Trong đó, việc nghiên cứu hình thái thể lực của học sinh trung học phổ thông đồng bào dân tộc thiểu số là rất cần thiết với mục đích đánh giá đúng thực trạng về thể lực góp phần làm cơ s
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Sinh – Môi trường, trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, đồng cảm ơn thầy cô giáo và các em học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Quảng Nam đã giúp tôi trong quá trình nghiên cứu, thu thập số liệu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Tôi cũng xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Th.S Nguyễn Công Thùy Trâm
đã tận tình động viên hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Đà Nẵng, ngày 20 tháng 05 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Thu Thư
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU………
1 Lý do chọn đề tài………
2 Mục tiêu của đề tài………
3 Nhiệm vụ cụ thể của đề tài………
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU………
1.1 Các chỉ số hình thái, thể lực………
1.2 Lược sử vấn đề nghiên cứu………
1.2.1 Trên thế giới………
1.2.2 Tại Việt Nam………
1.3 Một số nét về kinh tế - xã hội của đồng bào dân tộc Cơ Tu ở tỉnh Quảng Nam………
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………
2.1 Đối tượng nghiên cứu………
2.2 Phương pháp nghiên cứu………
2.2.1 Phương pháp chọn mẫu………
2.2.2 Phương pháp tính tuổi đối tượng nghiên cứu………
2.2.3 Phương pháp thu số liệu………
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu………
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN ………
3.1 Các chỉ số hình thái của học sinh trường PTDTNT tỉnh Quảng Nam……
3.1.1 Chiều cao đứng của học sinh trường PTDTNT tỉnh Quảng Nam……
3.1.2 Chiều cao ngồi của học sinh trường PTDTNT tỉnh Quảng Nam……
3.1 3 Cân nặng của học sinh trường PTDTNT tỉnh Quảng Nam…………
3.1.4 Vòng ngực của học sinh trường PTDTNT tỉnh Quảng Nam…………
3.1.5 Chiều dài chi trên và các đoạn chi trên của học sinh trường PTDTNT tỉnh Quảng Nam………
1
1
1
2
3
3
4
4
6
11
13
13
13
13
13
13
16
17
17
17
19
22
24
30
Trang 5PTDTNT tỉnh Quảng Nam………
3.1.7 Chiều dài các vòng chi của học sinh trường PTDTNT tỉnh Quảng Nam……… ………
3.2 Hệ số tương quan giữa chiều cao đứng với chiều dài chi và chiều dài các
đoạn chi………
3.3 Các chỉ số thể lực của học sinh trường PTDTNT tỉnh Quảng Nam………
3.3.1 Chỉ số Pignet của học sinh trường PTDTNT tỉnh Quảng Nam……
3.3.2 Chỉ số BMI của học sinh trường PTDTNT tỉnh Quảng Nam………
3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao thể lực cho học sinh trường
PTDTNT tỉnh Quảng Nam………
Chương 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ………
4.1 Kết luận………
4.1.1 Các chỉ số hình thái………
4.1.2 Hệ số tương quan………
4.1.3 Các chỉ số thể lực………
4.2 Kiến nghị………
33
35
39
40
40
42
45
46
46
46
47
47
48
Trang 6Vòng ngực hít vào hết sức của học sinh theo các KQNC khác nhau………
Vòng ngực thở ra hết sức của học sinh theo các KQNC khác nhau………
Vòng ngực trung bình của học sinh theo các KQNC khác nhau… Chiều dài chi trên và các đoạn chi trên (cm) của học sinh theo tuổi và giới tính………
Chiều dài chi dưới và các đoạn chi dưới (cm) của học sinh theo tuổi và giới tính……….………
Vòng cánh tay phải khi co (cm) của học sinh theo theo tuổi và giới tính………
Vòng cánh tay phải khi co của học sinh theo các KQNC khác nhau Vòng đùi (cm) của học sinh theo tuổi và giới tính………
Hệ số tương quan giữa chiều cao đứng với chiều dài chi trên và các đoạn chi trên………
Hệ số tương quan giữa chiều cao đứng với chiều dài chi dưới và các đoạn chi dưới……… Chỉ số Pignet của học sinh theo tuổi và giới tính………
Trang 7Bảng 3.20
Bảng 3.21
Chỉ số BMI của học sinh theo tuổi và giới tính………
Chỉ số BMI của học sinh theo các KQNC khác nhau………
Biểu đồ so sánh chiều cao ngồi (cm) của học sinh theo các KQNC khác nhau………
Biểu đồ biểu diễn cân nặng (kg) của học sinh theo tuổi và giới tính………
Biểu đồ so sánh cân nặng của học sinh theo các KQNC khác nhau Biểu đồ biểu diễn vòng ngực hít vào hết sức (cm) của học sinh theo tuổi và giới tính………
Biểu đồ biểu diễn vòng ngực hít vào hết sức của học sinh theo các kết quả nghiên cứu khác nhau………
Biểu đồ biểu diễn vòng ngực thở ra hết sức (cm) của học sinh theo tuổi và giới tính……… Biểu đồ biểu diễn vòng ngực thở ra hết sức của học sinh theo các KQNC khác nhau……… Biểu đồ biểu diễn vòng ngực trung bình (cm) của học sinh theo tuổi và giới tính……… Biểu đồ biểu diễn vòng ngực trung bình của học sinh theo các KQNC khác nhau………
Biểu đồ biểu diễn chiều dài tay (cm) của học sinh theo tuổi và giới tính
Biểu đồ biểu diễn chiều dài cánh tay (cm) của học sinh theo tuổi
