Có thể chia làm 3 nhóm loại công trình như sau : * Nhóm thứ nhất, là những công trình chung, tiêu biểu là các công trình sử học của các sử gia phong kiến Việt Nam có đề cập đến diễn biế
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
- -
LÊ VĂN DŨNG
Ngô Thì Nhậm với vấn đề bang giao Đại Việt -
Trung Hoa trong tác phẩm Bang giao hảo thoại
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SƯ PHẠM GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
MỞ ĐẦU
Trang 21 Lý do chọn đề tài
Theo dòng lịch sử Việt Nam, các triều đại được gây dựng từ thời Hùng Vương đến trước khi Cách mạng Tháng Tám (1945) nổ ra, đều đã để lại được những thành tựu tiến bộ, thể hiện được tinh hoa văn hóa người Việt kết hợp với yếu tố thời đại góp phần khẳng định và bảo vệ độc lập chủ quyền của dân tộc Làm được điều này ngoài sức mạnh của dân tộc, còn có sự đóng góp rất lớn của các vị anh hùng dân tộc, nhân tài, trí sĩ yêu nước
Ngô Thì Nhậm (1746-1803) là một nhà chính trị, quân sự, ngoại giao, nhà văn Ông được đánh giá là một nhân tài về lĩnh vực ngoại giao, góp phần quan trọng giúp cho nhà Tây Sơn thực hiện chính sách bang giao với Trung Hoa lúc bấy giờ có hiệu quả cao Dù hai nước vừa bước ra từ một cuộc chiến và có nguy cơ nổ ra một cuộc chiến tranh mới như Quang Trung dự đoán, nhà Thanh “sau khi bị thua một trận, ắt lấy làm thẹn mà lo mưu báo thù Như thế thì việc binh đao không bao giờ dứt, không phải là phúc cho dân, nỡ nào mà làm như vậy” [48, 357]
Những kết quả đạt được trong quan hệ bang giao giữa Việt Nam - Trung Hoa thời bấy giờ đã thể hiện khá rõ tài ngoại giao của Ngô Thì Nhậm Những vấn đề về bang giao được Ngô Thì Nhậm thay mặt triều đình Tây Sơn chấp bút, qua các bài
“bẩm, trình, biểu” Những “bài” này được tập hợp trong “Bang giao hảo thoại”,
phản ánh hiện thực về ngoại giao của hai nước lúc bấy giờ, “sau khi đánh tan trên
20 vạn quân Thanh ra khỏi bờ cõi, để bảo vệ thành quả đã đạt được, tránh lại xảy ra chiến tranh, Ngô Thì Nhậm vận dụng bài học lịch sử nước nhà, hòa hoãn ngay với nhà Thanh”[ 49, 397]
Trong khoảng thời gian 15 năm cống hiến cho triều đình Tây Sơn (1788-1793), Ngô Thì Nhậm đã tỏ rõ tài năng của mình, có nhiều cống hiến về vấn đề đối ngoại
để tô thêm màu sắc tươi đẹp của lịch sử dân tộc
Ngô Thì Nhậm là một Nho sĩ tài năng, từng được cố Tổng Bí thư Trường Chinh đánh giá là ngôi sao sáng trên bầu trời Việt Nam, làm vẻ vang cho giống nòi Những cống hiến của ông sẽ mãi được ghi vào lịch sử dân tộc Đồng chí Trường Chinh viết: “Ngô Quyền, quân sự học; Trần Hưng Đạo, quân sự học; Hàn Thuyên, ngôn ngữ học; Lê Lợi, chính trị học, quân sự học; Nguyễn Trãi, quân sự học, chính trị học và văn học; Lương Thế Vinh, toán học; Nguyễn Bỉnh Khiêm, triết học; Lãn
Trang 3Ông, y học; Lê Quý Đôn, văn học, khoa học; Quang Trung, quân sự học, chính trị học; Ngô Thời Nhiệm, chính trị học, quân sự học, văn học; Nguyễn Du, văn học; Phan Huy Chú, sử học” [15, 34]
Có nhận xét cho rằng “Bang giao hảo thoại là tập sách phản ánh hiện thực về
ngoại giao khá độc đáo của triều Tây Sơn, mà công đóng góp lớn nhất là của Ngô
Thì Nhậm Bang giao hảo thoại còn là tập tư liệu hiếm hoi còn giữ lại được của
thời Tây Sơn” [49, 399] Ngoại giao đặc sắc của nhà Tây Sơn lúc bấy giờ đã đưa quan hệ hai nước Đại Việt - Trung Hoa tới ngưỡng cửa của quan hệ bang giao hữu hảo, hòa bình, thân thiện, đồng thời nâng cao vị thế của Việt Nam, mở ra trang sử mới cho sự hòa bình của hai nước kéo dài hàng thế kỷ
“Ôn cố tri tân” tìm hiểu về lịch sử dân tộc là một việc làm cần thiết Học hỏi, kế thừa những sáng tạo, điểm hợp lý mà thế hệ đi trước để lại, vận dụng một cách sáng tạo và linh hoạt vào thời đại mới là công việc quan trọng đối với mọi thời đại, mọi đất nước
Trong quan hệ bang giao Việt Nam - Trung Hoa suốt chặng đường lịch sử cũng
đã có những bước thăng trầm Thời Tây Sơn với tài ngoại giao của Ngô Thì Nhậm được xem như một điểm sáng trong quan hệ giữa hai nước Sự xuất hiện của Ngô Thì Nhậm lúc bấy giờ cùng với tài năng của ông là một trong những nguyên nhân đem lại nhiều thắng lợi trong quan hệ bang giao tốt đẹp của hai nước
Hiện nay quan hệ ngoại giao quốc tế ngày càng đa dạng và phức tạp, xu thế hội nhập, đối thoại ngày càng trở thành xu thế chính Ở Việt Nam quan hệ đối ngoại luôn được Đảng và Nhà nước ta coi trọng, đặc biệt là quan hệ với Trung Hoa - nước có bề dày trong quan hệ lịch sử Từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập (1945), nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quan hệ Việt Nam - Trung Hoa đã bước sang trang sử mới được hơn 60 năm kể từ ngày hai nước chính thức quan hệ ngoại giao với nhau (18-1-1950), đã có những bước thăng trầm Vì vậy, việc học hỏi những kinh nghiệm của thế hệ cha ông trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước luôn là việc làm có ý nghĩa, quan trọng, nhất là khi Việt Nam đang tích cực và chủ động hội nhập với các nước trên thế giới
Trang 4Vì những lí do trên, tác giả đã quyết định chọn vấn đề “Ngô Thì Nhậm với vấn
đề bang giao Đại Việt - Trung Hoa trong tác phẩm Bang giao hảo thoại” làm
đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề quan hệ bang giao giữa Đại Việt và Trung Hoa đã có nhiều lãnh đạo và nhà khoa học đề cập, ở những góc độ khác nhau Vấn đề bang giao Đại Việt - Trung Hoa dưới triều đại Tây Sơn (1788-1802) cũng có nhiều tài liệu liên quan Có thể chia làm 3 nhóm loại công trình như sau :
* Nhóm thứ nhất, là những công trình chung, tiêu biểu là các công trình sử học
của các sử gia phong kiến Việt Nam có đề cập đến diễn biến lịch sử trong đó có đề
cập đến bang giao Đại Việt - Trung Hoa dưới thời Tây Sơn như Đại Nam thực lục
tiền biên, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Khâm định Đại Nam hội điển
sự lệ của Quốc sử quan triều Nguyễn; các công trình sử học tư nhân như Lịch triều tạp kỷ (1975) của Ngô Cao Lãng, Quốc sử di biên (2009) của Phan Thúc Trực, Việt
sử cương mục tiết yếu của Nguyễn Thông, Một chuyến du hành đến Nam Hà
1792-1793 (2011), của thương nhân người Anh John Barrow, Việt sử mông học (1998)
của Ngô Quốc Dung, Đại Nam quốc sử diễn ca (2007) của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái do Nguyễn Khắc Thuần dịch, Đại cương lịch sử văn hóa Việt Nam 3 tập,
Danh tướng Việt Nam - Danh tướng trong chiến tranh nông dân thế kỷ XVIII và phong trào Tây Sơn (2008) của Nguyễn Khắc Thuần, Lịch sử và văn hóa Việt Nam
- Những gương mặt trí thức, tập 1 (1998) của Trung tâm Unesco thông tin tư liệu
lịch sử và văn hóa Việt Nam, Minh đô sử của Lê Trọng Hàm và nhóm Nam Việt
đồng thiên hội trình bày lịch sử Đại Việt từ năm 1762-1822, cung cấp nhiều tư liệu
về vương triều Tây Sơn và quan hệ bang giao Tây Sơn và nhà Thanh,
Ngô gia văn phái: Hoàng Lê nhất thống chí (2006), ghi lại giai đoạn lịch sử trong khoảng 30 năm cuối thế kỷ XVIII, có nguyên tên là An Nam nhất thống chí
Cuốn sách viết về một giai đoạn mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp ngày càng gay gắt, đẩy chế độ phong kiến Lê - Trịnh lâm vào cảnh suy tàn đến cùng cực Ý thức
hệ phong kiến đã rạn nứt đến lúc bắt đầu tan vỡ Hoàng Lê nhất thống chí đã vẽ lại
một bức tranh khá đầy đủ và sâu sắc về màu sắc dân tộc đẹp đẽ của phong trào
Trang 5nông dân khởi nghĩa Tây Sơn Mặc dù còn chịu ảnh hưởng ít nhiều của ý thức hệ chính thống, nên đã không lý giải được yếu tố dân chủ của phong trào Tây Sơn
Nhưng Hoàng Lê nhất thống chí đã thấm nhuần một tình cảm yêu nước thiết tha,
một tinh thần tự hào dân tộc sâu sắc, và một ý chí chống giặc ngoại xâm kiên cường Chính chủ nghĩa yêu nước truyền thống ấy, đã khiến tác phẩm khắc họa được bản sắc dân tộc độc đáo, đẹp đẽ của một thời đại, một phong trào và nhiều nhân vật
Bùi Dương Lịch: Lê quý dật sử (1987), đã ghi chép lại các sự kiện lịch sử theo
thể biên niên, từ năm Mậu Dần Cảnh Hưng 19 (1758) đến năm Qúy Sửu Cảnh Thịnh 1 (1793) Cuốn sách đã ghi lại được nhiều sự kiện lịch sử khá chi tiết và phong phú Tác giả của cuốn sách đã sống cùng thời với những biến động lịch sử thời bấy giờ Là người có học thức, có thể ông đã xem các sách sử ghi chép về giai đoạn này nhưng ông thấy còn thiếu sót Là những chứng nhân của biến động xã hội, hơn nữa lại là nhân vật có một vai trò lịch sử trong quãng thời gian khá dài, Bùi Dương lịch có điều kiện ghi lại một cách khá chi tiết, chính xác hoặc bổ sung
những sự kiện mà các sách khác không ghi Với tên đề của cuốn sách Lê quý dật sử nghĩa là những sự kiện lịch sử còn sót lại thời cuối Lê chính là nguyện vọng của tác
giả, và cũng là nét tiêu biểu của tác phẩm
* Nhóm thứ hai, là những sách chuyên luận, chuyên khảo liên quan đến đề tài
nghiên cứu như: Lịch sử tư tưởng Việt Nam (1993) tập 1 do PGS Nguyễn Tài Thư chủ biên, Bàn về Văn hiến Việt Nam (2004) của GS Vũ Khiêu, Lịch sử Trung Quốc
hiện đại (2004) của GS Nguyễn Huy Quý, Bang giao Đại Việt - Triều Tây Sơn
(2005) của Ngô Thế Long…
Hồ Bạch Thảo (dịch): Thanh thực lục - quan hệ Thanh - Tây Sơn cuối thế kỷ
XVIII đầu thế kỷ XIX, (2010), trình bày các quan điểm của vua quan nhà Thanh đối
với Đại Việt và vương triều Tây Sơn
Ngô Thì Nhậm: Bang giao hảo thoại, in trong Viện nghiên cứu Hán Nôm : Ngô
Thì Nhậm toàn tập, tập 3 (2005): Là tập hợp những bài bẩm, trình, biểu do Ngô Thì
Nhậm thay mặt triều đình Tây Sơn chấp bút Sau được soạn giả tùng thư Ngô gia
văn phái sưu tầm, tập hợp, biên soạn, sắp xếp theo thể lọai thành hai quyển 48 và
49 cho tùng thư
Trang 6PGS Đỗ Bang: Những khám phá về Hoàng đế Quang Trung (2011), là công
trình dày công tìm hiểu của tác giả từ năm 1977 gồm các bài viết liên quan đến vua Quang Trung được tập hợp trong 20 bài viết
Quách Tấn, Quách Giao: Nhà Tây Sơn (2000), ghi chép lại các sự kiện chính
xác theo sự phản ánh của nhân dân địa phương, cụ thể là theo lời truyền của các bậc trưởng thượng từng sống thời Tây Sơn ở đất Tây Sơn Và chính xác theo các tư liệu lịch sử đáng tin cậy gồm 12 bộ sử ký về Tây Sơn, được nhân dân bảo tồn qua
sự trả thù ghê gớm của triều đình nhà Nguyễn Cùng với các tài liệu lịch sử trong
