Mặt khác, HS chưa nhận thức được hết vai trò và tác dụng của việc tiếp thu nội dung kiến thức thông qua những kĩ năng này nên chưa hứng thú học tập, cho nên việc sử dụng bản đồ chỉ dừng
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA ĐỊA LÝ
- -
BÙI THỊ THÚY
Phương pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ
trong dạy học địa lí 12 ở trường THPT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SƯ PHẠM ĐỊA LÝ
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Giáo dục và đào tạo đang là vấn đề thách thức của toàn cầu Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đang nỗ lực đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục và đào tạo với nhiều mô hình, biện pháp khác nhau nhằm mở rộng qui mô, nâng cao tính tích cực trong dạy và học một cách toàn diện, dạy làm sao để giúp người học hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động Trong dạy học, người GV không chỉ dạy cho HS mỗi kiến thức mà còn phải rèn luyện cho HS những kĩ năng tương ứng
có như vậy mới phát huy được tính tích cực, chủ động trong quá trình học Đối với môn địa lí bên cạnh hệ thống kiến thức tàng trữ trong SGK thì còn tồn tại song song hệ thống kĩ năng địa lí có trong chương trình Trong hệ thống các kĩ năng này thì kĩ năng
sử dụng bản đồ là quan trọng nhất và đặc trưng nhất của môn địa lí
“Địa lí bắt đầu và kết thúc bằng bản đồ” Quả đúng như vậy, trong bộ môn Địa
lí ở trường phổ thông nói chung và Địa lí lớp 12 nói riêng, việc sử dụng bản đồ trong các tiết dạy là rất thường xuyên và thiết thực Bản đồ không những là phương tiện minh họa cho nội dung bài học mà còn chứa đựng kiến thức cho HS khai thác, giúp các
em hiểu sâu hơn, cụ thể hơn thế giới xung quanh chúng ta và những vấn đề địa lí liên quan
Rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ giúp HS lĩnh hội được kiến thức địa lí một cách nhẹ nhàng, nhanh chóng và ghi nhớ kiến thức lâu bền Vì vậy, việc giảng dạy kiến thức lí thuyết kết hợp với rèn luyện kĩ năng địa lí cho HS là một việc làm rất cần thiết Rèn luyện kĩ năng bản đồ còn là phương tiện đặc biệt quan trọng để phát triển tư duy nói chung và tư duy địa lí nói riêng Trong khi học tập sử dụng bản đồ, HS luôn phải quan sát, tưởng tượng, phân tích đối chiếu, so sánh, tổng hợp, khái quát hoá, xác lập các mối quan hệ địa lí, vì thế tư duy của các em luôn luôn hoạt động và phát triển Chính vì vậy, rèn luyện kĩ năng càng cao bao nhiêu thì càng tạo ra tiền đề cho chất lượng cao của kiến thức địa lí bấy nhiêu
Trang 3Tuy nhiên trên thực tế, vì nhiều điều kiện khác nhau mà công việc này chưa đạt được nhiều kết quả tốt Nhiều GV chỉ chú trọng dạy kiến thức mà quên đi hay ít quan tâm đến việc rèn luyện kĩ năng cho HS Mặt khác, HS chưa nhận thức được hết vai trò
và tác dụng của việc tiếp thu nội dung kiến thức thông qua những kĩ năng này nên chưa hứng thú học tập, cho nên việc sử dụng bản đồ chỉ dừng lại ở mức coi bản đồ là phương tiện minh họa, chỉ có một số ít GV chú ý đến việc rèn luyện cho HS sử dụng bản đồ để khai thác kiến thức địa lí
Xuất phát từ những lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài : “Phương pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ trong dạy học địa lí 12 ở trường THPT” để nghiên
cứu
2 Lịch sử nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu phương pháp sử dụng bản đồ trong dạy học địa lí đã có từ rất sớm Chính vì vậy trong lĩnh vực khoa học địa lí đã có nhiều nhà khoa học, nhà sư phạm địa lí nghiên cứu về vấn đề này
Trên thế giới, có nhiều nhà nghiên cứu đã biên soạn các cuốn sách về vấn đề
rèn luyện kĩ năng địa lí cho HS như: N.N.Baranski; W.D - Walter Jabn; I.F Kharlamôp;
L.V Panshenhicova…
Ở Việt Nam, nhiều nhà tác giả cũng đã thấy rõ tầm quan trọng của việc rèn
luyện kĩ năng sử dụng bản đồ cho HS Chính vì thế vấn đề này được đề cập trong nhiều giáo trình như:
- Các tác giả: Lâm Quang Dốc (Chủ biên) – Lê Huỳnh… nghiên cứu về tập bản
đồ bài tập dùng cho các lớp 6,7,8,9,10,11,12 xuất bản các năm từ 1984 đến 1994
- Trong cuốn “Lí luận dạy học địa lí” của PGS Nguyễn Dược – Nguyễn Trọng Phúc nhà xuất bản ĐHQG (1998) và “Lí luận dạy học địa lí” của PGS.T.S Đậu Thị
Hòa ĐH SP Đà Nẵng (2004) Trong tài liệu này đã nêu lên các loại kĩ năng và phương thức hình thành kĩ năng địa lí cho nhà trường phổ thông một cách khái quát, đưa ra phương pháp hướng dẫn HS khai thác tri thức từ bản đồ nói chung, giới thiệu cách đọc bản đồ ở ba mức
Trang 4- Cuốn “Rèn luyện kĩ năng địa lí” của tác giả Mai Xuân San – nhà xuất bản
Giáo Dục (1997) cũng chỉ ra từng kĩ năng sử dụng, khai thác bản đồ theo trình tự: Ý nghĩa, cách thức tiến hành, quy trình tiến hành
- “Phương pháp sử dụng các phương tiện dạy học địa lí ở trường phổ thông”
của PGS.TS Nguyễn Đức Vũ (chủ biên), ĐH Huế 7/2000 đã trình bày về quan niệm, chức năng và một số điểm chú ý trong sử dụng phương tiện dạy học địa lí, phương pháp sử dụng các phương tiện dạy học địa lí truyền thống và một số phương tiện kĩ thuật thường dùng trong dạy học địa lí phổ thông
- Ngoài ra còn có một số tác giả khác nghiên cứu về vấn đề này như: Đặng Văn Đức; Nguyễn Đức Vũ…
Bên cạnh đó còn nhiều công trình nghiên cứu khác được trình bày trong các hội thảo như: Hội thảo khoa học về phương pháp dạy học địa lí của khoa Sử - Địa tại trường Đại học sư phạm Đà Nẵng diễn ra vào tháng 4/2005; các công trình nghiên cứu khoa học, nghiên cứu luận án, khóa luận tốt nghiệp…
Các tài liệu trên đều nhấn mạnh ý nghĩa của việc sử dụng bản đồ trong dạy học địa lí, xác định một số phương pháp để rèn luyện các kĩ năng địa lí, kĩ năng sử dụng bản đồ cho HS… Tuy nhiên việc rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ cho HS, đặc biệt là trong chương trình địa lí lớp 12 đến nay vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập Việc rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ cho HS trong dạy học địa lí là rất cần thiết nhằm giúp cho HS khai thác tốt kiến thức địa lí gắn với bản đồ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Xác định các kĩ năng sử dụng bản đồ và cách thức rèn luyện bản đồ trong dạy học địa lí 12 góp phần đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc hình thành kĩ năng sử dụng bản đồ trong dạy học địa lí
Trang 5- Tìm hiểu đặc điểm, nội dung chương trình SGK địa lí lớp 12 Qua đó xác định các kĩ năng sử dụng bản đồ và một số cách thức rèn luyện cho HS trong quá trình dạy học địa lí 12
- Nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lí HS lớp 12 THPT
- Tìm hiểu thực trạng rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ ở các trường THPT
- Thực nghiệm việc rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ và một số bài dạy cụ thể tại một số trường THPT
4 Đối tượng, giới hạn nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ cho HS trong quá trình dạy học địa lí 12
4.2 Giới hạn nghiên cứu
Địa lí 12, phần “Địa lí các vùng kinh tế” (Ban cơ bản)
Địa bàn thực hiện: Một số trường THPT ở Quảng Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Thu thập, phân tích tổng hợp các nguồn tài nguyên tài liệu, tạp chí, sách tham khảo… có liên quan đến đề tài để nghiên cứu hệ thống các phương pháp dạy học địa lí nói chung và phương pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ nói riêng Từ đó vận dụng
các phương pháp đó vào dạy học địa lí lớp 12 THPT
5.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực tế
- Điều tra, khảo sát thực trạng việc rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ cho HS tại các trường một số trường THPT thông qua phiếu điều tra
- Tiến hành trao đổi, phỏng vấn với GV và HS lớp 12 ở các trường TN
Nội dung điều tra, khảo sát chủ yếu là về mức độ nhận thức và việc sử dụng bản
đồ trong dạy học địa lí 12 tại một số trường THPT trên địa bàn Quảng Nam
5.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Trang 6- Tiến hành TN sư phạm tại một số trường THPT thông qua việc giảng dạy một
số bài có rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ cho HS nhằm kiểm chứng kết quả nghiên cứu của đề tài
- Từ đó đề xuất, kiến nghị và nêu các giải pháp để rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ
5.4 Phương pháp thống kê toán học
Qua việc điều tra, khảo sát và TN sư phạm để thống kê, phân tích, xử lí kết quả điều tra đánh giá quá trình TN
6 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, mục lục, phần kết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo, lời cảm ơn, đề tài nghiên cứu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận chung và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Phương pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ trong dạy học địa lí
12
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 7B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG BẢN ĐỒ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12 Ở
TRƯỜNG THPT 1.1 Kĩ năng địa lí
1.1.1 Khái niệm
a Kĩ năng
Gần đây chúng ta nghe nói rất nhiều về thuật ngữ "kĩ năng" như là kĩ năng sống,
kĩ năng mềm, kĩ năng chuyên môn… Tuy nhiên để hiểu rõ thuật ngữ này thì vẫn còn nhiều người chưa hiểu hết
Kĩ năng là gì? Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kĩ năng Những định
