TDNĐ gồm tổ hợp nhiều bài tập với các cử động khéo léo linh hoạt của cơ thể, bước chân theo nhạc một cách nhịp nhàng, độ dẻo tốt khiến cho các cử động của cơ thể trở nên uyển chuyển, với
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
- -
NGUYỄN THỊ THANH
Nghiên cứu hiệu quả của TDNĐ (aerobic) đến sự phát triển thể lực và hình thái cho học sinh nữ khối
10 Trường THPT Hòa Vang - Tp Đà Nẵng
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SƯ PHẠM GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Thể dục thể thao (TDTT) là một lĩnh vực không thể thiếu trong nền văn hóa của mỗi dân tộc, cũng như nền văn minh nhân loại Ngay từ khi mới ra đời TDTT là một bộ phận hữu cơ của nền văn hóa xã hội, là phương tiện giáo dục và chiếm một vị trí vô cùng to lớn Bởi TDTT không những mang lại sức khỏe cho con người, mà còn làm cho con người có một tinh thần thoải mái và
có lối sống lành mạnh Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của TDTT đối với sức khỏe, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói:
“Mỗi người dân yếu ớt tức là cả nước yếu ớt, mỗi người dân mạnh khỏe tức là cả nước mạnh khỏe” Vì vậy nghành TDTT cần phải quan tâm nhiều đến giáo dục thể chất (GDTC) trong trường học các cấp, phong trào thể thao quần chúng và thể thao thành tích cao, đặc biệt là GDTC trong trường học Thực hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về TDTT và GDTC trong trường, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc bồi dưỡng và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân đặc biệt là thế hệ trẻ, chủ nhân tương lai đất nước
Điều 14 pháp lệnh TDTT nhấn mạnh : “GDTC trong trường học là chế
độ giáo dục bắt buộc nhằm tăng cường sức khỏe phát triển thể chất, góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu toàn diện cho người học” Nghị quyết Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VI năm 1986 mở đầu thời
kì đổi mới đã khẳng định: “Mở rộng và nâng cao chất lượng phong trào TDTT quần chúng, từng bước đưa việc rèn luyện thể thao thành thói quen hằng ngày của đông đảo nhân dân trước hết là thế hệ trẻ Nâng cao chất lượng GDTC trong nhà trường” Khoa học cũng như đời sống xã hội đã chứng minh TDTT là phương tiện tích cực nhất chủ động nhất và có hiệu quả hết sức to lớn trong công cuộc giữ gìn, cũng cố và nâng cao sức khỏe cho mọi người thuộc mọi độ tuổi khác nhau Nhận thức được tầm quan trọng của công tác GDTC và hoạt động thể thao, học sinh nhiều trường THPT đã thực hiện đầy
Trang 3đủ những quy định của bộ GD & ĐT về nội dung chương trình GDTC và vận dụng một cách sáng tạo điều kiện cụ thể của từng trường Điều đó đã góp phần rất lớn vào việc nâng cao chất lượng GDTC cho học sinh
Trong thể dục gồm có: Thể dục phát triển chung, thể dục dụng cụ, thể dục thực dụng, thể dục nhịp điệu (Aerobic)….Trong đó, TDNĐ(Aerobic) là môn thể thao được mọi người ưa chuộng và phổ biến với nội dung phong phú
đa dạng, nó là một phương tiện hữu ích để nâng cao sức khỏe, hoàn thiện thể chất cho con người Vì vậy, ở nước ta TDNĐ đã thu hút được nhiều đối tượng tham gia tập luyện, là một động lực quan trọng để góp phần hoàn thiện về mặt thể chất Ngoài ra còn có tác dụng tích cực, thúc đẩy các mặt giáo dục khác phát triển Một cơ thể khỏe mạnh, duyên dáng, vóc dáng thon thả là niềm mong muốn tự nhiên của tất cả các bạn nữ TDNĐ làm cho thân hình của các bạn nữ trở nên cân đối và là điều kiện đặc biệt để mở rộng khả năng thích nghi, nâng cao tính bền vững của cơ thể trước tác động của những yếu tố không lành mạnh
TDNĐ gồm tổ hợp nhiều bài tập với các cử động khéo léo linh hoạt của
cơ thể, bước chân theo nhạc một cách nhịp nhàng, độ dẻo tốt khiến cho các cử động của cơ thể trở nên uyển chuyển, với sự vận động đa dạng của các động tác: Vận động tại chổ và di chuyển như chạy, nhảy, vũ đạo và các thao tác trong sự phối hợp với âm nhạc có sự truyền cảm cao, làm hấp dẫn người tập ở các đối tượng khác nhau, đặc biệt là lứa tuổi thiếu niên TDNĐ là một nội dung quan trọng của thể dục sức khoẻ cho mọi người, ngoài vẻ đẹp của động tác, tính sinh động của bài tập, TDNĐ không chỉ thể hiện dưới nền nhạc, mà TDNĐ đáp ứng được nhu cầu thị hiếu của người tập ở mọi lứa tuổi, giới tính
và trình độ tập luyện khác nhau Vì vậy, TDNĐ góp phần tăng cuờng sức khỏe, phát triển các tố chất thể lực và các phẩm chất tâm lý cần thiết
TDNĐ ảnh hưởng tích cực đến phát triển hình thể, tạo dáng cân đối và năng lực vận động nhịp điệu Với nhu cầu vì mục đích khỏe, trẻ, phát triển
Trang 4thẩm mỹ vận động như: Hành vi chính xác, phối hợp vận động, tính nhịp điệu dùng sức mạnh hợp lý và khéo léo Luyện tập TDNĐ trở thành mục tiêu cho tất cả các bạn nữ, bởi nó đem lại cho con người một sức khỏe tốt, sự mềm mại dẻo dai, khéo léo trong các động tác và vẻ đẹp thông minh duyên dáng và lịch thiệp
Phát triển các tố chất thể lực là tiền đề quan trọng để đạt được yêu cầu
về số lượng và chất lượng động tác trong TDNĐ, nếu các tố chất thể lực không được phát triển đầy đủ thì sẽ dẫn đến những khó khăn trong quá trình luyện tập và hoàn thiện động tác Bên cạnh việc trang bị cho các em toàn bộ
hệ thống kiến thức về tất cả các môn học, việc chuẩn bị một thể lực dồi dào sung mãn và thân hình hài hòa cân đối là không thể xem nhẹ Bất kì một việc
gì muốn hoàn thành tốt thì điều kiện đầu tiên và tất yếu là phải có sức khỏe Tuy nhiên, phát triển như thế nào thì cần phải có quá trình lâu dài, tiến trình nghiên cứu và thử nghiệm để tìm ra được những bài tập tối ưu nhất, phù hợp với quy luật phát triển theo lứa tuổi và giới tính của các em Đó là những bài tập tương đối đơn giản nhưng mang lại hiệu quả, bởi sự tác động của nó tới sự phát triển thể chất của con người Thể lực không những giúp học sinh có được một sức khỏe tốt, một cơ thể cường tráng mà còn giúp học sinh có thể hoàn thành tốt các môn học khác trong nhà trường
Vì vậy, việc nghiên cứu hiệu quả của TDNĐ đến sự phát triển thể lực nữ học sinh là điều rất cần thiết
Xuất phát từ những lí do trên và dựa vào định hướng nghiên cứu khoa học GDTC của nghành giáo dục và đào tạo, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu
đề tài:
“Nghiên cứu hiệu quả của TDNĐ (aerobic) đến sự phát triển thể lực
và hình thái cho học sinh nữ khối 10 Trường THPT Hòa Vang - Tp Đà Nẵng”
Trang 5Chương I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước về GDTC trong trường học
Ngay từ khi thành lập chính quyền, năm 1945 Đảng và nhà nước ta đã hết sức coi trọng công tác giáo dục con người phát triển toàn diện nói chung
và nâng cao năng lực nói riêng, coi đây là tài sản của đất nước, các văn bản pháp lý của Đảng và Nhà nước ta đều nhấn mạnh TDTT là công tác cách mạng, là công cụ tác động tích cực đến đời sống xã hội Là bộ phận quan trọng trong sự nghiệp giáo dục con người phát triển toàn diện về mọi mặt Trên cơ sở chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, hàng loạt các văn bản pháp quy về công tác TDTT nhằm góp phần thực hiện nhiệm vụ, phát triển kinh tế xã hội từng thời kì đã được ban hành Nhằm nêu rõ mục đích giữ gìn sức khỏe cho thế hệ trẻ Ngay khi tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước, ngày 02 tháng 06 năm 1969 Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ thị số 48/TTg-CT, trong đó phân tích chặt chẻ tình hình công tác giáo dục thể chất cho học sinh, nguyên nhân của các mặt thiếu sót trong thực hiện công tác này
