1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nguyên nhân thất bại trong ba cuộc kháng chiến chống triệu (thế kỷ II TCN), chống minh (thế kỷ XV), chống pháp (thế kỷ XIX)

87 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 654,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt trước sự biến động của tình hình trong nước và thế giới như hiện nay, việc đánh giá nhìn nhận lại lịch sử dân tộc là điều vô cùng cần thiết và rất quan trọng, nhất là lịch sử Vi

Trang 1

1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

Phần mở đầu

1.Lý do chọn đề tài

Nhìn lại con đường lịch sử đã qua, trong bốn nghìn năm dựng nước và giữ

nước, dân tộc ta đã phải chiến đấu chống ngoại xâm gần như thường xuyên và đã chiến thắng ngoại xâm một cách oanh liệt Đó là một nét nổi bật của lịch sử Việt

Nam, là thách thức gay go nhất nhưng cũng là niềm tự hào lớn nhất của dân tộc ta Tuy nhiên, trong lịch sử chống ngoại xâm lâu dài của dân tộc, trong cuộc chiến đấu lâu dài vì độc lập tự do của đất nước, dân tộc ta không phải không có lần thất bại, thậm chí có khi thất bại nặng nề, đau xót Trong số 13 cuộc kháng chiến bảo vệ tổ quốc mà dân tộc ta đã trải qua, có ba lần kháng chiến thất bại (cuộc kháng chiến chống Triệu đời An Dương Vương, chống Minh đời Hồ và chống Pháp đời Nguyễn)

Nhưng tại sao ba cuộc kháng chiến đó lại thất bại? Để rồi nước ta phải rơi vào ách đô hộ của bọn phong kiến phương Bắc: Triệu Đà, nhà Minh và sau này là vào tay thực dân Pháp trong những năm nữa sau thế kỷ XIX

Thực tế lịch sử đã cho chúng ta thấy rõ tất cả Song để làm sáng tỏ thì lại cả một vấn đề Đặc biệt trước sự biến động của tình hình trong nước và thế giới như hiện nay, việc đánh giá nhìn nhận lại lịch sử dân tộc là điều vô cùng cần thiết và rất quan trọng, nhất là lịch sử Việt Nam trong chặng đường dựng nước và giữ nước (thế kỷ II TCN đến thế kỷ XIX) qua những cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm để hiểu được rằng trong những lần đối đầu với kẻ thù, cha ông chúng ta đã làm được những gì cũng như chưa làm được những gì Từ đó chỉ ra những điểm chung và riêng trong việc thất bại từ ba cuộc kháng chiến Đồng thời, giúp mọi người đánh giá đúng những mặt tích cực và hạn chế của nó khi đứng trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin để nhận định Góp phần làm sáng tỏ hơn những vấn đề lịch sử của dân tộc trong thời kì cổ - trung đại Việt Nam Nhất là phục vụ cho công tác dạy học tốt hơn Mặt khác,có thể đúc rút những bài học kinh nghiệm cho việc đưa ra những chính sách, chủ trương, biện pháp về quân sự, chính trị,

Trang 3

ngoại giao… để phòng thủ đất nước, bảo vệ chủ quyền độc lập dân tộc tạo điều kiện để xây dựng đất nước trong thời đại ngày nay

Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn đề tài “Nguyên nhân thất bại trong

ba cuộc kháng chiến chống Triệu (thế kỷ II TCN), chống Minh (thế kỷ XV), chống Pháp (thế kỷ XIX)” làm công trình nghiên cứu khoa học

Dân tộc ta không những phải chống ngoại xâm thường xuyên mà còn chiến đấu trong hoàn cảnh rất gian khổ ác liệt với so sánh lực lượng rất chênh lệch Hơn nữa chiến tranh là cuộc đọ sức một mất một còn, là sự thử thách quyết liệt nhất, toàn diện nhất sức sống của một dân tộc Trong cuộc chiến đấu lâu dài vì độc lập

tự do của đất nước, dân tộc ta cũng đã có lần phải thất bại bởi kẻ thù của dân tộc ta vốn là những đế chế lớn, có nhiều tiềm lực kinh tế và quân sự, có quyết tâm xâm lược cao và ngoan cố Tuy nhiên, nếu nhìn nhận một cách khách quan thì sự thất bại của ta cũng xuất phát từ nhiều yếu tố, mà nguyên nhân thất bại từ ba cuộc kháng chiến chống Triệu, Minh, Pháp biểu hiện rõ nét nhất

Nhận định về vấn đề này đã có nhiều ý kiến tranh luận khác nhau Nhưng

dù nhìn từ góc độ nào, khía cạnh nào đi chăng nữa thì chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, thất bại đó một mặt còn xuất phát từ yếu tố chủ quan của dân tộc Cho nên, không thể trốn tránh trách nhiệm, đổ lỗi cho hoàn cảnh

Vì vậy, liên quan đến đề tài này có rất nhiều nhà nghiên cứu đề cập, trong

đó đáng chú ý có:

Trang 4

Cuốn “Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX”, NXB khoa học - xã

hội, 1955 của Đào Duy Anh, có trích dẫn khá nhiều về nguyên nhân thất bại của

ba cuộc kháng chiến trong quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc

Cuốn “Lịch Sử cổ đại Việt Nam”, NXB văn hoá - thông tin, 1957 của Đào

Duy Anh Tác giả đề cập việc thất bại của An Dương Vương trong cuộc kháng chiến chống Triệu Đà thế kỷ II TCN

Cuốn “Lịch Sử Việt Nam trước thế kỷ X”, quyển 1 – tập 1, NXB Giáo Dục,

1977 của tác giả Trương Hữu Quýnh Tác giả cũng đề cập đến quá trình đấu tranh chống giặc giữ nước trong thời kỳ lịch sử dân tộc từ thế kỷ II TCN

Cuốn “Lịch Sử Việt Nam thế kỷ X – 1427”, quyển 1 tập 2, NXB Giáo Dục,

1977 của tác giả Trương Hữu Quýnh và Nguyễn Đức Nghinh cũng đề cập đến việc thất bại của nhà Hồ trong cuộc kháng chiến chống Minh thế kỷ XV

Cuốn “Lịch Sử Việt Nam”, NXB Trẻ, 1997 của tác giả Tôn Nữ Quỳnh Trân

cũng đề cập đến nguyên nhân thất bại của các cuộc kháng chiến chống Triệu, Minh, Pháp của dân tộc ta

Cuốn “Việt Nam thế kỷ XIX (1802 – 1844)”, NXB TP Hồ Chí Minh, 2002

của GS.Nguyễn Phan Quang đã trích dẫn nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu sử học Việt Nam về nguyên nhân mất nước, trong đó trách nhiệm hoàn toàn thuộc về triều Nguyễn

Ngoài ra, trong các cuốn: “Những vấn đề lịch sử triều Nguyễn”, NXB Văn hoá Sài Gòn, 2007; Cuốn “Lịch Sử nhà Nguyễn một cách tiếp cận mới”, NXB Đại

học sư phạm, 2005,…Có nhiều bài viết đề cập tới vấn đề mất nước và trách nhiệm của triều Nguyễn

Vấn đề trên không chỉ được các nhà sử học Việt Nam quan tâm nghiên cứu,

mà còn là vấn đề cho các nhà nghiên cứu lịch sử nước ngoài chú ý đến Như tác giả Y.Tsuboi trong cuốn Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa 1847 -

1885 cũng có cách nhìn nhận của riêng mình đối với trách nhiệm để mất nước của triều Nguyễn

Trang 5

Nhìn chung, những công trình nghiên cứu đã góp phần minh hoạ một cách

cơ bản vấn đề thất bại của dân tộc Việt Nam trong quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm bảo vệ bờ cõi đât nước Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào hoặc một chuyên khảo nghiên cứu sâu về vấn đề này một cách có hệ

thống và toàn diện Vì vậy, nghiên cứu đề tài “Nguyên nhân thất bại trong ba cuộc kháng chiến chống Triệu (thế kỷ II TCN), Minh (thế kỷ XV), Pháp (thế kỷ XIX)”, tôi mong muốn nhìn nhận và đánh giá những vấn đề trên được rõ hơn

3 Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là nguyên nhân thất bại của các cuộc kháng chiến của dân tộc trong việc chống giặc ngoại xâm Triệu (thế kỷ II TCN), Minh (thế kỷ XV), Pháp (thế kỷ XIX)

3.2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi nhằm mục đích góp phần làm sáng tỏ hơn

quá trình thất bại của các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm Triệu (thế kỷ II TCN), Minh (thế kỷ XV), Pháp (thế kỷ XIX) của dân tộc để bảo vệ độc lập chủ

quyền Đồng thời, qua đây nhằm rút ra những bài học, kinh nghiệm thực tiễn từ nguyên nhân thất bại trên Để qua đó khắc phục và có cách nhìn nhận, đánh giá khách quan và đúng đắn hơn Mặt khác, cũng nhằm phục vụ cho thực tiễn lịch sử trong thời kỳ hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu của đề tài

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Trang 6

Trong quá trình nghiên cứu đề tài chúng tôi luôn đứng vững trên lập trường quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và cơ sở phương pháp nghiên cứu khoa học để trình bày, phân tích, nhận định, đánh giá các mặt tích cực cũng như hạn chế từ nguyên nhân thất bại trong chặng đường dựng nước và giữ nước (thế kỷ II TCN đến thế kỷ XIX) qua những cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm để bảo vệ độc lập dân tộc Từ đó, rút ra bản chất quy luật, khuynh

hướng chủ đạo của sự vận động phát triển các sự kiện, hiện tượng lịch sử Đặc biệt

là trong một giai đoạn lịch sử đầy diễn biến phức tạp, nên đã tồn tại nhiều quan điểm đánh giá nhận định khác nhau, nhiều khi trái ngược nhau Do đó, việc vận dụng quan điểm lịch sử - cụ thể để nghiên cứu càng là yêu cầu đặt lên hàng đầu Ngoài ra, khi nghiên cứu đề tài chúng tôi còn sử dụng nhiều phương pháp hệ thống, so sánh, đối chiếu lịch sử Việc nhìn nhận đối tượng trong tính hệ thống và trong các mối quan hệ có tính so sánh sẽ góp phần làm nổi bật thực chất, đặc điểm, những đánh giá khách quan và khoa học hơn về những đóng góp và hạn chế của cha ông ta trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ tổ quốc từ thế kỷ II TCN đến thế kỷ XIX

4.2 Nguồn tư liệu

Đề tài được hình thành trên cơ sở nhiều nguồn tư liệu khác nhau Tuy

nhiên, tư liệu thành văn đóng một vai trò quan trọng Đó là các tác phẩm sử học, các công trình nghiên cứu trên sách báo và tạp chí có liên quan Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng nguồn tư liệu lấy trên mạng Internet

5 Đóng góp của đề tài

Đề tài này góp phần hiểu thêm về một thời kỳ lịch sử dân tộc Đó là thế kỷ

II TCN, thế kỷ XV, thế kỷ XIX Qua đây làm sáng tỏ hơn những mặt hạn chế trong quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm để bảo vệ độc lập dân tộc là như thế nào? Để từ đó, khắc phục rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu áp dụng vào thực tiễn đất nước hiện nay đang đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá hiện, đại hoá đất nước Hội nhập vào xu thế chung của khu vực và thế giới mà vẫn giữ

Trang 7

vững được nền độc lập tự chủ, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia bằng cách đưa ra những chính sách, biện pháp hợp lý về chiến lược cũng như sách lược trong lĩnh vực quân sự, ngoại giao…Từ đây góp phần nâng cao hơn nữa vị thế của nước ta trên trường quốc tế

Ngoài ra, công trình nghiên cứu này sẽ là nguồn tư liệu tham khảo phục vụ cho việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu của các bạn sinh viên nói chung và sinh viên khoa sử nói riêng

6 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mở bài, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, phần nội dung chính của đề tài gồm có hai chương:

Chương 1: Việt Nam trong các cuộc kháng chiến chống Triệu (thế kỷ II TCN), Minh (thế kỷ XV), Pháp (thế kỷ XIX)

Chương 2: Cuộc kháng chiến chống Triệ(thế kỷ II TCN), Minh (thế kỷ XV), Pháp (thế kỷ XIX) và nguyên nhân thất bại của nó

KẾT LUẬN

Trang 8

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: VIỆT NAM TRONG CÁC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG TRIỆU (THẾ KỶ II TCN), CHỐNG MINH (THẾ KỶ XV), CHỐNG PHÁP (THẾ KỶ XIX)

1.1 Âu Lạc dưới thời An Dương Vương và cuộc xâm lược của Triệu Đà (thế

kỷ II TCN)

