Những tác động của cuộc khủng hoảng hinh tế hiện nay đối với nước ta đang đặt ra rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết trong quá trình thực thi các chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ,
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài 0
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Mục đích nghiên cứu 2
3.3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Nguồn tư liệu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
6 Đóng góp của đề tài 3
7 Cấu trúc của đề tài 3
NỘI DUNG 4
Chương 1: Khái quát chung về khủng hoảng và khủng hoảng kinh tế thế giới 4
1.1 Quan niệm về khủng hoảng và khủng ho ảng kinh tế 4
1.1.1 Khái niệm về khủng hoảng và khủng hoảng kinh tế 4
1.1.2 Khủng hoảng kinh tế dưới góc nhìn của giới nghiên cứu 4
1.1.2.1 Quan niệm về khủng ho ảng trong hệ thống lý luận Mácxít 4
1.1.2.2 Quan niệm về khủng ho ảng kinh tế của các học giả phương Tây 2
1.2 Hình thức biểu hiện và đặc trưng cơ bản của khủng hoảng kinh tế thế giới 4
1.2.1 Dấu hiệu và biểu hiện chủ yếu khủng hoảng kinh tế thế giới 4
1.2.2 Một số đặc trưng cơ bản của khủng hoảng kinh tế thế giới 4
1.3 Một số loại hình khủng hoảng kinh tế thế giới phổ biến……….4
1.3.1 Khủng hoảng sản xuất thừa……… 4
1.3.2 Khủng hoảng chu kỳ……… 5
1.3.3 Khủng hoảng cơ cấu……… 6
1.3.4 Khủng hoảng tiền tệ - tín dụng……… 7
1.3.5 Khủng hoảng tài chính……… 8
Trang 31.3.6 Tổng khủng hoảng……… 8
1.4 Một số cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới tiêu biểu từ thế kỉ XX đến nay 9
1.4.1 Đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 9
1.4.2 Khủng hoảng nợ khu vực Mỹ LaTinh 11
1.4.3 Khủng hoảng tài chính – tiền tệ châu Á (1997 – 1998) 13
1.4.4 Khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 16
Chương 2: Những điểm giống và khác nhau giữa cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 với cuộc khủng ho ảng kinh tế thế giới 2008 đến nay 21
2.1 Những điểm giống nhau……….21
2.1.1 Nguyên nhân khủng hoảng 21
2.1.2 Tính chất cuộc khủng hoảng 22
2.1.3 Cả hai cuộc khủng hoảng đều bắt đầu từ Mỹ……… 24
2.1.4 Các lĩnh vực ảnh hưởng 25
2.1.4.1 Kinh tế 25
2.1.4.2 Chính trị - xã hội 28
2.1.5 Tác động của cuộc khủng hoảng 30
2.1.6 Các giải pháp thoát khỏi cuộc khủng hoảng 32
2.2 Những điểm khác nhau 34
2.2.1 Nguyên nhân cuộc khủng hoảng 34
2.2.2 Hậu quả của cuộc khủng hoảng 37
2.2.3 Biện pháp thoát khỏi cuộc khủng hoảng 39
2.3 Bài học kinh nghiệm 43
2.3.1 Khủng hoảng kinh tế đối với thế giới 44
2.3.1 Khủng hoảng kinh tế thế giới đối với Việt Nam 46
KẾT LUẬN 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Khủng hoảng kinh tế là vấn đề không mới trong lịch sử phát triển kinh tế của nhân loại và là quy luật có tính chu kỳ, song mỗi lần khủng hoảng kinh tế, thì nguyên nhân và giải pháp khắc phục lại trở thành chủ đề gây tranh luận, tốn nhiều giấy mực, công sức và thời gian các nhà nghiên cứu
Kinh tế thế giới đang bước vào thời kỳ suy thoái, đặc biệt là đối với nền kinh
tế Mỹ Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vừa qua được coi là cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất kể từ cuộc đại khủng hoảng 1929- 1933 Mặc dù tác động của nó đối với các quốc gia khác nhau nhưng không quốc gia nào thoát khỏi khủng hoảng
và nó có thể dẫn tới một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng kéo dài đối với toàn thế giới Bong bóng bất động sản Mỹ đã vỡ, và hệ quả là cuộc khủng hoảng tín dụng dẫn tới sự suy thoái kinh tế Đã có nhiều kế hoạch giải cứu cũng như biện pháp hỗ trợ được đưa ra, nhưng nó vẫn chưa đủ sức để ngăn cản bước tiến của cuộc suy thoái này Thực tế cho thấy xu hướng toàn cầu hóa là động lực tăng trưởng của nhiều nước đang phát triển thì đây cũng chính là kênh truyền dẫn khiến cho cuộc khủng hoảng này lan sang các nước đang phát triển Nhìn lại lịch sử, nền kinh tế của chúng ta cũng từng trải qua nhiều cuộc suy thoái và khủng hoảng kinh tế trầm trọng Vậy chúng ta có thể học hỏi và nhìn nhận được những gì từ các cuộc khủng hoảng này để giải cứu nền kinh tế thế giới hiện nay?
Là nước đang phát triển, kinh tế Việt Nam đang hội nhập kinh tế thế giới, chúng ta không thể không tính đến những tác động của cuộc khủng hoảng toàn cầu đối với việt Nam, không thể không nghĩ tới một số vấn đề nảy sinh ta Những tác động của cuộc khủng hoảng hinh tế hiện nay đối với nước ta đang đặt ra rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết trong quá trình thực thi các chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ, như vấn đề chống suy giảm kinh tế, phát triển sản xuất, lạm phát, việc làm…
Nhằm góp phần hiểu rõ và sâu sắc hơn về các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đặc biệt là hai cuộc khủng hoảng 1929 – 1933 và cuộc khủng hoảng từ năm
2008 đến nay (2008 – 2011), những điểm giống và khác nhau giữa các cuộc khủng hoảng, để có được cái nhìn vừa cụ thể, vừa tổng quát, từ đó đưa ra được các kinh
Trang 5nghiệm trong thực tiễn ứng phó với khủng hoảng kinh tế hiện nay và trong cả tương
lai về sau Vì những lý do trên nên tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Những điểm
tương đồng và khác biệt của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới trong những năm
1929 – 1933 với cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 đến nay” làm khóa luận
- Khủng hoảng kinh tế thế giới những vấn đề lý luận và kinh nghiệm,
PGS.TS Phạm Quốc Trung, TS Phạm Thị Túy (2011), Nxb Chính trị quốc gia Cuốn sách đã cung cấp những quan điểm lý luận về khủng hoảng kinh tế, phân tích
và nhận định cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay trên cả góc độ lý luận và thực tế, giúp chúng ta có cái nhìn sáng rõ hơn về khủng hoảng kinh tế thế giới
Bên cạnh đó còn có các bài nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành như:
Võ Đại Lược với bài “Cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay và những tác động”, tạp
chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới, số 10, năm 2008; Nguyễn Huy
Hoàng với “Khủng hoảng kinh tế toàn cầu và tác động của nó tới các nền kinh tế
Đông Nam Á”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 7, (2009); 25 Bài viết
“Khủng hoảng tài chính – tín dụng ở Mỹ và một số vấn đề với Việt Nam”, của hai
nhà nghiên cứu Nguyễn Minh Tuấn, Vũ Đăng Linh in trên Tạp chí Châu Mỹ ngày
nay, số 2 năm 2009…
Vì là một sự kiện đã, đang và có khả năng diễn ra trong tương lai do đó cách đánh giá và nhìn nhận vấn đề chưa có sự thống nhất Đây chính là điều kiện thuận lợi và cũng hết sức khó khăn cho tác giả khi làm đề tài này Xuất phát từ thực tế đã trình bày, tôi cũng cố gắng trình bày có hệ thống khi so sánh hai cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933 với cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 đến nay, tác động của nó đối với sự phát triển của thế giới trong tương lai, cũng như các giải pháp, bài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc khủng hoảng
Trang 63 Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- So sánh hai cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933 với cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 đến nay
3.2 Mục đích nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài này tôi mong muốn góp phần làm rõ nét hơn về cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã ảnh hưởng đến sự phát triển của các quốc gia nói riêng và thế giới nói chung Kết quả đề tài này tôi mong muốn nó sẽ trở thành tài liệu tham khảo có ích đối với những người yêu thích lịch sử, quan tâm đến các vấn
đề sự phát triển kinh tế trên thế giới
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Khủng hoảng kinh tế thế giới là một vấn đề lớn, để nghiên cứu vấn đề này cần phải có cái nhìn tổng thể, bao quát tất cả các sự kiện đã và đang diễn ra trên thế giới từ năm 1929 đến nay (2011) Do đây là vấn đề mang tính quốc tế và diễn ra trong các thời điểm khác nhau, xuất phát từ khả năng còn nhiều hạn chế, cùng với nguồn tư liệu ít, thời gian nghiên cứu hạn hẹp nên tôi chỉ tập trung nghiên cứu vấn
đề so sánh hai cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933 với cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 đến nay
4 Nguồn tư liệu
Để phục vụ cho quá trình nghiên cứu tôi sử dụng nguồn tư liệu thành văn như sách, báo, tạp chí, các website có nội dung liên quan đến hai cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933 và 2008 đến nay Các tài liệu này được cung cấp tại Thư viện Tổng hợp Đà Nẵng, Thư viện Tổng hợp Huế, Thư viện Trường đại học sư phạm Đà Nẵng, Thư viện Trường đại học sư phạm Huế, Thư viện Trường đại học Khoa học Huế và các nhà sách trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở các tài liệu thành văn đã được thu thập từ nhiều thể loại khác nhau, sau khi tiến hành chọn lọc phân loại và sử lý tư liệu, sử dụng kết hợp nhiều phương pháp như: Phương pháp luận sử học, phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê phân loại, phương pháp lựa
