1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích đánh giá hàm lượng zn trong một số loại rau cải bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử

51 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ưu, nhược điểm và phạm vi ứng dụng: + Hạn chế được sự mất mát của một số chất phân tích do nhiệt độ cao + Sự tro hóa là triệt để, sau khi hòa tan sẽ được dung dịch mẫu trong + Không tốn

Trang 2

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một nước mà nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, vì vậy vấn đề lương thực, thực phẩm có ý nghĩa vô cùng to lớn Rau là nguồn thực phẩm cần thiết và quan trọng cung cấp đầy đủ các chất cho

cơ thể: vitamin, muối khoáng, đạm Đặc biệt là các loại rau cải Nó không những đem lại giá trị về kinh tế, dinh dưỡng cao mà nó còn ổn định đời sống hàng ngày của con người và động vật

Hiện nay, các quy trình sản xuất rau sạch đã được thực hiện theo những quy định của bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn nhưng vì một số vấn đề như vốn đầu tư, trình độ hiểu biết, kỹ thuật canh tác… nên vấn đề rau sạch vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn ở nước ta

Việc phân tích để tìm ra hàm lượng các kim loại nặng trong rau là một biện pháp quan trọng góp phần kiểm soát được chất lượng, đảm bảo sự phát triển của rau xanh Kẽm trong rau xanh như một hợp phần kim loại của nhiều men mà quan trọng nhất là men xúc tác cho phản ứng tổng hợp ARN, tổng hợp protein Thiếu kẽm có thể làm giảm năng suất tới 50% mà không biểu hiện triệu chứng gì Ngoài

ra, kẽm là một nguyên tố vi lượng rất quan trọng trong việc đảm bảo sức khoẻ tốt cho con người Tuy nhiên kẽm với nồng độ lớn sẽ trở thành chất độc gây cản trở một số quá trình sinh hóa của con người và thực vật

Vì vậy, việc xác định Zn cũng như các kim loại khác là việc làm cần thiết Có nhiều phương pháp để xác định hàm lượng Zn, tuỳ thuộc vào hàm lượng chất phân tích mà có thể sử dụng các phương pháp khác nhau Trong đó, phương pháp hấp thụ nguyên tử AAS là phương pháp có độ lặp lại, độ nhạy và độ chọn lọc cao Vì

những lý do trên chúng tôi thực hiện đề tài: “Phân tích đánh giá hàm lượng Zn trong một số loại rau cải bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử ”

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Các kết quả thu được cuả đề tài góp phân xây dựng phương pháp xác định hàm lượng Zn trong rau cải bằng phương pháp hấp thụ nguyên tử (AAS)

Trang 3

Thông qua đó đánh giá hàm lượng Zn trong các loaị rau cải trên điạ bàn thành phố Đà Nẵng

Trang 4

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu chung về rau cải [16, 19, 23 ]

1.1.1 Đặc điểm và thành phần

Họ Cải (Danh pháp khoa học: Brassicaceae), còn gọi là họ Thập tự (Cruciferae),

là một họ thực vật có hoa Các loại cây trồng trong họ này gần như đều có chứa chữ cải trong tên gọi Bao gồm cải bắp, cải bông xanh, súp lơ, cải brussels, cải xoăn (tất

cả đều là các giống cây trồng từ một loài là Brasica oleracea), cải làn, cải củ Thụy

Điển, cải xoăn nước mặn, cải củ, cải thìa và su hào

Rau cải có thân thảo sống từ 2 đến 3 tháng, cao 25-70cm Rễ không phình thành

củ Lá ở gốc, to, màu xanh nhạt, gân giữa trắng, nạc, phiến hình bầu dục nhẵn, nguyên hay có răng không rõ, men theo cuống Hoa màu vàng tươi họp thành chùm

ở ngọn Quả cải dài 4-11cm, có mỏ

1.1.2 Công dụng của rau cải

Các nhà nghiên cứu khẳng định ăn nhiều rau họ cải như cải bắp, bông cải xanh

và cải bruxen giúp chống lại sự phát triển của bệnh ung thư phổi

Rau cải xoong có chứa nhiều sắt, nhiều iod giúp cơ thể chống được bệnh còi xương, bệnh béo phì, bệnh ngoài da, bệnh xơ cứng động mạch ở người cao tuổi Rau cải trắng có chứa nhiều chất bổ và vitamin đặc biệt là vitamin C có tác dụng chống oxy hóa mạnh

Trang 5

Cải thìa có nhiều vitamin A, B, C Lượng vitamin C của nó rất phong phú, đứng vào bậc nhất trong các loại rau Sau khi phơi khô, hàm lượng vitamin C vẫn còn cao Cải thìa là thực phẩm dưỡng sinh, ăn vào có thể lợi trường vị, thanh nhiệt, lợi tiểu tiện và ngừa bệnh ngoài da

Cải thảo chứa nhiều vitamin A, B, C, E có vị ngọt, tính mát, có tác dụng hạ khí, làm mềm cổ họng, bớt rát đỡ ho, bổ ích trường vị Ngoài ra, cải thảo có thể chữa một số bệnh như sốt rét, viêm bang quang, viêm đường tiết niệu

Thành phần dinh dưỡng trong cải xanh khá cao, đặc biệt là thành phần diệp hoàng tố và vitamin K Ngoài ra, cải xanh còn có rất nhiều vitamin A, B, C, D, chất caroten, anbumin, a-xit nicotic có tác dụng giải chứng cảm hàn, thông đàm, lợi khí

1.1.3 Một số tiêu chí rau an toàn [7, 17, 21]

1.1.3.1 Định nghĩa

Trong quá trình gieo trồng, để có sản phẩm rau an toàn nhất thiết phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật và sử dụng một số nguyên liệu như nước, phân bón, thuốc trừ sâu bệnh Trong các nguyên liệu này, kể cả đất trồng, đều có chứa những nguyên tố gây ô nhiễm rau và ít nhiều đều để lại một số dư lượng trên rau sau khi thu hoạch Vì vậy, trong thực tế hiện nay hầu như không thể có sản phẩm rau sạch với ý nghĩa hoàn toàn không có yếu tố độc hại Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, những yếu tố này thực sự chỉ gây độc khi chúng để lại một dư lượng nhất định nào

đó trên rau, dưới mức dư lượng này thì không độc hại Mức dư lượng tối đa không gây hại cho người có thể chấp nhận gọi là mức dư lượng cho phép (hoặc ngưỡng dư lượng giới hạn)

Như vậy, những sản phẩm rau không chứa hoặc có chứa dư lượng các yếu tố độc hại nhưng dưới mức dư lượng cho phép được coi là rau an toàn với sức khỏe người, nếu trên mức dư lượng cho phép là rau không an toàn