1.1.1 Sự ra đời và tình hình kinh tế - xã hội của nước Âu Lạc

1.1.1.1 Cơ sở của việc hình thành nước Âu Lạc

Vào cuối thế kỷ IV TCN, với sự phát triển của nông nghiệp, nghề luyện kim đồng thau và sự ra đời của đồ sắt, các bộ lạc trên cơ sở đó cũng lớn mạnh dần Bấy giờ ở vùng miền núi phía Bắc của nước Văn Lang, một liên minh bộ lạc có quan hệ gắn bó với các Vua Hùng là liên minh bộ lạc Thục hùng mạnh hẳn lên chiếm cứ cả vùng đồng bằng Bắc Bộ, đặt quan hệ qua lại chặt chẽ hơn với các bộ lạc khác Dần dần, do nhu cầu tăng thêm của cải và quyền lực của bộ phận quý tộc thị tộc, tù trưởng bộ lạc Thục - mà truyền thuyết đặt tên là Thục Phán đã đem quân đánh Hùng Vương thứ 18 vào năm 257 TCN để tranh ngôi vua Cuộc xung đột đang tiếp diễn vào cuối thời Hùng Vương thì nước Văn Lang đứng trước mối đe dọa cực kỳ nguy hiểm Đó là cuộc xâm lược đại quy mô của đế chế Tần xuống phía Nam Khi mà vào năm 214 TCN, Tần Thủy Hoàng (hoàng đế Trung Hoa) sai tướng là Đồ Thư sang đánh đất Bách Việt Trong hoàn cảnh nguy cơ xâm lược đến gần uy hiếp sự diệt vong của các liên minh bộ lạc Tây Âu cũng như Lạc Việt, cũng

là lúc thế lực của vua Hùng không đương đầu nổi lực lượng của Thục Phán nên người Tây Âu và người Lạc Việt đã liên minh lại cùng nhau đứng lên chống quân

Tần Theo sách Hoài Nam Tử, lúc đó “người Việt đều vào rừng, ở với cầm thú không ai chịu để cho quân Tần bắt” và “họ cùng nhau đặt người kiệt tuấn lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần” [20;30] Sau khi thành công đuổi được quân

Trang 9

xâm lăng, vai trò và uy tín của Thục Phán, người thủ lĩnh kiệt xuất của liên minh

bộ lạc Tây Âu ngày càng được nâng cao, không chỉ ở trong bộ lạc Tây Âu mà còn

có ảnh hưởng sâu rộng trong bộ lạc Lạc Việt Bởi vậy, vua Hùng đã phải nhường ngôi cho Thục Phán nước Âu Lạc ra đời từ đó Thục Phán tự lập làm vua tức Thục

An Dương Vương, đặt quốc hiệu là Âu Lạc (thế kỷ III TCN)

Tên nước Âu Lạc bao gồm hai thành tố là Tây Âu (hay Âu Việt) và Lạc Việt, phản ánh sự liên kết của hai nhóm người Lạc Việt và Tây Âu

Sự thành lập nước Âu Lạc là một bước phát triển kế tục của nước Văn Lang, một sự hợp nhất ở mức độ cao hơn, phạm vi rộng hơn của người Lạc Việt

và người Tây Âu Mặc dù nước Âu Lạc của An Dương Vương chỉ tồn tại trong khoảng thời gian ngắn (khoảng gần 30 năm từ năm 208 đến năm 179 TCN), nhưng

nó cũng đã có những đóng góp to lớn vào trong tiến trình phát triển của lịch sử đất nước

1.1.1.2 Trạng thái kinh tế - xã hội của nước Âu Lạc

Mặc dù tồn tại trong một thời gian không dài, từ năm 208 TCN đến năm

179 TCN Nhưng kinh tế - xã hội thời Âu Lạc đều tiếp tục phát triển trên cơ sở những thành tựu đã đạt được của nước Văn Lang trước đây Trong đó văn hóa

Đông Sơn vẫn là cơ sở văn hóa chung của nước Văn Lang và Âu Lạc

Trong đời sống văn hóa được thể hiện rõ nét qua văn hóa vật chất, văn hóa

xã hội và văn hóa tinh thần Ở lĩnh vực xã hội với những nét văn hoá đặc sắc, phong phú, đa dạng thể hiện rõ tính cách và quan điểm sống của người Âu Lạc vừa giản dị, mộc mạc nhưng cũng hết sức đặc sắc Tuy nhiên, xã hội Âu Lác thời

kì này vẫn là xã hội phụ quyền Vì vậy mà vai trò của người đàn ông càng được nâng cao

Trong lĩnh vực kinh tế, mặc dù thời kì này sinh hoạt săn bắn và hái lượm vẫn còn giữ một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế của cư dân nhưng nghề chài lưới và nghề nông đã có những bước tiến bộ đáng kể Khi nghề đánh cá đã phát triển với các dụng cụ đánh bắt như lưới có chì, lưới bằng đất nung, lưỡi câu

Trang 10

bằng đồng thau, mũi lao có ngạnh bằng xương Thời kì này cư dân Âu Lạc đã đẩy mạnh phát triển lúa nước, đặc biệt là lúa nếp thơm dẻo và trồng các loại rau củ, cây trái như trầu cau, dưa hấu hoặc khoai đậu, trồng dâu, nuôi tằm … Kĩ thuật luyện kim cũng phát triển mạnh khi con người biết làm ra những công cụ sản xuất bằng kim loại như rìu đồng và quan trọng nhất là cày đồng và lưỡi hái bằng đồng ảnh hưởng mạnh đến sinh hoạt nông nghiệp Lưỡi cày với nhiều hình dáng khác nhau có thể hình cánh bướm hoặc hình tam giác Trong đó, tiêu biểu nhất là việc người dân Âu Lạc đúc thành công những chiếc trống đồng phức tạp đòi hỏi một trình độ kĩ thuật và văn hoá cao

Không những vậy, những dụng cụ sinh hoạt như mâm đồng, đục, kim dao, lưỡi câu, chuông và đồ trang sức cũng được sản xuất với số lượng đáng kể Ngoài

ra, đã xuất hiện nghề luyện sắt và nghề gốm phát triển

1.1.2 Cuộc xâm lược của nhà Triệu

Tài liệu xưa nhất chép việc Triệu Đà chiếm cứ được Âu Lạc là sách “Sử kí”

(q.11) chép rằng: Sau khi nhà Hán đã thống nhất Trung Quốc thì Triệu Đà thần phục nhà Hán Nhưng sau khi Hán Cao Tổ chết, Triệu Đà bị Cao Hậu ức chế nên

tự xưng đế không chịu thần phục nhà Hán nữa Triệu Đà cho rằng, chính vì Trường Sa Vương dèm pha mà Cao Hậu cấm không cho bán đồ sắt cho Nam Việt, nên Đà phát binh đánh các ấp ở biên cảnh Trường Sa Cao Hậu sai tướng là Long

Lự Hầu Chu Táo cử binh đánh Nam Việt Cao Hậu chết [ nhà Hán] tức bãi binh

Đà nhân thế lấy binh lực uy hiếp biên cảnh, lấy của cải đút lót, khiến Mân Việt và Tây Âu Lạc thần phục [1;87- 88]

Tuy nhiên, theo truyền thuyết của ta và kết hợp với truyền thuyết chép

trong “Việt Kiều Thư” thì sự việc lại không diễn ra như vậy Bởi vì, trong thời Cao

Hậu quân nhà Hán đã tấn công nước Nam Việt của Triệu Đà vào năm 181 TCN, nhưng thất bại Năm 180 TCN, Cao Hậu chết nhà Hán phải bãi binh Từ đó, mặt Bắc được yên ổn, Triệu Đà có điều kiện để tiến hành xâm lược nước Âu Lạc

Trang 11

Quân xâm lược nhà Triệu đã nhiều lần tiến vào Tiên Du, Vũ Ninh, sông Bình Giang (vùng Bắc Ninh ngày nay) nhưng do lực lượng quốc phòng của An Dương Vương lúc bấy giờ khá hùng mạnh với số quân đông, được huấn luyện chu đáo, có vũ khí tốt với nỏ Liên Châu có tòa thành Cổ Loa kiên cố Dưới sự lãnh đạo của An Dương Vương và những tướng soái tài ba như Cao Lỗ, quân dân Âu Lạc lại chung sức đồng lòng, đoàn kết quyết tâm chiến đấu nên đã nhiều lần đánh bại

và đánh lui quân xâm lược Triệu Đà ở vùng núi đồi Tiên Du và Vũ Ninh

1.2 Đại Việt thời nhà Hồ và cuộc xâm lược của nhà Minh (thế kỷ XV)

1.2.1 Những cuộc cải cách của Hồ Quý Ly và nhà Hồ

1.2.1.1 Quá trình tham chính của Hồ Quý Ly và việc thành lập nhà Hồ

Xã hội cuối Trần ngày càng lâm vào con đường khủng hoảng trầm trọng lý giải về điều này khiến rất nhiều người phải ngạc nhiên, bởi thật khó lường trước được một triều đại giỏi giang cả về dựng nước và giữ nước như nhà Trần mà từ Dụ Tông trở đi lại nhanh chóng suy đồi đến thế Vậy nguyên nhân đó bắt nguồn từ đâu

Đầu tiên, là sự sa đọa của tầng lớp quý tộc cầm quyền dẫn tới nỗi thống khổ của nhân dân, sự sa đọa của tầng lớp quý tộc cầm quyền đã bắt đầu bộc lộ từ khi những khả năng lớn lao nhất của dân tộc bị ném vào những cuộc chiến tranh phi

nghĩa để thõa mãn những tham vọng về đất đai, uy thế và quyền lực.“Bụi Hồ không dám động” đó là sự thật, nhưng “ngàn năm thanh bình” thì trong thực tế

chỉ có thái bình, yên ấm vui chơi cho địa chủ, quý tộc mà thôi Và cũng chỉ có họ

mới “cuộc chơi năm nay lại hơn những cuộc chơi năm xưa ” [27;178] , như lời

thơ của Trần Nguyên Đán đã nói Nhiều chùa tháp và cung điện được xây dựng

Dụ Tông (1341 -1369) sai đào hồ lớn ở vườn ngự, chất đá làm núi, bốn mặt khai sông cho núi thông vào làm chổ vui chơi Sau đó còn đào một hồ nhỏ khác bắt dân Hải Đông chở nước mặn về chứa vào hồ để nuôi hải sản

Kế đến là sự đình trệ của nền kinh tế nông nghiệp Khi mà cuộc sống “an

cư lạc nghiệp”, lao động trong hòa bình mà nhân dân Đại Việt mong muốn sau

Trang 12

những năm kháng chiến chống Nguyên căng thẳng, không thể tìm thấy được trong

cả thời gian rất dài cả thế kỷ XIV Để có đủ binh lính, phu đài tải lương thực, khí giới cung cấp cho những cuộc chiến tranh liên miên với Ai Lao và Chiêm Thành, nhà Trần đã huy động hết nhân lực, tài nguyên sản vật, sản phẩm do sức lao động của nông dân, thợ thủ công tạo ra, những lúc dân đói mà nhà vua vẫn tích trữ thóc gạo để chuẩn bị đánh Chiêm

Cuối cùng là sự bất ổn định của xã hội, đến giữa thế kỷ XIV mâu thuẫn giai cấp đã gay gắt đến mức bùng nổ thành các cuộc khởi nghĩa lớn của nông dân Năm 1343 đại hạn, mất mùa, nhân dân nổi dậy khắp nơi, nhất là gia nô các vương hầu Đến năm sau 1344, nông dân lại tụ tập ở núi Yên Phụ (Hải Hưng), dưới ngọn

cờ khởi nghĩa của Ngô Bệ, đi cướp phá các nhà quan lại, địa chủ Bị quân triều đình đàn áp, quân khởi nghĩa tan vỡ Nhưng 14 năm sau, sau những trận đói lớn năm 1357 đến 1358, lực lượng quân khởi nghĩa của Ngô Bệ lại tập hợp lại ở núi

Yên Phu dựng cờ yết bảng “chẩn cứu bần dân” Cả một vùng rộng lớn từ Thiên

Liêu đến huyện Chí Linh ở trong phạm vi khống chế của nghĩa quân Đến năm

1360 Ngô Bệ và các tướng tá bị bắt và cuộc khởi nghĩa bị nhập tắt

Phong trào khởi nghĩa của nông dân kéo dài và có những thời kỳ bột phát mạnh mẽ là biểu hiện cụ thể nhất của sức sản xuất xã hội bị nhà nước phong kiến

và giai cấp địa chủ cầm quyền kìm hãm, phá hoại nghiêm trọng và đang đòi hỏi sự đổi mới tiến bộ trong nền chính trị - xã hội để có thể tiếp tục phát triển