nghĩa này thường bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của người viết Tuy nhiên hầu hết chúng ta đều thừa nhận rằng kĩ năng được hình thành khi chúng
ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn Kĩ năng học được do quá trình lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó Kĩ năng luôn có chủ đích và định hướng
rõ ràng
Kĩ năng theo tâm lí học nói chung, là phương thức thực hiện một hành động nào
đó, thích hợp với mục đích và những điều kiện hành động
A.V.Petrovxki: Kĩ năng là sự vận dụng những tri thức, kĩ xảo đã có để lựa chọn
thực hiện những phương thức hành động tương ứng với mục đích đề ra
Bui Văn Huệ: Kĩ năng là khả năng vận dụng tri thức, khái niệm, định nghĩa,
định luật vào thực tiễn
Trang 8Lưu Xuân Mới: Kĩ năng là sự biểu hiện kết quả hành động trên cơ sở kiến thức
đã có Kĩ năng là tri thức trong hành động
Từ điển tiếng Việt: Kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu được vào
thực tế
Như vậy, kĩ năng là phương thức thực hiện một hành động nào đó nhằm đạt được mục đích Hay chính xác hơnkĩ năng là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh
nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi
họ đã có kĩ năng ban đầu về đọc các kí hiệu trên bản đồ Nhưng nếu khi nhìn vào bản
đồ, HS đã hình dung ngay ra các đối tượng biểu hiện trên bản đồ, mà không phải dò dẫm đối chiếu để giải mã các kí hiệu, thì việc đọc bản đồ của các em đã trở thành kĩ xảo
1.1.2 Đặc điểm của kĩ năng địa lí
Việc nắm kĩ năng, kĩ xảo của HS là một quá trình hành động theo mẫu, nếu không có mẫu thì phải được chỉ dẫn từng động tác một cách sao sát theo một trình tự nhất định Nếu HS chưa tận mắt nhìn thấy cách thực hiện đó bao giờ thì khó có thể hình dung được kĩ năng đó một cách cụ thể
Điều kiện thứ hai cũng hết sức cần thiết trong việc nắm kĩ năng của HS, đó là vấn đề phương tiện Phương tiện, nó hết sức cần thiết cho việc nắm kĩ năng của HS Phần lớn các kĩ năng đều có liên quan đến phương tiện và đòi hỏi phải có phương tiện
Ví dụ: muốn nắm kĩ năng về bản đồ, không thể không có phương tiện triển khai kĩ
Trang 9năng là bản đồ hoặc muốn nắm kĩ năng khai thác tri thức địa lí từ tranh ảnh thì không thể không có tranh ảnh
Cũng tương tự như việc nắm kiến thức, việc nắm kĩ năng của HS được thực hiện theo 2 giai đoạn chính: Giai đoạn nắm lý thuyết và giai đoạn rèn luyện kĩ năng
- Trong giai đoạn nắm kĩ năng: Trước tiên HS phải hiểu rõ mục đích của hành
động, tức là biết kĩ năng sẽ thực hiện là kĩ năng gì (Ví dụ: Vẽ biểu đồ hoặc phân tích số liệu, đọc bản đồ…), kĩ năng đó dùng để làm gì? (Biểu hiện sự phát triển dân số hay cơ cấu xuất nhập khẩu…), nó có tác dụng như thế nào trong việc học tập địa lí? (Minh họa cho một quá trình phát triển sản xuất hay nghiên cứu một hiện tượng kinh tế - xã hội của một nước, một khu vực…) Sau khi nắm được những vấn đề trên, HS cần phải nắm được quá trình hành động của kĩ năng Ví dụ: Hoạt động với phương tiện hay dụng cụ quan trắc nào, tính toán hay phân tích, so sánh dựa trên các số liệu, các bản đồ nào và trình tự tiến hành ra sao Tất cả những vấn đề trên là những vấn đề lý thuyết, cần thiết cho một kĩ năng mới
- Trong giai đoạn rèn luyện kĩ năng: Trước tiên HS cần được quan sát tận mắt,
ít nhất một lần việc thực hiện kĩ năng mẫu, sau đó mới tự mình thực hiện theo kĩ năng
và quy trình đã biết Cuối cùng, việc nắm kĩ năng của HS phải được kết thúc bằng việc rút kinh nghiệm và đánh giá
Quá trình hình thành kĩ năng gồm 3 bước:
+ Bước 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích
+ Bước 2: Quan sát mẫu và làm thử theo mẫu
+ Bước 3: Luyện tập để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu, điều kiện hành động nhằm đạt được mục đích đặt ra
1.1.3 Các loại kĩ năng địa lí
Hiện nay trong môn địa lí, việc hình thành kĩ năng, kĩ xảo cho HS trong nhà trường đều tập trung vào các nhóm kĩ năng sau:
- Kĩ năng làm việc với bản đồ, khai thác kiến thức địa lí tàng trữ trong bản đồ Trong nhóm kĩ năng này gồm có các kĩ năng như định hướng trên bản đồ; đo tính khoảng cách, độ sâu hay chiều cao trên bản đồ; tìm tọa độ địa lí trên bản đồ, xác định
Trang 10vị trí địa lí các đối tượng trên bản đồ; đọc bản đồ và sử dụng bản đồ…Đây là loại kĩ năng quan trọng nhất và đặc trưng nhất của môn địa lí
- Kĩ năng khảo sát các hiện tượng địa lí ngoài thực địa Thuộc nhóm kĩ năng này
có các kĩ năng như quan sát, phân tích hiện tượng, đo đạc các dụng cụ quan trắc đơn giản về thơi tiết, thỗ nhưỡng, địa hình, khí hậu…
- Kĩ năng nghiên cứu, làm việc với các tài liệu địa lí: SGK, tài liệu tham khảo, làm việc với biểu đồ, số liệu thống kê, các mô hình, lát cắt…
- Kĩ năng học tập, nghiên cứu địa lí: trong đó có các kĩ năng như đọc sách, kĩ năng mô tả, viết và trình bày những vấn đề địa lí…
- Kĩ năng làm việc với máy tính và các phần mềm địa lí như kĩ năng khai thác Internet, kĩ năng vẽ biểu đồ trên máy tính, kĩ năng khai thác các phần mềm có nội dung địa lí…
1.1.4 Vai trò của kĩ năng trong dạy học địa lí
Việc rèn luyện kĩ năng địa lí cho HS có một vai trò đặc biệt quan trọng trong dạy học địa lí Nó sẽ giúp cho HS lĩnh hội được kiến thức địa lí một cách nhẹ nhàng, nhanh chóng và ghi nhớ lâu bền
Nắm kĩ năng, kĩ xảo địa lí là điều kiện giúp HS có khả năng chủ động trong việc khai thác tri thức dưới sự hướng dẫn của GV
Nắm kĩ năng, kĩ xảo địa lí có quan hệ chặt chẽ với việc nắm kiến thức và thường được tiến hành đồng thời với việc nắm kiến thức, để chuẩn bị cho việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn, kĩ năng bao giờ cũng xuất phát từ kiến thức, cũng dựa trên kiến thức và là kết quả của kiến thức trong hành động Sự chuyển hóa của kiến thức thành kĩ năng, kĩ xảo được thực hiện trong các bài luyện tập, các bài thực hành, các bài thực nghiệm và trong công tác độc lập của HS
Trong quá trình dạy học địa lí, việc rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo cho HS là rất quan trọng, bởi vì đối với GV, HS có nắm được kĩ năng của bộ môn, thì GV mới thay đổi được phương pháp dạy học, chuyển từ phương pháp truyền thống sang phương pháp phát huy tích cực, chủ động của HS trong việc khái thác tri thức Đối với HS thì việc nắm vững các kĩ năng sẽ hình thành cho các em năng lực tự học, tự phát hiện tri thức,
Trang 11dựa vào sự hướng dẫn của GV và đặc biết là khả năng vận dụng được những kiến thức
đã học vào thực tiễn
Rèn luyện kĩ năng bản đồ là một phương tiện đặc biệt quan trọng để phát triển năng lực tư duy nói chung và năng lực tư duy địa lí nói riêng Trong khi tập sử dụng bản đồ, HS phải luôn quan sát, tưởng tượng, phân tích, đối chiếu, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, xác lập mối liên hệ địa lí, tư duy các em luôn luôn hoạt động và phát triển Việc rèn luyện kĩ năng bản đồ không những giúp các em nắm chắc kiến thức mà còn trau dồi cho các em phương pháp nghiên cứu địa lí
1.2 Kĩ năng sử dụng bản đồ
1.2.1 Bản đồ địa lí
Trước đây người ta thường quan niệm: Bản đồ địa lí là sự biểu hiện thu nhỏ một
phần hay toàn bộ bề mặt Trái Đất lên bản vẽ Quan niệm trên chưa đầy đủ và chính
xác về bản đồ địa lí Bản đồ địa lí không phải là một bức ảnh chụp hàng không hay bức tranh phong cảnh vẽ thu nhỏ toàn bộ Trái Đất mà nó còn có khả năng giải thích toàn bộ tính chất của các đối tượng có trên bản đồ Mặt khác nói như trên, bản đồ địa lí chỉ hạn chế trong việc biểu hiện những đối tượng có trên bề mặt Trái Đất, trong khi đó nó còn biểu hiện những đối tượng hiện tượng phức tạp phân bố trên bề mặt, trong không gian, dưới lòng đất và cả những hiện tượng đó có thể biến đổi theo thời gian
Định nghĩa của nhà bản đồ học người Nga K.A Salisev được mọi người thừa
nhận là đầy đủ và hoàn chỉnh nhất: “Bản đồ địa lí là mô hình kí hiệu hình tượng không
gian của các đối tượng, hiện tượng tự nhiên và xã hội, được thu nhỏ, được tổng hợp hoá theo một cơ sở toán học nhất định, nhằm phản ánh vị trí, sự phân bố không gian
và mối tương quan giữa các đối tượng và hiện tượng và những biến đổi của chúng theo thời gian để thoả mãn mục đích yêu cầu đã định trước”
Như vậy, bản đồ địa lí là sự biểu thị thu nhỏ quy ước của bề mặt Trái Đất lên mặt phẳng, xây dựng trên cơ sở toán học với sự trợ giúp và sử dụng các ký hiệu qui ước để phản ánh sự phân bố, trạng thái và mối quan hệ tương quan của các hiện tượng thiên nhiên và xã hội được lựa chọn và khái quát hoá để phù hợp với mục đích sử dụng của bản đồ và đặc trưng cho khu vực nghiên cứu
Trang 12Bản đồ địa lí có 3 đặc điểm cơ bản:
- Được thành lập bằng các phương pháp toán học
- Bản đồ địa lí thể hiện các đối tượng và hiện tương địa lí trên bề mặt Trái Đất bằng một hệ thống các kí hiệu đặc biệt
- Lựa chọn và khái quát hóa các đối tượng được biểu hiện là đặc tính đặc biệt quan trọng của bản đồ địa lí
1.2.2 Các kĩ năng bản đồ
Trong khi sử dụng bản đồ để khai thác được kiến thức trên bản đồ xét về mức
độ có ba kĩ năng cần rèn luyện cho HS
* Kĩ năng hiểu bản đồ:
Là kĩ năng đầu tiên cần rèn luyện cho HS, nghĩa là các em phải có kiến thức tối thiểu về bản đồ Ngay trong chương trình địa lí ở các khối, các lớp không có nhiều giờ học về bản đồ Để hiểu được bản đồ địa lí, HS phải nắm được những kiến thức rải rác trong các bài ở nhiều lớp, còn để có kĩ năng về bản đồ thì HS phải thông qua việc thực hiện các bài thực hành có liên quan đến bản đồ