Trang 8Biểu đồ biểu diễn chiều dài cẳng chân (cm) của học sinh theo tuổi
Biểu đồ biểu diễn chỉ số pignet của học sinh theo các KQNC khác nhau……… Biểu đồ biểu diễn chỉ số BMI của học sinh theo tuổi và giới tính Biểu đồ biểu diễn chỉ số BMII của học sinh theo các KQNC khác nhau………
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Theo thống kê của Bộ Văn hóa – Thông tin và Du lịch, hiện nay tầm vóc và thể lực người Việt Nam có sự phát triển rõ rệt so với thời điểm trước năm 1975 Tuy nhiên thông tin từ Ủy ban Dân số - Gia đình và Trẻ em thì thể lực và tầm vóc của người Việt Nam hiện nay vẫn thấp hơn so với chuẩn quốc tế
Hình thái thể lực là một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá tình trạng sức khoẻ và nó liên quan đến hiệu quả lao động, học tập của con người Vì vậy, bên cạnh việc quan tâm đến sự phát triển kinh tế xã hội Đảng và Nhà nước ta luôn đặt vấn đề chăm lo sức khỏe cho người dân là vấn đề quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp phát triển của đất nước
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì sự phát triển thể lực, tầm vóc của con người phụ thuộc vào nhiều yếu tố: yếu tố di truyền, chế độ dinh dưỡng, sự luyện tập thể dục thể thao, môi trường sống… Tuy nhiên khi điều kiện sống thay đổi thì các giá trị sinh học của con người cũng biến đổi theo
Ở Việt Nam, với hơn 54 dân tộc anh em với những điều kiện sống rất khác nhau nhưng việc nghiên cứu về thể lực và tầm vóc được tiến hành chủ yếu trên các đối tượng là người dân tộc Kinh, còn đối tượng nghiên cứu là đồng bào dân tộc thiểu số còn ít được chú ý Do đó cần phải tiến hành nghiên cứu theo định kỳ các giá trị sinh học trên các nhóm tuổi, các vùng sinh thái, dân tộc khác nhau Trong
đó, việc nghiên cứu hình thái thể lực của học sinh trung học phổ thông đồng bào dân tộc thiểu số là rất cần thiết với mục đích đánh giá đúng thực trạng về thể lực góp phần làm cơ sở khoa học cho các cấp chính quyền quản lý có trách nhiệm đưa
ra các chính sách, biện pháp giáo dục phù hợp nhằm phát huy tối đa tiềm năng sinh học của con người
Chính vì những lý do trên chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu một số chỉ số
hình thái thể lực của học sinh đồng bào dân tộc Cơ Tu tại trường PTDTNT tỉnh Quảng Nam”
2 Mục tiêu của đề tài
- Xác định một số chỉ số hình thái, thể lực của học sinh trung học phổ thông
Trang 11số sinh học của người Việt Nam Từ đó có thể cung cấp tư liệu cho các ban ngành, đoàn thể để đề ra những biện pháp nâng cao thể lực cho học sinh
3 Nhiệm vụ cụ thể của đề tài
- Nghiên cứu một số chỉ số hình thái: chiều cao đứng, trọng lượng cơ thể, chiều cao ngồi, vòng ngực trung bình, vòng cánh tay, vòng đùi, chiều dài các chi và các đoạn chi (dài tay, dài cánh tay, cẳng tay, dài chân, dài đùi, cẳng chân)
- Nghiên cứu chỉ số thể lực: chỉ số Pignet, chỉ số BMI
- Xác định hệ số tương quan giữa chiều cao đứng với chiều dài và các chi và các đoạn chi
- Đề ra giải pháp nhằm tăng thể lực của học sinh đồng bào dân tộc thiểu số
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Các chỉ số hình thái thể lực
Hình thái thể lực của con người là một trong các thông số cơ bản phản ánh
sự phát triển sinh học của cơ thể Liên quan chặt chẽ đến tình trạng sức khỏe và khả năng lao động của con người
Có rất nhiều chỉ số được dùng để nghiên cứu đánh giá hình thái, thể lực trong
đó các chỉ số: chiều cao đứng, chiều cao ngồi, trọng lượng cơ thể, vòng ngực, chiều dài chi và các đoạn chi, vòng chi…là các thông số được dùng phổ biến trong các nghiên cứu nhằm đánh giá thể lực con người
Trong các chỉ số trên chiều cao đứng là một trong những kích thước được dùng phổ biến nhất trong hầu hết các cuộc điều tra cơ bản về hình thái học, nhân chủng học và y học Chiều cao đứng phản ánh quá trình phát triển theo chiều dài của xương, biểu hiện tầm vóc của con người Nó thường thay đổi theo chủng tộc, giới tính, và cũng chịu một phần ảnh hưởng của môi trường, hoàn cảnh sống, xã hội [12]
Chiều cao đứng còn là một trong những đặc điểm rất quan trọng trong ứng dụng nhân trắc học và nghiên cứu thiết kế ecgonomi [12]
Chiều cao đứng có mối tương quan thuận với một số kích thước khác của cơ thể nên người ta thường đo kết hợp để thành lập các chỉ số đánh giá mức độ phát triển thể lực hoặc đánh giá sự cân đối của cơ thể [5]
Chiều cao ngồi cũng là một kích thước được dùng phổ biến sau chiều cao đứng Nó có ý nghĩa đối với việc tính toán thiết kế chỗ làm việc trong tư thế ngồi Chiều cao ngồi còn được dùng để thay thế cho bề dài phần thân trên khi cần so sánh với bề dài phần thân dưới Tỷ lệ giữa hai phần thân trên và dưới phản ánh quy luật phát triển tỷ lệ của cơ thể trong các quần thể người [12]