Trang 7chọn, phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu Từ đó, rút ra những luận điểm chính xác, những kết luận khách quan và khoa học
Bên cạnh đó việc nghiên cứu về khủng hoảng kinh tế góp phần nâng cao vốn kiến thức lịch sử nhất là lịch sử thế giới hiện đại, phục vụ cho việc học tập lịch sử
và cho công tác dạy học lịch sử
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì phần nội dung đề tài gồm có hai chương:
Chương 1: Khái quát chung về khủng hoảng và khủng hoảng kinh tế thế giới
Chương 2: Những điểm giống và khác nhau giữa cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 với cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 đến nay
Trang 8NỘI DUNG
Chương 1: Khái quát chung về khủng hoảng và khủng hoảng kinh tế thế giới 1.1 Quan niệm về khủng hoảng và khủng hoảng kinh tế
1.1.1 Khái ni ệm về khủng hoảng và khủng hoảng kinh tế
Khủng hoảng theo Bách khoa toàn thư là một thời điểm quan trọng trong tiến trình phát triển, là điểm nút bộc lộ những mâu thuẫn hoặc mất cân bằng của một hệ thống nhất định do sự tác động của các yếu tố nội tại cũng như bên ngoài quy định
sự phát triển của hệ thống đó
Bên cạnh đó còn có một số khái niệm về khủng hoảng như:
Trong tiếng Anh Oxford rút gọn, khủng hoảng được định nghĩa là: “điểm ngoặt đặc biệt của bệnh tật, thời điểm nguy hiểm hoặc mong ngóng về chính trị, nội các, tài chính”…
Trong tiếng Hy Lạp từ Crisis (khủng hoảng), được xác định là giai đoạn mà trong đó một định chế xã hội, kinh tế và tài chính không thể tiếp tục vận động như trước được nữa và do vậy phải chịu đau đớn và phải trải qua các biến chuyển nhờ
đó mà tình hình được cải thiện
Khủng hoảng kinh tế là tình hình rối loạn và suy sụp rất nghiêm trọng về kinh tế, biểu hiện rõ ràng nhất là sản suất đình trệ, công nhân thất nghiệp, đời sống người lao động thấp kém
1.1.2 Một số quan niệm về khủng hoảng kinh tế
1.1.2.1 Quan niệm về khủng hoảng trong hệ thống lý luận Mácxít
Mặc dù khủng hoảng kinh tế nói chung đã có lịch sử gần 400 năm, song cho đến nay, qua các kết quả đã nghiên cứu về khủng hoảng đã công bố cho thấy vẫn chưa có sự thống nhất trong nhận thức về khủng hoảng kinh tế Hoặc xem xét khủng hoảng kinh tế theo một quan điểm cứng nhắc, đồng nhất khủng hoảng kinh tế với tất yếu kinh tế của chủ nghĩa tư bản, với sự diệt vong hoặc đi liền với cơ hội phát triển mới Hoặc chỉ nhìn nhận với các khía cạnh riêng biệt của từng cuộc khủng hoảng cụ thể, hoặc chỉ thấy khủng hoảng khi đã có những dấu hiệu rõ ràng thể hiện qua những biến động của các chỉ số kinh tế có thể đo lường được Hệ thống
lý luận mácxít cũng có đề cập về khủng hoảng kinh tế tuy chưa có một chuyên khảo
Trang 9hay một chương riêng bàn về khủng hoảng kinh tế Nhưng rải rác trong các tác phẩm viết về tư bản có thể tìm thấy nhiều điểm đề cập đến khủng hoảng V.I Lênin
cũng bàn về khủng hoảng kinh tế trong nhiều tác phẩm như “ Bàn về đặc điểm của
đó, mà một trong những hình thức là sản xuất thừa tư bản cố định hay sản xuất thừa
tư bản lưu động Do nền sản xuất tư bản chủ nghĩa chỉ nhằm mục đích chiếm đoạt thật nhiều lao động thặng dư bằng cách sản xuất với quy mô lớn mà không tính đến giới hạn của thị trường
Khi khủng hoảng bao trùm các vật phẩm buôn bán chủ yếu thì sẽ trở một cuộc tổng khủng hoảng, nghĩa là sản xuất thừa ít nhiều có tính phổ biến trên toàn bộ thị trường Một bên hàng hóa không bán được, bên kia là những nhà tư bản phá sản
và công nhân thất nghiệp chịu cảnh thiếu thốn
Khủng hoảng kinh tế trong nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh dưới chủ nghĩa tư bản mang tính chu kỳ Mỗi chu kỳ trải qua một thời kỳ đình đốn (hay tiêu điều), hoạt động trung bình (hay phục hồi), phồn vinh (hay hưng thịnh) rồi khủng hoảng Từ cuộc khủng hoảng năm 1825, sau khi nền đại công nghiệp vừa mới thoát khỏi thời kỳ ấu trĩ thì sự tuần hoàn có tính chu kỳ mới bắt đầu Tính trung bình chu
kỳ lập lại ban đầu là mười năm, vì lúc đầu thời gian khấu hao tư bản cố định cũng vào khoảng mười năm Tư bản cố định là cơ sở vật chất cho những cuộc khủng hoảng chu kỳ, vì khủng hoảng bao giờ cũng cấu thành khối điểm cho những khoản đầu tư mới và lớn của tư bản Do đó, đứng trên tổng thể toàn xã hội xem xét thì khủng hoảng ít nhiều đều tạo ra cơ sở vật chất mới cho chu kỳ chu chuyển sau đó Các tiến bộ khoa học, công nghệ làm cho vòng đời của tư bản cố định bị rút ngắn
do những biến thiên không ngừng trong các tư liệu sản xuất Phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa càng phát triển thì những biến thiên này càng xảy ra thường xuyên hơn Gắn với tình hình này là sự thay thế tư bản cố định một cách nhanh chóng do
Trang 10hao mòn vô hình, trước khi những tư liệu sản xuất ấy bị hao mòn hết Do đó chu kỳ khủng hoảng được rút ngắn lại
Biểu hiện cụ thể của khủng hoảng cũng rất đa dạng, như:
Một là, khó khăn trong việc mua và bán hàng hóa Doanh nghiệp không bán
được hàng hóa hoặc phải bán rẻ, không đủ tiền thanh toán nợ hết hạn “Giá nguyên
liệu tăng lên khiến cho doanh nghiệp không đủ tiền mua, nếu doanh nghiệp không mượn được vốn thì phải giảm quy mô sản xuất, sa thải công nhân, không tận dụng được hết công suất của máy móc, thiết bị”[28;16] Việc mua và bán tách rời nhau
về không gian và thời gian, nhưng lại đòi hỏi phải ăn khớp với nhau
Hai là, mất cân đối trong sản xuất C Mác đã phát hiện quan hệ tỉ lệ cân đối giữa các bộ phận trong tổng sản phẩm hàng năm giành cho tái sản xuất ra tư bản và
cho tiêu dùng cá nhân “Nếu một nước không tự đảm bảo được những tỷ lệ cân đối
đó thì sẽ lâm vào khủng hoảng Ngoại thương có thể tạm thời góp phần giải quyết những mất cân đối đó, nhưng ngoại thương chỉ đẩy mâu thuẫn ra không gian rộng lớn hơn, chứ không giải quyết được mâu thuẫn, khiến cho khủng hoảng mang tính chất toàn thế giới”[28;17]
Ba là, rối loạn hệ thống tín dụng “Trong một chế độ sản xuất mà tất cả các
mối liên hệ của quá trình tái sản xuất đều dựa trên tín dụng, nếu đột nhiên tín d ụng
bị ngưng trệ, khi đó chắc chắn sẽ xảy ra khủng hoảng”[28;17]
Bốn là, vi phạm quy luật về lưu thông tiền tệ “Phát hành giấy bạc vượt quá
số lượng tiền tệ cần thiết trong lưu thông sẽ gây lạm phát”[28;18] Nhưng phát
hành không đủ cũng gây ra khủng hoảng
Năm là, mất cân đối giữa sản xuất và nhu cầu có khả năng thanh toán “Do
hệ thống tín dụng và ngoại thương mở rộng, do đầu cơ…đã tạo ra những nhu cầu giả tạo vượt quá nhu cầu có khả năng thanh toán, khiến cho quy mô sản xuất mở rộng quá mức, dẫn tới sản xuất thừa thêm trầm trọng.”[28;18]
Sáu là, xây dựng nhà ở không theo đơn đặt hàng mà chạy theo thị trường và
mang tính chất đầu cơ “Nhà thầu khoán vay vốn ngân hàng bằng cách cầm cố bất
động sản Ngân hàng chỉ rải ngân dần dần theo tiến độ xây dựng Nếu có trục trặc
từ phía nhà thầu khoán vì không trả được nợ đúng kỳ hạn thì họ sẽ bị đình chỉ cho
Trang 11vay”[28;19] Để trả nợ, họ phải bán nhà theo giá rẻ khi đó sẽ dẫn tới thua lỗ thậm
chí phá sản
Bảy là, những chứng khoán không đại biểu cho tư bản thực tế, không có bảo
đảm ngày càng được phát hành nhiều hơn “Nếu đột nhiên hệ thống tín dụng bị trục
trặc thì những chứng từ ảo ấy sẽ bộc lộ bộ mặt thật và vỡ như bong bóng và tất yếu
sẽ xảy ra khủng hoảng.”[28;19]
Những biểu hiện trên mặc dù mới chỉ nêu một cách rất sơ lược, nhưng nếu đem so sánh với các cuộc khủng hoảng đã xảy ra sẽ thấy tuy có những chi tiết cụ thể khác nhau nhưng đúng về nguyên lý Cái gọi là khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay nổ ra đầu tiên tại Mỹ, bởi bong bóng nhà ở, do tín dụng dưới chuẩn được cấp quá dễ dãi và nghiệp vụ “chứng khoán hóa” có thể tương ứng với điểm ba, sáu
và bảy nêu trên Như vậy rõ ràng là có nhiều mối liên hệ giữa cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay với lý thuyết kinh tế của các nhà kinh điển mácxít
Từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới nhìn lại, mặc dù các nhà kinh điển Mác – Lênin không nghiên cứu khủng hoảng kinh tế một cách trực tiếp nhưng những lý luận của các nhà kinh điển đã đưa ra nhiều luận điểm khoa học và hiện nay vẫn còn nguyên giá trị phục vụ cho nghiên cứu và là cơ sở cho các hoạt động thực tiễn
1.1.2.2 Quan niệm về khủng hoảng kinh tế của các học giả phương Tây
Khủng hoảng kinh tế nhận được sự quan tâm sâu sắc của các nhà kinh tế học trên thế giới Có thể thấy rằng, khủng hoảng kinh tế dưới góc nhìn của các học giả phương tây chính là thời kỳ tới giới hạn, là một thời điểm lịch sử nguy hiểm trong
đó người ta sẽ tránh được sự kết thúc thông qua các điều chỉnh mới, người ta đưa ra quyết định và thực hiện các chuyển đổi, xác định sự phát triển tương lai của hệ thống cả về kinh tế, chính trị và xã hội
Từ cách nhìn nhận như trên, nên hầu hết nghiên cứu của học giả phương Tây
