1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khảo sát hệ thống từ láy trong thơ phạm hổ viết cho thiếu nhi

91 79 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát hệ thống từ láy trong thơ Phạm Hổ viết cho thiếu nhi
Tác giả Tạ Thị Chi Na
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Giáo Dục Tiểu Học – Mầm Non
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 917,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các tác phẩm thơ của mình, nhà thơ đã sử dụng các lớp từ đặc sắc, đặc biệt là hệ thống từ láy làm cho những hình ảnh thơ thêm gợi tả, biểu cảm và có phong cách hơn từ những sự vật

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON

- -

TẠ THỊ CHI NA

Khảo sát hệ thống từ láy trong thơ Phạm

Hổ viết cho thiếu nhi

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong hệ thống từ vựng tiếng Việt, từ láy chiếm một số lượng phong phú Đặc biệt, từ láy có vai trò rất quan trọng trong thơ văn Bởi vì nó có ý nghĩa biểu cảm rõ rệt cũng như những giá trị tượng thanh và tượng hình Từ láy đã làm cho người đọc và người nghe cảm thụ một cách tinh tế sống động những âm thanh, hình ảnh, màu sắc của sự vật Do đó, khi nói về tác dụng của

từ láy, Đỗ Hữu Châu có nhận định: “Mỗi từ láy là một nốt nhạc về âm thanh chứa đựng trong mình một bức tranh cụ thể của các giác quan: thị giác, thính giác, xúc giác, khứu giác…làm theo những ấn tượng chủ quan, những cách đánh giá, những thái độ của người nói trước sự vật, hiện tượng đủ sức thông qua các giác quan hướng nội và hướng ngoại của người nghe mà tác động mạnh mẽ đến họ…”

Thơ là một hình thức nghệ thuật dùng từ, dùng chữ trong ngôn ngữ làm chất liệu Sự chọn lọc từ cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới một hình thức lôgíc nhất định Tính cô đọng trong số lượng từ, tính tượng hình và tượng thanh trong thơ biến nó thành một hình thức nghệ thuật độc đáo, tách biệt hẳn với các hình thức nghệ thuật khác Thơ là tiếng nói của tình cảm và là

sự hàm súc cô đọng nên đã để lại trong lòng người đọc bao dấu ấn xúc cảm, bao suy nghĩ về cuộc sống con người Bên cạnh đó, thơ còn trở nên một hình thức để bày tỏ tâm tư và chứa đựng tính sáng tạo của con người.

Thơ viết cho thiếu nhi nằm trong nghệ thuật sáng tác văn học nói chung

và văn học thiếu nhi nói riêng, vì thế nó cũng mang đầy đủ những đặc điểm của sáng tác nghệ thuật ngôn từ Nhưng do đối tượng phục vụ chủ yếu của nó

là trẻ Mầm non và Tiểu học - lớp bạn đọc nhỏ tuổi nên những bài thơ thường ngắn gọn, rõ ràng; từ ngữ chọn lọc, giản dị, trong sáng, dễ hiểu; có cả yếu tố truyện trong thơ, yếu tố thơ trong truyện và giàu chất hài hước

Trang 3

Phạm Hổ là nhà thơ luôn dành hết tâm sức của mình để viết nên những bài thơ đầy ngộ nghĩnh, đáng yêu cho các em thiếu nhi Chính vì thế, ông

luôn được nhiều thế hệ thiếu nhi Việt Nam yêu thích và biết đến Trong cuộc

đời sáng tác của mình, nhà thơ đã viết 25 tập thơ, 35 tập truyện, 20 kịch bản sân khấu và phim hoạt hình Ở lĩnh vực viết cho thiếu nhi, ông là cây bút viết khỏe, viết nhiều nên các tập thơ của ông rất phong phú với những đề tài gần gũi và thân quen với các em Trong các tác phẩm thơ của mình, nhà thơ đã sử dụng các lớp từ đặc sắc, đặc biệt là hệ thống từ láy làm cho những hình ảnh thơ thêm gợi tả, biểu cảm và có phong cách hơn từ những sự vật vô cùng thân quen Chính những từ láy ấy đã giúp các em có được cái nhìn mới mẻ, thân thiện và đầy tình cảm với những người bạn thân thiết xung quanh mình Qua