Chiều dài chi và các đoạn chi: chiều dài chi trên và chi dưới có sự phát triển tương ứng với chiều cao đứng [12]
Độ dài chi và các phần chi thể hiện sự phát triển hệ xương chi và sự phát triển của cơ thể Hệ số tương quan giữa chiều cao đứng với chiều cao ngồi và chiều dài chi đánh giá sự phát triển cân đối giữa các phần của cơ thể và mối liên quan
Trang 13Vòng ngực là chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá hình thái thể lực cũng như chức năng hô hấp Sự chênh lệch giữa vòng ngực hít vào hết sức và vòng ngực thở
ra hết sức thể hiện độ giãn nở của ngực, khi độ giãn nở lớn chứng tỏ chức năng hô hấp tốt [5], [9]
Các vòng chi (vòng tay phải hoặc tay trái khi co và vòng đùi) phản ánh sự phát triển của ba yếu tố: xương, tổ chức mỡ dưới da, đặc biệt là các tổ chức cơ của
cơ thể Đo các vòng cơ ở chi cho phép chúng ta đánh giá tình trạng tập luyện và dinh dưỡng của cơ thể [5]
Cân nặng của cơ thể tuy không nói lên tầm vóc, nhưng vì nó phát triển liên quan đến nhiều kích thước khác, cho nên thường được khảo sát đồng thời nhằm đánh giá thể lực chung [12]
Cân nặng không phụ thuộc vào yếu tố di truyền mà phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng, thông qua chỉ số này ta có thể biết được mức độ và tỉ lệ giữa sự hấp thu
và tiêu hao năng lượng của một người [5]
Từ các chỉ số hình thái: chiều cao, vòng ngực, vòng tay phải hoặc trái khi co, vòng đùi, trọng lượng cơ thể là cơ sở để xác định chỉ số thể lực: Pignet, BMI Các chỉ số này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá sự phát triển của con người
Chỉ số Pignet là chỉ số thể lực phản ánh mối liên hệ giữa kích thước dọc (chiều cao đứng) và các kích thước ngang (cân nặng và vòng ngực trung bình) của
Năm 1754, trong luận án tiến sĩ của Christian Friedrich Jumpert đã trình bày được các số liệu đo đạc cụ thể về cân nặng, chiều cao và các đại lượng khác của một loạt trẻ trai và gái từ 1 – 25 tuổi tại các trại trẻ mồ côi hoàng gia Berlin và một số nơi khác ở Đức
Trang 14Đây là công trình nghiên cứu về sự tăng trưởng thực sự đầu tiên trên thế giới [11]
Từ năm 1757 – 1777, Philibert gueneau de Montbeilard nghiên cứu về chiều cao của con trai mình trong vòng 18 năm, mỗi năm thực hiện 2 lần cách nhau 6 tháng Đây là một nghiên cứu tốt nhất được làm cho đến nay và được trích dẫn trong các nghiên cứu về tăng trưởng trong suốt thế kỉ XIX, sau đó bị lãng quên rồi được nhắc lại trong các nghiên cứu về tăng trưởng từ giữa thế kỉ XX cho đến nay [11]
Đến năm 1942, Aray Thompson đã thể hiện các số liệu nghiên cứu của Montbeilard trên đồ thị trong tác phẩm “On growth and form” của mình Những đóng góp Thompson đã đưa khái niệm tốc độ tăng trưởng và trong những nghiên cứu về tăng trưởng, cùng với hai đại lượng khác của tăng trưởng là chiều cao và cân nặng như là những chỉ tiêu về sức khỏe, đã được sử dụng trong các nghiên cứu về tăng trưởng trước đó [11]
Nghiên cứu tăng trưởng cũng được sử dụng trong y tế học đường Năm 1772- 1794 tại Đức có công trình nghiên cứu dọc thực hiện trên 689 học sinh trong
đó có 92 học sinh 8 tuổi, 442 học sinh 15 tuổi và 155 học sinh 21 tuổi Sau đó tác giả đã xây dựng được biểu đồ tăng trưởng [11]
Năm 1840 – 1911, Harpenden Bowditch hiệu trưởng đầu tiên của Khoa Y Trường Đại Học Harvard (Mỹ) đã đưa ra chuẩn tăng trưởng của trẻ em Mỹ và lần đầu tiên sử dụng hệ thống bách phân vị trong nghiên cứu sinh trưởng [11]
Năm 1860 – 1935 Pau Godin một thầy thuốc học đường là người đưa ra thuật ngữ “Tăng trưởng học” (Auxology) trong một bài báo có nhan đề
“Larnesthode auxologique” công bố năm 1919 Một ứng dụng khác của tăng trưởng
đã được các nhà lâm sàng dùng trong nghiên cứu người bệnh [11]
Các sách giáo khoa nhi khoa từ cuối thế kỷ XIX cũng đã đề cập đến vấn đề tăng trưởng của trẻ em [11]
Rudolf Martin, nhà khoa học Đức, tác giả của giáo trình “Giáo trình về nhân trắc học” được coi là người đầu tiên đặt nền móng cho ngành khoa học nhân trắc
Từ đó về sau các nhà khoa học khác đều dựa trên cơ sở của Martin bổ sung và hoàn
Trang 15thiện về mặt lý luận và thực tiễn cho phù hợp với truyền thống khoa học của từng nước [12]
Với sự phát triển của di truyền học, sinh lý học và thống kê, từ đầu thế kỷ
XX việc nghiên cứu về thể lực được đẩy mạnh ở khắp nơi trên thế giới Các công trình nghiên cứu cho thấy sự tăng trưởng kích thước tổng thể và sự phát triển cơ thể học sinh ở các lứa tuổi không giống nhau, có thời kỳ tốc độ tăng trưởng nhanh, có thời kỳ tốc độ tăng trưởng chậm [11]