và ngoài nước có liên quan đến phong trào Tây Sơn Cuốn sách là một tập ghi chép chuyện đã xảy ra trong lịch sử về một thời đại vẻ vang của dân tộc với đầy đủ nhất định các chi tiết thật, con người thật cùng những huyền thoại mà ba anh em Tây Sơn dựng lên để thu phục nhân tâm buổi đầu dấy nghĩa Ở đó, chi tiết thật và chuyện hoang đường không bị nhòa lẫn vào nhau, các sự việc được ngòi bút tác giả đảm bảo ở tính cụ thể và công bằng
Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng: Tìm hiểu thiên tài quân sự của
Nguyễn Huệ (1971), là cuốn sách đi sâu vào việc trình bày và phân tích những vấn
đề quân sự của nghĩa quân Tây Sơn và của Nguyễn Huệ, trình bày tương đối tỉ mỉ diễn biến của cuộc chiến tranh và của từng trận đánh, phân tích được những sự việc xảy ra Do phân tích tỉ mỉ và nắm bắt được mặt quân sự, người viết đã nêu ra được một số nguyên tắc về quân sự, qua đó người xem nhận thức được rõ và sâu hơn về các vấn đề chiến lược, chiến thuật của nghĩa quân Tây Sơn và tài chỉ huy, bản lĩnh quân sự cao cường của Nguyễn Huệ Cuốn sách đề cập đến quá trình giải quyết thời hậu chiến Đại Việt - Trung Hoa thông qua hoạt động bang giao, mà Ngô Thì Nhậm là nguồi đại diện cho vương triều Tây Sơn quan hệ với nhà Thanh
Nguyễn Lương Bích: Quang Trung Nguyễn Huệ (1989): Giới thiệu cơ bản nhất
về toàn bộ sự nghiệp giữ nước và dựng nước của Quang Trung Nguyễn Huệ, bằng một số tư liệu không nhiều mà sử sách và truyền thuyết còn ghi lại được
* Nhóm thứ ba, bao gồm các bài viết trên báo, tạp chí tiêu biểu là: Kinh
nghiệm đưa đối thoại văn hóa vào hoạt động ngoại giao của ông cha ta trong lịch
sử của Phạm Xuân Nam trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 11-2009
Trang 7Trần Ngọc Ánh: Ngoại giao Tây Sơn - những tư tưởng đặc sắc và bài học lịch
sử, Tạp chí Khoa học & Công nghệ, Đại học Đà Nẵng số 1(30), 2009, đã tái hiện
lại bối cảnh lịch sử của ngoại giao thời Tây Sơn, nêu lên những thành quả và tư tưởng ngoại giao đặc sắc của vương triều Tây Sơn
Triệu Dương: Đi tìm thơ liên quan đến phong trào Tây Sơn, Tạp chí Văn học,
số 4-1973, tác giả đã đưa ra từ việc sưu tầm những tư liệu rất quý về thơ văn liên quan đến phong trào Tây Sơn và đưa ra một số biện pháp để bảo tồn, gìn giữ nét văn hóa đặc sắc của một thời kỳ dấu son lịch sử của Việt Nam khi mà hoạt động ngoại giao đạt tới đỉnh cao của sự thăng hoa
Nguyễn Văn Hoàn: Phong trào khởi nghĩa nông dân và văn học Việt Nam thế
kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, Tạp chí Văn học, số 4-1973, tác giả đã nêu lên
những nét nổi bật của giai đoạn lịch sử Việt Nam thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, đưa ra những so sánh khách quan với tình hình ở các nước châu Âu, có những nhận xét chung khách quan về giai đoạn lịch sử này, qua đó cũng lột tả được cái tài bút nghiên của Ngô Thì Nhậm trong thời đại của ông
Vũ Ngọc Khánh: Vài mẩu chuyện Tây Sơn trong một vùng văn nghệ dân gian, Tạp chí Văn học, số 4-1973, tác giả đã kỳ công sưu tầm từ Bắc chí Nam các câu
chuyện trong dân gian liên quan tới nhà Tây Sơn và tác giả cũng đưa ra những nhận xét khách quan về tính chất của câu chuyện
Trần Nghĩa: Tìm hiểu thái độ chính trị của Ngô Thì Nhậm, Tạp chí Văn học, số
4-1973, tác giả đã đưa ra những nhìn nhận chính xác thái độ của Ngô Thì Nhậm trước thời cuộc của ông để đánh giá đúng sự nghiệp của một nhà ngoại giao kiệt xuất
Vũ Đức Phúc: Từ Ngô Thì Nhậm đến trào lưu văn học Tây Sơn, Tạp chí Văn
học, số 4-1973, trong bài tác giả đã nêu lên các giai đoạn trong cuộc đời của Ngô
Thì Nhậm và đưa ra những nhận xét sắc đáng về Ngô Thì Nhậm
Ngoài ra còn nhiều sách và rất nhiều các tạp chí liên quan đến thời Tây Sơn đã
được tác giả khóa luận tham khảo, đặc biệt là các bài viết trên tạp chí Xưa và Nay
của nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Chính
Trang 83 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Làm sáng tỏ tài năng xuất chúng của Ngô Thì Nhậm về ngoại giao trong thời đại của ông Những việc mà ông đã làm được cho vương triều Tây Sơn nói riêng và
cho Đại Việt nói chung, thể hiện qua tác phẩm Bang giao hảo thoại Từ việc nghiên
cứu đó đề tài đưa ra được những nhận xét chung một cách khách quan về tư tưởng bang giao Ngô Thì Nhậm và gợi mở cho ngoại giao Việt Nam hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu về Ngô Thì Nhậm với thời đại của ông
- Tìm hiểu tư tưởng bang giao Ngô Thì Nhậm về vấn đề bang giao Đại Việt –
Trung Hoa qua tác phẩm Bang giao hảo thoại của ông
- Đưa ra những nhận xét chung về đóng góp của Ngô Thì Nhậm qua tác phẩm
Bang giao hảo thoại và những gợi mở cho tương lai từ quá trình nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Những chủ trương, biện pháp trong quan hệ bang giao với Trung Hoa thông
qua Bang giao hảo thoại của Ngô Thì Nhậm
- Quá trình thực hiện những biện pháp bang giao của Ngô Thì Nhậm và nhà Tây Sơn với Trung Hoa
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Việt Nam và Trung Quốc cuối thế kỷ XVIII (1789-1802)
- Thời gian: từ năm 1773 khi phong trào Tây Sơn nổ ra đến năm 1802 khi vương triều Tây Sơn sụp đổ
- Nội dung: bang giao Đại Việt - Trung Hoa qua tư tưởng của Ngô Thì Nhậm
trong tác phẩm Bang giao hảo thoại
5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu chủ yếu
5.1 Cơ sở lý luận:
Chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
Trang 9Phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích
5.3 Nguồn tư liệu sử dụng:
- Tác phẩm Bang giao hảo thoại của Ngô Thì Nhậm
- Các sách, báo, tạp chí nghiên cứu về Tây Sơn và các lĩnh vực liên quan nhất là lịch sử, văn học trong giai đoạn cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX
Trong các nguồn tư liệu sử dụng, quan trọng nhất là các văn kiện bang giao
trong tác phẩm Bang giao hảo thoại, các bài viết trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Tạp chí Văn học là những tài liệu quý và có ý nghĩa lớn được chúng tôi sử dụng
làm tài liệu nghiên cứu chính
6 Những đóng góp của đề tài
- Đóng góp vì xử lý, khai thác nguồn tư liệu liên quan đến Ngô Thì Nhậm trong lĩnh vực bang giao với Trung Hoa
- Trình bày những chủ trương, đường lối đối ngoại của Ngô Thì Nhậm và nhà
Tây Sơn với Trung Hoa thông qua những bài viết trong tác phẩm Bang giao hảo
thoại
Thông qua đề tài, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy hướng dẫn là ThS Nguyễn Văn Hoàn; TS Trần Ngọc Ánh, Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng đã chỉ bảo và góp ý kiến cho đề tài Ban Chủ nhiệm khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã giúp đỡ để tác giả có thể hoàn thành được đề tài của mình
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, cấu trúc của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Ngô Thì Nhậm - con người, thời đại và sự nghiệp
Chương 2: Vấn đề bang giao Đại Việt - Trung Hoa qua tác phẩm “Bang giao hảo thoại” của Ngô Thì Nhậm
Chương 3: Khái luận chung vấn đề nghiên cứu
Trang 10Chương 1
NGÔ THÌ NHẬM - CON NGƯỜI, THỜI ĐẠI, SỰ NGHIỆP
1.1 Vài nét về gia đình Ngô Thì Nhậm
Thứ nhất, Ngô Thì Nhậm được sinh ra trong một gia đình nho học, có ông nội
và cha là người có tài, đã tạo cho gia tộc một nề nếp học vấn, truyền thống văn chương lâu dài mà khó có gia đình nào theo kịp
Ông nội của Ngô Thì Nhậm là Ngô Thì Ức (1690-1736) [34, 294], có đạo hiệu
là Tuyết Trai tiên sinh, là nho sĩ thời Hậu Lê Năm 1714 Ngô Thì Ức thi đỗ Hương Cống, nhưng không ra làm quan mà ở nhà mở lớp dạy học Điều này có thể cho thấy, Ngô Thì Ức là một nho sĩ không màng danh lợi, chán ghét thời cuộc của triều đại phong kiến nhà Hậu Lê đã Lê suy yếu, loạn thần nổi lên nhiều, gian thần thì lộng quyền Nhận thấy, nếu ra làm quan cũng không thể mang cái trí lớn, cái tài ra giúp nước, giúp dân mà chỉ có thể trở thành “bù nhìn”, hoặc chức quan “hữu danh
vô thực” nên ông đã ở nhà dạy học và dạy dỗ cho con cháu Ông là người đã đặt
hòn đá tảng nền móng để xây dựng nên một gia tộc nổi tiếng, con cháu nhiều người
làm quan và đặc biệt là một gia tộc có truyền thống văn chương nổi tiếng không chỉ thời bấy giờ mà còn cả trong lịch sử dân tộc, khó có một gia tộc nào theo kịp Con
và các cháu của ông, đặc biệt là Ngô Thì Nhậm đã được thừa hưởng những phẩm chất tốt đẹp của một nhà nho ngay thẳng và cảm nhận được nỗi đau của thời cuộc Cha của Ngô Thì Nhậm là Ngô Thì Sĩ (1726-1780) [34, 293] tự là Thế Lộc, hiệu là Ngọ Phong, đạo hiệu là Nhị Thanh cư sĩ, sinh ra ở làng Tả Thanh Oai, Hà Tây (Hà Nội), là một nhà nho có tài và nổi tiếng về văn chương Làm quan vào thời vua Lê chúa Trịnh, tuy không làm quan to, song là một con người có tài, do đó Ngô Thì Sĩ rất được chúa Trịnh yêu mến; đặc biệt là trong việc điều binh, việc dân Cuộc đời của ông cũng có những thăng trầm trong sự nghiệp quan trường Khi làm quan ở Lạng Sơn thì Ngô Thì Sĩ đã có công lớn với xứ này, là người đã có những chính sách giúp cho dân chúng được bình yên, vì thế ông rất được lòng và được nhân dân xứ Lạng yêu mến, biết ơn Điều này chứng tỏ rằng Ngô Thì Sĩ là một nhà nho không chỉ biết viết văn chương mà còn có một cái tài “kinh bang tế thế”, đem lại cuộc sống thực sự ấm no cho nhân dân Ngô Thì Nhậm là người được thừa
Trang 11hưởng khả năng giúp dân, giúp nước bằng cái tài thiên phú như của cha mình Đặc biệt lại nhận được sự dạy dỗ, chỉ bảo của người cha mình
Bảng 1: MỘT SỐ TÁC PHẨM ĐƯỢC TẬP HỢP TRONG TÙNG THƯ
CỦA NGÔ GIA VĂN PHÁI
1 Ngọ Phong văn tập
2 Bảo chướng hoành mô
3 Anh ngôn thi tập
4 Việt sử tiêu án
5 Quan lan thập vịnh
6 Nhị thanh động tập
7 Đại Việt sử ký
(Tiền biên & Lê kỷ tục biên)
8 Bang giao hảo thoại
21 Hải Dương chí lược
22 Hoa trình gia ấn thi tập
23 Trúc lâm tông chỉ nguyên thanh
24 Nhị thập tứ chương kinh (Thái chân viên giác thanh)
34 Ngô sào thi tập
35 Ngô tộc truy viễn đàn phả
Trần Văn Giáp: Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tập 1, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1984, tr 110, 326
Sinh ra trong một gia đình nhà nho, nhận được sự giáo dưỡng của ông nội và cha, Ngô Thì Nhậm đã được thừa hưởng truyền thống giáo dục của một gia đình tri thức nho học phong kiến Đó là cơ sở để Ngô Thì Nhậm hội tụ cho mình những phẩm chất về văn chương tuyệt vời, khả năng nhận định được thời cuộc và có một cái nhìn khách quan đối với thời cuộc của mình Từ đó có được sự lựa chọn đúng đắn Biết đặt lợi ích của dân tộc, của nhân dân lao động lên hàng đầu, ông đã ủng
