1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quan điểm chủ trương của đảng về xây dựng con người việt nam trong thời kỳ đổi mới

67 93 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 657,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu, tổng kết lại quá trình xây dựng con người mới trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo đường lối, chủ trương của Đảng, qua đó rút ra kinh ngh

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

- -

LÊ THỊ HUYỀN

Quan điểm chủ trương của Đảng về xây dựng con

người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

SƯ PHẠM GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề bài

Từ ngày thành lập đến nay, trong việc xác định đường lối chiến lược cách mạng Đảng đã thường xuyên quan tâm đến xây dựng con người Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng Trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, mục tiêu số một là giành độc lập cho dân tộc phải tiến hành với mục tiêu là đem lại quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Để thực hiện được mục tiêu đó phải dựa vào con người, con người là động lực của cách mạng Xây dựng con người và phát huy vai trò của người luôn được Đảng ta quan tâm Đảng cũng đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách đúng phát huy được vai trò của con người, đưa đến thắng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945, thắng lợi của các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc 1945- 1975 và thắng lợi bước đầu của sự nghiệp đổi mới

Ngày nay với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, nhiều nước trên thế giới đang đi vào phát triển kinh tế tri thức Trong bối cảnh đó, Đảng chủ trương “ Đẩy mạnh CNH, HDH gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên mội trường” Sự nghiệp CNH, HDH gắn với phát triển nền kinh tế tri thức đòi hỏi phải xây dựng và phát huy tốt vai trò của con người Con người và phát huy nhân tố con người thu hút sự quan tâm, chú ý được thảo luận rộng rãi trên các diễn đàn trong nước và quốc tế Nghị quyết đại hội XI của Đảng chỉ rõ: “ phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao một trong những nhân tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước” [ 10, tr 106]

Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.“ Con

Trang 3

người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển” Con người thực sự nguồn lực của mọi nguồn lực, tài nguyên của mọi tài nguyên, là nguồn nội lực quan trọng nhất quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Việc nghiên cứu, tổng kết lại quá trình xây dựng con người mới trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo đường lối, chủ trương của Đảng, qua đó rút ra kinh nghiệm cũng như ý nghĩa của việc xây dựng con người mới và đưa ra những kiến nghị cho việc xây dựng con người mới trong những năm tiếp theo là một việc làm có ý nghĩa khoa học

và thực tiễn mang tính cấp thiết đối với sự phát triển của nước ta hiện nay

Nghiên cứu chủ trương của Đảng về xây dựng con người mới trong quá trình đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc

tế, chúng tôi cũng muốn góp thêm ý kiến về vấn đề xây dựng con người mới trong những năm tháng tiếp theo Xuất phát từ ý nghĩa khoa học và thực tiễn

nói trên, em đã lựa chọn vấn đề Quan điểm chủ trương của Đảng về xây

dựng con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới làm đề tài khóa luận tốt

nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Phạm Minh Hạc xuất bản

năm 2001, Nhân tài trong chiến lược phát triển quốc gia của Nguyễn Đắc Hưng, Phan Xuân Dũng xuất bản ở Hà Nội năm 2004, Phát huy nhân tố con

người trong phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay của TS

Trang 4

Phạm Công xuất bản ở Hà Nội năm 2008, Vai trò của con người và văn hóa

phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay

của Nguyễn Thành Trung đăng trong Tạp chí triết học số 7 ( 206) tháng 7

năm 2008 Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện

đại hóa ( 2001) Phạm Minh Hạc xuất bản ở Hà Nội, Nghiên cứu con người đối tượng và những hướng chủ yếu - Niên giám nghiên cứu số 1 do Phạm

Minh Hạc và Hồ Sỹ Qúy chủ biên, in lần thứ hai năm 2002, Trần Đức Niêm

với Phát triển con người ở Việt Nam xuất bản năm 2007 Văn hóa Việt Nam

và cách tiếp cận mới của Phan Ngọc (1994), Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay của nhóm tác giả Phan Huy Lê và Vũ Minh Giang

chủ biên ( tập 3, 1994- 1996), Văn hóa và Đổi mớ của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng ( 1996), Vấn đề xây dựng con người mới của Phạm Như Cường chủ biên, Con người và phát triển con người của Hồ Sỹ Qúy xuất bản ở Hà

Nội năm 2007

Cho đến nay đã có các công trình nghiên cứu về con người nói riêng ở

cả khía cạnh lý luận và thực tiễn, lịch sử và hiện tại Các công trình đó tập chung chuyên sâu như: đặc điểm của con người Việt Nam, triết lý con người Việt Nam, văn hóa và hệ giá trị của con người Việt Nam, đạo đức, lối sống, nhân cách của con người Việt Nam, quan điểm về xây dựng mẫu hình con người Việt Nam mới qua đó, đã bước đầu định hình được những đặc điểm

cơ bản, mang tính truyền thống ( cả tích cực và hạn chế) của con người Việt Nam trong lịch sử và hiện tại Đó là thành công không nhỏ của các học giả Việt Nam trong nghiên cứu về con người nói chung và con người Việt Nam nói riêng Một thực tế cho thấy các công trình đề cập đến một cách trực tiếp,

cụ thể và đầy đủ hệ thống các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng Sản Việt Nam về xây dựng con người mới trong quá trình đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì chưa nhiều

Trang 5

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

- Làm rõ quá trình hình thành và phát triển các quan điểm chủ trương của Đảng ta về xây dựng con người trong thời kỳ đổi mới

* Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích như vậy, đòi hỏi người nghiên cứu phải có các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất: Tìm hiểu quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ

Chí Minh về xây dựng con người và sự vận dụng của Đảng ta

Thứ hai: Tập trung làm rõ quan điểm, chủ trương của Đảng ta về xây dựng

con người mới xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Việc nghiên cứu đề tài dựa trên nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về xây dựng con người

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài tác giả vận dụng các phương pháp: phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phân tích với tổng hợp, diễn dịch với quy nạp

5 Điểm mới của luận văn

Làm rõ quá trình hình thành và phát triển quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng con người Việt Nam thời kỳ đổi mới

6 Ý nghĩa của luận văn

Giúp cho tác giả hoàn thành chương trình học tập và Luận văn góp thêm nguồn tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu học tập Đường lối cách mạng của Đảng và các môn khoa học xã hội

7 Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm có 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết

luận Phần nội dung có 2 chương

Trang 6

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hình thành quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng con người trong thời kỳ đổi mới

Chương 2: Những quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng con người trong thời kỳ đổi mới

Trang 7

kỳ đổi mới của Đảng được hình thành trên nền tảng chủ nghĩa Mác- Lênin

và tư tưởng Hồ Chí Minh về con người

1.1.1 Những nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lênin về con người

Tiếp thu có chọn lọc hạt nhân hợp lý trong quan niệm của Hêghen, Phoiơ Bắc và các nhà triết học tiền bối về vấn đề con người và bản chất con người, đồng thời với thế giới quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa Mác- Lênnin đã khẳng định rằng:

* Về bản chất con người

Các nhà lý luận Mác- Lênin đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học, đồng thời khẳng định con người là sự thống nhất giữa yếu

tố sinh học và yếu tố xã hội; con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử

- Trước hết, con người là sự thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội

Bản chất tự nhiên (cái sinh học) của con người được hiểu là tính tất yếu khách quan của sự hình thành và sự tồn tại những hiện tượng và quá trình

Trang 8

tâm sinh lý của con người Bản chất xã hội của con người được hình thành trong quá trình hoạt động thực tiễn Trong đó, chính lao động là yếu tố quyết định sự hình thành bản chất xã hội của con người

Hai mặt tự nhiên và xã trong con người gắn bó chặt chặt chẽ với nhau, không thể tách rời, không có cái xã hội thuần túy cũng như không có cái sinh học thuần túy trong một con người Con người ở đây không phải là cái

gì đó đồng nhất về chất mà là sự đồng nhất bao hàm sự khác biệt giữa hai yếu tố đối lập nhau: con người vừa là một bộ phận, vừa là sản phẩm của giới

tự nhiên, mặt khác con người là một thực thể xã hội được tách ra như một lực lượng đối lập với tự nhiên

Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội Để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên luận điểm nổi tiếng trong tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc: “Bản chất của con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những mối quan hê xã hội” [ 12, tr 11] Luận đề đã khẳng định rằng, không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội Con người luôn luôn cụ thể, xác định, sống trong một điều kiện nhất định, một thời đại nhất định Trong điều kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thưc tiễn của mình, con người tao ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và trí tuệ Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội đó ( như quan hệ giai cấp, dân tộc, thời đại, quan hệ chính trị, kinh tế, quan hệ cá nhân, gia đình ) con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình Đây là cơ sở để phân biệt sự khác nhau giữa con người và thế giới động vật,

và là điểm khắc phục sự thiếu sót của các nhà triết học trước Mác không thấy bản chất xã hội của con người

Trang 9

- Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử Không có thế giới tự

nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người Bởi vậy, con người là sản phẩm của tự nhiên, của sự tiến hóa lâu dài của giới hữu sinh Song, điều quan trọng hơn cả, con người luôn luôn là chủ thể của lịch sử - xã hội C Mác khẳng định: “ cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục cái học thuyết ấy quên rằng chính con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục” [ 12, tr.10] Với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn, tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triển của lịch sử xã hội Trong quá trình cải biến giới tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bản thân con người Hoạt động lao động vừa là điều kiện cho sự tồn tại của con người, vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội Không có hoạt động của con người thì cũng không tồn tại quy luật xã hội, và

do đó, không có sự tồn tại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người Bản chất của con người không phải là môt hệ thống đóng kín, mà là hệ thống mở, tương ứng với điều kiện tồn tại của con người Thông qua đó, bản chất con người cũng vận động biến đổi cho phù hợp Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải làm cho hoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn Đó chính là biện chứng của mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử xã hội loài người

* Quan hệ giữa cá nhân và xã hội

Chủ nghĩa Mác- Lênin quan niệm rằng, cá nhân là khái niệm chỉ con người cụ thể sống trong một xã hội nhất định và được phân biệt với các khái niệm con người, vì con người là khái niệm dùng để chỉ tính phổ biến trong bản chất con người của tất cả các cá nhân Xã hội do các cá nhân tạo nên

Trang 10

Các cá nhân sống và hoạt động trong các nhóm, cộng đồng và tập đoàn xã hội khác nhau, mang tính lịch sử xác định Mỗi cá nhân có đời sống riêng,

có quan hệ xã hội riêng, có nhu cầu, nguyện vọng và lợi ích riêng, nhưng điều đó không loại trừ tính chung trong mỗi cá nhân là thành viên của xã hội

và mang bản chất xã hội

Nguyên tắc cơ bản của việc xác lập mối quan hệ giữa cá nhân và tâp thể cũng như mối quan hệ giữa cá nhân và các cộng đồng xã hội nói chung chính là mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng xã hội Đó cũng là mối quan hệ vừa có sự thống nhất vừa có mâu thuẫn

Mỗi cá nhân với tư cách là một con người, không bao giờ có thể tách rời khỏi những cộng đồng xã hội nhất định, đồng thời mối quan hệ giữa cá nhân

và xã hội là hiện tương có tính lịch sử Theo quan điểm của triết học Mác- Lênin, xã hội giữ vai trò quyết định đối với cá nhân Xã hội càng phát triển thì cá nhân càng có điều kiện để tiếp nhận ngày càng nhiều những giá trị vật chất và tinh thần Mặt khác, mỗi cá nhân trong xã hội càng phát triển thì càng có điều kiện để thúc đẩy xã hội phát triển thì càng có điều kiện để thúc đẩy xã hội tiến lên Mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội do sự quy định của mặt khách quan biểu hiện ở trình độ phát triển và năng suất lao động xã hội Mặt chủ quan biểu hiện ở khả năng nhận thức và vận dụng quy luật xã hội phù hợp với mục đích của con người

* Vai trò của quần chúng nhân dân là người làm nên lịch sử

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin: Quần chúng nhân dân là bộ phận có chung lợi ích căn bản, bao gồm những thành phần, những tầng lớp

và những giai cấp, liên kết lại thành tập thể dưới sự lãnh đạo của một cá nhân, tổ chức hay đảng phái nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế, chính trị,

xã hội của một thời đại nhất định Quần chúng nhân dân có vai trò rất to lớn trong sự phát triển xã hội, điều đó thể hiện:

Trang 11

Thứ nhất: Quần chúng nhân dân là lực lượng sản xuất cơ bản xã hội,

trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của

xã hội

Thứ hai: Quần chúng nhân dân là động lực cơ bản của mọi cuộc cách

mạng xã hội

Thứ ba: Quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra những giá trị văn hóa

tinh thần, đóng vai trò to lớn trong sự phát triển của khoa học, nghệ thuật, văn học đồng thời áp dụng những thành tựu đó vào hoạt động thực tiễn Những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin về bản chất con người, mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử đã được Hồ Chí Minh đã tiếp thu có chọn lọc và vận dụng vào hoàn cảnh Việt Nam

1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và vai trò của con người trong

* Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con người.

huy vai trò của con người được hình thành trên nền tảng chủ nghĩa Mác- Lênin; những truyền thống, tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại

Trong quá trình đi tìm đường cứu nước, cứu dân Hồ Chí Minh đã tiếp thu và truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin về nước, xây dựng đường lối chiến lược giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp khỏi áp bức bóc lột Từ đó hình

Trang 12

thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng của Người về con người

Hồ Chí Minh cũng đã kế thừa truyền thống của dân tộc về xây dựng phát huy vai trò của nhân tố con người trong sự nghiệp cách mạng Đúng vậy, dân tộc Việt Nam có truyền thống giàu lòng nhân ái: “ Thương người như thể thương thân”, “ Lá lành đùm lá rách”, “ Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ” Con người Việt Nam có truyền thống gắn bó chặt chẽ với cộng đồng gia tộc, xóm làng và dân tộc:

“ Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”

Con người Việt Nam có truyền thống yêu nước nồng nàn, bất khuất trước giặc ngoại xâm Yêu nước là phẩm chất cao quý nhất, đứng hàng đầu trong bảng giá trị tinh thần Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “ Dân

ta có một lòng yêu nước Đó là truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một nàn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn,

nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước Chúng ta có quyền tự hào vì những trang sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo,