Trong tác phẩm “Tăng trưởng phương pháp và sự nối tiếp” của các nhà nghiên cứu Pháp M.Sempe, G.Pedron và M.P.Rog – Pernot đã đề cập đến phương pháp nghiên cứu thể lực và sự phát triển của cơ thể trẻ em Đây là công trình nghiên cứu hoàn chỉnh nhất trong lĩnh vực nhân trắc học
Hiệp hội quốc tế của các nhà nghiên cứu về tăng trưởng người đã được thành lập từ năm 1977, từ đó hội nghị quốc tế về tăng trưởng được tiến hành 3 năm một lần
1.2.2 Tại Việt Nam
Nhân trắc học của Việt Nam bắt đầu từ những năm 30 của thế kỷ XX tại ban nhân trắc học thuộc viện Viễn Đông bác cổ Kết quả được công bố trong các công trình nghiên cứu của Viện Giải Phẫu Học, Đại học Y khoa Đông Dương, 1936-
1944 “ Cuốn hình thái học và giải phẫu học mỹ thuật” là tác phẩm đầu tiên của bác
sĩ Đỗ Xuân Hợp (1943) và P.Huard và Bigot (1938) đã được xuất bản năm 1942 Các công trình này tuy số lượng đối tượng nghiên cứu chưa lớn, nhưng cũng đã nêu được những đặc điểm về nhân trắc học người Việt Nam đương thời [12]
Từ những năm 50 đến nay, việc nghiên cứu hình thái học đã được đẩy mạnh
và đã có những đóng góp đáng kể cho khoa học Đáng chú ý có công trình “Nghiên cứu hằng số sinh học người Việt Nam” do giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng làm chủ biên năm 1967 và 1972, với sự tham gia nghiên cứu của các viện nghiên cứu và các trường Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên nêu ra khá đầy đủ và hệ thống các hằng số hình thái học người Việt Nam nghiên cứu trong vòng hơn 10 năm [12]
Năm 1974, cuốn “Nhân trắc học và sự ứng dụng nghiên cứu trên người Việt Nam” của tác giả Nguyễn Quang Quyền được xuất bản và được coi là cuốn sách đầu tay cho những người nghiên cứu nhân trắc học ở Việt Nam [9]
Trang 16Năm 1975 – 1976, Nguyễn Quang Quyền và Lê Gia Vinh tiến hành nghiên cứu tầm vóc – thể lực của 2100 cư dân một xã đồng bằng tỉnh Hà Tây (816 nam và
1284 nữ), tuổi từ 16 – 70 theo những kỹ thuật và phương pháp tiêu chuẩn trong nhân trắc học Tác giả đưa ra nhận xét: so với hằng số sinh học (1975) thì chiều cao của nông dân Hà Tây ở các lứa tuổi đều tương tự và xấp xỉ các kết quả nghiên cứu trên các nhóm đối tượng khác được tiến hành trước đó 10 năm Sự tăng trưởng tầm vóc – thể lực ở nữ sớm hơn nam, tầm vóc thể lực của nữ phát triển mạnh và đạt cực đại ở lớp tuổi 16 – 25 và có dấu hiệu giảm dần ở độ tuổi 41 – 60, ở nam tầm vóc thể lực phát triển mạnh và đạt cực đại ở lớp tuổi từ 26 – 40 tuổi và giảm dần ở 49 tuổi [11]
Năm 1977, Nguyễn Quang Quyền và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu trên
216 công nhân ngành tiện, tuổi từ 26 – 40 và nhận thấy: chiều cao, cân nặng của các đối tượng nghiên cứu cũng tương tự như hằng số sinh học của người Việt Nam, tuy nhiên thể lực của họ lại tốt hơn các nhóm đối tượng khác Từ đó tác giả đưa ra các tiêu chuẩn về tầm vóc và thể lực làm cơ sở cho việc khám tuyển công nhân nói chung và công nhân ngành tiện nói riêng [11]
Cũng trong năm 1977, lần đầu tiên ở Việt Nam, Nguyễn Quang Quyền, Lê Gia Vinh và Trịnh Hùng Cường đã nghiên cứu một cách hệ thống bề dày lớp mỡ dưới da bằng compass Harpenden Skinfold Caliper theo sơ đồ 36 điểm đo của Ewdheim Đây là chỉ số đánh giá tình trạng dinh dưỡng, phần nào cũng phản ánh tầm vóc – thể lực của cơ thể [11]
Năm 1980, Nguyễn Văn Lực và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu 768 sinh viên khu vực Thái Nguyên (400 nam và 368 nữ) tuổi từ 16 – 25, trong đó 52,6% là dân tộc Việt, số còn lại là các dân tộc ít người và đưa ra nhận xét cơ bản: tầm vóc (chiều cao, cân nặng) của sinh viên Thái Nguyên tốt hơn so với hằng số sinh học, thể lực được xếp loại tốt trong thang phân loại người Việt Nam bình thường, trong
đó thể lực nữ tốt hơn nam sinh viên cùng lứa tuổi [11]
Năm 1985, Nguyễn Khải và cộng sự đã nghiên cứu một cách khá toàn diện
về tầm vóc thể lực của 882 sinh viên khu vực Huế và so sánh với các đối tượng khác, chủ yếu với hằng số sinh học 1975 Các tác giả đưa ra các nhận định: so sánh
Trang 17với hằng số sinh học, tầm vóc thể lực của nam sinh viên Huế tốt hơn , nhưng của nữ sinh viên Huế lại yếu hơn [11]
Trong những năm 1984 – 1985, Hà Thị Phương Tiến, Nguyễn Hữu Nhân và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu tình hình thể lực phụ nữ dân tộc Chill (tỉnh Lâm Đồng) Các tác giả đã tiến hành đo đạc kích thước tầm vóc thể lực và tính toán các chỉ số thể lực trên 307 phụ nữ tuổi từ 18 – 55 theo các phương pháp nghiên cứu nhân trắc học và đưa ra kết luận sau: nhìn chung phụ nữ người dân tộc Chill (Lâm Đồng) có tầm vóc lớn hơn chút ít so với người Việt Nam bình thường (hằng số sinh học, 1975) Ở hai lớp tuổi 18 – 25 và 26 – 40, các kích thước tầm vóc – thể lực là tốt nhất Từ tuổi 41 trở đi tầm vóc – thể lực phụ nữ dân tộc Chill giảm xuống rõ rệt