hộ sự chính nghĩa của phong trào Tây Sơn, đi theo và hết lòng, hết sức phục vụ Tây Sơn Dù cho trang sử vẻ vang đó không kéo dài, chỉ diễn ra trong một khoảng thời
Trang 12gian khá ngắn, cùng với sự tồn tại của phong trào, vương triều Tây Sơn Nhưng điều đó cũng đã thể hiện được khả năng và thiên tài về đối ngoại của Ngô Thì Nhậm Tô son điểm phấn cho mốc lịch sử hào hùng của dân tộc cùng với những võ công tồn tại mãi với thời gian
Thứ hai, đến đời Ngô Thì Nhậm, các anh em của mình và con trai, thì truyền thống gia đình vẫn được giữ gìn và phát huy, Ngô gia trở thành một gia tộc nổi tiếng
Một là, các anh em ruột trong gia đình Ngô Thì Nhậm đều là những người có
học thức
Em trai là Ngô Thì Chí (1753-1788) [34, 290] tự Học Tốn, hiệu Uyên Mật - một nho sĩ, làm quan cho triều đình Lê - Trịnh, được đánh giá là trung thần của vương triều này Khi Tây Sơn tiến quân ra Bắc, Ngô Thì Chí đang là một viên quan
“thiêm thư bình chương tỉnh sự” và đã chạy theo vua Lê Chiêu Thống để chống lại Tây Sơn Tuy bị đánh giá là “không có tài cán gì”, nghĩa là chỉ có thể viết văn chương và thơ phú như bao nhà nho khác, chứ không có cái tài bình thiên hạ, có mưu lược như cha và anh trai Ngô Thì Nhậm của mình Song xét một cách khách quan thì Ngô Thì Chí vẫn là một nhà nho có tài về văn chương, góp phần làm rạng
rỡ cho tộc Ngô Cũng như nhiều sĩ phu Bắc Hà lúc bấy giờ, Ngô Thì Chí đã mắc phải tâm lý trung quân một cách mù quáng, không nhận diện rõ thời cuộc, không thấy được sự tiến bộ của phong trào nông dân khởi nghĩa chống lại áp bức, bóc lột của một triều đình đã không còn khả năng tồn tại, vua quan đi vào cảnh ăn chơi trác táng, không màng đến đời sống của nhân dân
Em út trong gia đình ba anh em ruột của Ngô Thì Nhậm là Ngô Thì Hương (1774-1821) [34, 291], còn gọi là Ngô Vị, tự Thành Phủ, hiệu Ước Trai Tuy không
đỗ đạt như hai người anh của mình, nhưng cũng được đánh giá là có tài năng, và là người duy nhất trong ba anh em ra làm quan cho nhà Nguyễn Ngay từ thời Gia
Long (1802-1820) ông đã được bổ nhiệm làm chức Thiêm sự bộ Lại và sau này còn
được bổ nhiệm nhiều chức vụ quan trọng khác như Hiệp trấn Lạng Sơn 1817) Khi làm quan ở đây Ngô Thì Hương cũng đã có những chính sách có lợi cho dân, cùng với cha mình đã để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng dân chúng xứ Lạng; làm Đề điệu trường thi Gia Định (1819) Ngô Thì Hương nhận được sự tin yêu của
Trang 13(1814-nhà vua, được đi sứ hai lần sang Trung Hoa, lần đầu là phó sứ, lần thứ hai làm chánh sứ, song nhiệm vụ chánh sứ đi Trung Hoa chưa kịp thực hiện thì Ngô Thì Hương lâm bệnh và mất trên đường đi Tài đối ngoại của Ngô Thì Hương không thể hiện rõ nét như ông anh Ngô Thì Nhậm Nhưng nhìn chung Ngô Thì Hương cũng là một người có tài và được triều đình nhà Nguyễn đánh giá cao, trọng dụng Bởi việc đi sứ Trung Hoa trong lịch sử dân tộc đến lúc bấy giờ vẫn tiếp tục được coi trọng, người được cử đi sứ phải thực sự là một người có tài, giỏi đối đáp, là người đại diện toàn quyền của nhà vua trong lần đi sứ, đòi hỏi quyền lợi và đấu tranh bảo vệ quyền lợi, thể hiện được sự độc lập chủ quyền của dân tộc trước Trung Hoa một thế lực mà trong suốt quá trình lịch sử luôn có dã tâm thôn tính và biến Đại Việt thành một bộ phận thuộc quyền quản lý của chúng
Hai là, các em cùng cha khác mẹ và các em trong dòng họ của Ngô Thì Nhậm
cũng là những danh sĩ
Ngô Thì Trí (1766-?) [34, 294], hiệu Dưỡng Hạo, là một trung thần nhà Tây Sơn từ khi theo anh của mình là Ngô Thì Nhậm ra làm quan cho nhà Tây Sơn Ngô Thì Trí là người có công lớn trong việc sưu tầm và tập hợp các bài viết của dòng họ Ngô Các tác phẩm của ông đều ca ngợi về nhà Tây Sơn, cho tới khi nhà Tây Sơn
bị sụp đổ thì ông vẫn giữ lòng trung trinh với nhà Tây Sơn Tuy vậy, nhưng tấm lòng yêu nước thương dân của ông vẫn vượt lên trên hết, tiếc nuối vì sự sụp đổ của vương triều Tây Sơn, không ra làm quan cho nhà Nguyễn nữa; nhà Tây Sơn sụp đổ
đã để lại một cú sốc tinh thần lớn mà Ngô Thì Trí không thể vượt qua, song là người biết và hiểu thời thế, ông vẫn khuyến khích các em, các cháu của mình phải biết lấy việc nước làm trọng, không ngừng học tập, cố gắng mang cái tài, cái đức
học được đó phục vụ cho tân triều, giúp dân, cứu đời “Khuyến khích các em, các
cháu đi học để phục vụ tân triều”
Ngô Thì Hoàng (1768-1814) hiệu là Huyền Trai, có biệt hiệu là Thạch Ổ Cư Sĩ,
là em trai cùng cha khác mẹ của Ngô Thì Nhậm, ông không làm quan, song cũng là một nhà nho, một trí thức của thời đại, và cũng là người góp phần làm rạng danh
Ngô gia văn phái mà khó có một gia tộc nào sánh kịp
Ngô Thì Du (1772-1840) [34, 290] tự Trung Phủ, Hiệu Văn Bác, là em con chú ruột (Ngô Thì Đạo) của Ngô Thì Nhậm Ngô Thì Du nổi tiếng về siêng học và học
Trang 14giỏi, làm quan cho nhà Nguyễn, song cống hiến của ông nơi quan trường hầu như không có gì đáng kể, có lẽ bởi Ngô Thì Du là một người có lòng trắc ẩn cao, quá bận lòng bởi chuyện gia đình và quê hương Ông không có cống hiến gì đáng kể được ghi nhận cho nhà Nguyễn và cho dân dù được nhà Nguyễn bổ nhiệm làm chức đốc học Hải Dương khi được bạn bè đề cử Song Ngô Thì Du lại là một trong những nhà nho xuất sắc và đặc biệt là một trong hai tác giả nổi tiếng nhất của Ngô gia văn phái cùng với Ngô Thì Chí
Con trai Ngô Thì Nhậm là Ngô Thì Điển, tự Kính Hư, hiệu Tĩnh Trai [24, 326] (chưa rõ năm sinh, năm mất), nhưng theo sử sách ghi lại thì Ngô Thì Điển có tham
gia vào việc khắc bộ Đại Việt sử ký tiền biên, và người có công lớn trong việc tập
hợp và chỉnh lý các tác phẩm của những người trong dòng họ Điều này ít nhiều cũng cho chúng ta thấy, có lẽ Ngô Thì Điển cũng làm quan cho nhà Tây Sơn, và ông là một nhà nho, một người có tư duy tốt, văn chương giỏi Vì chỉ có như vậy thì ông mới có thể kỳ công tập hợp các tác phẩm của dòng họ và chỉnh lý các tác phẩm ấy, tập hợp trong kho sách của Ngô gia văn phái Như vậy hậu bối của Ngô Thì Nhậm cũng là một nhân vật đáng nể trọng và có ảnh hưởng lớn đối với dòng họ Ngô, chỉ tiếc rằng những tư liệu viết về ông khá ít và việc tập hợp, tìm kiếm cũng khó khăn nên chỉ dám đưa ra những nhận định bước đầu về nhân vật lịch sử này
1.2 Ngô Thì Nhậm trong thời đại của ông
Ngô Thì Nhậm (1746-1803), tự Hy Doãn, hiệu Đạt Hiên, xuất thân trong một
gia đình có truyền thống văn học ở Tả Thanh Oai, Hà Tây (nay là Hà Nội) [34, 291] Được mệnh danh là nhà tư tưởng lỗi lạc của thời kỳ biếm loạn xã hội Là
người nổi tiếng thông minh, lại cần cù học tập từ nhỏ năm 16 tuổi đã soạn được
một quyển đề là Nhị thập thất sử toát yếu, có lẽ là một thứ tóm tắt Bắc sử dùng vào
việc thi cử; 17 tuổi sát hạch ở trường huyện, hai lần đều chiếm hạng ưu; 21 tuổi
soạn xong Tứ gia thuyết phả, chưa rõ là sách gì Mấy năm sau Ngô Thì Nhậm đỗ
khoa sĩ vọng và được bổ làm hiến sát phó sứ Hải Dương Tuy làm quan, ông vẫn chăm học, khi rỗi rãi còn mở lớp dạy học, học trò theo học rất đông [61, 15] là thầy dạy của Trịnh Tông; làm quan cho hai triều đại phong kiến lúc bấy giờ là Lê - Trịnh và vương triều Tây Sơn của Nguyễn Huệ Khi làm quan cho triều Lê, Ngô
Trang 15Thì Nhậm rất được chúa Trịnh Sâm yêu quý; làm quan cho Tây Sơn thì được Quang Trung sủng ái
Nhưng cuộc đời Ngô Thì Nhậm lại có nhiều thăng trầm, biến cố như chính trong thời đại của ông
Thứ nhất, Ngô Thì Nhậm sống trong thời kỳ thoái trào của triều đình Lê-Trịnh, nông dân liên tục khởi nghĩa chống lại triều đình, trong đó có phong trào Tây Sơn
Vào thế kỷ XVIII ở Việt Nam nội chiến diễn ra liên miên giữa hai tập đoàn phong kiến, được lịch sử ghi lại là thời kỳ “Trịnh - Nguyễn phân tranh” Triều đình
Lê -Trịnh thường xuyên diễn ra các cuộc thanh trừng nội bộ, tranh chấp quyền lực
mà hãm hại, chém giết lẫn nhau; quan lại đua nhau nhũng nhiễu khiến cho nhân dân phải chịu sưu cao thuế nặng, đời sống ngày càng cực khổ Vì vậy nông dân đã liên tiếp đứng lên khởi nghĩa và được mệnh danh là “thế kỷ nông dân khởi nghĩa” Liên tục từ 1737 đến 1741, năm nào cũng có một cuộc khởi nghĩa mới bùng nổ, trong lúc các cuộc khởi nghĩa trước đó vẫn tiếp tục hoạt động: 1737, nhà sư Nguyễn Dương Hưng phát hỏa cho phong trào ở Tam Đảo; 1738, Lê Duy Mật sau khi làm đảo chính ở Thăng Long thất bại, liền chạy vào miền núi Thanh Hóa, dựa vào lực lượng nông dân, chống chọi với triều đình hàng mấy chục năm trời; 1739, Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Vũ Trác Oánh nhất tề nổ dậy ở Hải Dương, trong lúc
Vũ Đình Dung, Hoàng Công Chất dựng cờ khởi nghĩa ở Sơn Nam Năm 1740, khi cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Tuyển tan vỡ ở Hải Dương thì ở Tam Đảo, Nguyễn
Danh Phương đã xây dựng xong đông ải thành lũy kiên cố nghiễm nhiên làm một
nước đối địch với triều đình trong suốt mười năm trời (1741-1751) Năm 1741,
Nguyễn Cừ thua trận, bị bắt giải về kinh thì một bộ tướng tài giỏi của ông là Nguyễn Hữu Cầu liền tập hợp đám nghĩa quân đang tan rã, tổ chức thành một cuộc khởi nghĩa mới, quy mô lớn hơn, thanh thế mạnh mẽ hơn, tung hoành trên suốt một địa bàn rộng lớn, từ Hải Dương nơi nạn đói xảy ra khủng khiếp nhất qua Kinh Bắc,
uy hiếp kinh đô Thăng Long, tràn xuống Sơn Nam, vào tận Thanh-Nghệ Đây là cuộc khởi nghĩa đánh dấu cao điểm của phong trào nông dân Đàng Ngoài, mặt khác, biểu thị một cách sáng rõ nhất, đặc điểm và mục tiêu chiến đấu của phong trào nông dân trước Tây Sơn [28, 19] Bên cạnh đó còn có rất nhiều các cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra Phong trào nông dân khởi nghĩa nổ ra rầm rộ thực tế là