1.1.3.2 Tiêu chuẩn rau an toàn

Ngày 19/12/2007, bộ trưởng bộ Y tế đã ra quyết định số 46-2007-QĐ-BYT

“Quy định giới hạn tối đa ô nhiễm sinh học và hóa học trong thực phẩm’’ Trong quyết định này qui định mức dư lượng cho phép trên sản phẩm rau đối với hàm

Trang 6

lượng nitrate, kim loại nặng, vi sinh vật gây bệnh và thuốc BVTV Các mức dư lượng cho phép này chủ yếu dựa vào qui định của Tổ chức lương nông thế giới (FAO) và Tổ chức y tế thế giới (WHO) Các cá nhân, tổ chức sản xuất và sử dụng rau dựa vào các mức dư lượng này để kiểm tra xác định sản phẩm có đạt tiêu chuẩn

an toàn hay không

Ngoài ra trong thực tế rau an toàn còn phải mang tính hấp dẫn về mặt hình thức: rau phải tươi, không có bụi bẩn, không có triệu chứng bệnh và được đựng

trong bao bì sạch sẽ

Yêu cầu về chất lượng rau an toàn phụ thuộc vào điều kiện môi trường canh tác và kỹ thuật trồng trọt Yêu cầu về hình thức được thực hiện khi thu hoạch và trong quá trình bảo quản, đóng gói

Bảng 1.1 Quy định giới hạn tối đa ô nhiễm sinh học và hóa học trong thực

phẩm ( Ban hành kèm theo quy định số 46/2007/QĐ- BYT ngày 19 tháng 12 năm

Trang 7

1.1.4 Sự xâm nhập của Zn vào rau cải

Có nhiều yếu tố làm rau bị ô nhiễm, trong đó quan trọng nhất là các yếu tố sau:

dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, dư lượng nitrate (NO3-), sinh vật gây bệnh, dư lượng kim loại nặng

Nguyên nhân của sự ô nhiễm này là do trong thuốc BVTV và phân bón NPK

có chứa một số kim loại nặng Trong quá trình tưới tiêu, các kim loại nặng này bị rửa trôi xuống ao hồ, sông rạch, thâm nhập vào mạch nước ngầm gây ô nhiễm nguồn nước tưới rau Mặt khác, nguồn nước thải của thành phố và các khu công nghiệp chứa nhiều kim loại nặng mà người dân thường sử dụng trực tiếp để tưới rau

Biện pháp khắc phục sự ô nhiễm này là không trồng rau trong khu vực có chất thải của nhà máy, các khu vực đất đã bị ô nhiễm do quá trình sản xuất trước đó Ngoài ra, không tưới rau bằng nguồn nước có nước thải của các nhà máy công nghiệp Quan trọng nhất là sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu, thuốc kích thích …đúng liều lượng, không lạm dụng

1.2 Vài nét về kim loại kẽm [2]

1.2.1 Trạng thái thiên nhiên

Kẽm là nguyên tố tương đối phổ biến, trữ lượng của nó trong trái đất là

Kẽm trong tự nhiên là hỗn hợp của 4 đồng vị ổn định là Zn64, Zn66, Zn67, và

Zn68 với đồng vị 64 là phổ biến nhất (48,6% trong tự nhiên) 22 đồng vị phóng xạ được biết đến phổ biến và ổn định nhất là Zn65 với chu kỳ bán rã 244,26 ngày, và

Zn72 với chu kỳ bán rã 46,5 giờ Các đồng vị phóng xạ khác có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 14 giờ và phần lớn có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 1 giây

Trang 8

1.2.2 Tính chất vật lý

Kẽm là một kim loại màu trắng xanh, óng ánh và nghịch từ.Kẽm kim loại cứng

và giòn ở hầu hết cấp nhiệt độ nhưng trở nên dễ uốn từ 100 đến 150 °C Trên 210°C, kim loại giòn trở lại và có thể được tán nhỏ bằng lực Kẽm có tính dẫn điện khá So với các kim loại khác, kẽm có độ nóng chảy (419,5°C,1F) và điểm sôi (907°C) tương đối thấp Điểm sôi của nó là một trong số những điểm sôi thấp nhất của các kim loại chuyển tiếp, chỉ cao hơn thủy ngân và cadmi Khối lượng riêng lớn 7.13mg/m3

1.2.3 Tính chất hoá học

Kẽm là kim loại hoạt động, có tính khử mạnh, thế điện cực chuẩn của kẽm E0

Zn2+/ Zn = -0.76 V Ở nhiệt độ thường, kẽm bền với nước vì trên bề mặt kẽm có màng oxit hoặc cacbonat bazơ bảo vệ Ở nhiệt độ cao, khử nước biến thành oxit

Zn + H2O → ZnO + H2

Khi nung nóng, kẽm cháy mãnh liệt tạo oxit, Zn cháy cho ngọn lửa màu lam sáng chói

2 Zn + O2 → 2 ZnO Kẽm phản ứng trực tiếp với halogen (X2) , lưu hùynh và các nguyên tố khác như P, Se…

Trang 9

Kẽm là một trong những nguyên tố vi lượng cần thiết cho thực vật, động vật

và con người Với hàm lượng bé kẽm đóng vai trò là chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình sinh trưởng phát triển Kẽm là thành phần cấu tạo nên các ezim, là chất xúc tác cho một quá trình sinh hóa trong cơ thể thực vật và con người nên hiện tượng thiếu kẽm sẽ kìm hãm quá trình sinh trưởng phát triển của động thực vật và con người Tuy nhiên kẽm với nồng độ lớn sẽ trở thành một chất độc gây cản trở một số quá trình sinh hóa trong người và thực vật

Ngộ độc kẽm cấp tính, có thể gây chết người với triệu chứng như: có vị kim loại khó chịu và dai dẳng trong miệng, đau bụng đi chảy, buồn nôn, mồ hôi lạnh, co giật, hạ huyết áp, yếu cơ, khó thở, tê liệt, bí tiểu và cuối cùng mạch đập khẽ, nạn nhân chết sau 10 đến 48 giây

1.3.2 Vai trò của kẽm đối với thực vật

Nguyên tố kẽm có vai trò trong dinh dưỡng cây trồng như là việc ảnh hưởng đến sự tổng hợp sinh học axit indol acetic; là thành phần thiết yếu của men metallo-enzimes carbonic, anhydrase, anxohol dehydrogenase

Kẽm còn giúp cho việc tăng cường khả năng sử dụng đạm và lân trong cây Đặc biệt, kẽm còn đóng vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp axit nucleic và protein Thiếu kẽm có thể làm giảm năng suất tới 50% mà không biểu hiện triệu chứng gì

