Sau một thời gian dài tồn tại và phát triển với những bước thăng trầm của nó, Liên minh châu Âu đã phản ánh khá rõ nét những quan điểm, lợi ích kinh tế, chính trị, xu thế liên kết kinh t
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SỬ
- -
NGUYỄN THỊ OANH
Những khó khăn và giải pháp phát triển của Liên minh châu Âu (EU) từ năm
1991 đến năm 2011
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay trong nền kinh tế thế giới đã xuất hiện nhiều loại hình liên kết kinh tế giữa các nước trong khu vực Song mô hình liên kết kinh tế có hiệu quả nhất là mô hình theo kiểu thiết chế thị trường với việc thành lập khối Liên minh châu Âu (EU) Đây là một tổ chức liên kết kinh tế theo khu vực lớn nhất trong khối các nước tư bản chủ nghĩa
Liên minh châu Âu là một tổ chức khu vực duy nhất có mục tiêu cơ bản và lâu dài, là thống nhất một châu lục về kinh tế và chính trị, dựa trên các nguyên tắc vừa linh hoạt vừa thực dụng và mang tính liên quốc gia ngày càng rõ rệt Hiện nay Liên minh châu Âu là một tổ chức gồm 27 nước thành viên thuộc châu Âu được thành lập bởi Hiệp ước Maastricht vào ngày 1/11/1993, dựa trên cộng đồng châu Âu (EC)
Sau một thời gian dài tồn tại và phát triển với những bước thăng trầm của nó, Liên minh châu Âu đã phản ánh khá rõ nét những quan điểm, lợi ích kinh tế, chính trị, xu thế liên kết kinh tế, chính trị của một số nước châu Âu nói riêng và thế giới nói chung Trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI này Liên minh châu Âu đang trở thành một cực rất mạnh của nền kinh tế thế giới, thúc đẩy việc thống nhất tiền tệ để thành lập và hoàn thiện thị trường nội bộ tiến tới thống nhất châu Âu Việc mở rộng
các thành viên mới trong Liên minh châu Âu, xu hướng “khu vực hóa” của Liên
minh châu Âu sẽ đóng vai trò đặc biệt trong trật tự thế giới mới Trải qua 60 năm hình thành và phát triển Liên minh châu Âu đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Tuy nhiên trong quá trình phát triển của mình Liên minh châu Âu gặp phải rất nhiều khó khăn Những khó khăn đó đã cản trở bước phát triển của Liên minh châu Âu làm cho Liên minh châu Âu đang có bước giảm sút so với Mỹ, Nhật Bản Trước tình hình đó lãnh đạo Liên minh châu Âu đã làm gì để khắc phục những khó khăn đưa Liên minh châu Âu ngày càng đi lên Giữ vai trò là một tổ chức lớn mạnh
về kinh tế và chính trị trên thế giới Với mong muốn tìm hiểu về một tổ chức quốc
tế lớn trên thế giới để thấy được trong quá trình phát triển của mình, tổ chức đã gặp phải những khó khăn gì đòi hỏi cần có những giải pháp thích hợp để khắc phục Với những lí do trên, tôi nhận thấy nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa và tầm quan trọng rất lớn Đi sâu vào tìm hiểu một tổ chức quốc tế lớn để hiểu biết những
Trang 3khó khăn mà tổ chức vấp phải từ đó đưa ra giải pháp để khắc phục Chính vì vậy tôi
đã chọn đề tài: “Những khó khăn và giải pháp phát triển của Liên minh châu Âu
(EU) từ năm 1991 đến năm 2011” làm khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về Liên minh châu Âu đang là vấn đề được nhiều người quan tâm Đây là một vấn đề có tầm quan trọng của thế giới, có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển của thế giới Cùng với Mỹ, Nhật Bản, Liên minh châu Âu cũng là một siêu cường về kinh tế của thế giới và có vị thế chính trị ngày càng tăng
Đã có nhiều tác phẩm, công trình, bài viết về Liên minh châu Âu đề cập đến
mọi mặt của Liên minh châu Âu Đáng nói đầu tiên là cuốn “Liên minh châu Âu”
do Học viện quan hệ quốc tế biên soạn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995 Tác phẩm này đề cập đến một sồ nội dung chủ yếu như lịch sử hình thành và phát triển, các thể chế của Liên minh châu Âu, các kế hoạch tổng quát và các chính sách cộng đồng, quan hệ Liên minh châu Âu với thế giới và Việt Nam Giúp chúng ta có được một cái nhìn tổng quát về mô hình phát triển của Liên minh châu Âu
Trong tác phẩm “Kinh tế và chính sách của EU mở rộng” chủ biên Carlo
Altomonte – Mario Nava, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2004 đã giúp cho chúng
ta một cái nhìn toàn diện và chi tiết về các lĩnh vực chính trị, kinh tế của EU ngày
nay Bên cạnh đó còn có tác phẩm “Tiến trình thống nhất tiền tệ của EU” của tác
giả Kim Ngọc, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996 đã đề cập đến những điêu kiện, bối cảnh, quá trình thống nhất tiền tệ châu Âu, những nội dung cơ bản của tiến trình thống nhất tiền tệ và tác động của quá trình này đối với khu vực và thế giới Những khó khăn trong quá trình thống nhất Cuốn sách góp phần tìm hiểu, phân tích
và đánh giá quá trình thống nhất tiền tệ Tây Âu và làm phong phú thêm vốn hiểu biết về các nước và khu vực trên thế giới thông qua việc giới thiệu mô hình về thống nhất tiền tệ Tây Âu
Ngoài ra đề cập đến vấn đề tiền tệ còn có cuốn sách “Đồng EURO và tác
động của nó đến nền kinh tế thế giới và Việt Nam” chủ biên Đinh Công Tuấn, NXB
Thống kê, Hà Nội 2004 Tác phẩm đã nói rõ về quá trình hình thành và phát triển của đồng Euro, những tác động của nó đến nền kinh tế thế giới và Việt Nam cùng với những hạn chế trong việc áp dụng một đồng tiền chung
Còn có tác phẩm “Hệ thống an sinh xã hội của EU và bài học kinh nghiệm
cho Việt Nam” chủ biên Đinh Công Tuấn, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 2008 đã
Trang 4nghiên cứu tính phổ quát nhất của hệ thống an sinh xã hội của các nước EU, tính đặc thù của ba mô hình an sinh xã hội chủ yếu của EU là mô hình thị trường xã hội
ở Đức và Pháp, mô hình xã hội dân chủ ở Thụy Điển và mô hình thị trường tự do của Anh Từ nghiên cứu đặc điểm chung đó đã rút ra được những ưu điểm và hạn chế của hệ thống an sinh xã hội, phương hướng cải cách và bài học kinh nghiệm cho
Việt Nam Còn có những tác phẩm đề cập đến Liên minh châu Âu như cuốn “Điều
chỉnh chính sách thương mại của Liên minh Châu Âu trong bối cảnh phát triển mới” của tác giả Bùi Nhật Quang, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 2008 giúp cho
chúng ta có một cái nhìn toàn diện hơn về quá trình điều chỉnh chính sách thương mại của EU
Đáng nói trên các tạp chí: Nghiên cứu châu Âu, Nghiên cứu quốc tế, tạp chí cộng sản cũng có khá nhiều bài viết về Liên minh châu Âu Đã đề cập đến những vấn đề khó khăn và hạn chế của Liên minh châu Âu như của tác giả Hoàng Xuân Hòa với “Những khó khăn, trở ngại trong tiến trình mở rộng của Liên minh châu Âu”, “Việc làm và vấn đề thất nghiệp của EU hiện nay” của tác giả Đinh Công Tuấn, “Những vấn đề đặt ra và xu hướng phát triển của nghị viện châu Âu trong quá trình cải cách thể chế chính trị của Liên minh châu Âu” của tác giả Đặng Minh Đức,
“Phát triển thị trường nội khối ở Liên minh châu Âu: những thành tựu và hạn chế” của tác giả Đặng Minh Đức – Hồ Thanh Hương, “EU sẽ phải đương đầu với khó khăn thành lập lực lượng phản ứng nhanh EU Hệ quả tất yếu của cuộc chiến Kosovo” của tác giả Nguyễn Diệu Hương Ngoài ra trên các website cũng đề cập nhiều về Liên minh châu Âu
Nhìn chung tất cả các tác phẩm, công trình, bài viết đó chỉ mới dừng lại ở bề nổi, chưa đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề khó khăn và đưa ra giải pháp thích hợp
để đưa Liên minh châu Âu phát triển Vì vậy khi nghiên cứu đề tài: “Những khó
khăn và giải pháp phát triển của Liên minh châu Âu (EU) từ năm 1991 đến năm 2011” trên cơ sở những tư liệu đã thu thập được sẽ giúp tôi hoàn thành tốt đề tài
này
3 Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Những khó khăn và giải pháp phát triển của Liên minh châu Âu (EU) từ năm
1991 đến năm 2011
Trang 53.3 Phạm vi nghiên cứu
Liên minh châu Âu là một tổ chức quốc tế lớn trên thế giới Để nghiên cứu
về Liên minh châu Âu đòi hỏi phải có một cái nhìn tổng thể và toàn diện, nắm bắt tất cả các quá trình phát triển, những biến đổi của Liên minh châu Âu Đây là một
đề tài mang tính quốc tế vì vậy xuất phát từ khả năng còn nhiều hạn chế, cùng với nguồn tư liệu ít ỏi và thời gian hạn hẹp nên tôi chỉ tập trung nghiên cứu về vấn đề những khó khăn và giải pháp phát triển của Liên minh châu Âu từ năm 1991 đến năm 2011
4 Nguồn tư liệu
Để phục vụ cho quá trình nghiên cứu tôi sử dụng nguồn tư liệu thành văn như sách, báo, tạp chí, trên các website có nội dung liên quan đến Liên minh châu
Âu ở Thư viện Tổng hợp Đà Nẵng, Thư viện Tổng hợp Huế, Thư viện trường ĐH khoa học xã hội Huế, Thư viện trường ĐH sư phạm Huế, Thư viện trường ĐH kinh
tế Huế và các nhà sách trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cở sở các tài liệu thành văn đã được thu thập từ nhiều thể loại khác nhau, tôi tiến hành chọn lọc, phân loại và xử lý tư liệu sau đó sử dụng kết hợp nhiều phương pháp: Phương pháp luận sử học, phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, phương pháp thống kê phân loại, phương pháp lựa chọn, phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu Từ đó đưa ra những luận điểm chính xác, những kết luận khách quan và khoa học
6 Đóng góp của đề tài
Tìm hiểu về “Những khó khăn và giải pháp phát triển của Liên minh châu
Âu (EU) từ năm 1991 đến năm 2011” không chỉ giúp chúng ta hiểu được những
nhân tố tác động cản trở sự phát triển của Liên minh châu Âu mà còn mở rộng tầm
Trang 6nhìn hơn về một tổ chức quốc tế lớn trên thế giới Tác động của nó đến nền kinh tế thế giới Đề tài này góp phần tìm hiểu thêm về tình hình phát triển của Liên minh châu Âu từ khi thành lập đến nay Giúp chúng ta hiểu hơn về một tổ chức quốc tế lớn trên thế giới, cần đưa ra những chính sách, biện pháp cụ thể có hiệu quả hơn để đưa Liên minh châu Âu ngày càng phát triển Từ đó rút ra được những bài học kinh nghiệm cho các nước, các tổ chức khác trên thế giới