- Trước hết, muốn hiểu bản đồ HS phải biết và dựa vào định nghĩa của nó Trên
cơ sở định nghĩa HS phải hiểu được tính chất, đặc điểm của bản đồ địa lí và bản đồ giáo khoa, hiểu được các yếu tố hình thành trên bản đồ
- Từ các phép chiếu đồ khác nhau, dẫn đến hệ thống kinh vĩ tuyến có hình dạng khác nhau trên bản đồ Dựa vào hệ thống kinh, vĩ tuyến HS có thể xác định tọa độ địa
lí của các lãnh thổ…
- Bên cạnh hệ thống kinh, vĩ tuyến trên bản đồ, phải chú ý đến tỷ lệ của bản đồ
- Những nội dung được biểu hiện trên bản đồ, còn được thể hiện thông qua bản chú giải của nó Vì vậy cần hướng dẫn HS khai thác bảng chú giải để khai thác và sử dụng bản đồ có hiệu quả
* Đọc bản đồ:
Trong các kĩ năng bản đồ, khó và phức tạp nhất đối với HS, là kĩ năng đọc bản
đồ Việc rèn luyện kĩ năng đọc bản đồ cho HS trong giảng dạy địa lí trước hết phải dựa
Trang 13trên cơ sở hiểu bản đồ, vì vậy hiểu bản đồ là bước đầu tiên trong rèn luyện kĩ năng bản
đồ Đây là chìa khóa để đọc và nhận biết các nội dung địa lí được đưa lên bản đồ ở những mức độ khác nhau Đọc bản đồ giáo khoa địa lí cũng giống như đọc một cuốn SGK, người đọc có thể qua đó, nắm được một số thông tin về số lượng và chất lượng,
về cấu trúc của các hiện tượng địa lí được trình bày trên bản đồ, từ đó mà phân tích, tổng hợp, khái quát các đối tượng được thể hiện trên bản đồ Đọc bản đồ có ba mức độ khác nhau:
- Mức sơ đẳng nhất: Thể hiện ở chổ đọc được vị trí của các đối tượng địa lí, có được biểu tượng về các đối tượng đó, thông qua hệ thống các kí hiệu quy ước ghi trong bảng chú giải
- Mức thứ hai: Cao hơn đòi hỏi HS phải biết dựa vào những hiểu biết về bản đồ, kết hợp với các kiến thức địa lí, để tìm ra những đặc điểm tương đối rõ ràng của những đối tượng địa lí biểu hiện trên bản đồ
- Mức thứ ba: Đòi hỏi khi đọc bản đồ, HS còn phải biết kết hợp những kiến thức bản đồ với những kiến thức địa lí sâu hơn để so sánh, phân tích, tìm ra được, mối liên
hệ giữa các đối tượng đó
Đối với GV, hướng dẫn HS khai thác kiến thức trên bản đồ chủ yếu là hướng dẫn HS đọc được bản đồ ở các mức độ trên, quan trọng nhất là mức hai và ba
* Sử dụng bản đồ
Đây là kĩ năng cao nhất về bản đồ, kĩ năng này đòi hỏi HS không chỉ biết đọc, hiểu bản đồ mà còn phải biết vận dụng các tri thức bản đồ, tri thức địa lí biểu hiện trên bản đồ Cụ thể biết cách so sánh, phân tích, tổng hợp xác lập mối quan hệ giữa các đối tượng địa lí được thể hiện trên bản đồ, từ đó biết tìm ra kiến thức mới tiềm ẩn trong bản đồ Rèn luyện kĩ năng bản đồ cho HS phải qua nhiều bước từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, đó là cả một quá trình, bắt đầu từ bậc tiểu học
Các kĩ năng bản đồ cụ thể cần rèn luyện cho HS, từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp lên cao:
- Kĩ năng nhận biết, chỉ và đọc tên các đối tượng địa lí trên bản đồ
- Kĩ năng xác định phương hướng, đo tính khoảng cách trên bản đồ
Trang 14- Kĩ năng xác định tọa độ, vị trí địa lí
- Kĩ năng mô tả từng yếu tố thành phần của tự nhiên, kinh tế - xã hội, chính trị được biểu hiện trên bản đồ
- Kĩ năng xác định các mối quan hệ địa lí trên bản đồ
- Kĩ năng mô tả tổng hợp địa lí một khu vực, tức là mô tả khu vực đó về nhiều mặt: vị trí địa lí, địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật, dân cư
1.2.3 Vai trò của bản đồ trong dạy học địa lí
Bản đồ địa lí là một phương tiện trực quan, một nguồn tri thức quan trọng Qua bản đồ, HS có thể nhìn một cách bao quát các khu vực lãnh thổ rộng lớn, những vùng lãnh thổ xa xôi trên bề mặt Trái Đất, mà họ chưa bao giờ có điều kiện đi đến tận nơi để quan sát
Trong dạy học địa lí, bản đồ có khả năng phản ánh sự phân bố và những mối quan hệ của các đối tượng địa lí trên bề mặt Trái Đất một cách cụ thể, mà không một phương tiện nào có thể làm được Những kí hiệu, màu sắc, cách biểu hiện trên bản đồ
là những nôi dung địa lí đã được mã hóa, trở thành một thứ ngôn ngữ đặc biệt - ngôn ngữ bản đồ
Ngoài ra, bản đồ còn được coi là phương tiện trực quan, vì vậy trong quá trình dạy học có sử dụng bản đồ sẽ giúp HS khai thác, củng cố kiến thức và phát triển tư duy trong quá trình giảng dạy địa lí
Để khai thác được những tri thức trên bản đồ, trước hết, HS phải hiểu bản đồ, đọc và sử dụng được bản đồ, nghĩa là phải có những kiến thức lí thuyết về bản đồ, trên
cơ sở đó có được những kĩ năng làm việc với bản đồ
Như vậy, bản đồ trong dạy học địa lí có một vai trò đặc biệt quan trọng, vì vậy việc rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ là hết sức cần thiết Là phương tiện dạy học vừa điều khiển được hoạt động nhận thức một cách sinh động, vừa là nguồn tri thức phong phú để lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng Không dừng lại ở đó, bản đồ còn giúp HS đào xới sâu hơn vào “miếng đất” tri thức mà mình đã lĩnh hội trước đó, giúp các em có thêm chất men hứng thú tiếp nhận tri thức và hình thành các kĩ năng, năng lực khác
Trang 15Với người dạy, bản đồ lại là chất xúc tác để làm cho bài giảng sâu sắc hơn, tinh giản
mà đầy đủ
1.3 Đặc điểm chương trình và SGK địa lí lớp 12 THPT ( Ban cơ bản)
1.3.1 Mục tiêu của chương trình địa lí lớp 12
a Mục tiêu chung chương trình Địa lí THPT
Môn địa lí ở THPT nhằm góp phần hoàn thiện học vấn phổ thông cho HS, phát triển tư duy logic, tạo điều kiện cho HS tiếp tục học lên các lĩnh vực khoa học tự nhiên; cũng cố và phát triển tiếp bốn năng lực chủ yếu của HS đã được hình thành từ cấp cơ
sở, đáp ứng mục tiêu giáo dục và phát triển con người Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa - hiện đại hóa Các năng lực đó là:
- Năng lực hành động có hiệu quả trên cơ sở những kiến thức kĩ năng, phẩm chất đã được hình thành trong quá trình học tập, rèn luyện và giao tiếp
- Năng lực hợp tác, phối hợp hoạt động trong học tập và đời sống
- Năng lực sáng tạo, có thể thích ứng với những thay đổi trong cuộc sống
- Năng lực tự khẳng định bản thân
Tất cả những điều nói ở trên được thực hiện thông qua việc phát huy có hiệu quả các đặc trưng của bộ môn, được quán triệt từ việc cơ cấu 1 chương trình có hệ thống, hợp lý đến việc lựa chọn các chuẩn về kiến thức, kĩ năng; ở việc thể hiện các yêu cầu này trong SGK, các sách tham khảo; và cuối cùng là ở việc tổ chức dạy học, việc đánh giá kết quả học tập của HS
b Mục tiêu cụ thể của chương trình địa lí 12
Chương trình địa lí 12 dành cho địa lí Việt Nam gồm cả địa lí tự nhiên và địa lí kinh tế - xã hội Mục tiêu của chương trình này là:
- Về kiến thức: Tiếp tục hoàn thiện kiến thức của HS về địa lí Việt Nam Học
xong chương trình địa lí 12, HS cần nắm được các đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, dân cư, kinh tế và một số vấn đề đang được đặt ra nhằm sử dụng hợp lý tự
Trang 16nhiên, giảm thiểu hậu quả của thiên tai, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, phát triển kinh tế - xã hội của cả nước cũng như của các vùng lãnh thổ, địa phương nơi học sinh đang sống
- Về kĩ năng: Tiếp tục hoàn thiện cũng cố và phát triển các kĩ năng địa lí nhằm
phát triển hơn nữa tư duy địa lí cho HS, đó là tư duy tổng hợp, gắn với lãnh thổ, có liên
hệ thường xuyên với thực tiễn đời sống và sản xuất Các kĩ năng cụ thể là:
+ Quan sát, nhận xét, phân tích, tổng hợp, đánh giá các sự vật hiện tượng địa lí + Sử dụng các bản đồ, lược đồ, biểu đồ, lát cắt, số liệu thống kê
+ Thu thập, xử lý và trình bày các thông tin địa lí
+ Vận dụng kiến thức để giải thích các hiện tượng, sự vật địa lí và để ứng dụng vào thực tiễn của cuộc sống
- Về thái độ, tình cảm: Làm giàu thêm ở HS tình yêu quê hương, đất nước, tinh
thần tự cường dân tộc và niềm tin vào tương lai của đất nước, của dân tộc; cũng cố cho
HS thế giới quan khoa học, nhân sinh quan đúng đắn, tinh thần trách nhiệm trong bảo
vệ môi trường, xây dựng kinh tế xã hội ở quê hương
1.3.2 Cấu trúc chương trình địa lí 12 - ban cơ bản
Trước hết, cần lưu ý rằng, kiến thức về địa lí tự nhiên Việt Nam đã được đề cập khá hệ thống, tuy với thời lượng không nhiều ở lớp 8 (23 tiết) Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam cũng được dạy một cách khá cơ bản ở lớp 9 (52 tiết) Nay, chương trình địa
lí Việt Nam bao gồm cả địa lí tự nhiên và địa lí kinh tế - xã hội lại được dạy ở lớp 12 (53 tiết) Do ở nước ta đang tiến tới phổ cập trung học cơ sở, không phải mọi HS đều
có điều kiện hoàn thành giáo dục THPT, nên cấu tạo chương trình đồng tâm và nâng cao như hiện nay là hợp lý Điểm khác biệt quan trọng trong chương trình địa lí 12 là ở tính nâng cao, đòi hỏi HS không chỉ nhận biết mà còn phải giải thích các hiện tượng địa lí tự nhiên và kinh tế - xã hội; là ở việc lựa chọn và trình bày các nội dung dưới hình thức các vấn đề Các kĩ năng được nâng cao hơn nhiều, với những bài tập đòi hỏi phải tổng hợp kiến thức và có nhiều thao tác tư duy, trình bày các báo cáo ngắn (Viết hoặc nói trước lớp) Bên cạnh các bài tập cá nhân, các hoạt động theo nhóm được chú ý nhằm tăng cường khả năng hợp tác của HS
Trang 17Địa lí 12 được cấu tạo theo đơn vị kiến thức lớn, sắp xếp theo logic của khoa học và phù hợp với logic của quá trình dạy học Đó là các phần chủ yếu sau đây:
+ Việt Nam trên đường đổi mới và hội nhập (1 tiết)
+ Địa lí tự nhiên (14 tiết.)