1.3.3 Vai trò của kẽm đối với cơ thể con người

Kẽm là một nguyên tố vi lượng cũng là chất khoáng rất quan trọng trong việc đảm bảo sức khoẻ tốt cho con người Cơ thể con người không thể thiếu kẽm, một người ăn thức ăn thiếu kẽm trong thời gian dài thì sẽ sinh bệnh Kẽm có thể đem lại

sự miễn dịch đối với cảm lạnh hay cúm Thị giác, vị giác, khứu giác và trí nhớ có

Trang 10

liên quan đến kẽm và sự thiếu hụt kẽm có thể gây ra sự hoạt động không bình thường của các cơ quan này

Đối với đàn ông kẽm có thể ảnh hưởng tới sự phát dục của khí quan sinh thực, khả năng tình dục và chi phối trạng thái hoạt động của tuyến tiền liệt Hàm lượng kẽm của tuyến tiền liệt nếu giảm 35% so với hàm lượng bình thường sẽ bị phì đại nhẹ tuyến tiền liệt, nếu giảm 38% sẽ dẫn tới viêm tuyến tiền liệt mạn tính, giảm 66% sẽ phát triển thành ung thư Đối với phụ nữ thiếu kẽm có thể dẫn đến tình trạng không thể mang thai

1.4 Các phương pháp vô cơ hóa mẫu [ 8, 10, 11]

Để xác định hàm lượng Zn trong rau xanh, trước hết ta phải tiến hành xử lý mẫu nhằm chuyển các nguyên tố cần xác định có trong mẫu từ trạng thái ban đầu (dạng rắn) về dạng dung dịch Đây là công việc rất quan trọng vì có thể dẫn đến sai lệch kết quả phân tích do sự nhiễm bẩn mẫu hay làm mất chất phân tích nếu thực hiện không tốt Hiện nay, có nhiều kĩ thuật xử lý mẫu phân tích, với đối tượng rau xanh thì ba kĩ thuật dùng để phá mẫu gồm kĩ thuật vô cơ hoá ướt bằng axit đặc hoặc oxi hóa mạnh, kĩ thuật vô cơ hoá khô bằng nhiệt độ và phương pháp khô - ướt kết hợp

1.4.1 Phương pháp vô cơ hoá mẫu khô

Nguyên tắc: Đối với các mẫu hữu cơ trước hết phải được xay nghiền thành bột, vữa hay thể huyền phù Sau đó dùng nhiệt để hoá tro mẫu, đốt cháy chất hữu cơ

và đưa các kim loại về dạng oxit hay muối của chúng

Cụ thể là: Cân lấy một lượng mẫu nhất định (10 - 15 gam) vào chén nung Nung chất mẫu ở nhiệt độ thích hợp, để đốt cháy hết các chất hữu cơ, và lấy bã vô

cơ còn lại của các mẫu là các oxit, các muối…sau đó hoà tan bã thu được trong axit

vô cơ như HCl, HNO3…để chuyển các kim loại về dạng ion tự do trong dung dịch Yếu tố quyết định dạng tro hoá ở đây là nhiệt độ nung và thời gian nung và các chất phụ gia thêm vào mẫu khi nung Nhiệt độ tro hoá các chất hữu cơ thường được chọn thích hợp trong khoảng 400 – 550 0C, tuỳ theo mỗi loại mẫu và chất cần phân tích

Ưu, nhược điểm và phạm vi ứng dụng:

+ Thao tác và cách làm đơn giản

Trang 11

+ Không phải dùng nhiều axit đặc

+ Xử lí được triệt để nhất là các mẫu nền hữu cơ

1.4.2 Phương pháp vô cơ hoá mẫu ướt

Nguyên tắc chung: Dùng axit đặc có tính oxi hoá mạnh như (HNO3, HClO4…), hay hỗn hợp các axit đặc có tính oxi hoá mạnh (HNO3 + H2O2)… để phân huỷ hết chất hữu cơ và chuyển các kim loại ở dạng hữu cơ về dạng ion trong dung dịch muối vô cơ Việc phân huỷ có thể thực hiện trong hệ đóng kín (áp suất cao), hay trong hệ mở (áp suất thường) Lượng axit thường phải dùng gấp từ 10 - 15 lần lượng mẫu, tuỳ thuộc mỗi loại mẫu và cấu trúc vật lý hoá học của nó Thời gian phân huỷ mẫu trong các hệ hở, bình Kendan, ống nghiệm, cốc…thường từ vài giờ đến vài chục giờ, cũng tuỳ loại mẫu, bản chất của các chất, còn nếu trong lò vi sóng

hệ kín thì chỉ cần vài chục phút Thường khi phân huỷ xong phải đuổi hết axit dư trước khi định mức và tiến hành đo phổ

Ưu, nhược điểm và phạm vi ứng dụng:

+ Không mất một số kim loại như Pb, Fe, Zn, Cu…

+ Không làm mất chất phân tích

+ Thời gian phân huỷ lâu, thường là từ 10 -12 giờ

+ Tốn nhiều axit tinh khiết, axit dư nhiều, phải đuổi axit sau khi xử lý + Dễ gây nhiễm bẩn, nếu các hoá chất không có độ sạch cao

+ Thời gian đuổi axit dư lâu

1.4.3 Phương pháp vô cơ hoá mẫu khô - ướt kết hợp

Nguyên tắc: mẫu được phân hủy trong chén hay trong cốc nung mẫu Trước tiên người ta thực hiện xử lý ướt trong cốc hay chén bằng một lượng nhỏ dung môi hay hỗn hợp dung môi để phá vỡ sơ bộ cấu trúc ban đầu của hợp chất mẫu và tạo

Trang 12

điều kiện giữ một số nguyên tố có thể bay hơi khi nung, sau đó mới đem nung ở một nhiệt độ thích hợp cho đến tro trắng

Ưu, nhược điểm và phạm vi ứng dụng:

+ Hạn chế được sự mất mát của một số chất phân tích do nhiệt độ cao

+ Sự tro hóa là triệt để, sau khi hòa tan sẽ được dung dịch mẫu trong

+ Không tốn nhiều dung môi đặc biệt là axit tinh khiết (lượng dung môi chỉ bằng 1/4 đến 1/3 lượng cần dùng cho xử lý ướt)

+ Thời gian xử lý nhanh và triệt để hơn so với cách xử lý thông thường + Không phải đuổi axit dư lâu nên hạn chế được sự nhiễm bẩn do môi trường + Phù hợp cho nhiều loại mẫu khác nhau để xác định kim loại và anion + Thời gian nung lâu, sử dụng lò nung

Qua tìm hiểu các tài liệu [8, 10, 11 ] chúng tôi chọn phương pháp vô cơ hóa mẫu ướt để xác đinh Zn trong mẫu rau cải bằng phương pháp AAS

1.4.3 Tác nhân vô cơ hóa

Khi xử lý mẫu bằng phương pháp vô cơ hóa việc lựa chọn tác nhân oxi hóa phải căn cứ vào khả năng, đặc tính oxi hóa của thuốc thử và đối tượng mẫu Một số tác nhân vô cơ hóa mẫu thường sử dụng như sau:

Axit nitric (HNO 3 ) là chất được sử dụng rộng rãi nhất để vô cơ hóa mẫu Đây

là tác nhân vô cơ hóa dùng để giải phóng nhanh vết nguyên tố từ các mẫu sinh học

và thực vật dưới dạng muối nitrit dễ tan Điểm sôi axit nitric ở áp suất khí quyển là

1200C, lúc đó sẽ ion hóa toàn bộ các chất hữu cơ trong mẫu phân tích và giải phóng

kim loại dưới dạng ion Loại mẫu được áp dụng chủ yếu là các mẫu hữu cơ như:

nước giải khát, protein, chất béo, nguyên liệu thực vật, nước thải, một số sắc tố polime và các mẫu trầm tích

Axit sunfuaric (H 2 SO 4 ) là chất có tính oxi hóa mạnh, có nhiệt độ sôi là 3390C Khi kết hợp với axit nitric (HNO3) sẽ có khả năng phá hủy hoàn toàn hầu hết các hợp chất hữu cơ Nếu sử dụng lò vi sóng thì phải vô cơ hóa trước trong cốc thủy

tinh hay thạch anh và giám sát quá trình tăng nhiệt độ của lò Loại mẫu được áp dụng: mẫu hữu cơ, oxit vô cơ, hidroxit, hợp kim, kim loại, quặng

Trang 13

Axit pecloric (HClO 4 ) có tính oxi hóa mạnh, có thể ăn mòn kim loại, không

phản ứng với các axit khác, phá hủy hợp chất hữu cơ Do HClO4 có thể gây nổ mạnh khi tiếp xúc với các nguyên liệu hữu cơ và các chất vô cơ dễ bị oxi hóa nên thường phải oxi hóa mẫu trước bằng axit nitric sau đó mới sử dụng HClO4 (đặc biệt

là trong lò vi sóng) Loại mẫu áp dụng: các mẫu hữu cơ và vô cơ Trong nhiều

trường hợp ta phải sử dụng hỗn hợp các axit mới có thể vô cơ hóa mẫu hoàn toàn

Qua quá trình tìm hiểu tài liệu và một số công trình nghiên cứu [10, 11 ] chúng tôi chọn hỗn hợp dung môi sử dụng để vô cơ hóa mẫu ướt mẫu rau cải là hỗn hợp HNO 3 đặc và HCl đặc

1.5 Các phương pháp xác định kẽm trong rau cải [ 7, 11, 12,13]

1.5.1 Phương pháp điện hóa

1.5.1.1 Phương pháp cực phổ cổ điển

Zn có hoạt tính cực phổ, trong nhiều nền cho sóng cực phổ định lượng Nguyên tắc của phương pháp là khử ion Zn2+ trên catot là giọt thủy ngân tạo ra sóng cực phổ Phản ứng xảy ra ở catot

Zn2+ + 2e = Zn0 E = - 0,7628 V

Độ nhạy của phương pháp cực phổ không cao, chỉ xác định nồng độ các nguyên tố trong khoảng 10-5 – 10-3 M

1.5.1.2 Phương pháp Von -Ampe hoà tan

Cở sở phương pháp: xây dựng đường cong phụ thuộc giữa cường độ dòng điện và hiệu điện thế giữa hai điện cực được đặt trong bình điện phân chứa chất cần nghiên cứu Các quá trình xác định Zn bằng phương pháp von –ampe hòa tan xung

vi phân gồm các giai đoạn:

Giai đoạn 1 : Điện phân làm giàu Zn trên bề mặt vi điện cực (Catot )

Zn2+ + ne  Zn Sau đó để hệ thống nghỉ khoảng 10 đến 20 giây để sản phẩm của sự điện phân phân bố đều trên bề mặt điện cực catot

Giai đoạn 2 : Hòa tan sản phẩm điện phân thường là các kim loại kết tủa trên

bề mặt điện cực và ghi dòng hòa tan bằng phương pháp von ampe kết hợp xung vi phân dưới dạng pic Trong điều kiện thích hợp cường độ dòng hoà tan tỷ lệ thuận

Trang 14

với lượng kẽm đã kết tủa trên bề mặt điện cực cũng như nồng độ chất cần xác định trong dung dich

Độ nhạy của phương pháp cao từ 10-6 – 10-8M và xác định được nhiều kim loại

1.5.2 Phương pháp quang học [5, 11, 13, 15]

1.5.2.1 Phương pháp quang phổ phát xạ nguyên tử (AES)

Đây là kỹ thuật phân tích được sử dụng rộng rãi trong phép phân tích, nó cho phép xác định định tính và định lượng hàm lượng đa lượng hoặc vi lượng của Zn

Ưu điểm của phương pháp này là phân tích nhanh hàng loạt mẫu, cho độ nhạy và độ chính xác cao, độ nhạy cỡ 0,001%

1.5.2.2 Phương pháp trắc quang phân tử UV-VIS

Phương pháp trắc quang dùng dithizon là một phương pháp tiêu chuẩn để xác định kẽm, phức của kẽm với dithizon có màu đỏ, có thể chiết ion kẽm ra khỏi dung dịch dithizon trong CCl4, phản ứng tạo phức tại pH = 4-7, tại pH này các ion của các nguyên tố Cu, Cd, Pb cũng phản ứng với dithizon Để loại trừ ảnh hưởng của các nguyên tố này người ta chiết kẽm từ dung dịch nước ở pH = 5 chứa lượng dư SCN- và CN- Các hợp chất oxi hóa dithizon như Cl2, Br2, I2, H2O2 được loại trừ bằng cách đun sôi dung dịch Một số chất vô cơ cản trở quá trình chiết và gây đục CCl4, do vậy phải vô cơ hóa bằng H2SO4, HNO3, H2O2 Đo mật độ quang của phức kẽm – dithizon tong pha hữu cơ ở bước sóng 530nm

1.5.2.3 Phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử (AAS)

AAS là một trong những phương pháp hiện đại, được áp dụng phổ biến trong các phòng thí nghiệm Phương pháp này xác định được hầu hết các kim loại trong mẫu sau khi đã chuyển hóa chúng về dạng dung dịch Trong phép đo AAS đối với

Zn người ta thực hiện đo với bước sóng bước tối ưu là 213,9 nm, thời gian đo 5 giây, tốc độ bơm khí C2H2 là 2lít/phút, khe đo là 0,7 nm, giới hạn phát hiện Zn2+ của phương pháp phân tích: 0.003µg/ml Phương pháp có độ nhạy cao, kết quả phân tích ổn định

Để phù hợp với điều kiện nghiên cứu chúng tôi chọn phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử để xác định Zn trong một số mẫu rau cải