đó, nhà thơ đã làm cho các em nhận biết một cách dễ dàng hệ thống từ láy và cảm nhận được cái hay, cái đẹp của hình ảnh thơ

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Khảo sát hệ thống

từ láy trong thơ Phạm Hổ viết cho thiếu nhi ” để nghiên cứu

2 Lịch sử vấn đề

Phạm Hổ là nhà thơ viết cho thiếu nhi và viết cho cả người lớn Hơn nửa thế kỷ cầm bút, Phạm Hổ đã tạo được một sự nghiệp văn chương phong phú bao gồm thơ, truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết và kịch Đặc biệt, ông rất thành công với những tập thơ viết dành cho thiếu nhi mà nội dung chủ yếu xoay quanh cuộc sống hằng ngày của các em Chính vì vậy, những nội dung

và nghệ thuật trong các tác phẩm thơ của ông đã được rất nhiều học giả trong nước quan tâm nghiên cứu

Vũ Duy Thông, Bàn về Văn học thiếu nhi, NXB Kim Đồng, Hà Nội,

1983, cho rằng: Bao trùm thơ trẻ em của Phạm Hổ là tiếng nói của tình yêu thương và điểm nổi bật trong cái nền chung của yêu thương là ca ngợi tình bạn dưới nhiều khía cạnh tinh tế, cảm động của nó

Trang 4

Trần Thị Thắng, Người dẫn dắt tuổi thơ vào cổ tích, Văn nghệ số 22,

1997 Tác giả đã đánh giá cao đóng góp của Phạm Hổ vào nền thơ viết cho thiếu nhi Việt Nam: “Mảng thơ thiếu nhi của Phạm Hổ đã dẫn dắt tuổi thơ vào văn học với 20 tập thơ làm cho nhi đồng”

Nhóm tác giả Nguyễn Đình Chú - Nguyễn Đăng Mạnh - Hoàng Tiến

Tựu - Vân Thanh - Nguyễn Trí - Đào Ngọc, Văn học tập 1, NXB Giáo dục,

1998 Các tác giả đã đề cập đến phong cách sáng tác thơ cho thiếu nhi của Phạm Hổ có sắc thái của đồng dao: vui tươi, ngộ nghĩnh, dễ nhớ, giàu tưởng tượng và nhạc điệu; và các tác giả cũng đã phân tích tập thơ “Chú bò tìm bạn”

để làm rõ những nhận định trên

Lã Thị Bắc Lý, Giáo trình Văn học trẻ em, NXB Đại học Sư phạm, 2003

Tác giả đã nghiên cứu về nghệ thuật viết thơ độc đáo của Phạm Hổ như: trong thơ ông sử dụng chất liệu dân gian, hệ thống âm thanh nhịp điệu phong phú, hình thức đối thoại sinh động…tạo nên những bài thơ gây ấn tượng mạnh mẽ

có sức hấp dẫn trẻ thơ

Luận án thạc sĩ của Phạm Văn Hải, Thơ viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ,

Hà Nội, 2008 Tác giả đã khái quát nội dung chính của những bài thơ trong các tập thơ viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ xoay quanh các chủ đề: những bài thơ chọn trẻ thơ làm đối tượng miêu tả, đề tài tình bạn và bức tranh thiên nhiên trong thơ ông; đồng thời tác giả cũng đã đề cập đến nghệ thuật tiêu biểu trong tác phẩm thơ như: những yếu tố dân gian, hình tượng độc đáo, nghệ thuật nhân cách hóa, hình thức đối thoại và yếu tố bất ngờ, ngộ nghĩnh của nhà thơ

Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Thanh – 07STH1, Cái nhìn trẻ thơ

trong thơ viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ, Đại học Sư Phạm – ĐHĐN, 2011,

đã phân tích cái nhìn trẻ thơ trong thơ Phạm Hổ và trên cơ sở đó xây dựng những bài tập cảm thụ thơ Phạm Hổ nâng cao bổ trợ cho học sinh khá giỏi lớp