Mặc dù còn nhiều hạn chế và thiếu sót nhưng tôi hi vọng đây sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho những ai đã và đang quan tâm đến các tổ chức quốc tế lớn trên thế giới đặc biệt là tổ chức Liên minh châu Âu
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì nội dung đề tài của tôi gồm ba chương:
Chương 1: Khái quát về quá trình hình thành và phát tri ển của Liên minh châu Âu (1950 – 2011)
Chương 2: Những khó khăn của Liên minh châu Âu (1991 – 2011)
Chương 3: Những giải pháp khắc phục khó khăn thúc đẩy phát triển của Liên minh châu Âu (1991 – 2011)
Trang 7NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU (1950 – 2011)
1.1 Tình hình thế giới và châu Âu tác động đến sự hình thành Liên minh châu
Âu
Đại chiến thế giới thứ hai kết thúc đã làm đảo lộn trật tự thế giới nói chung
và trật tự châu Âu nói riêng Trật tự Ianta đứng đầu là Hoa Kỳ và Liên Xô trở thành lực lượng mới khống chế trên toàn cầu Cùng với sự thay đổi đó, châu Âu cũng bị chia cắt thành hai khu vực: Đông Âu đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, còn Tây
Âu đi theo con đường tư bản chủ nghĩa và khi Liên Xô với vai trò là “thành trì” của phong trào cộng sản quốc tế, dẫn đến “nữa kia” của châu Âu ngày càng có vị trí
rộng lớn, thì Hoa Kỳ nhờ chiến tranh mà phát triển vượt bậc còn Tây Âu phải đối mặt với suy yếu toàn diện và nguy cơ tụt hậu Cho dù thắng trận hay bại trận thì nền kinh tế Tây Âu đều rơi vào tình trạng kiệt quệ, còn về quân sự thì cả hai phía đồng minh và phát xít đều không tránh khỏi những tổn thất nặng nề Nguy cơ mất vai trò
“trung tâm thế giới” của Tây Âu đã trở thành hiện thực
Bối cảnh trật tự hai cực và sự suy yếu toàn diện của khu vực đã giúp cho các nước Tây Âu nhận thấy rõ rằng không có sự lựa chọn nào khác là giữ vững hòa bình
và hợp tác với nhau
Ngoài ra còn phải kể đến đòi hỏi khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất, sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học kĩ thuật, của yêu cầu quốc tế hóa đời sống ngày càng sâu sắc buộc các nước Tây Âu phải hợp tác với nhau để bắt kịp với nhu cầu thời đại Khi ý thức cộng đồng trỗi dậy mạnh mẽ như vậy thì cũng
là lúc các nước Tây Âu bắt đầu cảm thấy quá chật hẹp bởi những biên giới lãnh thổ của mình để nhanh chóng đạt được tiến bộ trong sự phát triển kinh tế Vì vậy, lúc này nhu cầu liên kết giữa các quốc gia cùng khu vực để đạt tới một thị trường sản xuất chung và một thị trường tiêu thụ chung đối với các sản phẩm của mình để nâng cao hiệu quả kinh tế và đủ sức cạnh tranh với bên ngoài trở nên cần thiết
Đồng thời sự hợp tác giữa các nước Tây Âu còn giúp cho các nước Tây Âu
có được sự phòng thủ chung chống lại ảnh hưởng tiêu cực từ chiến tranh lạnh và dần thoát khỏi sự lệ thuộc của Mĩ
Trang 8Như vậy trong bối cảnh quốc tế và khu vực đòi hỏi các nước Tây Âu cần phải hợp tác và liên kết chặt chẽ toàn diện Chỉ có con đường hợp tác hòa bình thì các nước Tây Âu mới có thể giải quyết những khó khăn chồng chất sau chiến tranh, phát triển nội lực và tăng thế cạnh tranh
Đòi hỏi khách quan cộng với những cơ sở bên trong đó là nền văn minh chung đã từng tồn tại lâu đời trong lòng các quốc gia Tây Âu đã tạo tiền đề cho sự hình thành Liên minh châu Âu – mở ra một trang mới trong lịch sử phát triển Tây
Âu nói riêng cũng như của cả châu Âu nói chung
1.2 Quá trình thành l ập, cơ cấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động của Liên minh châu Âu
1.2.1 Quá trình thành lập
Hiện nay, chúng ta chỉ biết đến một EU hùng mạnh với 60 tuổi song chúng ta cần biết rằng giấc mộng thống nhất châu Âu được nung nấu từ rất lâu, từ thời SacLơ Đại Đế của Đế chế Tây La Mã (742 – 814) đến Napôlêông (1769 - 1821) rồi Hítle Napôlêông đã từng vẽ ra viễn cảnh một châu Âu với bộ luật chung, đồng tiền
chung, các đơn vị đo lường và quy tắc châu Âu Ông đã từng nói: “Chức phận của
tôi vẫn chưa hoàn thành tôi muốn hoàn thành cái điều mới chỉ được phác họa, tôi phải làm một bộ luật châu Âu (…) một đồng tiền châu Âu, các đơn vị đo lường, các quy tắc châu Âu Tôi phải biến tất cả các dân tộc châu Âu thành một dân tộc và Pari thành thủ đô của thế giới” [25;7]
Thống nhất châu Âu không chỉ là mơ tưởng của các nhà quân sự, chính trị gia mà còn là mơ tưởng của nhiều giới khác trong đó có các nhà tri thức, nhà thơ,
nhà văn…tại Hội nghị hòa bình tháng 8/1849, Vichto Huygô đã phát biểu: “Sẽ đến
một ngày chiến tranh giữa Pari và Luân Đôn, Pêtécbua và Béclin, Viên và Turin tr ở nên phi lý và không thể chấp nhận được như một cuộc chiến giữa người Ruăng và người Amiăng hiện nay Sẽ đến một ngày mà các bạn nước Pháp, nước Nga, nước Italia, nước Anh, nước Đức, các bạn ở tất cả các quốc gia của lục địa trong khi vẫn không đánh mất những phẩm chất riêng biệt của mình sẽ hòa quyện trong một thể thống nhất châu Âu và xây dựng tình anh em châu Âu Ngày ấy sẽ đến khi chỉ còn một chiến trường khác là các thị trường mở cửa cho thương mại, và những cái đầu cởi mở đối với các ý tưởng, ngày ấy sẽ đến khi các cuộc bỏ phiếu thay thế cho bom đạn” [25;8]
Trang 9Tuy nhiên, trong thời gian rất dài, ý đồ thống nhất châu Âu vẫn chưa thực hiện được vì nó chỉ thuộc về mơ tưởng của một vài cá nhân Điều kiện kinh tế lúc bấy giờ khiến đại bộ phận châu Âu vẫn thờ ơ thậm chí không hề có ý tưởng về điều
đó, đa số họ nghĩ đến mảnh vườn, lãnh địa hoặc quốc gia của mình Vì vậy việc đoàn kết lợi ích các dân tộc là chưa thể có được, hơn nữa hoàn cảnh quốc tế, khu vực chưa tạo cơ hội cho sự thống nhất châu Âu, mặc dù châu Âu đã mang sẵn trong mình các yếu tố thống nhất trong đó đáng kể nhất là nét đặc trưng văn hóa châu Âu mang dấu ấn văn hóa Hy lạp – La mã
Đến năm 1923, Bá tước người Áo – Condanhvekalagi đã sáng lập ra “phong
trào Liên Âu” nhằm thành lập “Hợp chủng quốc châu Âu” và vào năm 1929, ngoại
trưởng Pháp lúc bấy giờ là Aristide Briand cũng đưa ra đề án thành lập “ Liên minh
châu Âu” nhưng đều không thành công Phải đến sau chiến tranh thế giới thứ hai
những ý tưởng thống nhất châu Âu mới trở thành hiện thực
Đứng trước tình hình thế giới và khu vực đòi hỏi các nước châu Âu phải liên kết với nhau để vượt qua khó khăn, thúc đẩy sự phát triển nhằm tăng thế cạnh tranh của mình
Mốc lịch sử đánh dấu sự hình thành EU là bản tuyên bố Schuman của bộ trưởng ngoại giao Pháp Robet Schuman vào ngày 9/5/1950, với đề nghị đặt toàn bộ nền sản xuất gang thép của Cộng hòa liên bang Đức – Pháp dưới một cơ quan quyền lực chung, trong một tổ chức mở cửa để các nước châu Âu khác cùng tham gia Sau đó, hiệp ước thành lập cộng đồng than thép châu Âu (ECSC), được kí kết vào ngày 18/4/1951, tại Pari với sự tham gia của 6 nước: Pháp, Đức, Italia, Hà Lan,
Bỉ, Lucxembua Mục đích của ECSC là đảm bảo sản xuất và tiêu thụ than thép của các nước thành viên trong những điều kiện thống nhất, đẩy nhanh tiến bộ khoa học
kĩ thuật trong sản xuất, phân phối tiêu thụ và nâng cao năng suất lao động trong hai ngành than và thép, hai ngành chủ lực sản xuất ra những nguyên liệu hàng đầu phục
vụ cho công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế Mục đích trước mắt của ECSC là hóa giải mối hiểm thù lâu đời giữa Đức – Pháp, biến hai nước này thành trụ cột cho khối liên kết kinh tế Tây Âu
Hiệp ước phải được 6 nước Tây Âu thực hiện một cách thành công Nó không chỉ góp phần cải thiện quan hệ chính trị giữa Pháp - Đức, quan trọng hơn là
sự thành công của ECSC đã tác động tâm lý đối với người Tây Âu, lần đầu tiên họ thấy rằng không cần chiến tranh mà vẫn có thể thống nhất được
Trang 10Với sự thành công của ECSC các nước thành viên đã có ý đồ mở rộng sự liên kết các nước sang lĩnh vực quân sự Vì vậy, các kế hoạch cộng đồng phòng thủ Châu Âu được kí kết tháng 5/1952, thế nhưng đến tháng 8/1954, kế hoạch này tan
vỡ kéo theo là sự thất bại của kế hoạch xây dựng một cộng đồng thống trị châu Âu
Sự thất bại này đã khiến các nước châu Âu hiểu rằng việc thống nhất châu Âu cần bắt nguồn từ nền tảng hợp tác kinh tế sâu và rộng, sau đó mới đến các lĩnh vực khác
Cũng trong thời gian này, một phong trào quốc hữu hóa các nguồn khai thác
và vận chuyển dầu mỏ nổi lên ở Trung Đông trực tiếp đe dọa quyền lợi của Pháp, những nước vốn vẫn coi khu vực này như một nguồn đảm bảo cung cấp năng lượng cho mình Bối cảnh lịch sử đặt ra nhu cầu hợp tác về năng lượng Sau khi xem xét
kĩ càng ngày 25/3/1957, Hiệp ước thành lập cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC) và cộng đồng năng lượng nguyên tử châu Âu (EURATOM) Phạm vi cộng đồng kinh
tế châu Âu gồm những lĩnh vực kinh tế rộng hơn so với 2 cộng đồng trên Mục tiêu của cộng đồng kinh tế châu Âu bao hàm cả mục tiêu kinh tế, đặc biệt còn nêu rõ
mục tiêu chính trị cuối cùng là “xây dựng nền móng của một liên minh ngày càng
chặt chẽ giữa các dân tộc châu Âu” [25;22]
Nhiệm vụ của EEC là xây dựng một thị trường chung tạo sự tự do lưu thông hàng hóa, sức lao động, vốn và dịch vụ trong toàn khối
EURATOM là tổ chức liên kết của 6 nước Tây Âu trong lĩnh vực công nghiệp năng lượng mới: năng lượng hạt nhân với mục tiêu nhằm đẩy mạnh việc sáng tạo và phát triển công nghiệp nguyển tử, đảm bảo việc cung cấp nguyên liệu và bảo vệ môi trường
Ba cộng đồng: Cộng đồng than thép châu Âu, cộng động kinh tế châu Âu và cộng đồng năng lượng nguyên tử châu Âu có tầm quan trọng rất lớn đối với mỗi nước thành viên Chính vì thế để nâng cao hiệu quả hoạt động của 3 cộng đồng, ngày 8/4/1965 tại Brussels 6 nước đã kí Hiệp ước Merger thành lập một hội đồng duy nhất và một ủy ban duy nhất Hiệp ước này có hiệu lực từ năm 1967, từ lúc này người ta thường gọi cộng đồng này dưới một tên gọi chung là cộng đồng châu Âu (EC) EC ( tiền thân của EU) có 3 mục đích cơ bản: giữ gìn hòa bình, thống nhất về kinh tế và thống nhất về chính trị
