1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phương pháp dạy học các mối quan hệ nhân quả trong chương trình địa lí 10 THPT ban cơ bản

91 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, môn địa lí ở nhà trường trung học cần hình thành cho các em có được kiến thức vững chắc, niềm tin khoa học và khả năng tìm hiểu các mối quan hệ nhân quả giữa các vấn đề tự nhiên

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA ĐỊA LÝ

- -

NGUYỄN THỊ ANH

Phương pháp dạy học các mối quan hệ nhân quả

trong chương trình địa lí 10 THPT- Ban cơ bản

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

SƯ PHẠM ĐỊA LÝ

Trang 2

Em xin bày tỏ lời cảm ơn tới toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Địa Lí – Trường đại học sư phạm Đà nẵng đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ, chỉ bảo, đóng góp những ý kiến quí báu để đề tài của em được hoàn thành với kết quả tốt nhất

Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu cùng với các thầy cô giáo trường THPT Nguyễn Trãi đã giúp đỡ em trong quá trình thực nghiệm sư phạm

Cuối cùng em xin bày tỏ lời cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện cho em trong quá trình làm đề tài

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2012

Sinh viên

Nguyễn Thị Anh

Trang 3

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Thống kê các mối quan hệ nhân quả cơ bản trong SGK địa lí 10 THPT –

Ban cơ bản

Bảng 3.1 Kết quả thực nghiệm sau khi tiến hành thực nghiệm bài 35

Bảng 3.2 Phân loại trình độ học sinh qua các lần kiểm tra trong quá trình thực

nghiệm đối với bài 35

Bảng 3.3 Kết quả thực nghiệm sau khi tiến hành thực nghiệm bài 36

Bảng 3.4 Phân loại trình độ học sinh qua các lần kiểm tra trong quá trình thực

nghiệm đối với bài 36

Trang 5

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU PHẦN NỘI DUNG 1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích của đề tài 1

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 1

4 Phạm vi nghiên cứu: 2

5 Lịch sử nghiên cứu: 2

6 Phương pháp nghiên cứu 2

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết 2

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 3

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CÁC MỐI QUAN HỆ NHÂN QUẢ ĐỊA LÍ 4

1.1.Các mối quan hệ nhân quả trong dạy học địa lí ở trường THPT 4

1.1.1 Khái niệm về mối quan hệ và mối quan hệ nhân quả 4

1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của việc dạy học các mối quan hệ nhân quả trong dạy học địa lí 6

1.1.3 Phân loại các mối quan hệ nhân quả địa lí 7

1.2 Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi của học sinh lớp 10 10

1.3 Cấu trúc và đặc điểm chương trình sách giáo khoa địa lí lớp 10 THPT – Ban cơ bản 11 1.4 Thực trạng dạy học địa lí tại một số trường THPT ở Đà Nẵng 13

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CÁC MỐI QUAN HỆ NHÂN QUẢ TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 10 THPT – BAN CƠ BẢN 15

2.1 Phân loại các mối quan hệ nhân quả trong chương trình địa lí lớp 10 THPT – Ban cơ bản 15

2.1.1 Dựa vào cấu trúc 16

2.1.2 Dựa vào nội dung 20

2.1.3 Dựa vào mức độ 31

2.2 Các phương pháp giảng dạy các mối quan hệ nhân quả trong chương trình địa lí 10 THPT – Ban cơ bản 36

2.2.1 Những yêu cầu về mặt phương pháp 36

2.2.2 Các phương pháp giảng dạy các mối quan hệ nhân quả trong chương trình địa lí 10 THPT – Ban cơ bản 37

Trang 6

1 Mục đích, yêu cầu của thực nghiệm 44

1.1 Mục đích của thực nghiệm 44

1.2 Yêu cầu thực nghiệm 45

2 Tổ chức thực nghiệm 45

2.1 Địa bàn thực nghiệm 45

2.2 Cách tổ chức thực nghiệm 45

2.3 Cách thức đánh giá kết quả thực nghiệm 45

2.4 Kết quả thực nghiệm 46

PHẦN KẾT LUẬN 1 Kết quả đạt được và hạn chế của đề tài 49

1.1 Kết quả đạt được 49

1.2 Hạn chế của đề tài 50

2 Đề xuất, kiến nghị 50

Trang 7

và xác định được các mối quan hệ nhân quả thì kiến thức trong bài mới được khắc sâu, cũng từ đó các em có thể vận dụng để giải thích các hiện tượng trong cuộc sống Vì vậy, môn địa lí ở nhà trường trung học cần hình thành cho các em có được kiến thức vững chắc, niềm tin khoa học và khả năng tìm hiểu các mối quan hệ nhân quả giữa các vấn đề tự nhiên và kinh tế - xã hội

Việc hình thành mối quan hệ nhân quả là một trong những nhiệm vụ hàng đầu

mà giáo viên địa lí phải thực hiện, vì mối quan hệ không gian của các hiện tượng là vấn đề quan trọng nhất đối với phương pháp luận địa lí với tư cách là một môn học