Lê Lợi, Quang Trung, Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng” [ 16, tr.171- 172] Truyền thống yêu nước đó không chỉ là một tình cảm, một phẩm chất

tinh thần, mà đã phát triển thành một chủ nghĩa - chủ nghĩa yêu nước, chủ

nghĩa dân tộc chân chính thành dòng chủ lưu của tư tưởng Việt Nam, xuyên suốt lịch sử của dân tộc

Hồ Chí Minh đã kế thừa tinh hoa của dân tộc và nhân loại, mà nổi bật

tư tưởng nhân văn của đại cách mạng Pháp với khẩu hiệu: “ Tự do- Bình đẳng- Bác ái” Đặc biệt, những tư tưởng của bản Tuyên ngôn nhân quyền và

Trang 13

dân quyền của Cách mạng Pháp, Cách mạng Mỹ đã được Nguyễn Ái Quốc tiếp thu

* Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về con người

Kế thừa tinh hoa tư tưởng văn hóa dân tộc và nhân loại, tiếp thu, vận

dụng một cách sáng tạo học thuyết Mác- Lênin Hồ Chí Minh đã nâng tư tưởng về con người lên một tầm cao mới, hình thành lên chủ nghĩa nhân văn

Hồ Chí Minh Tuy không có tác phẩm nào bàn riêng về con người, nhưng tưtưởng về con người lại được hiểu thật đa dạng, phong phú, trở thành tưởng xuyên suốt toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh Vấn đề con người luôn luôn được nhắc đến như một mục tiêu thiêng liêng, cao cả nhất của sự nghiệp cách mạng mà Người theo đuổi Nó trở trở thành mục tiêu, lý tưởng được tỏa sáng trong từng suy nghĩ, cử chỉ, hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tình yêu thương vô hạn của Hồ Chí Minh đối với con người Trong lịch

sử dân tộc và thế giới, đã từng xuất hiện biết bao tấm gương, yêu nước, thương dân, thương số phận đau khổ của con người Tuy nhiên, ở Hồ Chí Minh, lòng yêu nước, thương dân, thương nhân loại mang một nội dung

mới, sâu sắc, toàn diện

Trước hết, đó không phải là lòng thương hại của “ bề trên” nhìn xuống, cũng không phải là sự động lòng trắc ẩn của người “ đứng ngoài” trông vào,

mà là sự đồng cảm của những người cùng cảnh ngộ Là một người dân mất nước, Người đã nhận thức sâu sắc sự thống trị tàn bạo của đế quốc thực dân, khát vọng cháy bỏng được giải phóng của các dân tộc bị áp bức Trong cuộc đời Người đã từng chứng kiến bao cảnh đau thương, bất công Đó là nỗi đau khổ đau khổ của Người khi phải bế em đi xin sữa, mẹ chết không được khóc, bố bị oan khuất và bị đẩy đi xa Đó là cảnh nghèo đói của dân quê Nghệ -Tĩnh Rồi đến những cảnh dân các thuộc địa khác bị đàn áp tàn bạo

Trang 14

Hình ảnh người dân da đen ở Đa Ka bị đẩy xuống biển chết trong gió to sóng lớn, trẻ em bị phơi đói ở Đahômây, đời sống lam lũ của “ xóm thợ, xóm nghèo, xóm người cùng khổ” Êpinét ngay giữa thủ đô Pari mà Người

đã tận mắt chứng kiến Những hình ảnh, những sự kiện đó đã tác động sâu sắc đến tình cảm, tư tưởng của Người

Điểm nổi bật của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là lòng thương yêu những “Người cùng khổ” “ Người cùng khổ” ở đây bao gồm những người dân Việt Nam và nhân dân các nước thuộc địa, bị mất nước, sống cuộc đời

nô lệ, “ không có tự do, công lý”, bị “ áp bức, bóc lột”, bị “ đầu độc”, “ đẩy vào vòng ngu dốt, tối tăm”, “ bị bắt làm lao dịch khổ sai và đi làm lính đánh thuê cho mẫu quốc”, “ sống nghèo đói, cực khổ ” [14, tr.21]

Lời ra mắt của báo Người cùng khổ ( Le Paria) năm 1921 đã xác định rõ mục đích đấu tranh của “ Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức”, là “ đi từ giải phóng những người nô lệ mất nước, những người lao động cùng khổ đến giải phóng con người” “ Con người” ở đây bao hàm cả “ đồng bào” trong nước và “ đồng bào” trên thế giới theo nghĩa “ Bốn bể là nhà, bốn phương

vô sản đều là anh em” Người viết, “ Chữ người, theo nghĩa là gia đình, anh

em, họ hàng, bầu bạn Nghĩa rộng là đồng bào cả nước Rộng hơn nữa là đồng bào cả nước Rộng hơn nữa là loài người” [15, tr 247]

Với tình yêu thương con người vô hạn, mong muốn lớn nhất của Hồ Chí Minh là: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” Tấm lòng nhân ái của Người là lo đến những nhu cầu cần thiết tối thiểu nhất trong đời sống của một con người

Nghiên cứu toàn bộ tác phẩm của Hồ Chí Minh và cuộc đời hoạt động của Người hiểu sâu sắc tâm lý, nguyện vọng của nhân dân Xuất phát

từ đó Người đã thực hiện “ lấy dân làm gốc”, “ cách mạng là sự nghiệp của

Trang 15

quần chúng” để chăm lo cho dân bằng cách phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế, văn hóa, thực hành tiếp kiệm, chống tham ô lãng phí, cửa quyền, hách dịch người dân Trước khi đi xa, Người còn nhắn nhủ: “ Đảng phải có

kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa nhằm nâng cao đời sống của nhân” Đó là cái gốc của mọi vấn đề vì rằng Hồ Chí Minh dạy: “ Có độc lập tự do mà dân chết đói, chết rét thì độc lập, tự do đó không có ý nghĩa gì” [ 13, tr 152]

Như vậy, trong mọi hoàn cảnh, lúc đấu tranh giành chính quyền cũng như khi đã giành thắng lợi và đi vào xây dựng CNXH, Hồ Chí Minh đều quan tâm đến con người, đến mọi tầng lớp nhân dân

Lòng khoan dung rộng lớn của Hồ Chí Minh trước tính đa dạng của con người

Hồ Chí Minh có cách nhìn nhận, xem xét con người trong tính đa dạng của nó: đa dạng trong quan hệ xã hội (quan hệ dân tộc, giai cấp, tầng lớp, đồng chí, đồng bào ), khát vọng, phẩm chất, khả năng, đa dạng trong hoàn cảnh xuất thân, điều kiện sống, làm việc Trên cơ sở đó, lòng khoan dung ở Hồ Chí Minh có nội dung sâu sắc, rộng lớn:

Thứ nhất: Đoàn kết rộng rãi, lâu dài các lực lượng là thể hiện lòng nhân

ái bao dung cao cả Người trân trọng phần thiện dù nhỏ nhất, khai thác “ tình người” trong mỗi con người Chỉ có lòng độ lượng và chí công vô tư của Hồ Chí Minh mới quy tụ được nhiều nhân sỹ có danh vọng ở chế độ cũ

Thứ hai: Vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì tiến bộ xã hội, Hồ Chí