Đứng trước bối cảnh nhà nước phong kiến thời Trần lâm vào tình trạng nguy biến, thì ở triều đình, một người ngoại thích, Hồ Quý Ly tự nhận cái trách nhiệm đứng ra giải quyết các vấn đề để cứu vãn nguy cơ

Do xuất thân ở tầng lớp quan liêu địa chủ, nhờ cô lấy vua, bản thân lại là phò mã Quý Ly được dự vào hàng đại quý tộc, được giữ trọng chức và được vua tin dùng Cùng với sự thông minh lỗi lac, có phí phách, thủ đoạn, Qúy Ly dụng tâm phác thảo những việc cải cách, nhằm củng cố triều chính, khôi phục nền kinh

tế tài chính và chấn khởi binh thế của nhà nước, để bên trong có thể giải trừ nội

Trang 13

biến và hòa hoãn mâu thuẫn giai cấp, bên ngoài có thể diệt trừ ngoại hạn Đồng thời Qúy Ly cũng ra sức phát triển uy lực của mình để nhằm thực hiện ý đồ cướp ngôi nhà Trần

Năm 1375, đời Trần Cánh (Duệ Tôn), Quý Ly được thăng làm Tham mưu quân sự vì thế ông có điều kiện để từng bước thâu tóm mọi binh quyền Năm

1739, đời Trần Nghiễn, Thượng hoàng Trần Phủ thăng Quý Ly lên chức Tư thông kiêm Khu mật đại sứ Năm 1387, Quý Ly được thăng lên chức Đồng bình chương

sự , tức là chức Tể tướng Từ đây Quý Ly đã nắm trọn cả chính quyền trong tay nên dã tâm lật đổ nhà Trần cướp đoạt vương quyền của ông dần bộc lộ rõ khi mỗi ngày một chuyên quyền thêm, để làm duy yếu dần thế lực của nhà Trần ông đã đưa dần những người bà con hay tay chân cắt đặt vào các trọng chức văn võ để làm vây cánh và loại trừ những chức trách quan trọng trong triều do quý tộc Trần nắm giữ Do đó, phàm trong triều có thế lực không chịu theo, trước sau gì ông đều trừ diệt cả

Sau khi Trần Cánh tử trận ở Chiêm Thành, Trần Nghiễn nối ngôi Trần Nghiễn tuy làm vua nhưng chỉ có danh mà không có phận, khi chẳng có quyền uy

gì về triều chính mà mọi chuyện chính sự đều do một tay Hồ Quý Ly giải quyết cả Hơn nữa, Thượng hoàng chỉ tin cậy Quý Ly nên càng tạo điều kiện cho ông ra sức lộng hành, bất bình trước chính sự đó, Trần Nghiễn đã cùng với Thái úy Trang Định Vương và một số triều thần mưu giết Quý Ly Sự việc chưa thành thì bị lộ, Quý Ly dâng tấu xin Thượng hoàng giết Trần Nghiễn và lập Chiêu Định Vương Trần Ngung nối ngôi Đồng đảng của Trần Nghiễn đều bị giết cả

Năm 1391, Thượng hoàng băng hà, là một cơ hội hết sức thuận lợi cho Qúy

Ly cướp ngôi Ông tự tôn làm Phụ chính thái sư, vừa cầm quốc chính, vừa giữ việc dạy vua Để tiến hành việc cướp ngôi năm 1397, Quý Ly định dời đô vào Thanh Hóa, ông cho xây thành trì, dựng cung điện bên núi An Tôn (nay goi là thành Tây Giai hoặc thành nhà Hồ, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa) rồi cuối năm bắt Trần Ngung dời vào Tây Đô Năm sau, lại bắt Trần Ngung nhường ngôi lại cho thái tử

Trang 14

Trần Án lên 3 tuổi (Thiếu đế) Quý Ly làm Phụ chính, xưng là đại vương rồi sai giết Trần Ngung Dã tâm cướp đoạt ngôi vua của Quý Ly đã rất rõ ràng Tháng 3 năm sau (1400), Quý Ly phế truất Trần Án tự xưng hoàng đế, lập nên nhà Hồ Mở

ra một thời kỳ mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam

1.2.1.2 Những biện pháp cải cách của Hồ Quý Ly

Trước những yêu cầu khách quan của xã hội thời Trần với mong muốn cứu vãn tình thế Hồ Quý Ly đã tiến hành cuộc cải cách toàn diện trên các lĩnh vực: chính trị, quân sự, kinh tế -xã hội và văn- hóa giáo dục …

Trên lĩnh vực chính trị- quân sự :

Hồ Quý Ly đã cho cải tổ lại bộ máy chỉ huy quân sự lúc bấy giờ: Tổ chức các kì thi sát hạch nhân tài, tìm cách chấn chỉnh và tăng cường quân đội như đưa vào đội ngũ những người khỏe mạnh và giảm bớt người yếu Năm 1375 Hồ Quý

Ly đã đề nghị chọn các viên quan người nào có tài năng luyện tập võ nghệ thông hiểu thao lược thì không kể là tôn thất, đều cho làm tướng coi quân

Năm 1397 thay đổi một số lộ trấn trấn và quy định về cơ chế làm việc: Lộ coi phủ, phủ coi châu, châu coi huyện

Hồ Quý Ly cho xây dựng một kinh thành ở An Tôn (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) còn gọi là Thành Nhà Hồ Tăng cường củng cố sức mạnh quân sự quốc phòng

Hồ Quý Ly đã cho cải tiến các loại vũ khí tiêu biểu là Hồ Nguyên Trừng (con của

Hồ Quý Ly) đã chế tạo ra súng thần cơ, thuyền chiến cổ lâu đi biển

Hồ Quý Ly đặt lệ cử quan ở Tam quán và Nội nhân , đi về các lộ thăm hỏi cuộc sống nhân dân và tình hình quan lại để thăng giáng cho hợp lý (năm1400)

Trên lĩnh vực tài chính- kinh

Tài chính:

Trang 15

Năm 1396, Hồ Quý Ly cho ban hành tiền giấy thu hồi hết các loại tiền đồng

gọi là “thông bảo hội sao” có 7 loại với các hình vẽ khác nhau Nhà nước quy

định làm giả phải tội chết, 1 quan tiền đồng đổi được 1 quan 2 tiền giấy, ai dùng tiền đồng bị bắt cũng bị tội như làm giả Trước phản ứng của nhân dân, năm 1403 nhà Hồ ban điều luật về tội không tiêu tiền giấy, nâng giá hàng và đóng cửa hàng, đặt chức thị giám, ban mẫu về: Cân, thước, thăng, đấu

Năm 1402 Hồ Quý Ly cho định lại thuế đinh và thuế ruộng Thuế đinh chỉ đánh vào những người có ruộng được chia, còn không phải đóng thuế đinh đó

là người không ruộng,trẻ mồ côi, đàn bà góa Và thuế được đánh theo lũy tiến :

người có 5 sào ruộng nộp 5 tiền, có trên 2 mẫu 6 sào nộp 3 quan …

Về kinh tế :

Hồ Quý Ly đặt ra phép hạn điền vào năm 1397 Tất cả mọi người từ quý tộc cho đến thứ dân, đều bị hạn chế số ruộng tư (tối đa:10 mẫu) trừ đại vương và trưởng công chúa Người nào nhiều ruộng thì được phép lấy ruộng chuộc tội còn ruộng thừa thì sung công

Năm 1398 Hồ Quý Ly đã cho quan về địa phương làm lại sổ ruộng đất với mục đích là để kiểm tra việc thực hiện chủ trương hạn điền Những ai có ruộng tư thi phải kê khai rõ số ruộng và phải cắm thẻ ghi tên của mình trên mảnh ruộng đó Nếu sau 5 năm ruộng nào không có ai nhận thì nhà nước sung công

Trang 16

những dân phiêu tán thì không được ghi vào sổ còn các dân kinh thành sống ở các phiên trấn phải trở về quê quán

Nhà Hồ đã đưa những người có của mà không có ruộng biên vào quân ngũ

ở lại trấn giữ lâu đài khi đánh chiếm được vùng đất Hóa Châu đến Cổ Lũy vào năm 1403 và sau đó gọi nhà giàu nộp tâu vào đây

Nhà Hồ đã cho quan địa phương khám xét nhà giàu có thừa thóc, bắt phải bán thóc cho dân đói theo thời giá, khi nạn đói xảy ra năm 1403 đồng thời đặt quản tế thự để chữa bệnh cho nhân dân

Trên lĩnh vực văn hóa-giáo dục :

Hồ Quý Ly đã cho chấn chỉnh lại Phật giáo và Nho giáo đề cao Nho giáo và hạn chế Phật giáo, Đạo giáo Năm 1396, Hồ Quý Ly đã cho sa thải các tăng đạo dưới 50 tuổi bắt họ phải hoàn tục vị nho giáo thực dụng chống giáo điều kết hợp

với tinh thần pháp gia Năm 1392 soạn sách “minh đạo” bàn về Nho giáo, phê phán thói giáo điều của Nho Hàn Dũ, Chu Đôn Di, Trình Hiệu La “trộm Nho” và

đề cao Chu Công Ngăn cấm và xử phạt nặng những người làm nghề thương thuật

Người có ý thức đề cao chữ Nôm, từ đó cho nên ông đã tự mình dịch “Thiên Vô

Dật” để dạy cho vua Trần Nhuận Tông và dịch sách Kinh thi để cho các nữ quan

dạy các phi tần, cung nữ

Hồ Quý Ly rất quan tâm đến giáo dục và thi cử Năm 1396, Hồ Quý Ly cho sửa lại chế độ thi cử đặt kỳ thi hương ở địa phương và thi hội ở kinh thành

Những người đã thi hội thì phải làm thêm một bài văn do vua đề ra để định vị thứ bậc Ông đã bỏ trường thi ám tả cổ văn thay bằng thi kinh nghĩa trong 4 trường thi Ông đã đặt thêm trường thứ 5 thi viết chữ và toán

Ngay sau khi mới lên ngôi ông mở khoa thi hội lấy đỗ 20 người trong đó có

Nguyễn Trãi Nhà sử học Ngô Thời Sĩ “phép khoa cử đến đây mới đủ văn tự 4

Trang 17

trường, đến nay còn theo,không thay đổi được” Năm 1397, Hồ Quý Ly đã đề

nghị đặt học quan ở các lộ Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Đông

1.2.2.Cuộc xâm lược của nhà Minh

1.2.2.1.Những âm mưu chính trị chuẩn bị cho cuộc tiến công của nhà Minh

Từ lâu, nhà Minh đã có dã tâm để thôn tính nước Đại Việt của ta Nhưng do việc nhà Hồ thành lập trong bối cảnh tình hình Trung Quốc đang rối loạn nên chúng chưa thể thực hiện được mưu đồ Mãi đến năm 1403, khi Minh Thát Tông diệt Huệ để lên ngôi mới tạo điều kiện để nhà Minh đẩy mạnh quá trình xâm lược Nhiều đoàn sứ thần được cử sang thăm dò, liên lạc với những quan lại cũ của nhà Trần có tư tưởng chống nhà Hồ, chuẩn bị nội ứng

Mặt khác, thông qua việc đòi cung cấp lương thảo, mượn đường để đánh Chiêm Thành, đòi cắt nhường đất đai biên giới chỉ là những bước lấn dần, thử thách, thăm dò thái độ triều đình nhà Trần và nhà Hồ của phong kiến nhà Minh để tiến tới một cuộc tiến công xâm lược toàn bộ năm 1405, phong kiến nhà Minh tiến một bước có tính chất quyết định trong sự thực hiện mưu đồ đen tối của mình

Trước đây, nhà Minh đã phong cho Hồ Hán Thương làm An Nam Quốc Vương (1043), tức là nhà Minh đã công nhận việc lập của nhà Hồ Nhưng nay nhà Minh lại mượn cớ Hồ Quý Ly giết vua Trần để cướp ngôi, sai sứ giả là Lý Kỳ

sang điều tra “tội” đó, mục đích của chúng là để do thám tình hình, khuấy động

nhân dân chống lại nhà Hồ và tạo nên danh nghĩa cho cuộc tiến công xâm lược của

chúng Với chiêu bài “Phù Trần diệt Hồ”, nhà Minh ra sức lôi kéo bọn quý tộc nhà Trần nổi dậy bạo loạn, đấu tranh để giành lại “Ngôi vương” của tổ tông, sử

dụng một số phần tử phản bội để làm tay sai nội thám tình hình, gây chia rẻ trong nhân dân và sẵn sàng làm nội ứng khi quân Minh kéo sang Và trong số những tay sai bán nước đó, nhà Minh đặc biệt sử dụng Trần Thiêm Bình Thiêm Bình tức là Trần Kháng là gia nô của Trần Nguyên Huy, khoảng niên hiệu Quang Thái (1388-1398) theo quân Chiêm Sau khi quân Chiêm rút lui Nguyên Huy bị bắt trị tội,