ở nhà trường

Để góp phần vào việc nâng cao hiệu quả dạy học môn địa lí ở nhà trường THPT, em chọn đề tài “Phương pháp dạy học các mối quan hệ nhân quả trong chương trình địa lí 10 THPT- Ban cơ bản” để nghiên cứu

2 Mục đích của đề tài

Nghiên cứu, vận dụng một số phương pháp thích hợp để dạy học các mối quan

hệ nhân quả trong chương trình địa lí 10 THPT – Ban cơ bản nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở trường THPT

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu của đề tài đặt ra nhiệm vụ cần nghiên cứu như sau:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của phương pháp dạy học các mối quan hệ nhân quả

- Nghiên cứu đặc điểm chương trình và nội dung SGK địa lí lớp 10 cơ bản

Trang 8

- Xác định được các mối quan hệ nhân quả cơ bản trong SGK địa lí 10 THPT – Ban cơ bản Vận dụng một số phương pháp để dạy các mối quan hệ nhân quả trong SGK lớp 10 THPT – Ban cơ bản

- Soạn một số giáo án mẫu để dạy học các mối quan hệ nhân quả trong chương trình địa lí lớp 10 THPT – Ban cơ bản

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm, kiểm chứng giả thuyết đưa ra

4 Phạm vi nghiên cứu:

- Nghiên cứu các mối quan hệ nhân quả và phương pháp dạy học các mối quan

hệ nhân quả trong chương trình địa lí 10 THPT – Ban cơ bản

- Nội dung thực nghiệm một số bài trong chương trình địa lí 10 của học kì II

5 Lịch sử nghiên cứu:

Phương pháp dạy học các mối quan hệ nhân quả địa lí đã được một số tác giả đề

cập tới như:

- “ Lí luận dạy học địa lí phần đại cương”, Nguyễn Dược, Nguyễn Trọng Phúc,

nhà xuất bản giáo dục năm 2006 Tác giả có nhắc tới phương pháp dạy học các mối quan hệ nhân quả địa lí nhưng rất sơ sài và đơn giản

- “ Một số vấn đề trong dạy học địa lí ở trường phổ thông”, Nguyễn Trọng Phúc, nhà xuấ bản Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2004 Tác giả đã phân loại khá rõ các mối quan hệ nhân quả trong địa lí KT – XH ở THPT, chú trọng thiết lập các mối quan hệ nhân quả và sử dụng phương pháp sơ đồ để xác định mối quan hệ nguyên nhân – kết quả

- Điểm mới của đề tài là xác lập các mối quan hệ nhân quả và đưa ra một số phương pháp để giảng dạy mối quan hệ nhân quả trong chương trình địa lí 10 THPT – Ban cơ bản

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Thu thập các tài liệu liên quan đến đề tài, đọc, phân tích và lựa chọn tài liệu từ các nguồn khác nhau như: SGK, sách tham khảo, các luận văn, các thông tin trên các nguồn khác Từ đó chọn lọc các thông tin thu được để phục vụ cho đề tài

Trang 9

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát: Quan sát các phương pháp dạy học như phương pháp sơ

đồ, phương pháp giảng giải, phương pháp sử dụng bản đồ

- Phương pháp điều tra: Sử dụng phiếu điều tra để điều tra hiện trạng việc dạy và học địa lí và việc thiết kế các phương pháp dạy học mối quan hệ nhân quả trong dạy học địa lí

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng và khẳng định tính chất đúng đắn các phương pháp đã lựa chọn

Trang 10

PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CÁC MỐI QUAN HỆ NHÂN QUẢ ĐỊA LÍ

1.1.Các mối quan hệ nhân quả trong dạy học địa lí ở trường THPT

1.1.1 Khái niệm về mối quan hệ và mối quan hệ nhân quả

a Mối quan hệ

Mối quan hệ là sự tác động và ràng buộc lẫn nhau, qui định và chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố, các bộ phận trong một sự vật hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau

Tùy thuộc vào tính chất, phạm vi, trình độ, vai trò của các mối quan hệ mà chúng được phân ra:

- Mối quan hệ bên trong – bên ngoài

+ Mối quan hệ bên trong: Biểu hiện mối quan hệ của các mặt bên trong của

sự vật, hiện tượng

+ Mối quan hệ bên ngoài: Biểu hiện mối quan hệ của các mặt bên ngoài của sự vật, hiện tượng

- Mối quan hệ bản chất và không bản chất

+ Mối quan hệ bản chất: Là mối quan hệ có tính chất quyết định đến sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng

+ Mối quan hệ không bản chất: Là mối quan hệ phụ thuộc thứ yếu, đôi lúc

nó đóng vai trò như là điều kiện không quyết định đến sự chuyển hóa của sự vật, hiện tượng

- Mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp

+ Mối quan hệ trực tiếp: Là mối quan hệ gần gũi tác động trực tiếp và làm chuyển hóa thay đổi các sự vật, hiện tượng Mối quan hệ này dễ nhận biết và là mối quan hệ chủ yếu

+ Mối quan hệ gián tiếp: Phải thông qua điều kiện trung gian

Tùy thuộc vào vai trò, vị trí các thành phần trong mối quan hệ nhân quả có thể phân ra:

- Mối quan hệ tương hỗ: Là mối quan hệ trong đó hai hay nhiều thành phần

có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau

Trang 11

- Mối quan hệ nhân quả: Là mối quan hệ trong đó có thành phần nhân sinh

ra thành phần quả

b Mối quan hệ nhân quả

Mối quan hệ nhân quả là mối quan hệ trong đó sự tương quan phụ thuộc một chiều giữa các sự vật hiện tượng Chỉ có nhân mới sinh ra quả, không có quả nào lại không bắt đầu từ nhân trước đó, nhưng nó không thể sinh ra nguyên nhân ban đầu sinh ra nó mà chỉ có thể trở thành nguyên nhân khác của kết quả khác

Như vậy, trong các mối quan hệ nhân quả có hai thành phần: nguyên nhân và kết quả

- Nguyên nhân: Là hiện hiện tượng làm nảy sinh ra hiện tượng khác trong mối quan hệ với hiện tượng khác

- Kết quả: Là cái đạt được, thu được trong một công việc hay một quá trình tiến triển của sự vật Kết quả là do một hoặc nhiều hiện tượng khác (là nguyên nhân) gây ra trong mối quan hệ với hiện tượng ấy

Ví dụ: Lực lượng lao động dồi dào trong điều kiện nền kinh tế chưa phát triển (nguyên nhân) đã tạo nên sức ép rất lớn đối với vấn đề giải quyết việc làm ở nước ta hiện nay (kết quả)

Đây là mối quan hệ nhân quả giữa xã hội với xã hội Rõ ràng ở đây chỉ có nhân mới sinh ra quả chứ không có quả sinh ra nhân

Nguyên nhân khác với điều kiện hay nguyên do:

- Nguyên do là một sự kiện nào đó trực tiếp xảy ra trước kết quả, nhưng không sinh ra kết quả, có liên hệ với kết quả nhưng là sự liên hệ bên ngoài, không bản chất

Ví dụ: Sau nội chiến nền kinh tế tư bản Hoa Kì Phát triển rất nhanh (kết quả),

do sản xuất tư bản công nghiệp xâm nhập vào các lĩnh vực sản xuất (nguyên nhân), còn trong thời kì này việc giải phóng nô lệ chỉ là nguyên do

Nguyên nhân và điều kiện lại là hai khái niệm khác nhau, có vai trò không giống nhau trong quá trình sinh ra kết quả Điều kiện là tổng hợp những hiện tượng, không phụ thuộc vào nguyên nhân, nhưng lại có khả năng sinh ra kết quả được chứa

Trang 12

thân kết quả nhưng lại tham gia một cách rất yếu vào quá trình sinh ra kết quả Điều kiện thường hướng đến nguyên nhân, đến quá trình nhân quả, qui định cả nguyên nhân đến kết quả

c Mối quan hệ nhân quả địa lí

Các mối quan hệ nhân quả địa lí là những mối quan hệ biểu hiện mối tương quan phụ thuộc một chiều giữa các sự vật, hiện tượng và các quá trình địa lí Trong mối quan hệ nhân quả địa lí gồm có thành phần nhân và quả, chỉ có nhân mới sinh

ra quả chứ không có trường hợp ngược lại

1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của việc dạy học các mối quan hệ nhân quả trong dạy học địa lí

Thực chất của việc hình thành các mối quan hệ nhân quả là việc tìm ra nguyên nhân của sự vật, hiện tượng Vạch ra nguyên nhân hình thành đối với các hiện tượng, đối tượng tự nhiên và kinh tế - xã hội là một trong những mặt quan trọng nhất trong dạy học của giáo viên địa lí Vấn đề về mối quan hệ của các hiện tượng

là vấn đề quan trọng nhất, cả đối với phương pháp luận địa lí với tư cách là một môn học ở trường

Đối với chương trình địa lí lớp 10 – Ban cơ bản, việc trình bày các mối quan

hệ địa lí là bước tiếp theo sau khi trình bày các khái niệm Các khái niệm chỉ

“Sống” trong trí nhớ của học sinh nếu chúng được trình bày không phải một cách cô lập, đơn lẻ mà trong những mối liên hệ với các khái niệm khác

Ngay trong việc lĩnh hội một khái niệm, chỉ sau khi học sinh tìm được các mối quan hệ giữa các dấu hiệu cơ bản của khái niệm thì mới có thể coi việc hình thành khái niệm ở học sinh đã hoàn thành về cơ bản Việc xác định được các mối quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng của quá trình tự nhiên và kinh tế - xã hội trên lãnh thổ còn là con đường để phát triển tư duy địa lí cho học sinh

Trong nhà trường phổ thông thì việc xác lập những mối quan hệ nhân quả còn giúp cho học sinh hình thành những kiến thức địa lí (các khái niệm, các biểu tượng, các mối quan hệ nhân quả, … ) trong đó khái niệm là kiến thức cơ sở

Việc xác lập những mối quan hệ nhân quả còn giúp cho học sinh hiểu bài sâu hơn, làm cho năng lực học tập địa lí của học sinh được phát triển và dần dần các em