Minh đưa ra chủ trương có lý, có tình đối với kiều dân nước ngoài ở Việt Nam, nhằm bảo vệ tính mạng, tài sản của họ Người đánh giá cao vấn đề này

và ghép tội “ vô cớ sát hại kiều dân ngoại quốc” vào tử hình

Trang 16

Thứ ba: Với lòng nhân ái bao la, phát huy truyền thống “ thương người

như thể thương thân”, “ đánh kẻ chạy đi không đánh kẻ chạy lại”, Hồ Chí Minh có chính sách khoan hồng đại lượng, đối xử nhân đạo với tù binh

Thứ tư: Khi cán bộ, đảng viên có lỗi, Người đã tìm cách động viên họ

sớm nhận ra và có biện pháp khắc phục khuyết điểm, nhắc nhở họ cố gắng tu dưỡng, phấn đấu, hướng tới Chân - Thiện - Mỹ

Thứ năm: Trân trọng mọi ý kiến khác nhau, kể cả những ý kiến không

đồng tình, trái với suy nghĩ của Người Người đặc biệt quan tâm và tôn trọng

“tính cách riêng”, “sở trường riêng”, “đời sống riêng”, quyền lợi riêng của mỗi người và lợi ích của cả cộng đồng Đối với những người lầm đường lạc lối, ngay cả với binh sĩ địch, lòng yêu thương của Người mở rộng thành lòng khoan dung “ Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài Nhưng vắn dài đều họp lại nơi bàn tay Trong mấy triệu người cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này thế khác đều là dòng dõi của tổ tiên ta Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ”

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng con người

Hồ Chí Minh đã đi sâu tìm hiểu, vạch rõ nguồn gốc của mọi nghèo khổ, mọi áp bức, bóc lột, mọi bất công trên đời Từ đó, gắn lòng thương yêu nhân dân, nhân loại, người cùng khổ với lên án mọi chế độ bất công, lên án chủ nghĩa đế quốc thực dân, lên án chủ nghĩa tư bản bóc lột, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người Người cũng hết sức căm ghét, lên

án những kẻ sâu mọt trong cán bộ, đảng viên xâm phạm quyền lợi của nhân dân, tham ô, lãng phí, ức hiếp nhân dân…

Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là một nhà nhân văn khoa học, hiện thực, cánh mạng Người ta thường cho rằng Hồ Chí Minh là một nhà triết học hành động, hành động nhằm giải phóng con người

Trang 17

Mục đích của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp giải phóng là xây dựng một xã hội mới không có áp bức, bóc lột, bất công, một xã hội giàu mạnh, công bằng, văn minh, với những con người mới có phẩm chất cao đẹp, có trình độ phát triển toàn diện Những con người được đào tạo, giác ngộ ấy chính là động lực của sự phát triển: “ Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” [ 18, tr.310] Con người xã hội chủ nghĩa là con người phát triển toàn diện, hoàn toàn đi đến không chủ nghĩa cá nhân

Do đó, tư tưởng xây dựng con người mới, giải phóng con người về mặt phẩm chất, nhân cách cũng như về tài năng trí tuệ là một bộ phận quan trọng của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh Người vạch rõ “ Người ta ai cũng có tính tốt và tính xấu Mỗi người đều có thiện và ác trong lòng” Tuy nhiên,

“thiện” và “ ác” không phải tự nhiên mà có, mà “ phần lớn do giáo dục mà ra” Vì vậy, thái độ của người cách mạng là “ phải biết làm sao cho tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất đi”

Trong giải phóng con người, Hồ Chí Minh chú ý kết hợp hài hòa giữa

cá nhân và tập thể, cộng đồng Trong bài Đời sống mới Người viết: “Nói

chung thì đời sống mới có thể chia thành hai thứ Một là: đời sống riêng của từng người Hai là: đời sống mới chung, từng nhóm người, như bộ đội, các

nhà máy, các trường học, các công sở ” [ 15, tr.96-97] Đồng thời người chỉ ra sự tác động giữa riêng và chung, cá nhân và nhóm người: “ Do nhiều làng nhóm mà lại thành làng nước Nếu người này cũng xấu, người kia cũng xấu, thì thành nước xấu, nước hèn Nếu mỗi người đều tốt, thì thành làng tốt, nước Người là gốc của làng Nếu mọi người đều cố gắng làm đúng đời sống

mới, thì dân tộc nhất định sẽ phú cường [ 15, tr 98-99]

Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực cách mạng Năm 1911,

giữa lúc đất nước đang bị xâm lược, nhân dân bị chịu cảnh lầm than, Người

Trang 18

ra đi với ý chí “ giải phóng gông cùm nô lệ cho đồng bào” Người xác định

rõ trách nhiệm của Người cũng là của Đảng và Chính phủ là làm sao “cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”

Ở Hồ Chí Minh, có sự cảm nhận, thông cảm sâu sắc với thân phận những người nô lệ lầm than Nhưng không phải thông cảm kiểu tôn giáo, ngược lại, Người có niềm tin vững chắc vào trí tuệ, bản lĩnh của con người,

ở khả năng tự giải phóng của chính bản thân con người Người làm hết sức

để xây dựng, rèn luyện con người và quyết tâm đấu tranh để đem lại độc lập,

tự do, hạnh phúc cho con người Người xác định con người là mục tiêu trong điều kiện cụ thể của từng giai đoạn cách mạng Khi đất nước còn nô lệ, lầm than thì mục tiêu tiêu trước hết, trên hết là giải phóng dân tộc, gắn với đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân Sau khi giành chính quyền về tay nhân dân, thì mục tiêu ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh lại được ưu tiên hơn, bởi vì, “ nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì” Vì vậy, chúng ta phải thực hiện ngay: Làm cho dân có ăn, có mặc Làm cho dân có chỗ ở Làm cho dân có học hành Đến Di chúc, Người viết: “ đầu tiên là công việc đối với con người” Con người là mục tiêu cách mạng, nên mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, chính phủ đều vì lợi ích chính đáng của con người Với hoạt động thực tiễn thì việc gì lợi cho dân, dù nhỏ mấy, ta phải hết sức làm Việc gì hại cho dân, dù nhỏ mấy, ta phải hết sức tránh

Hồ Chí Minh có niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh vĩ đại và năng lực sáng tạo của quần chúng Trong sự nghiệp xây dựng đất nước, Hồ Chí Minh nhận rõ: Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết Tin dân, học dân, tôn trọng dân, dựa vào dân theo đúng đường lối quần chúng sẽ tạo nên sức mạnh vô địch Bởi vì, sự nghiệp cách mạng giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ

Trang 19

nghĩa xã hội chỉ có thể thực hiện được với sự giác ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo của hàng chục triệu quần chúng nhân dân

Hồ Chí Minh tin ở dân còn xuất phát từ niềm tin vào dân thì phải chống các bệnh: xa nhân dân, khinh nhân dân, sợ nhân dân, không tin nhân dân, không yêu thương nhân dân Không thương yêu nhân dân và tin tưởng nhân dân là nguyên nhân của căn bệnh nguy hiểm - bệnh quan liêu, mệnh lệnh Bệnh này sẽ dẫn đến kết quả là “ hỏng việc”