Trang 18

Trần Kháng trốn chạy, phiêu bạt sang Trung Quốc và đổi tên thành Thiêm Bình, giả danh là con của Nghệ Tông Với chiêu bài này, nhà Minh đã có cớ để đem quân tiến sang nước ta

1.2.2.2.Cuộc tiến công xâm lược trên quy mô lớn của quân Minh

Sau khi đánh tan đạo quân hộ tống Thiêm Bình, triều đình nhà Hồ cử sứ sang nhà Minh biện bạch về sự giả trá của Thiêm Bình và xin cống nạp như cũ để giữ nối quan hệ bang giao giữa hai nước nhưng đã bị nhà Minh khước từ và sứ giả nhà Hồ đã bị vua Minh giữ lại không cho về nước

Mưu đồ dùng biện pháp sử dụng tay sai chính trị với sự can thiệp hỗ trợ của

nô ti đội quân nhỏ để nắm lấy đất nước Đại Việt bất thành khiến vua nhà Minh vô cùng căm giận, quyết tâm phục thù, rửa hận khi tiến hành xâm lược bằng một lực lượng vũ trang lớn trong một cuộc hành quan quy mô Nhà Minh đã huy động và

tổ chức một đạo quân trên 20 vạn bộ binh và kị binh với chục vạn dân phu vận chuyển do bọn Chu Năng, Trương Phụ, Mộc Thạnh, Lý Bân, Trần Húc chỉ huy, cụ

thể: “Thành quốc công Chu Năng được cử làm tống binh, Tân thành hầu Trương Phụ làm hữu phó tướng quân, thống suất đại binh theo đường Lạng Sơn tiến công; Trấn thủ Vân Nam là Tây binh hầu Mộc Thạnh làm Tả phó tướng quân lãnh đạo một đạo quân thứ hai tiến vào theo đường sông Hồng ” [1;288] Mặt khác, sai các

Đô ty các tỉnh Chiết Giang, Phúc Kiến, Giang Tây, Quảng Tây, Hồ Quảng điều động 8 vạn binh đến Quảng Tây để đợi lệnh Tổng binh và lệnh cho Đô ty tỉnh Sơn Đông tuyển chọn 1000 quân tinh nhuệ trong hai vệ và nghi vệ của Thanh Châu, điều động đến kinh đô để theo Tổng binh; Đồng thời sai Thục Lương Xuân lựa chọn 5000 quân Mã bộ và lệnh cho Đô ty các tỉnh Vân Nam, Tứ Xuyên tuyển dụng 7 vạn quân Mã bộ đến Vân Nam chờ lệnh của Tả phó tướng quân

Tháng 8 năm 1406, bọn Chu Năng xuất phát từ Kim Lăng, ngược dòng Trường Giang, qua Vũ Xương, Lạc Dương, Động Đình Hồ theo sông Tương qua sông Quế, sang sông Uất rồi theo Tả Giang đến phủ Thái Bình Sau gần hai tháng

Trang 19

thì đến Long Châu để chuẩn bị tiến công thì Chu Năng không may qua đời vì bệnh nặng, Hữu phó tướng Trương Phụ lên thay làm Tổng binh

Ngày mồng 9 tháng 10 năm Vĩnh Lạc thứ 4, tức tháng 11 năm 1406, Trương Phụ xuất phát từ Bằng Tường, qua ải Ba Luỹ (tức ải Nam Quan), sai bọn

Đô đốc Quảng Tây đóng dinh ở dưới cửa quan để lo chở lương và sửa đường bắc cầu Tại mặt Vân Nam thì Mộc Thạnh tiến công từ Mông Tự, chiếm lấy cửa Mãnh Liệt để tiến quân vào nước ta, y đã cho quân chặt gỗ đóng thuyền xuống đến cửa

sông Lô, Lý Bân là Tả tham tướng cho rằng: “Muốn vượt qua được sông Hồng chỉ

có thể tiến ngược lên phía thượng lưu mới dễ dàng nhất” [1;289] Vì vậy ban

đêm, quân lính ngầm khiêng thuyền, theo đường tắt ra phía sông Thao - Khúc sông Hồng ở miền Phú Thọ, đồng thời Mộc Thạnh cũng cho quân chèo thuyền ngược sông để liên lạc với quân của Lữ Nghi, hai quân hợp nhau đánh chiếm được mặt sông Thao Chiến thuật của Trương Phụ là phải tìm nơi thuận tiện để vượt qua sông Hồng nếu đến thẳng Gia Lâm mà qua sông thì rất khó, bởi một mặt chúng không có thuyền bè, mặt khác quân ta đã bố phòng rất chặt chẽ ở phía Nam sông Trương Phụ phải dùng mưu cho quân du kỵ thẳng đến miền Gia Lâm, ban đêm đốt đuốc bắn súng ầm lên để cho quân ta tưởng rằng giặc muốn qua sông ở đó, rồi ngầm tiến quân về phía thượng lưu để hội với quân của Mộc Thạnh

Ngày mồng 6 tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 4, tức tháng 4 năm 1407 Trương Phụ nhận được thư của Mộc Thạnh báo rằng đã chiếm được mặt sông Thao và hiện đang đóng quân ở bắc ngạn, trước mặt thành Đa Bang Mộc Thạnh cũng nói

thêm rằng: “Đồn trại của quân ta ở nam ngạn đều sát bờ sông, khó lòng leo lên chiếm được, chỉ có thành Đa Bang, dưới chân có bãi cát rộng, có thể trú quân để đánh thành Tuy thành đất cao và dốc, lại có nhiều lớp hào sâu, nhưng có đủ chiến cụ thì cũng dễ chiếm lấy” [1;289] Trương Phụ bèn hợp quân với Mộc

Thạnh và bàn kế đánh thành

Ngoài ra, nhà Minh còn sai Dương Tiến Bảo và Lý Kỳ mang sắc vào dụ Chiêm Thành phối hợp tấn công ở biên giới phía Nam

Trang 20

Có thể nói rằng, với cuộc tiến công xâm lược trên quy mô lớn lần này của quân địch Vua Minh đã tỏ rõ quyết tâm phải thôn tín bằng được nước ta Có như vậy thì y mới rửa được mối nhục thù và tạo được uy thế lớn với các nước láng giềng xung quanh

1.3 Việt Nam dưới triều Nguyễn và cuộc xâm lược của thực dân Pháp

1.3.1 Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội dưới triều Nguyễn

1.3.1.1 Về chính trị

Tháng 5 năm Nhâm Tuất (1802), sau khi đánh bại triều đại Tây Sơn do vua Cản Thịnh (tức Nguyễn Quang Toản ) đứng đầu, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Gia Long, định đô ở Thuận Hóa (Huế ), phục hồi lại chính quyền phong kiến của các chúa Nguyễn trước đó đã bị phong trào Tây Sơn lật đổ (1777),

mở đầu triều Nguyễn triều đại phong kiến cuối cùng của lịch sử Việt Nam

Việc làm đầu tiên sau khi lên ngôi là Nguyễn Ánh tổ chức bộ máy nhà nước Dưới thời Gia Long (1802-1819) tổ chức bộ máy nhà nước được chấn chỉnh dần nhằm xây dựng một thể chế quan liêu chuyên chế Bộ máy chính quyền Trung ương tức là triều đình có vua đứng đầu, nắm toàn quyền quyết định mọi công việc

hệ trọng của đất nước Dưới vua có 6 bộ “Bộ lại, bộ hộ, bộ lễ, bộ binh, bộ hình, bộ công” [22;135] Đứng đầu mỗi bộ là Thượng thư có các quan chức tả hữu tham

tri, tả hữu thị lang Mỗi bộ theo phạm vi công việc mà chia thành các tri chuyên trách Nhiệm vụ của các bộ đã có quy định cụ thể Ngoài ra, trong cơ cấu tổ chức

bộ máy nhà nước thời Gia Long còn có một số cơ quan sự vụ chuyên môn như Nội tào, Ty thông chính, Quốc tử giám, Thái y viện, Tào chính, Vũ khố, Khâm thiên giám, Tượng y viện …Để tập trung quyền lực vào Hoàng đế, đề phòng mọi sự lấn

át uy quyền của nhà vua, Gia Long đặt ra lệ “Tứ bất” (bốn không): “Trong triều không đặt chức tể tướng, thi đình không lấy trạng nguyên, trong cung không lập hoàng hậu, không phong tước vương cho người khác” [22;135]

Đến thời Minh Mạng, tính chất chuyên chế phát triển cao độ song song với việc hạn chế quyền hành các cấp địa phương Một cuộc cải cách hành chính được

Trang 21

tiến hành vào các năm 1831, 1832 Triều Nguyễn bãi bỏ chế độ cấp lộc điền cho quan lại, chỉ cấp một ít ruộng thờ (tự điền) cho những công thần Thỉnh thoảng

quan lại được cấp thêm tiền “dưỡng liêm” nhưng vẫn không đủ nhu cầu phục vụ

cho lối sống hưởng thụ xa hoa của họ Nạn tham nhũng do vậy cũng nảy nở và ngày một phổ biến dần trở thành thông lệ trong hàng ngủ quan lại Họ tìm mọi cách để hạch sách nhân dân chiếm đoạt tiền của Năm 1827, Minh Mạng tỏ ra

không hài lòng và hết sức tức giận trước thực trạng các quan lại “coi pháp luật như hư văn, xoay trở nhiều vành, chỉ cốt lấy tiền, không được thì buộc tội”

[28;211] Tuy nhiên, tình trạng tham ô, hối lộ không ngừng phát triển, mặc dù Gia Long, Minh Mạng xử phạt rất nghiêm kể cả đối với những người giữ chức cao quyền trọng cũng không nghiêm lệ, bỏ qua Vậy nhưng, để hạn chế nảy sinh mâu thuẫn nội bộ trong triều, nhất là trong hàng ngủ quan lại thì các vua Nguyễn cũng

tìm mọi cách bênh vực, bao che cho các quan và tránh xa các vụ hối lộ “quan là cha mẹ dân, làm nhục quan huyện thì là gì còn uy tín cua quan” [24;343]

Trước cảnh quan trường thối nát, bất chính như vậy, nhân dân ta thời bấy giờ đã truyền nhau:

“Cơn ơi mẹ bảo con này Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan” [ 28;211]

Tiếp tay quan lại để bóp nặn nhân dân là bọn hào lý địa phương Chúng cấu kết với nhau lập bè kéo cánh, mặc sức hoành hành, làm mưa làm gió ở khắp các

địa phương khiến nhân dân lao động cùng một lúc chịu cảnh “một cổ hai tròng”

nên cuộc sống vốn đã khổ nay lại càng khổ thêm không sao ngẩng đầu dậy được Đau lòng và bất mãn khi chứng kiến cảnh nhân dân phải cơ cực dưới sự bốc lột thậm tệ của bọn quan lại và hào lý địa phương, năm 1823 Nguyễn Công Trứ đã tâu

lên vua rằng: “cái hại quan lại là một, còn cái hại cường hào đến 8, 9 phần …nó làm cho con người ta trở thành mồ côi, vợ người ta thành ra hoá bụa, giết cả tính mạng của người ta, giết cả gia đình người tầm việc không lộ …chỗ nào chúng ấy cùng nhau anh chị, chuyên lợi làm giàu, dối cợt quan lại để thoả lòng riêng”

Trang 22

[28;212] Sự hà hiếp, bốc lột đó của chúng đã khiến lòng dân oán thoán, bất bình nay cần xin bệ hạ soi xét mà nghiêm trị để quần chúng yên lòng, mà cũng để là răn

đe đồng thời tạo niềm tin trong nhân dân để họ một lòng cung phụng triều đình đề phòng dân tình điêu đứng mà nổi dậy bạo loạn chống triều đình

Các vua Nguyễn quản lý đất nước, thống trị nhân dân bằng luật pháp hà

khắc Luật pháp thời Nguyễn thể hiện tính chất chuyên chế cực đoan với nhân dân

Năm 1815, triều Nguyễn ban hành bộ luật “ Hoàng triều luật lệ ” (luật Gia Long)

