Bên cạnh đó việc giảng dạy trên lớp của giáo viên cũng như luyện tập trong thời gian rất ngắn, khoảng 6 – 8 tiết trong quá trình học tập của học sinh hiện nay, do đó học sinh thường mắc
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
- -
NGUYỄN NGỌC TRUNG
Lựa chọn một số bài tập nhằm khắc phục những sai lầm thường mắc trong học kỹ thuật nhảy xa kiểu ưỡn thân cho học sinh nam khối 11 trường PTTH Phan Châu Trinh - Thành phố Đà Nẵng
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SƯ PHẠM GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
Trang 2I LỜI MỞ ĐẦU
Sau khi chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Đảng ta lãnh đạo toàn dân tiến hành cuộc Cách mạng tháng Tám thành công lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Đất nước giành được độc lập dân tộc đã gặp rất nhiều khó khăn, trở lực bởi thù trong giặc ngoài, cộng thêm với nền kinh tế do chế độ cũ để lại rất nghèo nàn lạc hậu, nhân dân nhiều nơi đói rét, dịch bệnh hoành hành, sức khỏe giảm sút nghiêm trọng, thất học và mù chữ nặng nề Trong hoàn cảnh đó Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Đảng ta đề ra nhiều chủ trương hết sức đúng đắn và kịp thời nhằm đẩy lùi những khó khăn, trở ngại Người đứng lên kêu gọi đồng bào cả nước chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm Bên cạnh
đó Người còn nhận thức sâu sắc vai trò, tầm quan trọng về sức khỏe của nhân dân đối với công cuộc giữ gìn và xây dựng đất nước Chính vì thế Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã sớm ký sắc lệnh thành lập ngành Y tế và ngành TDTT của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
Tư tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ hướng cho sự hình thành và phát triển nền TDTT mới Để nền TDTT mới hình thành và phát triển mang bản chất cách mạng, vì lợi ích của toàn dân và sự lớn mạnh của đất nước thì điều cơ bản là
có định hướng đúng đắn, chỉ ra được mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng Để
thực hiện được điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Lời kêu gọi toàn dân
tập thể dục” Bác nói: “Mỗi một người dân yếu ớt tức là làm cho cả nước yếu
ớt một phần, mỗi một người dân mạnh khỏe là góp phần làm cho cả nước mạnh khỏe” [5] Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục như kim chỉ nam định
hướng hình thành và phát triển nền TDTT mới của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
Kể từ ngày thành lập tới nay, ngành TDTT Việt Nam đã giành được nhiều sự quan tâm của các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước như: Chủ tịch hội đồng Nhà nước Võ Chí Công, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, Chủ tịch nước Trần
Trang 3Đức Lương, Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Thủ tướng Phan Văn Khải… tới cán bộ, viên chức, huấn luyện viên, vận động viên, trọng tài ngành TDTT Đó chính
là động lực thúc đẩy ngành TDTT Việt Nam ngày càng phát triển lên một tầm cao mới, từng bước tiến kịp nền TDTT tiên tiến của các nước trên thế giới TDTT là một bộ phận của nền giáo dục XHCN, với mục đích là đào tạo con người toàn diện, phát triển về thể chất và trí tuệ, năng động sáng tạo và cường tráng
Trong đó GDTC là một bộ phận vô cùng quan trọng trong sự nghiệp đào tạo con người toàn diện Khi mà đất nước ta đang bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế với vai trò ngày càng quan trọng, đất nước ta đã gia nhập các tổ chức lớn như WTO, ASEAN,… thì TDTT đã góp một phần rất lớn trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, ngoại giao Trong thời đại CNH – HĐH đất nước thì sự phát triển của TDTT có một ý nghĩa hết sức quan trọng,
nó đã đem lại cho người dân sức khỏe, tinh thần, trí tuệ, sự năng động sáng tạo… để thực hiện thành công sự nghiệp CNH – HĐH đất nước Chính vì thế
mà từ nhiều năm qua TDTT luôn nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Đã có nhiều chủ trương chính sách của Đảng và Nhà Nước về đầu tư phát triển TDTT… nâng cao sức khỏe của người dân đặc biệt là tầng lớp thanh thiếu niên, những chủ nhân tương lai của đất nước
Sinh thời Bác Hồ đã từng dạy: “ Muốn lao động sản xuất tốt, học tập
công tác tốt thì cần phải có sức khỏe Muốn giử gìn sức khỏe phải thường xuyên tập TDTT ” [38] và bản thân người đã tự nêu gương: “ tự tôi ngày nào cũng tập”[5] Trong lời Bác dạy TDTT trở thành một nội dung, một mục tiêu
giáo dục quan trọng bên cạnh các mặt giáo dục khác Chính vì vậy các nhà giáo dục không chỉ dạy kiến thức văn hoá đơn thuần mà là người biết vận dụng kiến thức khoa học TDTT trong quá trình dạy học
GDTC góp phần thực hiện mục tiêu “ Nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài và phát triển thể trạng cho học sinh” Để phong trào
TDTT ngày càng lớn mạnh thì không thể xem nhẹ vai trò GDTC trong trường
Trang 4học bởi vì GDTC trong trường học là một nhân tố quan trọng trong việc phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo các tài năng thể thao nước nhà
Trường THPT Phan Châu Trinh thành lập năm 1952, là ngôi trường giàu truyền thống, là nơi đào tạo nhiều thế hệ học sinh xuất sắc, giữ nhiều chức vụ cao trong thành phố cũng như trong nước Đây là trường đông nhất nước ta về tống số học sinh Về mặt cơ sở vật chất được xây dựng hòan chỉnh, vẫn thiếu một số phòng học bộ môn phục vụ cho việc học tập và giảng dạy Trường dạy 3 ngoại ngữ: Anh, Nhật, Pháp Hầu hết học sinh rất ngoan, chăm chỉ, năng động Năm 2003 trường đạt huân chương lao động hạng 3 Nhiều năm liền là trường tiên tiến xuất sắc Phong trào văn nghệ, TDTT rất tốt Cả 3 năm liền dẫn đầu về phong trào TDTT trong thành phố Đà Nẵng
Trong các nội dung của điền kinh, nhảy xa là một trong số các nội dung
có lịch sử phát triển lâu đời Từ phương pháp để người xưa vượt qua các hào rãnh trong săn bắn, hái lượm nhảy xa dần trở thành một phương tiện rèn luyện để phát triển các tố chất thể lực, đặc biệt là tốc độ, sức mạnh tốc độ, sự phát triển linh hoạt, khéo léo
Nhảy xa là nội dung phức tạp, hoạt động không mang tính chu kỳ, đòi hỏi người tập phải nắm vững những tư duy động tác đồng thời thực hiện động tác một cách nhịp nhàng, thuần thục Tập luyện nhảy xa giúp người tập nâng cao thành tích của bản thân và giúp ta vượt qua những khoảng cách mà ta không bước hoặc đứng tại chỗ mà nhảy qua được Do nhảy xa phải chạy đà và bật nhảy tích cực nên tập luyện nhảy xa tốt tức là ta đã phát triển được khả năng tốc độ (sức nhanh) và sức bật (sức mạnh) thông qua tập luyện để giậm nhảy chính xác khi chạy với tốc độ cao và hoàn thành đúng các động tác Khi
ở trên không, người tập không những nâng cao được khả năng phối hợp giữa các bộ phận của cơ thể mà nâng cao được cả sự chính xác cảm giác không gian và cảm giác thời gian - những năng lực cần có trong tập luyện và thi đấu thể thao và cả trong sinh hoạt của mỗi người
Trang 5Ở nhà trường môn nhảy xa được đưa vào giảng dạy trong các cho học sinh ở bậc THCS và THPT Hai yếu tố kỹ thuật và thể lực quyết định đến thành tích Hai yếu tố này có mối quan hệ khăng khít, có tác dụng thúc đẩy để đạt thành tích cao Đặc biệt là yếu tố kỹ thuật, qua thực tế đã chứng minh rằng động tác kỹ thuật càng thuần thục, chính xác thì càng tiết kiệm được sức, vận dụng và phát huy được khả năng dùng sức của cơ thể giúp nâng cao thành tích của mình Ở bậc trung học phổ thông đối tượng giảng dạy ở đây là các em học sinh có độ tuổi từ 16 đến 18 tuổi, phần lớn thời gian các em tập trung vào môn văn hóa, học và tập luyên các môn thể dục chỉ mang tính đối phó và không gây được hứng thú cho các em Việc học tập một kỹ thuật mới đối với các em là khó khăn, để tập luyện và hoàn thiện kỹ thuật ấy một cách thuần thục trong thời gian ngắn quả không phải là vấn đề đơn giản Bên cạnh đó việc giảng dạy trên lớp của giáo viên cũng như luyện tập trong thời gian rất ngắn, khoảng 6 – 8 tiết trong quá trình học tập của học sinh hiện nay, do đó học sinh thường mắc những sai lầm rất cơ bản trong học kỹ thuật, một mặt khả năng vận động của cá em chưa cao, mặt khác giáo viên vẫn chưa chú trọng đến các bài tập bổ trợ làm nền tảng cho kỹ thuật đang giảng dạy Chính yếu tố này đã ảnh hưởng rất nhiều đến thời gian học, tập luyện và thành tích kiểm tra của các em Để góp phần nhỏ công sức của mình trong việc giúp đỡ các em HS có thể học tập tốt hơn và nâng cao thành tích Xuất phát từ lý do trên và dựa vào định hướng nghiên cứu chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài :
“Lựa chọn một số bài tập nhằm khắc phục những sai lầm thường mắc trong học kỹ thuật nhảy xa kiểu ưỡn thân cho học sinh nam khối 11 trường PTTH Phan Châu Trinh - Thành phố Đà Nẵng”
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Nghiên cứu một số sai lầm thường mắc của học sinh nam khối 11 trường THPT Phan Châu Trinh - Tp Đà Nẵng trong quá trình học tập và tập luyện kỹ thuật nhảy xa ưỡn thân Từ đó đưa ra một số bài tập nhằm khắc phục những
Trang 6sai lầm đó nhằm giúp cho quá trình học tập, tập luyện cũng như kiểm tra của các em được được tốt hơn
NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU :
Để giải quyết mục đích nghiên cứu chúng tôi thực hiện 2 nhiệm vụ sau:
Trang 7CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về GDTC trong trường học:
GDTC là một bộ phận của nền giáo dục XHCN nhằm đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, có trí thức, đạo đức, nhân cách và thể chất Sự quan tâm đến TDTT thực chất là quan tâm đến con người vì con người là vốn quý của
xã hội, là tài sản vô giá của quốc gia TDTT là biện pháp màu nhiệm để đem lại sức khỏe cho mọi người, do vậy mà nhiều năm nay Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng công tác GDTC trong các cấp nhà trường, nhằm đào tạo lớp người mới phát triển toàn diện để kế tiếp sự nghiệp cách mạng, xây dựng kinh
tế xã hội theo định hướng XHCN và bảo vệ tổ quốc
Những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về giáo dục và đào tạo nói chung và GDTC nói riêng được xuất phát từ những cơ sở lý tưởng, lý luận của học thuyết Mác – Lênin về con người và phát triển con người toàn diện, những nguyên lý thể chất của Macxít, tư tưởng quan điểm Hồ Chí Minh về TDTT nói chung và GDTC cho thế hệ trẻ nói riêng Những cơ sở lý tưởng lý luận đó đều được Đảng quán triệt trong đường lối phát triển TDTT trong suốt thời kỳ lảnh đạo của mình Nó được cụ thể hóa qua các lần Đại hội của Đảng, các Nghị quyết qua từng giai đoạn như:
Chỉ thị số 106/CT/TW ngày 02/10/1958 của ban Bí tư TW Đảng về công tác TDTT, đã đề cập đến những vấn đề quan trọng như: Vai trò của công tác GDTC về thể thao quốc phòng và phát triển phong trào TDTT quần chúng nhất là ở trường học
Chỉ thị số 131/CT/TW ngày 13/01/1960 của ban Bí tư TW Đảng về về công tác TDTT và Chỉ thị 158/CT/TW của ban Bí tư TW Đảng về tăng cường xác định vị trí và tầm quan trọng của TDTT trong những năm tới, xác định được vị trí tầm quan trọng của TDTT, coi TDTT thành yêu cầu của quần
Trang 8chúng và là một mặt của sự nghiệp xây dựng XHCN và chủ trương trên cụ thể hóa tới sự phát triển phong trào TDTT trong trường học
Đại hội Đảng Lao động lần thứ III tháng 09/1960 đã định hướng công tác giáo dục và rèn luyện thể chất đối với tuổi trẻ học đường và chủ trương này được hội nghị TW lần thứ VIII tháng 04/1963 phát triển lên một bước mới Đến nghị quyết VII BCH TW Đảng (khóa VIII) đã khẳng định bắt đầu đưa việc giảng dạy thể dục và một số môn thể thao cần thiết vào chương trình học tập của trường phổ thông
Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản lần thứ VII tháng 06/1991 khẳng định
về công tác TDTT cần coi trọng nâng cao chất lượng GDTC trong trường học Chương III điều 35, 36, 41 hiến pháp Nước cộng hòa XHCN Việt Nam
đã ghi: “GDTC là môn bắt buộc trong các trường học”
Đảng cộng sản Việt Nam kiên định đường lối giáo dục toàn diện, Văn
kiện Đại hội VIII đã ghi rõ: “Giáo dục đào tạo cùng với khoa học công nghệ
phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu… chuẩn bị tốt hành trang cho thế
hệ trẻ…” Đồng thời khẳng định rõ: “ sự cường tráng về thể chất là nhu cầu của bản thân con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội, của các cấp, các ngành đoàn thể”
Chỉ thị 112/CT ngày 09/051989 của Hội đồng Bộ trưởng về công tác
TDTT trong những năm trước có ghi: “ Đối với học sinh trước hết là nhà
trường phải thực hiện nghiêm túc việc dạy và học môn thể dục theo chương trình quy định, có biện pháp hướng dẫn các hình thức tập luyện ngoài giờ…”
Chỉ thị 36/CT/TW của Ban bí thư TW Đảng ngày 24/03/1994 về công
tác TDTT trong giai đoạn mới đã ghi rõ: “… cải tiến chương trình giảng dạy,
tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo giáo viên thể dục cho trường học các cấp tạo những điều kiện cân thiết về cơ sở vật chất để thực hiện chế độ GDTC bắt buộc ở tất cả các trường học…” Các nước XHCN Đông Âu trước đây đã
đề ra hệ thống tiêu chuẩn rèn luyện thân thể gọi là: “sẵn sàng lao động và bảo
về tổ quốc” áp dụng cho mọi lứa tuổi lao động
Trang 9Tại hội nghị GDTC trong nhà trường được tổ chức vào tháng 08/1996 tại
Hải Phòng, Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh đã nói: “ ước vọng của chúng ta là
mỗi thanh niên Việt Nam, cả nam lẫn nữ đều có cơ thể cường tráng, cùng với tâm hồn trong sáng và trí tuệ phát triển”
Để TDTT có vai trò phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, ở bất
kỳ quốc gia nào cũng có hệ thống đánh giá thể chất nhân dân Lực lượng vũ
trang Trung quốc có chế độ “ lao vệ chế” Ở nước ta từ những năm 1962 Nhà nước đã ban hành: “ Chế độ rèn luyện thân thể theo tiêu chuẩn” và trong
những năm 90 của thế kỷ XX đã được điều tra xây dựng hệ thống tiêu chuẩn mới Trong hai năm 2001 và 2002 Viện khoa học TDTT - Ủy ban TDTT đã tiến hành điều tra thể chất con người Việt Nam lứa tuổi 6-12 Trên cơ sở đó thiết lập tiêu chuẩn mới nhằm nâng cao tầm vóc và thể trạng người Việt Nam cho giai đoạn 2005-2025 Như vậy, vấn đề phát triển các tố chất thể lực chung cho nguồn lực con người đang là mối quan tâm của Đảng và Nhà nước, của toàn xã hội
Luật giáo dục 2005 quy định mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội hình thành bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Luật TDTT năm 2006 xác định GDTC là môn học chính khóa thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản chon người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu toàn diện Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của người học được tổ chức theo phương thức ngoại khóa phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe nhằm tạo điều kện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao
Bước vào thời kỳ CNH - HĐH đất nước cần có yêu cầu ngày càng mới, càng cao đối với công việc nâng cao thể chất học sinh, yêu cầu con người
Trang 10phát triển khỏe mạnh, hài hòa để có thể cộng tác trong những điều kiện lao động với tốc độ cao, cường độ lớn và thần kinh căng thẳng Do đó việc cải cách phương pháp, công tác giảng dạy TDTT trường học là một vân đề tất yếu, có vị trí tác dụng vô cùng to lớn đối với sự phát triển của đất nước
1.2 GDTC một bộ phận quan trọng của nền giáo dục toàn diện cho học sinh
Để đạt được mục tiêu GDTC cho thế hệ trẻ, đặc biệt là đối tượng học sinh THPT cần giải quyết nhiệm vụ cơ bản sau:
a Giáo dục thể chất cho học sinh:
Thể chất là một đặc trưng tương đối ổn định về hình thức và chức năng
cơ thể của con người,được hình thành và phát triển do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống
Năng lực thể chất thể hiện khả năng, chức năng của hệ thống cơ quan trong cơ thể thông qua hoạt động cơ bắp là chính Nó bao gồm các tố chất vận động, sức nhanh, sức mạnh, sức bền, độ dẻo và khéo léo…cùng với các năng lực vận động cơ bản (đi, chạy, nhảy, ném…) Một hoạt động vận động cụ thể, bao giờ cũng đòi hỏi một năng lực thể chất tương ứng
Năng lực thích ứng thể hiện khả năng thích ứng của cơ thể với hoàn cảnh bên ngoài Không chỉ là thích ứng đơn giản mà còn là sự đề kháng với bệnh tật phát sinh.Theo tác giả Lương Hạo Tài (bộ môn y học xã hội – viện y học
vũ hán Trung Quốc) có tới 44,7% trường hợp tử vong ở người Trung Quốc là
do phương thức sinh hoạt của người dân Do vậy con người muốn khắc phục các loại bệnh tật do xã hội, do phương thức sinh hoạt dẫn đến cần tích cực rèn luyện sức khỏe, vì sức khỏe là cơ sở vật chất của sự tồn tại và phát triển con người, là nguồn hạnh phúc của mỗi cá nhân trong cuộc sống
Sức khỏe con người liên quan trực tiếp đến thể chất và phát triển thể chất, thể chất chỉ chất lượng con người, bao gồm các đặc trưng tương đối ổn định về hình thái và chức năng của cơ thể được hình thành và phát triển do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống (bao gồm cả giáo dục và rèn luyện)
Trang 11Năng lực thể chất bao gồm thể hình, khả năng chức năng, các tố chất thể lực
và khả năng thích ứng của cơ thể với môi trường
Mỗi người ai cũng cần sức khỏe, đó là nhu cầu cách mạng trong kỷ nguyên mới, là yêu cầu của sự tồn tại và phát triển xã hội, đồng thời cũng là mong ước chính đángcủa đời sống hạnh phúc cá nhân Muốn sức khỏe, thể chất con người được phát triển hài hoà, liệu pháp tích cực, hiệu quả tích cực nhất là thông qua GDTC
Như vậy, có thể nói: Thể chất bao gồm hình thể, chức năng, năng lực thể chất và khả năng thích ứng của cơ thể Muốn giải quyết các mặt trên thì nhiệm vụ GDTC giải quyết một số vấn đề sau:
Góp phần đẩy mạnh toàn diện, cân đối cơ thể, nâng cao toàn diện các tố chất phù hợp với đời sống, đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT
Truyền thụ kiến thức, một số kỹ năng cơ bản và tương đối hoàn chỉnh về một số môn thể thao, đặc biệt chú ý đến một số tư thế cơ bản, thói quen rèn luyện cơ thể và giữ gìn vệ sinh thúc đẩy phát triển thể hình lành mạnh, sự phát triển thể hình chủ yếu dựa vào sự phát triển lớn mạnh của tế bào và các chất gian bào Còn sự phát dục lại chỉ biến đổi về chức năng và hình thái của hệ thống cơ cơ quan trong cơ thể Sự hoàn thiện về thể hình, một cơ thể cường tráng còn thể hiện một phần bộ mặt tinh thần, văn minh của dân tộc và là cơ
sở vật chất của các năng lực chức năng
Công tác GDTC trong nhà trường giữ vị trí quan trọng trong sự nghiệp phất triển đất nước và TDTT nói riêng, thể hiện Đảng và Nhà nước đã sớm đưa GDTC vào các trường học tạo mọi điều kiện thuận lợi đễ xây dựng và phát triển phong trào thể thao ngoại khoá sâu rộng
Thực hiện GDTC trong trường học, tập luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh Hơn nữa GDTC cho thế hệ trẻ, phục vụ học tập, lao động, nâng cao đời sống văn hoá tinh thần thực hiện theo chương trình bắt buộc và tổ chức các hoạt động TDTT ngoài giờ học, là một trong những bộ phận quan trọng của giáo dục toàn diện
Trang 12Vụ GDTC (Bộ GD&ĐT) luôn yêu cầu các trường áp dụng đầy đủ và chất lượng chương trình giảng dạy chính khoá, đồng thời có kế hoạch phát triển phong trào ngoại khoá, tăng cường hơn nữa các loại hình hoạt động, câu lạc
bộ thể thao, tổ chức có hệ thông các giải thể thao trong các trường học với phương châm hưởng ứng tích cực rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại, phấn đấu mỗi giáo viên học sinh tham gia tập luyện một môn thể thao nâng cao sức khỏe
b TDTT góp phần phong phú vào đời sống văn hoá và giáo dục con người mới
TDTT không chỉ ảnh hưởng đến cơ thể, mà còn có tác dụng nhiều mặt Trong hoạt động này mối quan hệ hành vi giữa cá nhân và tập thể rất đa dạng, phong phú và biến hoá sinh động, đặc biệt trong thi đấu thành tích cao Nếu tổ chức tốt hoạt động TDTT có thể giáo dục đạo đức, ý chí, lòng yêu nước, tinh thần tập thể, tính kỷ luật, trung thực, dũng cảm…một cách có hiệu quả
TDTT đầy đủ nghĩa hơn là “văn hoá thể chất”, “văn hoá” không có nghĩa
ở mức độ kiến thức đạt được trong các lĩnh vực khoa học hay đời sống hằng ngày Cuộc sống con người trong thời đại mới, thời đại khoa học công nghệ phát triển mạnh đòi hỏi mỗi con người phải năng động, trao đổi để đạt đỉnh cao về tri thức khoa học, kỹ thuật khoa học ở phạm vi trí óc, trái lại thiếu phạm vi trầm trọng phạm vi hoàn thiện thể chất Một con người phát triển toàn diện khi phát triển cân đối cả hai mặt tri thức và thể chất Nhiều nhà giáo dục đã khẳng định rằng, ở lứa tuổi học sinh THPT là thời kỳ thay đổi nhiều về tâm sinh lý, do vậy việc giáo dục vô cùng quan trọng, trong đó có GDTC nhằm nâng cao chất lượng phát triển về hình thái luôn đi đôi với sự phát triển
và hoàn thiện chức năng cơ của thể như hệ tuần hoàn, hệ hô hấp và nhất là đối với hệ thần kinh trung ương
Về mặt đời sống xã hội nếu làm tốt công tác TDTT nó có thể góp phần đáng kể vào việc xây dựng đời sống văn hoá vui chơi lành mạnh, văn minh
Trang 13trong xã hội đó cũng là công cụ để chuyển tải giá trị tư tưởng, đạo đức, tinh thần dân tộc đến quần chúng nhân dân và học sinh
1.3 Đặc điểm tâm – sinh lý lứa tuổi THPT
1.3.1 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi THPT:
Ở lứa tuổi THPT, hoạt động học tập là hoạt động cơ bản thu hút nhiều thời gian và công sức Do đó các môn học có nội dung kiến thức ngày càng cao, phương thức giảng dạy của thầy cô giáo cũng có sự thay đổi Vì vậy mà các em luôn phải nỗ lực phấn đấu Trong thời kì này tính hệ thống trong việc thu lượm trí thức cần được nâng cao nhờ sự thiết lập của mối liên tưởng ngày càng phức tạp và sâu sắc
Sự phát triển tâm lý của các em ở lứa tuổi này rất phức tạp Do sự thay đổi về sinh lý, một số cơ quan nội tạng và do hoạt động thần kinh không cân bằng, các quá trình hưng phấn mạnh nên khiến các em không kiềm chế được Các em rất nhạy cảm với đánh giá của người xung quanh Đôi khi một thành công ngẫu nhiên khiến các em tự mản, nhưng cũng khiến các em tự ti, nhút nhát
- Tri giác: Lúc này tri giác của các em đã có tính tuần tự, có kế hoạch và hoàn thiện hơn so với lứa tuổi trung học cơ sở Các em đã có khả năng phân tích và tổng hợp phức tạp hơn
- Trí nhớ: Dần dần mang tính chất của các quá trình có điều khiển, điều chỉnh và tổ chức
- Sự phát triển chú ý: Trong giai đoạn này các em có những mâu thuẫn nhất định Một mặt, chú ý có chủ định của các em phát triển rõ nét Mặt khác, những ấn tượng rung động mạnh mẽ, phong phú của các em khiến cho sự chú
ý không bền vững
Trong quá trình sống và phát triển, cơ thể con người có những biến đổi
đa dạng và phức tạp về cấu tạo, chức năng, sinh lý dưới tác động của những yếu tố di truyền và dưới tác động của môi trường
Trang 14Vì vậy tập luyện thể dục thể thao sẽ ảnh hưởng tốt đến quá trình hoàn thiện của cơ thể nếu được tiến hành quán triệt tất cả các đặc điểm của lứa tuổi đó.[2]
1.3.2 Đặc điểm sinh lý lứa tuổi THPT
Ở lứa tuổi này các em hoàn thiện đặc trưng về cấu trúc hình thái cơ thể Các hoạt động giáo dục của môn học TDTT đã góp phần nâng cao năng lực hoạt động của các hệ cơ quan, giúp các em từ đó nâng cao sức khỏe đạt kết quả tốt hơn trong các hoạt động xã hội khác
- Hệ thần kinh:
Ở lứa tuổi cấp 2 quá trình hưng phấn vẫn chiếm ưu thế so với quá trình
ức chế Sự phối hợp động tác ở lứa tuổi này còn kém, động tác còn cứng và vụng về Đến lứa tuổi THPT sự phát triển thể hình đã hoàn thiện xong Kích thước não và hành tuỷ đã đạt tới mức của người trưởng thành Hoạt động phân tích, tổng hợp của vỏ nảo tăng lên, tư duy trừu tượng đã hình thành tốt
- Hệ vận động:
+ Xương: Ở lứa tuổi THPT xương bắt đầu giảm tốc độ phát triển, sụn ở hai đầu xương vẫn còn dài, nhưng sụn chuyển thành xương ít Các xương nhỏ như cổ tay, bàn tay đã kết thành xương nên các em có thể tập các động tác trèo chống, mang vật nặng Cột sống tuy đã ổn định nhưng vẫn còn cong vẹo + Cơ: Đặc điểm của lứa tuổi này là cơ co vẫn còn yếu các bắp cơ phát triển tương đối (nhanh như cơ đùi, cơ cánh tay)
Chính như vậy mà trong quá trình huấn luyện Thể dục Thể thao cần lưu
ý đặc biệt đến lượng vận động và mức độ phát triển tâm - sinh lý của các em Đối với các em trong giai đoạn này không nên tập luyện quá sức, nóng vội Nên có những bài tập phát triển toàn diện, với số lượng vận động tối ưu phải được ưu tiên trong các chương trình huấn luyện thể thao.[12]
Trang 151.4 Các tố chất thể lực đặc trưng cho môn nhảy xa
Thể lực là cơ sở huấn luyện thể thao, tạo sự thích nghi về sinh học chức năng và hình thái của cơ thể VĐV khi tác động của tập luyện, các biên đổi thích nghi sinh học thể hiện ở hai hướng:
- Tăng cường khả năng chức phận và tiềm năng của các cơ quan hệ thống
cơ thể do biến đổi cấu trúc rất quan trọng bên trong cơ thể các quá trình tích luỹ chuyển hoá năng lượng
- Hoàn thiện khả năng tự điều hoà hoạt động của các cơ quan hệ thống Phát triển các tố chất thể lực theo kế hoạch huấn luyện nhiều năm phải tính đến tố chất thể lực chung và thể lực chuyên môn, phát triển đúng thời kỳ Đứng trên quan điểm GDTC, thể lực đặc trưng cho môn nhảy xa được chia làm các tố chất sau:
1.4.1 Sức mạnh
Các nhà khoa học Nguyễn Hiệp, Dương Nghiệp Chí, Lê Biểu (1983), Nguyễn Thế Truyền (1986), Nguyễn Sĩ Hà, Trung Hiếu (1994), Bompa (0996), Phan Hồng Minh (2000)… đều thống nhất rằng: Sức mạnh là khả năng đối kháng lực bên ngoài hoặc đề kháng lại bằng sự nỗ lực cơ bắp và hệ thống vần động Cơ bắp có thể sinh thể lực trong các trường hợp như: Không thay đổi độ dài cơ (chế độ tĩnh), giảm độ dài cơ (chế độ khắc phục), tăng độ dài cơ (chế độ nhượng bộ) Trong chế độ hoạt động như vậy cơ bắp nảy sinh
ra các lực cơ học, các trị số khác nhau cho nên có thể coi chế độ hoạt động của cơ là cơ sở phân biệt các loại sức mạnh Bằng thực nghiệm phân tích khoa học người ta đã đi đến một số kết luận có ý nghũa cơ bản phân loại sức mạnh Yếu tố sức mạnh bao gồm:
Sức mạnh tối đa: là sức mạnh lớn nhất có thể sinh ra khi co cơ
Sức mạnh nhanh (hay còn gọi là sức mạnh tốc độ): là năng lực phát huy sức mạnh trong một khoảng thời gian ngắn nhất bằng sự co cơ nhanh
Sức mạnh bền: là năng lực chống lại mệt mỏi của cơ thể trong hoạt động sức mạnh kéo dài
Trang 16Đặc điểm sức mạnh được biểu hiện trong nhảy xa là các bài tập như: nhảy bật, chạy ngắn… các bài tập tư thế treo, trồng chuối trên các dụng cụ hay manh vật phụ (bao cát, chì) hoặc tập các bài tập với dây chun, bóng đặc,
tạ, co tay xà đơn, chống đẩy xà kép, nằm sấp chống đẩy…
1.4.2 Sức nhanh
Sức nhanh là khả năng thực hiện động tác trong một khoảng thời gian ngắn nhất Nó là tổng hợp thuộc tính chức năng của con người Nó quy định chủ yếu và trực tiếp đặc tính tốc độ động tác cũng như thời gian phản ứng vận động
Người ta phân biệt 3 hình thức đơn giản biếu hiện sức nhanh như:
- Thời gian tiềm phục của phản ứng vận động
- Tốc độ động tác đơn với phản ứng vận động
- Tần số động tác
Sức nahnh trong GDTC được biểu hiện qua các bài tập phát triển chung tay không, với dây chun cho các bộ phận cơ thể: tay, chân, thân, mình và toàn thân, các trò chơi vận động, các động tác nhảy, chạm, ném, bắt, các môn bóng…
1.4.3 Năng lực mềm dẻo
Trong nhiều môn thể thao năng lực mềm dẻo là tiền đề để người tập có thể đạt thành tích cao trong tập luyện Mềm dẻo là năng lực thực hiện động tác với biên độ lớn Biên độ tối đa của động tác là thước đo của năng lực mềm dẻo
Năng lực mềm dẻo được phân thành hai loại:
- Mềm dẻo thụ động có dược nhờ sự tác động của ngoại lực và trọng lực của cơ thể
- Mềm dẻo tích cực, độ dẻo được tạo nên với sự gắng sức, nỗ lực của chính cơ bắp người tập
Việc đánh giá trình độ mềm dẻo chủ yếu thông qua xác định góc độ mở của các khớp Đo độ dẻo bằng độ dài (cm) hoặc bằng cách đo điểm
Trang 17Việc lựa chọn bài tập phát triển năng lực mềm dẻo, cần xuất phát từ yêu cầu của môn tập thể thao cụ thể và cần căn cứ vào đối tượng, lứa tuổi và trình
độ tập luyện của người tập
1.4.4 Năng lực khéo léo
Nếu như các năng lực sức nhanh, sức mạnh, sức bền dựa trên cơ sở sự thích ứng về năng lượng thì, thì khéo léo trong thể dục lại phụ thược chủ yếu vào quá trình điều khiển hành vi vận động
Năng lực phối hợp vận động là một phức hợp các tiền đề của người tập (cần thiết ít hoặc nhiều) để thực hiện thắng lợi một hoạt động thể thao nhất định Năng lực này được xác đinh trước hết ở khả năng điều khiển động tác (xử lý thông tin), mà người tập hình thành và phát triển trong tập luyện, năng lực phối hợp vận động có mối quan hệ mật thiết với các phẩm chất tâm lý và các năng lực khác như: sức nhanh, sức mạnh, sức bền
Năng lực phối hợp vận động của người tập còn được thể hiện ở mức độ tiếp thu nhanh chóng và có chất lượng, cũng như hoàn thiện cũng cố và vận dụng các kỹ xảo vầ kỷ thuật thể thao Tuy nhiên giữa năng lực phối hợp vận động và kỹ xảo về thể thao có điểm khác nhau cơ bản Trong khi kỹ xảo về kỹ thuật thể thao chỉ nhằm giải quyết một nhiệm vụ cụ thể thì năng lực phối hợp vận động là tiền đề cho rất nhiều hoạt động vận động khác nhau
1.5 Kỹ thuật nhảy xa ưỡn thân
Kỹ thuật nhảy xa nói chung và nhảy xa kiểu ưỡn thân nói riêng là một quá trình liên tục từ khi chạy đà đến khi thu chân rơi xuống cát Để tiện cho việc phân tích kỹ thuật và giảng dạy người ta chia thành 4 giai đoạn sau:
Trang 18– 52m (20 – 40m đối với Nữ) bao gồm từ 19 -24 bước chạy (từ 18 – 21 đối với nữ) Độ dài của đà phụ thuộc vào chiều cao của người nhảy, trình độ huấn luyện chuyên môn của người đó trong các lần nhảy và nhất là khả năng tăng tốc độ chạy Khả năng tăng tốc độ, phát huy và giữa nhịp điệu chạy của vận động viên có thể được đánh giá qua thành tích chạy 30m – 100m xuất phát
Bảng 1.1 Sự phụ thuộc giữa độ dài (số bước) và tốc độ chạy đà vào trình độ huấn luyện chạy của vận động viên nhảy xa
Chạy có xuất phát (s) Độ dài đà (số bước) Tốc độ chạy
đà tối đa (m/giây)
Các yếu tố chủ yếu của việc hoàn thiện kỹ thuật chạy đà trong nhảy xa là
độ chuẩn xác, ổn định tốc độ và sự tin tưởng
Độ chính xác của đà phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Trước hết vào sự đánh giá kịp thời những điều kiện thay đổi bên ngoài của người nhảy, vào tình trạng cảm xúc và sự tin tưởng vào việc bắt đầu chính xác, vào nhịp điệu ổn định của toàn đà nhất là những bước cuối cùng
Những vận động viên nhảy xa xuất sắc nhất thế giới L Ddevít, Ro Bôstxtơn, I Terrôvannhexian, B.Bimôn tham gia thi đấu trong các đại hội Olympic vào những năm khác nhau, trước những lần nhảy kỷ lục của mình họ đều có thái độ hết sức thận trọng nhằm động viên sức lực đầy đủ
+ Tư thế ban đầu:
Tư thế ban đầu và việc bắt đầu chạy đà cần phải đảm bảo tiêu chuẩn về
độ dài của các bước và việc tạo thuận lợi cho việc tập trung chú ý Biện pháp
Trang 19tốt nhất có đặc điểm là độ ngã thân trên không đổi, độ dài của bước đầu tiên được hạn chế, bắt đầu động tác từ việc đổ thân trên về trước có nghĩa là lực và gia tốc như nhau
+ Tốc độ chạy đà (độ dài và tần số bước)
Việc phát triển tộc độ chạy đà tuỳ thuộc vào việc tăng độ dài và tần số bước Người nhảy cần phải phân phối sức của mình như thế nào để chạy 2 đến 4 bước cuối cùng với tốc độ lớn nhất và sẵn sàng giậm nhảy
Những người nhảy có chiều cao bình thường, thường có tố chất của những vận động viên chạy ngắn, và thường bắt đầu chạy đà nhanh bằng những bước ngắn Ngay khi đến bước chạy thứ 6 – 8 tốc độ của họ đã tăng lên cực đại Những vận động viên chân dài, động tác không gò bó bắt đầu chạy đà tương đối chậm hơn so với việc tăng nhanh độ dài và nâng dần tần số bước chạy