về khủng hoảng kinh tế đều hướng tới việc tìm ra cách thức, giải pháp nhằm giúp các nền kinh tế vượt qua khủng hoảng, hướng đến thiết lập mô thức mới đảm bảo cho sự vận hành hiệu quả hơn của hệ thống trong thời kỳ hậu khủng hoảng và trong tương lai Tuy nhiên, để có thể đưa ra các giải pháp thoát khỏi khủng hoảng, các nhà học giả phương Tây cũng có những khái quát ở mức độ nhất định diễn biến của
Trang 12khủng hoảng kinh tế, cũng đi vào luận giải căn nguyên của khủng hoảng ở những mức độ khác nhau
Về căn nguyên và hình thái biểu hiện của khủng hoảng, các học giả này tiếp cận dưới dạng khái quát thành những lý thuyết hay những đúc rút mang tính tổng quát Nổi bật là lý thuyết “sóng dài” của Konđrachev và những biến thái của nó
“Theo lý thuyết này thì cùng với các chu kỳ kinh tế bình thường còn có các chu kỳ lớn với thời gian từ 48 – 55 năm (các chu kỳ này gọi là sóng dài)”[28;23] Tất cả
những biến đổi trong các quá trình tạo nên sóng dài đều có những ảnh hưởng tương tác hình thành nên những chuyển biến kinh tế, chính trị, xã hội
Song hành với các quan điểm theo thuyết sóng dài, khủng hoảng kinh tế còn
được các học giả phương Tây cắt nghĩa theo thuyết chu kỳ kinh doanh “Nhìn
chung các lý thuyết về chu kỳ kinh doanh tiết cận, lý giải sự thăng trầm kinh tế qua hai phương diện: Thứ nhất, do các yếu tố bên ngoài hệ thống kinh tế gây ra như chiến tranh, cách mạng, bầu cử, việc phát hiện ra các mỏ dầu, mỏ vàng…Thứ hai,
do những vấn đề nội tại của bản thân hệ thống kinh tế gây ra”[28;24] Theo cách
tiếp cận này thì mọi sự mở rộng của sản xuất, kinh doanh tự bản thân nó đã nuôi dưỡng sự suy thoái, thu hẹp sản xuất hay kinh doanh thì lại nuôi dưỡng sự phục hồi
và mở rộng sản xuất kinh doanh, theo một chu kỳ lặp đi lặp lại như một quy luật
Về khắc phục và ngăn ngừa khủng hoảng, nghiên cứu của các nhà học giả phương Tây tập trung vào việc tìm kiếm cơ sở cho việc điều tiết kinh tế vĩ mô cũng
như việc vận hành các chính sách khác của nhà nước “Trong lựa chọn điều tiết
kinh tế vĩ mô, việc cân nhắc vai trò của nhà nước và vai trò của thị trường luôn là trọng tâm nghiên cứu”[28;25]
Như vậy, khủng hoảng kinh tế là một chủ đề chiếm vị trí quan trọng trong các nghiên cứu của học giả phương Tây Ta có thể thấy về cơ bản những nghiên cứu này có tính thực tiễn khá cao phục vụ trực tiếp cho việc tìm ra giải pháp khắc phục khủng hoảng Các giải pháp được đưa ra trong các nghiên cứu này thường có tính khả thi cao do dựa trên các nghiên cứu cơ bản, thực chứng, đồng thời nó cũng là kết quả của việc sử dụng các phương pháp phân tích hiện đại Bên cạnh đó còn có giá trị khoa học rất cao, cung cấp cho nhân loại một nhận thức tương đối toàn diện về khủng hoảng kinh tế với cách tiếp cận và giải quyết một cách thực tế, khoa học
Trang 131.2 Hình thức biểu hiện và đặc trưng cơ bản của khủng hoảng kinh tế thế giới 1.2.1 Dấu hiệu và biểu hiện chủ yếu khủng hoảng kinh tế thế giới
Nhìn lại lịch sử gần 400 năm các cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế thế giới cho thấy, sự xuất hiện các “bong bóng” kinh tế với nhiều dạng thức khác nhau
là những dấu hiệu cơ bản nhất báo hiệu nguy cơ khủng hoảng kinh tế
Biểu hiện dễ nhận thấy của những “bong bóng” kinh tế này chính là sự gia tăng giá một cách bất thường của một số loại hàng hóa, nhất là những hàng hóa đặc biệt như tiền tệ, bất động sản và chứng khoán Từ sự gia tăng đột biến kéo theo những thay đổi trong các hành vi kinh tế, trong đó “đầu cơ” trở thành hành vi “thời thượng” đem lại sự giàu có một cách nhanh chóng, đồng thời nó cũng là nhân tố làm lũng đoạn sự vận hành của nền kinh tế và bất ổn kinh tế trở nên ngày càng rõ rệt hơn và đến một thời điểm nào đó “bong bóng” sẽ vỡ Khi đó sẽ xảy ra hàng loạt
sự sụp đổ có tính chất dây chuyền và kinh tế bước vào quá trình thăng trầm khó dự báo trước Trước hết đó là sự giảm sút nghiêm trọng trên các thị trường chứng khoán, giá các cổ phiếu sẽ “tụt dốc” không phanh, tiếp đến là việc mất giá trầm trọng của các đồng tiền trên thị trường ngoại hối Trong giai đoạn này, giá cả của một số loại hàng hóa như vàng, dầu mỏ sẽ thay đổi một cách đáng kinh ngạc
Hầu hết các ngân hàng sẽ bị thua lỗ, điều này làm ảnh hưởng tới toàn bộ hoặc phần lớn tới các ngân hàng và tổ chức tài chính trong từng quốc gia, khu vực
và thế giới Thiệt hại do tác động của khủng hoảng kinh tế trong khối ngân hàng rất nặng nề - khoản thua lỗ của các ngân hàng thuộc mỗi nước ảnh hưởng tới GDP, đồng thời những khoản thua lỗ này cũng tác động tới các hoạt động sản xuất, kinh doanh dẫn đến kìm hãm tốc độ tăng trưởng kinh tế, làm phá sản hàng loạt các công
ty, xí nghiệp, giảm số lượng việc làm, thất nghiệp gia tăng và đời sống người dân trở nên khó khăn hơn trong khủng hoảng, tâm lý lo lắng hoảng loạn ẩn hiện trong đời sống xã hội
1.2.2 Một số đặc trưng cơ bản của khủng hoảng kinh tế thế giới
Khủng hoảng kinh tế vốn là một hiện tượng kinh tế phức tạp với nhiều biến thái khác nhau và với mỗi một cuộc khủng hoảng kinh tế cụ thể, tính chất, phạm vi ảnh hưởng và cả những biến thái cũng rất khác nhau Tuy nhiên, với quan điểm tiếp
Trang 14cận hệ thống và tổng quát, có thể nhận thấy đặc trưng cơ bản của khủng hoảng kinh
tế thế giới ở những khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, khủng hoảng kinh tế thế giới với nhiều biến thái khác nhau, thường gắn với những biến thái sâu sắc trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ, các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới mang tính quốc tế cả về nguyên nhân, các tác động lẫn những nỗ lực nhằm vượt qua khủng hoảng
Thứ hai, khủng hoảng kinh tế thế giới thường khởi phát bởi các “bong bóng” kinh tế, trong đó “bong bóng” bất động sản, chứng khoán là những điểm khởi phát chủ yếu Do đó, khủng hoảng kinh tế thế giới cũng sẽ được khác phục chủ yếu nhờ những giải pháp nhằm lành mạnh hóa và hoàn thiện hệ thống tài chính – tiền tệ của mỗi khu vực, trong tổng thể nền kinh tế trong ngắn hạn và cấu trúc lại thể chế kinh
tế - tài chính một cách tổng thể trong dài hạn
Thứ ba, khủng hoảng kinh tế thế giới diễn ra theo tính chất làn sóng, lan tỏa từng đợt đuổi bắt nhau, sau đó ảnh hưởng chế định lẫn nhau như “hiệu ứng đôminô”
và bắt đầu từ những chấn động tại các nước, khu vực kinh tế - được coi là “trung tâm nhạy cảm” nhưng không cố định Xu hướng khủng hoảng sẽ dịch chuyển nhanh chóng từ trung tâm kinh tế này sang trung tâm kinh tế khác và càng về sau càng phát tán những mầm mống lây nhiễm rộng và sâu hơn, đe dọa kéo theo những tổn thất và đòi hỏi những phối hợp quốc tế rộng lớn và mạnh mẽ hơn, tốn kém hơn với thời gian khắc phục nhiều hơn Điều này cho thấy rõ ràng hơn sự gia tăng ngày càng cao về mức độ tương tác lẫn nhau và ý nghĩa của các sự kiện, các vấn đề kinh
tế của mỗi nước tùy thuộc vào vị thế của chúng trong bối cảnh nền kinh tế thế giới vận hành theo hướng tự do hóa và toàn cầu hóa
1.3 Một số loại hình khủng hoảng kinh tế thế giới phổ biến
Khủng hoảng kinh tế là một vấn đề phức tạp cả về lý luận lẫn thực tiễn Tính chất phức tạp của khủng hoảng còn thể hiện cả ở việc phân loại chúng, bởi sự đan xen và hình thái biểu hiện vô cùng phong phú, đa dạng Ta có thể chia 6 loại hình khủng hoảng kinh tế sau: khủng hoảng sản xuất thừa, khủng hoảng chu kỳ, khủng hoảng cơ cấu, khủng hoảng tài chính, khủng hoảng tiền tệ - tín dụng và tổng khủng hoảng
1.3.1 Khủng hoảng sản xuất thừa
Trang 15Đây là loại hình khủng hoảng kinh tế đầu tiên trong sự phát triển kinh tế của nhân loại Cuộc khủng hoảng sản xuất thừa đầu tiên diễn ra tại Anh vào năm 1825 Cuộc khủng hoảng tiếp theo vào năm 1836, cũng bắt đầu từ Anh rồi lan sang Mỹ vào năm 1837 Song cả hai cuộc khủng hoảng này đều chưa mang tính thế giới
Về cơ bản khủng hoảng sản xuất thừa thường được gắn với giai đoạn của chu
kỳ sản xuất trong xã hội tư bản chủ nghĩa, được biểu hiện bằng hàng hóa sản xuất thừa so với nhu cầu có khả năng thanh toán, sản xuất giảm sút, vốn đầu tư cơ bản bị rút bớt, thất nghiệp và lạm phát tăng lên, những tỷ lệ chủ yếu của tái sản xuất bị rối loạn Nguyên nhân chủ yếu là do những mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản, từ
đó nảy sinh một loạt những mâu thuẫn phát sinh: mâu thuẫn giữa tư bản và lao động, giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa tính có tổ chức trong các xí nghiệp riêng biệt
và tình trạng sản xuất vô chính phủ trong toàn xã hội Những mâu thuẫn này đưa nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đến khủng hoảng kinh tế
Cơ sở vật chất của sự phát triển có tính chu kỳ của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự phát sinh một cách định kỳ các cuộc khủng hoảng sản xuất dư thừa là
sự thay thế tư bản cố định Khối lượng hàng hóa sản xuất vượt quá khối lượng nhu cầu có khả năng thanh toán Do đó, nảy sinh những mất cân đối lớn trong nền kinh