Bộ luật này được biên soạn trên cơ sở tham khảo bộ luật của nhà Thanh và bộ luật Hồng Đức (Lê Thánh Tông) Bộ luật Gia Long thực thi trong suốt các triều đại của nhà Nguyễn Các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức … chỉ bổ sung, thêm bớt một số điểm cụ thể vào các điều quy định Bộ luật Gia Long nói riêng, luật pháp thời Nguyễn nói chung thể hiện rất rõ ý đồ bảo vệ quyền hành tuyệt đối của nhà vua và đề cao địa vị của quan lại và gia trưởng, trừng trị tàn bạo, dã man những người chống đối, trong 398 điều luật có tới 166 điều về hình luật

1.3.1.2 Về kinh tế

Kể từ khi Nguyễn Ánh lập ra vương triều nhà Nguyễn đến nay để ổn định đời sống nhân dân cũng nhằm tạo mọi điều kiện để người nông dân có ruộng cày cấy phát triến sản xuất góp phần thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển thì các vua nhà Nguyễn hết sức chú trọng đến các vấn đề ruộng đất và sản xuất nông

nghiệp Từ đó đã chủ trương đề ra chính sách “Dĩ nông vi bản” Nguyễn Ánh

phác thảo và Phúc Đảm sau khi kế vị tiếp tục tiếp nối chính sách khẩn hoang của đời trước, mong muốn phát huy một cách nhanh chóng và y đã thực hiện đầu tiên

ở Nam Kỳ khi sai người chỉnh đốn các sở đồn điền cũ ở đây, nhiều sở đặt từ thời nội chiến và dặt thêm đồn điền tại miền trung du nhiều tỉnh ở Trung Bắc hoặc để các quan địa phương chiêu mộ lưu dân đốc suất họ khẩn hoang, cũng có thể cho Binh Bộ và Lại Bộ sai binh sĩ và tù phạm khai khẩn Khi thành ruộng thì cho lập thành thôn ấp mà canh tác Năm 1828, Phúc Đảm sai Nguyễn Công Trứ làm Dinh điền sứ, chiêu mộ dân phiêu tán nghèo đói đi khẩn hoang miền đất bãi ở ven biển

Trang 23

Bắc Kỳ thành lập nên huyện Tiền Hải thuộc tỉnh Thái Bình và huyện Kim Sơn

thuộc tỉnh Ninh Bình

Các vua triều Nguyễn đời sau cũng rất quan tâm đến việc khẩn hoang Tự

Đức còn định lại phép đồn điền ở Nam Kỳ để tăng cường sự khai khẩn, nhất là ở

Miền Tây ông cử Nguyễn Tri Phương làm Kinh lược đai sứ để đôn đốc việc ấy

Tự Đức cũng đặt thêm chức Dinh điền sứ ở nhiều tỉnh Trung Bắc Tuy nhiên dưới

thời Nguyễn, vấn đề ruộng đất luôn luôn căng thẳng Nạn chiếm đoạt và tập trung

ruộng đất sản xuất của địa chủ không ngừng phát triển, do đó mà ruộng đất công

ngày càng thu hẹp dần trong khi ruộng đất tư ngày càng mở rộng Năm1840 tỷ lệ

ruộng công trên ruộng tư là 17/83% Nhà Nguyễn đã thực hiện thí điểm một cuộc

cải cách ruộng đất ở Bình Định Sung công một nửa số ruộng tư của các nhà để

chia lại cho dân đinh theo phép quân điền, do Gia Long ban hành năm 1804 nhưng

kết quả chẳng như mong muốn khi “ruộng công màu mỡ thì cường hào cưỡng

chiếm Còn thừa chỗ nào thì hương lý bao chiếm, dân chỉ được phần xương xẩu

mà thôi” [28;215] Cuộc cải cách vì vậy đã thất bại và nhà Nguyễn đã phải dừng

lại không dám triển khai ở các tỉnh khác Nên chính sách quân điền chỉ mang ý

nghĩa trượng trưng, thể hiện rõ sự ưu đãi của nhà nước đối với quan lại và binh

lính Bởi trên thực tế, chính sách quân điền mục đích chỉ là để trói buộc người

nông dân và tổ chức thôn xã để thực hiện nghĩa vụ tô thuế, lao dịch và binh dịch

Vì thế mà chính sách ruộng đất của nhà Nguyễn không xuất phát từ yêu cầu phát

triển sản xuất nông nghiệp mà chủ yếu là để cũng cố hơn nửa bệ đỡ kinh tế cho

một nhà nước tập quyền chuyên chế lấy nông nghiệp làm nền tảng Do đó, chính

sách này đã trở thành nhân tố cản trở bước phát triển của kinh tế hàng hóa

Nhưng với những cố gắng cuối cùng nhà Nguyễn cũng mong muốn thiết

lập nên một vương triều vững mạnh, vì thế đến năm 1828 chế độ doanh điền được

ban hành, Theo đó nhà nước đứng ra tổ chức, quy hoạch và góp vốn đầu tiên, còn

nhân dân thì tập hợp nhau cùng góp công, góp sức khai hoang lập làng, mở rộng

ruộng đất cày cấy Hai huyện Tiền Hải (Thái Bình), Kim Sơn (Ninh Bình) đã được

Trang 24

thành lập dựa trên phương thức này Với những kết quả đạt được nhất định nên hình thức này đã được phổ biến ra nhiều địa phương khác Với nhiều biện pháp và chính sách tích cực, hợp lý đã làm cho diện tích đất canh tác ngày càng được mở rộng Mà điển hình là trong thời gian Minh Mạng và Thiệu Trị trị vì con số này đạt được vượt trên một triệu mẫu

Mặc dù số ruộng đất khai khẩn được không nhỏ, nhưng chính sách doanh điền, khai hoang cũng không thể xóa bỏ hết được những mâu thuẫn đang tồn tại trong xã hội lúc bấy giờ Nông dân vẫn không có đất sản xuất bởi ở địa phương này ruộng đất được khai khẩn thêm thì địa phương khác nông dân lại bị cướp mất ruộng đất, phải đi lưu vong Thậm chí tại nơi mới khai khẩn, ruộng đất cũng lọt dần vào tay quan lại, cường hào, nhất là những địa chủ đứng ra chiêu mộ người đi khai hoang

Cùng với công tác khai hoang nhà Nguyễn cũng chú ý đến việc trị thủy, làm thủy lợi, ra sức bồi đắp hệ thống đê điều ở Bắc Bộ, phân cấp việc quản lý đê điều tại đây Đối với những loại đê lớn do chính nhà nước quản lý Nhà nước cho lập Nha đê chính để làm nhiệm vụ trong coi, quản lý đê điều nhưng do thiếu sự phối hợp chung đặc biệt do sự tác động của môi trường sinh thái nên đê điều Bắc

Bộ dưới triều Nguyễn vẫn tiếp tục bị vỡ, có nơi như Văn Giang ở Hưng Yên đê điều vỡ lở kéo dài suốt 18 năm liền

Đối với công nghiệp, nhà Nguyễn có khuynh hướng xây dựng các công xưởng Vũ khố chế tạo ty là cơ quan quản lý thủ công nghiệp nhà nước bao gốm

57 cục Ngoài ra còn có các cơ quan chức năng đảm nhận từng nhiệm vụ chức trách khác nhau về từng lĩnh vực như Ty thuyền chính, Ty tu tạo, Ty thương bác hỏa dược, Những người làm việc trong công xưởng đều là các thợ có tay nghề giỏi được trưng tập từ khắp cả nước nên sản xuất tạo ra mang chất lượng cao Về phía thủ công nghiệp dân gian, do hạn chế về nguồn tiêu thụ vá chính sách khuyến khích của nhà nước, chịu nhiều ràng buộc về quy cách sản xuất và thể lệ thuế nên không có điều kiện để phát triển mạnh mẽ lên được, đôi khi còn bị phân tán, khả

Trang 25

năng không được phát huy để góp phần thúc đẩy quá trình phát triển nền kinh tế hàng hóa đương thời

Về thương nghiệp, đất nước thống nhất tạo điều kiện để việc buôn bán trong nước được mở rộng và phát triển Các sản phẩm ở miền Nam như gạo, thóc, đường ở Quảng Nam, Quảng Ngãi được thuyền bè chở ra Bắc, tơ lụa, đồ gốm miền Bắc được chở vào các tỉnh ở miềnTrung và miền Nam Các chợ làng, huyện tiếp tục được duy trì và hoạt động nhất là các chợ ở một số trung tâm thương mại

như Hà Nội, Hội An, Sài Gòn, Chợ Lớn Thế nhưng với chủ trương “Trọng nông

ức thương”, nhà Nguyễn không có chính sách khuyến khích thương nghiệp phát

triển thậm chí còn ngăn cản đến sự phát triển tự do của thương nghiệp Cùng với chính sách thuế khóa và thể lệ kiểm soát nghiêm ngặt, phức tạp càng làm cho sự phát triển của nội thương khó khăn hơn

Đối với ngoại thương, nhà Nguyễn thi hành chính sách độc quyền Triều đình thường bố trí cho các phái bộ đi công cán kết hợp mua hàng hóa ở nước ngoài Tàu buôn Anh, Mỹ, Pháp, .nhiều lần đến xin đặt quan hệ thông thương nhưng điều bị khước từ

Triều Nguyễn, với những chính sách về kinh tế trong những năm nửa đầu thế kỷ XIX, dù đạt được một số thành tựu nhưng nhìn chung đã kìm hãm lực lượng sản xuất về nông nghiệp cũng như về công thương nghiệp Đã chặn đứng bước tiến của nền kinh tế hàng hóa điều này trái với quy luật, xu thế phát triển khách quan của triều đại

1.3.1.3 Về xã hội

Trong hơn 50 năm đầu thế kỷ XIX nhà Nguyễn từ Gia Long đến Tự Đức đã ban hành nhiều chính sách nhằm ổn định đời sống xã hội và phát triển kinh tế Thực tế lịch sử cho thấy, những chính sách này ít nhiều đã đem lại nhiều kết quả quan trọng, tuy nhiên hiệu quả lâu dài và rõ nét đối với đời sống các tầng lớp nhân dân thì chưa được thấy rõ Tai họa lớn nhất và nặng nề nhất đe dọa cuộc sống của người nông dân lại chính là nạn tô thuế và lao dịch Ngạch thuế ở thời Nguyễn

Trang 26

phức tạp hơn so với thời Tây Sơn cách đánh thuế cũng rất thâm độc Mỗi nông dân ngoài suất thuế đinh, phải đóng tô thuế bằng hiện vật Những năm đói khát, mất

mùa người nông dân không đủ thóc đóng thuế thì nhà nước lại áp dụng chế độ

“Đại nạp” (nộp tiền thay thóc) Ví dụ “năm 1810 những số thuế còn thiếu năm

trước, nộp thay bằng tiền”; “năm 1833hai huyện Đồng Xuân và Tuỳ Hoà thuộc

tỉnh Phú Yên vì trời không mưa, đồng điền khô cạn, đến khi thu hoạch phần nhiều

là thóc lép…Vậy thuế thóc năm nay của hai huyện ấy chuẩn cho nộp thay bằng tiền” [22;167]

Mức thuế ruộng đất ở thời Nguyễn so với các triều đại phong kiến trước kia cũng nặng nề hơn Nhận định về điều này, năm 1819, Lê Văn Duyệt có nhận xét

rằng: “Lệ thuế hơi nặng, dân lấy làm khổ” [22;167] Ngay cả một giáo sĩ người Pháp, Ghêra cũng phải thốt lên : “Gia Long bóp nặn dân chúng bằng đủ mọi cách

Sự bất công và lộng hành làm cho người ta rên xiết hơn cả ở thời Tây Sơn Thuế khoá lao dịch thì tăng lên gấp ba” [22;167-168] Chế độ tô thuế vốn đã đè nặng

lên đôi vai của quần chúng nhân dân khiến họ hoang mang, cùng cực nay cộng thêm chế độ lao dịch khắt khe, nghiệt ngã càng đẩy người nông dân vào thực trạng

bế tắc cùng quẫn Mặc dù luật nhà Nguyễn quy định mỗi dân đinh phải chịu 60 ngày sai dịch nhưng trong thực tế thường vượt quá mức, có năm tăng gấp đôi Việc xây dựng cung điện, thành luỹ, lăng tẩm, đào kênh, …đã cướp đi biết bao sinh mạng của người dân Chẳng hạn như việc đào sông Vĩnh Tế, theo sự mô tả

của Giô-noai-tơ thì đã có tới “26000 dân phu thay phiên nhau làm việc suốt ngày đêm trên công trường kỳ lai này ; 7000 người đã chétt vì nặng nhọc và bệnh tật”