Trang 15

1.6 Giới thiệu phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử [ 5, 13, 15]

1.6.1 Cơ sở lý thuyết của phép đo

1.6.1.1 Sự xuất hiện phổ hấp thụ nguyên tử

Nguyên tử tồn tại ở trạng thái hơi tự do mà bị kích thích bằng một chùm tia sáng có bước sóng xác định thì các nguyên tử tự do sẽ hấp thụ các bức xạ có bước sóng nhất định ứng với đúng những tia mà nó phát ra trong quá trình phát xạ, gọi là tia bức xạ cộng hưởng Lúc này nguyên tử nhận năng lượng, chuyển lên trạng thái kích thích và phát ra phổ, phổ đó gọi là phổ hấp thụ nguyên tử Quá trình này gọi là quá trình hấp thụ nguyên tử Tuy nhiên, nguyên tử không hấp thụ tất cả các bức xạ

mà nó phát ra trong quá trình phát xạ Quá trình hấp thụ xảy ra đối với các vạch nhạy, vạch đặc trưng của nguyên tố đó

1.6.1.2 Cường độ vạch phổ

Trong một vùng nồng độ nhỏ của chất phân tích, mối quan hệ giữa cường độ vạch phổ hấp thụ và nồng độ N của nguyên tố đó trong đám hơi nguyên tử tự do cũng tuân theo định luật Lamber-Beer

I= Io e-(Kυ.N.L) Tuy nhiên trong các máy đo AAS, bề dày L phụ thuộc vào cấu trúc của máy nên L coi như không đổi, D chỉ phụ thuộc vào số nguyên tử N trong môi trường hấp thụ, nên khi đó biểu thức trên có dạng:

D۸ = K.N Mặt khác, giữa số nguyên tử N của nguyên tố trong môi trường hấp thụ và nồng độ C của nguyên tố cần phân tích trong mẫu cũng có quan hệ nhất định, mối quan hệ này rất phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện nguyên tử hóa mẫu, thành phần vật lý, hóa học, trạng thái tồn tại của nguyên tố trong mẫu Kết quả thực nghiệm đã chỉ ra rằng, trong một giới hạn nhất định của nồng độ C thì mối quan hệ giữa N và

C có thể biểu thị theo công thức :

N = Ka CbTrong đó Ka là hệ số thực nghiệm, phụ thuộc vào tất cả các điều kiện thực nghiệm của phép đo phổ Hệ số b là hằng số bản chất, phụ thuộc vào từng vạch phổ của từng nguyên tố, b có giá trị bằng 1 hoặc nhỏ hơn 1 Giá trị của b bằng 1 khi

Trang 16

nồng độ C nhỏ và ứng với mỗi vạch phổ của mỗi nguyên tố phân tích ta luôn tìm được một giá trị C bằng Co để b bắt đầu nhỏ hơn 1 Biểu thức có dạng:

D = k Cb

Nếu C < Co thì b = 1 Ngược lại nếu C > Co thì b <1 Giá trị C được coi là giới hạn của vùng tuyến tính

1.6.2 Nguyên tắc và trang thiết bị của máy quang phổ hấp thụ nguyên tử

1.6.2.1 Nguyên tắc chung của phương pháp

Phương pháp phân tích này dựa trên cơ sở đo phổ hấp thụ nguyên tử của một nguyên tố Vì vậy muốn thực hiện phép đo AAS của một nguyên tố đầu tiên cần phải chọn các điều kiện và trang thiết bị phù hợp để chuyển mẫu phân tích từ trạng thái ban đầu (rắn hoặc dung dịch) thành trạng thái hơi của các nguyên tử tự do Sau

đó, chiếu chùm tia bức xạ đặc trưng của nguyên tố cần phân tích qua đám hơi nguyên tử vừa điều chế được ở trên, các nguyên tử của các nguyên tố cần phân tích trong đám hơi sẽ hấp thụ những tia bức xạ xác định và tạo ra phổ hấp thụ Và cuối cùng nhờ một hệ thống quang học, thu toàn bộ chùm tia sáng, phân ly và chọn một vạch phổ hấp thụ của nguyên tố cần phân tích để đo cường độ của nó

1.6.2.2 Trang thiết bị của máy quang phổ hấp thụ nguyên tử

Nguồn bức xạ đơn sắc là nguồn phát ra bức xạ đơn sắc của nguyên tố cần phân tích, nguồn này sẽ chiếu vào đám hơi nguyên tử tự do và phải là là nguồn phát ra bức xạ nhạy của nguyên tố cần phân tích Ngoài ra, phải tạo được chùm tia phát xạ thuần khiết bao gồm một số vạch nhạy, đặc trưng của nguyên tố cần phân tích, còn phổ nền không đáng kể Bên cạnh đó, chùm tia phát xạ đơn sắc phải có cường độ cao, bền vững theo thời gian và không bị các yếu tố vật lý nhiễu loạn

Các loại máy AAS hiện nay dùng chủ yếu ba loại nguồn đó là :

 Đèn catot rỗng

 Đèn phóng điện không điện cực

 Đèn phát phổ liên tục đã được biến điệu

Máy AAnalyst 100 Atomic Absorption Spectrometer sử dụng đèn catot rỗng HCL (Hollow cathode Lamp)

Trang 17

Hệ thống nguyên tử hóa mẫu là bộ phận quan trọng nhất quyết định độ nhạy của phép đo Bộ phận này giúp chuyển mẫu cần phân tích từ trạng thái ban đầu thành dạng hơi của các nguyên tử tự do Đám hơi của các nguyên tử tự do này chính

là môi trường hấp thu bức xạ và sinh ra phổ hấp thụ nguyên tử Hệ thống được chế tạo theo hai loại kỹ thuật nguyên tử hóa mẫu là kỹ thuật nguyên tử hóa mẫu bằng ngọn lửa đèn khí (F- AAS) hoặc kỹ thuật nguyên tử hóa mẫu không ngọn lửa (ETA- AAS) Trong đề tài này chúng tôi sử dụng kỹ thuật nguyên tử hóa mẫu bằng ngọn lửa

Hệ thống quang và detecter có nhiệm vụ thu và phân ly và chọn vạch phổ hấp thụ cần đo hướng vào nhân quang điện (detecter) phát tín hiệu hấp thụ AAS của vạch phổ