tế quốc dân, và chủ nghĩa tư bản cần trải qua một cuộc khủng hoảng mới tạo nên được một sự cân đối thường xuyên bị phá hoại Trong lịch sử phát triển kinh tế, hệ thống nền kinh tế thế giới tư bản chủ nghĩa đã trải qua những cuộc khủng hoảng sản xuất thừa vào những năm 1825, 1836-1837, 1847, 1857, 1866, 1873, 1882, 1890, 1900,1907,1914-1921, 1929-1933, 1937-1938, 1948-1949, 1953-1954, 1957 -1958, 1960- 1961, 1969-1971, 1974-1975, 1980-1982
Khủng hoảng kinh tế gây ra tác động tiêu cực: phá hoại lực lượng sản xuất, làm phá sản một loạt xí nghiệp, một bộ phận người lao động bị thất nghiệp…Các nhà nước tư bản chủ nghĩa đã tìm cách khắc phục khủng hoảng bằng phương pháp điều tiết của nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân Nhưng khủng hoảng kinh tế được coi là căn bệnh kinh niên của chủ nghĩa tư bản và diễn ra có tính chất chu kỳ, trải qua các giai đoạn có liên quan kế tiếp nhau: khủng hoảng – tiêu điều – phục hồi – hưng thịnh Do đó, để hạn chế khủng hoảng sản xuất thừa cần luôn có ý thức điều
Trang 16chỉnh sự vận hành của các cấu phần kinh tế sao cho bảo đảm được các cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân
1.3.2 Khủng hoảng chu kỳ
“Theo quan điểm mácxit, chu kỳ kinh tế là hình thức biểu hiện chính của khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản Nguyên nhân của nó nằm ở mâu thuẫn giữa xã hội hóa sản xuất và hình thức chiếm hữu tư bản tư nhân”[28;49] Khủng hoảng chu
kỳ biểu hiện ở tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa: sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng Tính chu kỳ của khủng hoảng liên quan tới tái sản xuất
tư bản cố định, hay nói cách khác, chính là quá trình tái sản xuất tư bản cố định là nền tảng vật chất của tính chu kỳ của khủng hoảng Trong điều kiện khủng hoảng,
tư bản cố định bị hao mòn nhưng không phải là hao mòn hữu hình mà là hao mòn
vô hình do năng suất lao động xã hội tăng Tuy nhiên trong quá trình mở rộng sản xuất cho việc phục hồi tư bản cố định đem lại đương nhiên phát triển mất cân đối và vào một thời điểm nhất định lại dẫn đến khủng hoảng
Khủng hoảng chu kỳ được mô tả gồm bốn giai đoạn: khủng hoảng, đình đốn, phục hồi và hưng thịnh Giai đoạn quan trọng nhất là khủng hoảng bởi chính nó tạo nên chu kỳ Các giai đoạn khác đều xuất phát từ giai đoạn này
Việc phân chia các giai đoạn khủng hoảng chỉ mang tính tương đối, còn thực chất các giai đoạn của chu kỳ có liên quan hữu cơ đến nhau Các giai đoạn có thể có
độ ngắn dài khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của từng nước hoặc của từng thời kỳ phát triển Mặc dù vậy nhưng theo lịch sử thì các giai đoạn đó, giai đoạn khủng hoảng và đình đốn vẫn thường dài hơn giai đoạn phục hồi và hưng thịnh Điều này đặc biệt đúng với chủ nghĩa tư bản hiện đại
1.3.3 Khủng hoảng cơ cấu
“Khủng hoảng cơ cấu là một hình thức biểu hiện khá điển hình của các cuộc
khủng hoảng kinh tế nói chung, khủng hoảng kinh tế của chủ nghĩa tư bản nói riêng Khác với khủng hoảng chu kỳ do những yếu tố liên quan đến chu lỳ kinh doanh tạo nên, khủng hoảng cơ cấu có nguyên nhân sâu sa hơn trong chính hệ thống”[28;53]
Khủng hoảng cơ cấu là hiện tượng kinh tế gắn liền với các vấn đề lớn của nhân loại như vấn đề nợ, năng lượng, nguyên liệu, lương thực, môi trường…Về cơ
Trang 17bản, biểu hiện của khủng hoảng cơ cấu được biểu hiện khá rõ nét, ở những giác độ nhất định bởi các cuộc khủng hoảng như khủng hoảng năng lượng thế giới, khủng hoảng lương thực, khủng hoảng nợ, khủng hoảng môi trường…Theo đó, sự xuất hiện của khủng hoảng cơ cấu liên quan đến việc cạn kiệt những tài nguyên dưới lòng đất do sự khai thác quá mức các nguồn nguyên liệu tự nhiên, dẫn đến tăng giá các nguồn nguyên liệu này, đồng thời tiền ẩn những nhân tố ảnh hưởng tới môi trường sinh thái và đến một giới hạn thì khủng hoảng xảy ra
Do vậy, để tránh phải đối diện với khủng hoảng cơ cấu, các quốc gia cũng như thế giới cần có tính cảnh giác đối với vấn đề mang tính tổng thể nêu trên, trong
đó cần có sự quan tâm thỏa đáng tới vấn đề nợ quốc gia
1.3.4 Khủng hoảng tiền tệ - tín dụng
“Khủng hoảng tiền tệ - tín dụng là sự chấn động, rối loạn của hệ thống lưu
thông tiền tệ và tín dụng, nảy sinh do khủng hoảng chu kỳ của sản xuất hoặc do các
sự kiện đặc biệt bất thường về kinh tế và chính trị Trên thị trường tiền tệ, khủng hoảng tiền tệ - tín dụng biểu hiện dưới dạng thiếu tiền cho vay và lãi suất tăng cao Trong thời kỳ khủng hoảng tiền tệ, trong lĩnh vực tín dụng và thương mại xảy ra việc thủ tiêu có tính chất cưỡng bức một phần số dư nợ lẫn nhau của các nhà kinh doanh về kỳ phiếu và giảm khối lượng tín dụng thương mại”[28;56]
Trong lĩnh vực tín dụng quốc tế, khủng hoảng tiền tệ - tín dụng biểu hiện: sự đứt quãng tức thời các mối quan hệ tín dụng quốc tế và sự phá sản của những người vay tiền nước ngoài, sự ách tắc của người xuất khẩu do ngân hàng không cho họ vay thêm những khoản tín dụng mới, sự thiếu hụt lớn của các bảng cân đối thanh toán và giảm sút lớn xuất khẩu tư bản
Ảnh hưởng của khủng hoảng tiền tệ - tín dụng cũng biểu hiện trên cả thị trường chứng khoán và trong lĩnh vực lưu thông tiền tệ Đặc trưng của nó là nạn đói tiền hay là sự rối loạn toàn bộ quá trình lưu thông tiền tệ và sự mất giá đồng tiền Khủng hoảng tiền tệ, với ý nghĩa là dưới mức 100%, trong khi tỷ lệ này lại tăng ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, từ mức 124% lên 214% năm 1997 Châu Á – Thái Bình Dương còn là khu vực có tỷ trọng nợ ngắn hạn so với tổng nợ tăng nhanh nhất trong thời kỳ trên năm 1990 lên 30% năm 1997 sau khi đạt mức cao nhất là 32% năm 1996
Trang 18Khi rơi vào tình trạng mắc nợ trầm trọng – tình trạng nợ nước ngoài nhiều đến mức không thể trả nổi, liên quan đến sự tồn vong của cả dân tộc, các nước đang phát triển sẽ không tiếp cận được với thị trường vốn quốc tế, không thể đạt được những tiến bộ trong phát triển và giảm đói nghèo với việc chi tiêu cho giáo dục, y tế hầu như không có, nền kinh tế dần bị bần cùng hóa và ngày càng tụt hậu…
Nguyên nhân khiến khủng hoảng bùng nổ là do: sự cho vay và vay nợ quá mức; sử dụng nguồn vốn vay không hiệu quả; phần lớn nợ nước ngoài ở các nước vay nợ đều được định giá bằng USD với tỷ giá thả nổi
1.3.5 Khủng hoảng tài chính
“Khủng hoảng tài chính là trạng thái chấn động của hệ thống tài chính, từ
hệ thống lưu thông tiền tệ, tín dụng, đến tài chính nhà nước, biểu hiện chủ yếu là s ự mất ổn định, mất cân đối giữa thu và chi, thiếu hụt nghiêm trọng và kéo dài các nguồn vốn ngân sách nhà nước và tín dụng của ngân hàng, kéo theo lạm phát, đồng tiền mất giá nghiêm trọng Khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ sự thiếu hụt ngân sách do đề phòng và chuẩn bị chiến tranh, tăng cường lực lượng quân sự, hoặc do chi tiêu vào phúc lợi xã hội quá sức chịu đựng của nền kinh tế, hoặc đầu tư nhiều
mà không có hiệu quả…tất cả đều có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính”[28;58]
Khủng hoảng thị trường tài chính xảy ra khi những món nợ đến hạn không thu hồi được, do việc cấp phát vốn, cấp tín dụng không kiểm tra, kiểm soát, không xem xét khả năng hoàn vốn của những chủ thể vay vốn hoặc do chứng khoán, cổ phiếu đột nhiên giảm sút Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ năm 1997 ở Châu Á
là một ví dụ khá điển hình, nó làm bộc lộ những mặt yếu kém, với sắc thái và mức
độ khác nhau ở từng nước, về cơ cấu kinh tế và cơ chế kinh tế
Trong vòng 30 năm qua, đặc biệt là trong những năm 1990, nợ tư nhân ngắn hạn đã gia tăng nhanh chóng ở các nước đang phát triển Sự gia tăng của nợ ngắn hạn ở các nước đang phát triển không chỉ thể hiện ở quy mô tuyệt đối mà còn thể hiện ở tỷ trọng của nó so với tổng kim ngạch xuất khẩu và dự trữ ngoại tệ
1.3.6 Tổng khủng hoảng
Tổng khủng hoảng là khái niệm được các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin đề cập Đó là quan điểm về tổng khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản, nền tảng của quan điểm này là học thuyết của chủ nghĩa Mác – Lênin về sự diệt vong của
Trang 19chủ nghĩa tư bản “Khi chủ nghĩa tư bản phát triển đến mức độ cao (chủ nghĩa đế
quốc) những tiền đề của chủ nghĩa xã hội đã chín muồi và cách mạng nổ ra trên thực tế Đó là thời điểm bắt đầu cuộc khủng hoảng Tổng khủng hoảng nghĩa là ch ủ nghĩa tư bản vẫn còn tồn tại nhưng đang trong giai đoạn tan rã Theo V.I.Lênin, nó
là quá trình sụy đổ của chủ nghĩa tư bản và hình thành chủ nghĩa xã hội”[28;61]
Sau này, quan điểm tổng khủng hoảng tiếp tục được phát triển sâu hơn bởi các học giả Xô Viết, trong đó có nhà lãnh đạo Xtalin Tuy nhiên cách tiếp cận này mang nặng màu sắc chính trị và hệ tư tưởng Với cách tiếp cận như vậy nên quan điểm về khủng hoảng kinh tế đã tập trung quá mức vào việc phân tích những mặt trái của chủ nghĩa tư bản, mà lại đánh giá thấp tiềm năng của chủ nghĩa tư bản
Về sau, nhận thức này đã có sự thay đổi và quan điểm về tổng khủng hoảng dưới ảnh hưởng của học thuyết Mac đó là những chu kỳ kinh tế ngắn hạn khủng hoảng cơ cấu, khủng hoảng chức năng…và nó vẫn là thuộc tính của chủ nghĩa tư bản