Trang 27

Bắt đào cho được

Hạn trongn mười ngày

Dân tình ngao ngán

Có kẻ trốn không đi …

Vợ con thêm nheo nhóc …” [24;346]

Đời sống cùng khổ của người nông dân Việt Nam dưới triều Nguyễn được phản ánh trong bản báo cáo của niên tổng đốc Vân quý là Sầm Dục Anh (năm

1884) vơi nhiều chi tiết cụ thể: “Mùa đông năm ngoái, tôi vâng mệnh xuất quan, mới biết ở đây (Việt Nam) chính trị hà khắc, thuế má nặng nề, không cho trăm họ

đi giày, mặc áo bông, áo kép, ngủ nằm đệm ấm, đắp chăn bông… Từ Hạ Hoà, đều

là ruông đất màu mỡ, làng xóm dân cư đông đúc không khác gì nội địa ta Nhưng trong một làng có 1000 nhà, xét ra không có nhà nào có được 1000 quan tiền kẽm, già trẻ trai gái không một người nào mặc áo kép , áo bông, đi giày; trong phòng chăn đệm đều là chiếu cói, giống như trâu ngựa, vạn phần đáng thương”

[22;169] Đời sống cơ cực, thê thảm đã đưa đẩy hàng vạn gia đình nông dân vào con đường phiêu bạt ,lang thang nay đây mai đó để tìm sự sống Nạn lưu vong dưới triều Nguyễn trở thành một hiện tượng phổ biến , thường xuyên , nhất là ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ Ngay cả những vùng đồng bằng phì nhiêu, đất rộng dân thưa làm ăn thuận tiện như ở Nam Kỳ mà năm 1854 cũng có đến 2 vạn dân phiêu tán Mặc dù, nhà nước đã tìm mọi chính sách, biện pháp để giúp đỡ, cứu đói nhưng vẫn không sao khắc phục được Một bài vè thời Tự Đức đã phản ánh cảnh tượng này :

“ Cơm thì chẳng có Rau cháo cũng không Đất trắng xóa ngoài đồng

Quạ kêu vang bốn phía

Xác đầy nghĩa địa

Trang 28

Thây thối bên cầu

Trời ảm đạm u sầu

Cảnh hoang tàn đói rét ” [24;346]

Cảnh sống cơ cực và thảm họa lưu vong làm cho nông dân ngày càng căm giận, oán hờn đối với triều đình Mâu thuẫn giai cấp giữa nông dân với địa chủ cũng như giữa các dân tộc và tầng lớp nhân dân khác đối với nhà nước phong kiến

họ Nguyễn ngày một sâu sắc, quyết liệt Thấy dân tình oán thán muốn nổi dậy bạo

loạn để ngăn ngừa, răn đe Viện Tổng trấn Bắc Thành sai Trần Hưu làm bài “Điểm

mê khúc” bằng Quốc Âm nhằm khuyên can dân tánh không nên lỗ mảng, nhất

thời để bọn phiến loạn xúi nhục, lợi dụng, ra sức bảo vệ biện bạch cho chính sách

áp bức bốc lột của triều đình Để tỏ thái độ phản đối với nhận định trên nhân dân

đã làm bài “Tố khuất ca” nhằm lật tẩy những luận điệu xảo trá của bon thống trị,

vạch trần chính sách hà khắc, chế độ tô thuế lao dịch nặng nề và bọn quan lại tham nhũng của triều đình

Mặt khác, bị dồn đẩy vào con đường cùng không lối thoát để giành quyền sống người nông dân buộc phải vùng dậy đấu tranh Theo thống kê cho thấy, dưới triều Nguyễn liên tiếp nổ ra nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân kéo dài triền miên Khi ở nửa đầu thế kỷ XIX đã có đến 400 cuộc khởi nghĩa nổ ra khắp mọi nơi, trong đó thời Gia Long có 90 cuộc khởi nghĩa, thời Minh Mạng có 250 cuộc, thời Thiệu Trị có 50 cuộc Điều đăc biệt là ngay cả binh lính triều Nguyễn cũng tham gia vào phong trào đấu tranh của nông dân, cho thấy sự bất bình của mọi tầng lớp và sự bất lực của triều Nguyễn trong việc giải quyết mâu thuẫn xã hội như thế nào

1.3.2 Việt Nam trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp

1.3.2.1 Những biểu hiện của âm mưu xâm lược của thực dân pháp

Ngay từ đầu thế kỷ XVII, khi một giáo sĩ người Pháp là Alecxăngđờ rốt đến Việt Nam truyền giáo Sau 21 năm, ông trở về Pháp mang theo một bản đồ

Trang 29

Việt Nam với những nhận xét về nước ta như sau: “Đây là một vị trí cần phải chiếm lấy; và chiếm được vị trí này thì thương nhân Châu Âu sẽ tìm được một nguồn lợi nhuận và tài nguyên dồi dào” [22;187] Năm 1658, Hội truyền giáo

ngoại được thành lập ở Pháp Đối tượng truyền giáo của Hội là vùng Đông Nam Á

và một phần Nhật Bản, Triều Tiên Đến năm 1664, thủ tướng Pháp Côn-be cho thành lập công ty Đông Ấn nhằm cạnh tranh thị trường Á, Phi với các nước Hà, Anh, Bồ Có thể nói, việc thành lập hai tổ chức trên mục đích là muốn thực hiện

dã tâm bành trướng của chủ nghĩa tư bản thực dân Pháp Điều này được phản ánh

trong cuốn Lịch sử quân sự Pháp ở Đông Dương : Thành lập năm 1664, công ty

Đông Ấn vừa có mục đích truyền giáo, vừa có mục đích thương mại Những Thương điếm của công ty là căn cứ, cở sở của Hội truyền giáo Thường thường các giáo sĩ khi lên bộ thì giả dạng làm con buôn, mà trong thực tế thì họ cũng có buôn bán ít nhiều Ngay sau khi ra đời, công ty Đông Ấn mở rộng phạm vi sang các nước ở Thái Bình Dương, trước hết là khuất phục nước Xiêm để làm bàn đạp tiến sang phía Đông (Việt Nam), phía Tây (Miến Điện) và tiến lên phía Bắc (Trung Quốc) Tuy âm mưu đó thất bại vì cuộc đảo chính mà người Pháp bí mật tổ chức ở Xiêm bại lộ (1688), nhưng Pháp vẫn không từ bỏ tham vọng bá chủ vùng Đông Nam Á Những năm cuối thế kỷ XVII, nước ta cũng không thoát khỏi tầm ngắm của Pháp trong mục tiêu chinh phục dã tâm của mình Năm 1686, một thương nhân Pháp là Ve-rê trình lên chính phủ Pháp xin chiếm quần đảo Côn Lôn,

bởi “Chiếm được nơi này thì có lợi như là chiếm cả Ma- lắc- ca và Xông – đơ”

Nhưng ý định đó đã không thực hiện được khi năm 1700 tư bản Anh đã thôn tính

và đóng đồn quan trên quần đảo này dể kiểm soát đường hàng hải giữa Trung Quốc và In- đô- nê- xi-a

Việc thương mại của Pháp ở nước ta trong thế kỷ XVIII cũng không được suôn sẽ, thuận lợi như ý muốn của chúng Chính phủ Pháp nhiều lần cho người sang đàm phán với triều đình Nguyễn trong việc đặt quan hệ bang giao cũng như buôn bán giữa hai nước Nhưng đã bị cự tuyệt thẳng thắn Nhưng công ty Đông

Trang 30

Ấn vẫn cử các phái đoàn sang nước ta điều tra tình hình Những báo cáo gửi về đều thống nhất đề nghị phải gấp rút chiếm lấy nước ta Năm 1737, Viên toàn quyền Duy-ma dâng lên vua Lu-y XV dự án xâm nhập miền Bắc Việt Nam Năm

1748, chủ nhiệm công ty Đông Ấn là Duy - mông đích thân sang nước ta thăm dò

và đề nghị nên chiếm Cù Lao Chàm Năm1849, giáo sĩ Pi-e-poa-vơ-rơ đã đến Phú Xuân xin vua Nguyễn lập căn cứ ở Đà Nẵng và Hội An Qua chuyến đi, y đã báo cáo về như sau: Một công muốn đứng được ở xứ đàng trong và có thiết bị chắc chắn để buôn bán thì cần có phương tiện để khiến người ta kiêng sợ và kính trọng Các phương tiện ấy có thể có được trong địa thế chung của xứ ấy, và nhất là ở trong vịnh Đà Nẵng là nơi rất dễ thiết bị võ trang Một pháo đài rất nhỏ cũng có thể nắm được uy quyền bằng cách cắt đứt giao thông từ tỉnh này sang tỉnh khác

Poa-vơ-rỏ nói thêm: “Ở đất đàng trong còn có một nguồn lợi lớn nữa cho các thuộc địa Pháp, đó là người Nam Quốc Ta có thể chuyển người đàng trong sang các thuộc địa của ta để làm thợ sản xuất đường, tơ lụa Ta có thể chuyển sang

cả thợ cày, thợ mộc” [22;189] Năm 1753, giáo sĩ Xanh Phan qua thời gian sinh

sống ở nước ta, gửi lên chính phủ pháp một bức giác thư, yêu cầu lập căn cứ ở

miền Bắc Việt Nam, vì: “Vương quốc này là một trong những nước mạnh nhất ở miền Đông Ấn Thủ đô là Kẻ Chợ rộng lớn như Pari Thuyền bè chen chúc dưới bến quá sức tưởng tượng Dân số của vương quốc này đông vô kể, có nhiều thị trấn lên tới ba, bốn năm hay mười vạn dân Xứ này có nhiều sông ngò i, kênh đào thuyền bè đi lại dễ dàng, đất đai màu mỡ ” [22;189]

Vậy nhưng, mục đích đó đã gặp phải bước cản bởi cuộc chiến tranh giành thuộc địa giữa Anh và Pháp nổ ra (1756 - 1763) đưa đến những thất bại nặng nề cho tư bản Pháp Hầu hết, các thuộc địa ở Châu Á và Châu Mỹ của Pháp phải nhường lại cho Anh Để bù đắp cho những tổn thất trên và đối phó với sự cạnh tranh mãnh liệt của Anh ở Viễn Đông Thực dân Pháp đã tìm mọi cách để chiếm đóng các thuộc địa mới Biện pháp duy nhất là thực hiện chiến tranh xâm lược mà chủ trương của Pháp lúc này chính là miền Nam Kỳ của Việt Nam Vì trong bản

Trang 31

báo cáo gửi về cho Lu - y XV, ngay sau khi Pháp thất bại trước Anh ở Châu Âu

đã đề cập “Dường như chỉ còn sót lại Nam Kỳ là xứ mà người Anh chưa để ý đến Nhưng có thể nào tin rằng họ sẽ không gấp rút dòm ngó đến chăng nếu họ quyết định điều đó trước chúng ta, thì chúng ta vĩnh viễn bị loại khỏi vùng đất này, chúng ta sẽ mất một căn cứ quan trọng ở vùng Châu Á Với căn cứ đó, một khi chiến tranh xảy ra, chúng ta sẽ là chúa tể, sẽ cắt đứt đường thương mại của họ với Trung Quốc, làm cho họ lui tới không yên Ngược lại nếu người Anh chiếm cứ nơi này họ sẽ xem chúng ta như kẻ phụ thuộc vào họ trên khắp miền duyên hải Châu Á

và sẽ không xem ta ra gì nữa” [22;190] Và cơ hội đã đến với người Pháp khi

phong trào chống Tây Sơn của Nguyễn Ánh nổ ra điều này được nhận định qua

cuốn Lịch sử quân sự ở Đông Pháp: “Năm 1769 Công ty Đông Ấn không còn nữa,

ở Đông Dương, nước Pháp chỉ còn được đại diện bằng các giáo sỉ mà thôi, nhưng tình hình chính trị ở đây sắp cho nước Pháp một cơ hội để can thiệp bằng quân sự” [22;190]

Nhìn chung trước các thế kỷ XVII, XVIII thực dân Pháp bắt đầu nhắm đến nước ta, chúng tích cực điều tra, tìm hiểu tình của nước ta về con người, của cải, chợ búa, phố, phường Dã tâm thôn tín nước ta của chúng đã bộc lộ quá rỏ Mặc

dù trên bước đường xâm chiếm thuộc địa giữa Anh và Pháp luôn xảy ra mâu thuẩn

vì sự tranh giành xâu xé, hất cẳng nhau ác liệt Riêng đối với Việt Nam cả hai đều

cố sức chạy đua để tranh chiếm về phía mình phần lợi thế Với cuộc chiến tranh phản động của Nguyễn Ánh, thực dân Pháp đã nhạy bén đánh hơi cơ hội tốt để chúng can thiệp bằng quân sự vào nước ta