Với mục tiêu cơ bản và lâu dài là thống nhất cả kinh tế, chính trị, xã hội và
an ninh dựa trên các nguyên tắc và quy định chung cho cả khối EC đã hoạt động
Trang 11ngày càng có hiệu quả và không ngừng lớn mạnh Trước sự thành công của EC, các nước ngoài khối lần lượt xin gia nhập tổ chức này, từ đây diễn ra quá trình mở rộng
về số lượng và lớn mạnh về chất của EC
Với Hiệp ước Maastricht hay theo tên chính thức là Hiệp ước về Liên minh châu Âu được 12 nước trong cộng đồng châu Âu kí kết vào ngày 7/2/1991, và có hiệu lực từ ngày 1/11/1993, sau khi tất cả các nước đã phê chuẩn Từ đây cộng đồng châu Âu được đổi tên thành Liên minh châu Âu (EU) Hiệp ước nhằm thành lập một
“không gian châu Âu” thống nhất về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng và các
chính sách về xã hội
Như vậy, EU đã được bổ sung thêm các nội dung liên kết mới mà các tổ chức tiền thân của nó chưa có, để đạt được các mục tiêu toàn diện hơn như: duy trì bảo vệ hòa bình và thịnh vượng, thiết lập nền tảng phát triển, tiến tới hợp nhất về kinh tế vì lợi ích chung của các dân tộc châu Âu thông qua việc tạo ra một khu vực kinh tế rộng lớn, một khu vực thị trường tự do, thống nhất, tạo điều kiện về việc thống nhất về chính trị và hài hòa về xã hội trong liên minh Với mục tiêu như vậy,
EU đã thực sự bước vào một thời kì mới, tồn tại như một thực thể thống nhất, hay
nói đúng hơn là đóng vai trò như một “đại quốc gia” ở châu Âu, một “ngôi nhà
chung châu Âu”
1.2.2 Cơ cấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động
Nhằm thực hiện những mục tiêu chung đã được đề ra trong các hiệp ước, EU
đã xây dựng cho mình một hệ thống thể chế “siêu quốc gia” để điều hành, giám sát
quá trình liên kết của các quốc gia thành viên Hệ thống thể chế này bao gồm 5 cơ quan chính: Nghị viện châu Âu, Hội đồng châu Âu, Ủy ban châu Âu, Hội đồng bộ trưởng EU và Tòa án châu Âu
Việc kết nạp thêm các thành viên mới của cộng đồng không tác động đến cơ cấu cũng như trách nhiệm của các cơ quan của cộng đồng cho dù thành phần của nó
có thay đổi
Nghị viện châu Âu được công dân các nước thành viên bầu trực tiếp theo hình thức phổ thông đầu phiếu, 5 năm 1 lần Nghị viện châu Âu được đặt ở Strasbourg, gồm 732 nghị sĩ Nghi viện có chức năng thông qua ngân sách, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính cách của EU, cùng Hội đồng châu Âu quyết định trong một số lĩnh vực Nghị viện xem xét tất cả các chỉ thị và quy định của EU,
có thể chấp nhận, sửa đổi hoặc bãi bỏ những dự án được trình lên Nghị viện kiểm
Trang 12tra công việc của Uỷ ban châu Âu và có thể bãi bỏ, thay thế Uỷ ban thông qua một cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm Nghị viện cũng thông qua ngân sách hàng năm của
Hội đồng bộ trưởng được sự trợ giúp của ủy ban đại diện thường trực và văn phòng của hội đồng bộ trưởng sử dụng tới 2100 nhân viên Các bộ trưởng các nước
EU họp luân phiên hội đồng tùy theo từng lĩnh vực họ phụ trách để thông qua các chỉ thị và luật định của EU do Nghị viện châu Âu đề nghị Như vậy Hội đồng bộ trưởng là cơ quan lập pháp tối cao và có quyền thông qua các quyết định chính đối với chính sách của cộng đồng dựa trên các đề nghị của Ủy ban châu Âu, ngoại trừ lĩnh vực cạnh tranh Đưa ra các quy chế, chỉ thị mang tính bắt buộc đối với các thành viên, đồng thời cũng chịu trách nhiệm về hợp tác Liên minh chính phủ
Ủy ban châu Âu là cơ quan hành pháp của EU, gồm 205 ủy viên được ủy nhiệm trên cơ sở thỏa thuận của các nước thành viên và phải được quốc hội châu
Âu tán thành Ủy ban châu Âu đặt trụ sở tại Bruxells (Bỉ) có các văn phòng ở Luxemburg, đại diện ở các nước thành viên và phái đoàn ở nhiều thủ đô trên thế giới Ủy ban châu Âu có nhiệm kỳ 5 năm và được coi là bộ máy lập chính sách là
cơ quan khởi xướng các quyết định của cộng đồng Ủy ban châu Âu đề xuất lên Hội đồng bộ trưởng các biện pháp phát triển chính sách chung và theo dõi việc tôn trọng các hiệp ước
Tòa án châu Âu đặt trụ sở tại Luxemburg là cơ quan đảm bảo việc tuân thủ luật pháp của cộng đồng Tòa án có vai trò độc lập, có quyền bác bỏ những quy định của các tổ chức của Uỷ ban châu Âu, văn phòng chính phủ các nước nếu bị coi
là không phù hợp với luật của EU
Tòa kiểm toán châu Âu được lập ra từ năm 1975 và bắt đầu đi vào hoạt động
từ năm 1977 Trụ sở chính đóng tại Luxemburg
Trang 13Tòa án châu Âu có chức năng kiểm tra các khoản tài chính của EU để đảm bảo tính hợp pháp của các khoản thu chi, đồng thời phối hợp với các cơ quan thể chế khác của EU để thực hiện các hoạt động có liên quan đến tài chính của mình
Ngoài 5 cơ quan chính trên còn có một số cơ quan khác nữa Như Uỷ ban kinh tế và xã hội là cơ quan hỗ trợ cho Hội đồng bộ trưởng và Ủy ban châu Âu, đại diện cho lợi ích các nhóm người trong xã hội: giới chủ, công nhân, nhóm hỗn hợp gồm đại diện của nông dân, người tiêu dùng…
Ủy ban về khu vực là cơ quan tư vấn cho các cơ quan thể chế của EU về các vấn đề liên quan tới lợi ích của các đơn vị địa phương và khu vực
Ngân hàng đầu tư châu Âu đảm bảo trách nhiệm cấp phát tín dụng cho các tổ chức nhà nước, các doanh nghiệp của các thành viên trên cơ sở nguồn vốn của các thành viên đóng góp hoặc vốn vay quốc tế
Như vậy với cơ cấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động của EU ta thấy đây là một tổ chức khá chặt chẽ và hoàn chính về hệ thống chính trị Có tác dụng đưa tổ chức EU không ngừng lớn mạnh trên trường quốc tế
1.3 Các giai đoạn phát triển của Liên minh châu Âu (1950 – 2011)
1.3.1 Giai đoạn 1950 – 1965
Trải qua một quá trình chuẩn bị lâu dài, thống nhất châu Âu đã trở thành hiện
thực Mốc lịch sử đánh dấu sự hình thành của EU là bản “Tuyên bố Schuman” của
bộ trưởng ngoại giao Pháp Robet Schuman vào ngày 9/5/1950, với đề nghị đặt toàn
bộ nền sản xuất gang thép của Đức và Pháp dưới một cơ quan quyền lực chung Sau
đó, Hiệp ước Pari thành lập ECSC được kí vào ngày 18/4/1951 Hiệp ước Pari nhằm giữ gìn hòa bình, khuyến khích cạnh tranh để phát triển sản xuất, nâng cao đời sống
và tiến bộ, thay thế sự hận thù bằng sự ràng buộc các lợi ích chủ yếu, lập một cộng đồng trong lĩnh vực kinh tế để làm cơ sở cho một cộng đồng sâu hơn của các dân tộc ở châu Âu Đồng thời hiệp ước cũng đưa ra những quy định cụ thể nhằm xây dựng một thị trường chung than, sắt, thép, đưa ra những điều kiện để khuyến khích cạnh tranh một cách công bằng, để đẩy mạnh sản xuất, hạ thấp giá cả và đẩy mạnh buôn bán quốc tế
Tiếp theo đó, Hiệp ước Roma về thành lập EURATOM và EEC được kí ngày 25/3/1957 Mục đích của EURATOM là thống nhất việc quản lý ngành năng lượng nguyên tử của 6 nước thành viên, trong khi đó EEC ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu tăng cường liên kết giữa 6 nước này, tạo ra một tập hợp sức mạnh kinh tế tổng
Trang 14hợp dưới hình thức một “thị trường chung” mà lao động, hàng hóa được tự do di
chuyển như một thị trường nội địa Hiệp ước Roma là kết quả của những thành tựu đáng khích lệ về kinh tế và chính trị mà ECSC đã đạt được
Để nâng cao hiệu quả liên kết giữa các nước thành viên và tránh sự chồng chéo, trùng lặp giữa chức năng và hoạt động của các thể chế của những cộng đồng này, ngày 8/4/1965, tại Brucsxen, 6 nước đã kí hiệp ước thành lập Cộng đồng châu
Âu (EC) Với hiệp ước này đã xác nhận một cấp độ nhất thể hóa kinh tế cao hơn giữa các quốc gia này thể hiện việc thành lập một thị trường thống nhất: trong đó, ngoài việc hàng hóa, lao động và vốn đầu tư được tự do di chuyển, hàng rào thuế quan và phi thuế quan cũng được dỡ bỏ, hệ thống thuế quan và chính sách thương mại chung được thành lập, một số chính sách đối với các lĩnh vực kinh tế khác cũng được thống nhất nhằm tăng sức cạnh tranh với các khối kinh tế bên ngoài, tiến tới một liên minh chặt chẽ về chính trị
Như vậy, trong giai đoạn 1950 – 1965 là những bước chuẩn bị cho tiến trình liên kết về kinh tế, chính trị, văn hóa ở mức độ cao hơn
1.3.2 Giai đoạn 1965 – 1991
Với ý chí và nguyện vọng xây dựng một cộng đồng hùng mạnh, thực hiện mục tiêu cơ bản và lâu dài là thống nhất châu lục về kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh Trong giai đoạn 1965 – 1991, Cộng đồng châu Âu đã hoạt động một cách tích cực, đạt được những kết quả bước đầu quan trọng, khẳng định sự tồn tại, phát triển của tổ chức
Để có thể duy trì sự tồn tại cũng như thực hiện được mục tiêu đề ra, EC đã thiết lập một hệ thống tổ chức cho phép cộng đồng hoạch định, điều hành và giám sát các hoạt động của cộng đồng Hệ thống tổ chức của EC ban đầu khá đơn giản, gồm 5 cơ quan điều phối chính là: Hội đồng châu Âu, Hội đồng bộ trưởng, Ủy ban châu Âu, Nghị viện châu Âu và Tòa án châu Âu Mỗi cơ quan có chức năng, vai trò riêng Ngoài 5 cơ quan trên còn phải kể đến Tòa kiểm toán có vai trò chi tiêu của cộng đồng
Nói chung, hệ thống tổ chức của EC được thiết kế và phát triển theo xu hướng tuân thủ nguyên tắc tam quyền phân lập của một siêu quốc gia Tuy nhiên ở giai đoạn này thể chế do EC lập ra mới chỉ mang tính chất liên chính phủ, chưa mang tầm siêu quốc gia, song nó đã đặt nền tảng cho sự hoàn thiện tổ chức ở giai đoạn sau
Trang 15Cùng với việc thiết lập hệ thống tổ chức là sự mở rộng số lượng thành viên Trong giai đoạn từ năm 1965 đến năm 1991 EC đã trải qua ba lần mở rộng nâng tổng số thành viên lên 12 nước
Ngày 29/5/1986, lá cờ xanh da trời với 12 ngôi sao vàng tượng trưng cho sự hoàn hảo và đều đặn lần đầu tiên tung bay trên bầu trời châu Âu
Như vậy, từ 6 nước thành viên ban đầu thì đến năm 1991, EC đã có 12 nước thành viên Với sự gia tăng về số lượng đã khẳng định sự lớn mạnh của EC, và là một tổ chức đang có sức hấp dẫn đối với các nước khác Từ đây các nước thành viên không ngừng nổ lực xây dựng, phát triển đưa tổ chức ngày càng lớn mạnh