Con người là động lực của cách mạng được nhìn nhận trên phạm vi cả nước, toàn thể đồng bào, song trước hết là giai cấp công nhân và nông dân Điều này có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây chủ nghĩa xã hội Nhà nước mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh lấy công - nông - trí làm nền tảng Từ thắng lợi của cách mạng tháng Tám phải nhìn nhận và đánh giá đúng giai cấp đứng ở trung tâm của thời đại mới, đó là giai cấp công nhân Chỉ có giai cấp công nhân với những đặc điểm chung và riêng mới lãnh đạo được dân tộc đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản Muốn vậy, giai cấp công nhân chỉ có liên minh với giai cấp nông dân và gắn bó với dân tộc mới trở thành lực lượng hùng mạnh

Giữa con người- mục tiêu và con người- động lực có mối quan hệ biện chứng với nhau Càng chăm lo cho con người - mục tiêu tốt bao nhiêu thì sẽ tạo thành con người - động lực tốt bấy nhiêu Ngược lại, tăng cường được sức mạnh của con nguời - động lực sẽ nhanh chóng đạt được mục tiêu cách mạng

Phải kiên quyết khắc phục kịp thời các phản động lực trong con người

và tổ chức Đó là chủ nghĩa cá nhân Thứ vi trùng độc này đẻ ra hàng trăm thứ bệnh, thói quen truyền thống lạc hậu, tàn tích xã hội cũ để lại, bảo thủ, rụt rè không dám nói, không dám làm, không dám đề ra ý kiến, tóm lại

không dám đổi mới và sáng tạo

Trang 20

Quan điểm của Hồ Chí Minh về chiến lược “trồng người”

Hồ Chí Minh nêu bật ý nghĩa của chiến lược xây dựng con người mới Trên cơ sở khẳng định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, đào tạo, rèn luyện con người Người nói đến “lợi ích trăm năm” và mục tiêu xây chủ nghĩa xã hội là những quan điểm mang tầm vóc chiến lược, cơ bản lâu dài, nhưng cũng rất cấp bách Nó liên quan đến nhiệm vụ “ trước hết cần phải có con người xã hội chủ nghĩa” và “ trồng người” Tất cả điều này phản ánh tư tưởng lớn về tầm quan trọng có tính quyết định của nhân tố con người, tất

cả vì con người, do con người

Con người xã hội chủ nghĩa đương nhiên phải do nghĩa xã hội tạo ra Nhưng ở đây trên con tiến lên chủ nghĩa xã hội thì “ trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” Điều này cần được hiểu ngay từ đầu phải đặt ra nhiệm vụ xây dựng con người có những phẩm chất cơ bản, tiêu biểu cho con người mới xã hội chủ nghĩa làm gương, lôi cuốn xã hội Công việc này là một quá trình lâu dài không ngừng hoàn thiện, nâng cao và thuộc trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, gia đình, cá nhân mỗi người

Mỗi bước xây dựng những con người như vậy là một nấc thang xây dựng chủ nghĩa xã hội Đây là mối quan hệ biện chứng giữa “ xây dựng chủ nghĩa xã hội” và “ con người xã hội chủ nghĩa”

Quan niệm Hồ Chí Minh về con người mới xã hội chủ nghĩa có hai

mặt gắn bó chặt chẽ với nhau Một là: kế thừa những giá trị tốt đẹp của con người truyền thống (Việt Nam và Phương Đông) Hai là: hình thành những

phẩm chất mới như: có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, có đạo đức xã hội, có trí tuệ và bản lĩnh để làm chủ (bản thân, gia đình, xã hội ,thiên nhiên ), có tác phong xã hội chủ nghĩa, có lòng nhân ái, vị tha, độ lượng

Trang 21

Chiến lược “ trồng người” là một trọng tâm, một bộ phận hợp thành của chiến lược triển kinh tế - xã hội Để thực hiện chiến lược “trồng người”, cần

có nhiều biện pháp, nhưng giáo dục và đào tạo là pháp quan trọng bậc nhất Bởi vì, giáo dục tốt sẽ tạo ra tính thiện, đem lại tương lai tươi sáng cho thanh niên Nội dung và phươg pháp giáo dục phải toàn diện, cả đức, trí, thể,

mỹ, phải đặt đạo đức, lý tưởng và tình cảm cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa lên hàng đầu Hai mặt đức tài thống nhất với nhau, không tách rời nhau, trong đó “ đức” là gốc, là nền tảng cho tài năng phát triển Phải kết hợp giữa nhận thức và hành động, lời nói và việc làm Có như vậy “ mới có thể học làm người” “ Trồng người” là công việc “ trăm năm”, không thể nóng vội “ một sớm một chiều ”, không phải một lúc làm là xong, cũng không phải tùy tiện, đến đâu hay đến đó Nhận thức và giải quyết vấn đề này

có ý nghĩa trực tiếp, bền bỉ trong suốt cuộc đời mỗi con người, trong suốt thời kì độ lên chủ nghĩa xã hội

Trong thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã mở ra con đường thắng lợi của cách mạng Việt Nam, nâng cao văn hóa và con người Việt Nam lên ngang tầm thời đại mới - thời đại của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Người đã trở thành con người Việt Nam tiêu biểu nhất và con người mang những giá trị vĩnh cửu của nhân loại - Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người vẫn đang định hướng cho việc phát triển và xây dựng con người Việt Nam đáp ứng những yêu cầu của thời

kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay

Đảng ta trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước đã vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong các đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội nhằm mục đích vì lợi ích của con người

Trang 22

1.2 Cơ sở thực tiễn hình thành quan điểm, chủ trương của Đảng

về xây dựng và phát huy vai trò con người trong thời kỳ đổi mới

1 2.1 Vài nét khái quát về xu hướng biến chuyển của tình hình thế giới

và những vấn đề đặt ra về xây dựng và phát triển chon người cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI

Những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI tình hình thế giới có những biến chuyển sâu sắc và có tác động to lớn đến sự phát triển của nhiều quốc gia dân tộc, trong đó có Việt Nam Về cơ bản có thể hình dung sự chuyển biến đó của tình hình thế giới ở một số đặc điểm cơ bản sau đây:

- Điểm đầu tiên mà chúng ta dễ nhận thấy nhất, đó là sự chuyển biến về

tình hình chính trị thế giới Đó là sự chuyển từ thế giới hai cực sang thế giới

đa cực với sự sụp đổ của các nước xã hội và sự kết thúc chiến tranh lạnh - đối đầu giữa hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa

Có thể nói đây là đặc điểm quan trọng quan trọng nhất của tình hình thế giới những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, bởi nó chi phối đến sự phát triển các quốc gia và hầu hết các quốc gia và khu vực trên thế giới Có điều bởi đó vì, sự đối đầu giữa hai xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa cùng với sự phát triển cuộc chiến tranh lạnh trên phạm vi thế giới đã không chỉ kéo theo vào sự phụ thuộc của các nước thành viên ở một trong hai hệ thống, mà bên cạnh đó nó còn kéo theo vào sự phụ thuộc của các nước thành viên ở một trong hai hệ thống, mà bên cạnh đó nó còn kéo theo sự ảnh hưởng, tác động và phụ thuộc của nhiều khu vực vào trong guồng máy chiến tranh, chạy đua vũ trang trong sự đối đầu ấy Chiến tranh lạnh và sự chạy đua vũ trang giữa hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đã làm cho tìmh hình thế giới luôn luôn đặt trong tình trạng bị uy hiếp của tâm lý chiến tranh