và suy sụp ở độ tuổi trên 55 [11]
Năm 1985 – 1986, Trịnh Hữu Vách và Lê Gia Vinh nghiên cứu trên 3486 người trưởng thành thuộc 5 tỉnh miền Bắc và miền Nam đã nhận thấy: tầm vóc – thể lực của nhóm đối tượng này tốt hơn so với hằng số sinh học Việt Nam, sau 10 năm quy luật gia tăng tầm vóc thể lực theo thời gian đã xuất hiện do hoàn cảnh kinh tế
xã hội của đất nước đổi mới Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ đưa ra những kết luận tương đối khiêm tốn vì sự chênh lệch các số liệu tương đối còn quá nhỏ, chưa đủ độ tin cậy [11]
Năm 1986, Nguyễn Khải và cộng sự đã nghiên cứu một cách toàn diện về tầm vóc thể lực của 2836 người (1165 nam và 1671 nữ) tuổi từ 16 đến trên 60 xã ở Thủy Dương (ngoại thành Huế) Bốn năm sau (1990) các tác giả lại tiến hành nghiên cứu đợt hai trên cùng một nhóm đối tượng nghiên cứu trước (nhưng đợt này trên 2210 người, trong đó 910 nam và 1300 nữ) đã rút ra một số nhận định chủ yếu sau: Sự tăng trưởng tầm vóc thể lực của nông dân xã Thủy Dương (Huế) là tương đối ổn định qua 2 lần nghiên cứu cách nhau bốn năm Sự tăng trưởng tầm vóc thể lực của nhóm đối tượng này theo lứa tuổi cũng tương tự như các kết luận của Nguyễn Quang Quyền và Lê Gia Vinh nghiên cứu trên nông dân đồng bằng Hà Tây Tầm vóc thể lực của nam nông dân xã Thủy Dương kém hơn chút ít so với hằng số sinh học (1975), nhưng riêng nữ lại có tầm vóc thể lực xấp xỉ hoặc tốt hơn đôi chút so với hằng số sinh học và các mẫu nghiên cứu khác [11]
Trang 18Năm 1986, nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật đã xuất bản cuốn “Atlat nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động, công trình tiến hành trên 13,223 người (6493 nam và 6730 nữ) từ 17 đến 55 tuổi thuộc ngành nghề khác nhau trên khắp cả nước và rút ra nhận xét: người Việt Nam có chiều cao và trọng lượng cơ thể thuộc loại trung bình thấp của thế giới, sự chênh lệch giới tính về chiều cao, các vòng và trọng lượng là có ý nghĩa thống kê [12]
Năm 1991, trong cuốn sách chuyên đề “Mấy vấn đề sinh học về phụ nữ nông thôn Việt Nam”, các tác giả Hà Thị Phương Tiến, Trịnh Hữu Vách và Lê Gia Vinh
đã đưa ra một số nhận định về tầm vóc, thể lực của phụ nữ nông thôn Việt Nam đương đại thông qua kết quả nghiên cứu trên 3972 phụ nữ thuộc các khu vực sản xuất nông nghiệp ở 6 tỉnh rải rác khắp cả nước là: tầm vóc phụ nữ nông thôn không khác mấy phụ nữ Việt Nam nói chung (hằng số sinh học 1975), nhưng nhỏ bé hơn nhiều phụ nữ Liên Xô
Cùng năm đó (1991), nhằm thu thập các số liệu để hoàn thành luận án phó tiến sĩ về giải phẫu nhân trắc học, Mai Văn Thìn đã tiến hành nghiên cứu tầm vóc – thể lực của 100 nam dân tộc Êđê tuổi 18 – 25 và đi đến những kết luận: tầm vóc thể lực của nam thanh niên dân tộc Êđê thuộc loại tốt trong phân loại người Việt Nam,
to khỏe hơn so với nam thanh niên dân tộc Việt và các nam thanh niên dân tộc ít người khác Các đặc điểm hình thái học cho thấy nam thanh niên mang đậm tính Mongoloid thuộc tiểu chủng Đông – Nam Á So với người nước ngoài (thuộc đại chủng tộc Europoid) thì người Êđê vẫn thuộc loại thấp bé, nhẹ cân [11]
Năm 1993, Lê Gia Vinh và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu tầm vóc, thể lực của 165 sinh viên Y Khoa Hà Nội năm thứ nhất (80 nam và 85 nữ) độ tuổi từ 18 –
19 và cũng đã đưa ra một số kết quả: tầm vóc thể lực của họ tốt hơn so với thanh niên Việt Nam cùng lứa tuổi (hằng số sinh học 1975) Như vậy có lẽ sau 29 năm cùng với những điều kiện tự nhiên và xã hội dần dần được cải thiện, quy luật gia tăng về tầm vóc, thể lực của người Việt Nam đã bắt đầu xuất hiện [11]
Năm 1994, Trường Đại Học Y Hà Nội được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước và dưới sự chỉ đạo giúp đỡ của các cán bộ liên quan đã làm chủ trì dự án
“Điều tra cơ bản một số chỉ tiêu sinh học của người Việt Nam bình thường ở thập
Trang 19kỷ 90” Sau 6 năm triển khai với sự tham gia của các trường Đại Học Y và 8 bệnh viện trung ương, kết quả là đã biên tập được cuốn sách [1]
Năm 1995, Nguyễn Yên và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu trên 2033 người thuộc các lứa tuổi 1 – 5 và 18 – 55 của 3 nhóm dân tộc Việt, Mường và Dao ở tỉnh