+ Địa lí dân cư (4 tiết)
+ Địa lí kinh tế (24 tiết)
+ Địa lí địa phương (2 tiết)
+ Ôn tập và kiểm tra (8 tiết)
Bài mở đầu (bài 1) nhằm giới thiệu bối cảnh quốc tế và trong nước, những thành tựu đã đạt được trong công cuộc đổi mới và những định hướng chính để nước ta tiếp tục đổi mới và hội nhập
Phần địa lí tự nhiên Việt Nam không chỉ đề cập đến các đặc điểm cơ bản của thiên nhiên Việt Nam, những quy luật phân hóa lãnh thổ tự nhiên, mà còn đánh giá tự nhiên như các nguồn lực thường xuyên và cần thiết để phát triển kinh tế - xã hội Vì thế, các kiến thức về địa lí tự nhiên sẽ được cũng cố và vận dụng khi học về địa lí kinh
tế - xã hội Việt Nam; cách trình bày các nội dung sẽ tạo ra một thể thống nhất cần thiết trong chương trình và SGK
Địa lí dân cư đề cập đến những nét cơ bản về dân cư, lao động và việc làm, chất lượng cuộc sống của dân cư hiện nay Phần này không chỉ nhấn mạnh dân cư vừa là lực lượng sản xuất, vừa là lực lượng tiêu thụ, mà còn cho HS thấy rằng việc nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư là mục tiêu xã hội của công cuộc đổi mới và phát triển đất nước
Địa lí các ngành kinh tế được bắt đầu từ cái nhìn tổng quan về sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế Trên nền của ba khu vực kinh tế lớn (khu vực I: Nông, lâm nghiệp và thủy sản; khu vực II: Công nghiệp và xây dựng; khu vực III: Dịch vụ) các vấn đề phát triển và phân bố các ngành kinh tế đã được lựa chọn để phân tích, tổng hợp Có thể nói, những kiến thức được chọn lọc để HS hiểu được cơ cấu ngành của nền kinh tế là nền tảng để HS nắm vững được các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội của các vùng
Trang 18Khi học về các vùng, chương trình chỉ đề cập đến các vấn đề tiêu biểu, được lựa chọn từ rất nhiều vấn đề phải giải quyết của các vùng lãnh thổ nước ta Những vấn đề này có bản chất địa lí rõ nét và có ý nghĩa lâu dài
1.3.3 Đặc điểm SGK địa lí 12
- SGK địa lí 12 được biên soạn thành từng bài, phù hợp với nội dung một tiết học (45 phút) theo chương trình Giáo dục phổ thông môn địa lí
- SGK địa lí 12 gồm 45 bài, trong đó có 35 bài lí thuyết và 10 bài thực hành
- Dù ở lớp cuối cấp THPT, nhưng SGK vẫn được cấu tạo thành các bài học tương đối độc lập Trong trường hợp một số kiến thức khó chia tiết, thì các tác giả chấp nhận phương án là có bài tiếp theo, chẳng hạn như bài 4 và 5 về lịch sử hình thành và phát triển lãnh thổ Việt Nam, bài 9 và 10 về thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa…
- Mỗi bài học đều có kênh hình, kênh chữ và số liệu minh họa
+ Về kênh chữ: Do chú ý đến yêu cầu đây là lớp cuối cấp, môn địa lí thường là môn thi tốt nghiệp THPT, là môn thi vào đại học, cao đẳng khối C, nên không quá hạn chế kênh chữ, nhằm tạo điều kiện cho HS tự học, ôn tập và nắm được các kiến thức chuẩn xác Các bài học đều chia thành các đề mục lớn (thường mỗi bài có hai đến ba
đề mục lớn) ứng với các đơn vị kiến thức HS cần nắm vững Kênh chữ và kênh hình đã được gia công để tạo thành thể thống nhất hữu cơ
Khi đề cập đến các vấn đề của tự nhiên và kinh tế xã hội các tác giả đã cố gắng đưa vào những kết quả nghiên cứu mới về tự nhiên Việt Nam, thông tin cập nhật về sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, các ngành và các vùng lãnh thổ Để đảm bảo tính chính thức và nhất quan của các số liệu thống kê, tập thể tác giả lấy số liệu năm
2006 theo niêm giám thống kê 2006 (vì số liệu năm 2006 là ước tính) Trong phần phân tích, để phản ánh các xu hướng mới nhất, đôi chổ có sử dụng các thông tin kinh tế
- xã hội đến thời điểm năm 2007
+ Về kênh hình: Chủ yếu là các sơ đồ, biểu đồ và bản đồ (hoặc lược đồ) Các hình minh họa phù hợp giúp HS tri giác nhanh, phát hiện được các xu thế chính, các đặc điểm chủ yếu nhất là sự vật, hình tượng Một số sơ đồ, biểu đồ còn thể hiện các
Trang 19mối quan hệ qua lại giữa các hiện tượng, quá trình địa lí Lưu ý rằng, mặc dù một số bản đồ có tỉ lệ bản đồ, có cơ sở toán học khá tốt, nhưng trong quan niệm của các tác giả, chúng tôi vẫn sử dụng thuật ngữ “lược đồ”, bởi vì trong khi khái quát hóa bản đồ, các tác giả đã chỉ đưa nội dung một cách chấm phá và nhằm nhấn mạnh những kiến thức quan trọng nhất
Các câu hỏi giữa bài và câu hỏi bài tập cuối bài là bộ phận hữu cơ trong SGK, không những dùng để chỉ ra những kiến thức cơ bản mà HS cần nắm vững mà còn dùng để rèn luyện kĩ năng, củng cố, mở rộng kiến thức, giúp HS có tác phong nghiên cứu
Đáng chú ý nhất là trong một số bài lí thuyết và cả bài thực hành có yêu cầu HS
sử dụng Atlat địa lí Việt Nam do công ti bản đồ và tranh ảnh giáo dục – nhà xuất bản giáo dục biên soạn và xuất bản Bản đồ là ngôn ngữ thứ hai của địa lí Atlat địa lí được coi là một công cụ không thể thiếu để dạy và học địa lí 12 Vì vậy, việc đưa các câu hỏi
và bài tập có liên quan đến Atlat địa lí Việt Nam là nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy và học địa lí trong nhà trường
Trong tổng số 45 bài, có đến 10 bài thực hành, như vậy là tỉ lệ trên 20% về thời lượng Điều này cho thấy vai trò của các bài thực hành nhằm nâng cao các kĩ năng địa
lí sau đây cho HS:
- Vẽ lược đồ khung lãnh thổ Việt Nam Yêu cầu HS vẽ được khung lãnh thổ Việt Nam đã được thực hiện từ lâu ở trường THPT, nhưng trong các chương trình trước đây không bố trí trong kế hoạch dạy học và cũng không có tài liệu chính thức Việc vẽ khung lãnh thổ Việt Nam có tác dụng rất tốt, giúp cho HS có được tư duy không gian, biết thể hiện các hiểu biết của mình về địa lí Tổ Quốc bằng những lược đồ đơn giản Hình ảnh của đất nước được in sâu vào trí nhớ của HS cũng là một cách để các em yêu Tổ Quốc và tự hào về Tổ Quốc Bài thực hành vẽ khung lãnh thổ Việt Nam còn là cơ sở để tổ chức các bài thực hành điền các đối tượng kinh tế lên lược đồ
- Đọc bản đồ địa lí tự nhiên Việt Nam và bản đồ kinh tế Việt Nam (cả nước hay các vùng) để phát hiện các đặc điểm về tự nhiên hay kinh tế - xã hội, xác định các mối quan hệ không gian giữa các đối tượng và các quá trình tự nhiên hay kinh tế - xã hội
Trang 20- Vẽ biểu đồ và phân tích bảng số liệu về một số tiêu chí kinh tế - xã hội theo yêu cầu cho trước
- Thu thập, tổng hợp thông tin để viết báo cáo ngắn theo chủ đề
Do SGK là sách HS, nên trong các bài thực hành chỉ trình bày nội dung thực hành Các gợi ý về cách tổ chức thực hành được trình bày trong sách GV
1.4 Đặc điểm tâm lí và trình độ nhận thức của HS lớp 12
Lứa tuổi THPT bao gồm giai đoạn từ 14 – 15 đến 17 – 18 tuổi, tương ứng với lứa tuổi HS từ lớp 10 đến lớp 12 Ở độ tuổi này các em đã có những chuyển biến về mặt thể chất và tâm lí Lúc này sự phát triển về thể trạng, sức khỏe và trí tuệ là cao nhất HS có mong muốn đi sâu vào cuộc sống, chọn nghề, khẳng định vị trí của mình trong xã hội
HS lớp 12 là HS lớp cuối cấp THPT, đây là thời kì các em đã được phát triển khá đầy đủ về thể chất, tư duy lô gic, tư duy trừu tượng, sự hoài nghi khoa học, thích tranh luận, bước đầu đã có kinh nghiệm học tập, có ý thức đúng đắn về nhiệm vụ học tập của mình Các em có nhu cầu tìm tòi, giải quyết mâu thuẫn một cách thấu đáo
Về đặc điểm cơ thể đã bắt đầu đi vào thế ổn định và đạt được sự trưởng thành về mặt thể lực, nhưng sự phát triển cơ thể còn kém so với sự phát triển cơ thể của người lớn Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng của não phát triển Điều đó tạo tiền đề cần thiết cho