Trang 13

mối quan hệ nhân quả là thước đo trình độ phát triển năng lực và tư duy của học sinh

1.1.3 Phân loại các mối quan hệ nhân quả địa lí

a Dựa vào cấu trúc

Dựa vào cấu trúc mối quan hệ nhân quả được phân ra:

- Mối quan hệ nhân quả trực tiếp: Nguyên nhân sinh ra kết quả không thông qua mối liên hệ trung gian

- Mối quan hệ nhân quả gián tiếp: Là mối quan hệ phải thông qua các mối quan hệ khác, thường thì mối quan hệ này khó thấy và khó phát hiện hơn

Ví dụ: Nhờ có vị trí địa lí thuận lợi (nguyên nhân) mà Singapore phát triển được nền kinh tế của mình

Như vậy, sự phát triển kinh tế của Singapore là nhờ sự phát triển thương mại, là vị trí trung chuyển hàng hóa của các nước trong khu vực buôn bán trực tiếp với Singapore do có vị trí địa lí thuận lợi

b Dựa vào nội dung bộ môn

Dựa vào nội dung của bộ môn địa lí, kiến thức địa lí trong nhà trường phổ thông gồm hai mảng kiến thức thuộc về tự nhiên và kinh tế - xã hội có tác động qua lại lẫn nhau Xuất phát từ sự tác động qua lại đó, mối quan hệ nhân quả được phân ra:

- Mối quan hệ nhân quả giữa tự nhiên và tự nhiên: Là mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên Mối quan hệ xảy ra trong thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên, nguyên nhân sinh ra kết quả thông qua sự tác động tương hỗ nhân quả về mặt vật lí, hóa học hay sinh học Những mối quan hệ nhân quả đó biểu hiện dưới dạng một chuỗi liên tục

Ví dụ: Việc Trái Đất có hình cầu lại tự quay quanh trục và được chiếu sáng bởi ánh sáng mặt trời đã sinh ra hiện tượng ngày đêm trên Trái Đất

- Mối quan hệ nhân quả giữa tự nhiên và xã hội: Được thể hiện thông qua vai trò của tự nhiên đối với sự phát triển của xã hội như ảnh hưởng của tự nhiên tới sự phân bố dân cư, tự nhiên là cơ cở vật chất của sự sống và sự tồn tại của xã hội Môi

Trang 14

để học sinh có thể vận dụng để bảo vệ cải tạo tự nhiên có hiệu quả

- Mối quan hệ nhân quả giữa xã hội và tự nhiên: Là mối quan hệ giữa các yếu

tố xã hội, dân cư, chế độ xã hội với các hiện tượng tự nhiên và làm thay đổi các hiện tượng tự nhiên đó

Ví dụ: Các nước nghèo nàn dẫn đến nạn phá rừng diễn ra một cách nghiêm trọng

- Mối quan hệ nhân quả giữa tự nhiên và kinh tế: Là mối quan hệ giữa tự nhiên với hoạt động sản xuất, kinh tế xã hội xảy ra trên điều kiện tự nhiên đó

Ví dụ: A – ma –dôn là một con sông rất lớn, có lưu lượng nước dồi dào đã đem lại nguồn lợi lớn cho khu vực về cả kinh tế lẫn văn hóa

- Mối quan hệ nhân quả giữa xã hội và xã hội: Nội dung này được trình bày khá

rõ trong chương trình địa lí kinh tế xã hội đặc biệt là mối quan hệ giữa dân số với nguồn lao động, vấn đề việc làm và chất lượng cuộc sống

Ví dụ: Một trong những nguyên nhân làm cho vấn đề việc làm trở nên cấp bách là do dân số đông và tỉ lệ gia tăng tự nhiên nhanh

Dân số phát triển chậm gây ra tình trạng thiếu nguồn lao động trong các hoạt động kinh tế

- Mối quan hệ giữa xã hội và kinh tế: Bao gồm mối quan hệ giữa các tổ chức chính trị xã hội với tính chất của nền kinh tế, mối quan hệ giữa lao động và sản xuất, giữa sự phân bố dân cư và phân bố sản xuất

Ví dụ: Các chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp (phát triển kinh tế

hộ gia đình, kinh tế trang trại, nông nghiệp hướng ra xuất khẩu, mở rộng thị trường trong nước và nước ngoài) tạo điều kiện cho ngành nông nghiệp phát triển cỏ cấu ngành đa dạng và có tính chuyên môn hóa cao

Trang 15

Mối quan hệ nhân quả giữa kinh tế với kinh tế, cả nhân và quả cùng là một hiện tượng mang tính chất kinh tế

Ví dụ: Trình độ phát triển kinh tế và năng suất lao động xã hội ngày càng cao

sẽ đầu tư bổ sung lao động cho ngành dịch vụ

- Mối quan hệ nhân quả giữa kinh tế và tự nhiên: Mối quan hệ này thể hiện ở sự biến đổi của tự nhiên do hoạt động kinh tế của con người, sự biến đổi này có thể là càng phát triển nhưng cũng có thể là càng suy thoái