1.3.2.2 Kế hoạch xâm lược của thực dân Pháp

Từ nữa sau thế kỷ XIX, các nước tư bản tiến dần lên đế quốc chũ nghĩa, nhu cầu mở rộng thị trường, tìm kiếm nguồn khai thác nguyên liệu Ngày càng trở nên bức thiết, tận dụng ưu thế về kinh tế và quân sự, các nước thực dân Phương Tây đã đi xâm chiếm các nước khác, trong đó có phương Đông làm thuộc địa Một loạt các nước Châu Á, trong đó có Đông Nam Á lần lượt bị xâm lược, Việt Nam

Trang 32

cũng không ngoại lệ Không thể tránh khỏi tầm ngắm trong kế hoạch đầy tham vọng của Pháp

Đối với Việt Nam, tư bản Pháp có âm mưu xâm lược từ rất sớm từ cuối thế

kỷ XVIII xâm lược Việt Nam, Pháp có thuận lợi là được các giáo sĩ và thương nhân Pháp truyền đạo buôn bán trước đó rất lâu, tiếp tay từ bên trong Bởi vậy sau một thời gian dò la, tìm hiểu đặc điểm tình hình nước ta, thấy rỏ bối cảnh Việt Nam vì nhiều điều bất ổn về nội tình trong nước là lúc chúng thấy thuận lợi nhất

để thực hiện dã tâm của mình Vì vậy vào ngày 1/9/1858, hạm đội Pháp tấn công

Đà Nẵng, mở đầu xâm lược Việt Nam

Đúng vào lúc này, chế độ phong kiến Việt Nam khung hoảng trầm trọng về tất cả các mặt từ chính trị, kinh tế cho đến xã hội dẫn đến hệ quả là bùng nổ các cuộc đấu tranh của nông dân - giai cấp bị trị chống lại triều đình phong kiến Nguyễn - giai cấp thống trị để giành lấy sự sống Cùng với đó là việc nhà Nguyễn

mù quáng thi hành chính sách cấm đạo, coi đó là biện pháp cơ bản để bảo vệ nền thống trị của dòng họ mình

Trước những chính sách của nhà Nguyễn đã làm cho nước cho dân “Sức mòn, lực kiệt”, nội bộ chia rẽ sâu sắc, đặt dân tộc ta vào thế bất lợi trước cuộc xâm

lược vũ trang của thực dân Pháp Vô hình dung đã mở đường, tạo cơ hội cho tư bản Pháp thực hiện dã tâm bấy lâu nay của mình

1.3.2.3 Thực dân Pháp xúc tiến kế hoạch xâm lược

Thực dân Pháp đánh chiếm Đà Nẵng, Gia Định và các tỉnh Nam Kỳ (1858 -1867

Phải trải qua một thời gian rất dài gần 200 năm đợi chờ, ấp ủ mộng xâm lăng thì đến năm 1858 Pháp mới cụ thể hóa nó thành hành động xâm lược được Sau khi ký kết hiệp ước Thiên Tân (1858) cho phép Pháp rảnh tay ở Trung Quốc Ngày 31/8/1858 một hạm đội của Pháp chở theo lính Tây Ban Nha dưới quyền chỉ huy của Đô đốc Rigault de Genouilly, kéo tới đậu trước cửa biển Đà Nẵng Ngày 2/9 lực lượng liên quân Pháp -Tây Ban Nha đổ bộ và chiếm cứ các đồn bảo vệ cửa

Trang 33

biển, không một lời tuyên chiến hay thương lượng gì trước, ngoài tối hậu thư cho chính quyền Việt Nam phải nộp thành trong vòng hai tiếng đồng hồ Một sự kiện diễn ra thật đơn giản đánh dấu bước đầu trong hành trình thôn tính nước ta Bởi vậy, không đợi hết hạn, Pháp đã ra lệnh cho tàu chiến bắn đại bác lên các đồn Điện Hải, An Hải của triều đình suốt trong ngày hôm đó Không những thế, chúng

còn cho quân đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà

Liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng bắn phá hải cảng Đà Nẵng để tiến tới tấn công kinh thành Phú Xuân Quân triều đình chống trả quyết liệt, làm cho

Đô đốc của quân Pháp là Rigault Genouilly thay đổi kế hoạch, đưa quân vào đánh cửa Cần Giờ Quân Pháp triệt hạ lần lượt hai đồn từ Cần Giờ đến Gia Định Và đến ngày 17/2/1859 thì tấn công đánh phá thành Gia Định Quân đội triều đình bị đánh tan, tổn thất nặng nề, quan Đốc thần Vũ Duy Ninh và Án sát Lê Từ tự vẫn, quân lính rút chạy Gia Định thất thủ, thừa thắng quân đội Pháp tiếp tục tàn sát Chúng còn cho gài mìn phá hủy thành Gia Định Tiếp tục chặng đường xâm lược, ngày 23/2/1861 sau một thời gian chuẩn bị quân Pháp công phá đại đồn Chí Hòa nhưng quân Nguyễn kháng cự rất quyết liệt, cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt trong hai ngày 24 và 25 với tính chất sống còn Và cuối cùng quân triều đình bị đẩy vào thế bị động, thiệt hại hết sức lớn Nguyễn Tri Phương bị thương, em ruột

là Nguyên Duy thì tử trận Quân Nguyễn buộc phải rút về Biên Hòa để bảo toàn lực lượng nhường lại đồn Chí Hòa cho địch Còn Pháp sau khi chiếm được đai đồn Chí Hòa, chúng cho quân tiến đánh Định Tường (Mỹ Tho), đặt đồn lũy khắp nơi

để kiểm soát Tướng Bonnard sang thay Charner, triển khai ngay kế hoạch đánh chiếm Biên Hòa (1861), Vĩnh Long (1862) Đứng trước tình cảnh bị đẩy vào bước đường cùng, để duy trì sự tồn tại của dòng họ mình, triều đình Huế đã cử phái bộ

do Phan Thanh Giản cầm đầu vào nghị hòa cùng Bonnard và ký hiệp ước Nhâm Tuất (1862) nhường ba tỉnh miền Đông cho Pháp

Không dừng lại ở đây, nhằm nhọn đường cho việc thực hiện âm mưu kiểm soát toàn bộ vùng đất Nam Kỳ, thực dân Pháp ráo riết chuẩn bị kế hoạch thôn tính

Trang 34

ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ còn lại Vì thế năm 1863 thừa lúc phong kiến Miên sơ

hở Pháp cho quân tấn công kinh thần Nam Vang (Phnom Pênh), sau đó dùng áp lực quân sự buộc vua Nôrô đôm phải quy phục và nhận quyền bảo hộ của Pháp Vậy là ba tỉnh miền Đông và nước Cam pu chia đã thuộc quyền kiểm soát của Pháp Các vùng đất còn lại mà đặc biệt là ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ bắt đầu bị Pháp nhắm tới Trong khi triều đình đang mãi mê với công cuộc chuộc đất thì Pháp ở Pari và Sài Gòn không hề giấu giếm dã tâm tiếp tục mỡ rỗng xâm lược nước ta

Tháng 10/1866 lợi dụng việc Tự Đức đang rối loạn vì vụ dân công và binh lính khởi nghĩa ở kinh thành thi Lagơrăngdie ra Huế đưa thư dò xét thái độ của

triều đình Bức thư của pháp phân tích tình thế “Lơ lỏng” của ba tỉnh miền Tây, không tiện cho nước Nam nên yêu cầu Tự Đức để cho Pháp cai trị tất cả ba tỉnh

Vĩnh - An - Hà, nếu được như vậy Pháp sẽ giúp triều đình tiễu trừ hết giặc bể và sẽ

đình kết các khoản bồi ngân Nhận rõ được bộ mặt của Pháp nhưng triều đình lại

rất lúng túng không biết ứng phó thế nào, bèn sai Phan Huy Vịnh, Phạm Phú Thứ đến sứ quán Pháp để thương thuyết xin giữ ước cũ

Mặt khác, cử Phan Thanh Giản đến Gia Định bàn phải trái với giặc Trước thái độ yếu đuối, bạc nhược của triều đình, Pháp quyết định tấn công bằng vũ lực Phan Thanh Giản trở về sau chuyến đi sứ không kết quả, đang làm Kinh lược sứ ở đấy, nghĩ rằng quân nhà Nguyễn không thể nào chống nổi với quân xâm lược, ông liền dâng thành cho đối phương rổi uống thuốc độc tự vẫn Từ đây Nam Kỳ trở thành thuộc địa của Pháp

Thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ (1873- 1883 )

Mặc dù đã chiếm được 6 tỉnh Nam Kỳ nhưng giới thương mại Pháp vẫn chưa thực sự hài lòng bởi vì vấn đề mở rộng quan hệ buôn bán với vùng Viễn Đông vẫn chưa được khai thông và đang rất khó khăn nên bằng mọi cách phải tìm

ra con đường để thông thương buôn bán, ít nhất là với miền Nam Trung Quốc Để thực hiện điều này, năm 1866 Dela Gran dière đã sai thiếu tá Dou dar cùng với đại

Trang 35

tá Trancir Garnier và một số người Pháp ngược sông Mê Kông tìm đường sang Trung Quốc Sau hai năm, họ cũng đã đến được Vân Nam nhưng sau đó D.de lagrée đã chết vì bệnh gan F.Garnier đưa xác ông về Sài Gòn bằng tàu thủy Chặng đường hành trình của hai viên sĩ quan này đã phản ánh thực tế rằng, việc dùng sông Mê Kông để thông thương vào miền Nam Trung Quốc gặp rất nhiều khó khăn, không như mong muốn mà người Pháp từng nghĩ đến Vì vậy, giới thương gia Pháp ở các cảng Lyon, Bordeau , bắt đầu nghĩ tới con đường khác và

đó chính là vượt qua sông Hồng Nhưng muốn xâm nhập và sử dụng con sông này thì người Pháp phải chiếm được Bắc Kỳ Vì sông Hồng nằm ở địa phận của vùng Bắc Kỳ.Và thế là thực dân Pháp tiến hành chính sách thôn tính Bắc Kỳ của nước

ta Tháng 11/1873, thành Hà Nội bị Pháp tấn công lần thứ nhất Nguyễn Tri Phương liều mình chiến đấu bảo vệ thành đô nhưng đã bị thương nặng và hy sinh Tháng 12/1873 được tin các tỉnh thành Bắc Kỳ lần lượt bị Pháp chiếm đóng, Tự Đức phải cử Hoàng Tá Viêm làm Tiết chế quân vụ để cùng với Tham tán Tôn Thất Thuyết lo việc phòng giữ các tỉnh còn lại

Ngày 15/3/1874, Nguyễn Văn Tường đại diện cho phái đoàn thương thuyết

của triều đình Huế thỏa thuận với phái đoàn của Phi lát kí bản điều với cái tên “ Hiệp ước hòa bình và liên minh ”( hiệp ước Giáp Tuất ) Với việc kí hiệp ước trên Pháp hứa sẽ giúp triều đình Huế một số tàu thủy, súng đạn, cố vấn quân sự “ Để giữ gìn an ninh trong nước và dẹp yên giặc cướp ở các vùng biển ” Nhưng mục

đích chủ yếu của bản hiệp ước 1874 nhằm vào hai điều :

Thứ nhất: Khẳng định bằng văn bản pháp lý cái việc chúng đã làm từ năm

Trang 36

vào tàu Pháp từ Sài Gòn ra dẹp bọn cướp biển và các cuộc nổi loạn ở Bắc, Pháp đưa thêm quân vào ngày một nhiều hơn Từ năm 1882, Pháp vu khống triều đình Huế vi phạm hiệp ước 1874 khi tiếp tục quan hệ với Trung Hoa, ngăn cẳn việc đi lại buôn bán của người Pháp trên sông sông Hồng, tiếp tục tàn sát đạo thiên chúa,

để lấy cớ can thiệp vũ trang Trước đó, chúng đã có kế hoạch sẵn và tăng cường đầu quân dồn tới ở Bắc Kỳ Kết hợp với việc nhà Nguyễn nội bộ lục đục, tỏ thái

độ bạc nhược không kiên quyết Pháp dùng vũ lực buộc triều đình công nhân nền bảo hộ của chúng trên cả nước Việt Nam Thực hiện chủ trương trên, tháng 4 năm