Hà Tây và đi tới một số kết luận chính như sau: các lớp tuổi trong khoảng 18 – 55, tầm vóc thể lực của hai giới đều phát triển tốt hơn so với nông dân cách đây 10 – 15 năm trước và đạt kết quả cao nhất ở lớp tuổi 26 – 40 Trong 3 nhóm dân tộc được nghiên cứu thì tầm vóc, thể lực của người Việt Nam là tốt nhất, sau đó đến người Mường và người Dao [11]
Năm 1998, Vũ Thị Thanh Bình nghiên cứu các chỉ số hình thái thể lực và chức năng sinh lý của sinh viên trường Cao đẳng Sư Phạm Thể dục Trung Ương 1
đã nhận thấy, sinh viên của trường này có thể lực tốt hơn sinh viên các trường đại học khác và thuộc loại tốt hơn so với thanh niên Việt Nam nói chung Có thể coi những khác biệt này là do đặc trưng thể lực của sinh viên năng khiếu và tác động của rèn luyện thể chất ở cường độ cao [7]
Năm 2001, Huỳnh Trọng Khải nghiên cứu sự phát triển thể chất của học sinh
nữ từ 7 – 11 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh có so sánh với trẻ am gái tại Quảng Tây (Trung Quốc) , Nhật Bản và Mỹ đã rút ra một số nhận xét: chiều cao và cân nặng của học sinh nữ từ 7 – 11 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh tăng trưởng theo quy luật chung, tăng theo lứa tuổi và vượt trội hơn so với hằng số sinh học (1975) nhưng vẫn thấp hơn so với học sinh nữ cùng lứa tuổi tại Trung Quốc, Mỹ và Nhật Bản Từ
7 – 11 tuổi học sinh nữ tại thành phố Hồ Chí Minh đa số có tình trạng dinh dưỡng bình thường (72,18%), béo (2,62%), thừa cân ( 4,85%) và gầy (20,35%) [8]
Năm 2003, khi nghiên cứu về các chỉ số sinh học của sinh viên một số trường Đại học phía Bắc Việt Nam, Mai Văn Hưng trong luận án tiến sĩ của mình
đã chia sự tăng trưởng về hình thái của sinh viên ra làm 2 thời kỳ: thời kỳ tăng rõ từ
18 – 19 tuổi với mức tăng trung bình chiều cao đứng bằng 1,19cm/năm và cân nặng
là 1,75kg/năm ở học sinh nam, còn ở học sinh nữ tương ứng là 1,23 cm/năm và 2,19 kg/năm Sau giai đoạn này các chỉ số thay đổi không đáng kể Trong 3 trường Đại học thì sinh viên trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2 có chiều cao và trọng lượng cơ
Trang 20thể trung bình cao nhất, tiếp đến là sinh viên trường Đại học Sư Phạm Hà Nội và cuối cùng là sinh viên trường Đại học Hồng Đức [6]
Năm 2006, Mai Văn Hưng khi nghiên cứu các chỉ số sinh học cơ bản của sinh viên một số trường Đại học Sư phạm kết luận: các chỉ số hình thái của sinh viên vùng Đông Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ tương đương nhau còn sinh viên vùng Tây Bắc Bộ thấp hơn [7]
Cũng trong năm 2006, Trần Đức Dũng, Vũ Chung Thủy, Nguyễn Hùng Cường nghiên cứu trên 3000 trẻ em của 22 trường Tiểu học lứa tuổi 7 – 8 trên phạm vi toàn quốc đã rút ra kết luận: chiều cao, cân nặng của trẻ em nam nữ miền Bắc có sự tăng trưởng cao nhất, tiếp đến là trẻ em miền Nam, thấp nhất là trẻ em miền Trung Ở các vùng địa lý khác nhau mức tăng trưởng 2 chỉ tiêu trên khác nhau, cao nhất là trẻ em miền trung du, tiếp đến là trẻ em miền núi và thấp nhất là trẻ em vùng đồng bằng [4]
Nhìn chung việc nghiên cứu hình thái thể lực ở người Việt Nam khá phong phú Mỗi công trình nghiên cứu đưa ra các kết quả khác nhau, đó là do đối tượng, thời điểm và địa điểm nghiên cứu khác nhau Từ những kết quả đã thu được các nhà khoa học đã rút ra được các quy luật tăng trưởng của cơ thể và đã có những ứng dụng thực tiễn to lớn
1.3 Một số nét về kinh tế xã hội của đồng bào dân tộc Cơ Tu ở tỉnh Quảng Nam
- Tình hình chung về điều kiện kinh tế - xã hội miền núi tỉnh Quảng Nam
+ Quảng Nam là một tỉnh thuộc khu vực Duyên hải Miền Trung nằm ở trung
độ của cả nước, vừa có vùng đồng bằng ven biển vừa có vùng trung du, miền núi; địa hình có độ dốc lớn, hiểm trở Tổng diện tích vùng miền núi là 845,763 ha chiếm 81,25% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh; trong đó diện tích diện tích vùng đồng bào dân tộc thiểu số cư trú là 683,792 ha, chiếm 80,8% diện tích tự nhiên của toàn vùng miền núi
+ Đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 7% dân số toàn tỉnh, bao gồm các dân tộc như Cơ Tu, Xơ Đăng (gồm các nhóm Xơ Teng, Mơ Nâm, Cà Dong), Giẻ Triêng (gồm các nhóm Bhoong, Ve, Tà Riềng) và Cor Sinh sống trên địa bàn
Trang 216 huyện vùng cao, miền núi là Nam Trà My, Bắc Trà My, Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang và Phước Sơn Trong đó có 12 xã của huyện Tây Giang, huyện Nam Giang thuộc tuyến biên giới Việt Nam – Lào
+ Thu nhập bình quân đầu người đạt từ 1,2 đến 1,4 triệu đồng/người/năm Tỷ
lệ dùng nước sạch đạt tỷ lệ 50%, dùng điện đạt 34,24% và 60,62% số dân dùng phương tiện truyền thanh Bình quân đất sản xuất nông – lâm nghiệp từ 1,400 đến 1,700 m2/hộ Tỷ lệ đói nghèo theo chuẩn mới còn cao, cụ thể: Nam Giang 52,63%, Đông Giang 52,77%, Bắc Trà My 56,31%, Phước Sơn 59,74%, Nam Trà My 77,79% và Tây Giang 84,62% Hiện nay cả tỉnh có 57 xã đặc biệt khó khăn bao gồm 12 xã tuyến biên giới Việt Nam – Lào