Mặc dầu có một vài sự khác biệt trong đặc điểm phát triển tốc độ đà, trong 2 bước cuối cùng trước khi giậm nhảy, những vận động viên xuất sắc luôn đạt được tốc độ cao nhất
Cùng với việc phát triển tốc độ, những vận động viên nhảy bắt đầu chạy
đà nhanh hơn để đến thời điểm giậm nhảy có tốc độ lớn Việc bắt đầu chạy đà của nhiều vận động viên ưu tú tương tự như chạy xuất phát với 3/4 sức nữa đầu của đà, nhất là trong những bước đầu tiên, có đặc điểm là: Thân trên gấp
về trước (300 – 350) đánh tay mạnh, đưa đùi cao và đặt nữa trước bàn chân Trong phần giữa của đà, thân trên dần dần được thẳng lên đến 800, biên độ động tác của tay và chân lăng tăng lên Thân hơi ngữa tạo điều kiện cho đạp sau mạnh hơn để chuyển về trước và tạo dễ dàng cho việc nâng cao đùi lên
Sự phối hợp hoạt động của tay và chân có ảnh hưởng lớn đến nhịp điệu chung và việc tăng nhanh tần số động tác
+ Những bước cuối cùng của đà:
Ở 6- 8 bước cuối cùng là những bước dài nhất Nhưng việc biết phát triển và duy trì tốc độ cao nhất trước lúc giậm nhảy phụ thuộc không chỉ vào
Trang 20độ dài các bước mà cả vào nhịp điệu (tần số) chạy Việc rối loạn nhịp điệu chạy đà là do vận động viên quá chú ý đến chuẩn bị giậm nhảy, làm giảm tốc
độ chạy và thường ảnh hưởng xấu đến thành tích
Như vậy chạy đà là giai đoạn chủ yếu của nhảy xa và là quyết định kết quả lần nhảy Hiệu quả các động tác của người nhảy trọng chạy đà gồm việc tăng tốc độ chạy cao nhất trên 3 - 4 bước cuối cùng và duy trì đến khi giậm nhảy
1.5.2 Giậm nhảy
Giai đoạn này được tính từ khi chân giậm nhảy đặt vào ván giậm và cho đến khi rời mặt đất đặt chân giậm nhảy phải nhanh, mạnh đùi và cẳng chân gần như thẳng
+ Cơ chế của giậm nhảy: Khi giậm nhảy, người nhảy dùng lực quán tính chuyển động của toàn thân đè lên ván giậm nhảy Dưới ảnh hưởng của sức đè này, chân giậm và cột sống bị gập một cách cục bộ, gây ra sự kéo giãn và làm căng những cơ hoạt động (tính chất hoạt động nhượng bộ)
Việc gấp lại của chân giậm nhảy, việc hoãn xung của cột sống làm giảm đáng kể áp lực (tác dụng của lực quán tính) của cơ thể Áp lực này làm giảm sức chống lại của những cơ bị kéo căng và sự co lại mạnh của chúng bắt đầu (tính chất hoạt động khắc phục) chận giậm nhảy bắt đầu duỗi ra ở các khớp, thân trên thẳng ra cơ thể được đẩy vào hướng mới lên trên ra trước Việc hoãn xung càng ngắn và việc bắt đầu duỗi ra càng sớm (khi trọng tâm cơ thể chưa
đi qua điểm chống) thì khả năng chuyển cơ thể vào hướng mới với góc độ lớn hơn càng nhiều và ngược lại việc duỗi càng chậm, thì thời gian còn lại đẩy cơ thể lên trên – ra trước càng ít
+ Kỹ thuật giậm nhảy: Khi cùng một tốc độ chạy đà thì góc đặt chân giậm nhảy và mức hoãn của nó ở các khớp sẽ xác định thời gian và hướng của những lực được phát huy khi giậm nhảy
Động tác lăng tay và chân làm giảm ảnh hưởng của lực có hướng ngược lại với chuyển động của cơ thể Việc tích cực chuyển chân và tay ra trước
Trang 21trong lúc giậm nhảy làm tăng áp lực lên đường chạy theo hướng về sau và vì vậy làm tăng cả chuyển động của cơ thể về trước
Tính hiệu quả của kỹ thuật giậm nhảy ở các vận động viên ưu tú là ở chỗ
họ biết tạo nên áp lực lớn hơn trên ván giậm nhảy khi đưa chân về trước ít hơn để đảm bảo cho độ cao cần thiết của lần nhảy và giữ được chuyển động ngang của cơ thể Hiệu quả của kỹ thuật giậm nhảy được nâng cao theo mức
độ tăng trình độ huấn luyện của người nhảy Ví dụ những vận động viên (nữ) cấp I – II lực theo phương thẳng đứng tăng đến 300 – 350kg (200 - 275kg) còn đối với kiện tướng thì cao hơn 400kg (300kg)
Trong nhảy xa khi giậm nhảy, chân giậm nhảy được đặt hầu như thẳng ở khớp chậu đùi (dưới góc 1650 – 1700) và khớp gối (1750 – 1780) Cùng với việc tăng thành tích trong các lần nhảy, tính tích cực của việc đặt chân giậm nhảt lên ván cũng tăng lên Điều này được chứng minh qua việc tăng góc đặt chân đến 650 – 720 và giảm góc giữa hai đùi xuống còn 380 – 320
Chân lăng gập nhiều, được đưa nhanh về trước tạo điều kiện cho việc chuyển vùng khớp chậu đùi (ra trước) Việc chuyển vùng chậu đùi lên trên chân luôn kèm theo sự đàn hồi và kịp thời giậm nhảy là một thời điểm quan trọng của kỹ thuật Trong những lần nhảy tốt, biên độ gập ở khớp gối là 320 –
400, có thể đánh giá tính chất duỗi của chân giậm qua góc giậm nhảy và biên
độ đưa đùi trong lúc rời khỏi ván
Ở nhảy xa góc giậm nhảy khoảng 730 – 760, còn góc giữa hai đùi từ 1060
– 1140 Góc đưa đùi lớn chứng tỏ tính tích cực và sự kéo dài động tác lăng chân của người nhảy Khi người nhảy chậm duỗi chân, việc giậm nhảy diễn ra dưới góc độ nhỏ hơn 700 Vì vậy điều quan trọng trong nhảy xa là việc đặt chân giậm nhảy phải trước điểm dọi của trọng tâm cơ thể từ 30 – 40cm, nên sau khi có điểm tựa cứng và vững chãi phía trước, thân thể bắt đầu dường như được lăn qua chân đang duỗi thẳng ra, thay đổi hướng chuyển động lên một góc 20 -220 rời khỏi ván
Trang 22- Những yếu tố quan trọng của kỹ thuật giậm nhảy là:
Việc vươn thẳng lên của vận động viên ở khu vực lồng ngực, nâng trục vai trên cơ sở hoạt động tích cực của việc đánh xốc hai tay Tay cùng với chân giậm đưa ra trước lên trên, đến tư thế khi khớp khuỷu dường như ở dưới khớp vai một chút Tay kia được đưa ra sau – sang ngang để khớp khuỷu tay hơi thấp hơn khớp vai Những động tác này cùng với việc nâng cao chân lăng
sẽ tạo điều kiện giữ thăng bằng trong lúc giậm nhảy Lúc này hoạt động của trục vai, tay, chân lăng dường như được duỗi thẳng từ giữa phần cơ thể lên trên – ra trước, còn hoạt động của chân giậm thì xuống dưới ra sau
Khi giậm nhảy, thân trên được chuyển động về trước mạnh nhất từ lúc thẳng đứng đến khi kết thúc giậm nhảy
1.5.3 Bay trên không
Giai doạn bay trên không được tính từ khi chân giậm nhảy rời khỏi ván giậm nhảy, toàn bộ cử động trong giai đoạn bay của nhảy lên phụ thuộc vào nhiệm vụ chung của việc duy trì hoặc giữ thăng bằng và chiếm tư thế bắt đầu
co gối để sau đó đưa chân với xa về trước Trọng tâm cơ thể bay theo đường vòng cung, tốc độ bay ban đầu của các vận động viên có đẳng cấp cao từ 9,2 – 9,6m/s và được thực hiện với góc bay từ 200 -230
Cố gắng chạy nhanh, giậm nhảy tích cực, bay ra trong tư thế “bước bộ” với biên độ rộng và đưa chân với xa về trước lúc rơi là nền tảng của một lần nhảy, còn toàn bộ sự đa dạng của các cử động giữa lúc bay ra trong tư thế bước bộ và co gối trước khi rơi xuống chỉ là thứ yếu Vì vậy, đúng hơn là phải đánh giá động tác này như là một phương pháp giữ thăng bằng trong lúc bay, chứ không phải là một phương pháp hay kiểu nhảy
Những cử động trong lúc bay có ưu điểm và nhược điểm của nó Chúng
có thể đơn giản và phức tạp, có biên độ rộng hẹp, có tác dụng nâng cao hoặc làm giảm tính ổn định của cơ thể (momen quán tính của cơ thể hoặc các khâu) Chúng có thể tạo điều kiện cho việc sử dụng bản tính đàn hồi của cơ
Trang 23bắp hoặc gây trở ngại cho điều này Chúng có thể tiếp tục các cử động trước
đó một cách tự nhiên hoặc rối loạn các cử động ấy
Phương pháp ưỡn thân: Bao hàm việc tiếp tục thực hiện khâu tiếp theo của động tác bước bộ Đây là phương pháp tối ưu và thường được sử dụng rộng rãi trong việc giảng day và thi đấu Từ tư thế bước bộ, chân lăng ở phía trước hạ xuống dưới, về sau cùng với chân giậm Hông tiếp tục di chuyển về phía trước Khi chân lăng ra phía sau thì khớp gối hơi gập lại, lúc này chân giậm ở phía sau, cẳng chân hơi co lại Cùng với chuyển động của chân, hai tay đánh sang ngang hoặc sang ngang – ra sau – lên trên Nhờ sự phối hợp hoạt động của tay chân và phần hông của cơ thể được đẩy lên phía trước tạo nên tư thế ưỡn thân (ưỡn căng như cánh cung) Do tư thế ưỡn thân mà các cơ