và đề ra các biện pháp lớn, Nhằm đẩy mạnh nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong nhà trường các cấp Tiếp theo đó hàng loạt các chỉ thị 106/TC-TW; 181/TC-TW; 180/TC-TW; 22/TC-TW về công tác TDTT trong suốt thời kỳ
từ từ 1958 đến 1975 Đảng ta đều nhấn mạnh đến vai trò của thể dục thể thao như một công tác cách mạng, trong đó nhiệm vụ chủ yếu là chăm sóc sức khỏe, tăng cường thể chất cho nhân dân nhất là thanh thiếu niên Hiến pháp năm 1980 đã xác định tại điều 48 “ Nền TDTT Việt Nam có tính độc lập, khoa học và nhân văn được phát triển mạnh mẽ và cân đối, nhằm tăng cường sức khỏe và bồi dưỡng thể lực của nhân dân để xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc”
Trang 6Nghị quyết đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VI năm 1986 mở đầu thời kỳ đổi mới đã khẳng định “ Mở rộng và nâng cao chất lượng phong trào TDTT quần chúng, từng bước đưa việc rèn luyện thể thao thành thói quen hằng ngày của đông đảo nhân dân, trước hết là thế hệ trẻ Nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong nhà trường” Đại hội cũng thông qua ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 trong đó khẳng định: “ Bảo vệ nâng cao sức khỏe và thể chất nhân dân, chống suy dinh dưỡng trẻ em, tăng chiều cao cân nặng thế hệ trẻ” như một nội dung quan trọng trong chính sách bảo đảm xã hội và bảo đảm sức khỏe của nhà nước ta trong suốt thời kỳ 1991 đến
2000
Đại hội lần thứ VIII năm 1996 đặt vị trí chủ chốt của con người với tầm chiến lược sâu sắc hơn của thời kỳ mới sự cường tráng về thể chất và nhu cầu của bản thân con người, đồng hành là vốn quý để tạo ra tài sản trí tuệ và vật chất cho xã hội Chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội, tất cả các cấp, các ngành, các đoàn thể “ vì vậy trong báo cáo về chất lượng và hiệu quả trong trường học” đã nêu giáo dục thể chất nhằm phát huy nguồn lực của con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững Cụ thể của chương trình này, Ban Bí thư trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã có chỉ thị 36-TC/TW về công tác TDTT trong giai đoạn mới, trong đó nhấn mạnh:“ Thực hiện giáo dục thể chất trong tất cả các trường học
là làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hằng ngày của học sinh, sinh viên…” Công tác TDTT được đề cập một cách cấp thiết trong các văn bản pháp luật do Quốc hội thông qua như: Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân, luật chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho các em nhỏ phát triển thể chất trở thành trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và nhân dân
Trước thực trạng khó khăn về nhiều mặt, trong phát triển TDTT và đòi hỏi đổi mới trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Chính phủ
đã ban hành chỉ thị 133/TTg ngày 07 tháng 03 năm 1995 về việc xây dựng
Trang 7quy hoạch phát triển ngành TDTT, trong đó tiếp tục yêu cầu Bộ giáo dục và Đào tạo cần đặc biệt coi trọng giáo dục thể chất trong nhà trường Cải tiến nội dung giảng dạy thể dục nội khóa, ngoại khóa, quy định tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho học sinh ở các cấp
Tóm lại, công tác giáo dục thể chất trong trường học, góp phần chăm lo sức khỏe và phát triển thể chất cho thế hệ trẻ được Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi trọng trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước Đây cũng là mục tiêu cơ bản quan trọng nhất trong giáo dục con người phát triển toàn diện, nhằm đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước Con người phải được: “ Phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, trong sáng về đạo đức, phong phú về tinh thần” Nghị quyết trung ương 4 khóa VII
Ngày nay, vấn đề giáo dục thể chất trong trường học cũng trở nên quan trọng trước yêu cầu đào tạo con người phát triển toàn diện Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển việc nâng cao chất lượng giờ học nội khóa cho học sinh phổ thông, góp phần phát triển thể chất cho học sinh chính
là chủ trương của Đảng và Nhà nước vào đời sống giáo dục nhân cách cho con người
Từ thực tế cuộc sống, đòi hỏi con người cần phải có sức khỏe – đức – trí – thậm mỹ Để đáp ứng được yêu cầu đó, thì việc phát triển thể lực đóng một vai rất quan trọng, không thể thiếu được
1.2 Đặc điểm phát triển thể chất trong thể dục nhịp điệu (aerobic)
1.2.1 Độ dẻo
- Có độ dẻo tốt giúp các em phần nào tránh được chấn thương trong cuộc sống và tập luyện thể dục nhịp điệu (Aerobic), bởi nếu cơ không đủ mạnh, khớp không đủ dẻo, dễ dẫn đến những hoạt động sai lệch, phá vỡ làm đau các bộ phận trong cơ thể
Trang 8- Có độ dẻo tốt khiến cho các cử động của cơ thể trở nên uyển chuyển, đẹp đẽ
- Để tăng chỉ số của độ dẻo cần phải thực hiện trong từng giờ học và củng cố ít nhất 2 đến 3 lần tập trong một tuần, biên độ thực hiện động tác phải được tăng từ từ để tránh gây chấn thương ở các khớp, các cơ
1.2.2 Sức nhanh
Sức nhanh có ý nghĩa thực dụng lớn, người có phản ứng nhanh trong tình huống này thì cũng sẻ phản ứng nhanh trong tình huống khác Tập các bài tập có độ khó khác nhau sẽ nâng cao sức nhanh phản ứng
Để tập các bài tập sức nhanh có hiệu quả, cần thực hiện các nguyên tắc sau:
- Cường độ luôn luôn được duy trì ở mức tối đa, trong mỗi lần thực hiện bài tập
- Thời gian bài tập đảm bảo duy trì tốc độ tối đa
- Khả năng lặp lại được quy định theo khả năng duy trì tốc độ tối đa
- Quãng nghỉ giữa các lần tập phải đủ cho cơ thể hồi phục hoàn toàn
1.2.3 Sức mạnh
Để bài tập phát triển sức mạnh được thực hiện có hiệu quả cần chấp hành các nguyên tắc sau:
- Tư thế ban đầu để thực hiện động tác phải đúng
- Thực hiện các động tác đúng về biên độ, phương hướng cử động
- Thực hiện cho đến khi nào không làm được nữa
- Tập luyện các bài tập có tác dụng cân đối tốt cho tất cả các nhóm trong cơ thể
- Tác động của bài tập sẽ khác nhau nếu như chúng ta thay đổi những
cử động của bài tập Ví dụ: Thay đổi phương, hướng của tay, chân, thân… Nếu muốn cơ thể tăng trưởng, bài tập được tập nhịp độ trung bình có thêm trọng lượng phụ 0.5 đến 2.5 kg Nếu muốn phát triển sức mạnh mà cơ thể
Trang 9không thay đổi về độ lớn, thì nên tập các bài tập nhịp độ nhanh, thở đều nhịp nhàng trong khi tập, không nên nín thở
Sau bài sức mạnh cần sắp xếp các bài tập độ dẻo, kéo dãn các nhóm cơ vừa tập
1.2.4 Khéo léo
Đặc điểm cơ bản của độ khéo léo là thói quen hoạt động linh hoạt, hầu hết các bài tập thể dục đều nhằm phát triển khả năng phối hợp động tác Tuy nhiên, có thể chia các nhóm động tác nhằm hướng vào hình thành độ khéo léo
- Các bài tập thả lỏng: Các động tác liên kết đòi hỏi người tập phải làm chủ được kỹ thuật
- Các bài tập mô phỏng động tác được thực hiện trong một thời gian tối thiểu nhằm đưa người tập đến một động tác mới