4, 5

Trang 5

Như vậy các tác giả, các nhà nghiên cứu đã đề cập đến các sáng tác cũng như những nội dung và nghệ thuật trong thơ Phạm Hổ nhưng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu hệ thống từ láy được sử dụng trong thơ của ông Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên là tài liệu tham khảo quý giá, bổ ích cho chúng tôi trong việc thực hiện đề tài của mình

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết và thực tiễn những vấn đề liên quan đến đề tài

- Khảo sát, thống kê hệ thống từ láy trong thơ Phạm Hổ viết cho thiếu nhi

- Xây dựng bài tập bổ trợ giúp học sinh lớp 4, 5 nhận biết về từ láy

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

- Từ láy được sử dụng trong thơ Phạm Hổ viết cho thiếu nhi

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Khảo sát các từ láy được sử dụng trong 10 tập thơ của Phạm Hổ viết cho

thiếu nhi được lựa chọn đưa vào “Tuyển tập thơ Phạm Hổ”, NXB Văn học, 1999: Chú bò tìm bạn; Em thích em yêu; Những người bạn nhỏ; Bạn trong

vườn; Chú vịt bông; Từ 0 đến 10; Mẹ, Mẹ ơi! Cô bảo; Những người bạn im lặng; Những người bạn ồn ào; Tắm mưa

Trang 6

6 Giả thuyết khoa học

Đề tài sẽ giúp cho giáo viên Tiểu học nói chung, sinh viên ngành Sư phạm giáo dục Tiểu học nói riêng có cái nhìn tổng quát, toàn diện về từ láy; đồng thời giúp các em nhận diện và hiểu được giá trị của từ láy để vận dụng chúng một cách có hiệu quả Bên cạnh đó, đề tài này sẽ là tài liệu tham khảo

bổ ích cho sinh viên, từ đó tìm ra cho bản thân hướng đi đúng về phương pháp dạy học nội dung này khi ra trường

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết : phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài

- Phương pháp khảo sát - thống kê : thống kê, phân loại các từ láy được sử dụng trong thơ Phạm Hổ

8 Cấu trúc của đề tài

Đề tài gồm 3 phần:

Phần mở đầu gồm: Lí do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, mục đích nghiên

cứu, nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu

Phần nội dung gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Khảo sát hệ thống từ láy trong thơ Phạm Hổ viết cho thiếu nhi Chương 3: Xây dựng bài tập bổ trợ giúp học sinh lớp 4, 5 nhận biết về từ láy

Phần kết luận

Trang 7

Xuất thân trong một gia đình Nho học, Phạm Hổ đi học ở trường làng Ông lại học Tiểu học ở Tam Kỳ, sau đó theo người anh trai là Phạm Văn Kí

ra học ở Huế; sau khi anh trai đi du học ở Pháp, Phạm Hổ lại trở về Bình Định học trường Quốc học ở Quy Nhơn Năm 1943, ông đã đỗ Thành Chung Hè năm đó bị tai nạn gãy chân không ra Huế kịp để học bán tú tài trường Quốc học Huế, nên ông đành làm thư kí công nhật ở Tòa Sứ Quy Nhơn Cách mạng tháng 8 thành công, ông đi theo Cách mạng và hoạt động văn nghệ Ông là một trong những nhà văn thông thạo tiếng Pháp Ông làm thông tin tuyên truyền tại thị xã Nguyễn Huệ (Quy Nhơn), và là thư ký thường trực ở Chi hội văn hóa cứu quốc Bình Định do nhà thơ Trần Mai Ninh làm Chi hội trưởng Năm 1947, ông làm biên tập viên báo Tin tức Bình Định rồi được cử đi

học lớp hội họa kháng chiến Liên khu V do họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung phụ trách Sau khóa học, ông về làm cán bộ sáng tác của Chi hội văn nghệ Liên khu V và được bầu làm ủy viên Ban chấp hành Đoàn hội họa Liên khu V Năm 1949-1950, ông được cử đi dự Hội nghị văn nghệ ở Việt Bắc cùng với nhà văn Nguyễn Văn Bổng và được bầu làm ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Chi hội văn nghệ Liên khu V