Song song với sự lớn mạnh về số lượng là sự phát triển của tổ chức trên mọi lĩnh vực, thông qua quá trình liên kết kinh tế, chính trị, xã hội
Mục tiêu liên kết về kinh tế được EC xác định là mục tiêu hàng đầu nhằm tiến tới xây dựng một thị trường chung Ngay sau khi ECSC được thành lập, người châu Âu đã khẩn trương bắt tay vào việc xác lập thị trường chung về than và luyện kim của hai nước Pháp và Đức Và quá trình xây dựng thị trường chung với cốt lõi
là xóa bỏ các hàng rào biên giới quốc gia cho sự lưu thông hàng hóa, con người, dịch vụ và tư bản đã không ngừng được đẩy mạnh từ năm 1965 với những thành tựu
to lớn
Thành tựu lớn nhất mà EC đạt được cho đến đầu những năm 70 đó là xây dựng xong Đồng minh thuế quan (1/7/1968), giai đoạn đầu của quá trình xây dựng thị trường chung Một liên minh thuế quan ra đời bao hàm việc xóa bỏ hoàn toàn mọi loại thuế quan và những hạn chế về số lượng đối với hoạt động thương mại trong cộng đồng, và đồng thời xây dựng một biểu thuế quan chung duy nhất cho toàn cộng đồng đối với hàng hóa nhập khẩu từ bên ngoài Việc hoàn tất liên minh thuế quan đã thúc đẩy mạnh mẽ thương mại trong toàn bộ cộng đồng Tuy nhiên do cuộc khủng hoảng kinh tế mà tiến trình xây dựng thị trường bị chậm lại rõ rệt vào thập niên 70 và trong những năm đầu thập niên 80
Trước vị thế kinh tế suy yếu trên thế giới, các nước Tây Âu phải đặt vấn đề xem xét lại hoạt động của mình nhằm tìm cách khai thông tình trạng trì trệ và đem lại cho tiến trình nhất thể hóa kinh tế một đà phát triển mới Dựa trên những nguyên
tắc đề ra trong cuốn “sách trắng” của Côccơphin, tháng 12/1985, “định ước châu
Âu duy nhất” được hoàn tất và thông qua tại Luxembourg, mục đích của định ước là
tạo động lực mới cho sự thống nhất châu Âu Định ước quy định chậm nhất là đến
Trang 16năm 1992 là phải thông qua những quy định cần thiết trong các lĩnh vực có liên quan đến thuế quan, tự do lưu chuyển đối với người lao động, dịch vụ, vốn, vận tải, hàng không và đường biển, thống nhất luật pháp và quy định hoàn chỉnh để tạo nên nền tảng vững vàng cho việc phát triển kinh tế, xã hội và giải quyết các vấn đề khác
Như vậy với sự mở rộng về số lượng là sự lớn mạnh về chất của EC Mục tiêu xây dựng thị trường chung đã đạt được bước tiến ban đầu, nó tạo tiền đề cho bước phát triển tiếp theo
Cùng với việc đẩy mạnh liên kết về kinh tế, EC đang đẩy mạnh liên kết về chính trị Tuy nhiên, ở giai đoạn này kết quả trong liên kết chính trị còn khá khiêm tốn do mục tiêu liên kết chính trị vẫn được đặt lên hàng đầu Vì vậy, những thành quả trong liên kết chính trị ở giai đoạn này chỉ mang tính chất chuẩn bị cho giai đoạn sau Chủ yếu thông qua các kế hoạch như: Báo cáo Davignon (1970), báo cáo Coopenhagen (1973), báo cáo Tindeman (1975) và đỉnh cao là Định ước châu Âu duy nhất (1985) với các thỏa thuận cải thiện hợp tác trong lĩnh vực đối ngoại, an ninh, các quy chế pháp lý trong lĩnh vực chính trị
Ngoài việc đẩy mạnh liên kết về kinh tế, chính trị, EC còn quan tâm đến lĩnh vực xã hội Cộng đồng không ngừng tăng cường vai trò trong điều hòa các chính sách của các quốc gia nhằm từng bước tiến tới xây dựng một chính sách xã hội chung Đến tháng 7/1974, Hội đồng châu Âu đã thông qua chương trình hành động
xã hội Mục tiêu chính của chương trình “cố gắng tạo ra đầy đủ việc làm tốt nhất
cho người lao động, cải thiện điều kiện sống và việc làm Tăng cường sự tham gia của các lực lượng xã hội vào quyết định về chính sách kinh tế, xã hội cũng như sự tham gia của người lao động vào hành động của doanh nghiệp” [25;160] Chương
trình hành động xã hội tiếp tục được cải cách vào tháng 6/1984, có ý nghĩa thiết thực trong việc giải quyết vấn đề việc làm của các quốc gia trong cộng đồng Đến tháng 12/1989, Hiến chương xã hội ra đời, đây là sự cố gắng của cộng đồng nhằm
bổ sung nội dung xã hội cho một tiến trình liên kết
Tóm lại, trong giai đoạn 1965 – 1991, EC đã đạt được nhiều thành tựu đáng
kể Đó là sự thiết lập cơ cấu tổ chức, là sự mở rộng số lượng thành viên, trong đó đáng nói nhất là thành tựu về liên kết kinh tế, cộng đồng đã tạo ra cơ sở ban đầu cho việc thiết lập thi trường chung Ngoài ra, cộng đồng đã có những bước tiến ban đầu
Trang 17trong liên kết chính trị Những thành tựu đó đã tạo cơ sở vững chắc cho sự phát
triển của tổ chức trong giai đoạn sau
1.3.3 Giai đoạn 1991 – 2011
Chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự hai cực sụp đổ đã mở ra một thời kỳ phát triển mới cho thế giới nói chung và EU nói riêng Hơn nữa, với những kết quả đạt được ở giai đoạn trước đến giai đoạn này EU không ngừng nổ lực liên kết kinh tế, chính trị, xã hội và đã đạt được những kết quả quan trọng
Sự lớn mạnh của EU bắt đầu từ sự kiện Hiệp ước Maastricht năm 1991,
thành lập Liên minh châu Âu với mục tiêu tạo ra một “không gian châu Âu” thống
nhất về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng và các chính sách về xã hội Hiệp ước ra đời đã đánh dấu bước phát triển mới của EU
Thành tựu đầu tiên phải kể đến đó là sự hoàn thiện về cơ cấu tổ chức của EU Ngoài 5 cơ quan chính trước đây, EU còn thiết lập thêm các cơ quan mới là: Ủy ban kinh tế - xã hội, Ủy ban các vùng, Ngân hàng trung ương châu Âu, Ngân hàng đầu
tư châu Âu, Thanh tra châu Âu
Như vậy, đến giai đoạn này hệ thống thể chế đã được thiết lập khá chặt chẽ, hoàn thiện thiết chế siêu quốc gia Chính những thành công này là điểm khởi đầu cho sự lớn mạnh của tổ chức
Cùng với sự hoàn thiện về cơ cấu tổ chức là sự lớn mạnh về số lượng thành viên Lúc này EU gồm 12 nước thành viên thì đến năm 1995, với kế hoạch mở rộng lần thứ tư đã nâng tổng số thành viên EU lên 15 nước với sự gia nhập của Áo, Phần Lan, Thụy Điển Với 15 nước thành viên EU có một thị trường rộng lớn hơn, khả năng cạnh tranh cao hơn và khả năng sử dụng những tiềm năng tự nhiên, con người
và tài chính ở bên trong sẽ dồi dào hơn Đồng thời an ninh và khả năng bảo vệ trước tình hình mất ổn định ở Đông Âu và Liên Xô cũ sẽ hữu hiệu hơn
Vào ngày 1/5/2004, EU mở rộng lần thứ năm kết nạp thêm 10 nước thành viên ở Đông Âu nâng tổng số thành viên lên 25 nước Các nước thành viên mới là: Cyprus, Cộng hòa Séc, Estonia, Hungari, Latvia, Lithuania, Malta, Balan, Slovakia, Slovenia Việc thống nhất 25 nước thành viên thành một khối được xem là một sự
kiện lịch sử trong đời sống châu Âu, là “dấu mốc xóa đi di chứng của chiến tranh”,
đưa 10 nước Trung và Đông Âu hội nhập chung vào hệ thống châu Âu vốn đã bị chia cắt hàng trăm năm qua Năm 2007, đánh dấu sự mở rộng của EU lần thứ sáu
Trang 18khi kết nạp thêm hai nước thành viên mới là Romania và Bungari, nâng tổng số nước thành viên EU lên 27 nước
Với 27 nước thành viên đã nâng cao vai trò của EU trên trường thế giới, biến
EU trở thành một khối liên kết có tiềm lực kinh tế hùng mạnh với dân số khoảng 501,2 triệu người (2010), diện tích EU mở rộng thêm 34% và dân số đông hơn 28%, GDP ước tính khoảng 16,7 nghìn tỷ Euro (2009) và khiến thị trường EU mở rộng nhất thế giới với diện tích và dân số lớn nhất trong số các tổ chức khu vực trên thế giới Có khả năng cạnh tranh mạnh mẽ với các khối và các nước lớn như Mỹ, NAFTA, Đông Á đồng thời cũng cố vị thế của EU trong WTO, IMF, OECD
Như vậy, sau 60 năm hình thành và phát triển, từ một cộng đồng chỉ với 6 nước thành viên đến nay EU đã có 27 nước thành viên Sự lớn mạnh về số lượng thành viên của tổ chức đã góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu nhất thể hóa châu
Âu cũng như khẳng định vị trí vai trò của tổ chức trên trường quốc tế
Cùng với việc mở rộng số lượng thành viên, EU đã đẩy mạnh liên kết toàn diện trên các mặt kinh tế, chính trị, xã hội
Giai đoạn này, liên kết kinh tế được đẩy mạnh nhằm tạo ra một thể chế kinh
tế hùng mạnh Với sự nỗ lực của toàn liên minh ngày 1/1/1993, thị trường chung châu Âu chính thức được hình thành với việc xóa bỏ biên giới lãnh thổ quốc gia và biên giới hải quan giữa các nước thành viên để cho hàng hóa, con người, dịch vụ và
tư bản được tự do lưu thông Các nước thành viên áp dụng một chính sách thương mại và tuân theo một quy tắc Thị trường chung hình thành đánh dấu một bước tiến quan trọng trên con đường nhất thể hóa châu Âu Đến đây, mục tiêu hàng đầu của liên kết kinh tế châu Âu được hình thành, tạo động lực vô cùng quan trọng cho sự phát triển kinh tế của EU
Không dừng lại ở thị trường chung, EU còn tiến tới một liên minh kinh tế và tiền tệ Liên minh kinh tế và tiền tệ được ghi nhận chính thức từ sau Hiệp ước Maastricht Đánh dấu bước phát triển mới của liên kết châu Âu, tiếp theo một liên minh thuế quan, một thị trường chung là một liên minh kinh tế - tiền tệ
Đồng Euro ra đời được đánh giá là “một đồng tiền mạnh của thế giới với đầy
đủ các chức năng của một đồng tiền quốc tế” [39;179] Tính đến nay đã có hầu hết
các quốc gia thành viên EU đều sử dụng đông tiền chung (trừ Anh) Việc đưa vào
sử dụng đồng tiền chung đã đánh dấu một bước tiến mới trong quá trình liên kết châu Âu nói chung và liên kết kinh tế nói riêng
Trang 19Như vậy, với việc hoàn thành thị trường chung và tiến dần tới một liên minh kinh tế - tiền tệ của EU là một bước tiến quan trọng trong việc thống nhất kinh tế toàn châu lục Những kết quả trong việc liên kết kinh tế của EU đã giúp tổ chức khẳng định là trung tâm kinh tế hàng đầu của thế giới cùng với Mỹ, Nhật Bản GDP năm 2004 của EU là 9.500 tỷ USD (chiếm 31% GDP của toàn thế giới), EU còn khẳng định là siêu cường thương mại chiếm 37,7% tỷ trọng xuất khẩu của thế giới năm 2004 EU trở thành đối tác thương mại lớn của các nước đang phát triển ở châu
Á, châu Phi, Caribê…trong đó có ASEAN Đến năm 2006 mức tăng trưởng kinh tế của EU đạt mức khá cao là 3,1% Và đến năm 2007 tốc độ tăng trưởng GDP chỉ đạt 2,9%