1.3 Đặc điểm tâm lí, sinh lí của học sinh nữ THPT
Ở thời kì này tâm lí, sinh lí của các em đã chuyển sang một thời kì mới Khi bước sang giai đoạn mới, các em đã phát triển đầy đủ các chức năng tâm
Trang 10sinh lí và đây được xem là giai đoạn mà bản thân các em luôn tự phấn đấu, để
đi tới mục đích cao nhất là sự hoàn thiện mình Lứa tuổi thanh niên mới lớn là thời kì dồi dào về thể lực và trí lực, là thời kì thích tìm cái mới trong học tập
và lao động
1.3.1 Về mặt tâm lí học
Đến lúc này, các em đã phát triển đầy đủ các chức năng tâm lí, là giai đoạn thống nhất hài hòa của con người, gắn liền với sự nâng cao một cách rõ rệt năng lực làm việc Nhân cách các em cơ bản được hình thành và luôn có tính độc lập cao, có khả năng phân tích tổng hợp muốn tìm hiểu, có nhiều ước
mơ hoài bảo nhưng vẫn còn rất nhiều nhược điểm và kinh nghiệm trong cuộc sống
Mặc dù khí chất của nam và nữ cùng một loại hình, nhưng chúng khác nhau trong khía cạnh biểu hiện tâm lí, khuynh hướng và phản ứng đối với các trạng thái căng thẳng thần kinh, cảm xúc Đối với nữ ở lứa tuổi này, cần sự dịu dàng, thân mật, nhẹ nhàng hay mơ mộng Chú ý đến hình thức và thích làm đẹp Ở nam tính cách mạnh mẽ hơn, quyết đoán hơn, thích khám phá mọi việc xung quanh mình
* Sự phát triển trí tuệ: Ở thời kì này, trí tuệ phát triển rất nhạy bén và phát triển ở trình độ cao, tư duy trở nên chắc chắn nhờ có khả năng khái quát hóa các vấn đề, trừu tượng hóa được phát triển cao Ở lứa tuổi này, các em rất nhạy bén với cái mới, cái tiến bộ Ở lứa tuổi THPT ghi nhớ có chủ định của các em cũng tăng tiến rõ rệt, nhờ sự phát triển của chú ý có chủ định, của tư duy trừu tượng, của hứng thú nhận thức Nhưng bên cạnh đó, cần đề phòng những thiếu sót về trí nhớ thường mắc phải, như thiên hướng ghi nhớ đại khái, xem thường ghi nhớ máy móc, chỉ ghi nhớ ý nghĩa chung chung
* Đời sống tình cảm: Lúc này các em đã có một đời sống tình cảm phong phú và sâu sắc, tình cảm các em được mở rộng và có cơ sở lí trí vững chắc, các em rất nhạy bén trước các tình huống và phát hiện ra các điểm xấu,
Trang 11tốt và những điều bất công Vấn đề nổi bật trong đời sống tình cảm của các
em là tình bạn, tình yêu, tinh thần tập thể cao tạo điều kiện tốt để cùng nhau học tập Tình yêu, một loại tình cảm đặc biệt, là tình cảm chớm nở ở nam nữ thanh niên mới lớn thường mạnh mẽ nhưng rất thầm kín Mối tình đó thường xuất phát từ lòng khâm phục nhau, từ tình bạn thân thiết, từ sự thông cảm lẫn nhau, từ sự giúp đỡ nhau trong học tập, trong hoạt động cùng nhau
Tình cảm đạo đức của các em đã phát triển hơn tuổi thiếu niên, nhờ vậy tình cảm của bản thân không phù hợp với những yêu cầu về đạo đức thì cảm thấy băn khoăn, ân hận và cố gắng khắc phục
* Tính độc lập: Đây là đặc điểm tiêu biểu của các em, nó biểu hiện sự tìm hiểu, đào sâu giải quyết mọi việc theo ý nghĩ của mình Tính độc lập của các em còn được biểu hiện ở năng lực tự kiềm chế, các em luôn tự kiểm tra mình một cách chặt chẻ, ở mọi công việc các em thường tỏ ra chủ động và sáng tạo Ở lứa tuổi này, các em ít có hành vi tự phát hơn thiếu niên, nhi đồng, vai trò của sự chín chắn đã nâng cao một cách rõ rệt Do sự phát triển mạnh của ý chí, các em thường có yêu cầu chặt chẽ đối với mình, nghiêm khắc đòi hỏi bản thân nhiều hơn Vì vậy, các em đã có nhiều phẩm chất ý chí tốt đẹp,
nó được cũng cố và trở thành những nét tính cách tốt Tính độc lập giúp cho các em hiểu rõ con đường mà các em phải đi, hiểu rõ hơn những mơ ước và lí tưởng mà mình phải theo đuổi và thực hiện
1.3.2 Về mặt sinh lí:
Ở lứa tuổi này, đây là thời kì mà sự tăng trưởng của cơ thể đạt đến trình
độ hoàn thiện về các tổ chức cơ thể và chức năng cơ bản đã hoàn thành quá trình phát triển Trong thời kì này, các em đã có một cơ thể cân đối, đẹp đẽ và dồi dào sức khỏe Hay nói cách khác, đây là thời kì nhiều hoạt động chức năng của cơ thể được hoàn thiện một cách tối đa do có sự phát triển một cách tương đối các cơ quan
* Hệ cơ xương:
Trang 12Giai đoạn này chiều cao của cơ thể phát triển chậm lại, đồng thời bề ngang phát triển vì lúc này chiều dài của xương đã bị cốt hóa, điều đó chấm dứt sự phát triển chiều dài, sự cốt hóa này đã phá hủy về tiêu hao sụn dự trữ Mặt khác, được xây dựng lại thành các tổ chức xương do các tế bào tạo xương
Hệ thống xương phát triển mạnh mẽ vì số lượng cũng như sự đàn hồi dẻo dai, vì vậy cơ phát triển mạnh về bề ngang, nhưng các cơ phát triển chưa đều nên khi hoạt dộng TDTT đều dẫn đến mệt mỏi, khi thực hiện động tác kĩ thuật Nên trong quá trình tập luyện, giáo viên cần chú ý đến vấn đề này để đề
ra khối lượng tập luyện và yêu cầu phù hợp
Sự tập luyện TDTT trong thời kì này ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển hình thể, những người tập luyện có khối lượng và thể tích cơ vẫn phát triển đáng kể Sự phì đại cơ xảy ra do phát triển kích thước của từng sợi
cơ Trong đó, bao cơ dày lên, lượng cơ tương, số tơ cơ, các yếu tố cấu tạo khác đều tăng lên, sự phát triển mạnh về cột sống, lồng ngực, xương chậu cơ thể tập luyện tốt các môn thể thao và đây là lứa tuổi mà đỉnh cao thể thao biểu
lộ gặt hái được những thành công nhất định
Trang 13Như vậy, sự phát triển nhanh đã dần bắt kịp tốc độ của khối lượng cơ thể, các mạch máu phát triển, huyết áp đã đạt được sự ổn định là 70/100mmhg Cùng với sự phát triển của hệ tuần hoàn thì hệ hô hấp cũng phát triển mạnh, là nơi
có dự trữ rất lớn và hoạt động và quan hệ chặt chẽ với não, tim và mạch máu Lượng thông khí phổi lúc yên tĩnh trung bình 5 – 8 lít/phút Vì các cơ quan trong hệ tim mạch phát triển không đồng đều nên trong giảng dạy hay huấn luyện thể thao, người giáo viên, huấn luyện viên cần chú ý tác động các bài tập thể chất lên cơ thể học sinh phải đúng nguyên tắc lượng vận động và
sử dụng quãng nghỉ hợp lí
* Hệ thần kinh:
Ở lứa tuổi này, hệ thần kinh phát triển hoàn thiện, kích thước não, hành tủy đã đạt gần đến mức của người trưởng thành Số lượng giây thần kinh liên hợp phát triển lên, liên kết với các phần khác nhau của bộ não tạo điều kiện cho sự phức tạp hóa hoạt động phân tích, tổng hợp cũng như sự hình thành phản xạ có điều kiện Tính linh hoạt của hệ thần kinh cao, quá trình ức chế phát triển cường độ hoạt động mạnh của tuyến sinh dục, tuyến yên,…Làm cho hưng phấn của hệ thần kinh chiếm ưu thế Tuy nhiên, với các bài tập đơn điệu cũng dễ làm người tập chóng mệt mỏi Vì vậy, cần thay đổi phù hợp thì tập luyện phong phú để gây hưng phấn cho các em
Trang 14từ 2 dến 7 ngày, nếu tập luyện với lượng vận động lớn, căng thẳng chu kỳ kinh nguyệt có thể kéo dài từ 35 đến 42 ngày Sự ổn định và bất ổn của chu
kỳ kinh nguyệt có ý nghĩa quan trọng đối với việc cho phép nữ tham gia tập luyện trong những ngày có kinh nguyệt hay không Đối với những người có chu kỳ ổn định, có cảm giác tốt và sự thích nghi cao với lượng vận động có thể cho tiếp tục tập luyện bình thường Đối với những người có chu kỳ ổn định nhưng có cảm giác xấu chóng mệt mỏi không muốn tập, không thích nghi cao với lượng vận động, có thể giảm lượng vận động bằng cách giảm các bài tập về sức mạnh tốc độ và hạn chế nhảy….Cũng nên áp dụng như vậy đối với những người có chu kỳ không ổn định và có cảm giác xấu