sự phức tạp hóa hoạt động phân tích, tổng hợp…
Với những nhu cầu học tập ngày càng cao, đòi hỏi HS lớp 12 phải có tính độc lập, tinh thần tự học thì mới có thể nắm vững bản chất của các khái niệm khoa học HS càng trưởng thành, kinh nghiệm sống càng dồi dào và ý thức được mình đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời Ở lứa tuổi này, các em đã hình thành những hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp HS lớp 12 đã xác định cho mình một hứng thú ổn định đối với một môn học nào đó, đối với một lĩnh vực tri thức nhất định Hứng thú này thường liên quan đến việc lựa chọn nghề của HS
Thái độ học tập của thanh niên HS được thúc đẩy bởi động cơ học tập có cấu trúc khác với lứa tuổi trước Các em có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một
Trang 21cách độc lập và sáng tạo Sự ý thức của HS THPT diễn ra mạnh mẽ, các em khao khát muốn tìm hiểu mình, trên cơ sở nhận thức đó đã biểu hiện thái độ đối với bản thân mình Các em rất vui sướng, tự hào khi đạt kết quả hoạt động hay hoàn thành nhiệm vụ học tập Hay lo buồn khi là bài sai, hay một điều gì đó Khả năng tự đánh giá của HS dần dần đúng đắn hơn, mang tính khách quan hơn và các em sẽ có niềm tin vào năng lực của mình để tự học, tự nghiên cứu, tự tìm tòi kiến thức Chính vì vậy việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập là rất cần thiết với năng lực học tập của HS
Ở lứa tuổi này, tính chủ định được phát triển mạnh mẽ ở tất cả các quá trình nhận thức Tri giác, quan sát có mục đích đạt tới mức độ cao, có hệ thống và toàn diện hơn Ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ nét trong sự phát triển trí tuệ
Tuy nhiên do trình độ phát triển tâm lý chưa chín muồi cùng với những thiếu sót trong giáo dục ở gia đình, nhà trường và xã hội, một số thanh niên HS chưa xác định được ý nghĩa của cuộc sống, không có định hướng nghề nghiệp và do đó không thể lập được cho bản thân một kế hoạch sống cụ thể Vì thế, khi đối diện với những vấn đề về học tập và chọn nghề, các em dễ hoang mang và có những đáp ứng tiêu cực Mặt khác, thái độ học tập của một số em còn có nhược điểm, một mặt các em tích cực học một số môn mà các em cho là quan trọng đối với nghề mình đã chọn, một mặt lại sao nhãng với các môn học khác hoặc chỉ học để lấy điểm trung bình Các em HS lớp 12 thường gặp khó khăn về cảm xúc trí tuệ ở mức độ cao nhất Sự “mệt trí”, “sức ép” và sự “thất vọng khi không đạt được mục tiêu” là ba cảm nhận thường xuyên của HS
Đây là một thời kì dài có sự phát triển nhảy vọt cả về thể chất lẫn tâm lý So với lứa tuổi thiếu niên, các em ở lứa tuổi này có nhận thức mang tính rộng rãi, sâu sắc và bền hơn Về ý thức đại học: Các em có khát vọng hiểu biết, có khả năng tự chủ sáng tạo trong học tập
1.5 Thực trạng rèn luyện kĩ năng bản đồ trong dạy học địa lí 12 ở một số trường THPT trên địa bàn Quảng Nam
Trang 221.5.1 Mục tiêu, thời gian, địa điểm, nội dung và phương pháp điều tra
- Mục tiêu điều tra: Tìm hiểu thực trạng vấn đề rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ trong dạy học địa lí 12 ở trường THPT nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu của đề tài
- Thời gian: Thực hiện vào tháng 3 năm 2012
- Địa điểm điều tra: Tổ chức điều tra tại các trường:
+ Trường THPT Nguyễn Duy Hiệu, Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
+ Trường THPT Trần Quý Cáp, Hội An, tỉnh Quảng Nam
- Nội dung điều tra: Điều tra GV Địa lí và HS lớp 12 tại một số trường ở Quảng Nam, về quan điểm, thực trạng, những thuận lợi và khó khăn, phương pháp của việc rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ cho HS trong học tập địa lí
- Phương pháp điều tra: Điều tra bằng phiếu
1.5.2 Thực trạng của việc rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ cho học sinh qua dạy học địa lí 12 của GV
Để đảm bảo cho việc đánh giá chúng tôi tiến hành khảo sát, điều tra ở 15 GV dạy địa lí tại một số trường THPT trên địa bàn Quảng Nam
Qua kết quả khảo sát lấy ý kiến của 15 GV địa lí ở các trường THPT thì chúng tôi đã thu thập được nhiều kiến khác nhau của GV trong việc nhận thức vai trò của việc rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ trong dạy học địa lí 12 hiện nay Điều này được thể hiện cụ thể qua bảng sau:
Bảng 1.1 Nhận thức của GV địa lí trong việc rèn luyện kĩ năng bản đồ cho HS
Như vậy, đa số GV được hỏi đều cho rằng việc rèn luyện kĩ năng sử dụng bản
đồ là rất cần thiết và cần thiết Vì môn địa lí nói chung và địa lí 12 nói riêng gắn liền với lãnh thổ không gian cụ thể, mà không gian đó lại được phản ánh trên các bản đồ
Vì vậy, để HS có thể tiếp thu và tự khai thác nguồn tri thức từ bản đồ trong quá trình
Trang 23học tập cả trên lớp và về nhà thì việc rèn luyện kĩ năng bản đồ cho HS là điều hết sức cần thiết
Về mục đích sử dụng bản đồ của GV trong dạy học địa lí 12
Qua khảo sát và dự giờ một số tiết dạy của các GV địa lí trong đợt thực tập sư phạm, thì chúng tôi thấy rằng vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về mục đích sử dụng phương tiện dạy học nói chung và sử dụng bản đồ nói riêng Điều đó còn tuy thuộc vào nhận thức của từng GV trong việc sử dụng bản đồ cũng như nhận thức về đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của HS
Bảng 1.2 Mục đích sử dụng bản đồ của GV trong dạy học địa lí
Phương tiện minh họa cho bài dạy trên lớp 3 15,8
Là nguồn tri thức để khai thác kiến thức 11 57,9 Phương tiện để hướng dẫn HS làm bài tập ở trên lớp 2 10,5 Như vậy, đa số GV được hỏi đều cho rằng trong dạy học địa lí 12 bản đồ có chức năng chủ yếu là nguồn tri thức để khai thác Tuy nhiên, một số GV lại có ý kiến rằng nên kết hợp cả 4 chức năng trên trong dạy học địa lí để đạt hiệu quả cao nhất trong dạy học
Về mức độ sử dụng bản đồ trong quá trình dạy học địa lí 12 của GV:
Xuất phát từ nhận thức về việc sử dụng bản đồ cũng như quan niệm về chức năng của bản đồ trong dạy học địa lí nên ảnh hưởng lớn đến mức độ hướng dẫn HS sử
dụng bản đồ để khai thác bản đồ của GV Điều này được thể hiện như sau:
Bảng 1.3 Mức dộ sử dụng bản đồ trong quá trình dạy học địa lí lớp 12 THPT của
GV
Trang 24Ít sử dụng 5 33,3
Qua bảng 1.3 ta thấy hầu hết các GV thường xuyên sử dụng bản đồ trong dạy học địa lí lớp12, điều này phù hợp với việc đối mới phương pháp dạy học Tuy nhiên, vẫn còn một số GV lại ít sử dụng bản đồ trong dạy học địa lí 12 Qua trao đổi với các
GV này chúng tôi được biết nguyên nhân là do hệ thống bản đồ của nhà trường không đầy đủ, chất lượng chưa tốt hay do thời gian 1 tiết học quá ngắn cho nên việc sử dụng bản đồ trong 1 tiết học sẽ tốn nhiều thời gian vì nhiều HS chưa biết cách khai thác, phân tích và nhận xét bản đồ còn chưa thành thạo nên việc khai thác tri thức từ bản đồ còn gặp nhiều khó khăn, mất nhiều thời gian
Nhận thức của GV về kĩ năng rèn luyện cho HS sử dụng bản đồ trong quá trình dạy học địa lí 12
Sau khi thâm nhập thực tế ở các trường THPT dưới các hình thức trao đổi, trò chuyện, điều tra, tìm hiểu ý kiến của các GV địa lí về việc rèn luyện các kĩ năng sử dụng bản đồ cho HS tôi nhận thấy rằng: Hầu hết các GV đã chú trọng rèn luyện cho HS một số kĩ năng sử dụng bản đồ sau:
Bảng 1.4 Nhận thức của GV về kĩ năng bản đồ cần luyện cho HS trong dạy học
địa lí 12
Kĩ năng đọc các đối tượng địa lí trên bản đồ 1 6,2