Trang 8

Năm 1951 nhân có chủ trương giảm chế của nhà nước ông xin về quê, vừa làm thông tin tuyên truyền ở xã vừa kết hợp giúp đỡ gia đình Tháng 4-

1954 ông được Chi hội văn nghệ Liên khu V gọi ra để chuẩn bị đi tập kết Năm 1955, ông tập kết ra Bắc, làm công tác đối ngoại ở Hội văn nghệ Trung ương Ông là một trong những thành viên (cùng với Nguyễn Huy Tưởng, Võ Quảng, Tô Hoài, Thy Ngọc, Nguyễn Kiên…) đã sáng lập ra Nhà xuất bản Kim Đồng (1957) và đã có nhiều đóng góp cho sự trưởng thành và phát triển không ngừng của Nhà xuất bản dành riêng cho trẻ em

Năm 1960, ông làm biên tập viên tại Nhà xuất bản Văn học

Từ 1965-1983, ông làm biên tập viên ở tuần báo Văn học (sau đổi thành báo Văn nghệ).Ông giữ chức Phó tổng biên tập thứ nhất tuần báo

Năm 1983, ông về Hội nhà văn, làm ở Tiểu ban Văn học thiếu nhi và công tác đối ngoại Và ông còn được cử làm Chủ tịch hội đồng Văn học thiếu nhi và Phó trưởng ban đối ngoại Hội nhà văn Việt Nam

Năm 1994, ông nghỉ hưu và sống tại Hà Nội Ông mất ngày 4- 5-2007

1.1.2 Sự nghiệp sáng tác

Phạm Hổ sáng tác nhiều thể loại: thơ, truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, kịch và phê bình văn học Nhà thơ Phạm Hổ không những chỉ viết thơ văn cho thiếu nhi mà còn có một số tác phẩm viết cho người lớn cũng

được mọi người đón đọc như: Những ngày xưa thân ái (1956); Ra khơi (1960); truyện ngắn Vườn xoan (1962); Đi xa (1970); tiểu thuyết Tình thương (1974); Những ô cửa, Những ngả đường (1982); Người vợ lẽ (1990); Cây

bánh tét của người cô (1993) Có thể nói Phạm Hổ là nhà văn đa tài Ngoài

thơ, văn, kịch, ông còn viết lý luận phê bình và dịch thuật Ở mỗi thể loại đều

in dấu những đặc điểm riêng của ông: tinh tế và đằm thắm tình người

Nhưng nói đến Phạm Hổ trước hết phải nói đến thơ viết cho thiếu nhi Ông là nhà thơ, một nhà thơ nhiệt tình, say mê viết cho các em Dẫu có viết văn xuôi, viết kịch , người đọc vẫn nhận ra chất thơ của ông trong tác phẩm

Trang 9

Với hơn 60 năm chuyên tâm sáng tác, ông đã cho ra đời 25 tập thơ, 9 tập truyện và 4 vở kịch trong đó chủ yếu dành cho các em Những tác phẩm chính

là: Chú bò tìm bạn (Tuyển tập thơ); Chuyện hoa, chuyện quả (6 tập truyện cổ tích mới); Nàng tiên nhỏ thành ốc (bộ 3 vở kịch)…

Thơ văn Phạm Hổ đều bắt nguồn từ văn mạch dân tộc, từ đồng dao, cổ tích và đều là sự cố gắng hết lòng của ông với các em Nhưng xem ra sở trường của ông, thành tựu nổi bật của ông là thơ Ông đã nhận được nhiều giải

thưởng văn học như: Tập thơ “Chú bò tìm bạn”, nhận giải thưởng loại A cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi (1957 – 1958) Tập thơ “Chú vịt bông”, nhận

giải thưởng loại A cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi (1967 – 1968) Tập