Tóm lại, trong quá trình giảng dạy, huấn luyện, để đạt được hiệu quả cao thì người giáo viên, huấn luyện viên cần phải nắm chặt những đặc điểm tâm lý của người tập Từ đó áp dụng các phương pháp tập luyện cho phù hợp với trình độ, giới tính, lứa tuổi và tình trạng sức khỏe của người tập, đồng thời đảm bảo đúng các nguyên tắc giảng dạy và huấn luyện thể thao Đây cũng là một trong những nhân tố quan trọng để tác động bài tập thể chất lên cơ thể con người
1.4 Đặc điểm, mục đích và hiệu quả của thể dục nhịp điệu (Aerobic) 1.4.1 Đặc điểm của thể dục nhịp điệu (Aerobic)
Đặc điểm nổi bật của thể dục nhịp điệu (Aerobic) là sự phối hợp vận động gần như toàn bộ cơ thể, liên hoàn các cử động TDNĐ lấy vận động rèn luyện thân thể làm nội dung, với mục đích nâng cao sức khỏe và làm tăng
vẻ đẹp của con người Kích thích sâu hoạt động của các nội tạng và trạng thái hưng phấn của vỏ não, phân tích tỷ mỹ về vận động và nhịp điệu vận động theo âm thanh nhạc đệm, sự chuyển hóa trong quá trình bài tập là sự luân phiên thay đổi các bộ phận của vận động một cách liên tục với cường độ khá cao 60 – 130 cử động, sẽ ảnh hưởng rất tốt đến phát triển sức bền, năng lực diễn cảm của nhịp điệu động tác Tập thể dục nhịp điệu (Aerobic) là một cách
Trang 15khoa học có ảnh hưởng tốt và sâu sắc đến quá trình hình thành của hệ thống
cơ quan trong cơ thể
- Phát triển thể chất toàn diện
- Tạo dáng, hình thể ngay ngắn
- Giải tỏa căng thẳng trong học tập
Chính vì vậy, sức khỏe và vẻ đẹp được xác định là mục đích của TDNĐ
1.4.3 Hiệu quả khi tập luyện TDNĐ
Do cơ thể là một thể thống nhất, bất kỳ sự hoạt động cục bộ nào đều có ảnh hưởng toàn bộ đến cơ thể Tập luyện TDNĐ xúc tiến cho cơ thể phát triển một cách bình thường, tăng cường cơ năng của cơ bắp, dây chằng và hệ thống
cơ quan nội tạng, phát triển các tố chất cơ bản của cơ thể, tăng cường thể chất
và sức khỏe cho người tập, hình thành các tư thế chính xác, làm cho cơ thể phát triển cân đối Nhằm bồi dưỡng tính thẩm mĩ, tư tưởng tình cảm, tinh thần lạc quan, tư thế tác phong nhanh nhẹn, khỏe đẹp cho người tập Vì vậy, thường xuyên tập luyện không những làm cho thể chất phát triển, tạo dáng, hình thể ngay ngắn, mà còn có thể điều tiết và cải thiện được tốt chức năng sinh lý của cơ thể mà dưới đây sẽ nêu tới:
Thúc đẩy việc nâng cao chức năng của hệ thống tuần hoàn
Khi cơ thể tiến hành tập luyện thì sẽ nâng cao chức năng trao đổi chất,
do vậy cơ thể đòi hỏi một lượng năng lượng, đặc biệt là sự cung cấp ôxy để đảm bảo nhu cầu khi vận động Mặt khác, cũng đòi hỏi phải đào thải nhanh
Trang 16các chất thải của trao đổi chất đó là CO2 điều này đòi hỏi cơ thể phải có một
hệ thống tuần hoàn tốt
Hệ thống tuần hoàn do tim và hệ thống huyết quản(mạch) hợp thành Mạch máu lại chia thành động mạch, mao mạch và tĩnh mạch Những mạch này nối liền với nhau và phân bố khắp cơ thể, trong đó động mạch và tĩnh mạch lớn nhất trực tiếp nối liền với tim tạo thành một hệ thống tuần hoàn khép kín Trong hệ thống tuần hoàn khép kín này chứa đầy máu lưu động, công năng của hệ thống tuần hoàn này là làm cho máu chảy không ngừng trong tim và huyết quản Từ đó đem dinh dưỡng mà hệ thống tiêu hóa hấp thu được từ thức ăn và oxy từ phế bào hấp thụ được đến các bộ phận cơ thể, nhằm đáp ứng cho sự đòi hỏi hoạt động của các tế bào
Đồng thời nó có thể đem những sản phẩm bị đào thải trong quá trình thao đổi chất do hoạt động của các tế bào, như cacbonic (CO2), H2O…vận chuyển đến phổi, thận, da….để bài tiết ra ngoài
Thường xuyên tập luyện không những có thể làm cho hệ thống tuần hoàn của cơ thể được nâng cao đến một trình độ nhất định, mà còn có thể làm cho tim cũng được rèn luyện, cơ tim được phát triển Từ đó, làm tăng thể tích tâm thu và thể tích tim nói chung, cải thiện năng lực co bóp của hệ thống mạch máu Do sức mạnh co bóp của tim khỏe tim đập mạnh đều tăng lên, từ
đó làm cho tần số mạch đập giảm
Nâng cao chức năng của hệ thống hô hấp
Hệ thống hô hấp của cơ thể con người được cấu tạo bởi đường hô hấp mũi, họng, khí quản, phế quản và phổi Chức năng chủ yếu của nó là trao đổi khí của cơ thể với mối trường bên ngoài Tức là khi hít oxy vào cơ thể mới thở ra khí cacbonic (CO2), phổi là cơ quan quan trọng nhất của hệ thống hô hấp, phổi được cấu tạo bởi phế quản, mạch máu và phế nang Mỗi phế nang đều có hàng vạn tế bào, hai lá phổi của con người tổng cộng có tới 50-70 vạn
tế bào, sự trao đổi khí được tiến hành ở giữa phế bào và các mao mạch xung
Trang 17quanh nó Trong khi tập luyện khả năng trao đổi chất của cơ thể được nâng cao, do vậy đòi hỏi phải hấp thụ một lượng lớn oxy và thải CO2 ra nhiều hơn Như vậy sẽ kích thích trung khu hô hấp, buộc phổi phải thở sâu hơn, mở rộng dung tích của phổi và khoang ngực, tăng thêm tần số hô hấp, nâng cao chức năng của cơ hô hấp Từ đó, làm cho một lượng lớn không khí vào phế bào để tăng thêm hàm lượng oxy cho máu
Thúc đẩy quá trình phát triển bình thường của cơ thể
Sự phát triển của cơ thể, chủ yếu là chỉ sự tăng trưởng về số lượng của
tế bào và các chất đệm của tế bào đã sản sinh ra sự thay đổi về mặt hình thể Thông thường dùng trọng lượng và thể tích của cơ thể để xác định
Phát dục tức là sự thay đổi về mặt cấu trúc hình thái và các chức năng của hệ thống cơ quan của cơ thể Còn phát triển là chỉ sự biến đổi của cơ thể trong suốt cả cuộc đời từ lúc sinh ra đến lúc chết Sự phát triển, phát dục của thời kỳ thanh xuân biến đổi rất nhanh Thường xuyên tham gia tập luyện TDTT nói chung cũng như tập luyện TDNĐ nói riêng, sẽ làm cho sự trao đổi chất của cơ thể mạnh mẽ Bởi vì trong tập luyện các bộ phận, các cơ quan, các
hệ thống có liện quan của cơ thể đều tích cực tham gia vào hoạt động, như vậy sẽ thúc đẩy sự phát dục của các hệ thống các cơ quan này Đối với sự phát triển của các cơ quan chưa phát dục hoàn thiện, cũng có tác dụng thúc đẩy rất tốt Vì vậy, sự phát dục của các hệ thống cơ quan trong cơ thể sẽ được kiện toàn, chức năng của cơ thể cũng sẽ được nâng cao tương ứng
Hình thành tư thế đúng và tăng cường vẻ đẹp của hình thể
Ở tuổi thanh thiếu niên, xương và cơ bắp của con người phát dục vẫn chưa hoàn thiện nếu không chú ý tập luyện chính xác sẽ có thể dẫn đến hình thành tư thế sai
Thông qua việc tập luyện TDNĐ sẽ làm cho cơ thể con người khỏe đẹp
mà còn có thể dần dần đạt được vẻ đẹp hình thể thông qua các mặt sau:
Trang 18- Vẽ đẹp về sức khỏe: Có một cơ thể nhanh nhẹn, hoạt bát, tinh thần minh mẫn
- Vẽ đẹp về hình thể: Đối với nữ giới có một thân thể đầy đặn mềm mại
và thon thả, vòng eo, vòng ngực, vòng mông phát triển hài hòa cân đối
- Vẽ đẹp về động tác: Thực hiện động tác một cách nhanh nhẹn, nhịp nhàng và khéo léo chính xác
Để đạt được những điều trên thì việc tập luyện thường xuyên có tác dụng rất quan trọng Không chỉ đối với thanh thiếu niên mà ngay cả đối với những thanh niên sau thời kỳ phát dục hoàn thiện, nếu tập luyện thường xuyên có thể giữ cho cơ thể có vẻ đẹp mạnh khỏe và sự dẻo dai và khéo léo