1882 Pháp tấn công thành Hà Nội lần thứ hai Ngày 25/4/1882 Ri-vi-e gửi tối hậu thư cho quan trấn thủ thành là tổng đốc Hoàng Diệu yêu cầu hạ khí giới, giao thành chưa hết hạn trả lời quân Pháp đã nổ súng Tổng đốc Hoàng Diệu cầm quân anh dũng chống cự, cuộc cầm cự cũng chỉ kéo được hơn nữa ngày, sức đề kháng của quân ta yếu dần Thấy không thể duy trì cuộc chiến đấu được nữa, Tổng đốc Hoàng Diệu đã tuẫn tiết để giữ sạch tấm lòng kiên trung của mình vì đất nước chứ quyết không để giặc bắt

Từ tháng 6/1883 thiếu tướng Buê được cử làm tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Bắc Kỳ đã tới Hà Nội Các cơ sở của Pháp ở Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng được củng cố, giữa tình hình hết sực nguy cập như vậy thì ngày 19/7/1883,

Tự Đức chết triều đình lục đục về việc suy tôn người kế nghiệp Tranh thủ thời cơ, ngày 15/8, quân Pháp mở cuộc tấn công nhằm tiêu diệt các cơ quan đàu não của quân ta ở Sơn Tây nhưng thất bại, chúng chuyển sang đánh chiếm Hải Dương, Quảng Yên Hải quân Pháp tiến đến cửa Thuận An uy hiếp Ngày 20-8 chúng đổ

bộ chiếm Thuận An triều đình hết sức hoảng hốt Trong lúc nhà Nguyễn chưa biết tìm ra kế sách gì đối phó thì Cao ủy Cộng Hòa Pháp là Hác măng từ Thuận An lên

Huế buộc triều đình Nguyễn kí bản “Hiệp ước hòa bình” ngày 25/8/1883 Thực ra

hiệp ước này đã được Pháp vạch ra từ trước với tinh thần nô dịch, đặt nền thống trị của chúng lên đất nước Việt Nam

Trang 37

Hiệp ước Hác măng gồm 27 khoản, với nội dung: Triều đình Huế thừa nhận

Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, phần còn lại đặt dưới chế độ “bảo hộ” đất nước

Việt Nam từ đấy bị chia thành 3 khúc: Cô Sanh Si (Nam Kỳ), An Nam từ Khánh

Hòa tới Đèo Ngang và Tông Canh (Ton kin) từ đèo ngang ra Bắc

Để đảm bảo chắc quyền thống trị của Pháp trên đất nước Việt Nam cũng như nhằm xoa dịu sự căm phẩn của nhân dân ta và mua chuộc quan lại triều đình

nhà Nguyễn, chính phủ Pháp đã buộc triều đình Huế ký thêm hiệp ước “Pa tơ nốt” vào ngày 6/6/1884

Như vậy, qua hai hiệp ước Hác măng (1883) và hiệp ước Pa tơ nốt (1884) thì quyền thống trị của tư bản Pháp trên nước ta đã được xác định đồng thời nó còn kết thúc quá trình vũ trang xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp

Chương 2: CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG TRIỆU (THẾ KỈ II TCN), CHỐNG MINH (THẾ KỈ XV), CHỐNG PHÁP (THẾ KỈ XIX) VÀ NGUYÊN NHÂN THẤT BẠI CỦA NÓ

2.1 Cuộc kháng chiến chống Triệu và nguyên nhân thất bại của nước Âu Lạc 2.2.1 Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Triệu Đà

2.2.1.1 Triệu Đà thành lập nước Nam Việt

Năm 221 TCN nhà Tần đã thôn tính 6 nước Tề, Sở, Yên, Hàn, Triệu, Ngụy

kết thúc cục diện “Thất hùng” thời Chiến quốc, thống nhất Trung Quốc Tần Thủy

Hoàng (Doanh Chính) xây dựng nhà nước quân chủ chuyên chế và thực hiện tham vọng mở rộng hơn nửa phạm vi thống trị Bởi vì ông là một con người có bản tính

“Cứng rắn, khắc bạc, tự đắc” luôn nuôi dã tâm bành tướng đế quốc chủ nghĩa

Tuy nhiên đến năm 210 TCN thì Tần Thủy Hoàng mất và năm 206 TCN nhà Tần sụp đổ Lợi dụng tình hình đó Triệu Đà người Hán, quê ở Hà Bắc (Trung Quốc) đã chiếm Quế Lâm, Tượng Quận thành lập nước Nam Việt - nhà nước cát

cứ Hán tộc Nam Việt là nước mạnh của nhà Triệu bao gồm Quảng Đông, Quảng Tây một phần Quý Châu ở phía Nam Trung Quốc Do nước Nam Việt mạnh nên nhà Hán cũng chấp nhận sự tồn tại của nước Nam Việt nhà Triệu phong cho Triệu

Trang 38

Đà làm Nam Việt Vương Năm 187- 180 TCN, Triệu Đà cắt đứt quan hệ thần phục nhà Hán, tự xưng là Vũ Đế, đóng đô ở Phiên Ngung (Quảng Châu)

2.2.1.2 Cuộc kháng chiến của An Dương Vương

Sau khi hợp nhất được Âu Việt và Lạc Việt Thục Phán nắm quyền cai quản đất nước, xưng là An Dương Vương , đặt tên nước là Âu Lạc, xây dựng Cổ Loa làm kinh đô

Ra sức cũng cố, phát triển kinh tế đất nước, ổn định đời sống xã hội của nhân dân Thế nhưng sau khi lên ngôi, vua Hùng lại đước trước một thử thách vô cùng nghiệt ngã, là nạn ngoại xâm càng trở thành mối đe dọa to lớn Ở Trung Quốc, sau khi Triệu Đà thành lập nên nước Nam Việt, y đã mở rộng lãnh thổ và thế lực của mình, vũ trang xâm lược về phía Nam, tiến đánh nước Âu Lạc của ta

Triệu Đà nhiều lần tiến quân xâm lược nước Âu Lạc Có lần đã đánh xuống vùng Tiên Du (Bắc Ninh), sông Bình Giang (sông Đuống) Nhiều trận chiến đấu

ắc liệt diễn ra ở vùng đó và gần thành Cổ Loa Âu Lạc là quốc gia mạnh có thành

Cổ Loa kiên cố, có cung tên lợi hại đặc biệt là nỏ Liên Châu bắn một lần nhiều

mũi tên - được coi là “Nỏ thần” khi tên bắn ra như mưa, giặc chết lăn như rạ

Nhân dân và tướng lĩnh đoàn kết, dưới sự lãnh đạo chỉ huy của An Dương Vương

đã đánh bại sự xâm lược của quân Triệu bảo vệ quốc gia độc lập

Sau nhiều lần vũ trang xâm lược thất bại, Triệu Đà thay đổi thủ đoạn xin giảng hòa, xin cho Trọng Thủy (con trai Triệu Đà) được cầu hôn với Mị Châu (con gái An Dương Vương) và xin cho Trọng Thủy được ở rể Trọng Thủy đã nắm được bí mật quân sự của kinh thành Cổ Loa, mua chuộc tướng lĩnh của Âu Lạc, ly gián nội bộ nước Âu Lạc Khi nắm được, tình hình Triệu Đà đã bất ngờ tiến đánh

Âu Lạc An Dương Vương mất cảnh giác và mất ưu thế về vũ khi nên đã thất bại nhanh chóng Triệu Đà cho quân tiến vào kinh đô Cổ Loa An Dương Vương đem tàn quân chạy về hướng Đông Nam và cuối cùng nhảy xuông biển tự tử

Trang 39

Năm 179 TCN, nước Âu Lạc bị Triệu Đà đô hộ Mở đầu thời kì đen tối và đau thương của dân tộc ta - thời kì Bắc thuộc và chống Bắc thuộc kéo dài hơn 10 thế kỉ

2.2.2 Nguyên nhân thất bại của nước Âu Lạc

2.2.2.1 Nguyên nhân khách quan

Nếu nhìn nhận một cách khách quan về nguyên nhân thất bại của An Dương Vương trong cuộc kháng chiến chống Triệu (thế kỉ II TCN) thì chúng ta sẽ thấy được rằng sự thất bại này xuất phát từ nhiều yếu tố

Thứ nhất: Dã tâm xâm lược của kẻ thù quá lớn, không từ bỏ tham vọng bành tướng nước Âu Lạc bằng mọi cách

Điều này được lý giải rất rõ qua việc Tần Thủy Hoàng sau khi thống nhất

được toàn Trung Quốc (năm 221TCN) vì tham vọng bành tướng đé quốc chủ nghĩa, y đã phát nửa triệu quân xâm lược Phương Nam trong có Âu Lạc Để thực

hiện cái chủ trương “Bình Bách Việt” của nước Sở trước đây

Cuộc xâm lược quy mô của nhà Tần và tiếp ngay sau đó cuộc xâm lược của nhà Triệu nà nhân dân Việt Cổ đã anh dũng chống lại, cho thấy rằng sự xâm lược của phong kiến Phương Bắc là có hệ thống

Bởi vậy, dù cho quá trình vũ trang xâm lược của chúng gặp nhiều khó khăn, thử thách thậm chí thất bại nặng nề thì chúng vẫn không từ bỏ tham vọng bành trướng đó của mình Cụ thể là: Khi quân Tần tấn công ồ ạt, dần dần chiếm lấy hầu hết đất đai của các Bách Việt ở phía Nam sông Dương Tử (Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu) Nhưng đến khi chúng đi sâu vào đất nước Âu Lạc thì bị chống cự mãnh liệt trước sức mạnh đoàn kết của người Việt Cổ cùng anh em các tộc khác Cùng với đó là sự lãnh đạo tài ba của vị thủ lĩnh tài giỏi là vua Thục

An Dương Bằng lối đánh linh hoạt và sang tạo, ông cho người tạm rút vào rừng,

tổ chức lực lượng kháng chiến và tiến hành đánh du kích ban đêm đã chặn đứng và

bẻ gãy được hướng tấn công của địch, làm tiêu hao hàng chục vạn quân Tần sau

Trang 40

hàng chục năm chiến đấu Ngay cả chủ tướng của giặc là Đồ Thư cũng phải phơi thây trên chiến trường

Trước sự thất bại của quân xâm lược Tần, nhà sử học Trung Quốc nổi tiếng

Tư Mã Thiên đã phải thừa nhận rằng: “Lúc bấy giờ nhà Tần ở phía Bắc thì mắc họa với người Hồ, ở phía Nam thì mắc họa với người Việt Đóng binh ở đất vô dụng, tiến không được , thoái cũng không xong Trải hơn 10 năm, đàn ông phải mặc áo giáp, đàn bà phải chuyên chở, khổ không sống nổi , người ta thắt cổ tự tử trên cây dọc đường, người chết trông nhau Kịp khi Tần Thủy Hoà ng mất thì cả thiên hạ nổi lên chống” [26;53]

Mặc dù gặp kho khăn và tổn thất lớn đến vậy nhưng người Hán vẫn không

hề thay đổi dã tâm xâm lược của mình Cho nên vào năm 207 TCN, Triệu Đà sau khi thành lập nên nước Nam Việt tiếp tục mở rộng lãnh thổ và thế lực của nước Nam Việt, vũ trang xâm lược về phía Nam, tiến đánh nước Âu Lạc

Tuy nhiên, kế hoạch trên của hắn đã vấp phải sự phản kháng mãnh liệt của người dân Âu Lạc Quân xâm lược nhà Triệu đã nhiều lần tiến vào biên giới nước

ta đều bị quân dân Âu Lạc đánh bại và đánh lui Vậy nhưng chúng vẫn không hề lung lạc ý chí, vẫn quyết tâm thực hiện cho bằng được dã tâm xâm lược Do đó, biết không thể chinh phục Âu Lạc bằng vũ lực, Triệu Đà đã dung kế hoãn binh, giả

vờ hòa giải để tìm cách điều tra việc bố trí lực lượng, bí mật quân cơ của An Dương Vương Và ý đồ trên đã được thực hiện qua việc y xin cầu hôn con trai mình là Trọng Thủy cho con gái của An Dương Vương là Mị Châu Đồng thời xin cho Trọng Thủy được ở rể để bày tỏ thái độ hòa hiếu của mình Thực chất là để Trọng Thủy có cơ hội dò la cặn kẻ về tình hình đất nước Âu Lạc

Thứ hai: Âu Lạc là một nước mới thành lập nên những điều kiện ổn định xã hội, nhất là thời gian và kinh nghiệm chưa có

Đúng vậy, việc An Dương Vương lên ngôi và sự ra đời của nhà nước Âu

Lạc đã có rất nhiều giả thuyết đề cập đến Theo một số sách sử như Đại Việt sử kí toàn thư (Ngô Sĩ Liên), Việt sử tiêu án (Ngô Thời Sĩ), An Dương Vương tên là

Ngày đăng: 08/05/2021, 21:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w