Khi cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế thế giới nỗ ra đã tác động mạnh mẽ đến tình hình kinh tế xã hội của các nước trong EU Thực trạng kinh tế chung hiện nay của các nước EU là sản xuất công nghiệp suy giảm mạnh, tình trạng suy thoái lan rộng với tốc độ nhanh kèm theo tình trạng thất nghiệp gia tăng Thêm vào đó là bắt đầu từ nữa cuối năm 2009, khủng hoảng nợ công đã xuất hiện làm cho nợ công
và thâm hụt ngân sách gia tăng ở các nước EU
Khủng hoảng nợ công đã gây biến động mạnh mẽ cho các thị trường tài chính toàn cầu, làm mất lòng tin của giới đầu tư, đồng Euro chịu tác động nặng nề
sụt giảm mạnh so với đồng USD “Chỉ trong nửa đầu tháng 5/2010 đồng tiền này
đã giảm hơn 7% so với đồng USD và gần 14% trong 6 tháng đầu năm 2010, khiến Euro trở thành đồng tiền lớn giảm giá nhiều nhất” [14;14]
Đến năm 2011 nền kinh tế của EU cũng không mấy lạc quan EU vẫn phải đối mặt với cuộc khủng hoảng nợ công và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng Ủy viên kinh tế
và tiền tệ của EU, Olli Rehn, cảnh báo châu Âu đối mặt với đợt suy thoái mới vào
năm tới do “vòng luẩn quẩn” của nợ công, các ngân hàng dễ bị tổn thương và chi
Trang 20hiệp ước: Hiệp ước Maastricht, Hiệp ước Amsterdam, Hiệp ước Nice đến Hiệp ước Lisbon thể chế chính trị của EU ngày càng được hoàn thiện
Có thể thấy rằng sau 10 năm liền nỗ lực cải cách (kể từ năm 2000) Hiệp ước Lisbon cuối cùng đã chính thức có hiệu lực thể hiện sự nhất thể hóa EU trên các khía cạnh: cải cách thể chế và hoạch định chính sách, tăng cường dân chủ và minh bạch hóa trong hoạch định chính sách, thống nhất chính sách an ninh và đối ngoại chung của toàn EU, thay đổi trong hoạch định chính sách thương mại của toàn EU đối với các nước ngoại khối, quyền hạn chung của khối được tăng cường rõ rệt
Như vậy Hiệp ước Lisbon và tiến trình nhất thể hóa châu Âu đã giúp EU tăng cường sức cạnh tranh với các nước và khu vực lớn khác trên thế giới như: Mỹ, Đông Á, NAFTA…Việc tạo ra một EU thống nhất, hiện đại, dân chủ và hiệu quả hơn là một thành tựu đáng tự hào của EU trong suốt 10 năm đầu của thế kỷ XXI
Việc thực hiện chính sách đối ngoại và an ninh EU cũng đã thu được nhiều thành tựu to lớn điển hình là việc giải quyết xung đột ở Bôxnia – Hecxegôvina Quan trọng hơn EU đã có sự thống nhất lập trường quan điểm trong việc giải quyết vấn đề quốc tế như: vấn đề Trung Đông, Triều Tiên hay khủng bố…Vì vậy ngày nay EU được xem là một thực thể chính trị có vai trò quan trọng trên trường quốc
tế EU tham gia vào nhiều tổ chức quốc tế khác, từ những tổ chức mang tính châu lục đến những tổ chức mang tính toàn cầu EU được xem là biểu tượng và là lực lượng quan trọng trong việc đảm bảo hòa bình ở Trung Đông và vấn đề Triều Tiên
Cùng với liên kết kinh tế, chính trị thì lĩnh vực văn hóa – xã hội cũng được
EU chú trọng Liên kết xã hội từ năm 1992 đến nay tiếp tục được đẩy mạnh thông qua việc hoàn thiện và thực hiện hiến chương xã hội Về cơ bản, ngày nay các nước thành viên trong EU thực hiện một chính sách xã hội thống nhất trong các vấn đề việc làm, giáo dục, y tế, trao đổi văn hóa Song liên kết xã hội còn mang tính chất
bổ trợ cho liên kết kinh tế Những thành tựu của liên kết xã hội còn khá khiêm tốn, chính sách xã hội chủ yếu vẫn nằm dưới quyền kiểm soát của các quốc gia thành viên
Những hành động thiết thực của EU trong lĩnh vực này bao gồm chương
trình “văn hóa 2000” kéo dài trong 7 năm, các sự kiện trong “tháng văn hóa châu
Âu” hay chương trình hòa nhạc “Media Plus” và đặc biệt là chương trình “thủ đô văn hóa châu Âu” diễn ra đều đặn hàng năm nhằm mục đích tôn vinh một thủ đô đã
được lựa chọn trong số các quốc gia thành viên EU
Trang 21Thể thao cũng rất được chú ý ở EU Chính sách của EU về tự do di chuyển
và lao động đã tác động không nhỏ đến nền thể thao của các quốc gia thành viên điển hình như luật Bosman, đạo luật ngăn cấm việc áp dụng hạn ngạch đối với các cầu thủ mang quốc tịch EU thi đấu trong các giải bóng đá của các quốc gia thành viên
Mặt khác, trong năm 2005 EU đã thành công trong việc xây dựng định vị vệ tinh toàn cầu của châu Âu, hay còn đươc gọi là chương trình Galileo Đây được xem là chương trình sẽ mang lại nhiều lợi ích cho lĩnh vực dân sự, đặc biệt là cho lĩnh vực giao thông Nằm trong chương trình văn hóa 2000, 217 dự án nghiên cứu
và phát triển các hoạt động văn hóa đã đươc thông qua trong năm 2005 Chương trình này được hi vọng là sẽ tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa những người dân châu Âu, đồng thời nó cũng giúp bảo tồn các giá trị văn hóa của châu Âu
Tóm lại, quá trình phát triển của EU chủ yếu thể hiện thông qua việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức, sự mở rộng tổ chức và tiến trình liên kết trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Tất cả những điều này nhằm góp phần khẳng định
vị thế của tổ chức trên trường quốc tế Thật vậy EU trở thành trung tâm kinh tế hàng
đầu thế giới, một siêu cường thương mại và “một yếu tố gây ảnh hưởng chính trị,
quốc tế”
Trang 22CHƯƠNG 2 NHỮNG KHÓ KHĂN CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU
(1991 – 2011)
2.1 Tình hình thế giới và châu Âu đầu thập niên 90
Bước vào đầu thập niên 90, tình hình thế giới biến đổi một cách cơ bản, hết sức nhanh chóng, làm thay đổi những điều kiện mà trong đó tiến trình nhất thể hóa Tây Âu đã phát sinh và phát triển
Trước hết, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã chấm dứt tình trạng chiến tranh lạnh và cục diện thế giới hai cực Tây Âu thoát khỏi
“nỗi ám ảnh” Liên Xô, đồng thời cũng có cơ hội thoát khỏi sự khống chế của Mỹ,
vươn lên giành ảnh hưởng và quyền chủ đạo các công việc ở châu Âu Tuy nhiên,
nếu như việc mất đi “kẻ thù chung” là Liên Xô có thể làm lỏng đi cái đai thắt chặt
quan hệ Tây Âu – Mỹ thì nó cũng có thể tác động tương tự đối với chính các nước Tây Âu Một thực tế diễn ra đó là sự phá vỡ cân bằng Pháp – Đức trong cộng đồng châu Âu sau khi nước Đức thống nhất đang đặt ra nhiều câu hỏi xét lại vai trò của hai nước chủ chốt, một điều có thể là nguồn gốc của những mâu thuẫn, xung đột mới trong cộng đồng
Cục diện hai cực đã chấm dứt, nhưng trật tự mới chỉ đang hình thành, các thế lực đều đang dốc sức chuẩn bị lực lượng để chiếm vị trí tối ưu cho mình trong tương lai Mặc dù Tây Âu nói chung và cộng đồng châu Âu nói riêng đã đạt được những thành tựu to lớn nâng cao vị thế đáng kể của mình so với thời kỳ sau chiến tranh thế giới thức hai, song hầu hết quá trình xây dựng cộng đồng, về kinh tế, chính trị lẫn quân sự đều đang dở dang và về nhiều mặt Tây Âu vẫn còn thua kém
Mỹ, Nhật Do vậy, trong cuộc cạnh tranh quyết liệt trước mắt, các nước Tây Âu vẫn
sẽ phải thống nhất lại, đẩy nhanh công cuộc xây dựng cộng đồng, tạo ra sức mạnh tập thể để đối phó với hai đối thủ lớn của mình
Mặt khác, chiến tranh lạnh kết thúc đã tạo điều kiện cho các nước trung lập đứng ngoài trật tự lưỡng cực như Áo, Phần Lan, Thụy Điển gia nhập EU Năm 1995
số thành viên cũ của EU tăng từ 12 nước lên 15 nước với sự tham gia của 3 nước này Gần 10 năm sau, EU mở rộng từ 15 thành viên lên 25 thành viên với sự tham gia của 8 nước thuộc vùng Trung Đông Âu và vùng Baltic cùng với hai nước Malta
và cộng hòa Sip vào ngày 01/5/2004 Ngày 01/7/2007, Romania và Bungary chính
Trang 23thức gia nhập EU, nâng tổng số thành viên của tổ chức này lên 27 nước Tương lai
EU vẫn tiếp tục mở rộng sang phía đông
Xu hướng hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển đây là xu hướng phát triển nổi bật của thế giới kể từ khi chiến tranh lạnh kết thúc đến nay Các quốc gia ngày
càng nhận thức được rằng “hòa bình, ổn định, hợp tác, đối thoại là con đường tốt
nhất để giải quyết các xung đột và bất đồng giữa các quốc gia” [41;14] Chính
những xu hướng này đã tạo cơ hội cho các nước EU có điều kiện hợp tác để phát triển
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ và nền kinh tế tri thức đã và đang phát triển ngày càng sâu rộng Những thành tựu phát triển công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới là tiền đề cho các nước công nghiệp chuyển
từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức Với những thành tựu này đã thúc đẩy nền kinh tế thế giới phát triển, đòi hỏi EU không ngừng nỗ lực phấn đấu để tránh nguy cơ tụt hâu
Đồng thời quá trình toàn cầu hóa góp phần thúc đẩy quá trình khu vực hóa hình thành dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, của xu thế hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển cũng như của quá trình tự do hóa kinh tế đang diễn ra ở hầu hết các quốc gia Với quá trình toàn cầu hóa đã đưa các nước thành viên EU cũng như toàn khối EU đứng trước những cơ hội và thách thức to lớn của toàn cầu hóa Toàn cầu hóa kinh tế cũng như các vấn đề toàn cầu đang tăng lên khi bước vào thế kỷ XXI, đang đòi hỏi có những giải pháp toàn cầu Chính những điều
đó đã thúc đẩy các nước không ngừng cố gắng để vươn lên hòa nhập với làn sóng toàn cầu
Bối cảnh quốc tế và châu Âu đã tác động lớn đến quá trình phát triển của EU Chính vì vậy, EU có những nỗ lực giải quyết những khó khăn, thách thức để tiếp tục vươn lên giành vị trí trung tâm của thế giới
2.2 Khó khăn về kinh tế của Liên minh châu Âu
2.2.1 Sự cạnh tranh kinh tế của các nước ngoại khối
Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế ngày càng gia tăng, EU một mặt tiếp tục hưởng lợi từ lợi thế của một nền kinh tế mở nhất thế giới Nhưng mặt khác cũng phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gia tăng giữa các nước phát triển và các nước mới nổi