Trang 16biểu biện của sự chống đối của những người dân bị triều đình dồn đến vực thẳm giữa sự sống và cái chết, chết vì đói, khiến cho họ có sức mạnh dữ dội để đứng lên khởi nghĩa, làm tổn thất nghiêm trọng cho nhà Lê - Trịnh đã đến hồi suy tàn, mục nát Khi Trịnh Sâm qua đời, trật tự xã hội lại càng rối ren, đảo lộn, các phe phái tranh giành quyền lực chém giết lẫn nhau Nhưng tất cả các phong trào nổ ra đều phụ thuộc lớn vào người thủ lĩnh, mỗi khi thủ lĩnh của phong trào chẳng may bị hy sinh thì phong trào cũng theo đó mà sụp đổ nhanh chóng, phong trào Tây Sơn cũng không tránh khỏi ngược điểm này Tuy vậy trong thế kỷ XVIII phong trào nông dân nổ ra tiêu biểu nhất vẫn là phong trào Tây Sơn Sự thành công của phong trào này đã thiết lập nên vương triều Tây Sơn, tuy tồn tại trong quãng thời gian ngắn (1778-1803) nhưng Tây Sơn đã có tiếng vang lớn và có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử dân tộc Đã thực hiện một cách vẻ vang những nhiệm vụ trọng đại của dân tộc “cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã đưa phong trào nông dân thế kỷ XVIII phát triển lên một giai đoạn mới: giai đoạn phong trào nông phân chuyển hóa thành phong trào dân tộc, hay giai đoạn phong trào nông dân đảm đương cả việc thực hiện những nhiệm vụ dân tộc trọng đại” [28, 21]
Thứ hai, sống trong thời buổi loạn lạc Ngô Thì Nhậm đã thấu hiểu được sự thống khổ của nhân dân, vì ông xem dân là trung tâm của vũ trụ và mối quan hệ trời - người
Ngô Thì Nhậm đã cảm nhận được cái đau của nhân dân khi xã hội đương thời, cuộc sống không được đảm ảo, sưu cao thuế nặng, nạn đói diễn ra thường xuyên,
tiêu biểu như trong Lê quý dật sử có chép lại vào năm Đinh Dậu, Cảnh Hưng 38
(1777) “cả nước đói to, gạo một bát nhỏ trị giá một quan tiền, dân gian thậm chí phải lấy củ nâu, củ chuối thay cơm, người chết đói đến quá nửa, lại thêm ôn dịch thịnh hành, dân chúng nhiều người ốm chết; tháng 10, lụt to; năm Mậu Tuất, Cảnh Hưng 39 (1778) cả nước đói to” [42, 36] Trong kinh thư của Nho giáo nêu “dân vi bang bản” nghĩa là “dân là gốc nước”; sách Mạnh tử cũng nêu “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” nghĩa là dân là đáng trọng, tiếp đó là xã tắc, còn vua là nhẹ Ngô Thì Nhậm xem “dân là trung tâm của vũ trụ, của mối quan hệ trời - người: trời trông, trời nghe do ở dân Lòng dân yên định thì ý trời cũng xoay chuyển, coi việc được lòng dân là cơ sở của sự hòa nhập và phát triển, là điều kiện để tạo nên sự cân
Trang 17bằng trong xã hội và tự nhiên; trong nước yên là nhờ ở được lòng dân, lòng dân ở hai xứ (Thanh - Nghệ) được yên thì khí hòa mới tụ tập lại, dân hóa cảm ở dưới thì thiên hòa ứng ở trên, hiệu nhiệm được mùa không hẹn mà đến” [35, 462], dân chúng là gốc rễ nước nhà, nhưng giờ đây người dân không được đảm bảo về một cuộc sống ấm no mà còn phải chịu sự bất công, khổ cực, dẫn đến loạn lạc trong xã hội Theo Ngô Thì Nhậm thì xã hội loạn lạc tất cả đều “do chính sách của triều đình gây nên” [35, 460] Hiểu được nỗi khổ của người dân, biết về nguồn gốc gây nên
nỗ khổ ấy, Ngô Thì Nhậm đã đề ra những chủ trương tiến bộ trong “Kim mã hành
dư” Nhưng triều đình Lê - Trịnh lúc bấy này đã không thể thực hiện được chủ
trương có lợi cho nhân dân nhằm bình ổn xã hội mà Ngô Thì Nhậm đã đề ra (giảm
sự đóng góp cho dân; miễn những thứ thuế không cần thiết; từ bỏ chính sách tụ liễm, vơ vét…) vì vua không ra vua tôi không ra tôi, quan lại đều ra sức vơ vét của cải của nhân dân để làm giàu cho bản thân mình Tấm lòng thương tiếc nhân dân phải sống trong cảnh khổ cực, bất hạnh, cuộc sống bấp bênh đã gắn liền một cách hữu cơ với lòng yêu nước của ông Ngô Thì Nhậm đã nổi bật lên giữa cái xã hội loạn lạc đương thời, thể hiện tư tưởng của một nho sĩ cấp tiến có cái nhìn sâu sắc và tường tận mọi vấn đề
Thứ ba, Ngô Thì Nhậm đã nhìn nhận thực tế lịch sử một cách khách quan và có
ý thức xây dựng một nhận thức luận phù hợp với thời cuộc
Ngô Thì Nhậm hiểu được những chiều hướng vận động của lịch sử Do vậy đứng trước thời cuộc có nhiều rối ren, biến động và diễn biến phức tạp cũng không khiến ông bỡ ngỡ Ông vẫn cho rằng “ở con người thì vua là trung tâm và xoay xung quanh vua là các thần dân” [35, 468] Ngô Thì Nhậm hiểu được chân lý
“nước có thể đưa thuyền, nhưng cũng có thể làm lật thuyền” và “dân” là đối tượng chủ thể mà ông suy nghĩa, vì dân “chiếm số đông và làm ra của cải để nuôi sống xã hội và triều đình” [35, 461] nên ông không có tư tưởng “ngu trung” và “ông nêu lên
tư tưởng phải thay đổi theo thời, có thế con người mới được tự do” [35, 470] Vì sự kiện lịch sử - xã hội tuy nhiều vẻ phức tạp nhưng vẫn diễn ra theo những chiều hướng nhất định, mà nếu con người hiểu biết và hành động theo thì có khả năng thành công trong thực tế [35, 467] Điều này phần nào đã lý giải vì sao khi phong trào Tây Sơn ra Bắc thì Ngô Thì Nhậm đã trở thành một trong những nhân vật tiêu
Trang 18biểu của nho sĩ Bắc Hà đi theo Tây Sơn Khi Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ hai năm
1788 “Trong một thời gian ngắn, vị anh hùng này đã bộc lộ tài năng và khí phách trong việc phò Lê diệt Trịnh, rất đáng là người ông vẫn mong mỏi và chờ đợi Ông quyết tâm đi với Nguyễn Huệ và tin tưởng rằng việc làm của mình là đúng Bất chấp những lời mỉa mai trách ông là bất trung, là xu thời, ông dứt bỏ những ràng buộc về giai cấp và đạo lý, đi hẳn với phong trào nông dân và trung thành tuyệt đối với người anh hùng áo vải Ông đã nêu một tấm gương sáng, kéo theo nhiều nhà trí thức khác như Phan Huy Ích, Nguyễn Thế Ấp, Ninh Tốn, Nguyễn Bá Lân, Trần Bá Lãm…” [63, 421]
Thứ tư, Ngô Thì Nhậm nhận thức được muốn chấm dứt cảnh loạn lạc cần phải xây dựng một xã hội mới phù hợp với ý chí và nguyện vọng của nhân dân
Sống trong thời buổi loạn lạc, là một nho sĩ, Ngô Thì Nhậm đã đề ra nhiều chủ trương để xây dựng một xã hội mới tốt đẹp, như lấy dân làm gốc vì “lòng dân yên định thì ý trời cũng xoay chuyển” [35, 462] Phải thực hiện những chính sách tốt
đẹp và có lợi cho quần chúng nhân dân để được lòng dân như giảm sự đóng góp cho nhân dân, từ bỏ những chính sách tụ liễm, vơ vét; quan lại thì phải “bồi dưỡng cho họ cái khí hạo nhiên, trau dồi cho họ thói quen liêm sĩ” [35, 463], để quan lại
phải vừa là những người vừa có văn, vừa có hạnh và đặc biệt phải là những người biết thức thời, nhạy cảm và dũng cảm đưa ra những quyết định sáng suốt Ngô Thì Nhậm còn chủ trương “mọi công việc của triều đình phải lấy việc làm cho dân no
đủ, làm cho quan lại được sung túc hàng đầu Các công việc khác như đắp thành, mua ngựa đều phải xem là thứ yếu, chỉ thực hiện sau khi đã bảo đảm được các công việc cơ bản trên Một quan điểm như thế phải xem là sâu sắc và thiết thực, biết giải quyết các vấn đề xã hội từ khâu cơ bản nhất của nó, khâu đời sống vật chất Nếu triều đình Lê - Trịnh biết chấp nhận quan điểm đó của ông thì có khả năng đổi mới được đất nước lúc bấy giờ” [35, 465] Nhưng cái tài, cái trí của Ngô Thì Nhậm nhằm chấn hưng đất nước, dập tắt ngọn nguồn của loạn lạc đã không thể thực hiện được do triều đình phong kiến Lê - Trịnh lúc bấy giờ đã đi tới chỗ thoái trào, vua thì bất tài, quan lại thì tranh giành quyền lực, chém giết lẫn nhau Ngô Thì Nhậm cũng bị xem là liên đới trong vụ đảo chính ngôi chúa mà sử sách gọi là “vụ án Canh Tý” (1780), khiến ông phải chạy trốn sáu năm trời, chỉ đến khi Nguyễn Huệ ra Bắc
Trang 19lần thứ hai (1788), với chính sách cầu hiền sáng suốt và chân thành của con người
văn võ toàn tài, Ngô Thì nhậm mới được trọng dụng “Từ một bề tôi tại đào của
triều đình Lê - Trịnh, ông đã đến với trào lưu hoạt động nhân dân Từ đó mở ra một bước ngoặt trong đời hoạt động của Ngô Thì Nhậm từ đó Ngô Thì Nhậm mới thực
sự đem hết tài năng, tâm huyết của mình cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ tổ quốc” [30, 434-435]
1.3 Vài nét về con người và sự nghiệp của Ngô Thì Nhậm
Sống trong thế kỷ XVIII, một thế kỷ đầy những đau thương nhưng cũng là thế
kỷ đã tạo nên một công trình vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam, “đó là thế kỷ vùng lên từ kiếp sống tối tăm, nô lệ của những người nông dân áo vải, thế kỷ của những khát vọng tự do và công lý, thế kỷ của tinh thần khoa học bước đầu chiến thắng kinh viện học Khổng giáo, thế kỷ hoàng kim của văn học Nếu ở Châu Âu,
thế kỷ XVIII là thế kỷ ánh sáng thì ở Việt Nam thế kỷ này cũng mang một tinh
thần như vậy, và nó đã sản sinh ra những con người khổng lồ: khổng lồ về nhiệt tình, về tính cách, sự uyên bác…Những con người tiêu biểu của thời đại này là
Nguyễn Huệ, người đã chỉ huy cuộc tấn công lên trời - tấn công tiêu diệt gọn đội quân xâm lược của Thiên triều như quét đàn kiến, bảo vệ nền độc lập và nền văn
hóa Việt Nam được ông biểu hiện
dưới biểu tượng răng đen, dài tóc trong
lời hịch xuất quân của mình Và bên cạnh
Nguyễn Huệ, sáng ngời lên một gương
mặt lịch sử tiêu biểu khác: gương mặt
của nhà ngoại giao, nhà quân sự, nhà văn
hóa, gương mặt độc đáo và vĩ đại Ngô
Thì Nhậm” [30, 433-434]
Ngô Thì Nhậm được đánh giá là một
người toàn tài, một nhà chính trị, nhà
quân sự, nhà ngoại giao và nhà văn nổi
Tượng thờ Ngô Thì Nhậm trong Điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt
(Bảo tàng Quang Trung, Bình Định) tiếng Có thể tìm hiểu về con người và sự nghiệp của ông ở các khía cạnh sau:
Thứ nhất, Ngô Thì Nhậm một con người dưới góc độ chính trị
Trang 20Theo Từ điển tiếng Việt, chính trị là “những vấn đề về tổ chức và điều khiển bộ máy Nhà nước trong nội bộ một nước và quan hệ chính thức giữa các nước với nhau” [52, 163]
Con người và sự nghiệp chính trị của Ngô Thì Nhậm có thể chia làm ba giai đoạn như sau:
Một là, giai đoạn hoài bão dưới thời Lê - Trịnh (1770-1780)
Đời hoạt động chính trị của Ngô Thì Nhậm bắt đầu từ năm 24 tuổi, ngay sau khi ông đỗ giải nguyên và được chúa Trịnh Sâm cho làm Hiến sát phó sứ Hải Dương, Ngô Thì Nhậm muốn làm một nhà Y Doãn đất sằn, đem tài kinh luân của mình ra cứu đời yêu dân Trong một loạt tờ khải, Ngô Thì Nhậm đã phần nào nêu lên được cảnh cơ cực của người dân quê đất Hải Dương, đồng thời cũng là tình trạng bi đát chung của nông dân Việt Nam thời đó “địa hạt của thần từ năm Canh Thân bị lũ cường đồ lừa dối, mặt đất nổi chông gai, số dân tăng nhưng lẫn trốn đi nhiều, vì dân nghèo, người thì bị nhà chức trách thu thuế nặng, người thì bị bọn thổ hào chiếm đoạt ruộng đất; nay đồng ruộng bỏ hoang không ai nhìn tới, mà những người giữ chức vụ chăn dân thì cứ theo sổ cũ để thu thuế, dân cày ruộng phải mượn nghề khác để lấy thóc nộp tô Cái ân tình đau khổ của dân chính là ở chỗ đó Tích lũy dần dần đi đến chỗ không sao cung ứng được nữa, thế là dân nghèo phải lưu tán sang các làng bên…” [47, 60] Ngô Thì Nhậm với tư tưởng lấy dân làm trung tâm, mong muốn nhân dân được sung sướng để xã hội ổn định, luôn nghĩ cách để cho nhân dân đỡ khổ, đưa nước nhà ra khỏi tình trạng bê bối trước mắt Ông đã gửi nhiều kiến nghị cho chúa Trịnh Sâm như về mặt trị nước, ông cho rằng phải nắm cho được những điều mấu chốt, đó là giáo (hiếu, đễ, trung, tín), pháp (gốc, ngọn,