Trang bị chỉ thị đo kết quả có thể là một điện kế chỉ năng lượng hấp thụ của vạch phổ hoặc là máy tự ghi để ghi lại cường độ vạch phổ dưới dạng các pic Có thể máy hiện số Digical hay máy in( printer) để in ngay kết quả đo lên giấy Thông thường các máy hiện đại đều nối chung với một máy tính, cho phép điều chỉnh toàn

bộ quá trình đo, tìm điều kiện tối ưu, xử lý kết quả đo

1.6.3 Kỹ thuật nguyên tử hóa mẫu

Nguyên tử hoá mẫu là giai đoạn tạo ra các nguyên tố tự do, là yếu tố sinh ra phổ AAS Có hai kỹ thuật nguyên tử hóa mẫu là kỹ thuật nguyên tử hóa mẫu trong ngọn lửa của đèn khí với các phép đo ngọn lửa ( Flame: AAS: F-AAS) và kỹ thuật nguyên tử hóa không ngọn lửa trong cuvet graphit với phép đo không ngọn lửa (Flame Less: ETA- AAS) Dưới đây là kỹ thuật nguyên tử hóa mẫu bằng ngọn lửa Theo kỹ thuật này mẫu ở trạng thái dung dịch được dẫn vào buồng để tạo sol khí sau đó được trộn đều với khí mang và khí cháy (C2H2) và dẫn tới đèn nguyên tử hóa mẫu Nhiệt độ của các loại đèn khí không cao, khoảng 1900- 3300oC

Cơ chế của quá trình nguyên tử hóa mẫu bằng ngọn lửa:

Nếu năng lượng hóa hơi Eh < năng lượng nguyên tử hóa En thì các phần tử mẫu

sẽ hoá hơi, nguyên tử hóa sẽ hấp thụ bức xạ tạo phổ AAS Tức là :

MenXm (1) → MenXm (k) → n Me(k) + mX

n Me(k) + n (hy) → Phổ F- AAS

Trang 18

Nếu năng lượng hóa hơi Eh > năng lượng nguyên tử hóa En thìcác phân tử mẫu

sẽ phân ly thành nguyên tử sau đó hóa hơi và hấp thụ tia bức xạ để tạo ra phổ AAS

MenXm (1) → n Men+ mX → nMe(k)

n Me(k) + n (hy) → Phổ F- AAS

Quá trình này có ưu điểm là kích thích êm dịu, an toàn, xác định phần lớn kim loại Tuy nhiên, trong ngọn lửa có nhiều cơ chế phụ đó là sự tạo thành các hợp chất bền nhiệt kiểu MeO (BaO, CaO) ở vỏ ngọn lửa, làm giảm cường độ vạch phổ (V,

W, Al) Ngoài ra, đối với các nguyên tử có năng lượng kích thích thấp như kim loại kiềm, kiềm thổ tạo ra nhiều ion, thay vì thu phổ nguyên tử ta thu phổ ion Như vậy

ta phải điều chỉnh ngọn lửa ở nhiệt độ thấp hoặc thêm vào chất phân tích một số chất có năng lượng ion hóa thấp hơn để thay vì ion hóa nguyên tố phân tích thì ion hóa chất thêm Bên cạnh phổ hấp thụ thì có phổ phát xạ của một số nguyên tố vì thế người ta cho thêm chất nền tránh sự phát xạ

1.6.4 Phương pháp phân tích định lượng theo AAS

1.6.4.1 Phương pháp đồ thị chuẩn (đường chuẩn)

Chuẩn bị một dãy mẫu dung dịch chuẩn của chất phân tích (thông thường là

5 mẫu ) và các mẫu phân tích trong cùng một điều kiện Các mẫu dung dịch chuẩn

có nồng độ tăng dần là C1, C2, C3, C4, C5 và mẫu phân tích là Cx Đo mật độ quang của các dung dịch trên với các điều kiện tối ưu, rồi vẽ đường chuẩn biểu diễn sự phụ thuộc giữa D và C Trên cơ sở đường chuẩn tìmphương trình đường thẳng, dựa vào phương trình tìm Cx

Phương pháp này đơn giản, dễ thực hiện và rất thích hợp chỉ cần xác định đường chuẩn có thể phân tích hàng loạt mẫu của cùng một nguyên tố, như trong

kiểm tra chất lượng thành phẩm, kiểm tra nguyên liệu sản xuất 1.6.4.2 Phương pháp thêm tiêu chuẩn

Nguyên tắc: Dùng ngay mẫu phân tích làm nền để chuẩn bị một dãy mẫu đầu, bằng cách lấy một lượng mẫu phân tích nhất định và gia thêm vào đó những lượng nhất định của nguyên tố cần xác định theo từng bậc nồng độ ( theo cấp số cộng ) Ví dụ lượng thêm là ∆C1, ∆C2, ∆C3, ∆C4, ∆C5 như thế chúng ta sẽ có một

Trang 19

dãy mẫu chuẩn ( bảng 1.2), trong đó Cx là nồng độ (hàm lượng) của nguyên tố cần xác định trong mẫu phân tích

Bảng 1.2 Dãy chuẩn của phương pháp thêm tiêu chuẩn

Ngoại suy Nội suy

Hình 1.2 Đồ thị của phương pháp thêm chuẩn

1.6.5 Các phương pháp phân tích theo AAS

Trong phép đo phổ hấp thụ nguyên tử để xác định một nguyên tố hay một hợp chất người ta có thể tiến hành phân tích ngay chính chất đó theo phổ hấp thụ nguyên tử của nó, như phân tích các kim loại, hay qua việc đo phổ hấp thụ nguyên tử của một chất khác, khi chất phân tích không có tính chất hấp thụ nguyên tử, nhưng chất này lại có một sự tương tác rất định lượng về mặt hóa học theo một phản ứng hóa học nhất định với một kim loại có phổ hấp thụ nguyên tử nhạy Do đó xuất hiện hai loại phương pháp phân tích định lượng theo

Trang 20

phổ hấp thụ nguyên tử là các phương pháp phân tích trực tiếp, cho chất có phổ AAS hoặc các phương pháp phân tích gián tiếp, cho chất không có phổ AAS

1.6.5.1 Các phương pháp xác định trực tiếp

Về nguyên tắc thì tất cả các nguyên tố và các chất có phổ hấp thụ nguyên tử chúng ta đều có thể xác định nó một cách trực tiếp theo phổ hấp thụ nguyên tử của nó từ dung dịch mẫu phân tích Nghĩa là các phương pháp xác định trực tiếp chỉ phù hợp cho việc xác định các kim loại có vạch phổ hấp thụ nguyên tử Vì các kim loại đều có phổ hấp thụ nguyên tử của nó trong những điều kiện nhất định Theo cách này, nói chung trong nhiều trường hợp, mẫu phân tích trước hết được xử lí theo một cách phù hợp để được dung dịch mẫu có chứa các ion kim loại cần phân tích Tiếp đó tiến hành định lượng nó theo một trong các cách chuẩn hóa đã biết (như theo phương pháp đường chuẩn, phương pháp thêm, hay phương pháp một mẫu đầu, ) Đây là các phương pháp phân tích thông thường, đã và đang được dùng rất phổ biến, để xác định lượng vết các kim loại trong các đối tượng mẫu hữu cơ và vô cơ khác nhau theo phổ hấp thụ nguyên tử của nó Vì thế người ta gọi đối tượng của các phương pháp phân tích này là phân tích kim loại trong các loại mẫu vô cơ và hữu cơ