Mối quan hệ nhân quả giữa kinh tế và tự nhiên biểu hiện nguyên nhân là một hiện tượng, một sự kiện kinh tế - kết quả xuất hiện là hiện tượng của tự nhiên bị biến đổi bởi hiện tượng kinh tế thông qua hoạt động sản xuất xã hội tác động đến tự nhiên

Ví dụ: Quá trình phát triển của hệ thống giao thông vận tải đã làm cho tự nhiên bị biến đổi

- Mối quan hệ nhân quả giữa tự nhiên và kinh tế - xã hội: Vai trò của vị trí địa

lí và những điều kiện tự nhiên cụ thể rất quan trọng với sự phát triển kinh tế - xã hội Ngược lại, các nhân tố kinh tế - xã hội tác động lại tự nhiên làm cho tự nhiên biến đổi theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực Một thể tổng hợp lãnh thổ sản xuất bao giờ cũng dựa trên những điều kiện tự nhiên, xã hội để hình thành trên đó một số ngành chuyên môn hóa Mối quan hệ giữa yếu tố tự nhiên và xã hội là nguyên nhân để chuyên môn hóa sản xuất, trong đó yếu tố tự nhiên là điều kiện không thể thiếu được

Trang 16

vùng Tuy nhiên, sự phối hợp tác động của hai thành phần này có sự biến đổi theo thời gian và không gian, phân tích chính xác sự khác nhau đó chính là gia tăng giá trị kiến thức địa lí, phát triển tư duy lãnh thổ, tư duy logic ở học sinh

Ví dụ: Khi phân tích mối liên hệ nhân quả trong nông nghiệp của một khu vực thấy rằng: Khi đồng bằng rộng lớn, khí hậu đa dạng sẽ qui định cơ cấu cây trồng khác nhau Trình độ cơ giới hóa, yếu tố khoa học kĩ thuật và phương thức sản xuất

tư bản chính là những nguyên nhân hình thành các vành đai nông nghiệp khác nhau

c Dựa vào mức độ phức tạp

Dựa vào mức độ phức tạp có thể phân ra:

- Mối quan hệ nhân quả đơn giản: Một nhân sinh ra một quả

Ví dụ: Do Nhật Bản giáp biển ở bốn phía nên ngành giao thông đường biển có điều kiện phát triển mạnh

- Mối quan hệ nhân quả phức tạp: Nhiều nhân sinh ra một quả, nhiều quả được sinh ra từ một nhân hoặc nhiều nguyên nhân sinh ra nhiều kết quả

Ví dụ: Vùng Đông Bắc Hoa Kì có mỏ than, sắt, … có khí hậu ôn đới hải dương; là vùng định cư đầu tiên và đông dân; có hệ thống giao thông thuận lợi; có phương thức sản xuất tư bản đều là nguyên nhân dẫn đến vùng Đông Bắc trở thành vùng kinh tế chủ yếu của đất nước Hoa Kì

1.2 Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi của học sinh lớp 10

Học sinh lớp 10 – THPT ở trong độ tuổi 15 – 16, thuộc lứa tuổi thanh niên Ở

độ tuổi này nhìn chung các em đều rất năng động, ham hiểu biết, ham muốn được tìm hiểu bản chất của các hiện tượng, cũng như nguyên nhân của các quá trình tự nhiên – xã hội, khả năng nắm bắt thông tin của các em khá phát triển Lớp 10 là lớp đầu cấp của cấp trung học phổ thông, vì thế học sinh sẽ được trang bị những kiến thức cơ bản về địa lí tự nhiên – kinh tế đại cương

Trong quá trình dạy học địa lí lớp 10, giáo viên có nhiệm vụ truyền đạt kiến thức cho học sinh, nếu vận dụng các phương pháp thuyết trình truyền thống để truyền đạt những kiến thức có sẵn trong SGK sẽ gây cho học sinh tâm lí mệt mỏi, chán nản, ghi nhớ máy móc, không hiểu rõ vấn đề Nhưng việc dạy học theo các mối quan hệ nhân quả, đem lại cho học sinh những kiến thức một cách hệ thống,

Trang 17

năng khai thác tri thức địa lí thông qua bản đồ, biểu đồ, số liệu thống kê trong SGK

sẽ đem lại tâm lí hứng thú tìm tòi, nghiên cứu để lĩnh hội kiến thức cơ bản một cách

dễ dàng

Hiện nay, khối lượng kiến thức trong SGK địa lí lớp 10 tương đối lớn trong khi

đó thời gian học tập và giảng dạy ở trên lớp rất hạn chế nên giáo viên chỉ có thể cung cấp và trang bị cho học sinh kiến thức cơ bản Do đó việc dạy học sinh thiết lập các mối quan hệ nhân quả địa lí là một công cụ, phương tiện đắc lực để học sinh chủ động chiếm lĩnh các tri thức, mở rộng vốn hiểu biết của mình