độ, số) và chính (binh, tài, lễ, nhạc) Ba mặt ấy vốn gắn bó với nhau, làm điều kiện cho nhau, cần được kết hợp thực hiện một cách nhuần nhuyễn, không thể thêm về một mặt nào mà thành công được Sở dĩ đưa ra đề nghị này, vì “Ngô Thì Nhậm thấy nhà chúa rõ ràng đang lúng túng trước tình trạng thiếu hụt về ngân sách, do những việc thờ tự ở tông miếu, yến tiệc khi giao tế xã, thưởng cấp cho quan lính, ban phát cho trong triều ngoài phiên - nói gọn lại một câu, là do sự hoang phí về
nhiều mặt mà ra Đã túng thì phải tính Nhưng bằng cái cách nâng việc tụ liễm lên
làm quốc sách thì đúng là uống thuốc độc cho khỏi khát” [47, 61] Bởi vì chính
Trang 21sách này nếu được thi hành sẽ dẫn đến một loạt các hệ lụy khác như pháp luật bị phế bỏ, nghề nghiệp của thứ dân vị điêu tán, thói quen nảy nở và giáo hóa về luân thường bị sụp đổ Ông đã nhìn nhận thấy rõ chính sách của triều đình nếu không đúng sẽ dẫn đến một loạt các chuỗi phản ứng dẫn đến sự bất ổn của xã hội Những
cố gắng, tâm huyết của Ngô Thì Nhậm đối với đất nước thời Lê - Trịnh đã không thể cải thiện được điều gì mà chỉ làm cho ông trở thành con người lạc lõng giữa một thể chế chính trị đã đi đến chỗ mục nát không thể cứu vãn Ông đã không đánh giá đúng về tập đoàn thống trị đương thời và mình đang phục vụ, đặc biệt là về thế lực của chúa Trịnh - một lực lượng chính trị phản động nhất Bắc Hà “Chỉ từ sau vụ
án Canh Tý (1780), cái ung nhọt lớn nhất trong phủ chúa nổ ra, Ngô Thì Nhậm mới dần dần nhìn rõ được bộ mặt thật của họ hàng nhà chúa” [47, 62], từ đó nhìn nhận
và đánh giá lại về những thế lực chính trị mà trước đây ông từng cộng tác và phụng thờ
Có thể thấy trong giai đoạn đầu cuộc đời chính trị của Ngô Thì Nhậm, ông đã
có một thái độ diễn biến theo một quá trình “từ chỗ hoàn toàn tin tưởng ở nhà chúa, muốn dựa vào đó để thực hiện hoài bão kinh bang tế thế của mình, Ngô Thì Nhậm
đi tới chỗ phủ định dần nó để chỉ đề cao nhà Lê Nhưng tôn Lê mà vẫn thấy không
có gì đảm bảo, nên cuối cùng Ngô Thì Nhậm đã chối bỏ nhà Lê nốt Cái mà Ngô
Thì Nhậm gọi là cá nước bẽ bàng, rồng mây duyên bạc thực chất là vậy Đó là
những bước tiến quan trọng qua nhiều lỗi lầm, vấp ngã trong nhận thức chính trị của ông Việc ông đến với phong trào nông dân khởi nghĩa Tây Sơn vì vậy là một
sự phát triển tất yếu trong thái độ chính trị của ông, nghĩa là nó không còn mang tính chất ngẫu nhiên nữa” [47, 65]
Hai là, giai đoạn đắc ý trong sự nghiệp chính trị của Ngô Thì Nhậm dưới thời Tây Sơn của Quang Trung (1778-1792)
Năm 1788, Quang Trung ra Bắc lần thứ hai Với tâm lý tìm được nơi lánh nạn
và để thực hiện được hoài bão của mình, lại được một người bạn là Trần Văn Kỷ (chưa rõ năm sinh, mất năm 1801, còn có tên là Trần Chánh Kỷ, người làng Vân Tình, tổng Vĩnh Xương, Huyện Sơn Trà, phủ Triệu Phong, Trấn Thuận Hóa là danh sĩ đang được Nguyễn Huệ trọng dụng) thuyết phục và giới thiệu lên vua Quang Trung Vua đã thẳng thắn nói với Ngô Thì Nhậm “ngày trước người vì chúa
Trang 22Trịnh không dung, một mình bỏ nước mà đi, nếu ta không đến đây, người làm sao thấy được bóng mặt trời? có nhẽ đó là ý trời muốn để dành người tài cho ta dùng Vậy người hãy cố gắng mà lo việc báo đáp Thế là được
Ngoảnh sang phía Trần Văn Kỷ, Nguyễn Huệ tiếp luôn: Đây là người do ta gây dựng lại Nên thảo ngay tờ chế, phong làm chức Thị Lang bộ Lại, tước Tình phái hầu, cùng Võ Văn Ước xem tất cả các quan văn võ của nhà Lê
Sức mạnh quả quyết, dứt khoát và thẳng thắn ở con người đứng đầu Tây Sơn ấy
đã hoàn toàn chinh phục Ngô Thì Nhậm Đắn đo, băn khoăn đến mấy thì trước sức mạnh tự nhiên mà kỳ lạ ấy, cũng đều tan biến Ngô Thì Nhậm chỉ còn biết cúi đầu,
tạ ơn…” [16, 258] Trong “Tề hầu Trịnh bà minh vu Thạch môn”, Ngô Thì Nhậm
đã đánh giá Quang Trung chính là bậc anh tài trên đời đã xuất hiện để chấn chỉnh cái cơ đồ mà dòng họ Trịnh đã làm cho thất điên bát đảo Được Quang Trung trọng dụng, Ngô Thì Nhậm đã ra sức hoạt động, cống hiến Trong giai đoạn này tài năng của ông đã phát huy mạnh mẽ, mang lại nhiều thành quả quan trọng cho nhà Tây Sơn nói riêng và Đại Việt nói chung
Sau khi Quang Trung đại phá quân Thanh (1789), Ngô Thì Nhậm được giao nhiệm vụ mới: dùng ngòi bút ngoại giao mềm dẻo kéo lui cơn tự ái của vua Càn Long, tiến tới lập lại quan hệ bình thường giữa ta và phương Bắc Nhờ sự chỉ đạo sáng suốt của Quang Trung, đặc biệt là chiến thắng quân sự vô cùng to lớn và vang dội vừa qua, làm cho đối phương phải gờm sợ, cộng với tài ngoại giao khéo léo của mình, Ngô Thì Nhậm đã hoàn thành nhiệm vụ trên một cách xuất sắc Lệnh mang quân chín tỉnh do Phúc Khang An chỉ huy, tiếp tục sang xâm lược Việt Nam cuối cùng đã đình chỉ Triều Tây Sơn yêu sách đủ điều, vua Thanh đều phải miễn cưỡng chấp nhận Quang Trung được phong làm An Nam quốc vương Cái lệ nộp người vàng phi lý kéo dài từ đời Lê sơ đến nay phải hủy bỏ Đấy là chưa kể vua Càn Long buộc phải dự một vai trong lớp kịch “nhà Thanh tiếp Quang Trung” do Ngô Thì Nhậm soạn ra và đạo diễn để thỏa mãn sự hiếu thắng của Hoàng đế Trung Quốc…chưa bao giờ trong lịch sử ngoại giao ta, kể từ thời Quang Trung trở về trước, lại có những thắng lợi to lớn như vậy [47, 68-69]
Tài năng được đặt đúng chỗ, vua Quang Trung đã hết lời khen ngợi Ngô Thì
Nhậm với “ngòi bút có sức mạnh phi thường, ngăn được hai chục vạn quân sĩ
Trang 23Ngay cả tên biện thần nhà Thanh hồi đó là Thang Hùng Nghiệp cũng phải phục tài,
cho rằng một từ hàn như Ngô Thì Nhậm nước Nam thực là một nhân vật hiếm có”
[6, 62], với ngòi bút sắc nét của mình thể hiện sự mạnh mẽ của một con người biết mềm dẻo, ông đã làm cho cơn tự ái thịnh nộ của vua Càn Long dịu đi, “hiểu được thực lòng hòa hiếu, phục tài vua Quang Trung” Trong lịch sử Việt Nam tính đến thời điểm đó có lẽ chỉ có Nguyễn Trãi và Ngô Thì Nhậm được đánh giá là nhà ngoại giao sáng suốt, đã tránh được cuộc chiến tranh đầy xương máu cho hàng triệu sinh mạng của hai nước
Nhưng tài năng của ông đã không còn được xem trọng khi Quang Trung đột ngột qua đời (1792) Cuộc đời chính trị của ông đang trên đỉnh cao của sự thành công đã chuyển sang một giai đoạn mới như hiện tượng thoái trào của một nhân tài
đã hết thời
Ba là, giai đoạn lo buồn, gửi gắm tâm tư vào nghiên cứu Nho - Phật - Đạo thời hậu Quang Trung (1793-1803)
Những năm sống với Quang Trung Nguyễn Huệ (1788-1792) là những năm đắc
ý nhất trong toàn bộ cuộc đời Ngô Thì Nhậm Đó cũng là những năm mà đất nước trải qua những cơn sóng gió và chuyển mình lớn lao Đồng thời, đấy cũng chính là những năm của những chiến công cực kỳ hiển hách của đất nước, gắn liền với sự hưng khởi của phong trào nông dân Tây Sơn Ngô Thì Nhậm đã được luyện rèn từ trong một thời thế như thế Và ông, chủ yếu là do vạch được một đường đi thẳng băng giữa thời thế ấy, gắn bó với phong trào Tây Sơn và sự nghiệp cứu nước, nên
đã tạo ra được những đóng góp thật xuất sắc đối với thời thế lúc ấy Từ chức Thị lang bộ Lại ông đã làm đến chức Thượng thư bộ Binh [16, 270] Sự ra đi về cõi vĩnh hằng đột ngột của vua Quang Trung đã làm cho triều thần nhà Tây Sơn và Ngô Thì Nhậm ngơ ngác, sững sờ, đau buồn vì một cú sốc lớn Song Ngô Thì Nhậm vẫn động viên mình để tiếp tục phục vụ cho triều đình Tây sơn, báo đáp ân nghĩa mà vua Quang Trung lúc còn sống đã dành cho ông
Nhưng chẳng bao lâu sau khi vua Quang Trung mất, nội bộ Tây Sơn đã nảy sinh những lủng củng, tranh giành quyền lực, vua tôi nghi kỵ lẫn nhau, các công thần như Ngô Văn Sở, Lê Văn Hưng…bị giết hại, các quan văn thì cũng bị đẩy ra rìa như Ngô Thì Nhậm và Trần Văn Kỷ, một số công thần khác thì bị điều đi trấn
Trang 24thủ những nơi xa, hiểm yếu Trước tình hình đó, Ngô Thì Nhậm lại càng suy nghĩ, đăm chiêu…ông giành thời gian rảnh rỗi để nghiên cứu đạo phật, mà ông xem là cách có thể khỏa lấp được sự khủng hoảng về tư tưởng của chính mình
Ông cảm thấy bất lực trước hàng loạt vấn đề mà tình hình lúc đó đang đạt ra như: “sự suy yếu của triều đại Tây Sơn, nỗi đau khổ của nhân dân tiếp tục bị đói rét, sự đe dọa của Nguyễn Ánh đã rước quân ngoại quốc về đánh chiếm miền Nam Ngô Thì Nhậm lại sống cái bi kịch cổ truyền của những trí thức chân chính trong
xã hội cũ Tâm sự của Chu Văn An, nỗi đau xót của Nguyễn Trãi và trầm tư của Nguyễn Bỉnh Khiêm như lại trở về cùng Ngô Thì Nhậm” [63, 431]
Ngô Thì Nhậm là một người được sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống về nho học Thế nhưng nhìn lại về cuộc đời chính trị của ông người ta lại thấy rằng chưa bao giờ ông để cho những giáo lý cứng nhắc của đạo Nho ràng buộc mình Trong khi đó thì nhiều nho sĩ đất Bắc Hà đã tỏ thái độ bất hợp tác với Tây Sơn, “một số khác bo bo giữ chặt lấy chữ trung một cách ngu xuẩn, bôn ba theo phò Chiêu Thống, bất kể kẻ đó đã phản bội lại lợi ích dân tộc, để rồi chính mình cũng trở thành những kẻ phản bội dân tộc, rước quân thù vào giày xéo non sông mà vẫn tưởng như thế là yêu nhà thương nước” [63, 379]
Thứ hai, Ngô Thì Nhậm một con người tri thức phong kiến
Sinh ra trong một gia đình có truyền thống nho học, do vậy ngay từ nhỏ, Ngô Thì Nhậm đã tỏ ra là một người rất thông minh, đọc rộng, hiểu sâu hay nghiên cứu
và trước tác, ngày đêm nuôi dưỡng một hoài bão to lớn [63, 417], lại nhận được sự giáo dục từ gia đình, đặc biệt là ông nội Ngô Thì Ức và cha là Ngô Thì Sĩ Đến đầu năm 1775 ông đã thi đỗ Tiến Sĩ và được chúa Trịnh tin dùng Ra làm quan cho nhà
Lê, với tinh thần luôn nghĩ tới những việc lớn của quốc gia, làm thế nào để dân được ấm no, nước được giàu mạnh? Nên “ông luôn băn khoăn trước tình trạng kiệt quệ về kinh tế, rối ren về chính trị, tan rã về tinh thần của thời Lê - Trịnh” Song phục vụ ở cảnh quan trường mục nát đã làm cho cuộc đời làm quan dần dần trở nên