Nâng cao năng lực thích ứng của cơ thể với môi trường bên ngoài Dưới sự chi phối của hệ thần kinh trung ương, không ngừng điều tiết làm cho cơ thể ở vào trạng thái chức năng hoạt động bình thường Người tham gia tập luyện TDTT nói chung và tập luyện TDNĐ nói riêng sẽ tăng cường được thể chất, cho nên có được năng lực thích ứng nhất định đối với môi trường bên ngoài Ví dụ như năng lực điều tiết nhiệt độ cơ thể được nâng cao nên có thể thích ứng với lạnh giá và nóng nực Để tránh được sự tiêu hao quá nhiều nhiệt lượng của cơ thể hoặc giữ được sự ổn định về thân nhiệt sẽ làm cho lỗ chân lông và mao mạch dưới da sản sinh sự co lại hoặc giãn nở thích ứng, từ đó làm cho năng lực thích ứng của cơ thể đối với môi trường nóng lạnh được nâng cao
Con người có thể thích ứng với sự biến đổi môi trường bên ngoài hay không là cái mốc quan trọng để đánh giá năng lực chức năng cơ thể
1.5 Vai trò của tập luyện TDNĐ đối với sức khỏe của học sinh nữ
Xã hội phát triển, áp lực của việc học tập đòi hỏi ở các em ngày càng cao Chính vì vậy, mà các em phải chịu một áp lực lớn từ việc học tập Do vậy, để thực hiện tốt việc học tập các em phải có sức khỏe, có sức khỏe tốt thì khả năng tập trung vào việc học tập sẽ đạt hiệu quả cao Sức khỏe là vốn quý
Trang 19của con người, người khỏe mạnh là người có tâm hồn phong phú, luôn cảm thấy yêu đời và yêu cuộc sống, luôn cảm thấy thoải mái trong lao động và học tập Trong học tập con người sử dụng chủ yếu bằng trí óc, trong khi đó các cơ bắp hầu như nhàn rỗi Vì vậy, bộ não cứ phát triển còn thân thể cứ còm cõi đi Nền y học hiện đại, bằng những số liệu và các công trình nghiên cứu khoa học
đã khám phá ra nhiều tác động xấu đối với sức khỏe con người do sự thiếu vận động bị hạn chế
Tác động của sự thiếu vận động đặc biệt kết hợp với tình trạng căng thẳng thần kinh và chế độ ăn uống không điều độ, sẽ tác động đến tất cả các
hệ thống của cơ thể Các cơ bắp và gan, các tuyến nội tiết sẽ bị tổn thương nhưng tim và huyết quản sẽ bị tổn thương nhiều nhất, đó là nguyên nhân rút ngắn cuộc sống con người Trong cuộc sống ai cũng muốn được khỏe đẹp và phát triển hoàn thiện cơ thể mình TDNĐ giúp cho cơ thể phát triển sức dẻo dai, tăng cường sự mềm mại và khéo léo, giảm đi lượng mỡ thừa, làm cho cơ thể đẹp hài hòa cân đối, mang lại cho con người sự sảng khoái, khả năng học
tập tốt Thông qua tập luyện TDNĐ làm cho các khớp, cơ bắp, dây chằng và
các cơ quan nội tạng được phát triển toàn diện Làm cho thân hình và tứ chi phát triển, tạo thành đường nét ngoại hình thon thả cân đối, làm cho hệ thống tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa và thần kinh phát triển tốt
Nhờ vẻ đẹp của động tác, tính sinh động của bài tập được thực hiện dưới nền nhạc mà TDNĐ đáp ứng được ở mọi lứa tuổi, giới tính và trình độ tập luyện khác nhau
Luyện tập TDNĐ thường xuyên, sẽ làm cho các bạn nữ thùy mị, mảnh mai, nhẹ nhàng, duyên dáng, khéo léo, mềm mại và tinh tế Giúp cho sự cải thiện tuần hoàn máu, kích thích sự hoạt động của các cơ quan trong cơ thể, làm bình thường hóa sự hoạt động của các tế bào trong cơ thể Chính vì vậy, người có lối sống tích cực thường xuyên luyện tập TDNĐ Sức khỏe của con người ở mọi lứa tuổi và giới tính phụ thuộc vào khối lượng vận động của
Trang 20người đó Quá trình chuyển hóa trong cơ thể nằm trong mối liên hệ trực tiếp với việc tập luyện của con người, tốc độ lớn nhất của quá trình chuyển hóa thuộc về cơ thể trẻ Đặc tính đó đảm bảo cho con người trẻ lâu, khỏe mạnh và thích nghi nhanh đối với những lượng vận động lớn
TDNĐ mang lại khả năng tăng cường sức khỏe cho các bạn nữ, làm cho thân hình trở nên cân đối và điều đặc biệt quan trọng là mở rộng môt cách đáng kể giới hạn những khả năng thích nghi, nâng cao tính bền vững của cơ thể trước tác động của rất nhiều yếu tố không tốt lành mạnh Đối với những người thường xuyên sử dụng trí óc, ít vận động thì tập luyện TDNĐ là điều rất cần thiết
TDNĐ đối với tất cả mọi người nói chung và các bạn nữ nói riêng, là
cơ sở để bảo vệ và tăng cường sức khỏe, ngăn ngừa các bệnh tật Vì vậy, TDNĐ đã trở thành mục tiêu trong việc nâng cao sức khỏe cho con người Nhờ sự đa dạng của động tác, tác động lên cơ thể đáp ứng nhu cầu thị hiếu ở tất cả các lứa tuổi, giới tính và trình độ tập luyện khác nhau Tăng cường sức khỏe phát triển các tố chất thể lực rất cần thiết cho người tập
Chính vì vậy, các nhà bác học luôn kêu gọi mọi người hãy tuân theo nguyên tắc thường xuyên vận động và vận động trong không khí trong lành
Có rất nhiều căn bệnh hiểm nghèo với các loại thuốc được coi là quý cũng không thể nào chữa khỏi, duy chỉ có sự vận động với sự hướng dẫn của người chuyên môn mới có thể chiến thắng được
Đối với tất cả học sinh nói chung và tất cả học sinh nữ nói riêng, quá trình học tập rèn luyện trau dồi kiến thức trong trường THPT, là một quá trình học tập với khối lượng rất lớn, ngoài khối lượng kiến thức chương trình quy định các em còn phải học thêm để nâng cao kiến thức và định hướng thi vào các trường Đại học, Cao đẳng Qua thực tế cho thấy, mức độ học tập của học sinh trong các khối và các loại hình ở trường THPT không giống nhau, điều
đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Những điều kiện đảm bảo cụ thể trong
Trang 21đào tạo (thầy giáo, cơ sở vật chất, kinh phí… ) khối lượng và tính phức tạp,
độ khó nội dung các môn học Do chưa quen và chậm thích nghi với phương pháp học tập ở trường THPT, học sinh khối 10 thường phải đầu tư nhiều thời gian trong ngày nhiều hơn học sinh ở các năm trên
Chính vì vậy, thời gian các em dành cho rèn luyện TDNĐ rất ít, nhất là học sinh nữ khối 10 Đối với học sinh nữ ở lứa tuổi này bắt đầu thích “làm đẹp”, muốn có một thân hình cân đối hài hòa, duyên dáng, mềm mại và sự khéo léo linh hoạt Do đó, TDNĐ được đưa vào các trường THPT được các em học sinh rất yêu thích, đặc biệt là các em học sinh nữ Bởi những bài tập đó có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển hình thể, tạo năng lực vận động tốt hơn
Chương trình bài tập và phương pháp thực hiện nhiệm vụ làm tôn vẻ đẹp về hình dáng và các chức năng Vì vậy, các bài tập cần được cụ thể hóa trên nguyên tắc cá biệt hóa Bên cạnh nhu cầu làm thay đổi mục đích vẻ đẹp cần chú ý phát triển thẩm mỹ vận động chính xác, phối hợp vận động, tính nhịp điệu Vì vậy, các bài tập TDNĐ mang đặc tính cơ thể và năng lực vận động có xu hướng đạt được nguyện vọng của các em là sự phát triển cân đối, khỏe đẹp cùng với sự mềm mại và linh hoạt của cơ thể
Luyện tập TDNĐ đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao sức khỏe cho mỗi người Đặc biệt là đối với các bạn nữ, với vẻ đẹp yêu kiều, duyên dáng, tạo dáng hình thể ngay ngắn trong các động tác, vẻ đẹp thân thể cùng với vẻ đẹp hài hòa giữa thể chất và tinh thần, giải tỏa căng thẳng trong học tập của người phụ nữ Việt Nam nói chung và các học sinh nữ nói riêng sẽ trở thành một thứ tặng phẩm quý giá
Đó là do kết quả của sự hình thành, bồi dưỡng bằng phương pháp tập luyện TDNĐ Đối với TDTT nói chung và TDNĐ nói riêng, không ai có người bảo vệ, giữ gìn sức khỏe và đảm bảo cho việc học tập cho bản thân mình, nếu bản thân mình không chịu tập luyện một cách tích cực và tự giác