Trang 24Ngoài Mỹ và Nhật Bản đang có những điều chỉnh nhằm cải thiện khả năng cạnh tranh, những nước như Trung Quốc, Ấn Độ đang đầu tư rất mạnh vào nghiên cứu khoa học và công nghệ để hiện đại hóa nền công nghiệp của mình, từ đó chiếm
vị trí cao trong chuỗi sản xuất, tạo những bước nhảy vọt trong nền kinh tế toàn cầu
Một trong những nước cạnh tranh với EU đó là Mỹ Mỹ là một đối tác lớn của EU nhưng cũng là đối thủ cạnh tranh lớn của EU
Về hàng rào thuế quan trong những năm qua, cho dù có thỏa thuận loại bỏ và giảm thuế quan theo vòng đàm phán Uruguay, nhưng phía Mỹ vẫn duy trì mức thuế quan rất cao ở một số lĩnh vực như thực phẩm, hàng may mặc, đồ thuộc da, đồ trang sức và đồ giả trang sức, đồ gốm, kính, ôtô vận tải và xe điện Với những mức thuế
đó Mỹ đã gây trở ngại cho EU trong việc xuất khẩu các mặt hàng vào Mỹ
Về hàng rào phi thuế quan Mỹ đã sử dụng đạo luật chống phá giá, hạn chế xuất khẩu…những điều này làm phương hại đến quan hệ buôn bán giữa hai bên
Ngoài ra Mỹ áp dụng chính sách “phân biệt thuế” trong đầu tư nước ngoài
Sự phân biệt ở đây thể hiện rất rõ nét giữa các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu
tư nước ngoài Theo luật thuế Mỹ, các chi nhánh nước ngoài hay bất kỳ sự hợp tác bên ngoài có ít nhất 25% cổ phần sẽ chịu sự phân biệt này
Mặt khác trong hoạt động xuất nhập khẩu của EU trong những năm qua là sự bùng nổ hàng dệt may nhập khẩu từ Trung Quốc do chế độ hạn ngạch được dở bỏ trong khuôn khổ những thỏa thuận của tổ chức thương mại thế giới Các mặt hàng dệt may đã đạt một tốc độ tăng chóng mặt ngay khi chế độ hạn ngạch được dở bỏ, như mặt hàng áo len trong tháng 1/2005 đã tăng tới 534% so với tháng 1/2004 Điều này đã khiến các nhà sản xuất hàng dệt may của châu Âu hết sức lo ngại và đã dẫn tới việc châu Âu đơn phương ra các quyết định hạn chế nhập khẩu
Như vậy, với sự cạnh tranh của các nước ngoại khối ít nhiều đã cản trở bước phát triển của EU Điều đó đòi hỏi lãnh đạo EU cần có những biện pháp tăng cường hơn nữa trong việc phát triển kinh tế của mình
2.2.2 Trình độ phát triển không đều giữa các nước thành viên
EU là một tổ chức liên kết khu vực gồm 27 nước thành viên, nên mỗi nước
có một trình độ phát triển kinh tế khác nhau Đa số các nước Trung và Đông Âu là những nước nghèo hơn nhiều so với các nước trong EU Thu nhập quốc dân tính theo đầu người thấp hơn các nước EU cũ khoảng 75% Khoảng cách chênh lệnh lớn
về trình độ phát triển giữa các nước thành viên cũ và thành viên mới Do các nước
Trang 25Trung và Đông Âu có xuất phát điểm kinh tế thấp, thu nhập đầu người chỉ bằng 40% so với mức thu nhập bình quân trung bình của EU 15 Trong khi đó Đức là một nước có nền kinh tế đứng thứ 3 trên thế giới Pháp, Italia là những nước có nền kinh tế đầu tàu của khu vực EU Từ nền kinh tế phát triển dẫn đến mức sống khác nhau giữa các nước thành viên
Thị trường tiêu thụ của EU được chia làm 3 nhóm người tiêu dùng khác
nhau: “Nhóm có khả năng thanh toán ở mức cao chiếm 20% dân số của EU, dùng
hàng có chất lượng tốt nhất và giá cả cũng đắt nhất hoặc những mặt hàng hiếm và độc đáo Nhóm có khả năng thanh toán ở mức trung bình chiếm 68% dân số EU, sử dụng chủng hàng có chất lượng kém hơn so với nhóm 1 và giá cả cũng rẻ hơn Nhóm có khả năng thanh toán ở mức thấp chiếm hơn 10% dân số, tiêu dùng những loại hàng có chất lượng và giá cả đều thấp hơn so với nhóm 2” [1;48]
Qua đó ta thấy các nước thành viên EU có sự chênh lệnh về trình độ phát triển kinh tế Điều đó làm cho kinh tế EU phát triển không đồng đều
Khi cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế toàn cầu nổ ra đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế của EU Trong khi tình hình của các nước Tây Âu đã sáng sủa hơn thì các nước thành viên mới Đông Âu, đặc biệt là Hungary và các nước vùng Bantic đang gặp khó khăn nặng nề
Tốc độ tăng trưởng kinh tế có sự khác nhau giữa các nước thành viên: Đức
và một số thành viên nhỏ hơn có mức tăng trưởng tốt hơn, trong khi một số thành
viên khác bị tụt hậu “Năm 2010 tốc độ tăng GDP của Đức là 3,6% gấp đôi so với
mức trung bình của khu vực đồng tiền chung châu Âu, Xlô-va-ki-a là 4,1%, Thụy Điển đạt mức cao nhất là 4,8%, Pháp và Anh ở mức trung bình khoảng 1,8% Nhóm nước có tốc độ tăng GDP thấp nhất là Hy Lạp -4,2%, Ailen -0,2%, Tây Ban Nha - 0,2%, Bồ Đào Nha 1,3%, Italia là 1,3% ” [15;97]
Tóm lại, kinh tế của EU có sự phát triển không đồng đều giữa các nước thành viên Khoảng cách giàu nghèo trong EU cũng ngày càng tăng Đòi hỏi lãnh đạo EU cần có những điều chỉnh để thúc đẩy các nước thành viên phát triển, rút ngắn khoảng cách về mức sống giữa các nước thành viên, thúc đẩy kinh tế EU phát triển
2.2.3 Tỷ lệ thất nghiệp tăng
Vấn đề thất nghiệp ở EU là một vấn đề hết sức quan trọng, nó ảnh hưởng đến
sự phát triển kinh tế của EU Hiện nay tỷ lệ thất nghiệp đang có xu hướng gia tăng,
Trang 26nó gây nên sức ép không nhỏ đối với hệ thống phúc lợi xã hội vốn đã trì trệ và đang
có nhu cầu cải cách triệt để ở châu Âu Từ đó cũng dẫn tới những hậu quả kinh tế xã hội như phân biệt giàu nghèo, cô lập xã hội, sức ỳ của nền kinh tế ngày càng lớn, tăng trưởng kinh tế thấp, tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng…
Tỷ lệ thất nghiệp ngày càng gia tăng: “Năm 1990, thất nghiệp đạt 7,1%, năm
1997 đạt 9,6%, năm 2001 đạt 7,4%, năm 2002 là 7,7%, năm 2003 là 8,1% Riêng trong khu vực đồng Euro thất nghiệp tăng từ 8% năm 2001, lên 8,4% năm 2002, 9,1% năm 2003 và hơn 9% trong cả năm 2004 Theo Ủy ban thống kê của cộng đồng châu Âu tháng 12/2004, tỷ lệ thất nghiệp toàn EU 15 là 8%, trong đó nước có
tỷ lệ thất nghiệp cao nhất là Tây Ban Nha 10,4%, Đức là 9,5%, Phần Lan là 8,9%,
Bỉ là 8% Trong tháng 10/2005, sự cải thiện tình hình kinh tế không đáng kể đã d ẫn đến thất nghiệp tăng cao ở mức 10,7% và có khoảng 18 triệu người đang bị thất nghiệp Những nước có tỷ lệ thất nghiệp cao là Bỉ 9,4%, Ailen là 9,9%, Tây Ban Nha là 20,8%, Phần Lan là 13%, Pháp là 12,6%, Đức là 10% ” [47;3]
Thất nghiệp của EU không chỉ nghiêm trọng về tốc độ gia tăng tỷ lệ và số lượng người thất nghiệp, mà còn là một vấn đề rất phức tạp bởi nó bao gồm thất nghiệp gia tăng hỗn hợp theo cả độ tuổi, giới tính, sắc tộc Xã hội châu Âu hiện
đang “già hóa dân số” Hiện nay, EU có khoảng 35% lượng lao động đã đến tuổi
về hưu Tuy nhiên, do tỷ lệ sinh quá thấp chỉ là 1,5%, EU không đủ khả năng thay thế lực lượng lao động già nua của mình bằng đội ngũ lao động trẻ
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới không những làm suy giảm kinh tế, xuất khẩu và sản xuất sụt giảm mà còn làm cho tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, gây tác động
tiêu cực tới đời sống xã hội “Trong khu vực đồng Euro, số người có việc làm trong
quý I/2009, giảm đi 0,8% so với cuối năm 2008, tính cho cả EU 27, con số cũng tương tự là 0,8% hay 1.916 ngàn người Tính đến tháng 5/2009, số lượng thất nghiệp của EU 27 là 21,462 triệu người, tương đương với tỷ lệ 9,5% và so với tháng 4/2009 lượng người thất nghiệp ở EU tăng 385.000 người, đối với khu vực Euro mức thất nghiệp tương ứng là 15,013 triệu người tính đến tháng 5/2009 và mức thất nghiệp ở khu vực này tháng 5 so với tháng 4/2009, là 273.000 người Nếu
so với mức người thất nghiệp với cùng kỳ năm ngoái (5/2008) là tăng 5,111 triệu người ở EU 27 và 3,4 triệu người khu vực đồng Euro” [51;9]
Tỷ lệ lao động của EU ở mức 69% đối với lứa tuổi từ 20 – 64 là quá thấp so với các khu vực khác trên thế giới Chỉ có 63% phụ nữ châu Âu đi làm so với 76%
Trang 27nam giới Mặt khác sự già hóa dân số đang gia tăng, khi mà thế hệ bùng nổ dân số nghỉ hưu, số dân trong độ tuổi năng động bắt đầu co lại vào năm 2013 và năm 2014
Số người già hơn 60 tuổi hiện nay đang tăng nhanh gấp đôi so với trước năm 2007 khoảng 2 triệu người mỗi năm so với 1 triệu trước đây Sự kết hợp của cả hai xu thế khiến số người làm việc ngày càng giảm đi, số người về hưu ngày càng tăng lên tạo
áp lực nặng nề lên nhà nước phúc lợi, chính sách an sinh xã hội của EU
Bước sang năm 2010, mặc dù đã qua giai đoạn đáy của khủng hoảng, bắt đầu bước vào giai đoạn phục hồi, đến tháng 5/2010, tỷ lệ thất nghiệp tại EU 27 vẫn ở mức cao nhất trong thập kỷ là 9,6%, còn trong khu vực đồng Euro là 10% Rõ ràng những gì đang diễn ra kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế thế giới đã làm cho tỷ lệ thiếu việc làm và thất nghiệp tăng nhanh
Thất nghiệp trở thành gắng nặng của xã hội, buộc chính phủ các nước phải chi tiền để nuôi số người thất nghiệp ngày càng tăng Điều này khiến các nước luôn trong tình trang thâm hụt ngân sách do những chi tiêu xã hội, nền kinh tế thiếu các động lực đầu tư từ nhà nước lại phải oằn mình gánh những khoản chi tiêu tăng trưởng Điều này, làm cho lòng tin về những giá trị mà EU xây dựng như đồng tiền Euro, chính sách đối ngoại chung, hiến pháp chung…tiếp tục bị đặt những dấu hỏi
về tính khả thi của chúng, ảnh hưởng tới sự lớn mạnh của khối
Do đó lãnh đạo EU cần đưa ra những giải pháp khắc phục khó khăn trên để thúc đẩy kinh tế EU phát triển, tạo việc làm cho người dân châu Âu
2.2.4 Khó khăn trong vấn đề thống nhất thị trường và tiền tệ
Với 27 nước thành viên quyền lợi của mỗi nước khác nhau, trình độ phát triển kinh tế, văn hóa khác nhau dó đó EU rất khó khăn trong việc thống nhất thị trường và tiền tệ
Hiện EU gặp trở ngại trong thực hiện lưu chuyển dòng vốn giữa các nước thành viên Những chính sách thương mại nội khối của EU như loại bỏ các rào cản, công nhận lẫn nhau, cải cách hệ thống thuế từng bước đã làm gia tăng lượng đầu tư giữa các nước thành viên, đặc biệt là những nước thành viên mới Vấn đề tự do lưu chuyển vốn giữa các nước thành viên vẫn còn một số trở ngại như môi trường đầu
tư, chênh lệch các quy định về đầu tư giữa các quốc gia…