Khi phân tích các loại mẫu này thì nguyên tắc chung là gồm hai giai đoạn Giai đoạn 1: Xử lí mẫu để đưa nguyên tố kim loại cần xác định có trong mẫu

về trạng thái dung dịch của các cation theo một kĩ thuật phù hợp, để chuyển được hoàn toàn nguyên tố cần xác định vào dung dịch đo phổ

Giai đoạn 2: Phân tích nguyên tố cần thiết theo phổ hấp thụ nguyên tử của

nó theo những điều kiện phù hợp (một quy trình) đã được nghiên cứu và chọn ra Tất nhiên, ở đây giai đoạn I là cực kỳ quan trọng Vì nếu xử lí mẫu không tốt thì

có thể làm mất nguyên tố cần phân tích hay làm nhiễm bẩn mẫu Nghĩa là việc xử

lí mẫu không đúng sẽ là một nguồn sai số rất lớn cho kết quả phân tích, mặc

dù phương pháp phân tích đã được chọn là phù hợp nhất Vấn đề này đặc biệt có

ý nghĩa lớn trong phân tích lượng vết các nguyên tố

Các phương pháp phân tích trực tiếp này là thích hợp để xác định các kim loại, mà bản thân chúng có phổ hấp thụ nguyên tử Nhưng trong khoảng năm năm

Trang 21

lại đây, nhiều phương pháp phân tích gián tiếp đã xuất hiện để phân tích các chất không có phổ hấp thụ nguyên tử, ví dụ như xác định các Anion, các nhóm phân

tử, các hợp chất hữu cơ, các dược phẩm

1.6.5.2 Phương pháp phân tích định lượng gián tiếp theo AAS

Đây là một phạm vi ứng dụng mới của phép đo phổ hấp thụ nguyên tử

để phân tích các chất không có phổ hấp thụ nguyên tử hay phổ hấp thụ nguyên tử của nó kém nhạy Các phương pháp này hiện nay đang được phát triển và ứng dụng để phân tích các Anion và các chất hữu cơ Nói chung các phương pháp xác định gián tiếp các chất không có phổ hấp thụ nguyên tử bằng phép đo phổ hấp thụ nguyên tử được dựa theo hai nguyên tắc chính

Nguyên tắc thứ nhất của các phương pháp này là nhờ một phản ứng hóa học trung gian có tính chất định lượng của chất ta cần nghiên cứu X (chất X cần xác định) với một thuốc thử thích hợp có phổ AAS trong một điều kiện nhất định

Ví dụ xác định Cl- dùng AgNO3

Nguyên tắc thứ hai là dựa theo hiệu ứng là khi chất phân tích X có mặt trong mẫu với một vùng nồng độ nhất định, thì nó làm giảm hay làm tăng cường độ, vạch phổ hấp thụ nguyên tử của một kim loại một cách tuyến tính

Ví dụ muốn xác định F- người ta dung Mg có nồng độ 2ppm và đo vạch phổ phát xạ của Mg- 285,20nm

1.6.6 Các yếu tố ảnh hưởng tới phép đo AAS

1.6.6.1 Các yếu tố vật lý

Độ nhớt và sức căng bề mặt của dung dịch ảnh hưởng rất nhiều tới hiệu suất của quá trình nguyên tử hóa Độ nhớt của dung dịch càng lớn thì khả năng hút mẫu càng khó, vì thế mỗi quá trình phân tích mẫu và lập đường chuẩn phải có cùng nồng

độ axit, loại axit và thành phần hóa học, vật lý như nhau

Sự ion hóa thường không ảnh hưởng nghiêm trọng tới quá trình phân tích các kim loại nặng nhưng nó ảnh hưởng rất lớn tới quá trình phân tích các kim loại kiềm

và kiềm thổ Sự oxi hóa càng mạnh càng làm giảm cường độ vạch phổ hấp thụ nguyên tử của đám hơi Để khắc phục hiện tượng này phải thêm vào mẫu phân tích

Trang 22

các nguyên tố có thế ion hóa thấp hơn thế ion hóa của nguyên tố phân tích Khi đó

sự oxi hóa sẽ xảy ra với nguyên tố được thêm vào

Trong ngọn lửa đèn khí sự kích thích phổ phát xạ thường xảy ra mạnh với các kim loại kiềm và kiềm thổ Vì các nguyên tố này có thế kích thích phát xạ tương đối thấp còn các nguyên tố khác thì sự kích thích không đáng kể

CH3COO- gây hiệu ứng dương Các loại anion khác gây hiệu ứng âm theo thứ tự

Cl- , NO3- , SO42- , PO43- , F- Trong phân tích không nên chọn H2SO4 làm môi trường cho phép đo AAS mà nên dùng HCl, HNO3

1.6.6.3 Các yếu tố quang phổ

Đó là những quá trình làm cho việc đo ánh sáng hấp thụ bị sai lệch do sự hấp thu những chất khác ngoài nguyên tố cần phân tích Nguyên nhân của hiện tượng này là do nền mẫu phân tích và một số yếu tố khác ( đèn, ngọn lửa, sự tán xạ của ánh sáng bên ngoài )

Nền mẫu phân tích bao gồm: sự hấp thu nền mẫu, sự chen lấn của vạch phổ,

sự hấp thu các hạt rắn

Trong vùng khả kiến thì sự hấp thu nền mẫu rõ ràng, còn trong vùng tử ngoại

thì ảnh hưởng này rất ít xuất hiện vì phổ nền trong vùng tử ngoại yếu, phụ thuộc rất nhiều vào thành phần của mẫu nền phân tích Người ta có thể loại nền bằng phương pháp 2 vạch phổ, phương pháp dùng 2 nguồn sáng liên tục, phương pháp dựa trên hiệu ứng Zecman và phương pháp dùng nguồn đơn sắc hoạt động 2 chế độ dòng (pp Smith – Hifetie )

Trang 23

Sự chen lấn của vạch phổ thường thấy khi có mặt nguyên tố thứ 3 ở trong mẫu phân tích có nồng độ lớn Người ta có thể loại sự chen lấn này bằng cách giảm

bề rộng khe của hệ đơn sắc, tách bỏ bớt nguyên tố có vạch phổ chen lấn ra khỏi mẫu

phân tích hoặc pha loãng mẫu

Các hạt rắn nhỏ li ti của mẫu chưa bị hóa hơi và nguyên tử hóa hay các hạt muội than của nhiên liệu chưa được đốt cháy hoàn toàn thường có ở lớp vỏ của ngọn lửa, chúng hấp thụ hoặc chắn đường đi của chùm sáng từ đèn chiếu vào môi

trường hấp thụ Yếu tố này thể hiện rất rõ khi chọn không đúng chiều cao của đèn nguyên tử hóa mẫu hay hỗn hợp khó cháy không được đốt cháy tốt, thành phần khí

cháy không được chọn phù hợp ( thường là quá dư C2H2)