1.4 Một số cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới tiêu biểu từ thế kỉ XX đến nay 1.4.1 Đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933
Hoạt động đầu cơ với quy mô lớn được hình thành nhiều vào những năm cuối thập kỷ 20 của thế kỷ XX Chỉ trong năm 1929 đã có một lượng cổ phiếu kỷ lục là 1.124.800.410 được giao dịch trên sàn NYSE Từ đầu năm 1928 đến tháng 9-
1929 chỉ số Dow Jones tăng từ 191 điểm lên 381,39 điểm Không một nhà đầu tư nào có thể bỏ qua mức lợi nhuận như vậy Có thể lấy ví dụ về công ty RCA, công ty này cổ phiếu tăng từ 85 USD lên 420 USD chỉ trong năm 1928, mặc dù cổ phiếu này chưa từng trả cổ tức lần nào
Nguy hiểm hơn, với sự gia tăng ổn định của giá cổ phiếu, người ta bắt đầu vay để mua chứng khoán Cho đến giữa năm 1929, tổng lượng cho vay đang lưu hành của những đơn vị môi giới là hơn 7 tỷ USD, ba tháng sau con số này là 8,5 tỷ USD Lãi suất thanh toán cho các khoản vay này cũng tăng nhanh không kém, đạt mức 20% vào năm 1929 Cơn bùng nổ đầu cơ này hoàn toàn chỉ dựa trên những niềm tin vô căn cứ, và nó trái ngược với sự sụp đổ khủng khiếp vài tháng sau đó
“Giá bắt đầu giảm vào tháng 9-1929, nhưng khi đó các nhà đầu tư nói chung vẫn rất lạc quan và tiếp tục nhảy vào thị trường Ngày thứ Hai (21-10-1929),
Trang 20giá bắt đầu giảm nhanh Khối lượng giao dịch cổ phiếu lớn khủng khiếp Các nhà đầu tư vô cùng hoang mang và sợ hãi Nhận ra rằng giá bắt đầu rơi, chứ không còn tính được giảm bao nhiêu, nhiều người ồ ạt bán ra Điều này làm cho sự sụp đổ diễn ra nhanh hơn Giá cổ phiếu có ổn định một chút vào ngày thứ Ba và thứ Tư, nhưng cho đến thứ Năm (24-10-1929) tất cả đều vỡ tan”[28;77] Hầu hết những nhà
đầu tư lớn đều mất niềm tin vào thị trường, tất cả các nhà đầu tư đều đồng ý ở một điểm: cổ phiếu đã hết tăng Thị trường có hồi phục đôi chút vào thứ Sáu và thứ Bảy sau khi một nhóm các ngân hàng lớn tham gia với nỗ lực cố gắng chặn lại sự sụp đổ của thị trường Nhưng vào thứ Hai tuần sau (28-10-1929), giá tiếp tục giảm 13% Ngày hôm sau, khối lượng lên đến 16,4 triệu cổ phiếu đã được giao dịch Cổ phiếu giảm liên tục, thường xuyên không có người mua Chỉ trong hai ngày, chỉ số Dow Jones giảm 25% Lượng giao dịch cổ phiếu trên sàn đạt mức kỷ lục trong 40 năm
“Từ năm 1929 – 1932, tại sở giao dịch của thành phố New York có 55 loại
cổ phiếu từ 252 USD giảm xuống còn 61 USD; Cổ phiếu của công ty General Motors từ 173 USD giảm xuống còn 8 USD; Cổ phiếu của công ty sắt thép Mỹ United Staes Steel từ 262 USD tụt xuống còn 22 USD Trong thời kỳ khủng hoảng, nước Mỹ có đến 10 vạn ngân hàng phá sản (40% tổng số ngân hàng Mỹ)”[20;31]
Với thực tế là giá chứng khoán đã tăng gấp 4 lần trong thập kỷ trước và kéo dài cho đến năm 1929, nếu quan sát kỹ càng có thể thấy có quá đủ đặc điểm để nhận biết trên thị trường đang hình thành bong bóng
Chuyên viên ngân hàng đầu tư, nhà môi giới, chuyên viên giao dịch và đôi khi cả người sở hữu chứng khoán hợp lại với nhau để đẩy giá chứng khoán lên để
rồi sau đó xả ra khi đã kiếm được lời “Việc đầu cơ chứng khoán tăng cao và đạt
đỉnh trong năm 1929, đồng thời, ngân hàng trung ương đã hạ lãi suất xuống mức thấp chưa từng có trong 7 năm có hệ quả tất yếu là khi “bong bóng” đạt đến độ của
nó, tất nó phải vỡ và điều đó đã diễn ra vào những ngày cuối tháng 10-1929 Để rồi trước khi hạ xuống mức thấp kỷ lục vào tháng 7-1932, chỉ số Dow Jones đã mất 89% và chỉ số này đã không thể phục hồi lại mức đỉnh cao như năm 1929 cho đến mãi năm 1954”[28;78]
Cuộc Đại khủng hoảng bắt đầu từ năm 1929 ở Mỹ, nhưng tác động của nó ảnh hưởng trên toàn thế giới Những hoạt động kinh tế bắt đầu suy giảm từ mùa hè
Trang 21năm 1929 và đến 1933 Trong vòng gần bốn năm, mức sản xuất đã giảm 50%, vật giá giảm xuống 25%, và tỷ lệ thất nghiệp tăng nhanh chóng – 25% dân số trong tuổi lao động tại Mỹ GDP của Mỹ giảm hơn 25% đã xóa đi mọi thành quả kinh tế đạt được trước đó Nền kinh tế suy thoái liên tục từ 1929 – 1933 và bắt đầu cải thiện trong 4 năm 1933 – 1937 Sau đó tiếp tục có giai đoạn điều chỉnh lên xuống nhưng cho đến năm 1940 mới đạt lại mức sản lượng kinh tế trước suy thoái
Cuộc Đại khủng hoảng trên phố Wall tác động lớn tới tăng trưởng Mỹ và cuối cùng ảnh hưởng của nó lan rộng ra toàn thế giới Hệ thống ngân hàng Mỹ bị chấn động mạnh, hành động đầu tiên của Tổng thống Roosevelt khi bắt đầu nhiệm
kỳ tổng thống là đóng cửa tất cả các ngân hàng trong hai tuần để quan chức thuộc FED kiểm tra sổ sách các ngân hàng
Tác động trực tiếp của cuộc Đại khủng hoảng có thể chỉ nhắm vào một số vùng và ngành cụ thể, tuy nhiên tác động gián tiếp của nó như suy thoái, giảm sản lượng, thất nghiệp…là những tác động xuất hiện ở tất cả khu vực, ngành và lĩnh vực
Cuộc khủng hoảng sụp đổ cả thị trường, kéo theo 12 năm khủng hoảng trên phạm vi toàn thế giới và chỉ kết thúc khi chiến tranh thế giới xảy ra Cuộc khủng hoảng này được đánh giá là “tai họa tài chính” lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ Bản thân sự sụp đổ của thị trường chứng khoán, dù có quy mô lớn, vẫn rất nhỏ so với hậu quả kế tiếp của một thị trường được miêu tả như một “nghĩa địa” và tác động hủy hoại của cuộc khủng hoảng
1.4.2 Khủng hoảng nợ khu vực Mỹ LaTinh
Khi nhắc đến khủng hoảng nợ, người ta sẽ hiểu ngay là đang nói đến cuộc khủng hoảng nợ ở khu vực Mỹ Latinh thời kỳ đầu những năm 1980 và nó thường
được biết đến với các tên “Thế kỷ mất mát” (lost decade) [28;91], khi đó các quốc
gia trong khu vực này rơi vào cảnh nợ nước ngoài vượt quá khả năng kiếm tiền và không còn khả năng trả nợ
Trong đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, các nước khu vực Mỹ Latinh có số
nợ và trách nhiệm thanh toán (nợ gốc cộng lãi) ngày một gia tăng “Tỷ lệ nợ dài hạn
trên GDP của các nước khu vực Mỹ Latinh tăng từ 18% năm 1970 lên 25% năm
1980 và tới 60% vào giữa thập niên 80 của thế kỷ XX; tỷ lệ trả nợ và lãi, trong đó
Trang 22so sánh giá trị nợ gốc và lãi với thu nhập từ xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ, lên tới gần 50% Ở Achentina giá trị trả nợ và lãi chiếm tới 80% thu nhập từ xuất khẩu”[28;91]
Khi đó các nước Mỹ Latinh bắt đầu gặp khó khăn trong việc tạo đủ nguồn thu ngân sách và ngoại tệ để thanh toán nợ và trả lãi Trong thời gian nửa đầu năm
1982, có tám quốc gia phải trì hoãn lịch trả nợ
Đến cuối năm 1982 và đầu năm 1983, mối lo ngại về một cuộc khủng hoảng
nợ của các nước kém phát triển đã trở nên phổ biến cả ở những nước nhập khẩu lẫn những nước xuất khẩu tư bản Tổng giá trị những món nợ còn đọng lại các nước kém phát triển đối với các ngân hàng thương mại đã tăng lên gần ba lần từ 160 tỷ USD năm 1979 lên gần 460 tỷ USD năm 1983
Song với sự phát sinh tình hình suy thoái trầm trọng trên thế giới vào đầu những năm 80 cùng với những chính sách bảo hộ mậu dịch lại dấy lên ở các nước công nghiệp nên khả năng trả nợ của các nước kém phát triển càng giảm sút mạnh, kim ngạch xuất khẩu của họ cũng sụt xuống
Bầu không khí “khủng hoảng nợ” lan tràn vào năm 1982 và 1983; những nước vay nợ nhiều như Achentina và Braxin dường như đã gần đến chỗ không còn đường lui Báo chí đã nói nhiều về sự suy sụp tất yếu của nhiều ngân hàng lớn ở Châu Âu và châu Mỹ
Có thể nói tình trạng này xảy ra do không còn lựa chọn nào khác vì khả năng lựa chọn duy nhất khác đi là cho nhiều nước kém phát triển vỡ nợ như thực tế đã xảy ra trong cuộc Đại khủng hoảng hồi những năm 1930 Đến năm 1980, đã có trên
40 nước kém phát triển, trong đó có toàn bộ các nước khu vực Mỹ Latinh, đã buộc phải hoàn trả nợ theo kế hoạch đã định Thực tế chưa có nước nào vỡ nợ, mặc dù gánh nặng nợ nần vẫn đè nặng lên nhiều nước do được hoãn trả thông qua những cuộc thương lượng đôi khi rất tế nhị
Hậu quả của nợ nần đã buộc các quốc gia ở khu vực này phải tiếp tục gõ cửa IMF để vay thêm nợ kèm theo những điều kiện khắc nghiệt Theo thiết kế của các tổ chức tài chính quốc tế, các nước khu vực Mỹ Latinh đã thực hiện chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế Mười năm thực hiện chính sách điều chỉnh nhưng không điều chỉnh nổi sự tụt dốc trầm trọng của đời sống kinh tế - xã hội đất nước, gánh nặng
Trang 23chung của các nước nghèo không những không giảm mà còn tăng lên Càng vay nợ, các nước nghèo càng thêm nghèo và lệ thuộc nặng nề vào các nước chủ nợ
Hơn nữa do lãi suất quá cao nên các nước này ngày càng khó khăn Do sự mất giá của đồng tiền làm cho chi phí trả nợ tăng lên, khiến cho các nước này rơi vào tình cảnh phải trả số nợ cũ cao gấp nhiều lần so với khoản nợ mới Có lúc các nước này phải trả nợ với số tiền gấp 9 lần số tiền mà họ chi cho giáo dục, y tế Hậu quả là dịch vụ xã hội thiếu thốn trầm trọng, hàng triệu người nghèo đã bị cướp đi mạng sống
Để đối phó với cuộc khủng hoảng, hầu hết các nước khu vực Mỹ Latinh đã