- Một số nét về tình hình kinh tế - xã hội của đồng bào dân tộc Cơ Tu ở tỉnh Quảng Nam:
+ Ở tỉnh Quảng Nam, người Cơ Tu có số lượng đông nhất trong các địa phương có người Cơ Tu sinh sống (36,822 người) Quảng Nam cũng là địa phương được giới nghiên cứu cho là quê hương gốc, quê hương lâu đời của người Cơ Tu ở Việt Nam Tại tỉnh Quảng Nam, người Cơ Tu sống tập trung ở các huyện Hiên (trong 19 xã) và huyện Nam Giang (trong 5 xã)
+ Cũng như các dân tộc khác sống lâu đời ở vùng núi tỉnh Quảng Nam, nền kinh tế chủ đạo của người Cơ Tu là nền kinh tế nương rẫy, với việc chặt đốt cây rừng lấy đất trồng cây lúa cạn mỗi năm một vụ Đây là một nền kinh tế mang nặng tính chất tự nhiên Xuất phát từ nền kinh tế chỉ biết lấy sản xuất kinh tế nương rẫy làm nguồn sống chủ yếu mà ít chú ý đến làm vườn, chăn nuôi, làm nghề thủ công, buôn bán trao đổi cho nên ở đây đã phản ánh rất rõ đặc tính của cư dân nương rẫy, của nền kinh tế tự cung tự cấp, đóng kín
Trang 22CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi gồm 215 học sinh dân tộc Cơ Tu của trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Quảng Nam
Bảng 2.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi và giới tính
n >= 30
2.2.2 Phương pháp tính tuổi đối tượng nghiên cứu
Dựa theo phương pháp tính tuổi của Nguyễn Quang Quyền và Lê Doãn Diên, đó là dựa vào giấy khai sinh để tính tuổi đối tượng nghiên cứu Theo quy ước chung người ta gọi một độ tuổi nào đó là bao gồm những cá thể có số năm trước hoặc sau tuổi đó 6 tháng
Ví dụ: trẻ 16 tuổi là những cá thể từ 15 năm 6 tháng 1 ngày đến 16 năm 6 tháng
2.2.3 Phương pháp thu số liệu
Dựa vào phương pháp nhân trắc của Nguyễn Quang Quyền
Khi nghiên cứu về các chỉ số hình thái thể lực chúng tôi tiến hành đo đạc một
số chỉ số sau:
Trang 232.2.3.1 Các chỉ số hình thái:
- Trọng lượng cơ thể: được xác định bằng cân điện tử chính xác đến 0,1 kg
(đã hiệu chỉnh trong các lần đo) Cân đặt ở vị trí ổn định, bằng phẳng, lấy một đến hai số lẻ của cân, đo xa bữa ăn
Phương pháp đo: Đối tượng nghiên cứu đứng trên bàn cân chỉ mặc quần áo mỏng, không mang giày dép, đứng yên trên vị trí quy định trên mặt bàn cân
- Chiều cao đứng: được xác định bằng thước đo có vạch chia chính xác đến
0,1 cm
Phương pháp đo: Đối tượng được đo đứng ở tư thế đứng nghiêm, ba điểm nhô ra nhất về phía sau của lưng, mông, gót chạm vào dụng cụ đo, đầu để thẳng sao cho đuôi mắt và điểm giữa bờ trên lỗ tai ngoài nằm ngay trên đường thẳng ngang, vuông góc với trục cơ thể
- Chiều cao ngồi: được xác định bằng thước đo có vạch chia chính xác đến
0,1 cm
Phương pháp đo: Đối tượng được đo ngồi ngay ngắn trên ghế, hai điểm nhô
ra nhất về phía sau của lưng và mông chạm vào dụng cụ đo Đầu để thẳng, thân và đùi, đùi và cẳng chân, cẳng chân và bàn chân tạo thành những góc vuông, hai tay đặt lên đùi, hai đầu gối và hai mắt cá chân trong đặt sát vào nhau, bàn chân đặt sát trên mặt đất
- Dài tay: Là khoảng cách từ mỏm vai đến đầu mút ngón tay thứ III và được
xác định bằng thước dây có vạch chia chính xác đến 0,1 cm
Trang 24- Dài cánh tay: Là khoảng cách từ mỏm cùng vai đến đài quay và được xác
định bằng thước dây có vạch chia chính xác đến 0,1 cm
- Dài cẳng tay: Là khoảng cách từ bờ trên đầu xương quay đến bờ dưới mõm
trâm quay và được xác định bằng thước dây có vạch chia chính xác đến 0,1 cm
- Dài chân: Là khoảng cách từ mặt đất đến gai chậu trước trên và được xác
định bằng thước dây có vạch chia chính xác đến 0,1 cm
- Dài đùi: Là khoảng cách từ gai chậu trước trên đến khe phía trong khớp gối
và lồi cầu xương chày, được xác định bằng thước dây có vạch chia chính xác đến 0,1 cm
- Dài cẳng chân: Là khoảng cách từ khe phía trong khớp gối giữa lồi cầu
xương đùi và xương chày đến đỉnh mắt cá trong, được xác định bằng thước dây có vạch chia chính xác đến 0,1 cm
- Vòng cánh tay phải khi co: được xác định bằng thước dây có vạch chia
chính xác đến 0,1 cm
Phương pháp đo: Vòng thước dây qua chỗ to nhất của cánh tay khi đối tượng
co gấp chặt cẳng tay vào cánh tay
- Vòng đùi: được xác định bằng thước dây có vạch chia chính xác đến 0,1
Pi = Chiều cao (cm) - [Cân nặng (kg) + Vòng ngực trung bình (cm)]
Theo Nguyễn Quang Quyền người Việt Nam phân thể lực theo thang pignet như sau:
Trang 25+ Chỉ số pignet > 53: Rất yếu
- Chỉ số BMI (chỉ số khối lượng cơ thể - Body Mas Index)