vô vị với Ngô Thì Nhậm Là một nhân tài, được chúa Trịnh yêu quý nên đã mời ông làm thầy giảng cho thế tử sắp nối nghiệp là Trịnh Tông Tâm huyết với triều đình đã bị bỏ dở khi Ngô Thì Nhậm buộc phải tham gia vào một vụ án lớn khi vừa tròn tuổi 35, khiến cho ông phải bỏ trốn để bảo toàn tính mạng Năm 1788 ra làm
Trang 25quan cho nhà Tây Sơn, Ngô Thì Nhậm đã nỗ lực làm việc, tận trung với nhà Tây Sơn, và trong quãng thời gian này sự nghiệp của ông đã đạt được nhiều thành công rực rỡ Khi vua Quang Trung mất, tài năng không được trọng dụng thì Ngô Thì Nhậm - một nhân tài lớn lại trở về ở ẩn, vui thú điền viên, làm bạn với cỏ cây hoa
lá, thi họa và nghiên cứu Nho - Phật - Đạo
Thứ ba, Ngô Thì Nhậm con người lớn về văn hóa, đã biên soạn và sáng tác nhiều tác phẩm chính luận, văn học, nghệ thuật, để lại nhiều trước tác có giá trị
Dù sinh ra trong một gia đình không lấy gì là khá giả Tuy nhiên lại có truyền thống mạnh mẽ về văn chương, các thế hệ trong gia tộc đều sống lạc quan yêu đời
và tự hào về gia tộc mình Truyền thống tốt đẹp của gia đình đã tạo cơ sở để Ngô Thì Nhậm hòa mình vào cuộc sống của nhân dân, thông cảm với nỗi khổ của nhân dân và viết nhiều tác phẩm gắn bó với nhân dân hơn Trong sự nghiệp văn hóa của mình, Ngô Thì Nhậm đã chứng tỏ ông là một người văn hay chữ tốt, với nhiều tác phẩm có giá trị để đời
Thơ văn của Ngô Thì Nhậm chứa đầy những hào khí, đặc biệt là những bài thơ, bài viết ra đời khi vua Quang Trung còn sống, đó là những bài có giá trị trong kho tàng văn học chống xâm lược của Đại Việt Đồng thời thơ văn của ông dường như
là sự tái hiện của một “bức tranh tuyệt đẹp, vẽ lại cuộc đời của một con người đã đem hết trí tuệ và tài năng chiến đấu cho lợi ích của nhân dân, cho đạo lý của cuộc sống, cho độc lập và vinh dự của Tổ quốc” [63, 431] Phan Huy Ích (1751-1833) từng đánh giá về Ngô Thì Nhậm: “văn ông có ý tứ diễm lệ, vừa hàm xúc, vừa phóng khoáng, càng ra nhiều lại càng hay, bao quát được bách gia, khu khuyển được cửu lưu, tài uyên bác thông đạt trở thành ngọn cờ chót vót giữa rừng Nho chúng ta” [37, 91]
Trang 26Bảng 2: BIỂU THỐNG KÊ VỀ NHỮNG TÁC PHẨM CỦA NGÔ THÌ NHẬM THEO
TRẬT TỰ NIÊN ĐẠI
Thời gian sáng tác hoặc biên niên
Số
dị bản
Bị chú
1 Nhị thập thất sử toát yếu 1761 Mất Thấy nói đến trong Ngô
gia thế phả
4 Tự học toản yếu ? nt Còn bản tựa trong Kim
mã hành dư; có lẽ là sách
Tam thiên tự giải nghĩa
5 Công cụ thành thư 1778 nt Thấy nói đến trong Ngô
gia thế phả
6 Thánh triều hội giám 1781 nt Đề cương thấy nói đến
trong Kim mã hành dư
7 Bút hải tùng đàm 1769 -1782 3 Có mặt trong tùng thư
Ngô gia văn phái
19 Liên hạ thi minh 1800 Mất Chỉ có bài “thuyết” chép
trong Ngô gia văn phái
20 Trúc lâm tông chỉ nguyên
Trang 27Chương 2 VẤN ĐỀ BANG GIAO ĐẠI VIỆT - TRUNG HOA QUA TÁC PHẨM “BANG
GIAO HẢO THOẠI” CỦA NGÔ THÌ NHẬM 2.1 Vài nét về tác phẩm “Bang giao hảo thoại”
Bang giao hảo thoại được hiểu là những lời nói tốt đẹp về quan hệ ngoại giao, được viết từ năm 1789 đến năm 1799 do Ngô Thì Nhậm thay mặt triều đình Tây Sơn chấp bút gửi cho nhà Thanh Trung Hoa nhằm dàn xếp những công việc sau chiến tranh
Bảng 3: NHỮNG VĂN KIỆN BANG GIAO ĐƯỢC TẬP HỢP TRONG TRONG TÁC PHẨM
BANG GIAO HẢO THOẠI CỦA NGÔ THÌ NHẬM
1 Bày tỏ nguyên do bản quốc xin hoãn binh (Ngô Hồng Chấn gửi Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị)
2 Biện về việc xảy ra binh đao (Quang Trung gửi Tống Lý viên tả giang binh đạo phân tuần Quảng Tây Thang Hùng Nghiệp)
3 Biện về việc xảy ra binh đao và xin phong (Quang Trung gửi Tổng đốc lưỡng Quảng Phúc Khang An)
4 Trình bày việc nộp trả những quân nhân (Quang Trung gửi Phúc Khang An)
5 Tạ và đưa biếu thứ bạc thổ sản (Quang Trung đứng tên, chưa rõ gửi cho ai)
6 Cầu phong điển lễ (Quang Trung đứng tên, chưa rõ gửi cho ai)
7 Cầu phong điển lễ (Quang Trung gửi cho Phúc Khang An)
8 Xin được phong sớm và tạ ơn việc tha cho bọn thủ hạ về (Quang Trung đứng tên, chưa
rõ gửi cho ai)
9 Xin định số phu dịch cung đốn ở công quán (quan lưu thủ thành Thăng Long gửi quan
Tả giang đạo họ Lâm)
10 Kê cứu lại điển lễ sách phong (quan lưu thủ Thăng Long đứng tên, chưa rõ gửi cho ai)
11 Phúc trình về tình trạng dọc đường đi, và xin báo cho biết việc sứ thần sai đi tạ ân, đã
cho đi (hay còn ở Lạng Sơn thế nào?) (quan lưu thủ Thăng Long đứng tên, chưa rõ gửi cho ai)
12 Phúc trình các tập nói về số dặm đường và quán xá (quan lưu thủ Thăng Long đứng tên, chưa rõ gửi cho ai)
13 Ấn định ngày mở cửa ải (Quang Trung đứng tên, chưa rõ gửi cho ai)
14 Trình về kỳ hạn Quốc trưởng đến thành Thăng Long và những tập nói về các việc cung
đốn (quan lưu thủ Thăng Long đứng tên, chưa rõ gửi cho ai)
15 Trình bày lý do bị bệnh, xin hoãn lễ tuyên phong (Quang Trung đứng tên gửi hai sứ thần nhà Thanh)
16 Xin đổi ngày hẹn tuyên phong (Quang Trung đứng tên gửi hai sứ thần nhà Thanh)
17 Định hẹn ngày tuyên phong và dâng bài chúc thọ kính gửi Trung đường công đính
chính (Quang Trung đứng tên gửi hai sứ thần nhà Thanh)
18 Trình xin sứ thần phụng sắc đến thành Phú Xuân tuyên phong (Quang Trung đứng tên
Trang 28gửi hai sứ thần nhà Thanh)
19 Thăm hỏi và xin dừng xe ngựa (Quang Trung gửi Tổng quản của nhà Thanh)
20 Giãi bày về việc nộp thay người vàng (Tông thuộc trong nước gửi Phúc Khang An)
21 Bàn về việc vâng sứ đến phong, đệ thư trình tạ (Quang Trung đứng tên)
22 Báo tin có thuyền đậu ở ngoài biển (Quang Trung đứng tên)
23 Xin cho sắc sứ đến thành Phú Xuân tuyên phong (Quang Trung đứng tên)
24 Trình bày duyên do xin chuyển đệ lên, cho phép sắc sứ đại nhân đến Phú Xuân (Quang Trung đứng tên, gửi cho viên quan nhà Thanh họ Vương)
25 Lễ tuyên phong đã xong, dâng biểu tạ, xin cho lời dạy Quang Trung đứng tên, gửi cho viên quan nhà Thanh họ Vương)
26 Lễ phong đã xong, đệ thư xin tạ (Quang Trung gửi viên quan nhà Thanh họ Thang)
27 Trình báo duyên do quốc thư chưa dùng ấn vàng và hẹn ngày đi lại xin chuyển bẩm
thay (Quang Trung đứng tên)
28 Trình về việc kính được ban phong dâng thư tạ ơn (Quang Trung gửi Phúc Khang An)
29 Được tặng ngọc như ý, dâng lời chúc thọ tạ ơn (Quang Trung gửi Càn Long)
30 Trình thư tạ dụ và xin thay dịch trạm dâng biểu tạ ơn (Quang Trung gửi Càn Long)
31 Trình xin cho con vào chầu (Quang Trung gửi viên quan nhà Thanh họ Thang)
32 Gửi chuyển quốc thư cho bồi gới Nguyễn Hoằng Du (Quang Trung đứng tên)
33 Dâng biểu tạ ơn và đáp tạ tờ bẩm của Công trung đường xin chuẩn định số nhân viên
vào chầu và đưa quốc thư (Quang Trung đứng tên)
34 Vâng ban sách thời hiến và chuẩn cho mở cửa ải thông thương bôn bán, xin dâng biểu
tạ ơn và sai con vào chầu, cho viên mục đi theo được phép đề đạt (Quang Trung gửi Càn Long)
35 Trình tạ ơn ban cho nhân sâm (Quang Trung gửi Càn Long)
36 Trình tạ ân mệnh và tư hỏi sự thể vào chầu, cùng với lý do thay đổi kinh đô Nghệ An
(Quang Trung đứng tên)
37 Tạ việc chế thay nghi vật chúc thọ, xin làm biểu văn tạ ơn và xin vào triều cống
(Quang Trung đứng tên)
38 Tâu về việc dâng biểu xin trả lại đất châu Hưng Hóa (Quang Trung gửi Càn Long)
39 Bình tỏ duyên do lĩnh ân ban, kính thay bài tấu tạ ơn (Quang Trung gửi Càn Long)
40 Trình tạ được ban nhân sâm và tâu xin cho con vào chầu (Quang Trung gửi quan tuần phủ nhà Thanh)
41 Trình bày mừng gặp ơn vua (Quang Trung đứng tên)
42 Tạ ơn về việc thăm hỏi (Quang Trung đứng tên)
43 Trình bày về việc tìm bắt Duy Chi xin trình thay đệ lên Đốc hiến Vân Qúi (quan thủ thành Thăng Long đứng tên)
44 Trình thay xin kết hôn (Thị thần trong nước đứng tên)
45 Trình bày bàn về việc kết hôn (Thị thần trong nước đứng tên)
46 Nói về việc biên hấn với Tiêm La (Quang Trung đứng tên)
47 Thư trình Tất đại nhân Tổng đốc Tứ Xuyên (Quang Trung đứng tên)
Trang 2948 Trình Vương công lão gia Nội các đại nhân, Thiên triều (Quang Trung đứng tên)
49 Thư trình Đổng đại nhân Kinh diên đại thần, Thiên triều (Quang Trung đứng tên)
50 Thư trình Gia dũng công Phúc đại nhân Tổng đốc lưỡng Quảng (Quang Trung đứng tên)
51 Thư trình Anh dũng công các lão tham chính, Thiên triều (Quang Trung đứng tên)
52 Thư trình Kim đại nhân Hàn lâm học sĩ, Thiên triều (Quang Trung đứng tên)
53 Thư trình Hòa đại nhân Nội các đại học sĩ, Thiên triều (Quang Trung đứng tên)
54 Trình Phúc đại nhân, thư của Tự vương (Quang Toản gửi Phúc Khang An)
55 Thư trình Quách đại nhân Đề đốc Quảng Đông, Trần đại nhân Đề đốc Quảng Tây
(Quang Toản gửi Phúc Khang An)
56 Thư trình Giác la Cát đại nhân Thống đốc Thiên triều (Quang Toản gửi Phúc Khang An)
57 Quan lưu thủ thành Thăng Long gửi trình (gửi viên quan họ Vương nhà Thanh)
58 Lại một đạo (chưa rõ ai đứng tên và gửi cho ai)
59 Thư trình của Tự vương (Quang Toản đứng tên)
60 Trình Tổng đốc Cát đại nhân, Đề đốc Thai đại nhân, Thiên triều (Quang Toản đứng tên)
61 Thư trình Văn đại nhân Hộ lý Quảng Tây, Thiên triều (Quang Toản đứng tên)
62 Thư trình khâm sứ Đài Hùng đại nhân Cao Liêm Đạo, Thiên triều (Quang Toản đứng tên)
63 Thư trình Trương đại nhân Phủ chính đường Khâm sứ Liêm Châu, Thiên triều (Quang Toản đứng tên)
64 Thư trình Đại lão gia, Thiên triều
65 Biểu trần Tình (Quang Trung gửi Càn Long)
66 Biểu tạ ơn được ban sắc ấn cáo mệnh (Quang Trung gửi Càn Long)
67 Biểu tạ ơn mới được phong (Quang Trung gửi Càn Long)
68 Biểu tạ ơn được ban dụ chỉ thưởng các hạng và xin tỉnh giảm ân điển (Quang Trung gửi Càn Long)
69 Biểu tạ ơn ban lời dụ quý báu và khen thưởng vật phẩm cho Trấn mục Lê Văn Nhận
(Quang Trung gửi Càn Long)
70 Bài biểu xin trả lại bảy châu thuộc trấn Hưng Hóa (Quang Trung gửi Càn Long)
71 Dâng biểu xin ngựa (Quang Trung gửi Càn Long)
72 Biểu cầu hôn (Quang Trung gửi Càn Long)
73 Biểu trình bày về những lời ngự phê (Quang Trung gửi Càn Long)
74 Bài biểu tạ ơn về việc được ban lịch thư và xin thông thương mở chợ (Quang Trung gửi Càn Long)
75 Biểu tạ ơn được ban sắc thư và chuỗi ngọc trai (Quang Trung gửi Càn Long)
76 Biểu tạ ơn về việc tha cho những người bị giam cầm là bọn Nguyễn Viễn Du tám
(Quang Trung gửi Càn Long)người được về nước
77 Biểu sửa lễ cống (Quang Trung gửi Càn Long)
Trang 3078 Biểu tạ ơn về việc được ban sắc thư và thơ ngự chế (Quang Trung gửi Càn Long)
79 Biểu tạ ơn về việc được ngự ban cho san hô Triều Châu và Hà Bao (Quang Trung gửi
Càn Long)
80 Biểu tạ ơn được ban nhân sâm và xin triển hạn ngày vào chầu (Quang Trung gửi Càn Long)