Kĩ năng phân tích, nhận xét các đối tượng địa lí trên bản đồ 7 43,8
Kĩ năng phát hiện các mối quan hệ giữa các hiện tượng địa lí 8 50 Như vậy qua số liệu trên chúng ta có thể thấy được rằng việc rèn luyện các kĩ năng bản đồ cho HS lớp 12 được các thầy cô rất quan tâm Đặc biệt chú trọng ở đây là
kĩ năng phát hiện các mối quan hệ giữa các hiện tượng địa lí trên bản đồ Đây là một kĩ năng rất quan trọng, kĩ năng này không chỉ dựa trên sự hiểu biết về bản đồ mà còn dựa trên những kiến thức địa lí, càng nắm chắc, càng hiểu sâu, càng tích lũy được nhiều kiến thức thì kĩ năng này càng thành thạo Đồng thời chương trình địa lí 12 nhất là
Trang 25phần các vùng kinh tế học về những mối liên hệ trong tổng thể phát triển kinh tế của các vùng Vậy nên, HS cần được rèn luyện kĩ năng này để khai thác và tìm ra các tri thức địa lí mới
Tuy nhiên, cũng thông qua tiếp xúc trò chuyện với các thầy cô giảng dạy bộ môn địa lí, thầy cô cũng nêu lên những khó khăn trong việc rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ cho HS như: Việc đáp ứng khối lượng kiến thức lớn, thời gian hạn chế trong 1 tiết học là 45 phút là rất ít nên việc hướng dẫn rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ cho
HS còn hạn chế Phần lớn chưa được sự hướng dẫn cụ thể từng bước tiến hành, tiết thực hành riêng về bản đồ chưa có, GV chưa có thời gian thực hiện mẫu các bước, hầu như HS tự nghiên cứu thêm
Về phương pháp GV sử dụng trong rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ cho HS
Bảng 1.5 Kết quả điều tra phương pháp GV sử dụng để rèn luyện kĩ năng sử dụng
Qua điều tra thì có 5 ý kiến GV (33,3%) cho rằng việc rèn kĩ năng sử dụng bản
đồ cho HS bằng phương pháp đàm thoại gợi mở là mang lại hiệu quả Đây là phương pháp dạy học tích cực đang được khuyến khích sử dụng rộng rãi Với hệ thống câu hỏi gợi mở tạo điều kiện để HS tự khai thác nguồn tri thức có trên bản đồ Hiện nay phương pháp dạy học này mang lại hiệu quả rất cao nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi giúp
HS tự khai thác nguồn tri thức từ bản đồ tốt hơn Rất ít GV sử dụng phương pháp thuyết trình hay thảo luận (6,7% ý kiến), bởi theo họ thì sự dụng bản đồ trong phương
Trang 26pháp này chỉ mang tính minh họa hoặc kết hợp khai thác những kiến thức đơn giản nên việc rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ cho HS sẽ không đạt được kết quả cao Đặc biệt
ở đây phương pháp hướng dẫn HS khai thác tri thức từ bản đồ được các GV sử dụng nhiều nhất (chiếm 53,3% ý kiến), đây là phương pháp dạy học tích cực mang lại hiệu quả cao, phương pháp này sẽ hướng dẫn HS từng bước cụ thể để có thể khai thác tri thức từ bản đồ Tuy nhiên khi sử dụng phương pháp này, một mặt GV phải hướng dẫn
HS biết cách vận dụng các thao tác tư duy để tìm ra các mối quan hệ địa lí, mặt khác phải hướng dẫn HS vận dụng được các kĩ năng về bản đồ thích hợp Do vậy, khi sử dụng phương pháp này GV còn gặp nhiều khó khăn
1.5.3 Thực trạng của việc rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ trong học tập Địa lí 12 của HS
Cùng với việc tiến hành khảo sát GV địa lí, chúng tôi đã tiến hành thăm dò lấy ý kiến của 183 HS lớp 12 trên địa bàn Quảng Nam để tạo cơ sở cho việc đánh giá và kết luận về tình hình rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ trong dạy học địa lí ở trường THPT
Qua điều tra thăm dò bằng phiếu điều tra 183 HS lớp 12 ở 2 trường: THPT Trần Quí Cáp và THPT Nguyễn Duy Hiệu (Quảng Nam), đã thấy mức độ sử dụng bản đồ trong việc học địa lí như sau:
Bảng 1.7 Ý nghĩa của việc rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ đối với HS
Trang 27Ý nghĩa Số lượng
HS
Tỉ lệ %
Giúp HS dễ hiểu, dễ nhớ, khắc sâu kiến thức 98 53,5
Dễ tìm ra kiến thức bài học, tạo hứng thú trong giờ học 74 41,5
Qua bảng 1.7 ta thấy phần lớn HS cho rằng việc rèn luyện kĩ năng sử dụng bản
đồ giúp các em dễ hiểu, dễ nhớ, dễ tìm ra kiến thức của bài học, khắc sâu kiến thức, đồng thời tạo hứng thú cho bộ môn Tuy nhiên, vẫn còn một số HS lại cho rằng việc rèn luyện kĩ năng này không giúp các em khai thác được vấn đề gì mới Như vậy, việc rèn luyện kĩ năng có vai trò rất quan trọng nó sẽ giúp các em rất nhiều trong việc nắm vững kiến thức, hầu hết các em cho rằng việc sử dụng bản đồ để khai thác kiến thức có mang lại hiệu quả
Từ nhận thức về ý nghĩa của việc rèn luyện kĩ năng bản đồ đã ảnh hưởng tới thái
độ của các em trong việc rèn luyện kĩ năng này Hầu hết HS có thái độ tích cực tự giác khi sử dụng bản đồ để khai thác kiến thức địa lí với 131 (71,6%) ý kiến Bên cạnh đó, vẫn còn 52 ( 28,4%) tổng số ý kiến lại có thái độ đối phó
Ta có thể thấy bản đồ đóng vai trò rất quan trọng trong việc khai thác kiến thức,
vì vậy mà HS cũng đã thấy được những tác động của bản đồ đối với việc học tập địa lí Qua trao đổi với các em thì phần lớn HS rất hứng thú với bài học mà GV sử dụng bản
đồ, 89% HS cho rằng sử dụng bản đồ để khai thác kiến thức có mang lại hiệu quả Tuy nhiên, vẫn còn nhiều HS còn gặp nhiều khó khăn khi sử dụng bản đồ, 11% HS còn lại cho rằng việc sử dụng bản đồ không mang lại hiệu quả Vậy việc rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ trong dạy học địa lí hết sức quan trọng cho nên cần có những phương pháp rèn luyện kĩ năng này cho HS Sử dụng bản đồ trong học tập sẽ giúp cho giờ học sôi nổi và chất lượng cao, giúp các em dễ hiểu dễ nhớ, khắc sâu kiến thức và hiểu bài ngay tại lớp Tuy nhiên, trong khi sử dụng bản đồ trong học tập địa lí hầu hết các em đều gặp phải những khó khăn, hạn chế khi thực hiện các thao tác trên bản đồ như khó tìm được những điều cần tìm, do ít sử dụng nên việc nắm bắt hệ thống kí hiệu còn yếu hay chưa biết khai thác bảng chú giải sao cho hiệu quả, nhiều kĩ năng bản đồ chưa nắm
Trang 28được kĩ… Bởi vậy việc tăng cường sử dụng các phương pháp rèn luyện kĩ năng địa lí cho HS đặc biệt là kĩ năng bản đồ để nâng cao quá trình tư duy, tự nghiên cứu, tự tìm tòi kiến thức mới từ bản đồ là hết sức cần thiết, góp phân nâng cao hiệu quả dạy học
* Kết quả điều tra và nguyên nhân chung của thực trạng:
Như vậy, qua việc thăm dò thực tế ý kiến của thầy (cô) giáo và điều tra, tìm hiểu
HS các trường THPT trên địa bàn Quảng Nam, thì chúng tôi nhận thấy rằng, việc sử dụng bản đồ đã góp phần vào việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, cho phép
GV tiến hành nhiều hình thức dạy học mới qua đó kích thích được hứng thú học tập, phát huy tính tích cực, độc lập sáng tạo của HS Tóm lại, qua việc tìm hiểu về mực độ, cách thức sử dụng bản đồ của GV tại trường THPT trên địa bàn Quảng Nam, cho thấy rằng: Hầu hết các GV đã nhận thức được tầm quan trọng của bản đồ và vấn đề rèn luyện kĩ năng bản đồ cho HS Việc dạy học địa lí gắn với bản đồ được thầy cô sử dụng thường xuyên và nó có ảnh hưởng tích cực lớn đối với HS Song cách thức rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ của GV thì vẫn chưa phát huy được hết tính tích cực của HS và hiệu quả mang lại chưa cao
Đối với HS, hầu hết các em đều hứng thú với các bài học có sử dụng bản đồ, nó giúp các em dễ tìm ra tri thức, dễ hiểu dễ nhớ và khắc sâu kiến thức một cách nhanh chóng Tuy nhiên, đa số các em đều gặp phải không ít khó khăn khi sử dụng bản đồ trong quá trình học tập địa lí Qua đây, có thể thấy được kĩ năng sử dụng bản đồ của các em vẫn còn yếu