ở mặt trước thân (vùng ngực) được kéo căng tạo điều kiện cho vận động viên gập thân lên trên mạnh và dễ dàng đưa hông về trước ra xa hơn khi chuẩn bị rơi xuống cát Khi gần rơi xuống đất thì nhanh chóng gập thân đưa hai chân
về trước đưa đùi lên cao, hai tay đánh về trước, xuống dưới ra sau và người nhảy chuẩn bị rơi xuống đất
1.5.4 Rơi xuống đất
Sau khi hoàn thành các động tác nhằm giữ ổn định trong lúc bay, người nhảy bắt đầu trực tiếp thu chân để rơi xuống cát Rơi xuống cát được thực hiện tốt nhất khi đùi được đưa về trước cùng với việc nâng cao gối và thân trên hơi gập về trước và xuống dưới
Cần coi việc nâng chân ra trước – lên trên khi thân trên nghiêng đổ ra trước chưa nhiều là chủ yếu trong động tác này Đây là điều rất quan trọng, lúc này cẳng chân được hạ xuống một cách tự do
Việc thu chân trước khi rơi xuống tạo điều kiện giữ chân dễ dàng hơn, có nghĩa là được lâu hơn, việc thu chân đúng lúc cũng đóng vai trò chủ yếu Sau khi thu chân vận động viên đưa hai bàn chân về trước đồng thời thẳng thân và đưa vùng hông về trước Động tác này tương tự như khi vượt qua rào của vận động viên chạy vượt rào Việc duỗi thẳng hai chân một cách hoàn toàn ở khớp
Trang 24gối chỉ có lợi ngay trước khi chạm cát, sự nỗ lực và sự chú ý của người nhảy cần được tập trung vào việc giữ hai chân khỏi tụt xuống, hai bàn chân ở mức ngang nhau (việc đồng thời đưa hai tay ra sau tạo điều kiện cho việc này) Trong bất kể trường hợp nào cũng không được vội vàng rơi xuống cát, tốt nhất là nên thực hiện các cử động này càng lâu càng tốt Nâng bàn chân lên cao 10cm sẽ giúp người nhảy bay xa thêm 16cm
Sau khi chạm cát, hai bàn chân bị gập vào cát và người nhảy nhanh chóng gấp khớp gối chuyển vùng chậu – đùi qua mặt trên cát theo hướng ra trước - xuống dưới, khi tận dụng hoàn toàn quỹ đạo bay, vận động viên hoặc
là ngồi xuống mông ở phía sau vết rơi hoặc là chuyển về trước hay sang một cách khó khăn
1.6 Đặc điểm, tính chất hoạt động, cơ sở để nâng cao thành tích
Đặc điểm của môn nhảy xa là cần phải kéo dài khoảng cách bay trên không do nỗ lực của người nhảy (sự phối hợp chặt chẽ giữa thần kinh và cơ) trong lấy đà và giậm nhảy tạo nên Quỹ đạo của trọng tâm cơ thể trong lúc bay phụ thuộc vào tốc độ chạy đà, lực giậm nhảy và góc độ giậm nhảy
Tính chất hoạt động là dùng sức mạnh bột phát trong khoảng thời gian ngắn
Cơ sở để nâng cao thành tích và hoàn thiện kỹ thuật, thể lực của người nhảy đều dựa trên cơ sở tập luyện chạy và các môn thể thao khác
1.7 Yếu tố quyết định thành tích môn nhảy xa
Để đạt thành tích cao trong nhảy xa, VĐV cần có tầm vóc tốt, có trình độ cao về sức mạnh - tốc độ và nắm vững kỹ thuật nhảy, trong hai giai đoạn chạy đà và giậm nhảy có ý nghĩa quyết định nhất đến thành tích môn nhảy Vì thành tích nhảy xa (S) về cơ bản phụ thuộc vào góc bay của thân thể khi rời đất và tốc độ bay ban đầu (Vo) Tốc độ bay phụ thuộc nhiều vào tốc độ đà tối
đa có được trước lúc giậm nhảy và lực giậm nhảy
Trang 25Về lý thuyết: Độ bay xa của lần nhảy được tính theo công thức
G
Sin V
1.8 Bài tập bổ trợ chuyên môn
1.81 Khái niệm bài tập bổ trợ chuyên môn
Hiện nay có rất nhiều các khái niệm về bài tập bổ trợ chuyên môn của các các giả khác nhau Bài tập bổ trợ chuyên môn là bài tập hỗ trợ cho việc nhanh chóng tiếp thu và thực hiện ở hiệu quả bài tập chuyên môn có hiệu quả, trong đó bài tập chuyên môn là những bài tập bổ trợ cho việc tiếp thu động
tác Theo quan điểm của PGS Nguyễn Toán và TS Phạm Danh Tốn thì “Bài
tập bổ trợ chuyên môn là các phức hợp các yếu tố của động tác thi đấu cùng biến dạng của chúng, cũng như các bài tập dẫn dắt tác động có chủ đích và
có hiệu quả đến sự phát triển các tố chất và các kỹ xảo của vận động ở chính ngay môn thể thao đó” Nhưng còn một số tác giả nước ngoài thì cho rằng:
Bài tập bổ trợ là những biện pháp giảng dạy bao gồm các bài tập mang tính chuẩn bị cho vận động, bài tập mang tính dẫn dắt và bài tập mang tính chuyển đổi và bài tập tăng cường các tố chất thể lực Quan điểm của các học giả Trung Quốc về các bài tập bổ trợ chuyên môn là những bài tập mang tính chuyên biệt cho từng môn thể thao từng kỹ thuật riêng biệt
Các quan niệm trên tuy có khác nhau về cách trình bày nhưng luôn có sự thống nhất về ý nghĩa, như vậy bài tập bổ trợ chuyên môn là các bài tập mang tính chất chuẩn bị, dẫn dắt, tính chuyển đổi và tính thể lực chuyên biệt cho từng kỹ thuật và từng môn thể thao khác nhau
Ví dụ trong nhảy xa người ta phân tích kỹ thuật thành 04 giai đoạn động tác bao gồm là: Chạy đà, giậm nhảy, bay trên không và tiếp đất Trên cơ sở đó
Trang 26người học nắm bắt từng phần sau đó liên kết lại thành kỹ thuật hoàn chỉnh Ở mỗi giai đoạn kỹ thuật, để giúp người học hình thành được kỹ thuật người ta sử dụng các bài tập
- Mang tính chuẩn bị nhằm đưa người học vào trạng thái sinh lý, tâm lý thích hợp với việc tiếp thu kỹ thuật
- Mang tính dẫn dắt nhằm làm cho người tập nắm được các yếu lĩnh từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ đơn lẻ đến hoàn thiện kỹ thuật cần học
- Mang tính chuyển đổi từ động tác này sang động tác khác với các cảm giác không gian và thời gian khác nhau nhằm tạo ra sự lợi dụng các kỹ năng
đã có hình thành ra các kỹ năng mới
Còn có thể đáp ứng cho người học thực hiện thuận lợi các kỹ năng đang học, người ta còn cần tập các bài tập bổ trợ thể lực chuyên môn cho người tập Ví dụ muốn căng người với biên độ động tác lớn nhất khi thực hiện kỹ thuật trên không thì người tập phải thực hiện giậm nhảy ở bục cao và vượt qua một độ cao nhất định để có khả năng phối hợp động tác Vì vậy đối với bài tập bổ trợ chuyên môn về kỹ thuật người ta cũng rất chú trọng đưa vào trong quá trình giảng dạy các bài tập để tăng cường một số tố chất thể lực chuyên môn cần thiết Có thể nói bài tập bổ trợ chuyên môn vừa là biện pháp
để nắm kỹ thuật phức tạp và khó, vừa là một khâu quan trọng để thúc đẩy nhanh quá trình hình thành kỹ năng vận động
1.8.2 Vai trò, tác dụng của bài tập bổ trợ chuyên môn trong dạy học động tác
Theo các nhà khoa học, các chuyên gia, các huấn luyện viên thể thao thì các bài tập bổ trợ chuyên môn là biện pháp quan trọng trong giảng dạy và huấn luyện kỹ thuật Như chúng ta đã biết một kỹ thuật thường có cấu trúc các chuỗi động tác gắn kết có trình tự, có sự liên quan phối hợp tác động lẫn nhau, thúc đẩy hoặc hạn chế nhau để cùng thực hiện yếu lĩnh kỹ thuật động tác nào đó Một kỹ thuật thường gắn kết nhiều khâu, nhiều cử động, nhiều giai đoạn nên cùng một lúc người học không thể hình thành các khái niệm cũng
Trang 27như tạo ra các đường mòn liên hệ trên võ đại não các cử động đó Do vậy, người ta phân chia nhỏ kỹ thuật phức tạp thành các giai đoạn khác nhau
1.8.3 Nhiệm vụ và vai trò của bài tập chuyên môn trong giảng dạy động tác
Nhiệm vụ chính của dạy học động tác, đặc biệt là kỹ thuật cho đối tượng
học sinh là:
Tạo một vốn vận động ban đầu làm cơ sở cho các hoạt động tiếp theo Dùng các bài tập bổ trợ hoặc các phương tiện để tác động có chủ đích đến sự phát triển các năng lực thể chất riêng
Hình thành và đạt đến mức độ hoàn thiện cần thiết các kỹ năng và kỹ xảo vận động cơ bản cần có trong cuộc sống hàng ngày, lao động, thể thao và các lĩnh vực vận động khác
Một trong những nhiệm vụ quan trọng trong quá trình dạy học động tác
và phát triển các năng lực thể chất đó là dùng các bài tập thể chất đặc biệt là bài tập “bổ trợ” như các phương tiện để tác động có chủ đích đến quá trình dạy học động tác Trong giảng dạy kỹ thuật các môn điền kinh, do đặc điểm