thơ “Những người bạn im lặng”, nhận giải thưởng chính thức về thơ viết cho thiếu nhi của Hội đồng Văn học thiếu nhi (1985) Vở kịch “Nàng tiên nhỏ

thành ốc”, giải thưởng cuộc thi sáng tác kịch bản cho thiếu nhi (1986) Năm

2001, ông được trao giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, đợt 1 Ngoài ra, Phạm Hổ còn có một số tập thơ, bài thơ và chuyện được dịch

và giới thiệu ở nước ngoài như: Nga, Trung Quốc, Pháp, Đức…

Phạm Hổ còn là một họa sĩ đã có tranh triển lãm Thế nhưng, người ta vẫn luôn coi ông là nhà thơ viết cho các em thiếu nhi Sáng tác của ông thường nhằm vun đắp cho các em lòng yêu thương từ cây cỏ, loài vật đến con người, từ quan hệ với người thân trong gia đình đến cộng đồng xã hội Vì vậy, bên cạnh nhiều giải thưởng về văn học thiếu nhi, phần thưởng lớn nhất cho nhà thơ là sự yêu mến, ca ngợi của các em đối với các sáng tác của ông

1.1.3 Thơ Phạm Hổ trong chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học

Thơ Phạm Hổ được đưa SGK Tiếng Việt ở Tiểu học gồm những bài sau: Lớp 1 tập 1 có bài: “Bàn tay như búp lan”

Lớp 2 tập 1 có bài: “Đàn gà mới nở”

Lớp 4 tập 1 có bài: “Đôi que đan”

Lớp 3, 5: Thơ Phạm Hổ không được đưa vào SGK

Trang 10

Qua quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy thơ Phạm Hổ đưa vào trong SGK Tiểu học rất ít mặc dù thơ ông viết cho các em thiếu nhi khá nhiều Vì vậy, thơ Phạm Hổ chưa thực sự đến với các em thiếu nhi mà đặc biệt là đối với các em ở những nơi khó có điều kiện để đọc và tìm hiểu thêm ngoài những bài thơ trong SGK Chính vì thế, những bài thơ của Phạm Hổ viết dành cho các em thiếu nhi cũng như những tình cảm yêu thương mà nhà thơ đã gửi gắm trong mỗi bài thơ chưa được các em tiếp nhận và đón đọc

1.2 Khái niệm văn học thiếu nhi

Văn học thiếu nhi từ lâu đã trở thành một bộ phận có vị trí đặc biệt trong mỗi nền văn học dân tộc Nó được xem là hành trang quan trọng cho trẻ

em trên suốt đường đời, bởi lẽ những gì lưu giữ trong thời niên thiếu rất khó phai mờ Chính vì vậy, văn học thiếu nhi cũng như khái niệm của nó là một

vấn đề mà hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất hoàn toàn giữa các nhà nghiên cứu và các nhà văn, nhà thơ

“Theo nghĩa hẹp, văn học thiếu nhi gồm những tác phẩm văn học hoặc phổ cập khoa học dành riêng cho thiếu nhi Tuy vậy, khái niệm văn học thiếu nhi cũng thường bao gồm một phạm vi rộng rãi những tác phẩm văn học thông thường cho người lớn đã đi vào phạm vi đọc của thiếu nhi.” [11, 285]Văn học thiếu nhi bao gồm sáng tác văn học dành cho thiếu nhi và những sáng tác của chính các em Trong khóa luận này, chúng tôi chỉ tìm hiểu những

sáng tác văn học viết cho thiếu nhi Vì thế, chúng tôi chọn khái niệm: “Văn

học thiếu nhi là những tác phẩm văn học mà nhân vật trung tâm là thiếu nhi, hoặc được nhìn bằng “đôi mắt trẻ thơ”, với tất cả những xúc cảm, tình cảm mãnh liệt, tinh tế, ngây thơ, hồn nhiên, được các em thích thú, say mê và có nội dung hướng đến việc giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, đặt nền móng cho sự hoàn thiện tính cách của các em thuộc những lứa tuổi khác nhau từ thuở ấu thơ đến suốt cuộc đời.” [2, 8]