Trang 23

Mặt khác, việc chạy đua vũ trang trong chiến tranh lạnh đã tiêu hủy một khối lượng lớn chất xám của loài người vào việc chế tạo ra những thứ

vũ khí để tự hủy diệt chính bản thân xã hội loài người,ở tất cả các khu vực trên thế giới Hàng loạt các loại vũ khí nguy hiểm, có thể giết người hàng loạt thậm chí là hủy diệt loài người đã được chế tạo ra trong cuộc chạy đua

vũ trang đó Và cũng chính điều đó đã tiêu hủy đi những nguồn lực để phục

vụ cho sự phát triển của con người bởi lẽ tài nguyên môi trường và các nguồn lực khác đều được con người tìm mọi cách để khai thác và phục vụ cho nhu cầu tăng tiềm lực kinh tế, quân sự trong cuộc chạy đua vũ trang Và cũng do mải mê với cuộc chạy đua ấy mà các giá trị khác của cuộc sống, liên quan trực tiếp đến đời sống của con người đã không được quan tâm Có thể nói, ở thời kỳ nào, loài người đã ngủ mê với chiến tranh và tiềm lực quân

sự và với nguồn lợi khổng lồ mà việc buôn bán vũ khí trong chiến tranh đem lại Thế cho nên, các giá trị khác như văn hóa, con người và phát triển con người không được coi trọng vì tư tưởng giàu có sẽ đem lại hạnh phúc và

tự do cho con người Bên cạnh đó với sự phổ biến của các cuộc chiến tranh cục bộ ở nhiều quốc gia dân tộc trên thế giới đã làm cho các thứ vũ khí giết người và giết người hàng loạt được phổ biến ở nhiều nơi cùng với tâm lý chiến tranh và giết người của những con người hiếu chiến Điều này đã làm cho tính nhân bản của con người bị coi thường và hủy hoại

- Điểm thứ hai: đó là sự phát triển đến đến đỉnh cao của khoa học, kỹ

thuật và bùng nổ thông tin toàn cầu với sự ra đời và phổ biến rộng rãi của mạng thông tin toàn cầu Internet những năm 90 của thế kỷ trước Điều này

đã không những làm cho sự phổ biến và cập nhật thông tin trên toàn thế giới trở nên năng động, sôi động hơn, mà nó còn làm biến đổi tư duy phát triển, lập nghiệp của bản thân mỗi con người với sự phổ cập, cập nhật và năng động thông tin ấy Nó đã làm thay đổi quan điểm phát triển của hầu hết các

Trang 24

nước bởi sự bùng nổ thông tin đã buộc người ta phải xoay chuyển tư duy kinh doanh, từ chỗ thụ động và giữ bí mật thông tin đến chỗ chủ động cập nhật, nắm bắt thông tin để tìm đường hướng ra phát triển Và điều đó đòi hỏi

ở mỗi quốc gia phải có chiến lược xây dựng và phát triển người cho phù hợp với thời kì bùng nổ thông tin, làm sao cho con người có được đầy đủ và sử dụng được một cách các thông tin cập nhật được để phát triển

- Điểm thứ ba là xu thế hội nhập, toàn cầu hóa Đây là đặc điểm quan

trọng nhất của thế giới những năm 90 của thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI Điều này được bắt nguồn từ sự bùng nổ của thông tin toàn cầu và nó đã làm cho các công ty xuyên quốc gia, các quốc gia và khu vực, vùng lãnh thổ xích lại gần nhau hơn, tìm ra những giải pháp để cùng hợp tác và phát triển Bởi lẽ, trong thời đại thông tin thì không một quốc gia nào, một công ty hay tập đoàn kinh tế nào có thể đứng riêng lẻ mà có thể phát triển nên được Và xu thế hội nhập, toàn cầu hóa cũng đòi hỏi con người phải có năng lực mới, phẩm chất mới để thích ứng được với nó Đó là sự năng động, sáng tạo, chủ động và linh hoạt trong nắm bắt và xử lý, sử dụng thông tin Điều này đặt ra nhu cầu là con người phải có hiểu biết nhất định về tình hình thế giới và về khoa học, kỹ thuật - công nghệ

- Điểm thứ tư nhân loại đang đứng trước nguy cơ sự suy thoái, xuống

cấp nghiêm trọng của môi trường sống của con người, do khai thác quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên Điều đó cũng ảnh hưởng to lớn đến sự sinh tồn và phát triển của con người nói chung và mỗi quốc gia dân tộc nói riêng

cả về mặt giống nòi lẫn văn hóa tinh thần và sự cải thiện nâng cao chất lượng cuộc sống về mặt vật chất Với những cơ bản như vậy, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy xu hướng phát triển chính, của thế giới những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI là xu hướng phát triển chính, chủ yếu của thế giới những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI là xu hướng hội nhập,

Trang 25

toàn cầu hóa dựa trên nền tảng của sự phát triển nở rộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ

Điều đó đã cho thấy, có một sự thay đổi trong nhận thức của nhân loại về vai trò của con người đối với xã hội loài người.Và sự phát triển của

xã hội loài người không được đánh giá bằng thước đo kinh tế, khoa học,kỹ thuật và công nghệ một cách đơn thuần, mà sự phát triển của xã hội phải được đo bằng các chỉ số cụ thể về: nhân cách, tri thức, thể lực, điều kiện sống và môi trường sống ( cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội), về tuổi thọ, chiều cao, cân nặng, và chất lượng cuộc sống

Như vậy, xu thế phát triển của thế giới những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI đã hướng đến sự phát triển của con người, coi con người là trung tâm của mọi sự phát triển, là mục tiêu và động lực của sự phát triển

Và như vậy, con người chính là chủ thể của xã hội và sự phát triển xã hội, là yếu tố đảm bảo cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc, khu vực và vùng lãnh thổ Điều đó đòi hỏi mỗi quốc gia dân tộc phải có định hướng chiến lược về phát triển con người để đảm bảo cho sự phát triển của quốc gia dân tộc

1 2.2 Việt Nam trong quá trình đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa

và những đòi hỏi về xây dựng con người trong thời kỳ đổi mới

Việc tiến hành đổi mới đất nước, đã giúp Việt Nam thoát khỏi sự khủng hoảng về kinh tế - xã hội vào giữa những năm 90 của thế kỷ trước Trên cơ sở đó, Đảng cộng sản Việt Nam đã đưa ra chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bắt đầu từ đại hội VIII của Đảng từ năm 1996 Những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước đã làm thay da đổi thịt Nền kinh tế Việt Nam chuyển từ cơ chế quan liêu, bao cấp sang thị trường với sự chấp nhận của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Điều đó

đã tạo ra động lực thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời kỳ

Trang 26

đổi mới với nhịp độ tương đối lớn: “ Kinh tế tăng trưởng nhanh đạt tốc độ bình quân 7, 26%/ năm Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực Tổng sản phẩm ( GDP) năn 2010 theo giá thực tế gấp 3,26 lần so với năm 2000, thu ngân sách, kim ngạch xuất khẩu tăng gấp 5 lần so với năm 2000, GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 1.168 USD” [ 10, tr 20] Đây là thành tựu về kinh

tế của Chiến lược 2001 – 2010

Những tăng trưởng về kinh tế đã góp phần to lớn trong việc cải thiện đời sống nhân dân, tạo điều kiện để nâng cao nhu cầu hưởng thụ về văn hóa