81 Biểu mừng thọ (Quang Trung gửi Càn Long)
82 Dâng kim tiên chúc mừng tiết đại vạn thọ (Quang Trung gửi Càn Long)
83 Biểu xin phong (Quang Trung gửi Càn Long)
84 Biểu tạ ơn về số vật phẩm thưởng cho Tiền vương và chỉ dụ xử lý Tây Tạng (Quang Trung gửi Càn Long)
85 Biểu tạ về việc khâm định lễ cống (Quang Trung gửi Càn Long)
86 Biểu tạ Bồi thần Phụng dâng (Quang Trung gửi Càn Long)
87 Bồi thần dâng bài tụng (Quang Trung gửi Càn Long)
88 Biểu sửa lễ cống (Quang Trung gửi Càn Long)
89 Biểu dâng lễ cống (Quang Trung gửi Càn Long)
90 Biểu tiến hương (Quang Trung gửi Càn Long)
91 Dâng kim tiên và lễ tiến hương (Quang Trung gửi Càn Long)
92 Biểu tạ ơn về việc ban sắc dụ (Quang Trung gửi Càn Long)
Nguồn: Viện Hán Nôm: Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 3, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr
401-838
Tác phẩm có những điểm chính như sau:
Thứ nhất, Bang giao hảo thoại là tác phẩm được tập hợp từ những văn kiện bang giao gồm các bài bẩm, trình, biểu mà Tây Sơn gửi cho nhà Thanh
Tác phẩm được tập hợp từ 92 bài viết, được sắp xếp theo thể loại thành 2 quyển
cho tùng thư Ngô gia văn phái là quyển 48 và quyển 49, trong đó:
Quyển 48 tập hợp theo thể loại bẩm, trình, gồm 64 bài, viết từ sau chiến thắng Mậu Thân 1789 gửi cho các quan chức Lưỡng Quảng như Phúc Khang An, Thang Hùng Nghiệp…dàn xếp những công việc sau chiến tranh Những bài bẩm, trình này đều được viết vào những năm 1789 đến năm 1799 [49, 395]; quyển 49 lại được tập hợp theo thể loại biểu, gồm 17 bài, cũng được viết từ sau chiến thắng Mậu Thân
1789 đến năm 1799 [49, 395]
Những bài viết thuộc thể loại bẩm, trình, biểu được tập hợp trong tác phẩm
Bang giao hảo thoại đều do Ngô Thì Nhậm viết, thay mặt triều đình Tây Sơn gửi
cho Trung Hoa Cùng với thực lực vững mạnh của Tây Sơn lúc bấy giờ và tài ngoại giao với ngòi bút sắc nét của Ngô Thì Nhậm đã đem lại những thành công rực rỡ
Trang 31cho ngoại giao Đại Việt được đánh là chưa từng có trong lịch sử bang giao Đại Việt cho đến thời Quang Trung
Thứ hai, tác phẩm Bang giao hảo thoại đã phản ánh được hiện thực bang giao của nhà Tây Sơn lúc bấy giờ
Những bài viết trong Bang giao hảo thoại được viết trong tập 48 và tập 49, tập
hợp trong tùng thư của Ngô gia văn phái sắp xếp theo trình tự thời gian từ 1789 đến
1799, từ khi Quang Trung lãnh đạo đánh đuổi được quân xâm lược Trung hoa đến đời vua Quang Toản “Tác phẩm đã phản ánh được hiện thực về ngoại giao khá độc đáo của triều Tây Sơn, mà công đóng góp lớn nhất là của Ngô Thì Nhậm” [49,
399] Thông qua các bài viết trong tác phẩm Bang giao hảo thoại có thể thấy Đại
Việt đã đạt được những thành công nhất định đối với Trung Hoa về mặt ngoại giao như ngăn chặn được chiến tranh (sự trả thù của Trung Hoa sau thất bại 1789), cầu phong, xóa bỏ được lệ cống người bằng vàng vô lý tồn tại từ đời nhà Trần trong lịch sử Việt Nam, xin trả lại đất Hưng Hóa, xin cầu hôn
Những bài viết trong tác phẩm Bang giao hảo thoại còn phản ánh chính sách
ngoại giao khá tài tình và mềm dẻo của nhà Tây Sơn trong thời kỳ đầu xây dựng chính quyền Đường lối ngoại giao này có thể đã tránh được sự trả thù hèn hạ của nhà Thanh, nạn binh đao được dẹp bỏ, mở ra thời kỳ mới, thời kỳ hòa hiếu dân tộc [49, 399-400] Ngay sau khi quân Trung Hoa bị “thua đau” trong cuộc chiến tranh xâm lược năm 1789, vua Càn Long đã cho điều động quân chín tỉnh để chuẩn bị một cuộc chiến tranh xâm lược mới và trả thù quân Tây Sơn Nhưng với chính sách đối ngoại tài tình, lời lẽ trong các văn kiện bang giao sắc bén, hợp tình, hợp lý dưói ngòi bút của Ngô Thì Nhậm đã chấm dứt được nạn binh đao cho hai nước
Thứ ba, Bang giao hảo thoại là một tác phẩm quý, có ý nghĩa lịch sử cần được bảo lưu
Hiện nay tác phẩm gốc chỉ còn lưu giữ được 3 dị bản tại thư viện Hán Nôm: Bang giao hảo thoại vHv 1831; Ngô gia văn phái A 117/7; Ngô gia văn phái A 117/36 [49, 400] Trong ba di bản nêu trên, thì di bản có ký hiệu A 117/7 được dùng làm bản chính, bản nền để so sánh đối chiếu, đính chính thông tin, sự kiện với hai bản còn lại, vì được “trường Viễn Đông Bác Cổ sao chép trước Cách mạng Tháng Tám Chữ viết chân phương, ít sai sót” [49, 400]
Trang 32Sau khi vương triều Tây Sơn bị nhà Nguyễn (Nguyễn Ánh) lật đổ năm 1803 thì mọi thông tin, tư liệu về triều Tây Sơn đã bị thiêu hủy “điển hình là những tập gia phả của họ Võ ở Phú Phong, họ Bùi ở Xuân Hòa, họ Đặng ở Dõng Hòa, họ Trần ở Trường Định…cho đến những bộ sử, những tập thơ văn…sản xuất đời Tây Sơn
cũng cấm không được lưu hành, tàng trữ, như bộ Trần Triều Thông sử cương mục
của Lê Văn Nhân ở An Nhơn, phụng chiếu soạn năm Quang Trung thứ tư (1791),
bộ Lê Triều Thực Lục do Võ Xuân Hoài tổng tu dưới triều Cảnh Thịnh…những tập
thơ Hán có, Nôm có của nhóm Tứ Tài Tử ở Tuy Viễn và Song Hoài Thi Xã ở Bồng Sơn, tập thơ ca văn tế bằng chữ Nôm của La Xuân Kiều ở Phù Cát v.v…” [58, 201] Các trung thần theo Tây Sơn đều bị nhà Nguyễn trả thù một cách dã man, hèn
hạ Nêu lên điều này để thấy được rằng những tư liệu quý về chính sách đối ngoại
của Tây Sơn đã được tập hợp trong tác phẩm Bang giao hảo thoại, cần được tiếp
tục lưu giữ cẩn thận Tìm hiểu và học tập từ những kinh nghiệm, tư liệu ấy nhằm phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Việt Nam hiện nay
2.2 Tư tưởng ngoại giao Ngô Thì Nhậm thông qua tác phẩm “Bang giao hảo thoại” về bang giao Đại Việt - Trung Hoa
2.2.1 Bối cảnh lịch sử của quan hệ bang giao Đại Việt thời Tây Sơn
Thứ nhất, tình hình trong nước thế kỷ XVIII, tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh rơi vào thời kỳ thoái trào Nông dân liên tục đứng lên khởi nghĩa, trong đó có phong trào nông dân Tây Sơn nổi lên làm thêm cả nhiệm vụ dân tộc, bảo vệ độc lập và chủ quyền của đất nước, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử Việt Nam Đem lại cho nhân dân một cuộc sống có nhiều đổi thay so với xã hôi cũ dưới thời Lê - Trịnh nắm quyền
Triều đình nhà Hậu Lê tồn tại khoảng thời gian từ 1428 đến 1788, tuy nhiên sau khi bị Mạc Đăng Dung cướp ngôi năm 1527 Được sự giúp sức của viên tướng thời
Lê sơ là Nguyễn Kim, nhà Lê đã khôi phục được địa vị của mình, viết tiếp trang lịch sử cho triều đại phong kiến tồn tại lâu đời nhất ở Việt Nam (360 năm) sử sách gọi đây là thời kỳ Lê Trung Hưng (1533-1788)
Trang 33Bảng 4: NHÀ HẬU LÊ (LÊ TRUNG HƯNG 1533-1788)
VUA
TRUNG QUỐC VUA TRUNG QUỐC
1 Lê Trang Tông
(Lê Duy Ninh)
Nguyên Hòa Quý Tỵ 1533-1548 Gia Tĩnh
12
Minh Thế Tông (Chu Hậu Thông)
2 Lê Trung Tông
(Lê Huyên)
Thuận Bình Kỷ Dậu 1549-1556 Gia Tĩnh
28
Nt
3 Lê Anh Tông
(Lê Duy Bang)
Thiên Hựu Đinh Tị 1557-1573 Gia Tĩnh
7 Lê Chân Tông
(Lê Duy Hựu)
Phúc Thái Quý Mùi 1643-1649 Sùng Trinh
10 Lê Gia Tông
(Lê Duy Hợi)
Dương Đức Nhâm Tý 1672-1675 Khang Hy
14 Lê Thuần Tông
(Lê Duy Tường)
Long Đức Nhâm Tý 1732-1735 Ung Chính
16 Lê Hiển Tông
(Lê Duy Diêu)
Cảnh Hưng Canh Thân 1740-1786 Càn Long 5 Thanh Cao
Tông (Hoằng Lịch)
Trang 34lẫn chúa Bề ngoài là vua nắm quyền, nhưng thực chất mọi công việc từ triều chính đến chỉ huy quân đội, mọi chính sách từ ngoại giao, kinh tế, xã hội, giáo dục, văn hóa thực quyền và mọi quyết định đều thuộc về quyền của các chúa Trịnh, và ngôi chúa cũng được truyền nối nhiều đời (243 năm)
Thái Vương Trịnh Kiểm Ất Tị
1545-1569 Lê Trang Tông Nguyên
Hòa
2 Bình An Vương Trịnh Tùng Canh Ngọ 1570-1623 Lê Anh Tông Chính Trị
3 Thanh Đô Vương Trịnh Tráng Quý Hợi 1623-1657 Lê Thần Tông Vĩnh Tộ
4 Tây Đô Vương Trịnh Tạc Đinh Dậu 1657-1682 Lê Thần Tông Thịnh Đức
5 Định Vương Trịnh Căn Nhâm Tuất 1682-1709 Lê Hy Tông Chính Hòa
6 An Đô Vương Trịnh Cương Kỷ Sửu 1709-1729 Lê Dụ Tông Vĩnh Thịnh
7 Uy Nam Vương Trịnh Giang Kỷ Dậu 1729-1740 Lê Duy
Phường Khánh Vĩnh
8 Minh Đô Vương Trịnh Doanh Canh Thân 1740-1767 Lê Ý Tông Vĩnh Hựu
9 Tinh Đô Vương Trịnh Sâm Định Hợi 1767-1782 Lê Hiển Tông Cảnh Hưng
10 Điện Đô Vương Trịnh Cán Nhâm Dần 1782
(2 tháng)
11 Đoan Nam Vương Trịnh Khải Nhâm Dần 1782-1786 Nt Nt
12 Án Đô Vương Trịnh Bồng Đinh Mùi 1787-1788 Lê Mẫn Đế Chiêu
Trang 35Các cuộc khởi nghĩa của phong trào nông dân thời kỳ này đều bị triều đình Lê - Trịnh đàn áp, chỉ có phong trào nông dân Tây Sơn nổi lên với danh nghĩa phò Lê diệt Trịnh dưới sự lãnh đạo của anh em nhà Tây Sơn (Nguyễn Nhạc (? - 1793), Nguyễn Huệ (1753-1792), Nguyễn Lữ (1754-1787)) đã đánh đổ được phủ chúa Tuy nhiên các ông vua nhà Lê lúc này đã quen với tư tưởng hưởng thụ, bàng quang nên không mặn mà với việc có lại được quyền bính, do vậy cũng không muốn hợp tác với Tây Sơn
Khi tiến quân ra Bắc lần thứ hai, Nguyễn Huệ đã thực thi chính sách cầu hiền,
nổi bật nhất là ba lần Quang trung mời La sơn phu tử Nguyễn Thiếp ra giúp sức Cuối tháng giêng năm 1787, lần thứ nhất, Nguyễn Huệ phái hai viên quan mang thư và lễ vật đến trại đón Nguyễn Thiếp, thư Nguyễn Huệ có đoạn viết:
“Đã lâu nay nghe tiếng Phu Tử đức cao tuổi lớn, kinh luân sẵn có Chính tôi muốn gặp mặt để thỏa lòng tìm kiếm khó nhọc…Mong Phu Tử nghĩ tới lòng tôi, chân thành bỏ cày, quẳng câu cáng đáng lấy sự nghiệp Y Khương” [6, 58]
Tháng 9 năm đó, Nguyễn Huệ lại cho mời lần thứ hai, và gửi một bức thư mời Nguyễn Thiếp ra giúp sức, trong thư có đoạn như sau:
“Mong Phu Tử nghĩ đến thiên hạ với dân sinh, vụt đứng dậy ra đi để quả đức cho thầy, cho đời này có người trông cậy Như thế mới không phụ ý trời sinh ra kẻ tài giỏi” [6, 59]
Lần thứ ba, Nguyễn Huệ lại cho mời trí sĩ này với lời lẽ tha thiết hơn, đồng thời ông cử một vị quan to thân hành mang tặng phẩm đến tặng, trong thư gửi cho Nguyễn Thiếp có đoạn viết:
“Trong mười lăm năm nay, chưa hề phút nào quả đức quên người tài giỏi Không ngờ, nay trông lên thành Lục Niên có người tài đang ở đó Ấy là trời dành Phu Tử cho quả đức vậy Tuy Phu Tử không tới, nhưng nhân dân trông ngóng Phu
Tử nỡ làm ngơ được sao” [6, 59]
Ba lần mời không được, nhưng đến “tháng 4 năm 1788, Nguyễn Huệ ra Thăng Long, qua Nghệ An, gặp Nguyễn Thiếp ở Phù Thạch (Hưng Nguyên) Kết quả cuộc hội kiến này, Nguyễn Thiếp nhận đảm nhiệm công việc chọn đất đóng đô ở Phượng Hoàng Trung Đô trên đất Vĩnh Doanh (nay là Vinh), mở đầu sự hợp tác, tạo một
Trang 36chuyển biến quan trọng từ xử sang xuất Nguyễn Huệ đem đến cho Phu Tử những