Người ta loại trừ yếu tố này bằng cách chỉnh chiều cao ngọn lửa thích hợp, trộn hỗn hợp khí cháy với tỉ lệ thích hợp hoặc thêm chất phụ gia có nồng độ phù hợp để ngăn cản sự xuất hiện hợp chất bền nhiệt

1.6.6 Những ưu điểm và nhược điểm của phép đo AAS

Ưu điểm lớn nhất của phép đo phổ hấp thụ nguyên tử là có độ nhạy và độ chọn lọc cao Gần 60 nguyên tố hóa học có thể xác định trực tiếp được bằng phương pháp này với độ nhạy 10-4 → 10-5 % , nếu dùng kỹ thuật nguyên tử hóa không ngọn lửa thì có thể đạt đến độ nhạy 10-7 % Do vậy, phương pháp này được sử dụng nhiều

để phân tích các lượng vết trong đối tượng y học, sinh học, nông nghiệp và kiểm tra

các chất có độ tinh khiết cao

Do phương pháp có độ nhạy cao, nên trong nhiều trường hợp không phải làm giàu nguyên tố cần xác định nên tốn ít mẫu, thời gian và không phải dùng nhiều hóa chất tinh khiết cao khi làm giàu mẫu nên tránh được sự nhiễm bẩn mẫu khi xử lý qua các giai đoạn phức tạp

Ưu điểm thứ ba của phương pháp này là các động tác thực hiện nhẹ nhàng Ngoài ra với các trang thiết bị hiện nay người ta có thể xây dựng đồng thời nhiều nguyên tố trong một mẫu Các kết quả phân tích ổn định, sai số nhỏ (không quá 15% với vùng nồng độ cỡ ppm)

Bên cạnh những ưu điểm phép đo AAS cũng có những hạn chế nhất định Trước hết thực hiện phép đo phổ hấp thụ nguyên tử cần phải có hệ thống máy đo

Trang 24

tương đối đắt tiền Mặt khác cũng chính do phép đo có độ nhạy cao, nên sự nhiễm bẩn có ảnh hưởng đáng kể đối với kết quả phân tích các kim loại lượng vết Vì thế môi trường không khí của phòng thí nghiệm phải không có bụi Các dụng cụ, hóa chất dùng trong các phép đo phải có độ tinh khiết cao Và cuối cùng phương pháp phân tích này chỉ cho biết thành phần nguyên tố của chất trong mẫu phân tích, chứ không cho biết trạng thái liên kết của nguyên tố trong mẫu Vì thế nó chỉ là phương pháp phân tích thành phần nguyên tố

1.6.7 Đối tượng và phạm vi ứng dụng của phép đo AAS

Đối tượng chính của phương pháp phân tích phổ hấp thụ nguyên tử là xác định lượng vết các kim loại trong các hợp chất vô cơ và hữu cơ với các đối tượng khác nhau Đến nay người ta có thể định lượng hầu hết các kim loại ( khoảng 60 nguyên tố) và một số phi kim đến hàm lượng cỡ vài phần triệu (ppm), với sai số không quá 15% Các phi kim như C, Cl, O, N, S chưa xác định được bằng phương pháp này vì vạch phổ phân tích của các phi kim này thường nằm ngoài vùng phổ của các máy hấp thụ nguyên tử thông dụng( 190- 900nm) Ví dụ C : 165,70 ; N : 134,70 ; O : 130,20 ; Cl : 134,78 ; S : 180,70nm

Phép đo phổ hấp thụ nguyên tử được ứng dụng rộng rãi để xác định định lượng các kim loại, các nguyên tố trong đối tượng phân tích khác nhau Do độ nhạy, độ chính xác và độ chọn lọc cao mà phương pháp này thường được ứng dụng để xác định vi lượng các nguyên tố trong phân tích môi trường, phân tích nước, các sản phẩm công, nông nghiệp, thực phẩm Không ứng dụng cho việc phân tích các nguyên tố có vạch cộng hưởng ở miền tử ngoại xa ( C, P và các halogen xa )

1.7 Tình hình nghiên cứu và kiểm soát hàm lượng kim loại nặng trong rau xanh trên thế giới và ở Việt Nam [ 1, 22]

1.7.1 Trên thế giới

Trong những năm gần đây, tình trạng ô nhiễm kim loại nặng trong thực phẩm

là vấn đề đang được quan tâm, nhất là những quốc gia phát triển nhanh về công nghiệp Vì vậy việc nghiên cứu hàm lượng kim loại nặng tích tụ trong rau xanh đã được nghiên cứu ở rất nhiều công trình trên thế giới

Trang 25

Tại Bỉ hàm lượng kim loại kim loại nặng trong rau là rất cao, đặc biệt là tại các thị trấn xung quanh khu vực khai thác mỏ Hàm lượng kẽm trong rau cải tại thị trấn

La Calamine trong khoảng từ 30,46 đến 40,24mg/kg, cồn tai thị trấn Plombiesres là

từ 45,84 đến 50,93mg/kg Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng hàm lượng kẽm trong rau cải khá cao thay đổi tùy theo hàm lượng nguyên tố này trong đất Bởi vì đất ở các vùng này của Bỉ bị ô nhiễm bởi những khu vực khai thác mỏ và nung chảy Zn Bên cạnh đó thì tại Singapo, Thái Lan hàm loại kim loại nặng trong rau vẫn còn nằm trong giới hạn cho phép do ở các nước này đã áp dụng các biện pháp trồng rau an toàn một cách nghiêm ngặt

1.7.2 Ở Việt Nam

Việc xác định hàm lượng kim loại nặng trong rau được thực hiện tương đối rộng rãi trên các thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng Hiện trạng ô nhiễm kim loại nặng trong rau xanh ở thành phố Hồ Chí Minh đã được công bố trong tài liệu [1] Kết quả phân tích hàm lượng kẽm trong rau cải là từ 18,06mg/kg đến 22,82mg/kg Kết quả vẫn nằm trong giới hạn cho phép theo quyết định số 867/1998 QĐ-BYT ngày 04/4/1998 của Bộ Y tế

Ngoài ra nhiều đề tài nghiên cứu cho thấy trong tất cả các loại rau thì rau ngổ, rau muống, rau cải là chứa hàm lượng kim loại nặng nhiều, đặc biệt là rau muống tại ngoại ô thành phố Hà Nội, hàm lượng kim loại nặng cao hơn từ 5- 10 lần so với giới hạn 867/1998 của BYT

Ngày đăng: 08/05/2021, 21:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w