Nói chung: Trên cơ sở đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh lớp 10 hiện nay, việc lập các dàn bài, các sơ đồ mối quan hệ, các bảng tóm tắt, … làm nổi bật và nhấn mạnh vào kiến thức cơ bản, so sánh, đối chiếu với những kiến thức vốn có để tự trau dồi tri thức, biết phương pháp tự học

1.3 Cấu trúc và đặc điểm chương trình sách giáo khoa địa lí lớp 10 THPT – Ban cơ bản

Chương trình môn địa lí lớp 10 cung cấp hệ thống kiến thức về địa lí đại cương như các khái niệm cơ bản, các qui luật chung về địa lí tự nhiên và địa lí kinh tế - xã hội Về cấu trúc thì chương trình chia làm hai phần là phần địa lí tự nhiên địa cương

và phần địa lí kinh tế xã hội đại cương Mỗi phần có một vai trò nhất định trong việc trang bị kiến thức cho học sinh để hình thành nên các khái niệm, quy luật, và tạo nên chương trình tổng thể của địa lia lớp 10 – Ban cơ bản, THPT

Phần 1: Cung cấp kiến thức quan trọng thuộc về địa lí tự nhiên đại cương với các nội dung như sau:

- Chương 1: Bản đồ

- Chương 2: Vũ trụ Hệ quả các chuyển động của Trái Đất

- Chương 3: Cấu trúc của Trái Đất Các quyển của lớp vỏ Địa lí

- Chương 4: Một số quy luật của lớp vỏ Địa lí

Phần 2: Cung cấp các kiến thức đại cương thuộc về địa lí dân cư, địa lí các ngành kinh tế gồm có các nội dung sau:

- Chương 5: Địa lí dân cư

Trang 18

- Chương 8: Địa lí công nghiệp

- Chương 9: Địa lí Dịch vụ

- Chương 10: Môi trường và sự phát triển bền vững

Riêng phần 2 của chương trình có hẳn một chương về môi trường và sự phát triển bền vững rất có ý nghĩa, nó đã giáo dục học sinh, giúp cho học sinh có thêm hiểu biết và thái độ bảo vệ môi trường, bảo vệ quê hương mình

Trên cơ sở chương trình môn Địa lí lớp 10 THPT – Ban cơ bản, thì cấu trúc chương trình gồm có 42 bài trong đó có 7 bài thực hành và 35 bài lý thuyết

- Nét đặc trưng của chương trình địa lí lớp 10 là các kiến thức lý thuyết chiếm một

tỉ trọng rất lớn Các khái niệm chung được hình thành trong hầu hết các bài của SGK địa lí lớp 10 Khối lượng các kiến thức về mối quan hệ nhân quả ít hơn so với các khái niệm chung Vì vậy, các khái niệm chung được coi là xương sống của chương trình lớp 10

- Các kiến thức thực tế không được thể hiện riêng lẻ mà được trình bày xen kẽ, bổ trợ, minh họa cho các kiển thức lý thuyết nhằm cung cấp cho học sinh những biểu tượng, những dữ liệu thực tế để hiểu rõ nội dung của các quan điểm, các quy luật, các mối quan hệ nhân quả Gắn liền giữa kiến thức lý thuyết với kiến thức thực tiễn

là một dụng ý có ý nghĩa về mặt phương pháp của SGK

- Có hai loại bài trong SGK địa lí lớp 10: Bài lý thuyết và bài thực hành

+ Bài lý thuyết đều có kênh chữ, kênh hình, các câu hỏi ở giữa bài và cuối bài Kênh chữ: Mỗi bài học được chia thành các mục đề lớn (thường là 2 – 3 đề mục) ứng với các đơn vị kiến thức mà học sinh cần phải nắm Kênh chữ kết hợp với kênh hình tạo thành một thể thống nhất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

Để đảm bảo tính chính thức và nhất quán về số liệu thống kê trong phần 2, SGK Địa lí 10, các số liệu được cập nhật ở thời điểm năm 2005 và chủ yếu lấy từ Niên giám thống kê của Việt Nam (NXB Thống kê, 2007)

Kênh hình: Bao gồm các loại sơ đồ, biểu đồ, bản đồ, tranh ảnh hoặc lược đồ

So với các SGK biên soạn trước đây, kênh hình trong SGK mới được tăng cường nhiều hơn và liên hệ tốt hơn với kênh chữ trong việc trình bày các kiến thức Địa lí

Ưu điểm này tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên rèn luyện kĩ năng cho học sinh,

Trang 19

đặc biệt là kĩ năng làm việc với biểu đồ, bản đồ, … Kênh hình còn có tác dụng giúp học sinh nhanh chóng phát hiện được các xu thế hay đặc điểm chủ yếu nhất của sự vật và hiện tượng Địa lí Một số sơ đồ và bản đồ còn thể hiện cả mối quan hệ qua lại giữa các hiện tượng, quá trình địa lí Hệ thống bản đồ được xây dựng tương đối đa dạng, phong phú, phù hợp với nội dung kênh chữ trong SGK