có nhiều nội dung có cấu trúc động tác khác nhau vì vậy việc giảng dạy cho từng kỹ thuật là rất khó nếu như không biết vận dụng các bài tập bổ trợ kỹ thuật thì khó có thể hình thành được kỹ năng kỹ xảo động tác kỹ thuật một cách nhanh chóng Vì vậy vai trò của các bài tập bổ trợ rất quan trọng trong dạy học động tác kỹ thuật mới, đặc biệt là trong dạy các kỹ thuật điền kinh Như vậy, có thể nói trong dạy học các kỹ thuật điền kinh các bài tập bổ trợ chuyên môn có vai trò rất quan trọng để giúp cho người học nắm được kỹ thuật chính xác và rút ngắn thời gian tập luyện cũng như hướng tới việc phát triển các năng lực cần thiết để đạt hiệu quả cao trong tập luyện thi đấu
1.9 Tình hình công tác GDTC ở trường THPT Phan Châu Trinh – TP Đà Nẵng
Trường THPT Phan Châu Trinh nằm ở Quận Hải Châu – Thành phố Đà Nẵng, là ngôi trường lớn nhất cả về số lượng và chất lượng Cơ sở vật chất,
Trang 28sân bãi phục vụ cho việc giảng dạy và học tập của nhà trường mặc dù đã được
bộ GD- ĐT, Đảng ủy, BGH nhà trường hết sức quan tâm đầu tư nâng cấp nhưng với số lượng học sinh lớn (gần 5 ngàn học sinh hiện nay) thì hiện tại cơ
sở vật chất của trường còn thiếu thốn nhiều, chưa đủ để phục vụ Hơn thế nữa diện tích của nhà trường tương đối hẹp chỉ đủ xây dựng phòng học văn hóa nên diện tích sân tập chỉ đáp ứng đủ 40% và với số lượng khổng lồ như thế
mà nhà trường chỉ có 10 giáo viên thể dục Mà theo quyết định quy hoạch cơ
sở TDTT trường học của nhà nước là 10m2/1 học sinh Diện tích đất, công trình thể thao phục vụ việc tập luyện ngoại khóa hầu như không có Mật độ giảng dạy cao dẫn đến sân bãi không đáp ứng đủ Qua điều tra thực trạng cho thấy việc xây dựng một cơ sở học tập TDTT và tăng cường thên cán bộ giảng dạy là rất cấp bách nhưng lại hết sức khó khăn vì đòi hỏi phải có thời gian và kinh phí không thể đấp ứng ngay được Vì vậy việc cải tiến phương pháp giảng dạy dựa trên cơ sở vật chất hiện có của nhà trường là rất cần thiết Ngoài ra trường THPT Phan Châu Trinh là một trường điểm của thành phố
Vì vậy chương trình học của nhà trường rất lớn và chủ yếu đè nặng lên những môn văn hóa, những môn thi tốt nghiệp Còn thể dục không thuộc các môn thi văn hóa, không là môn thi tốt nghiệp Cho nên còn chưa được quam tâm đúng mức của BGH nhà trường, các bậc phụ huynh cũng như toàn bộ học sinh Các
em chỉ chú trọng vào các môn văn hóa mà không hề biết tác dụng tác dụng to lớn của GDTC trong nhà trường Hầu hết các em dành thời gian cho môn văn hóa, hoạt động giáo dục đào tạo thể chất chỉ diễn ra trong giờ học Việc học sinh tự học, tự tập luyện là rất hiếm hoi Hoạt động của giáo viên trong giờ học chỉ mang tính chất tổ chức tập luyện cho học sinh chứ không phải là chỉ tiêu đánh giá kết quả đào tạo thể chất Vì vậy chất lượng hiệu quả môn GDTC của trường THPT Phan Châu Trinh còn nhiều hạn chế
Trang 29CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Phương pháp này nhằm tổng hợp hệ thống các kiến thức có liên quan đến
đề tài nghiên cứu, hình thành nên cơ sở lý luận, xây dựng giả định khoa học, xác định các nhiệm vụ và kiểm chứng kết quả khi thực hiện đề tài
2.1.2 Phương pháp điều tra, phỏng vấn
- Lấy số liệu tại cơ sở
- Tiến hành phỏng vấn các giáo viên đang là công tác GDTC tại trường THPT Phan Châu Trinh – TP Đà Nẵng nhằm đưa ra các nội dung sai lầm, các bài tập Sửa chữa sai lầm nhằm nâng cao hiệu quả học tập
2.1.3 Phương pháp quan sát sư phạm
Tổ chức quan sát quá trình giảng dạy của giáo viên, học tập và tập luyện của học sinh trường THPT Phan Châu Trinh - Tp Đà Nẵng từ đó đưa ra những kết luận
2.1.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm
Là phương pháp nghiên cứu nhờ hệ thống bài tập hoặc test được thực tiễn thừa nhận, được tiêu chuẩn hoá về nội dang, hình thức và điều kiện thực hiện nhằm khắc phục và đánh giá năng lực khác nhau của học sinh nam khối
11 trường THPT Phan Châu Trinh – TP Đà Nẵng
Chúng tôi đã tiến hành cho luyện tập và kiểm tra các test sau:
- Chạy 30m xuất phát cao (s)
- Nhảy dây đơn (lần/30s)
- Nằm ngữa gập thân (lần/30s)
- Chạy đà 3-5 bước giậm nhảy qua chướng ngại vật thấp (cm)
- Đứng trên bục cao bật xa ưỡn thân xuống hố cát (cm)
- Thành tích nhảy xa (cm)
Trang 30Thông qua các bài tập nhằm khắc phục sai lầm và đánh giá mức độ khắc phục sai lầm đã được các chuyên viên, giáo viên có nhiều kinh nghiệm đang làm công tác GDTC xem xét và đồng ý
2.1.4.1 Chạy 30m xuất phát cao (s)
- Mục đích: Phát triển tốc độ, làm quen với tư thế chạy đà, đánh giá sức nhanh
- Dụng cụ kiểm tra: Đường chạy, còi, cờ hiệu, đồng hồ bấm giây
- Phương pháp tiến hành: Tính tốc độ di chuyển, thành tích tính trên 1% giây Người tập đứng sau vạch xuất phát, nghe hiệu lệnh chạy hết cự ly 30m tới vạch đích
2.1.4.2 Chạy đà 3-5 bước giậm nhảy qua chướng ngại vật thấp (cm)
- Mục đích: Điều chỉnh góc độ giậm nhảy, phát triển sức mạnh tốc độ
- Dụng cụ kiểm tra: Đường chạy, rào thấp, thước đo
- Phương pháp tiến hành: Tính chiều cao của rào (cm) Người tập đứng chân lăng trước, chân giậm sau, hai chân rộng bằng vai Khi nghe hiệu lệnh chạy 3-5 bước nhảy qua rào Rào được làm bằng hai cọc thẳng đứng có chân
cố định, phía trên có chấu để bắc xà ngang làm rào Trên cọc có ghi thước đo
độ cao, mỗi thước cách nhau 5cm
2.1.4.3 Nhảy dây đơn (lần/30s)
- Mục đích: Phát triển sức mạnh tốc độ, đánh giá sức mạnh tốc độ
- Dụng cụ kiểm tra: Sân bằng phẳng, dây nhảy, đồng hồ bấm giây
- Phương pháp tiến hành: Tính số lần Người tập tại chổ đứng hai chân ở
tư thế nghiêm, hai tay cần dây nhảy, nghe hiệu lệnh thực hiện động tác Dây nhảy được hai tay đưa từ sau lên trên ra trước xuống dưới, khi đó đồng thời
cơ thể dùng sức mạnh hai cơ cổ chân đẩy cơ thể lên cao nhảy qua dây nhảy, mỗi lần như vậy được tính một lần
2.1.4.4 Đứng trên bục cao bật xa ưỡn thân xuống hố cát (cm)
- Mục đích: Phát triển sức mạnh, khả năng ưỡn thân Đánh giá sức mạnh, kỹ thuật ưỡn thân
Trang 31- Dụng cụ kiểm tra: Hố nhảy xa, bục nhảy, thước dây
- Phương pháp tiến hành: Tính khoảng cách (cm) Người tập đứng hai chân rộng bằng vai, ngón chân đặt sát vạch xuất phát, hai tay giơ lên cao, hạ thấp trọng tâm gấp khớp khuỷu, gập thân, hơi lao người về trước, đầu hơi cúi, hai tay hạ xuống dưới, ra sau, kết hợp duỗi thân, chân bật mạnh về phía trước đồng thời hai tay cũng vung mạnh ra trước Khi bật nhảy và khi tiếp đất hai chân tiến hành đồng thời cùng lúc Kết qủa đo được tình bằng độ dài từ vạch xuất phát đến vệt gần nhất của gót bàn chân Thực hiện hai lần nhảy và tính lần xa nhất
2.1.4.5 Nằm ngữa gập thân (lần/30s)
- Mục đích: Phát triển nhóm cơ lưng bụng, đánh giá sức mạnh cơ lưng bụng
- Dụng cụ kiểm tra: Sân bãi, đồng hồ bấm giây
- Phương pháp tiến hành: Tính số lần trong 30 giây Người tập ngồi trên sàn (ghế băng hoặc trên cỏ) bằng phẳng, sạch sẽ Chân co 900 ở đầu gối, bàn chân áp sát sàn, các ngón tay đan chéo nhau, lòng bàn tay áp sát sau đầu, khuỷu tay cạnh đùi Người thứ hai hỗ trợ bằng cách ngồi lên mu bàn chân đối diện với người tập, hai tay giử ở phần dưới cẳng chân nhằm không cho đối tượng điều tra tách ra khỏi sàn Khi có hiệu lệnh bắt đầu, người tập ngã người nằm ngữa ra, hai bả vai chậm sàn sau đó gập bụng thành ngồi, hai khuỷu tay chạm đùi, thực hiện động tác gập than đến 900 Mỗi lần co bụng ngã người được tính một lần
2.1.4.6 Thành tích nhảy xa (cm)
- Mục đích: Đánh giá kỷ thuật, thành tích nhảy xa
- Dụng cụ kiểm tra: Hố nhảy xa, thước dây
- Phương pháp tiến hành: Tính khoảng cách (cm) Người tập đứng ở tư thế xuất phát cao, ngón chân đặt sát vạch xuất phát, hai tay, hạ thấp trọng tâm gấp khớp khuỷu, gập thân, hơi lao người về trước, đầu hơi cúi, hai tay hạ xuống dưới, ra sau, kết hợp duỗi thân, chân bật mạnh về phía trước đồng thời
Trang 32hai tay cũng vung mạnh ra trước Khi bật nhảy và khi tiếp đất hai chân tiến hành đồng thời cùng lúc Kết qủa đo được tình bằng độ dài từ vạch xuất phát đến vệt gần nhất của gót bàn chân Thực hiện hai lần nhảy và tính lần xa nhất
2.1.5 Phương pháp toán thống kê
i i
2 1
)(
+ Cv 10% thì đám đông có số liệu tương đối đồng đều
+ Cv > 10% các số liệu phân bố phân tán, không đồng đều