Việc kết nạp các thành viên mới sẽ gây khó khăn trong thực hiện các cam kết
về thị trường nội địa Giữa các nước thành viên mới gia nhập EU và các thành viên
cũ hiện đang có nhiều khác biệt về mức sống, trình độ phát triển Nhìn chung mức
Trang 28sống của người dân tại các thành viên cũ khá cao, trong khi mức sống của người dân tại các thành viên mới vẫn còn thấp GDP bình quân đầu người chỉ bằng khoảng 40% mức trung bình GDP của EU 15 Ngoài ra trình độ phát triển kinh tế của các nước mới này chưa tương xứng với mặt bằng chung của EU hiện nay
EU một tổ chức gồm 27 nước thành viên với 27 mô hình quản lý khác nhau khiến cách thức quản lý và việc áp dụng các quy định liên quan đến chính sách thị trường cũng trở nên đa dạng và gặp nhiều khó khăn Đặc biệt những khó khăn trong
việc chuyển tải ngôn ngữ, vấn đề “nội luật hóa” các chỉ thị của EU thành luật pháp
của các nước thành viên…
Hiện nay, hiệu lực của thị trường EU tỏ ra yếu kém Tình hình thực tế cho thấy, những hoạt động kinh doanh xuyên biên giới đang gặp những trở ngại lớn, mạng lưới gắn kết thị trường các nước thành viên dường như không hiệu quả Người dân và doanh nghiệp ở mỗi nước thành viên vẫn phải đối mặt với 27 hệ thống luật khác biệt cho cùng một giao dịch Khủng hoảng tài chính kinh tế toàn cầu càng làm cho chủ nghĩa bảo hộ của các nước thành viên gia tăng
Các quốc gia tham gia vào quá trình thống nhất kinh tế - tiền tệ châu Âu đều mang theo những mục đích khác nhau, chủ yếu nhằm phục vụ cho lợi ích quốc gia
mình “Pháp thì mong tiêu thụ được hàng nông sản của nước mình sang các nước
khác trong khối Đức mưu toan lợi dụng ưu thế về hàng công nghiệp của mình để cùng Pháp tranh giành và chia sẽ quyền lãnh đạo Tây Âu Italia thì lợi dụng quá trình thống nhất để giải quyết nạn thất nghiệp Vì vậy, có thể nói rằng quá trình thống nhất kinh tế - tiền tệ là một tập hợp đầy mâu thuẫn của những lợi ích ích kỷ của các quốc gia thành viên trong EEC” [38;99] Quá trình này, ngay từ đầu đã là
một tập hợp những nước có trình độ phát triển kinh tế khác nhau, đồng thời nó tăng cường xu hướng phát triển không đều giữa các nước
Theo Hiệp ước thống nhất tiền tệ, các nước tham gia phải có trình độ kinh tế tương đương trước khi đi đến thống nhất tiền tệ Song các nước thành viên vẫn ở những cung bậc phát triển khác nhau Đây chính là trở ngại lớn nhất cho thống nhất tiền tệ châu Âu
Việc dùng đồng tiền chung theo Hiệp ước liên minh kinh tế - tiền tệ gây những bất đồng gay gắt ngày một tăng giữa các nước thành viên EU Trong khi ở Italia 69% số dân sẵn sàng từ bỏ đồng tiền của nước mình, ở Pháp, Bỉ và những nước nghèo như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hy Lạp ủng hộ việc thiết lập đồng tiền
Trang 29chung, thì vẫn có một số nước chống lại việc này Tại cuộc họp cấp cao các nước thành viên EU, Anh đã phản đối hiệp ước thống nhất tiền tệ vì Anh không muốn từ
bỏ đồng tiền riêng của mình với lý do đồng bảng Anh được coi là biểu tượng của dân tộc Anh Tại Đan Mạch, trong cuộc trưng cầu dân ý lần thứ nhất tháng 4/1992,
đã có 49,3% số cử tri đã bác bỏ Hiệp ước Maastricht về liên minh tiền tệ châu Âu
Mặt khác chi phí chuyển đổi cho đồng tiền mới là rất lớn Từ năm 1999 đến năm 2002 các tổ chức, cơ quan của các chính phủ các nước đã phải chi tiêu rất tốn kém để điều chỉnh nhằm thích ứng với một đồng tiền mới Ngoài ra, chính phủ các nước trong khu vực đồng Euro đã phải tiêu tốn rất nhiều tiền vào các chương trình quảng cáo đồng tiền mới Điều này trở nên khó khăn hơn khi một bộ phận không nhỏ dân cư châu Âu không tán thành sử dụng đồng Euro
Việc áp dụng đồng tiền mới cũng gây nên tình trạng mất việc làm của người
dân châu Âu Các chuyên gia phân tích tiền tệ cho biết “đội ngũ đông đảo những
người buôn bán tiền tệ ở Franfurt (Đức) và Paris (Pháp) đang không biết kiếm sống bằng cách nào khi đồng Euro ra đời” [46;33] Tạo ra một đồng tiền chung cũng có
nghĩa là loại bỏ nhu cầu giao dịch giữa một số đồng tiền và không cần đến các công
cụ tự bảo hiểm Và để đáp ứng tiêu chí gia nhập EMU, các chương trình cải tổ cơ cấu hà khắc đã đẩy rất nhiều người lao động vào đội ngũ thất nghiệp Thâm hụt ngân sách của chính phủ, nợ chính phủ bị giới hạn nên các chính phủ phải thực hiện chính sách thắt lưng buộc bụng, cắt giảm chi tiêu ngân sách Hậu quả là sẽ có thêm rất nhiều người bị mất việc làm
Như vậy, để thống nhất một thị trường và tiền tệ chung EU đang gặp phải rất nhiều khó khăn Những khó khăn đó ít nhiều đã cản trở sự phát triển của EU
2.2.5 Nợ công gia tăng
Ngoài những khó khăn trên EU còn phải đối phó với cuộc khủng hoảng nợ công Cuộc khủng hoảng nợ công của Hy Lạp đã làm rung động thị trường tài chính châu Âu Khủng hoảng nợ công ảnh hưởng đến không chỉ một vài nước trong khu vực châu Âu mà liên quan đến hầu hết các nền kinh tế thế giới
Cùng với suy giảm kinh tế, thất nghiệp gia tăng, việc áp dụng các gói kích thích kinh tế như hạ lãi suất, cắt giảm thuế, bơm tiền ồ ạt cho hệ thống ngân hàng tài chính đã làm nảy sinh vấn đề thâm hụt ngân sách và nợ công gia tăng ở một loạt
các quốc gia vượt xa giới hạn cho phép của liên minh “Mức thâm hụt ngân sách
trung bình trong khu vực đồng tiền chung châu Âu vào năm 2010 là 7,25% GDP và
Trang 30nợ công khoảng 84% GDP, còn của EU 27 tương ứng là khoảng 7% và 80% Trong
số 16 nước khu vực đồng tiền chung châu Âu nhóm nước Hy Lạp, Ailen, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Italia chịu mức thâm hụt ngân sách và nợ công nặng nề hơn
cả Từ đầu quý II/2010, nợ công ở Hy Lạp đã vượt hơn gấp đôi so với mức quy định, lên tới hơn 130% GDP, thâm hụt ngân sách lên trên 13% GDP Tiếp đó Ailen chịu mức thâm hụt ngân sách lên tới 32% GDP” [15;98]
Cuộc khủng hoảng nợ ở châu Âu kéo theo một loạt hệ quả tất yếu: Tốc độ phục hồi kinh tế thế giới chậm lại, có thể theo hình chữ W thay vì chữ V, khu vực châu Âu với tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm khiến tình hình thất nghiệp và lạm phát tăng cao, đồng Euro mất giá, tăng trưởng GDP giảm sút, làm cho thu nhập thực
tế người dân và nhu cầu tiêu dùng với hàng nhập khẩu giảm mạnh Do lo ngại tác động tiêu cực từ khủng hoảng nợ công, nhiều ngân hàng trung ương các nước phát triển vẫn duy trì mức lãi suất thấp nhằm kích thích phục hồi kinh tế và chấp nhận lạm phát trong chừng mực nhất định
Vấn đề Hy Lạp, đang làm cho các nhà đầu tư trên thế giới ngày càng trở nên thận trọng hơn với quốc gia có vấn nạn tương tự Khủng hoảng nợ công ở châu Âu cũng tạo ra những biến động khó lường về tỷ giá Đồng USD và đặc biệt là đồng Yên sẽ tiếp tục tăng mạnh so với đồng Euro do tính an toàn từ phía các đồng tiền này Từ khi cuộc khủng hoảng có dấu hiệu nghiêm trọng, đồng Euro mất giá tương đối so với đồng USD Sang tháng 6/2010 tỷ giá USD/EURO chỉ còn 1,19, rất thấp
so với mức xấp xỉ 1,4 của đầu tháng 3, do đó sẽ tạo ra những rủi ro nhất định trong việc vay trả ngoại tệ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng như cho hoạt động ngoại hối của các ngân hàng thương mại
Như vậy cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu đã tác động lớn đến quá trình phát triển kinh tế của các nước EU, làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm và đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Vì vậy lãnh đạo EU không ngừng cố gắng để đưa các nước EU vượt qua cuộc khủng hoảng nợ công, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế
2.3 Khó khăn về chính trị
2.3.1 Thiếu sự thống nhất về thể chế chính trị
Trong quá trình lãnh đạo của mình EU còn thiếu sự thống nhất về thể chế chính trị, điều này thể hiện rõ qua các vấn đề sau:
Trang 31Đó là tốc độ tăng trưởng kinh tế của EU đang có những dấu hiệu chậm lại Tăng trưởng kinh tế chậm chạp đã ảnh hưởng tới sự gắn kết xã hội và các giá trị mở gắn chặt trong mô hình châu Âu Châu Âu phải không ngừng cố gắng để duy trì vị thế của mình trên thế giới Chính vì vậy đây là một trong những nguyên nhân đòi hỏi EU có những bước liên kết chặt chẽ về chính trị đảm bảo tập trung giải quyết
các vấn đề kinh tế và xã hội trong liên minh, đảm bảo cho “Liên minh trở thành một
nền kinh tế tri thức và cạnh tranh nhất thế giới, tăng trưởng bền vững với tạo việc làm và an sinh xã hội tốt nhất” [6;102]
Mặt khác hệ thống thể chế chính trị của EU không đủ mạnh Hệ thống thể chế chính trị châu Âu gồm Ủy ban châu Âu, Hội đồng châu Âu và Nghị viện châu
Âu, trong đó quyền điều hành thuộc về Ủy ban châu Âu Tuy nhiên Ủy ban châu Âu không có quyền điều hành đầy đủ như một chính phủ của một quốc gia Các ủy viên của Ủy ban châu Âu không tạo thành một cơ quan quản lý vì họ được chỉ định từ các quốc gia thành viên có nền tảng chính trị khác nhau, họ chịu các trách nhiệm riêng biệt và không rời nhiệm sở trong nhiệm kỳ của mình Hội đồng châu Âu không thực thi các quyền hành pháp, mà chỉ giải quyết các vấn đề quan trọng của Liên minh
Như vậy, theo cách phân chia hiện nay, quyền quản lý của Liên minh được phân chia cho nhiều cơ quan của Liên minh và EU không có một cơ quan hành pháp mạnh chịu trách nhiệm chính Vì vậy vấn đề này sẽ gây khó khăn cho sự điều hành chung của Liên minh
Hệ thống chính trị của châu Âu đang phải đối mặt với sự thiếu dân chủ EU chưa biến đổi quyền hành pháp thành một quyền chính trị thực sự Nghị viện châu
Âu đang phải đối mặt với vấn đề pháp lý không chỉ liên quan đến vấn đề bầu cử mà còn liên quan đến tính minh bạch, hiểu biết và nhận thức từ những công dân EU Ủy ban châu Âu và Hội đồng châu Âu gặp phải những khó khăn lớn hơn Hội đồng là thể chế dân chủ nhất nhưng lại không được bầu cử theo thể thức cơ quan liên châu
Âu và nó không giống như cơ quan đại diện điều hành của EU Hơn nữa Hội đồng phải chia sẽ rất nhiều quyền hạn với Nghị viện châu Âu