từ bỏ chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu và thay vào đó bằng chiến lược công nghiệp hóa hướng ra xuất khẩu Các nguồn vốn rất khổng lồ chảy ra bên ngoài đặc biệt là chảy sang Mỹ, đã được sử dụng để làm tỷ giá hối đoái giảm, từ đó làm tăng tỷ suất lợi nhuận thực tế
1.4.3 Khủng hoảng tài chính – tiền tệ châu Á (1997 – 1998)
Khủng hoảng tài chính – tiền tệ châu Á được đánh giá là cuộc khủng hoảng lớn nhất trong khu vực kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Bắt đầu vào ngày 02-7-1997 khi Thái Lan tuyên bố không có khả năng thanh toán nợ nước ngoài và ngay sau đó cuộc khủng hoảng này đã lan tới nửa thế giới và để lại những hậu quả nghiêm trọng đối với các nền kinh tế trong khu vực và sự tăng trưởng của kinh tế thế giới Khởi đầu từ lĩnh vực tài chính – tiền tệ, tiếp đến lan sang toàn bộ nền kinh
tế và ảnh hưởng không nhỏ tới các lĩnh vực chính trị - xã hội
Ngày 02-7-1997 khi cơ quan tiền tệ của Thái Lan tuyên bố rằng quốc gia này không có khả năng giữ đồng bath theo đồng đôla Mỹ nữa Điều này có nghĩa là Thái Lan chủ trương phá giá đồng bath, kết thúc thời kỳ kéo dài trong suốt 13 năm giữ gìn và mở đầu cho một cuộc khủng hoảng mới, khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở khu vực châu Á Thực chất, không bỗng dưng mà Thái Lan phá giá đồng bath của
mình để cho nền kinh tế lâm vào một tình trạng khó khăn nghiêm trọng “Từ giữa
năm 1996, tỷ giá giữa đồng bath và đồng đôla Mỹ đã không ngừng tăng lên, đến tháng 5-1997 tuy đã dùng mọi nỗ lực để giữ giá đồng bath, nhưng do khoản thâm hụt ngoại tệ khá lớn – 15 tỷ USD nên số phận đồng bath bị thả nổi là không thể tránh khỏi”[28;103] Ngay trong ngày Thái Lan tuyên bố phá giá, đồng bath lập tức
Trang 24giảm giá 16% và sau một tháng, đồng bath mất giá hơn 30% Cùng với nó thị trường chứng khoán Băng Cốc cũng mất giá trị tương đương
Một số nước khác trong khu vực cũng bị đe dọa tương tự “Sau một tháng,
đồng peso và đồng ringgit đã mất khoảng 25% giá trị so với cuối tháng 6-1997, đồng rupia mất giá 40% so với ngày 02-7-1997, thậm chí đồng đôla Singapo cũng mất 6% so với giá trị ban đầu”[28;104] Các dòng đầu tư gián tiếp nước ngoài ở
các nước này cũng đã chảy ra khỏi nền kinh tế của họ tương tự như ở Thái Lan
Tháng 10 – 1997, khủng hoảng bắt đầu xảy ra ở Hàn Quốc Đây là quốc gia nằm trong khu vực Đông Bắc Á với nền kinh tế hùng mạnh (đứng thứ 11) của thế giới Nhưng khủng hoảng đã làm cho nhiều tập đoàn then chốt của Hàn Quốc bị phá sản, thị trường cổ phiếu, đồng won giảm mạnh…làm cho nền kinh tế nước này lâm vào tình trạng suy thoái, kết thúc thời kỳ 1/3 thế kỷ phát triển diệu kỳ của nền kinh
tế sông Hàn Khi cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ “gõ cửa” nền kinh tế Hàn Quốc cũng là lúc phạm vi lan truyền và sự ảnh hưởng của nó đã vượt quá khuôn khổ của các nước Đông Nam Á và lan sang các nước Đông Bắc Á cũng như toàn châu Á và thế giới
Cuối cùng là Nhật Bản, nền kinh tế đứng hàng thứ hai thế giới cũng gặp nhiều khó khăn đối với hệ thống tài chính – tiền tệ Việc đồng yên mất giá so với đồng đôla Mỹ đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế và đời sống nhân dân của Nhật Bản
Ngoài các nước nói trên, khủng hoảng tài chính – tiền tệ châu Á đã ảnh hưởng với các mức độ khác nhau đối với các nước thuộc châu Á và thế giới
Các nguyên nhân dần dần được bộc lộ trong quá trình khủng hoảng Tuy nhiên, nguyên nhân trực tiếp gây ra cuộc khủng hoảng này chính là những cuộc tấn công đầu cơ và việc rút vốn đồng loạt khỏi các nước châu Á Mặt khác, một điều tồi
tệ là thời kỳ này các nước Đông Á hầu như không thể kiểm soát được nợ nước ngoài Cấu trúc tổ chức thị trường nợ khu vực Đông Á, tương tác với tình trạng phá giá tiền tệ đẩy nền kinh tế khu vực tới cuộc khủng hoảng toàn diện Có quá nhiều doanh nghiệp ở những quốc gia này có các khoản nợ phát hành bằng ngoại tệ như đồng USD hay yên Nhật, sự mất giá đồng tiền trong nước làm cho tình trạng vay
Trang 25nợ, xét trên góc độ đồng nội tệ, thêm trầm trọng, ngay cả khi trên thực tế giá trị tài sản của họ không hề thay đổi
Thời kỳ này, các nước trong khu vực đã cố gắng thực hiện một kế hoạch gồm ba chính sách mà các nhà kinh tế gọi là Bộ ba chính sách không thể đồng thời (Giả thuyết này cho rằng không thể thực hiện đồng thời ba chính sách gồm chế độ
tỷ giá hối đoái cố định, chính sách tiền tệ độc lập để ổn định giá cả và tự do lưu chuyển vốn Chỉ có thể thực hiện đồng thời hai trong ba chính sách này mà thôi) Chính vì sự gắng gượng thực hiện ba chính sách trên, khi kinh tế tăng trưởng nhanh, vốn nước ngoài sẽ chảy vào trong nước gây ra áp lực tăng giá nội tệ Khi đó, ngân hàng trung ương muốn bảo vệ chế độ tỷ giá cố định thì phải thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng Song điều này có thể làm tăng lượng cung tiền trong lưu thông dẫn đến tăng tốc lạm phát Muốn lạm phát không tăng tốc, thì phải thực hiện chính sách thanh khoản đối ứng Song như thế thì vốn nước ngoài càng chảy vào nhiều
Và như thế, các nước trong khu vực đã gián tiếp đẩy mình vào cuộc khủng hoảng này Mặt khác, sau cuộc suy thoái 1987, Mỹ đã bước vào một thời kỳ phục hồi nên kinh tế bằng một trong các biện pháp là năng lãi suất để ngăn chặn lạm phát Việc này làm cho Mỹ trở thành thị trường hấp dẫn hơn các nước Đông Á đối với nhà đầu
tư Từ đó làm tăng giá đồng đôla Mỹ, và do đồng tiền của các nước Đông Nam Á được neo vào đôla Mỹ nên xuất khẩu của các nước này trở nên kém cạnh tranh, từ
đó xuất khẩu giảm xuống một cách nhanh chòng làm cho suy yếu tài khoản vãng lai của các nước Đông Á
Một nguyên nhân trực tiếp nữa của khủng hoảng là năng lực xử lý khủng hoảng yếu kém Nhiều nhà kinh tế cho rằng khi mới bị tấn công tiền tệ, đáng lẽ các nước châu Á phải lập tức thả nổi đồng tiền của mình chứ không nên cố sức bảo vệ
tỷ giá để đến nỗi cạn kiệt cả dự trữ ngoại hối nhà nước mà lại càng làm cho tấn công đầu cơ thêm kéo dài Một số nhà kinh tế lại chỉ trích chính sách tài chính thắt chặt của IMF được áp dụng ở các nước xảy ra khủng hoảng càng làm cho khủng hoảng thêm trầm trọng
Để ngăn chặn sự phát triển của khủng hoảng, các nước trong khu vực và một
số nước trên thế giới đã tiến hành các cải cách cơ cấu, gồm: cải tổ cách thức quản lý
Trang 26trong khu vực doanh nghiệp, cải cách tài chính, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, đổi mới phương pháp quản lý kinh tế vĩ mô, và đổi mới cả phương thức tăng trưởng kinh tế
Các nước chịu ảnh hưởng mạnh như Thái Lan, Hàn Quốc, Indonesia đẩy mạnh quá trình cải cách khu vực hành chính - quản lý - điều phối và cách thức quản
lý của khu vực xí nghiệp
1.4.4 Khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008
Cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ “hàng trăm năm mới có một lần” tại Mỹ, theo lời ông Alan Greenspan, cựu Chủ tịch Cục Dự Trữ liên bang Mỹ (FED), đã được dự báo vào năm 2006 Tuy nhiên dự đoán cũng như phân tích của nhiều nhà kinh tế đã không đủ sức thuyết phục để các cơ quan tài chính quyền lực nhất tại Mỹ
và Châu Âu có biện pháp đề phòng Và điều gì đến đã đến – Mùa hè 2007 khủng hoảng bong bóng bất động sản tại Mỹ nổ ra đã đẩy nhiều định chế tài chính lâu năm
đến bờ vực phá sản “Báo cáo Triển vọng kinh tế toàn cầu (World Economic
Outlook) của IMF tháng 10 – 2007 đã chỉ ra những bất ổn trên thị trường nhà đất của Mỹ, mức rủi ro cao do hoạt động cầm cố cho vay của Mỹ, điều này sẽ ảnh hưởng tới các cổ phiếu được thế chấp để vay vốn, và tiếp đến là giảm tính thanh khoản trên thị trường tài chính”[28;120]
Chưa đầy một năm sau đó, người ta đã liên tiếp chứng kiến sự sụp đổ của những định chế tài chính lớn của Mỹ, bắt đầu là Fannie Mae và Freddie Mac Đây
là hai công ty đóng vai trò chủ chốt trong việc vận hành của thị trường nhà ở Mỹ với chức năng bảo lãnh các khoản cho vay cầm cố đối với những người có thu nhập trung bình và thấp, và mua lại những khoản cho vay cầm cố đó từ các tổ chức tài chính khác, nhằm tạo thêm tín dụng cho vay cầm cố Hai công ty này đã được hưởng một khoản trợ cấp trong gói trợ cấp 168 tỷ USD mà chính quyền tổng thống Bush đưa ra hồi tháng 3 – 2008 Đồng thời, cũng vào thời điểm đó hai công ty này được Kho bạc Mỹ và cả FED, cho phép tiếp cận nguồn vốn không hạn chế của họ
để nâng cao tính thanh khoản của hai công ty này
Tuy nhiên, đến đầu tháng 9-2008, ông Paulson – Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ bất ngờ được thông báo rằng, Chính phủ Mỹ trực tiếp bảo trợ, hay nói đúng nghĩa là quốc hữu hóa hai công ty này vì chúng đã mất đi khả năng thanh toán
Trang 27Ngay sau đó, thế giới rung chuyển với những tin tức về sự sụp đổ của những
đế chế tài chính hàng đầu và lâu đời nhất trên thế giới là American International
Group (AIG) – tập đoàn bảo hiểm quốc tế hàng đầu thế giới; “Lehman Brothers –
ngân hàng đầu tư toàn cầu chuyên cung cấp vốn cho các công ty, các chính phủ, các khách hàng thể chế và các cá nhân có thu nhập ròng cao; tiếp đến là Merrill Lynch – ngân hàng đầu tư hàng đầu thế giới được hình thành từ năm 1914 với tài sản khoảng 1,6 nghìn tỷ USD”[27;122] Thị trường chứng khoán New York ngay