- So sánh hai số trung bình quan sát theo công thức sau:
2
2 1 1
2 1
2 1
n n
X X
t (chỉ số t.student) được đánh giá như sau:
+ t < 1.96 : sự khác biệt chưa mang ý nghĩa thống kê ở ngưỡng xác xuất
1
) (
) (
) )(
(
Y Y X X
Y Y X X r
i n
i i
Trang 332.1.6 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tôi tiến hành thực nghiệm một số bài tập sửa chữa những sai lầm thường mắc trong học kỹ thuật nhảy xa
Tổ chức thực nghiệm: Tôi tiến hành thực nghiệm trong 06 tuần, mỗi tuần gồm 1 giáo án, mỗi giáo án gồm 45 phút Tôi tiến hành tổ chức thực nghiệm vào các giờ học chính khóa¸ theo chương trình quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Để đánh giá kết quả thực nghiệm tôi sử dụng phương pháp so sánh tự đối chiếu kết quả trước và sau thực nghiệm của nhóm học sinh mà tôi lựa chọn
a) Thực trạng việc phân phối thời gian giảng dạy trong môn điền kinh tại trường THPT Phan Châu Trinh – TP Đà Nẵng
Thông qua việc tìm hiểu các tư liệu và chương trình giảng dạy nội dung Điền kinh cho học sinh khối 11 trong phạm vi chỉ đi sâu vào giảng dạy kỷ thuật và giáo dục tố chất thể lực trong giảng dạy kỷ thuật nhảy xa kiểu ưỡn thân cụ thể đã thu được như sau:
- Đối với kỷ thuật nhảy xa kiểu ưỡn thân
Kỷ thuật nhảy xa kiểu ưỡn thân được sắp xếp vào học kỳ 2 của năm học, thời lượng là 06 tiết
Thời gian dành cho mỗi giáo án thực hiện là 45 phút kể cả khởi động chung
Tổng số 06 tiết trong lịch trình giảng dạy bao gồm:
+ 03 tiết học kỷ thuật và phân giai đoạn kỷ thuật
+ 02 tiết hoàn thiện kỷ thuật
+ 01 tiết kiểm tra, đánh giá kết quả
Trang 34Bảng 2.1: Phân phối thời gian giảng dạy kỷ thuật nhảy xa kiểu ưỡn thân cho học sinh nam khối 11 trường THPT Phan Châu Trinh – TP Đà Nẵng
TT Nội dung tập luyện
Thời gian phân phối
Số lượng (giờ) Tỷ lệ (%)
b) Thời gian, địa điểm và đối tượng thực nghiệm:
Quá trình tiến hành thực nghiêm được tiến hành từ ngày 13/02/2012 đến ngày 24/03/2012
Địa điểm thực nghiệm: Tại trường THPT Phan Châu Trinh – TP Đà Nẵng
Đối tượng nghiên cứu: Dựa vào giới tính, trình độ thể lực chúng tôi lựa chọn ngẫu nhiên 60 em học sinh nam khối 11 trường THPT Phan Châu Trinh – TP Đà Nẵng chia làm hai nhóm:
- Nhóm thực nghiệm gồm 30 em (nhóm A)
- Nhóm đối chứng gồm 30 em (nhóm B)
c) Nội dung thực nghiệm:
Nhóm đối chứng (nhóm B) tập theo chương trình giáo án và các bài tập
cũ của giáo viên bộ môn giảng dạy
Nhóm thực nghiệm (nhóm A) tập theo chương trình giáo án và các bài tập mà tôi đã lựa chọn Với tổng số giờ học kỹ thuật nhảy xa ưỡn thân là 06 giáo án, mỗi giáo án 45 phút, mỗi tuần tập một giáo án
Giáo án bài giảng được xây dựng trên cơ sở:
Trang 35+ Dựa vào kế hoạch chương trình đào tạo, đặc điểm đối tượng, cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình giảng dạy, các nguyên tắc và phương pháp giảng dạy thể dục nói chung và điền kinh nói riêng
+ Thời gian học của nhóm thực nghiệm bình thường, riêng việc sử dụng bài tập thì khác Chúng tôi đưa ra các bài tập mới đã được lựa chọn và tiến hành giảng dạy và được sử dụng trong từng giáo án
Việc vận dụng các bài tập chỉ đạt kết quả cao khi có sự phân bố hợp lý về lượng vận động theo mục đích huấn luyện, mục đích giảng dạy Môn nhảy xa
là môn sức mạnh tốc độ nên cần tuân thú các nguyên tắc sau:
+ Cường độ các bài tập phải đạt mức tối đa và gần tối đa
+ Thời gian nghỉ đầy đủ
+ Phương pháp cần tác động đến các hình thức tập luyện để tạo ra hưng phấn tốt nhất
+ Số lần lặp lại hợp lý (dừng tập khi có dấu hiệu tốc độ giảm)
Trên cơ sở như vậy chúng tôi đã phân bố yêu cầu lượng vận động đối với các bài tập đã được lựa chọn cho được kết quả ở bảng sau:
Khối lượng (Số lần)
Quảng nghỉ (Phút)
Yêu cầu
3 Chạy đà 3-5 bước giậm nhảy qua
4 Đứng trên bục cao bật xa ưỡn thân
Trang 362.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài này tôi nghiên cứu từ tháng 10 năm 2011 đến tháng 06 năm 2012,
và chia làm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Từ ngày 05/10/2011 đến ngày 15/01/2012
+ Lựa chọn đề tài và viết đề cương nghiên cứu
+ Chuẩn bị báo cáo trước hội đồng khoa học
+ Thu thập các tài liệu có liên quan
+ Viết cơ sở lý luận của đề tài
- Giai đoạn 2: Từ ngày 16/01/2012 đến ngày 29/03/2012
+ Giải quyết nhiệm vụ 1
- Giai đoạn 3: Từ ngày 30/03/2012 đến cuối tháng 05/2012
+ Giải quyết nhiệm vụ 2
+ Tiến hành chỉnh sữa, hoàn thiện khoá luận, bảo vệ khoá luận trước hội đồng khoa học
2.2.3 Địa điểm nghiên cứu
- Trường ĐHSP- ĐHĐN
- Trung tâm GDTC - ĐHĐN
- Trường THPT Phan Châu Trinh - TP ĐN
Trang 372.2.4 Phương tiện nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài để có hiệu quả số liệu chính xác, cụ thể chúng tôi sử dụng các dụng cụ sau:
- Sân chạy điền kinh, hố cát
- Đồng hồ bấm giờ, còi
- Thước dây, cờ
- Dây nhảy, bục nhảy xa và một số dụng cụ có liên quan
Trang 38CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Nghiên cứu một số sai lầm thường mắc trong học kỹ thuật nhảy xa kiểu ưỡn thân của học sinh nam khối 11 trường THPT Phan Châu Trinh – TP Đà Nẵng
3.1.1 Xác định một số sai lầm thường mắc trong học kỹ thuật nhảy xa ưỡn thân của học sinh nam khối 11 trường THPT Phan Châu Trinh – TP
Đà Nẵng
Để giải quyết vấn đề này tôi tiến hành theo 3 bước:
- Bước 1: Thu thập, hệ thống hoá những sai lầm thường mắc trong học
kỹ thuật nhảy xa kiễu ưỡn thân của học sinh nam khối 11 trường THPT Phan Châu Trinh - Tp Đà Nẵng
- Bước 2: Tiến hành phỏng vấn 10 giáo viên thể dục thuộc trường THPT
Phan Châu Trinh – TP Đà Nẵng
- Bước 3: Xác định độ tin cậy của các sai lầm
* Bước 1: Thu thập, hệ thống hoá những sai lầm thường mắc trong học kỹ thuật nhảy xa kiễu ưỡn thân của học sinh nam khối 11 trường THPT Phan Châu Trinh - Tp Đà Nẵng
Để giải quyết vấn đề này, thông qua các tài liệu tham khảo, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước để hệ thống các sai lầm thường mắc của người học kỹ thuật nhảy xa kiểu ưỡn thân
- Theo giáo trình Điền kinh năm 2010 của trường ĐH TDTT Đà Nẵng của Đỗ Ngọc Mạch và các đồng nghiệp [trang 112] đã hệ thống một số sai lầm thường mắc như sau:
Trang 39+ Giậm nhảy:
Giậm nhảy bước bộ không chuẩn, không thận lợi cho giai đoạn trên không
Giậm nhảy thân trên bị lao hoặc ngữa ra sau
- Theo sách giáo viên thể dục 11, 12 của Bộ GD&ĐT của Vũ Đức Thu (tổng chủ biên) và các đồng nghiệp [trang 79] đã hệ thống một số sai lầm thường mắc như sau:
Sau khi giậm nhảy đưa chân ra trước như nhảy xa kiểu ngồi
Không thực hiện động tác ưỡn thân
Gập thân ra trước không mạnh, nhanh
+ Tiếp đất:
Không thực hiện được động tác chùng chân
Để mông hoặc tay cham cát phía sau gót chân
*) Tóm lại: Qua tham khảo tài liệu đề tài tôi đã hệ thống được 11 sai lầm thường mắc của người học khi học kỹ thuật nhảy xa kiểu ưỡn thân từ đó có thể ứng dụng đánh giá sai lầm thường mắc trong học kỹ thuật nhảy xa kiễu ưỡn thân cho học sinh nam khối 11 trường THPT Phan Châu Trinh – TP Đà Nẵng, cụ thể như sau:
Trang 40 Tốc độ chạy đà không cao
- Giậm nhảy:
Giậm nhảy không mạnh, không duỗi hết chân
Giậm nhảy bước bộ không chuẩn, không thận lợi cho giai đoạn trên không
Giậm nhảy thân trên bị lao hoặc ngữa ra sau
- Trên không:
Sau khi giậm nhảy đưa chân ra trước như nhảy xa kiểu ngồi
Không thực hiện động tác ưỡn thân
Gập thân ra trước không mạnh, nhanh
- Tiếp đất:
Không thực hiện được động tác chùng chân
Để mông hoặc tay cham cát phía sau gót chân
*) Bước 2: Tiến hành phỏng vấn
Tôi đã phát ra 10 phiếu và thu về 10 phiếu, số phiếu hợp lệ là 10 phiếu,
số phiếu không hợp lệ là 0 phiếu Giá trị của các sai lầm thường mắc được xác định theo tỉ lệ % Trong đó đối tượng phỏng vấn có:
Giáo viên trình độ thạc sĩ: 2 người, chiếm 20 %
Giáo viên trình độ đại học thâm niên công tác trên 20 năm: 6 người, chiếm 60 %
Giáo viên trình độ đại học thâm niên công tác dưới 20 năm: 2 người, chiếm 20 %