại sự khắc nghiệt của tự nhiên Chính nhờ vậy mà từ những người xa lạ, họ gắn kết với

nhau thành một cộng đồng có chung lợi ích

Những lưu dân đầu tiên từ nhiều vùng đất khác nhau, Bắc có, Trung có

di cư vào Nam Bộ Dù khởi nguyên, gốc gác của họ từ nguồn nào đi chăng nữa thì trong hành trang mà họ đem theo luôn có vốn văn hóa ẩn trong tiềm thức Nhưng để sống yên ổn cùng nhau trên mảnh đất mới còn hoang sơ, những dung hòa về lối sống, phong tục là điều vô cùng cần thiết Có lẽ vì vậy

mà tâm hồn con người Nam Bộ luôn rộng mở, bao la như đồng nước nối liền

Trang 33

với chân trời Đây cũng chính là cơ sở để hình thành tính cách phóng khoáng,

hiếu khách của cư dân miền tây

Trong những ngày cha mẹ dẫn An đi chạy giặc, dù đi đến đâu, cả gia

đình cũng được những người nông dân sẵn sàng giúp đỡ “Họ cho gạo thổi

cơm, cho mượn xuồng đi chợ…”, An cũng nhanh chóng làm quen và hòa

nhập vào những trò vui của lũ trẻ quê

Để đón ông Huỳnh Tấn, đặc phái viên của Tổng hành dinh ủy ban kháng chiến Nam Bộ và anh Sáu tuyên truyền, biết trong quán rượu của dì Tư Béo không có rượu ngon, Lão Ba Ngù đã chạy vào tận xóm Tràm, nài lại của

họ “một lít rượu trong như mắt mèo” Không phải chỉ vì thiếu rượu ngon khiến cho bữa nhậu kém vui mà cái chính là bởi “để khách xa uống rượu

không đặng ngon sẽ mang tiếng đất Rạch Giá, Bạc Liêu mình!” [5, tr.27]

Nói đến lão Ba Ngù, có lẽ trong Đất rừng phương Nam không nhân

vật nào lại đậm chất miệt vườn như lão Ở lão nông này, không lẫn vào đâu được cái lối sống của người Nam Bộ: lành tính, giản dị, xuề xòa, lai rai uống rượu suốt ngày nhưng ai mời cũng chỉ uống một ly để luôn nhắc mình

là“người biết tự trọng” và có cách rót rượu vô cùng “tài tử” Dễ dãi như thế nhưng chỉ cần nghe một “giọng mèo ướt” trong không khí cách mạng trang nghiêm là ngay lập tức lão “nổi xung”

Trong chuyến tản cư, lão Ba Ngù do quá chén mà không biết giặc đổ bộ

vào, phải “nằm trơ như con lợn quay cho giặc xách đi” Bị Việt gian tra hỏi ở

xã nào, lão cũng liều mạng đáp: “Ở đâu? Còn ở đâu nữa… ở ngay đây thôi”

Và “chắc mẻm nó bắn mình rồi! Tôi sắp sẵn mấy câu khẩu hiệu để hô trước

khi chết cho đúng tư thế của một người chiến sĩ Ha… ha…” Đứng trước quân

thù, lão Ba Ngù liều lĩnh đùa cợt nhưng khi ra khỏi hang ổ của chúng, lại lo

lắng vì sợ “oan Thị Kính”, sợ mang tiếng theo Tây Cả trong cách kể chuyện

của lão Ba Ngù, ta cũng thấy được cái dân dã, dung dị mà sâu sắc, chân thành

Ngày đăng: 08/05/2021, 21:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w