- tinh thần cho nhân dân Bên cạnh đó, sự phát triển, tăng trưởng của kinh tế cũng đã góp phần làm thúc đẩy và tạo điều kiện cho các ngành khoa học, kỹ thuật và công nghệ của Việt Nam phát triển, vươn lên tầm cao mới,nhất là sự phát triển của khoa học và công nghệ thông tin, điện tử Điều này đã tạo điều kiện để các tầng lớp nhân dân Việt Nam có thể mở rộng việc giao lưu, trao đổi thông tin với bạn bè quốc tế, nhất là trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục Đây là điều kiện tốt để nâng cao dân trí cho dân Việt Nam, giúp tầng lớp nhân dân Việt Nam, nhất là giới trẻ có thể tiếp cận, giao lưu, trao đổi, học hỏi với nền văn minh cao của thế giới

Cùng với sự phát triển về kinh tế - xã hội, trong thời kỳ đổi mới đất nước với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Việt Nam đã dần thoát khỏi tình trạng

bị bao vây, cô lập và cấm vận về quan hệ quốc tế Cho đến năm 1995, Việt Nam đã khai thông được những cánh cửa quan hệ quan trọng với khu vực Đông Nam Á, Châu Á - Thái Bình Dương và Châu Âu, Châu Mĩ Từ đó đến nay, Việt Nam đã trở thành thành viên của Hiệp hội các nước Đông Nam Á - ASEAN ( 1995), ASEM ( 1996), APEC ( 1998)… có quan hệ ngơại giao với hơn 174 quốc gia, có quan hệ hợp tác kinh tế - thương mại với khoảng trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ Tháng 1 năm 2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức Thương mại thế giới

Trang 27

WTO Điều đó càng khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo

ra nhiều cơ hội, vận hội mới cũng như thách thức mới cho Việt Nam trên con đường hòa mình, hội nhập với dòng chảy của thế giới

Việc khai thông được cánh cửa quan hệ quốc tế đã giúp cho Việt Nam có nhiều điều kiện hơn để cùng hòa vào dòng chảy hòa vào dòng chảy hội nhập, toàn cầu hóa của thế giới những năm 90 và đầu thế kỷ XXI Điều này là hết sức có ý nghĩa đối với việc mở rộng các mối quan hệ giao lưu và trao đổi văn hóa với nước ngoài của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Đồng thời đây cũng chính là nhu cầu của Việt Nam để có thể hòa nhập, hội nhập được với thế giới Bởi lẽ, muốn hoà mình, hội nhập được thì mình cần phải hiểu người

đã là một nhẽ, nhưng quan trọng hơn là cần phải làm cho người hiểu mình

và thật sự tin cậy mình thì mới mong có được sự hòa mình - hội nhập bền vững để hợp tác cùng phát triển

Như vậy, Việt Nam đang trong quá trình đổi mới đất nước đã tạo ra được những cơ hội, điều kiện hết sức thuận lợi để có thể xây dựng và phát triển đất nước nhanh và bền vững theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong xu thế hội nhập quốc tế Song, để tận dụng được những cơ hội, điều kiện đó thì trước hết vẫn cần phải có sự đổi mới về chiến lược xây dựng và phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực Bởi lẽ, đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa đòi hỏi phải có những con người có sự năng động, sáng tạo, chủ động và linh hoạt, có trình độ chuyên môn, khoa học và kỹ thuật - công nghệ cao Có văn hóa và lối sống, nếp sống lành mạnh, tiến bộ, văn minh để có đủ sự tin cậy của các đối tác, nhất là đối tác nước ngoài trong đầu tư để có đủ sự tin cậy của đối tác, nhất là đối tác nước ngoài trong đầu tư hợp tác với Việt Nam

Trang 28

Thực tế đó, đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải có những chủ trương, chính sách và chiến lược xây dựng con người mới phù hợp với những đòi hỏi của đất nước và xu thế của thời đại Bởi xây dựng con người chính là giải pháp tốt nhất đê đảm bảo cho sự phát triển nhanh của đất nước nhanh và bền vững Đây là một đòi hỏi tất yếu, khách quan cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn,

vì con người còn là động lực và mục tiêu của sự phát triển xã hội, mà con người còn là động lực và mục tiêu của sự phát triển như Đảng ta đã khẳng định trong Đại hội VI, đại hội khởi đầu cho công cuộc đổi mới, công nghiệp

hóa, hiện đại hóa đất nước

*

* *

Từ thực tiễn nêu trên, chúng ta có thể thấy xây dựng con người mới là một đòi hỏi tất yếu khách quan, để xây dựng và phát huy vai trò con người phải dựa vào cơ sở lý luận và thực tiễn

Những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và kinh nghiệm trong lịch sử dân tộc là cơ sở lý luận hết sức quan trọng cho việc xây dựng và phát triển con người

Mỗi một bước phát triển của xã hội đều đòi hỏi phải có những con người, lớp người phù hợp với những đặc điểm, đặc tính và bản chất của nó Xây dựng con người mới là đòi hỏi cấp bách của Việt Nam để có thể tạo ra cho mình nguồn nhân lực chất lượng chất lượng cao, phục vụ cho công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Bởi đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa của nhân loại

sẽ cần những con người Việt Nam có uy tín, có trình độ chuyên môn và khoa học, kỹ thuật - công nghệ cao, có lối sống và nếp sống trật tự, kỷ cương, lành mạnh và văn minh, có sự năng động, chủ động và sáng tạo Trong khi ấy, con người Việt Nam thì ngoài những mặt tiến bộ, tích cực ra vẫn còn có

Trang 29

những hạn chế tiêu cực trong lối sống, nếp sống và trình độ tri thức Và vì vậy, xây dựng con người mới là một chủ trương đúng đắn của Đảng cả về mặt lý luận và thực tiễn

Con người Việt Nam mới mà chúng ta đang xây dựng, đó phải là con người khác về chất so với con người đã từng tồn tại hàng nghìn năm trong chế độ phong kiến Đồng thời con người đó cũng chính là sự kết tinh phát triển những gì đẹp cao đẹp nhất trong tâm hồn và cốt cách của người Việt Nam hun đúc qua hơn bốn nghìn năm lịch sử

2.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng con người trước thời

kỳ đổi mới ( đại hội IV,đại hội V)

2.1.1 Đại hội IV( 12-1976)

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng diễn ra trong bối cảnh Đất nước hoàn toàn độc lập, thống nhất, có tài nguyên phong phú,dồi dào sức lao động, nhân dân có truyền thống lao động cần cù, thông minh, sáng tạo, có cơ sở vật chất ban đầu của miền Bắc sau 20 năm xây dựng Bên cạnh đó hậu quả của mấy mươi năm chiến tranh để lại là hết sức nặng

nề

Trang 30

Đại hội họp từ ngày 14 đến ngày 20-12-1976 tại Hà Nội Đại hội đã thông qua Báo cáo chính trị, báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm 1976- 1980

Đại hội lần thứ IV xác định đường lối chung của cách mạng xã hội trong giai đoạn mới ở nước ta là: “ Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của

cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hóa mới, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xóa bỏ nghèo nàn và lạc hậu” [ 6, tr 67]

Chủ trương về xây dựng con người mới được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã xác định xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa là một trong bốn mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa xã hội