BMI = Cân nặng (kg) / [Chiều cao (m)]2 Chỉ số BMI (Body Mass Index) được tổ chức y tế thế giới dùng để đánh giá khối lượng cơ thể BMI là công thức toán học để kiểm tra tỉ lệ cân nặng và chiều cao của cơ thể người Cân nặng và chiều cao đánh giá riêng rẽ không phản ánh được tình trạng dinh dưỡng mà cần phải phối hợp hai chỉ tiêu này để có được những đánh giá chính xác
Thang đánh giá chỉ số BMI của tổ chức y tế thế giới (WHO, 2005)
+ BMI < 16 : Thiếu năng lượng trường diễn độ III
+ BMI từ 16 16,9: Thiếu năng lượng trường diễn độ II
+ BMI từ 17 18,4: Thiếu năng lượng trường diễn độ I
Trang 26CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN
3.1 Các chỉ số hình thái của học sinh dân tộc Cơ Tu tại trường PTDTNT tỉnh Quảng Nam
3.1.1 Chiều cao đứng của học sinh dân tộc Cơ Tu tại trường PTDTNT tỉnh Quảng Nam
Kết quả nghiên cứu chiều cao đứng của học sinh dân tộc Cơ Tu tại trường PTDTNT tỉnh Quảng Nam được thể hiện bảng 3.1 và hình 3.1
Bảng 3.1 Chiều cao đứng của học sinh theo tuổi và giới tính
Nam
Nữ
X1 - X̅2 X
Qua bảng 3.1 và hình 3.1 cho thấy:
- Chiều cao đứng của học sinh từ 16 đến 18 tuổi tăng dần ở cả 2 giới
+ Đối với nam, chiều cao đứng tăng từ 160,35 cm (16 tuổi) đến 165,41 cm (18 tuổi) Như vậy, từ 16 đến 18 tuổi chiều cao đứng của nam tăng 5,06 cm
Tuổi
Giới tính
Tuổi
Trang 27+ Đối với nữ, chiều cao đứng tăng từ 152,52 cm (16 tuổi) đến 155,86 cm (18 tuổi) Như vậy, từ 16 đến 18 tuổi chiều cao đứng của nữ tăng 3,34 cm
- Trong cùng một độ tuổi chiều cao đứng của học sinh nam thường cao hơn chiều cao đứng của học sinh nữ, mức chênh lệch cao nhất là 9,9 cm (17 tuổi) và thấp nhất là 7,83 cm (16 tuổi)
Để đánh giá kết quả thu được, chúng tôi tiến hành so sánh KQNC với các KQNC khác như: “Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 thế
kỷ XX” (2003); “Nghiên cứu một số chỉ số hình thái thể lực của học sinh trung học phổ thông tại thành phố Đà Nẵng” (2008) của tác giả Ngô Thị Thủy Kết quả so sánh được trình bày ở bảng 3.2 và hình 3.2
Bảng 3.2 Chiều cao đứng của học sinh theo các KQNC khác nhau
Trang 28- KQNC của chúng tôi về chiều cao đứng của học sinh thuộc cả hai giới có
sự chênh lệch không đáng kể so với kết quả nghiên cứu trong GTSH (2003) và thấp hơn so với KQNC của tác giả Ngô Thị Thủy (2008)
+ Mức chênh lệch về chiều cao đứng của học sinh trong KQNC của tác giả Ngô Thị Thủy so với KQNC của chúng tôi dao động từ 1,78 cm (18 tuổi) đến 5,21
cm đối với nam và 0,14 cm (18 tuổi) đến 2,18 cm (17 tuổi) đối với nữ
- Sự khác biệt về chiều cao đứng trong KQNC của chúng tôi so với KQNC của tác giả khác là do:
+ Yếu tố di truyền và yếu tố lai giống đứng hàng đầu trong việc ảnh hưởng tới chiều cao Nó tác động mạnh và ngay tức thời ở thế hệ con cháu [9]
+ Yếu tố ngoại cảnh nói chung, trong đó bao gồm cả điều kiện sinh hoạt tinh thần và vật chất, ảnh hưởng của khí hậu và ánh nắng, sự thích nghi với môi trường…, ảnh hưởng ở mức độ lớn tới tốc độ phát triển cũng như chiều cao cuối cùng ở người lớn Tuy nhiên, yếu tố ngoại cảnh tác động từ từ, chậm chạp và cần phải liên tục [9]
+ Có nhiều tác giả nêu lên yếu tố của thành phố nghĩa là tác động của những điều kiện phức tạp hình thành trong các thành phố lớn Những nhu cầu và tiện nghi ngày càng tăng ở thành phố làm cho cuộc sống được dễ dàng Đó là những kích thích về mặt tinh thần đối với trẻ em và do đó, kéo theo sự gia tăng về thể chất
3.1.2 Chiều cao ngồi (cm) của học sinh dân tộc Cơ Tu tại trường PTDTNT tỉnh Quảng Nam
KQNC chiều cao ngồi của học sinh dân tộc Cơ Tu tại trường PTDTNT tỉnh Quảng Nam được thể hiện qua bảng 3.3 và hình 3.3
Bảng 3.3 Chiều cao ngồi (cm) của học sinh theo tuổi và giới tính
Nam
Nữ
X1 - X̅2 X
Trang 29Hình 3.3 Biểu đồ biểu diễn chiều cao ngồi (cm) của học sinh theo tuổi và giới tính
Qua bảng 3.3 và hình 3.3 cho thấy
- Chiều cao ngồi của học sinh từ 16 đến 18 tuổi tăng dần ở cả hai giới
+ Đối với nam, chiều cao ngồi tăng từ 84,79 cm (16 tuổi) đến 87,31 cm (18 tuổi) Như vậy, từ 16 đến 18 tuổi chiều cao ngồi của nam tăng 2,52 cm
+ Đối với nữ, chiều cao ngồi tăng từ 81,98 cm (16 tuổi) đến 83,29 cm (18 tuổi) Như vậy, từ 16 đến 18 tuổi chiều cao ngồi của nữ tăng 1,31 cm
- Trong cùng một độ tuổi, chiều cao ngồi của học sinh nam thường cao hơn của học sinh nữ, mức chênh lệch cao nhất là 4,35 cm (17 tuổi) và thấp nhất là 2,81
cm (16 tuổi)
Để đánh giá kết quả thu được, chúng tôi tiến hành so sánh KQNC với KQNC trong GTSH và KQNC của tác giả Ngô Thị Thủy Kết quả so sánh được trình bày ở bảng 3.4 và hình 3.4
Bảng 3.4 Chiều cao ngồi của học sinh theo các KQNC khác nhau
Các KQNC
Tuổi