Thiếu dân chủ còn tồn tại trong quá trình mở rộng EU Rủi ro mở rộng gia tăng với nhận thức từ việc mất quyền kiểm soát các thể chế của EU từ 6 nước thành viên ban đầu lên 27 nước thành viên Tình trạng mất dân chủ thể hiện ở chỗ đó là số
Trang 32lượng cử tri đi bầu cử giảm, giảm lòng tin với các chính trị gia, tham nhũng, gia tăng chủ nghĩa cực đoan
Tiếp đó EU không có đầy đủ quyền lực chính trị để có thể đưa ra mô hình mẫu cho châu Âu EU được hình thành từ Cộng đồng kinh tế châu Âu, có quyền hạn trong lĩnh vực kinh tế Nhưng với quá trình phát triển, EU đã tăng cường và mở rộng những mục tiêu chính trị chung ngoài các giá trị kinh tế trong toàn Liên minh như: chính sách liên quan đến môi trường và xã hội, đối ngoại và quốc phòng, tư pháp và nội vụ Các thủ tục đã được hình thành tương ứng trong EU như: lịch trình
xã hội, chiến lược phát triển bền vững, hình thành tư pháp và nội vụ, chính sách an ninh và quốc phòng chung trong các trụ cột thể chế của Liên minh Các quyền chủ yếu này không được chuyển giao hoàn toàn cho các thể chế EU
Việc EU mở rộng đòi hỏi phải có những cơ cấu thể chế linh hoạt đáp ứng mô hình 27 nước thành viên Trong quá trình chuẩn bị mở rộng EU, các nhà lãnh đạo các nước thành viên cũ đã đi đến thỏa hiệp trong Hiệp ước Nice là giảm bớt số ghế trong các cơ quan đại diện của mình để nhường lại số ghế cho các thành viên mới kết nạp với cơ cấu hợp lý số đại diện các nước thành viên mới Tuy nhiên, mô hình này không đáp ứng những đòi hỏi khi đưa ra một chính sách linh hoạt đảm bảo một châu Âu mạnh và ổn định, một cơ cấu gọn nhẹ đáp ứng quá trình liên kết chặt chẽ
cả chiều rộng lẫn chiều sâu ở EU trong tương lai
Cuối cùng, EU còn chậm chạp trong giải quyết các vấn đề quốc tế và vấn đề toàn cầu hóa Tuyên bố Laeken đã thể hiện rõ tham vọng lớn của EU với thế giới:
“Châu Âu cuối cùng phải thống nhất, có vai trò đầu tàu trong trật tự thế giới mới, quyền hạn trong duy trì ổn định thế giới và có vai trò chủ đạo cho nhiều quốc gia
và mọi người” [6;105] Mở rộng châu Âu sẽ tạo ra sự chênh lệch giữa kinh tế và
tiếng nói chính trị của EU khi giải quyết các vấn đề quốc tế và hình ảnh “người
khổng lồ kinh tế, chú lùn về chính trị”
EU thiếu sự hợp tác và có tiếng nói khác nhau trong việc giải quyết các vấn
đề quốc tế như: Cuộc khủng hoảng ở Trung Đông, chủ nghĩa đơn cực ở Mỹ và những vấn đề quốc tế từ sau sự kiện 11/9 ở Mỹ Nhất là vị trí của ba nước Pháp, Anh và Đức, có tiếng nói mạnh trong chính sách an ninh và đối ngoại chung (CFSP), đã thiếu sự hợp tác và có những bất đồng trong giải quyết các vấn đề khi
Mỹ tấn công Irắc, hay cuộc khủng hoảng ở Trung Đông
Trang 33Có thể thấy, để thúc đẩy kinh tế phát triển, ổn định về chính trị và xã hội EU cần phải xây dựng thống nhất hệ thống chính trị
2.3.2 Hiệu lực của Nghị viện châu Âu còn hạn chế
Từ sau Hiệp ước Maastricht, Nghị viện châu Âu có thẩm quyền trong lĩnh vực lập pháp và hoạt động giám sát các thể chế của EU Nhưng Nghị viện châu Âu vẫn có những hạn chế nhất định, chưa đáp ứng được bước phát triển mới của EU
Trước hết Nghị viện châu Âu chưa phải là cơ quan lập pháp hoàn chỉnh Trải qua các Hiệp ước Maastricht, Hiệp ước Amsterdam, Hiệp ước Nice quyền lực của Nghị viện ngày càng được tăng cường, nhưng Nghị viện vẫn chưa là cơ quan lập pháp hoàn thiện nhằm bảo vệ và giám sát thực hiện mục tiêu của Liên minh, cụ thể:
Nghị viện châu Âu chưa có thẩm quyền làm luật trong tất cả các lĩnh vực cho
dù Hiệp ước đã sửa đổi bổ sung thẩm quyền cho cơ quan này Mặt khác Nghị viện châu Âu chưa thực hiện quy trình lập pháp đầy đủ như sáng kiến, phát triển và thông qua dự thảo luật Mặc dù Hiệp ước Maastricht trao cho Nghị viện quyền đề xuất lập pháp nhưng Nghị viện rất ít khi sử dụng quyền này do các Hiệp ước đòi hỏi
Ủy ban châu Âu là cơ quan chính đưa ra đề xuất luật
Nghị viện không được tham vấn tất cả các văn bản luật của Hội đồng ban hành Ví dụ, điều 133(3) – TEC quy định về chính sách thương mại chung thì vai trò của Nghị viện rất hạn chế Nghị viện chỉ tham gia những lĩnh vực lập pháp và chính sách ảnh hưởng tới toàn bộ liên minh Ngoài ra, các lĩnh vực trong trụ cột về CFSP và trụ cột về Tư pháp và nội vụ (JHA), thẩm quyền quyết định thuộc Hội đồng bộ trưởng, Nghị viện châu Âu rất hạn chế trong hai trụ cột này Nghị viện chủ yếu tham vấn hoặc được thông báo trong một số lĩnh vực
Nghị viện chưa thực hiện đầy đủ chức năng ngân sách, chỉ có thẩm quyền đối với khoản chi không bắt buộc Hội đồng bộ trưởng là cơ quan chịu trách nhiệm đối với khoản chi bắt buộc
Các văn bản pháp luật của Liên minh châu Âu có nhiều loại khác nhau như chỉ thị, quyết định, quy định, kiến nghị và ý kiến Mỗi loại văn bản có hiệu lực và mức độ ràng buộc đối với các quốc gia khác nhau Điều này làm cho hệ thống pháp luật của EU phức tạp và việc áp dụng luật EU ở các nước thành viên là rất khó khăn
Nghị viện châu Âu còn hạn chế trong thực hiện giám sát các thể chế ở EU Những lần sửa đổi bổ sung các hiệp ước chủ yếu nhằm tăng tính chịu trách nhiệm
Trang 34của Ủy ban châu Âu trước Nghị viện, nhằm đảm bảo vai trò hoạt động giám sát của dân chúng đối với thể chế của EU Nhưng thực chất thủ tục phê chuẩn của Nghị viện đối với Ủy ban châu Âu mang tính chất hình thức, vì quyền quyết định thuộc
về chính phủ của các nước thành viên
Quyền hạn của Nghị viện vẫn hạn chế trong trụ cột CFSP và trụ cột về JHA Một số lĩnh vực trong hai trụ cột này, Nghị viện chỉ có quyền tham vấn hoặc được thông báo của Hội đồng trước Nghị viện và thẩm quyền chính vẫn thuộc vai trò của Hội đồng
Trong quan hệ giữa Nghị viện châu Âu và Nghị viện Quốc gia còn nhiều hạn chế, đặc biệt vai trò tham gia lập pháp ở EU Điều này làm cho quá trình thực thi luật pháp của EU tại các nước thành viên đạt hiệu quả không cao, nhiều văn bản pháp luật của EU không thực hiện đầy đủ ở các nước thành viên
Như vậy EU cần phải nâng cao hơn nữa vai trò của Nghị viên châu Âu trong việc tổ chức quản lý nhằm thống nhất vai trò lãnh đạo Góp phần hoàn thiện hệ thống chính trị của EU
2.3.3 Khó khăn về xây dựng hệ thống an ninh chung
Trong lịch sử tồn tại của mình, EU đã không ít lần thể hiện mong muốn có một cơ chế an ninh chung cho cả khu vực.Tuy nhiên để thành lập được một hệ thống an ninh chung thì EU còn gặp rất nhiều khó khăn
Về chính trị: Đã có sự chia rẽ giữa các nước thành viên EU về khái niệm bản sắc quốc phòng và an ninh châu Âu (ESDI) Tuy cùng nhận thức được là phải thực hiện các mực tiêu của mình dưới cái ô một chính sách đối ngoại chung của EU, hai nước hùng mạnh nhất trong châu Âu là Pháp và Đức lại có những ý đồ và mục tiêu riêng Nước Đức nhận thức được cơ hội tăng thêm trọng lượng của mình trong việc
“tự ràng buộc” với chính sách đối ngoại chung của châu Âu so với việc thực hiện
chính sách đối ngoại riêng Pháp muốn biến châu Âu dưới sự lãnh đạo của mình
thành một “cực quyền lực” và cho rằng có thể tìm lại vai trò bình đẳng của mình so
với các cường quốc khác thông qua con đường châu Âu Pháp tiếp tục theo đuổi chính sách dân tộc và cạnh tranh với Mỹ
Bên cạnh đó, các nước Tây Âu chưa nhất trí về vấn đề tài chính để hỗ trợ cho chính sách an ninh mới của châu Âu trong khi hầu hết các nước châu Âu thành viên NATO giờ đây đều có xu hướng chi ít hơn cho quốc phòng, chi ít trong khoảng ba năm của thời kỳ xây dựng đồng tiền Euro tới Vì vậy đây sẽ tiếp tục là một vấn đề
Trang 35nan giải mà các nước thành viên EU phải giải quyết cho đến khi lực lượng phản ứng nhanh chính thức được thành lập Ngoài ra, việc thành lập lực lượng phản ứng nhanh lại làm nảy sinh mối quan hệ bên trong giữa các tổ chức quân sự hiện có của Tây Âu Hiện Tây Âu có các tổ chức quân sự như Liên minh phòng thủ Tây Âu (WCU) Quân đoàn châu Âu và sắp tới là lực lượng phản ứng nhanh sẽ có sự chồng chéo nhiệm vụ giữa các tổ chức nói trên: trong những trường hợp nào thì EU dùng đến WCU, quân đoàn châu Âu và lực lượng phản ứng nhanh? Có thể thấy Tây Âu chưa sử dụng một cách có hiệu quả các tổ chức quân sự có sẵn trong tay hoặc chưa tập hợp được các lợi ích về chính trị - quân sự của tất cả các nước thành viên EU để
có một tổ chức quân sự duy nhất của riêng mình Chính vì vậy hội nghị thượng đỉnh Cologne đã khẳng định mong muốn các nước châu Âu thúc đẩy việc xây dựng một chính sách quốc phòng chung
Mặt khác để thành lập được một lực lượng phản ứng nhanh EU phải giải quyết vấn đề có quá nhiều lực lượng quân đội cùng tồn tại: liệu quy chế nhà nước trung lập của Áo, Thụy Sĩ có còn không khi EU có chính sách phòng thủ và an ninh chung, mâu thuẫn giữa các nước lớn trong EU vì mặc dù quyết tâm thực hiện của các nước giống nhau, nhưng mục tiêu của các nước không như nhau Rất có thể từ những mục tiêu này, sẽ nảy sinh ra những mâu thuẫn nhất định
Một khó khăn khác nữa là chi phí cho quốc phòng của EU đang bị giảm sút
Từ năm 1992 đến nay, chi phí cho quốc phòng của EU đã giảm 22%, riêng năm
1999 là 7% Nếu so sánh châu Âu với Mỹ trong lĩnh vực này thì chi phí cho quốc phòng của Mỹ lớn hơn nhiều Trong năm 1997, chi phí giành cho quốc phòng của 5 nước có tiềm lực quân sự lớn ở châu Âu chỉ chiếm 1,8% GDP, trong khi con số này của Mỹ là 3,38% GDP
Như vậy chúng ta có thể thấy rõ mâu thuẫn giữa mục tiêu và thực tế của EU
Để xây dựng được lực lượng phản ứng nhanh của mình, EU sẽ phải làm thế nào trong khi tình trạng ngân sách dành cho quốc phòng liên tục bị cắt giảm EU cần có những cố gắng để vượt qua khó khăn tiến tới xây dựng một cơ chế an ninh chung cho riêng mình
2.3.4 Khó khăn trong ti ến trình mở rộng quy mô
Để có được 27 nước thành viên như hiện nay thì EU cũng đã phải trải qua không ít khó khăn Các nước EU đã không ngừng cố gắng để mở rộng lãnh thổ của mình