lập tức mất hơn 500 điểm, một mức mất điểm trong ngày vào loại cao nhất trong lịch sử Điều này tương tự cũng xảy ra trên các thị trường tài chính toàn cầu Ngoài
ra các ngân hàng đầu tư lớn khác như Morgan Stanley, JP Morgan và Goldman Sachs cũng gặp những khó khăn Ngay sau sự sụp đổ hàng loạt của các tập đoàn khổng lồ, Quốc hội và Chính phủ Mỹ đã lên kế hoạch dành 700 tỷ USD để giải cứu thị trường tài chính Mỹ
Có thể nói cơn địa chấn tài chính thực sự nổ ra vào ngày 7-9-2008 khi hai nhà cho vay cầm cố khổng lồ của Mỹ là Freddie Mac và Fannie Mae đã buộc phải
để chính phủ tiếp quản nhằm tránh khỏi nguy cơ phá sản Sự kiện này tiếp tục châm ngòi cho các vụ đổ vỡ với những tên tuổi lớn khác nhau Vào ngày 15-9-2008, ngân hàng đầu tư lớn thứ 4 nước Mỹ Lehman Brothers sau 158 năm tồn tại đã tuyên bố phá sản Đúng 10 ngày sau, Washington Mutual tạo nên vụ phá sản ngân hàng lớn nhất trong lịch sử với tổng thiệt hại lên tới 307 tỷ USD Ngoài ra, do khủng hoảng tài chính, ngân hàng đầu tư số một nước Mỹ, Merrill Lynch cũng bị thâu tóm bởi Bank of American Chính phủ đã buộc phải bơm 85 tỷ USD vào AIG, để tránh cho thị trường tài chính nước này một kết quả tồi tệ hơn
Tháng 9 và 10-2008 cũng trở thành giai đoạn đen tối với phố Wall khi chỉ số Dow Jones sụt giảm tới 25% giá trị chỉ sau một tháng kể từ ngày 15-9-2008 Kể từ sau giai đoạn này, biến động tại phố Wall trở nên khó lường hơn với nhiều kỷ lục
cả tăng và giảm tồn tại trong hàng chục năm đã bị phá Cho đến cuối năm 2008, gần 1.200 ngân hàng Mỹ đã nộp đơn xin trợ cấp từ Chương trình hỗ trợ của chính phủ
để tránh lâm vào khủng hoảng
Trang 28Bên ngoài nước Mỹ, ảnh hưởng rõ ràng và sớm nhất của cuộc khủng hoảng
là sự sụp đổ của ngân hàng Northern Rock ở Anh Hiệu ứng domino đã phát tán, ảnh hưởng tiếp đến ngân hàng Bradford & Bingley ở Anh và Fortis ở châu Âu
Cụ thể, ở Anh khoảng 10 ngày sau vụ Lehman Brothers có tới 8 ngân hàng lớn nhất ở đất nước này bị rơi vào tình trạng có thể phá sản Cổ phiếu của các ngân hàng này bị sụt giảm liên tục, buộc Chính phủ Anh phải nghĩ tới việc quốc hữu hóa
cả 8 ngân hàng lớn nhất này nhằm tránh một cuộc khủng hoảng tồi tệ cho cả nền kinh tế Vào ngày 29-9-2008, hai tên tuổi lớn nhất trong số đó là Bradford & Bingley (B&B) tuyên bố phá sản và thu hẹp hoạt động, đồng thời bị quốc hữu hóa cùng với ngân hàng HBOC
Ở châu Âu, ngày 25-9-2008 bắt đầu có tin đồn về sự sụp đổ của ngân hàng Fotis là một ngân hàng lớn nhất của Bỉ lúc bấy giờ Ngay ngày hôm sau khác hàng
ồ ạt đến rút tiền khỏi các chi nhánh của ngân hàng này, buộc Chính phủ Bỉ, Đức và Pháp phải ra tay hỗ trợ khẩn cấp Ngân hàng này đã phải bán hầu hết các hoạt động của mình ở Bỉ, Hà Lan và Lúcxămbua Ngay cả nền chính trị của Bỉ cũng rối ren Cuối cùng ngân hàng này được giải cứu nhờ khoản trợ cấp lên tới 11,2 tỷ euro do các nước Đức, Bỉ và Lúcxămbua đồng tài trợ
Trong khi đó ngân hàng cho vay bất động sản hàng đầu ở Đức là Hypo Real Estale cũng có nguy cơ phá sản trong vòng vài ngày nếu không được trợ giúp khi
mà các nhà lãnh đạo Châu Âu bác bỏ kế hoạch giải cứu 35 tỷ euro (48 tỷ USD) Tổng vốn tín dụng cho bất động sản của ngân hàng này ước tính lên tới 30 tỷ euro (43 tỷ USD) Và đến ngày 29-9-2008 Ngân hàng Trung ương Đức (Bundesbank) đã tuyên bố sẽ chi một khoản trợ cấp đủ để giải cứu Hypo Real Estale
Ngay cả Nhật Bản là nơi được coi là an toàn, ít bị dính lứu đến các món nợ cho vay cầm cố dưới chuẩn cũng cảm nhận được áp lực mạnh mẽ từ vụ sụp đổ của Lehman Brothers Các ngân hàng Nhật Bản trước tháng 9-2008 ít bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, họ còn dư luật vốn cung ứng cho thị trường tài chính
Mỹ và châu Âu Nhưng sau tháng 9-2008 với sự sụp đổ của Lehman Brothers tình hình đã thay đổi Các trái phiếu công ty ít được các ngân hàng Nhật Bản mua vì sợ rủi ro Do đó, các công ty đổ xô đến vay ngân hàng Ngân hàng thì không thể tăng
Trang 29cho vay đột ngột và họ phải chọn lọc khách hàng Thực trạng này làm cho tình trạng khan hiếm tín dụng càng trở nên tồi tệ
Đối với các nền kinh tế mới nổi, tháng 9-2008 vẫn được coi là bộ phận cứu
hộ giúp kinh tế thế giới thoát khỏi khủng hoảng, đó là do sau những biến đổi hồi đầu những năm 1990, nhiều nước đã cải thiện được các cân thanh toán của mình và
có dự trữ ngoại tệ lớn như Trung Quốc và Xingapo
Nhưng bước sang tháng 10-2008, nhiều đồng tiền của các nền kinh tế mới nổi bị mất giá mạnh Đồng won Hàn Quốc mất giá 30%, đồng Rand của Nam Phi mất giá 40%, đồng lira của Thổ Nhĩ Kỳ mất giá hơn 30%, đồng hryvnia của Ucraina mất giá 13% - mức giảm lớn nhất kể từ khi nó ra đời năm 1996
Cùng với việc mất giá các đồng tiền của mình, các thị trường chứng khoán của các nước này từ tháng 5-2008 đến đầu năm 2009 đã sụt giảm 60% Nhưng những sụt giảm mạnh nhất đều xảy ra sau những sự kiện hồi tháng 9-2008 ở Mỹ, riêng tháng 10-2008 mức sụt giảm chỉ số chứng khoán ở các thị trường này lên tới 38%
Suy thoái kinh tế thế giới đến ngay sau đó, trong tuyên bố chung của bộ
trưởng tài chính nhóm G7 đã nhận định thế giới đang ở “giai đoạn suy thoái kinh tế
và bất ổn tài chính toàn cầu nghiêm trọng”[28;126]
Nhìn chung, cả ở Mỹ là nơi khởi phát cho đến những nước khác, thì hầu như nạn nhân đầu tiên đều liên quan tới hoạt động cho vay dưới chuẩn, chẳng hạn như Northern Rock và Country Financial Sự kiện Northern Rock và Country Financial
là dấu hiệu báo trước cơn bão sắp đổ xuống thị trường tài chính toàn cầu cũng như làn sóng sát nhập, phá sản và bị chính phủ tiếp quản của các định chế tài chính Vào những tháng cuối năm 2008, cả thế giới đã nằm trọn trong sự rối loạn thật sự về tài chính toàn cầu và gần như mất kiểm soát Nguyên nhân gây ra sự rối loạn này trước hết được nhìn nhận là sự ra đi đột ngột của Lehman Brothers, dẫn đến sự thay đổi hoàn toàn của hệ thống tài chính thế giới, gây ra nguy cơ đổ vỡ toàn hệ thống và đặt nền kinh tế thế giới trước mối đe dọa khủng hoảng lớn chưa từng có trong lịch sử
Sự bùng nổ bong bóng tài chính vào ngày 15-9-2008 tại Mỹ đã khiến cuộc khủng hoảng lan tỏa ngay lập tức trên toàn thế giới và góp phần phơi bày hiện thực của nền kinh tế thế giới với hậu quả thật kinh hoàng: khoảng 35.000 tỷ USD vốn
Trang 30liếng của nhân loại đã bị thiêu rịu kể từ mùa hè năm 2007 Ngoài ra trong bản báo cáo về sự ổn định tài chính thế giới do IMF công bố vào ngày 22-3-2009, đã khẳng định rằng, nếu như cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra hồi mùa hè năm 2007 kéo dài đến năm 2010, thì giá trị các khoản tài sản thế chấp khi đi vay bị mất sẽ lên đến hơn 4.000 tỷ USD, gấp đôi con số mà tổ chức này công bố hồi tháng 1-2009, trong đó
Mỹ bị mất 2.700 tỷ USD, châu Âu gần 1.200 tỷ USD và Nhật Bản 150 tỷ USD
Cuộc khủng hoảng lan nhanh từ khu vực này sang khu vực khác, từ khu vực
tài chính sang khu vực kinh tế thực và tác động mạnh đến kinh tế toàn cầu “Theo
đánh giá của Tổng thống Mỹ Barack Obama, đây không phải là cuộc suy thoái thông thường, mà Mỹ đang trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng nhất
kể từ cuộc Đại khủng hoảng 1929 – 1933”[28;129]
Tình trạng đóng băng của hệ thống tài chính tiếp tục dẫn đến sự giảm sút trong các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp cũng như chi tiêu của người dân Hệ quả của tình trạng trên là nhiều doanh nghiệp phá sản và đẩy tỷ lệ thất nghiệp tại nhiều quốc gia tăng cao, chi tiêu và chỉ số lòng tin của người tiêu dùng rơi xuống mức thấp nhất trong nhiều năm Khủng hoảng cũng lan rộng và nhấn chìm kinh tế nhiều nước trên thế giới, từ các nước châu Âu có nền kinh tế lớn như Anh, Đức, Pháp Italia…đến các nước kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ…đều không tránh khỏi suy thoái
Như vậy, cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính gây nên những tổn thất to lớn trên thế giới hiện nay đang thu hút sự quan tâm không chỉ của chính phủ các nước
mà còn của giới nghiên cứu trên toàn thế giới Cuộc khủng hoảng kinh tế đã được
mổ xẻ, phân tích từ nhiều góc độ khác nhau Trong đó, phân tích về nguyên nhân và hậu quả của cuộc khủng hoảng chẳng những giúp chính phủ các nước có cơ sở khoa học đúng đắn cho những giải pháp ngăn chặn, khắc phục khủng hoảng, ngăn ngừa các cuộc khủng hoảng có thể xảy ra trong tương lai, mà còn dự báo đúng xu hướng vận động, phát triển của kinh tế thế giới để có định hướng đúng cho sự phát triển kinh tế đất nước
Trang 31Chương 2: Những điểm giống và khác nhau giữa cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 với cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 đến nay
Về mức độ, quy mô cuộc khủng hoảng hiện nay là nghiêm trọng nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai và có thể so sánh với cuộc đại suy thoái 1929 -
1933 Giữa hai cuộc khủng hoảng mang tính thế kỷ này có nhiều điểm giống nhau, song cũng có nhiều điểm khác nhau