Nguyên nhân của thực trạng nói trên là do: Nhiều Thầy (Cô) giáo và không ít
HS vẫn xem môn Địa lí là môn phụ nên Thầy (Cô) ít chú trọng đầu tư nhằm nâng cao chất lượng dạy học và HS cũng có thái độ học tập chưa tích cực đối với môn học này Bản thân một số GV chưa thấy hết vai trò của bản đồ trong dạy học địa lí 12 Phần lớn các em học địa lí nhưng còn chủ quan và học một cách thụ động, việc không nắm bắt được kiến thức trong quá trình học tập hoặc học dưới dạng học vẹt, và ở giai đoạn này các em có xu hướng học lệch chỉ thập trung vào các môn học liên quan đến nghề
Trang 29nghiệp mà các em đã chọn, chủ yếu là các khối A,B,D Nên về cơ bản các em không nắm được kiến thức một cách khoa học và vững chắc, ít chú tâm vào môn địa lí, vì vậy
kĩ năng sử dụng bản đồ của HS trong học tập địa lí còn yếu do các em không thường xuyên rèn luyện và chưa được hướng dẫn kỹ phương pháp sử dụng bản đồ…
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG BẢN ĐỒ
TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12 2.1 Những kĩ năng bản đồ cơ bản trong địa lí 12
Trong chương trình địa lí lớp 12, đặc biệt là phần địa lí các vùng kinh tế có các
kĩ năng bản đồ cơ bản mà GV cần rèn luyện cho HS là:
Bảng 2.1 Các kĩ năng sử dụng bản đồ cụ thể trong dạy học địa lí 12 – THPT
lí Việt Nam hoặc bản
đồ tự nhiên Việt Nam
- Phát hiện các mối liên hệ địa lí giữa vị trí với tự nhiên, tự nhiên với tự nhiên;
tự nhiên với kinh tế, kinh tế với kinh tế
Trang 30hội; tự nhiên với các ngành kinh tế; kinh tế với kinh tế
Bài 35: Vấn đề phát
triển kinh tế - xã hội
ở Bắc Trung Bộ
- Bản đồ kinh tế chung của vùng Bắc Trung Bộ và Atlat địa lí Việt Nam hoặc bản đồ hành chính Việt Nam
- Xác định vị trí và phạm vi lãnh thổ của vùng Bắc Trung Bộ
- Trình bày hiện trạng phát triển và phân bố một số ngành kinh tế đặc trưng của vùng
- Xác định trên bản đồ các ngành công nghiệp chủ yếu của các trung tâm công nghiệp Thanh Hóa, Vinh và Huế
- Phát hiện các mối quan hệ địa lí: Vị trí với tự nhiên, tự nhiên với kinh tế xã hội;
kinh tế - kinh tế
Bài 36: Vấn đề phát
triển kinh tế - xã hội
ở Duyên hải Nam
Trung Bộ
- Bản đồ hành chính Việt Nam
- Bản đồ kinh tế chung của vùng Bắc Trung Bộ và Atlat
địa lí Việt Nam
- Xác định vị trí và phạm vi lãnh thổ của vùng duyên hải Nam Trung Bộ
- Trình bày hiện trạng phát triển và phân bố một số ngành kinh tế đặc trưng của vùng
- Xác định các tuyến đường bộ, đường sắt, các cảng và sân bay trên bản đồ của Duyên hải Nam Trung Bộ
- So sánh sự phát triển ngành thủy sản ở Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung
Trang 31thác thế mạnh ở Tây
Nguyên
và bản đồ tự nhiên Việt Nam
- Bản đồ kinh tế chung của vùng Tây Nguyên và Atlat địa
lí Việt Nam
phân tích ý nghĩa vị trí địa lí
- Nhận xét và giải thích sự phân bố một
số ngành sản xuất nổi bật: trồng và chế biến cây công nghiệp lâu năm, thủy điện
- Xác định các vùng đất badan và vùng phân bố cây công nghiệp ở Tây Nguyên
- Phân tích các mối quan hệ địa lí: Vị trí-tự nhiên, kinh tế; tự nhiên-kinh tế; kinh tế - kinh tế
Bài 38: Thực hành:
So sánh về cây công
nghiệp lâu năm và
chăn nuôi gia súc
và miền núi Bắc Bộ, Tây Nguyên
- Nhận xét và giải thích về những sự giống nhau và khác nhau trong sản xuất cây công nghiệp lâu năm giữa hai vùng
- Phân tích các mối liên hệ địa lí: tự nhiên với kinh tế, kinh tế với kinh tế
Atlat địa lí Việt Nam
- Xác định vị trí, giới hạn của vùng, phân tích ý nghĩa của vị trí địa lí
- Nhận xét, giải thích sự phân bố một số ngành kinh tế tiêu biểu của vùng
- Phân tích các mối quan hệ giữa đối tượng địa lí: Vị trí với kinh tế, tự nhiên
với kinh tế, kinh tế với kinh tế
Bài 41: Vấn đề sử
dụng hợp lí và cải
tạo tự nhiên ở Đồng
- Bản đồ kinh tế chung của vùng Đồng bằng sông Cửu
- Xác định vị trí của vùng
- Trình bày sự phân bố các loại đất chính của đồng bằng
Trang 32bằng sông Cửu Long Long và Atlat địa lí
Việt Nam
- Nhận xét và giải thích sự phân bố sản xuất lương thực, thực phẩm trong vùng
- Phân tích các mối liên hệ địa lí: Tự
nhiên - kinh tế; kinh tế - kinh tế
Dựa trên những kết quả phân tích cụ thể từng bài trong bảng 2.1, có thể khái quát các kĩ năng sử dụng bản đồ cần rèn luyện cho HS trong dạy học địa lí 12 như sau:
- Kĩ năng xác định vị trí địa lí của các vùng kinh tế
- Kĩ năng mô tả các yếu tố kinh tế - xã hội biểu hiện trên bản đồ
- Kĩ năng phát hiện mối liên hệ địa lí trên bản đồ
- Kĩ năng mô tả tổng hợp địa lí một khu vực trên bản đồ
2.2 Những điều cần chú ý khi rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ trong dạy học địa lia lớp 12 THPT
Khi rèn luyện kĩ năng bản đồ cho HS trong dạy học địa lí, người GV cần chú ý đến một số đặc điểm cơ bản sau:
- Căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ, nội dung và hình thức của các loại bài học (nội khóa, ngoại khóa), của các dạng bài tập, câu hỏi… để sử dụng bản đồ và rèn luyện
kĩ năng bản đồ cho HS một cách phù hợp Ví dụ, các bản đồ tự nhiên chủ yếu để giảng phần vị trí địa lí, hình dáng lãnh thổ của một đất nước hay một khu vực… còn bản đồ kinh tế thể hiện sự phân bố và phát triển các ngành kinh tế, dân số…Trước khi sử dụng cần giải thích mục đích, nội dung giải quyết để “nhìn thấy đường trước khi đi”
- Khi dạy một bài, cần sử dụng nhiều loại bản đồ nhằm rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ cho HS, nhưng ở nội dung cao hơn là biết kết hợp nhiều loại bản đồ nhằm
so sánh, đối chiếu giữa các bản đồ Đặc biệt là ở kĩ năng mô tả tổng hợp địa lí một khu vực trên bản đồ cần sử dụng nhiều loại bản đồ khác nhau
- Trong quá trình sử dụng bản đồ cần đề cao hoạt động của HS trong mọi khâu của bài học, từ kiểm tra bài cũ, tiến trình bài mới đến củng cố và ra bài tập về nhà GV cần đặc biệt coi trọng kĩ thuật khai thác bản đồ, coi bản đồ như một nguồn tri thức chứ không đơn thuần là dùng để minh họa
Trang 33- Cần kết hợp sử dụng bản đồ với các phương tiện dạy học khác như tranh ảnh,
sơ đồ, atlat…vì mỗi loại đồ dùng dạy học đều có tác dụng riêng trong quá trình dạy học Tuy nhiên cần chú ý chọn lọc những loại đồ dùng tiêu biểu sát với nội dung từng bài học, đảm bảo tính thẩm mĩ, tính giáo dục và có ý nghĩa thực sự Tránh tình trạng đưa quá nhiều sẽ làm phản tác dụng, đồng thời khi sử dụng các phương tiện dạy học này không chỉ coi như là một phương tiện trực quan đơn thuần mà phải sử dụng như một nguồn tri thức nhằm phát triển tư duy HS
- Khi sử dụng bản đồ phải đảm bảo cho tất cả HS đều quan sát được các sự vật, hiện tượng địa lí một cách rõ ràng, đầy đủ, đặc biệt cần chú ý tới vấn đề nhận thức, giáo dục thẫm mĩ cho HS Đảm bảo việc kết hợp với các phương pháp giảng dạy khác, chứ không coi đó là phương pháp độc tôn duy nhất
- Khi sử dụng bản đồ làm thế nào để đảm bảo được sự kết hợp giữa phương pháp sử dụng bản đồ và phương pháp dạy học
Bên cạnh đó, sử dụng bản đồ cần đi đúng quy trình chứ không thể ngẫu hứng Tìm hiểu bài dạy để định ra nội dung (một hiện tượng, khái niệm hay một định luật), nếu không dễ bị chệch hướng Biết trước những kĩ năng cần rèn luyện, dự kiến trước các phương tiện để có sự cân đối, hài hòa Không thể làm tới đâu hay tới đó Chi tiết hóa cách sử dụng theo từng nội dung, càng cụ thể thì càng dễ thực hiện Trong giáo án, bên cạnh việc nêu các trình tự, các bước lên lớp thì cần ghi rõ sử dụng lúc nào? Dùng như thế nào? Hệ thống câu hỏi thuộc dạng nào?