Đó là những con người Việt Nam mới mà đặc trưng nổi bật là:

Làm chủ tập thể, lao động, yêu nước xã hội chủ nghĩa và tinh thần quốc tế vô sản Đó cũng là sự kết tinh và phát triển những gì cao đẹp nhất trong tâm hồn và cốt cách Việt Nam hun đúc qua bốn ngàn năm lịch sử Con người mới là con người có tư tưởng đúng và tình cảm đẹp, có tri thức và năng lực để làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên,làm chủ bản thân Con người mới là con người có lòng yêu nước xã hội chủ nghĩa nồng nàn kết hợp nhuần nhuyễn với tinh thần quốc tế vô sản trong sáng

Con người mới là con người có tình thương yêu sâu sắc đối với nhân dân lao động, biết đoàn kết, hợp tác, giúp đỡ nhau trong lao động, chiến đấu

Trang 31

và xây dựng cuộc sống mới, lấy việc xây dựng cuộc sống tự do, hạnh phúc cho tất cả mọi người làm lý tưởng cao đẹp, làm hạnh phúc lớn của mình Con người mới là con người biết xây dựng gia đình hạnh phúc trên cơ

sở của một xã hội hạnh phúc, có trách nhiệm đầy đủ và tình yêu chân thật trong quan hệ vợ chồng, có trách nhiệm cao đối với việc xây dựng những con người mới

Xây dựng con người Việt Nam như vậy là xây dựng con người phát

triển toàn diện, có cuộc sống tập thể và cuộc sống cá nhân hài hòa, phong

phú

Con người là sản phẩm của các quan hệ xã hội Phải bằng kết quả tổng hợp của cả ba cuộc cách mạng, phải thông qua thực tiễn, thông qua lao động và đấu tranh thì những thành viên trong xã hội mới cải tạo được mình

và dần dần trở thành con người mới Phải xây dựng con người mới từ lúc mới lọt lòng và ở tất cả các lứa tuổi, trong tất cả các tổ chức quần chúng, các cơ sở kinh tế, văn hóa, các hoạt động xã hội, ở mọi ngành, mọi cấp, trong từng khu phố, thôn xóm và gia đình Phải xây dựng con người mới từ những con người ra đời trong chế độ mới và những con người do chế độ cũ

để lại

Xây dựng con người mới là một công việc rất công phu Nó phải được tiến hành một cách có tổ chức, có kế hoạch trên quy mô toàn xã hội và đối với từng người Phải có biện pháp về các mặt: tư tưởng và tổ chức, giáo dục và hành chính, chính trị và văn hóa, pháp chế và kinh tế Trong các biện pháp ấy, tiến hành tư tưởng và văn hóa, áp dụng phổ biến phương pháp tự phê bình và phê bình, là biện pháp có tầm quan trọng đặc biệt Việc xây dựng con người mới phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, kiên trì, bền bỉ, đồng thời phải có những đợt vận động tập trung phải qua nhiều

Trang 32

phong trào, phong trào của nhân dân nói chung, phong trào của từng đoàn thể, từng giới, từng lứa tuổi nói riêng, nhất là phong trào lao động sản xuất Đại hội IV cũng đề ra biện pháp là phải tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học- kỹ thuật, cách mạng về tư tưởng và văn hóa Trong đó cách mạng tư tưởng liên quan trực tiếp xây dựng con người mới

Cách mạng tư tưởng và văn hóa nhằm thay đổi căn bản đời sống tư tưởng, tinh thần và văn hóa của toàn xã hội, của đông đảo quần chúng nhân dân Nhất là đối với nước ta, quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa là một con đường phát triển mới mẻ đòi hỏi nhiều trí sáng tạo và tính tự giác cao, nhưng tư tưởng và tập quán trong xã hội ta còn in đậm dấu vết của nền sản xuất nhỏ, trình độ văn hóa, khoa học

kỹ thuật của nhân dân ta còn thấp, cho nên cách mạng tư tưởng và văn hóa càng có vị trí đặc biệt quan trọng

Để thực hiện tốt việc xây dựng con người mới Đại hội IV đưa ra phương hướng đó là: đẩy mạnh cách mạng tư tưởng và văn hóa, xây dựng và phát triển nền văn hóa mới

Văn học nghệ thuật cũng góp phần vào việc xây dựng con người mới: “ Nền văn học, nghệ thuật ra sức phấn đấu nhằm sáng tạo những hình tượng nghệ thuật cao đẹp và phong phú về xã hội mới và con người mới, về giai cấp công nhân và giai cấp nông dân tập thể, về tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa, về cán bộ và chiến sỹ của các lực lượng vũ trang nhân dân, phản ánh chủ nghĩa anh hùng cách mạng và những phẩm chất cao quý của nhân dân.” [ 6, tr 121]

Đại hội chủ trương đưa nếp sống mới vào đời sống nhân dân “ Vận động kiên trì và sâu rộng để tạo ra nếp sống mới có văn hóa trong xã hội , đưa cái đẹp vào đời sống hàng ngày, vào lao động sản xuất.” [ 6, tr.125]

Trang 33

Vấn đề bảo vệ và tăng cường sức khỏe của nhân dân là một vấn đề quan trọng, gắn liền với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội, với hạnh phúc của nhân dân Đó là một trong những mối quan tâm hàng đầu của chế

độ ta, là trách nhiệm cao quý của Đảng và Nhà nước ta, trước hết là các ngành y tế và thể dục thể thao Bởi vì: “ chúng ta phải ra sức phấn đấu nâng cao sức khỏe và bồi dưỡng thể lực của nhân dân, làm cho mọi người thích ứng với các điều kiện sống, lao động và học tập trong giai đoạn mới, với yêu cầu công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, củng cố quốc phòng, bảo vệ đất nước, đồng thời khắc phục những hậu quả của chiến tranh, của chế độ thực dân cũ

và mới về mặt xã hội”

Tích cực xây dựng cấp huyện và phân định trách nhiệm giữa huyện và tỉnh, thành phố Trong đó, coi cấp huyện đóng vai trò quan trọng bởi vì “ huyện là cứ điểm để tiến hành cuộc cách mạng, xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, nền văn hóa mới và con người mới ở nông thôn, là nơi thực hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân ở địa phương, là cấp bảo đảm đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân” [ 6, tr 139]

Thực hiện quan điểm, chủ trương mà Đại hội IV đề ra chúng ta đã

đạt được những thành tựu về các mặt trong lĩnh vực xã hội Sự nghiệp giáo dục tiếp tục phát triển Nạn mù chữ trong vùng mới giải phóng về

cơ bản đã được thanh toán Công cuộc xây dựng nền văn hoá mới được triển khai trong cả nước; các tỉnh miền Nam đã làm nhiều việc để loại trừ văn hoá phản động, lạc hậu, đồi trụy do chế độ cũ để lại Sự nghiệp văn học, nghệ thuật đạt được một số tiến bộ Công tác y tế, thể dục, thể thao

có nhiều cố gắng vươn lên Các ngành khoa học, kỹ thuật đã đáp ứng tốt một số yêu cầu của kinh tế và quốc phòng Trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc cũng như trong lao động xây dựng cuộc sống mới, đã xuất hiện

Ngày đăng: 08/05/2021, 21:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w