Có thể nói TDNĐ sẽ là nhịp cầu nối tiếp nhựa sống cho cuộc đời của bạn
Trang 221.6 Cấu trúc tập luyện TDNĐ
Kết cấu một bài TDNĐ có thể chia làm ba phần:
* Phần chuẩn bị: Trong mỗi buổi tập phần khởi động chiếm khoảng 10% tổng thời gian của mỗi buổi học, nhằm giải quyết nhiệm vụ chuẩn bị về thần kinh và các cơ quan nội tạng, để đưa cơ thể vào trạng thái vận động tích cực Phần này chủ yếu nhằm vươn duỗi cột sống, tăng cường hô hấp, chuẩn bị tốt về mặt tinh thần cũng như cơ thể để bước vào tâp luyện Các động tác trong phần chuẩn bị không phức tạp
5-* Phần cơ bản: Phần này chiếm khoảng 80-85% tổng thời gian của buổi học, ở phần này bao gồm các bài tập nhằm phát triển cho các nhóm cơ bắp khác nhau của cơ thể và phát triển thể lực
Ví dụ: Bài tập chủ yếu được soạn bắt đầu từ động tác đầu cổ, ngón tay,
cổ tay, cổ chân; đầu gối sau đó đến các động tác vai, ngực, thắt lưng, hông, toàn thân, kết thúc là các động tác nhảy Tác động của bài tập này theo xu hướng từ cục bộ đến toàn thân
* Phần kết thúc: Là phần sau cùng của buổi học, chiếm từ 10-15% tổng thời gian của buổi học, được thực hiện bằng các động tác mang tính thả lỏng Phần này biên độ động tác giảm, tốc độ chậm, có ý thức sắp xếp các động tác thả lỏng tứ chi và tòan thân; làm cho cơ thể và mạch đập dần trở về trạng thái bình thường
Trang 23Bảng 1: Kết cấu bài thể dục nhịp điệu
ra.Chuẩn bị tốt tinh thần, làm nóng người
để bước vào tập cả bài
Động tác đơn giản, biên độ hơi lớn, tốc
độ hơi nhanh, thở đều, chuẩn bị tốt để bước vào tập động tác phần cột sống Vận động cột
sống
Tăng sức mạnh các nhóm cơ vùng ngực, lưng bụng, lườn Tăng cường vận động cột sống, làm tăng tính đàn hồi và tiêu giảm mỡ
Nên chọn các động tác gập trước ngã sau, nghiêng trái phải, xoay và xoay tròn Tránh sức vận động quá lớn đối với
Trang 24cột sống, giữa các nhóm động tác của các bộ phận nên xen
kẽ với động tác có tính chất điều chỉnh Tốc độ trung bình, lượng vận động tăng dần
Vận động khớp
hông
Rèn luyện khớp hông, tăng tính linh hoạt, loại trừ mỡ
Chọn các động tác rèn phần hông và cơ mông, có tác dụng giảm béo, làm chắc
cơ Do biên độ động tác bị hạn chế cần tăng phối hợp các động tác chi trên để gây hưng phấn cho người tập
Cố gắng làm các nhóm cơ lớn của cơ thể tham gia vận động, lượng vận động và độ khó của động tác khá lớn Động tác cần đẹp, có phong độ, nhịp điệu,
có độ đàn hồi, căng
cơ
Trang 25Vận động chi
dưới
Tăng cường sức mạnh
và sức bật của chân, tăng cơ năng của hệ thống hô hấp, tuần hoàn
Có thể phối hợp động tác có tốc độ trung bình và nhanh, nhịp thở đều, có thể phối hợp chạy nhảy tại chổ và di động Động tác nhịp điệu,
có độ căng cơ và đàn hồi, tần số mạch đập nên đạt cao nhất
Giảm dần tốc độ động tác, động tác mềm mại, thả lỏng làm cho cơ thể dần trở về trạng thái tĩnh
1.7 Lượng vận động trong TDNĐ
Bài tập TDNĐ cũng như các loại bài tập thể chất khác, tác dụng đem đến cho người tập đều thông qua nhân tố lượng vận động Trong thao tác vận động đòi hỏi sự tăng cường quá trình chuyển hóa vật chất, để cung ứng năng lượng
- Yêu cầu tăng cường cao hay thấp, phụ thuộc vào cấu trúc vận động và trình độ của người tập Bài tập tác động lên cơ thể người tập, gây nên những biến đổi ở các mức độ khác nhau, phản ánh lượng vận động ở các mức độ nhỏ, trung bình, lớn hoặc rất lớn
- Cùng một bài tập nhưng thực hiện ở những đối tượng có trình độ tập luyện khác nhau, sẽ tạo nên lượng vận động khác nhau
Vì vậy, để xác định lượng vận động là vừa hay cao, thấp thì theo tín hiệu phân tích: Phương pháp để đo lượng vận động đơn giãn và tương đối
Trang 26chính xác, đó là đếm mạch số lần co bóp của tim trên đơn vị thời gian, tính
bằng phút mạch đập được lấy sau phần chính của tổ hợp
1.8 Âm nhạc trong Thể dục nhịp điệu
TDNĐ và âm nhạc có quan hệ chặt chẽ không thể tách rời nhau, có người nói âm nhạc là linh hồn của TDNĐ Chọn âm nhạc chính là dùng để phối hợp cho thao tác bài tập TDNĐ, âm nhạc phải dựa vào động tác TDNĐ, phục vụ cho yêu cầu của bài tập Nhịp điệu của âm nhạc phải ăn khớp với nhip điệu và phong cách của động tác Đặc điểm âm nhạc dùng trong TDNĐ cần có tiết tấu mạnh mẽ, nhịp điệu rõ ràng thanh thoát, thường sử dụng nhạc nhảy có sức hấp dẫn
Âm nhạc dùng cho TDNĐ hiện đại cũng như âm nhạc dùng cho múa, thường sử dụng nhạc 2/4, 3/4, 4/4, và 6/8 Tốc độ âm nhạc dùng cho TDNĐ thường lấy 60 giây làm đơn vị tính toán, âm nhạc dùng cho bài tập rèn luyện thân thể ở tốc độ chậm là 16-18 nhịp trong 10 giây, tốc độ trung bình là 20-22 nhịp và tốc độ nhanh là 24-26 nhịp trong 10 giây Còn âm nhạc sử dụng cho bài TDNĐ thi đấu tốc độ nhạnh hơn
1.9 Những điểm cần chú ý khi tập luyện TDNĐ
* Tập luyện phải kiên trì và đều đặn
Tập luyện TDNĐ cũng giống như tập luyện các môn thể thao khác cần phải kiên trì lâu dài, đều đặn, cuộc sống được duy trì do vận động, vì vậy tập luyện TDNĐ có tác dụng tích cực đối với cơ thể
Sự tăng cường thể chất, nâng cao tố chất thể lực là kết quả của một quá trình tập luyện thường xuyên Năng lực vận động của con người không chỉ là năng lực biểu hiện của các cơ quan vận động, mà còn quyết định bởi năng lực thích ứng của các cơ quan nội tạng, hệ thống tuần hoàn, hô hấp, hệ thống tuyến nội tiết và các hệ thống khí quản khác của cơ thể đối với sự vận động Toàn bộ quá trình thích ứng của cơ thể lại dựa vào sự điều tiết của hệ thống thần kinh trung ương, muốn từ không thích ứng đến thích ứng, cần có giai
Trang 27đoạn quá độ Điều này đòi hỏi phải có một quá trình chuyển hóa tương đối dài Quá trình này cần thông qua sự rèn luyện liên tục dần từng bước từ không thích ứng đến thích ứng, từ lượng biến thành chất mới có thể đạt được mục đích tập luyện
Khi mới bắt đầu tập luyện TDNĐ sẽ cảm thấy đau mỏi, đây là một hiện tượng sinh lý bình thường Không nên vì thế mà ngừng tập luyện, bởi lẽ ngày thường lượng vận động của con người tương đối nhỏ nên năng lượng cung cấp cho hoạt động tượng đối đầy đủ Quá trình đau nhức của cơ quyết định bởi cường độ của nhân tố kích thích, cường độ của nhân tố kích thích càng lớn thì cảm giác đau càng mạnh Đặc biệt là thời kỳ đầu tập luyện cảm giác đau nhức nhiều hơn
Qua quá trình tập luyện liên tục, các tổ chức cơ và dây chằng xây dựng được mối quan hệ thăng bằng mới, do vậy sự đau nhức sẽ dần mất đi Để giảm nhẹ mức độ đau nhức, lượng vận động lúc mới bắt đầu tập luyện có thể nhỏ hơn sau đó tăng dần Sức khỏe của người tập luyện thường xuyên có thể được nâng lên, ảnh hưởng tốt của mỗi lần tập luyện đối với cơ thể sẽ tạo nền cho lần tập luyện sau, còn lần tập sau trên nền của lần tập trước lại một lần nữa có ảnh hưởng tốt đối với cơ thể Sự tích lũy qua ngày, tháng tất nhiên sẽ đạt được kết quả tập luyện tốt Bởi vậy, tập luyện TDNĐ cũng giống như tập luyện các môn thể thao khác cần phải tập luyện thường xuyên đều đặn và kiên trì lâu dài
* Tập luyện phải theo thứ tự và nâng dần