2.3 Phương pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ trong dạy học địa lí 12
2.3.1 Phương pháp rèn luyện kĩ năng xác định vị trí địa lí
a Khái niệm
Vị trí địa lí của một đối tượng là mối quan hệ không gian của nó đối với những đối tượng nằm bên ngoài nó và có liên quan đến nó, hoặc về mặt toán học, hoặc về mặt
tự nhiên, hoặc về mặt kinh tế, hoặc về mặt chính trị quốc phòng
Tùy theo mục đích của việc xác định vị trí địa lí của đối tượng mà lựa chọn các đối tượng khác có liên quan về mặt này hay mặt khác với nó do đấy phân biệt ra vị trí
địa lí tự nhiên hay vị trí địa lí kinh tế - xã hội
Trang 34Việc xác định vị trí địa lí có một ý nghĩa hết sức quan trọng:
- Vị trí địa lí của một khu vực cho phép chúng ta xét đoán về đặc điểm khí hậu
và qua đấy xét đoán cả về đặc điểm tự nhiên của khu vực đó, vì khí hậu tác động sâu sắc đến địa hình, đến sự hình thành thổ nhưỡng, chế độ thủy văn và đời sống của sinh vật
b Cách tiến hành
Trước tiên cần làm cho các em nắm được ý nghĩa quan trọng của vị trí địa lí, biết tự mình xác định vị trí địa lí khi tìm hiểu về một đối tượng địa lí bất kỳ và từ đó biết rút ra những kết luận cần thiết
Việc rèn luyện kĩ năng xác định vị trí địa lí trên bản đồ chỉ có thể bắt đầu từ chương trình địa lí các châu ở lớp 7 và tiếp tục phát triển ở các lớp trên vì lên lớp 7 các
em mới được tìm hiểu về các châu lục, quốc gia
Nên hướng dẫn HS xác định vị trí địa lí từ khu vực có phạm vi lớn (châu lục), sau đó đến khu vực có phạm vi nhỏ hơn (một khu vực của châu lục, một quốc gia…)
* Xác định vị trí địa lí tự nhiên
- Muốn làm rõ đặc điểm nổi bật vị trí địa lí của mỗi đối tượng thì chúng ta chỉ cần xem xét mối quan hệ của nó với các đối tượng khác có chọn lọc, những hiện tượng
có ý nghĩa nhất đối với nó
- Khi xác định vị trí địa lí của một châu lục, cần phải xem xét mối quan hệ của châu lục với các đường xích đạo, chí tuyến, vòng cực để có thể cắt nghĩa được đặc điểm khí hậu, tự nhiên Ngoài ra, phải xét mối quan hệ của nó với các châu lục khác, các đại dương, dòng biển chảy ven bờ (nếu có)
- Khi xác định các khu vực của châu lục, ta chỉ xem xét nó trong mối quan hệ không gian của chính châu lục đó (xem nó nằm ở phía nào của châu lục? Giáp biển, vịnh dòng biển nào? Các khu vực địa hình lân cận…)
- Trong nhiều trường hợp, phải xác định cả vị trí toán học của khu vực: Khi xác định vị trí một quốc gia, ngoài việc lựa chọn các đối tượng để xác định vị trí địa lí như đối với các khu vực tự nhiên, cần xem xét thêm mối quan hệ không gian với địa hình
và các nước tiếp giáp…
Trang 35Tóm lại, khi xác định vị trí địa lí tự nhiên của một đối tượng nào đó trên bản đồ, cần lựa chọn những yếu tố có ý nghĩa nhất đối với nó và rút ra những kết luận cần thiết từ vị trí địa lí của nó
* Xác định vị trí địa lí kinh tế:
Việc xác định vị trí địa kinh tế của một quốc gia, một khu vực chúng ta cũng dựa vào những yếu tố tự nhiên như: dòng biển, núi, sông, đồng bằng, và phân tích ý nghĩa của chúng đối với hoạt động và phát triển kinh tế của một nước hoặc khu vực đó thuận lợi hay không thuận lợi
Đối với vị trí địa lí kinh tế quan trọng nhất là vị trí ở gần những đường giao thông buôn bán quốc tế lớn, những trung tâm kinh tế phát triển, những thị trường quốc
tế lớn, những nơi có cơ sở hạ tầng phát triển, hay gần nguồn nguyên liệu
Tóm lại, khi xác định vị trí địa lí kinh tế của một quốc gia, một khu vực nào đó cần lựa chọn những đối tượng bên ngoài nó và có ý nghĩa kinh tế đối với nó, những đối tượng này có thể thuộc địa lí tự nhiên hay thuộc địa lí kinh tế Đương nhiên là khi xác định vị trí địa lí tự nhiên thì phải dựa vào bản đồ tự nhiên, còn khi xác định vị trí điạ lí kinh tế thì phải dựa vào cả bản đồ tự nhiên và kinh tế
* Xác định vị trí địa lí chính trị
Muốn xác định vị trí địa lí chính trị của một nước, cần xem xét mối quan hệ không gian của khu vực ổn định hay bất ổn về chính trị, với những nước thù địch hay những nước bè bạn
Cần chú ý rằng, vị trí địa lí chính trị một nước có thể thay đổi theo thời gian, theo từng giai đoạn lịch sử
Trang 36- Hướng dẫn các em tập xác định vị trí địa lí kinh tế, chính trị
Một số lưu ý:
- Vị trí địa lí là nhân tố mang lại bản sắc riêng cho mỗi đất nước, khu vực Giữa quốc gia này với quốc gia khác có thể có những nét giống nhau về tự nhiên, kinh tế hoặc chính trị, nhưng vị trí địa lí thì bao giờ cũng khác nhau
- Vị trí địa lí tự nhiên, vị trí kinh tế, vị trí chính trị có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
- Vị trí địa lí kinh tế và vị trí địa lí chính trị có sự thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử
- Cần hướng dẫn HS cách chọn lọc các đối tượng có ý nghĩa nhất đối với khu vực cần xem xét, để từ đó có thể rút ra những kết luận cần thiết nhất
Trang 37Hình 2.1 Bản đồ tự nhiên Việt Nam
- Cực Bắc ở vĩ độ 23023’B tại xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang
- Cực Nam ở vĩ độ 8034’B tại xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau
- Cực Tây ở kinh độ 1090 09’ Đ tại xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên
- Cực Đông ở kinh độ 1090 24’Đ tại xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa
Dựa vào bản đồ các nước Đông Nam Á và bản đồ địa lí tự nhiên Việt Nam GV yêu cầu HS lên xác định lại ranh giới hạn của Việt Nam trên bản đồ, và cho biết Việt Nam tiếp giáp với các nước nào? (HS sẽ dễ dàng xác định được Việt Nam tiếp giáp với các nước Trung Quốc; Lào; Campuchia; Thái Lan)
Trang 38Hình 2.2 Bản đồ các nước Đông Nam Á
Sau đó, GV có thể hỏi HS: Với vị trí địa lí như vậy thì lãnh thổ Việt Nam nằm ở khu vực nào? HS sẽ dễ dàng xác định được Việt Nam nằm ở rìa phía Đông của bán đảo Đông Dương, gần trung tâm của khu vực Đông Nam Á Sau khi HS xác định được Việt Nam nằm trong khu vực nào GV cho HS nhận xét về khu vực này dựa trên hiểu biết của các em? (Đây là khu vực có nền kinh tế phát triển năng động và có nền chính trị
tương đối ổn định và là khu vực có vị trí quân sự đặc biệt)
HS quan sát bản đồ và cho biết Việt Nam giáp với lục địa nào? biển và đại dương nào?
- Việt Nam vừa gắn liền với lục địa Á - Âu, vừa tiếp giáp với Biển Đông và thông ra Thái Bình Dương rộng lớn
Sau khi cho HS xác định xong vị trí địa lí GV hỏi HS: Vị trí địa lí đó có ý nghĩa như thế nào ? (về mặt về tự nhiên, kinh tế - xã hội và chính trị, quốc phòng)
- Ý nghĩa về tự nhiên: + Thiên nhiên mang tính chất nhiết đới ẩm gió mùa; Đa dạng về động – thực vật, nông sản; Nằm trên vành đai sinh khoảng nên có nhiều tài nguyên khoảng sản; Có sự phân hóa đa dạng về tự nhiên, phân hóa Bắc – Nam, Đông – Tây, thấp cao
+ Khó khăn: Bão, lũ lụt, hạn hán…
- Về kinh tế:
+ Có nhiều thuận lợi để phát triển cả về giao thông đường bộ, đường biển, đường không với các nước trên thế giới tạo điều kiện thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới
+ Vùng biển rộng lớn, giàu có, phát triển các ngành kinh tế (khai thác, nuôi trồng, đánh bắt hải sản, giao thông biển, du lịch)
- Về văn hóa – xã hôi: Thuận lợi nước ta chung sống hòa bình, hợp tác hữu nghị
và cùng phát triển với các nước láng giềng và các nước trong khu vực Đông Nam Á
Trang 39- Về chính trị và quốc phòng: Là khu vực quân sự đặc biệt quan trọng của vùng
Đây là một kĩ năng tương đối khó, vì HS không chỉ phải mô tả các yếu tố đó thể hiện như thế nào trên bản đồ mà còn phải biết liên hệ với thực tiễn, kết hợp với lí thuyết để phát hiện các mối liên hệ giữa các yếu tố kinh tế, tự nhiên ẩn bên trong nó Ví
dụ như khi phân tích nông nghiệp ĐBSH có thể thấy ngay những nét lớn về đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng, địa hình, sông ngòi và sự phân bố dân cư của vùng và sự tác động của chúng như thế nào đối với sự phát triển nông nghiệp của vùng
Đồng thời các yếu tố kinh tế - xã hội lại luôn luôn biến động và biến động rõ ràng và nhanh chóng, do vậy mà việc biểu hiện các yếu tố này trên bản đồ chỉ chính xác tại thời điểm đó và có sự thay đổi theo thời gian
b Cách tiến hành
Khi HS đã nắm được kĩ năng mô tả các yếu tố thành phần tự nhiên nó sẽ giúp cho việc mô tả các yếu tố kinh tế - xã hội trên bản đồ được dễ dàng hơn
Trước tiên cho HS đọc tên bản đồ, từ đó xác định được đối tượng cần mô tả Sau
đó cho HS nghiên cứu bảng chú giải để biết được một số đặc điểm của đối tượng (thông qua các phương pháp phân tầng màu, các kí hiệu trên bản đồ…)
Sau khi nắm được các đặc điểm cơ bản đó cho HS dựa trên bản đồ kinh tế - xã hội, tập tiến hành mô tả, phân tích, nhận xét về các yếu tố kinh tế - xã hội của một quốc gia nào đó hay một vùng nào đó
Trang 40Xác định vị trí, phạm vi phân bố của các đối tượng (Chúng phân bố ở đâu? Thuộc vùng lãnh thổ nào?) Mô tả những nét chung về kinh tế - xã hội của một khu vực, một quốc gia
Từ đó chuyển sang mô tả từng yếu tố thành phần, nêu lên đặc điểm của từng yếu
tố (Các yếu tố kinh tế xã hội bao gồm như công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và dân cư)
* Mô tả các yếu tố kinh tế bao gồm: công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ
Có thể cho HS mô tả theo dàn ý sau:
- Đối với nông nghiệp: Nông nghiệp thường được biểu hiện bằng các thang phân tầng màu thể hiện các vùng trồng cây như lương thực, cây công nghiệp lâu năm, rừng…Hoặc những kí hiệu tượng hình Từ hệ thống kí hiệu đó cho HS xác định trong nông nghiệp nuôi con gì? Trồng cây gì? Phân bố ở đâu, phát triển như thế nào? Các điều kiện phát triển nếu có? Sự phân hóa trong cơ cấu nông nghiệp ra sao?
- Công nghiệp: Được thể hiện bằng các kí hiệu tượng hình Xác định xem có những ngành công nghiệp nào? Phân bố ở đâu? Phát triển hay không? Có toàn diện (đầy đủ các ngành) hay không? Xác định được các trung tâm công nghiệp lớn?
- Dịch vụ: Đươc thể hiện bằng các kí hiệu đường như đường giao thông hoặc kí hiệu tượng hình như du lịch, sân bay, hải cảng…Xác định được khu vực đó, quốc gia
đó gồm những ngành gì? Phân bố ở đâu? Phát triển hay không? Tỉ trọng trong cơ cấu kinh tế ra sao?
* Mô tả về dân cư: Thường trên bản đồ thường thể hiện về sự phân bố, mật độ, qui mô, thành phần dân tộc…
- Phải cho HS xác định được dân số tập trung đông ở đâu? Thưa thớt ở đâu? Giải thích? Hay chính xác hơn là nhận xét về sự phân bố dân cư, mật độ dân số của quốc gia, lãnh thổ đó như thế nào?
- Nhận xét về qui mô dân số của khu vực được thể hiện trên bản đồ, khu vực nào có qui mô dân số lớn Xác định các thành phố tập trung đông dân trên bản đồ
- Nhận xét về thành phần dân tộc của lãnh thổ (Có bao nhiêu dân tộc sống trên khu vực đó? đa dạng hay không?) và sự phân bố của nó trên vùng lãnh thổ đó