Các câu hỏi giữa bài: Là những câu hỏi dẫn dắt học sinh quan sát kênh hình hoặc dựa vào kiến thức đã có để trình bày hoặc giải thích những kiến thức mới Các câu hỏi này đều yêu cầu học sinh tự tìm kiến thức mới, nên những nội dung được đặt ra của các câu hỏi giữa bài thường không viết lại ở kênh chữ của sách Vì vậy, trong quá trình giảng dạy giáo viên phải triệt để tận dụng những câu hỏi này

Các câu hỏi và bài tập cuối bài: Chỉ ra những kiến thức cơ bản mà học sinh cần nắm vững và rèn luyện kĩ năng Trong số này có một vài bài tập tương đối khó nhằm giúp cho học sinh nâng cao kiến thức cho học sinh

+ Các bài thực hành chiếm khoảng 20% thời lượng và tập trung vào các dạng sau đây:

Đọc bản đồ, nhận xét, phân tích các đặc điểm về tự nhiên hay kinh tế - xã hội

Vẽ biểu đồ và phân tích số liệu theo yêu cầu cho trước

Thu thập, tổng hợp các thông tin để viết báo cáo ngắn theo chủ đề

1.4 Thực trạng dạy học địa lí tại một số trường THPT ở Đà Nẵng

Nếu như khoa học Địa lí có nhiệm vụ chủ yếu là nghiên cứu, tìm ra những chân lí mới, phát hiện những qui luật Địa lí tự nhiên và Địa lí kinh tế - xã hội, giải thích sự phân hóa lãnh thổ ở cấp có qui mô khác nhau thì môn Địa lí trong nhà trường phổ thông lại có nhiệm vụ chọn lọc, giảng dạy những tri thức, chân lí đã được tìm ra và được thừa nhận Môn Địa lí trong nhà trường phổ thông có khả năng cung cấp cho học sinh những kiến thức khoa học về thiên nhiên, về dân cư, về xã hội và về hoạt động kinh tế của con người ở khắp nơi trên Trái Đất Qua bức tranh toàn cảnh về thiên nhiên và kinh tế - xã hội khác nhau, học sinh nắm được và biết cách giải thích được các hiện tượng, các mối quan hệ đã tạo nên những thay đổi và

Trang 20

Mặt khác, môn Địa lí trong nhà trường có nhiệm vụ phải rèn luyện cho học sinh các kĩ năng, kĩ xảo nhằm giúp cho học sinh có khả năng vận dụng tri thức Địa lí một cách có hiệu quả vào thực tiễn cuộc sống

Tuy nhiên, bộ môn Địa lí trong nhà trường chưa được quan tâm, đầu tư đúng mức, do cho rằng đây là môn học phụ đồng thời cũng chưa thu hút được sự tham gia học tập của học sinh Học sinh chỉ học đối phó, học “vẹt” kiến thức trong SGK, trong vở ghi, khi kiểm tra thì sao chép lại kiến thức Học sinh không nắm được bản chất kiến thức cho nên nhiều khi sai và không phát triển được tư duy

Sau nhiều sự thay đổi trong nền giáo dục chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng mừng như đối với môn Địa lí Môn Địa lí đã được coi trọng hơn rất nhiều, điều này rất có ý nghĩa vì nó ảnh hưởng quyết định đến việc đổi mới trong nội dung

và phương pháp dạy học Địa lí Hơn nữa, trong những năm gần đây môn Địa lí là một trong sáu môn thi tốt nghiệp THPT và thi đại học – cao đẳng

Do những tiến bộ trong lĩnh vực lí luận dạy học người ta đã chú ý nhiều đến việc phát triển tư duy học sinh, nên các phương pháp truyền thống đã có nhiều cố gắng cải tiến, đặc biệt là phương pháp dùng lời Nhóm phương pháp trực quan vốn

là phương pháp “lấy giáo viêm làm trung tâm” cũng đang chuyển dần thành phương pháp “lấy học sinh làm trung tâm” Các phương tiện trực quan được dùng với mục đích cho học sinh khai thác, tìm ra tri thức và trau dồi kiến thức, biến quá trình dạy học thành quá trình tự học, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo Kết quả của việc dạy học theo phương pháp đổi mới là học sinh có thể tự nghiên cứu, tự thành lập các sơ đồ theo các mối quan hệ, điều đó giúp giáo viên tiết kiệm được thời gian và hệ thống kiến thức của bài ngắn gọn, logic và khoa học

Trang 22

2.1.1 Dựa vào cấu trúc

a Mối quan hệ nhân quả trực tiếp

Khoảng cách trung bình của Trái Đất

Sự tự quay của Trái Đất

Trang 23

Động đất hay núi lửa

Trang 24

Lục địa nâng lên hay hạ xuống Biển tiến và biển thoái

Vận động theo phương nằm ngang

Lục địa bị nén ép hay tách dãn

Tượng uốn nếp, đứt gãy

Nước và các hợp chất

hòa tan trong nước Khí cacbonic

Ôxi và axit hữu cơ của sinh vật

Phản ứng hóa học

Phong hóa hóa học

Trang 25

Sức nén càng nhỏ

Khí áp giảm

Trang 26

2.1.2 Dựa vào nội dung

a Mối quan hệ nhân quả giữa tự nhiên và tự nhiên

Bài 5:

Mối quan hệ số 16

Trái Đất tự quay quanh trục

Mọi địa điểm thuộc các vĩ độ khác nhau

ở bề mặt Trái Đất đều có vận tốc dài khác nhau và hướng chuyển động từ tây

Sự thay đổi các vùng khí áp cao và khí áp thấp ở lục địa

và đại dương

Gió mùa

Thực vật

Sự hình thành đất Khí hậu

Trang 27

Các mùa trong năm

Trong suốt năm trục của Trái Đất không đổi phương trong không gian

Trái Đất chuyển động xung quanh Mặt Trời

Trục Trái Đất nghiêng

và không đổi phương

Ngày, đêm dài ngắn theo mùa và theo vĩ độ

Do hoạt động của các dòng đối lưu vật chất quánh dẻo và có nhiệt độ cao trong tầng Manti trên

Các mảng kiến tạo bị dịch chuyển Hoạt động động đất, núi lửa

Trang 28

Phong hóa sinh học

Vận động của vỏ Trái Đất theo phương thẳng đứng

Lục địa được nâng lên hay hạ xuống

Hiện tượng biển tiến hay biển thoái

Vận động theo phương nằm ngang

Vỏ Trái Đất bị nén ép hoặc tách dãn Hiện tượng uốn nếp, đứt gãy

Sự phân bố xen kẽ giữa lục địa và đại dương

Các đai khí áp không liên tục mà

bị chia cắt

Trang 29

Hướng sườn Thời gian

Đá gốc biến thành đất

Trang 30

Sự khác nhau về nhiệt và ẩm theo độ cao

Sự thay đổi của thực vật và đất theo độ cao

Dạng hình cầu của Trái Đất

Quy luật địa đới

Bức xạ Mặt Trời

Nguồn năng lượng bên trong của

Trang 31

Sự phân bố đất liền và biển, đại dương

Quy luật địa ô

Các dãy núi chạy theo hướng kinh tuyến

Trang 32

Khai thác rừng quá mức Đốt rừng làm rẫy

Đất bị xói mòn, rửa trôi

Đất rộng, phì

nhiêu

Khí hậu nhiệt đới

ẩm, nguồn nước dồi dào

Sinh vật phong phú về cây, con

Nông nghiệp phát triển và phân bố rộng

ẩm, nước dồi dào

Đất cho xây dựng rộng

Sinh vật biển phong phú

Công nghiệp phát triển

và phân bố rộng

Diện tích rừng lớn

Qui định sự có mặt và vai trò của các loại hình vận tải

Trang 33

Đối nương làm rẫy Phá rừng lấy đất canh tác

Tăng diện tích đồi núi trọc, hoang mạc hóa

Địa hình đồng bằng Địa hình đồi núi

Công tác thiết kế và khai thác các công trình GTVT

Khai thác tài nguyên khoáng sản bừa bãi

Môi trường bị ô nhiễm

Trang 34

Quá trình đô thị hóa

Lối sống dân cư nông thôn nhíc gần với lối sống thành thị

Dân cư đông,

lao động dồi

dào

Sở hữu ruộng đất với diện tích lớn

Áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật

Thị trường tiêu thụ rộng lớn

Nông nghiệp phát triển và phân bố rộng

Thị trường tiêu thu rộng lớn

Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại

Công nghiệp phát triển

và phân bố rộng

Đường lối công nghiệp hóa

Qui mô dân số đông

Nhịp độ phát triển lớn, cơ cấu ngành dịch vụ đa dạng

Cơ cấu dân số đa dạng

Trang 35

Mạng lưới quần cư dày đặc

Truyền thống văn hóa

Hình thức tổ chức mạng lưới dịch vụ

Phong tục tập quán

Mức sống và thu nhập thực tế

Sức mua, nhu cầu dịch vụ

Yêu cầu về cự li, thời gian giao nhận

Yêu cầu về khối lượng

Sự ra đời của WTO

Buôn bán trên thế giới phát triển

Trang 36

Đầu tư bổ sung lao động cho ngành dịch vụ

Trang 37

Địa hình thổi mòn, khoét mòn

Tỉ suất tử thô

Tài nguyên thiên nhiên Di sản văn hóa, lịch sử Cơ sở hạ tầng du lịch

Sự phát triển và phân bố ngành dịch vụ du lịch Hàng hóa sản xuất nhiều Ngành thương mại phát triển

Trang 38

sự thay đổi hướng của chúng

Theo bờ Đông và bờ Tây của lục địa không khí có sự thay đổi

Dao động thủy triều đạt lớn nhất

Khi Mặt Trăng, Mặt Trời và

Trang 39

Chiếu sáng của Mặt

Trời

Hiện tượng luân phiên ngày đêm

Hình khối cầu của Trái

Vỏ Trái Đất được phân thành vỏ

Trang 40

Ban ngày mặt đất đỡ nóng,

ban đêm đỡ lạnh Nhiệt độ giảm theo độ cao

Ngày đăng: 08/05/2021, 21:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w