Người ta thường nói: “Thon thả thì sớm vội vàng thì muộn” Tập luyện TDNĐ cũng như vậy, nếu vội vàng nôn nóng quá sẽ không đạt được hiệu quả như mong muốn Thứ tự là chỉ sự sắp xếp hợp lý về nội dung và lượng vận động Dựa vào thứ tự đó nâng dần lên từng bước, hay nói cách khác là cần tiến hành các bài tập một cách khoa học, khi tập luyện cần tiến hành một cách
có mục đích, có kế hoạch Trong tập luyện cần phải thực hiện động tác theo nguyên tắc từ dễ đến khó, từ đơn giãn đến phúc tạp
Trang 28Khi cơ thể tham gia vận động, do phá vỡ trạng thái chức năng cân bằng tương đối vốn có, cơ thể chịu sự kích thích nên sãn sinh phản ứng mạnh mẽ Nếu một người lần đầu tham gia tập luyện, mà tập luyện với lượng vận động lớn thì sẽ mang lại cho họ một kích thích lớn về tâm lý và sinh lý Trong quá trình học tập động tác, cần có một quá trình nhận thức, học tập và thực hành
để nắm bắt kỹ thuật Điều này yêu cầu người tập luyện không chỉ có sự chuẩn
bị về năng lực cơ thể, mà còn có sự chuẩn bị về mặt tâm lý
* Tập luyện cần phải sắp xếp lượng vận động hợp lý
Trong tập luyện nên sắp xếp lượng vận động hợp lý, nếu lượng vận động quá nhỏ sẽ không có tác dụng Nếu lượng vận động quá lớn sẽ dẫn đến tập luyện quá sức dẫn tới chấn thương Nói chung tính hợp lý của lượng vận động biểu hiện ở sự loại trừ mệt mõi, nghĩ ngơi thích đáng sau tập luyện, đồng thời thúc đẩy sự nâng cao không ngừng chức năng của cơ thể
Trong việc sắp xếp lượng vận động nói chung có thể sữ dụng biện pháp kết hợp giữa lượng vận động lớn, vừa và nhỏ Trong đó lấy lượng vận động lớn và vừa làm chính, lượng vận động nhỏ để điều chỉnh, sắp xếp cụ thể nên dựa vào trạng thái sức khỏe và trình độ tập luyện của từng người
Khi tập luyện, quy luật chung để sắp xếp lượng vận động là: Thời kỳ đầu tập luyện lượng vận động tương đối nhỏ, cùng với sự nâng cao chức năng của cơ thể và sự thành thục động tác, lượng vận động có thể nâng dần lên
* Kỹ thuật động tác và tư thế thân người
Bất kỳ môn thể thao nào đều đòi hỏi người tập luyện phải nắm vững được kỹ thuật động tác và tư thế thân người
Kỹ thuật động tác là những tiêu chuẩn động tác cần đạt được khi hoàn thành động tác
Tư thế thân người là chỉ tư thế biểu hiện của các bộ phận cơ thể khi hoàn thành động tác Giữa kỹ thuật động tác và tư thế thân người mặc dầu có chổ không giống nhau, nhưng lại có mối quan hệ rất chặt chẽ Kỹ thuật động
Trang 29tác đúng tư thế thân người yêu cầu phải tốt Tư thế thân người không tốt thì không thể đạt yêu cầu về kỹ thuật động tác, khi tập luyện TDNĐ nếu làm đúng kỹ thuật động tác thì hiệu quả tập luyện sẽ rất cao Trước khi bước vào tập luyện, đầu tiên cần phải tìm hiểu kỹ về yêu cầu kỹ thuật động tác, đồng thời cố gắng làm đúng, như vậy mới có thể xây dựng được cảm giác và định hình được tiêu chuẩn và yêu cầu của động tác Tư thế thân người phải chú ý ngay từ khi bắt đầu tập luyện, kỹ thuật động tác có được thực hiện đúng hay không trong khi làm động tác, thì đó là then chốt của việc có thể đạt được mục đích dự định của việc tập luyện hay không Khi tập luyện không nên phiến diện yêu cầu nhất thiết tăng số lượng mà cần chú ý tới chất lượng kỹ thuật của động tác
* Khi tập luyện cần khởi động và hồi tĩnh tốt
Khi tiến hành tập luyện cơ thể đang từ trạng thái tĩnh chuyển sang trạng thái động, do vậy cần có một giai đoạn thích ứng, giai đoạn này cần phải tiến hành khởi động
Tác dụng của khởi động là thông qua các bài tập có tính mục đích, để nâng cao hưng phấn của hệ thống thần kinh, làm cho hệ thống tim mạch và hệ thống hô hấp thích ứng với yêu cầu vận động Làm cho khớp và cơ có liên quan tới việc tham gia tập luyện được khởi động, làm cho cơ thể nóng lên, dây chằng dãn ra, khớp được linh hoạt từ đó tránh được sự cố chấn thương và làm tốt việc chuẩn bị cho việc tập luyện chính thức
Quá trình thích ứng của cơ thể từ trạng thái yên tĩnh chuyển sang trạng thái vận động đã nói ở trên, đặc biệt là sự thích ứng của các cơ quan nội tạng không phải trong nháy mắt mà thích ứng ngay được Khởi động tức là trước khi luyện những bài tập thể lực mang tính chung và chuyên môn được tiến hành trước khi bước vào tập luyện chính thức
Khởi động chung bao gồm đi bộ, chạy, nhảy, thể dục tay không và các bài tập khác với ép cơ, ép dây chằng
Trang 30Khởi động chuyên môn bao gồm các bài tập thể lực có liên quan với nội dung tập luyện chính Thời gian khởi động thường 10-15 phút về mùa đông có thể kéo dài hơn một chút, sau khi khởi động có thể tập luyện chính thức, cũng có thể nghĩ 1-2 phút Tuyệt đối không thể nghỉ quá dài sau khởi động tránh mất đi tác dụng của khởi động
Hoạt động hồi tĩnh là chỉ các bài tập thả lỏng được làm trong thời gian quá độ chuyển cơ thể từ trạng thái vận động về trạng thái yên tĩnh tương đối
Cơ thể con người sau khi tập luyện thể thao, sự biến đổi chức năng của các cơ quan không thể hồi phục ngay được về trạng thái yên tĩnh Mục đích của hoạt động hồi tĩnh sẽ giúp cho cơ thể hồi phục nhanh, loại trừ bớt mệt mỏi, làm cho cơ thể đang căng thẳng được thả lỏng
Trang 31Chương II MỤC ĐÍCH–NHIỆM VỤ-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục đích nghiên cứu:
Đánh giá hiệu quả của việc tập luyện TDNĐ (Aerobic) đến sự phát triển thể lực và hình thái cho học sinh nữ khối 10 Trường THPT Hòa Vang -
Tp Đà Nẵng Tập luyện TDNĐ nhằm phát triển các tố chất thể lực và hình thái, tạo dáng cân đối và năng lực vận động nhịp điệu
Nhiệm vụ 2: Đánh giá hiệu quả của tập luyện TDNĐ đến sự phát triển
thể lực và hình thái cho học sinh nữ khối 10 Trường THPT Hòa Vang - Tp Đà Nẵng
2.3 Phương pháp nghiên cứu:
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
2.3.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu khoa học
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đọc tài liệu, sách giáo khoa có liên quan đến đề tài gồm:
- Các chỉ thị văn bản, quyết định của Đảng và Nhà nước
- Các đề tài đã nghiên cứu về GDTC trong các trường Đai học và Trung cấp chuyên nghiệp
Tham khảo tài liệu có liên quan đến đề tài:
+ Sách y học TDTT
+ Sách tâm lý học
+ Sách lý luận và phương pháp GDTC
+ Toán học thống kê
Trang 32+ Các tiêu chuẩn và rèn luyện thân thể của học sinh
+ Giáo trình TDNĐ
2.3.2 Phương pháp phỏng vấn
Để giải quyết vấn đề lý luận và thực tiễn chúng tôi sử dụng phương pháp này để phỏng vấn các chuyên gia, giáo viên và học sinh, những người có kinh nghiệm trong công tác giảng dạy TDNĐ Mục đích phỏng vấn là tìm hiểu quan điểm của họ về hiệu quả của TDNĐ, tới sự phát triển thể lực và hình thái Những quan điểm, ý kiến của các đối tượng được phỏng vấn sẽ góp phần làm sáng tỏ và bổ sung những chỗ còn thiếu sót trong đề tài
2.3.3 Phương pháp quan sát sư phạm
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tiến hành quan sát sư phạm các
em học sinh nữ 2 lớp khối 10 trường THPT Hòa Vang – Tp Đà Nẵng Từ đó,
có cơ sở để đánh giá hiệu quả của TDNĐ đến thể lực và hình thái học sinh nữ Chúng tôi sử dụng phương pháp này để quan sát và thu thập các số liệu cần thiết, trong quá trình thực nghiệm sư phạm để giúp cho việc rút ra kết luận được chính xác hơn
2.3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Qua nghiên cứu, tham khảo các test kiểm tra đánh giá thể lực học sinh theo chương trình GDTC của Bộ Chúng tôi đã chọn các test và tiến hành thực nghiệm sư phạm, theo hình thức so sánh gồm 2 nhóm:
Nhóm đối chứng(A): Gồm 40 em học sinh nữ của lớp 10/6 tiến hành học môn : Cầu lông
Nhóm thực nghiệm(B): Gồm 40 em học sinh nữ của lớp 10/7 tiến hành tập luyện môn tự chọn: TDNĐ
Để so sánh trước và sau thực nghiệm chúng tôi sử dụng các test sau:
1 Chạy xuất phát cao 30m (s):
* Tư thế chuẩn bị: Người thực hiện đứng sau vạch xuất phát, đứng chân trước chân sau, cách nhau 30-40cm trọng tâm hơi đổ về trước, hai tay thả lỏng
tự nhiên
Trang 33* Cách thực hiện: Khi nghe hiệu lệnh “sẵn sàng” hạ thấp trọng tâm dồn vào chân trước, tay hơi co khủyu Khi có hiệu lệnh “chạy” ngay lập tức lao nhanh về trước, thẳng tiến tới đích và vượt qua đích
* Cách đánh giá: Chạy 1 lần thành tích (giây) số lẻ từng 1/100 giây
* Cách đánh giá: Tính từ độ dài vạch xuất phát đến vạch gần nhất của gót bàn chân, chiều dài tính từ cm, thực hiện hai lần lấy lần xa nhất
3 Nằm ngửa gập bụng (số lần/30 giây):
* Tư thế chuẩn bị: Ngồi trên sàn bằng phẳng sạch sẽ
* Cách thực hiện: Chân co 900 ở đầu gối, bàn chân áp sát sàn, các ngón tay đan chéo nhau, lòng bàn tay áp chặt vào sau đầu, khuỷu tay chạm đùi Người thứ hai hỗ trợ bằng cách ngồi lên mu bàn chân, đối diện với đối tượng điều tra, 2 tay giữ ở phần dưới cẳng chân, nhằm không cho bàn chân của đối tượng điều tra tách ra khỏi sàn
Khi có hiệu lệnh “ bắt đầu” đối tượng điều tra ngã người nằm ngửa người ra, hai bả vai chạm sàn sau đó gập thân đến 900
* Cách đánh giá: Mỗi lần ngã người co bụng được tính 1 lần Điều tra viên thứ nhất ra lệnh “bắt đầu”, bấm đồng hồ, đến giây thứ 30 hô “kết thúc”, điều tra viên thứ hai đếm số lần gập bụng
2.3.5 Phương pháp nhân trắc
Phương pháp này được sử dụng để kiểm tra sức khỏe trước và sau thực nghiệm cụ thể là :
Trang 341 Đo chiều cao đứng:
* Chuẩn bị một thước dây, vạch sẵn trên tường khi đo dùng thước tam giác vuông dóng thẳng từ trên đầu vuông góc với thước trên tường
* Cách thực hiện: Người được đo đi chân đất đứng ở tư thế nghiêm, bốn điểm chạm vào tường đó là chẩm, lưng, mông và gót chân
2 Đo trọng lượng:
* Chuẩn bị: Một cân y học chính xác 100 gam
* Cách thực hiện: Người được cân ngồi trên ghế đối diện với cân, đặt hai chân vào bàn cân (hai bàn chân đặt song song), sau đó từ từ đứng dậy (đứng thẳng)
3 Đo chu vi vòng ngực (vòng 1):
* Chuẩn bị: Một thước dây
* Cách thực hiện: Dùng thước để đo ở tư thế đứng bình thường, đo ở giữa bầu vú
4 Đo vòng eo (vòng 2):
* Chuẩn bị một thước dây
* Cách thực hiện: Dùng thước để đo ở tư thế bình thường, eo được đo cách lưng quần 15cm, cách ngực 10cm
5 Đo vòng mông (vòng 3):
* Chuẩn bị: Một thước dây
* Cách thực hiện: Dùng thước để đo ở tư thế đứng bình thường, mông được đo ở chính giữa mông
2.3.6 Phương pháp toán học thống kê
Chúng tôi sử dụng phương pháp toán học thống kê, để xử lý số liệu thu nhận được với n > 30 Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng một số công thức sau:
* Tính số trung bình cộng ( X ) : Tỷ số giữa tổng lượng trị số các cá
thể với tổng số các cá thể của tập hợp mẫu
Trang 35Giá trị trung bình:
n
x X
xi : Là giá trị quan sát thứ i
n : Là số lượng đối tượng nghiên cứu
* Tính phương sai : Của một đám đông là tỷ số giữa tổng bình
phương biến sai của các trị số cá thể quanh trung bình cộng và tổng số bậc tự
do
Tính phương sai:
n
x x x
n i i
) (
* Tính độ lệch chuẩn : Là chỉ số nói lên tính chất phân tán của các trị
số xi xung quanh giá trị trung bình
Tính độ lệch chuẩn :
n
x x x
n i i
* Tính hệ số biến thiên (CV): Là tỉ lệ % giữa độ lệch chuẩn và trung
bình cộng, dùng để đánh giá tính chất đồng đều của các số liệu nghiên cứu
Hệ số biến thiên: % 100 %
x
C v x
(n > 30) Cách đánh giá : Cv 10 % thì đám đông có số liệu tương đối đồng đều
Cv > 10 % các số liệu phân bố phân tán không đồng đều
* Tính độ biến thiên :
)(
5,0
)(
100
%
2 1
1 2
X X
X X W
Trong đó : X1 là giá trị của lần kiểm tra 1
X2 là giá trị của lần kiểm tra 2
Trang 36* So sánh sự khác biệt giữa hai nhóm A và B:
t ( chỉ số t.student ) được đánh giá như sau:
t < 1,96 : Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở ngưỡng xác xuất
P 0.5%
t 1,96 : Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở ngưỡng xác xuất P < 0.5%
t < 3.291 : Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở ngưỡng xác xuất
x x
B A
B A
2.4.1 Thời gian nghiên cứu:
Đề tài được nghiên cứu từ tháng 11/2011 đến cuối tháng 5 năm 2012 được chia thành 3 giai đoạn, nhiệm vụ của mỗi giai đoạn như sau:
- Giai đoạn 1: Từ tháng 11/2011 đến tháng 1/2012 chọn đề tài, hoàn thành đề cương, bảo vệ trước hội đồng khoa học nhà trường
- Giai đoạn 2: Từ đầu tháng 2/2012 đến đầu tháng 4/2012 giải quyết nhiệm vụ 1 và nhiệm vụ 2
- Giai đoạn 3: Từ tháng 4/2012 đến cuối tháng 5/2012 xử lí kết qủa nghiên cứu, viết bản thảo luận văn, hoàn chỉnh khóa luận và báo cáo trước hội đồng khoa học
2.4.2 Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu hiệu quả của TDNĐ (Aerobic) đến
sự phát triển thể lực cho học sinh nữ khối 10 trường THPT Hòa Vang – Tp
Đà Nẵng
Trang 37- Đối tượng thực nghiệm: Học sinh nữ khối 10-Trường THPT Hòa Vang-Tp Đà Nẵng
2.4.3 Địa điểm:
Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại:
- Trường THPT Hòa Vang – Tp Đà Nẵng
- Trường đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng
Trang 38CHƯƠNG III : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3 1 Thực trạng công tác giáo dục thể chất ở Trường THPT Hòa Vang –
Tp Đà Nẵng
Trong thời đại ngày nay, GDTC trở thành một trong những yếu tố quan trọng nhằm đào tạo con người phát triển toàn diện Muốn xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh không những chỉ cần có con người phát triển cao về trí tuệ, trong sáng về đạo đức lối sống mà còn phải cường tráng về thể chất, chăm lo cho con người phát triển toàn diện về thể chất là trách nhiệm của mọi công dân, của gia đình, của toàn xã hội, của tất cả các cấp, các ngành các đoàn thể
Vấn đề đặt ra đối với ngành TDTT và ngành giáo dục nước ta là phải làm sao nâng cao chất lượng của hoạt động thể chất trong nhà trường
Qua những năm thực hiện chỉ thị 36 CT/TW của Ban chấp hành TW Đảng về công tác TDTT trong giai đoạn mới đã tổng kết như sau: “Việc tập luyện TD nội khóa, ngoại khóa trong các trường học đã có tổ chức và đầy đủ hơn Phong trào TDTT quần chúng, hội khỏe Phù đổng các cấp nhất là cấp cơ
sở đã tiến hành thường xuyên có hệ thống Tuy nhiên, công tác GDTC trong các trường còn nhiều bất cập như sau:
- Nhận thức của các cấp quản lý, giáo dục còn hạn chế
- Chất lượng dạy và học còn thấp, hiệu quả chưa cao
- Các hình thức thể thao quần chúng còn nghèo nàn, điểm tập luyện ít, chưa phải là nơi cung cấp cho đất nước những mầm non tương lai”
Để công tác GDTC trong trường học phát triển tốt cần đảm bảo những vấn đề sau:
- Chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước, của Bộ, của trường
- Nội dung giáo dục phải phong phú đa dạng phù hợp với lứa tuổi, giới tính, tình trạng sức khỏe của người học, bậc học
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị dụng cụ phục vụ cho công tác giáo dục