2.1 Những điểm giống nhau
Mặc dù hai cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933 và 2008 đến nay diễn ra vào các thời điểm khác nhau, song giữa hai cuộc khủng hoảng này có một số nét giống nhau tập trung ở những khía cạnh sau đây:
2.1.1 Nguyên nhân khủng hoảng
Cả hai đều bắt nguồn từ sự yếu kém trong việc quản lý hệ thống tài chính - tiền tệ và đều do "xài quá cái làm ra" Khủng hoảng năm 1929-1933 do các ngân hàng mọc ra quá nhiều không kiểm soát nổi, đồng lương vượt xa lợi nhuận, tiêu dùng vượt ngưỡng tín dụng an toàn Lần này, khủng hoảng 2008 cũng bắt nguồn từ chính sách tín dụng và tiêu dùng quá dễ dãi kéo dài nhiều năm, các ngân hàng đua nhau cấp tín dụng cho việc mua nhà trả góp, sự nới lỏng quá mức các khoản tín dụng thế chấp, chứng khoán hóa các khoản vay dẫn đến các khoản nợ dưới chuẩn
và rủi ro tín dụng, hoạt động không hiệu quả của hệ thống giám sát tài chính tạo nên bong bóng bất động sản, khi bong bóng nổ thì hệ thống ngân hàng tức thời đổ vỡ
Việc cấp vốn tín dụng quá dễ dàng đã tạo ra sự lạm dụng, từ đó dẫn đến khủng hoảng 1929-1933 Chính sách cho vay dễ dàng của chính phủ đã giúp cho sự mua bán cổ phiếu càng phát triển Chẳng riêng gì thương gia đầu cơ chuyên mua bán cổ phiếu, mà ngay đến người dân thường cũng mua cổ phiếu với hy vọng được phát tài Người ta mua chứng khoán không phải để tạo ra một khoản đầu tư ổn định
mà chủ yếu là để đầu cơ Số lượng phát hành cổ phiếu đã vượt quá số tiền trong xã hội Chính vì vậy khi cổ phiếu hơi xuống giá là họ vội vã bán ra số cổ phiếu trong tay Thế là ngành tín dụng trở thành khâu yếu nhất trong hệ thống kinh tế Mỹ
Đối với cuộc khủng hoảng hiện nay, việc một số lượng lớn người dân đổ xô vào vay tiền ngân hàng (trả lãi và vốn trong một thời gian dài) là do tình trạng lãi suất và dễ vay mượn ở Mỹ mà Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) thực hiện để khuyến
Trang 32khích sản xuất và tiêu dùng, cứu nền kinh tế Mỹ khỏi suy thoái sau cuộc khủng hoảng năm 2000-2001 Trong bối cảnh thực hiện các chính sách tự do hoá kinh tế, Chính phủ Mỹ còn thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ trong một thời gian dài Để phục hồi nền kinh tế Mỹ sau cuộc suy thoái kinh tế năm 2001, Cục Dự trữ liên bang
Mỹ (FED) đã liên tiếp giảm lãi suất liên ngân hàng (từ 6,5% xuống còn 1,75%), theo đó, lãi suất cho vay của tín dụng thứ cấp cũng giảm xuống thấp Chính sách nới lỏng tiền tệ (chính sách đồng đôla rẻ) đã kích thích người dân vay tiền mua nhà
và các tổ chức tín dụng thì sẵn sàng cho vay, đầu tư mạo hiểm
Tóm lại, sự buông lỏng quản lý nhà nước và những sai lầm trong chính sách kinh tế của nhà nước là nguyên nhân sâu xa hơn của cuộc khủng hoảng tài chính ở
Mỹ vừa qua Kinh tế thị trường Mỹ dựa chủ yếu trên sở hữu tư nhân, lợi nhuận là động cơ mạnh mẽ thúc đẩy các doanh nghiệp năng động, nhưng cũng là nguyên nhân thúc đẩy các doanh nghiệp đầu cơ, thậm chí sẵn sàng vi phạm pháp luật, vi phạm các chuẩn mực đạo đức xã hội, phá vỡ những cân đối duy trì sự phát triển ổn định của nền kinh tế, dẫn tới khủng hoảng
2.1.2 Tính chất cuộc khủng hoảng
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 và khủng hoảng 2008 đến nay xảy ra trong khoảng thời gian cách xa nhau Song về tính chất của hai cuộc khủng hoảng vẫn có những nét tương đồng, thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất, cả hai cuộc khủng hoảng đều mang đậm tính chất của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khởi đầu là do sự bùng nổ của các “bong bóng” tài chính Trong kinh tế dịch vụ, tài chính - ngân hàng có vị trí quan trọng nhất Nhiều ngân hàng, nhiều tổ chức tài chính của Mỹ đã hoạt động và phát triển không chỉ trong phạm vi nước Mỹ, mà còn trong phạm vi toàn cầu như Bear Steams; JP Morgan Chase; Bank of America; American international Group với số vốn từ hàng tỷ đến hàng trăm tỷ USD
Với quy mô, phạm vi hoạt động và tổ chức lớn như vậy, khi khủng khoảng xảy ra, nhiều ngân hàng và tổ chức tài chính gánh chịu hậu quả đầu tiên Thị trường chứng khoán là nơi mua bán các cổ phiếu, là trung tâm của kinh tế doanh nghiệp và
là chiếc gương phản chiếu về tình hình kinh tế cơ bản Khi thị trường bùng nổ, nhiều người bị cuốn vào cuộc chơi, xuất hiện sự đua nhau đầu cơ chứng khoán theo
Trang 33kiểu "bầy đàn", đẩy giá chứng khoán tăng lên, đáp ứng được lòng mong đợi, song chỉ là phần thưởng trên giấy tờ Do đó, nếu giá chứng khoán bất ngờ tăng lên do hy vọng và mơ tưởng sẽ dễ sụp đổ, đưa nhiều người tham gia thị trường chứng khoán gặp khó khăn, thậm chí phá sản
Thứ hai, hai cuộc khủng hoảng này đều mang tính chu kỳ Từ khi cuộc sản xuất thừa đầu tiên nổ ra ở Anh vào năm 1825 và dấu mốc quan trọng khẳng định tầm vóc thế giới của loại hình khủng hoảng này là năm 1847-1848, khi nó đồng thời tàn phá cả bốn nước tư bản phát triển lúc đó là Anh, Pháp, Mỹ, Đức Tiếp đó trung bình cứ khoảng từ 8-10 năm, cuộc khủng hoảng chu kỳ lại xảy ra một lần Trong số các cuộc khủng hoảng chu kỳ thì cuộc Đại khủng hoảng kinh tế 1929-1933 gây tổn thất to lớn nhất Theo chu kỳ, đến năm 2008 lại tiếp tục diễn ra khủng hoảng kinh tế thế giới Tuy nhiên đã có sự rút ngắn khoảng cách giữa các chu kỳ và ranh giới giữa các giai đoạn của một chu kỳ nhạt dần, có sự lệch pha ngày càng rõ nét của các trung tâm tư bản chủ nghĩa trong các giai đoạn vận động của chu kỳ
Thứ ba, hai cuộc khủng hoảng này đều mang tính quốc tế sâu sắc, cả về tác động lan truyền lẫn những nỗ lực tài chính nhằm thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng Tính chất quốc tế của chúng còn thể hiện qua các thông điệp – cảnh báo chung về chính sách tăng trưởng mà chúng đưa ra cho tất cả các nước Sự sụp đổ của ngân hàng Mỹ kéo theo sự phá sản của hàng loạt ngân hàng các nước trên thế giới; khủng hoảng của kinh tế Mỹ gây ra khủng hoảng, suy thoái kinh tế thế giới Trong hệ thống tài chính thế giới với vai trò chi phối của Mỹ hiện nay, nước Mỹ đã buộc cả thế giới phải chia sẻ, cũng trả giá cho những sai lầm, bất ổn của kinh tế Mỹ Bởi vậy, để ngăn chặn và khắc phục khủng hoảng kinh tế thế giới, trong khi nước Mỹ kêu gọi các nước đổ tiền ra để cứu hệ thống ngân hàng, thì nhiều nước, nhất là những nước lớn và kinh tế phát triển như Đức, Pháp, Trung Quốc, Nga,… lại kêu gọi trước hết phải cải tổ lại hệ thống tài chính toàn cầu
Mặc dù hai cuộc khủng hoảng xảy ra ở những thời điểm khác nhau nhưng đều mang những tính chất cơ bản của một cuộc khủng hoảng Những tính chất này
đã chi phối rất lớn đến cuộc khủng hoảng và ảnh hưởng không nhỏ cho việc đề ra các biện pháp, phương hướng để khắc phục hậu quả khủng hoảng
Trang 342.1.3 Cả hai cuộc khủng hoảng đều bắt đầu từ Mỹ
Cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay và cuộc khủng hoảng 1929-1933 đều bắt đầu từ cuộc khủng hoảng tài chính trở thành cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ sau
đó nhanh chóng lan rộng, làm suy giảm kinh tế toàn cầu
Cả hai cuộc đều nổ ra tại nước Mỹ - một nền kinh tế lớn nhất thế giới Mỹ là cường quốc đứng đầu thế giới về kinh tế, là thị trường hàng hóa và tư bản lớn nhất Trật tự kinh tế sau chiến tranh thế giới thứ hai, ở mức độ rất lớn được hình thành trên cơ sở sức mạnh của nền kinh tế Mỹ Những vấn đề nảy sinh trong nền kinh tế
Mỹ không thể không tác động đến các nước tư bản và toàn bộ nền kinh tế thế giới Kinh tế Mỹ là một nền kinh tế lớn chiếm 30% tổng sản lượng chu chuyển vốn của thị trường thế giới, chiếm khoảng 25% GDP thế giới
Nền kinh tế Mỹ gắn chặt với nền kinh tế toàn cầu, nhiều tổ chức thương mại lớn do Mỹ chi phối, các chính sách Mỹ đề ra ít nhiều có ảnh hưởng tới sự phát triển chung của thế giới Khi nền kinh tế Mỹ bị khủng hoảng thì nó mau chóng lan rộng khắp thế giới và trở thành cuộc khủng hoảng toàn cầu, vì chỉ có một nền kinh tế lớn với tác động lớn thì mới gây ra hậu quả như vậy
Cuộc Đại khủng hoảng 1929-1933 bắt đầu từ Mỹ và đã nhanh chóng lan rộng, dội vào các nước tư bản châu Âu và thế giới Trước hết là Đức, Ý, Nhật là những nước phụ thuộc nhiều vào Mỹ, nên đã lần lượt rơi vào khủng hoảng, khốn đốn Còn các nước ở Anh, Pháp cuộc khủng hoảng cũng lan tới nhưng không nặng
nề như ở Mỹ và Đức Cuộc khủng hoảng cũng lan tới các quốc gia tại Nam Mỹ và Châu Đại Dương là những nước dựa vào việc xuất khẩu các loại sản phẩm nông nghiệp
Khủng hoảng kinh tế 2008 bắt đầu vào ngày 15-9-2008 tại Mỹ, “cuộc khủng
hoảng đã lan nhanh ra toàn thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển Tiếng chuông báo động đầu tiên là sự sụp đổ của ngân hàng nhiều năm tuổi Lehman Brothers” [9;25] sau 158 năm tồn tại đã tuyên bố phá sản Bên ngoài nước Mỹ, ảnh
hưởng rõ ràng và sớm nhất của cuộc khủng hoảng là sự sụp đổ của ngân hàng Northern Rock ở Anh
Ở châu Âu, ngày 25-9-2008 bắt đầu có tin đồn về sự sụp đổ của ngân hàng Fotis là một ngân hàng lớn nhất của Bỉ lúc bấy giờ Ngay ngày hôm sau khách hàng