tháng năm hữu ích, nâng cao vị trí của ông trong lịch sử” [6, 59-60]
Sự trọng dụng tin tưởng của ông với Ngô Thì Nhậm thể hiện ngay từ ngày đầu gặp mặt, Ngô Thì Nhậm đã dành được sự ưu ái của Quang Trung, được phong tới chức Tả thị lang, được xem là bề tôi tài giỏi lại được xem là khách của Nguyễn Huệ khi ông nói “có lẽ ý trời muốn để người tài cho ta dùng vậy” [48, 289] Cuộc gặp
gỡ giữa vị anh hùng dân tộc Quang Trung Nguyễn Huệ và Ngô Thì Nhậm một nho
sĩ tài giỏi, một tri thức lỗi lạc của thời đại đã được bắt đầu từ đây Có thể thấy được lúc này Quang Trung là người duy nhất thấy hết được tài năng và phẩm chất của con người mới đến gõ cửa và phục vụ cho ông và triều đại Tây Sơn; Ngô Thì Nhậm cũng là người hiểu rõ chúa của mình hơn ai hết Từ lúc này cuộc đời Ngô Thì Nhậm đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ, ông có cơ hội để thi thố tài năng, phát huy trí tuệ của mình trong sự nghiệp chống lại quân xâm lược phương Bắc cả trong chiến tranh và hậu chiến tranh, đem về cho nhân dân Đại Việt và vương triều Tây Sơn nhiều lợi ích, cuộc sống thanh bình cho nhân dân Cũng từ đây Ngô Thì Nhậm luôn làm tròn xuất sắc mọi trách nhiệm mà vua Quang Trung giao phó “tinh thần tương đắc và nhất trí giữa hai người thể hiện sâu sắc trong những bài văn mà Ngô Thì Nhậm viết thay Quang Trung Đó là sự kết hợp giữa ý chí và cương nghị, nhận định sáng suốt của Quang Trung, với những lời lẽ gấm hoa, lập luận tinh xác của Ngô Thì Nhậm cùng hướng về một mục tiêu: vì nhân dân, vì tổ quốc” [63, 423]
Thứ hai, sự sụp đổ của vương triều nhà Lê và những cố gắng cuối cùng của vua
Lê Chiêu Thống muốn dựa vào ngoại quốc khôi phục lại triều đình, đàn áp phong trào Tây Sơn
Do vua Lê bất tài nên quyền bính đều bị chúa Trịnh thâu tóm, khiến cho vua
“chỉ có hư vị, bị chúa Trịnh hà hiếp mà không dám phản ứng, chỉ ôm bụng xót
thầm” [58, 101] Nguyễn Huệ lấy danh nghĩa phò Lê diệt Trịnh tiến quân ra Thăng
Long, quân Trịnh đại bại, nhà Lê lấy được quyền bính, nhưng chẳng bao lâu sau mọi quyền lực đều bị Nguyễn Hữu Chỉnh thâu tóm, Nguyễn Huệ sai quân ra Bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh, vua “Lê Chiêu Thống sảng sốt, không biết làm thế nào, cũng dắt cung quyến chạy theo” [58, 116], sau đó Nguyễn Huệ lại phải đích thân ra
Trang 37Bắc để diệt loạn thần của mình là Võ Văn Nhậm Lê Duy Cẩn được tôn làm Giám quốc, khi trở về Nam Nguyễn Huệ đã cho triệu tập năm viên quan thân tín, cố cựu của mình là: Đại tư mã Ngô Văn Sở, Nội hầu Phan Văn Lân, Chưởng phủ Nguyễn Văn Dụng, Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết, Thị Lang bộ hộ Trần Thuận Ngôn và thêm vào đấy là Ngô Thì Nhậm Nguyễn Huệ nói với tất cả, giọng tin cẩn mà thân thiết:
‘Sở và Lân là nanh vuốt của ta; Dụng và Ngôn là tâm phúc của ta; Tuyết là cháu ta; còn Nhậm thì vừa là bề tôi, vừa là khách của ta, lại là dòng văn học Bắc Hà thông thạo việc đời Nay ta giao cho các ngươi cả mười một trấn trong toàn hạt Những việc quan trọng trong nước, đều cho tùy tiện mà làm Mọi việc cùng nhau họp bàn ổn thỏa, chớ vì kẻ cũ người mới mà xa cách nhau Ai nấy phải đồng lòng hiệp sức, lo chung công việc để xứng đáng với sự trông nom của ta Các ngươi hãy
cố gắng nữa lên!” [16, 259-260]
Lại nói:
“Còn Lê Tự Hoàng (Lê Chiêu Thống) do ta lập lên Tánh tình ám muội, nên rước lấy bại vong Nay để cho Sùng nhượng công giám quốc, e tương lai Tự quân lại cùng Sùng Nhượng tương tranh, nên bất đắc dĩ ta phải để lại Tư đồ Ngô Văn Sở
ở lại giúp Sùng Nhượng Chờ lúc nào bốn phương yên tĩnh, thì ta lập tức triệu Tư
đồ về Thật lòng không phải lấy đất Bắc Hà này đâu” [58, 119]
Vua Lê Chiêu Thống trong lúc chạy trốn đã được đại thần, tiến sĩ Lê Duy Đản
đưa ra sáng kiến cầu viện nhà Thanh và xúi vua Lê Chiêu Thống sai sứ giả đi cầu
viện Nghe lời đại thần, vua đã sai hai người bề tôi tin cẩn là Tham chi Chính sự Lê Duy Đản và phó Đô ngự sử Trần Danh Án sang Trung Hoa [58, 121] cầu viện binh
Lo sợ quân Thanh không sang giúp, vua còn căn dặn sứ thần phải ra sức trổ tài kinh
luân ở ba tấc lưỡi để họ chịu giúp Nhưng Lê Chiêu Thống đâu có ngờ được phía
Trung Hoa đang ngày đêm trông đợi sứ thần đến, vì chỉ có như vậy thì họ với danh
chính ngôn thuận núp dưới lá cờ phò Lê để kéo vào nước ta nên có thể dễ hiểu được
khi Tôn Sĩ Nghị nhận được giấy báo, Y chỉ còn thiếu nhảy lên vì sung sướng, bởi
đó là cơ hội cho Y tâng công đối với Càn Long, Y nói với đám liêu thuộc của mình
“nước An Nam từ đời Hán, Đường là đất phụ thuộc vào nước ta; đến đời Tống, họ Đinh quật cường, mới trở thành nước tiến cống Trải mấy đời nối theo nhau cho đến ngày nay, lại không thể giữ được nước Hoặc giả trời khiến nước ấy lại làm
Trang 38quận huyện của Trung Quốc chăng? ” [48, 315], “Y lập tức ruổi ngựa đến các vùng
sát biên giới như Long Châu, Bằng Tường điều tra tình hình, gạn hỏi bọn sứ thần
nước Nam,sai họ vẽ bản đồ chiến sự trong nước, sức cho quan lại địa phương tiếp
tục tuần tra theo dõi và báo cáo về tình hình miền biên giới v.v…” [63, 369] Trong lúc đó, Lê Quýnh, Nguyễn Hoàng Tung cũng đã đưa Thái hậu qua Trung Hoa, nhờ viên Đô Ty Long Bằng Trần Hồng Thuận trình Quảng Tây Giang tả Thang Hùng Nghiệp bẩm lên Tôn Sĩ Nghị Nhận được hai lời thỉnh cầu cùng một lúc Nghị bèn làm sớ dâng về triều Vua Càn Long chuẩn y lời Tôn Sĩ Nghị và sai nghị mang hàng vạn đại binh sang Đại Việt, mượn cớ giúp vua Lê đánh Tây Sơn để đặt nền đô
hộ lên nước ta Ngày 27-9-188 “Tôn Sĩ Nghị cùng Hứa Thế Hanh chuẩn bị xuất phát Sau khi cả hai mặt trận Đông và Tây đều đã truyền hịch và phô trương thanh thế, quân Thanh bắt đầu tiến sang nước ta”(1) Cơ cấu tổ chức bộ chỉ huy của quân viễn chinh Trung Hoa tiến đánh Đại Việt như sau:
Bảng 6: CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ CHỈ HUY QUÂN VIỄN CHINH TRUNG HOA
TIẾN ĐÁNH ĐẠI VIỆT (1788-1789) Chức vụ chỉ huy tiến
đánh Đại Việt
Tên và chức danh
Chỉ huy cánh quân
mặt đông
Hứa Thế Hanh, Đề đốc Quảng Tây
Thượng Duy Thăng, Tổng binh Quảng Tây
Trương Triều Long, Tổng binh Quảng Đông
Tôn Khánh Thành, phó tướng Lý Hào Long, phó tướng
Chỉ huy cánh quân
mặt tây
Ô Đại Kinh, Đề đốc Vân Nam
Trịnh Tru, Tổng binh Thọ Xuân Tôn Khởi Giao, Tổng Binh
Trang 39Bảng 7: LỰC LƯỢNG QUÂN THANH SỬ DỤNG ĐỂ TIẾN ĐÁNH ĐẠI VIỆT Địa
Phương
Quân số đợt I (1788)
Quân số đợt II (1789)
Ngựa đợt I (1788)
Ngựa đợt II (1789)
Thổ binh
Dân phu
Lương thực (thạch gạo(2))
cõng rắn cắn gà nhà hay rước voi về rày mả tổ, khi về nước Lê Chiêu Thống suốt
ngày lo báo oán, Tôn Sĩ Nghị thì thao túng quyền lực, phong cho Lê Chiêu Thống làm An Nam quốc vương, “quân lính của Sĩ Nghị thấy chủ tướng tham tàn dâm dật, tướng lệnh lại không nghiêm minh, nên tha hồ ngang dọc Những vụ cướp bóc, hãm hiếp, tàn sát…xảy ra hàng ngày Nhân dân không mấy lúc được ăn ngon ngủ yên Nơi nơi đồ thán! Cảnh nước loạn dân khổ đến thế là cùng cực Người người
đều trông mong cuộc đời đổi thay” [58, 125] Theo Đại Nam thục lục, khi được tin quân Mãn Thanh được vua tôi nhà Lê rước về, Nguyễn Ánh ở phía Nam đã sai sứ
thần của mình là Phan Văn Trọng và Lâm Đề mang thư ra Bắc cùng với 50.000 cân
gạo để giúp quân đội Mãn Thanh phò Lê Tôn Sĩ Nghị còn viết tờ hịch có nội dung
kích động tinh thần đại dân tộc, xúi giục người Hoa đang làm ăn sinh sống ở Việt
Nam trở thành kẻ dẫn đường cho đội quân của y, khơi dậy hằn thù dân tộc đã chìm
trong dĩ vãng ở Đại Việt, phá hoại và chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam, kích động và xúi giục nước Chiêm Thành đánh sau lưng quân Tây Sơn Tổ quốc
(2) Thạch: 125 cân khoảng 74,5 kg (đời Thanh) Ngày xưa, đơn vị đo lường 10 hợp thành một thăng, 10 thăng bằng một đấu, 10 đấu thành 1 thạch Như vậy tính đơn giản thì 1 thăng khoảng 745 gr, 1 đấu khoảng 7,45 kg
Trang 40lâm nguy không những chỉ có quân xâm lược ngoại quốc mà trong nước còn có kẻ đặt cái tôi cá nhân lên trên lợi ích dân tộc
Thứ ba, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, kéo quân ra Bắc quét sạch quân xâm lược
Khi quân Thanh ào ạt kéo sang Đại Việt với dã tâm lớn, “chính Lê Duy Kỳ và những người theo ông đều không biết nhà Thanh đang mưu định gì Họ càng không biết về phía Tây Sơn khi tin tức hai miền bị ngăn cách, nên hoàn toàn thụ động với tình thế Trong khi triều đình vua Lê đinh ninh quân Thanh sẽ tiếp tục tiến lên thu phục và vùng đất ở phía nam, nhưng Tôn Sĩ Nghị lại tính một sách lược mềm mỏng hơn để thu phục Nguyễn Huệ ngõ hầu có thể rút quân êm thấm” [10, 58], dù ý định của Tôn Sĩ Nghị và vua Càn Long ra sao, tuy chưa được làm rõ, nhưng rõ ràng khi Tôn Sĩ Nghị đem quân sang Đại Việt nhất định không phải là ý tốt muốn giúp nhà
Lê khôi phục lại địa vị của mình ở An Nam Như vậy vận mệnh của dân tộc đang đứng trước thời khắc lịch sử của họa xâm lăng, “được tin quân Thanh sang chiếm đóng Thăng Long, Bắc Bình Vương lập tức hội các tướng đến bàn việc dẹp giặc Các tướng xin Vương nên chính vị hiệu để ràng buộc lòng người Nam - Bắc rồi sẽ khởi binh Theo lời, Vương sai đắp đàn ở Bân Sơn (gần núi Ngự Bình) Ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân 1788, làm lễ cáo trời đất, lên ngôi Hoàng Đế, đặt niên hiệu
là Quang Trung” [58, 126] Trong khi quân Thanh chưa có một cuộc đụng độ lớn nào với nghĩa quân Tây Sơn, mặt khác là đội quân thời bình, nên quân đội nhà Thanh do Tôn Sĩ Nghị kéo sang Đại Việt về thực chất chỉ nặng về hình thức, quân đông nhưng không tinh nhuệ, ít thực dụng; mặt khác đang trong dịp giáp Tết do dó không khí khá nhộn nhịp, Tôn Sĩ Nghị thả cho binh lính lộng hành cướp bóc, hiếp dâm cùng với những thói quen mất vệ sinh đã làm tăng ác cảm đối với nhân dân, về phần mình thì muốn tâng công với triều đìnhnhà Thanh, Tôn Sĩ Nghị tìm đủ mọi cách để sát hại nhân dân Đại Việt “Tôn Sĩ Nghị lại muốn tâng công với Thanh triều nên tìm đủ mọi cách để tàn sát người Việt, cắt tai báo thưởng Trần Nguyên Nhiếp, một đô ti trong quân Tôn Sĩ Nghị ghi lại: Ngày 25-1, đại binh chiếm kinh đô nhà Lê, Sắp xếp triều đình an dân Vì nghịch Nguyễn đã chạy đi ẩn náu ở nước Thanh Hoa rồi nên ta đóng quân ngay tại Lê Thành, ngày ngày thao luyện để tang quân uy Từ kinh đô nhà Lê về phía Nam, quân ta đóng trại liên tiếp bốn mươi dặm,