Trang 11

1.3 Lý thuyết chung về từ láy

1.3.1 Khái niệm từ láy

Từ láy tiếng Việt là một trong những vấn đề đang thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Sở dĩ như thế là vì từ láy mang trong mình những đặc trưng có tính chất loại hình của tiếng Việt, cũng như của các ngôn ngữ đơn lập khác

“Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh tức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm gồm nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa.” [3, 40]

“Từ láy là từ phức được tạo ra bằng phương thức láy âm có tác dụng tạo nghĩa Và để tạo ra nhạc tính cho sự hòa phối âm thanh đối với một ngôn ngữ vốn giàu nhạc tính như tiếng Việt, sự láy không đơn thuần là sự lặp lại âm, thanh của âm tiết ban đầu mà bao giờ cũng kèm theo một sự biến đổi âm, thanh nhất định, dù là ít nhất, để tạo cái thế vừa giống nhau lại vừa khác nhau

Cái thế ấy được gọi là cái thế “vừa điệp vừa đối”.” [1, 51]

Theo GS Phan Ngọc: “Từ láy là những từ phức do phương thức láy tác động vào một từ tố cơ sở làm xuất hiện một từ tố thứ sinh được gọi là từ tố láy.” [4, 60]

“Và từ láy, nói chung, là từ được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định, sao cho quan hệ giữa các tiếng trong từ vừa điệp, vừa đối, hài hòa với nhau về âm và về nghĩa, có giá trị biểu trưng hóa.” [7, 30]

Qua trên, chúng ta nhận thấy hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau

về từ láy nhưng trong khóa luận này, chúng tôi chọn khái niệm từ láy theo

nhóm tác giả: Đặng Thị Lanh – Bùi Minh Toán – Lê Hữu Tỉnh: “Từ láy là

Trang 12

sản phẩm của phương thức láy, là phương thức láy lại toàn bộ hình thức ngữ

âm của hình vị gốc (hình vị gốc là hình vị mang nghĩa từ vựng)” [9, 170]

1.3.2 Những điểm cần lưu ý khi nhận diện về từ láy

Xung quanh việc xác định khái niệm từ láy, việc nhận diện từ láy, cần

Trong từng từ trên, tư cách hình vị của mỗi yếu tố (ví dụ: yếu tố “lững”

và yếu tố “thững” trong từ “lững thững”) đều không rõ ràng Mặt khác, ở mỗi

từ này, không xác định được yếu tố nào là hình vị gốc Vì vậy, đối chiếu với định nghĩa về từ láy nói trên, những từ này không được coi là từ láy Có người đã gọi những từ này là từ đơn có hình thức láy Nhưng nếu chỉ nhấn mạnh về quan hệ ngữ âm giữa hai yếu tố (sự hài hòa về âm thanh) và một số đặc trưng về nghĩa của những từ trên, bên cạnh đó có tính tới sự phù hợp đối với lứa tuổi học sinh Tiểu học, thì cũng có thể coi những từ trên là từ láy [9, 171]

Bên cạnh đó, có một số từ mà cả hai hình vị đều có nghĩa từ vựng, ví dụ:

mặt mũi, tốt tươi, đi đứng, thúng mủng, tươi cười,…Hai hình vị trong những

từ này có quan hệ với nhau về nghĩa Những từ này là từ ghép (từ hợp nghĩa) Chúng có hình thức ngữ âm ngẫu nhiên giống từ láy

Một số từ khác có một trong hai hình vị đã mất nghĩa (hình vị mất nghĩa

thường đứng sau), ví dụ: chùa chiền, tuổi tác, đất đai, chim chóc và cả những

từ như: thịt thà, gậy gộc, cây cối, máy móc, bạn bè,…Nếu nhìn nhận những từ

này dưới góc độ lịch đại và nhấn mạnh những đặc trưng ngữ nghĩa của chúng thì có thể coi đây là những từ ghép (từ ghép hợp nghĩa) Dưới góc độ đồng đại

Trang 13

và nhấn mạnh vào mối quan hệ ngữ âm giữa hai hình vị, ta có thể coi những

từ này là từ láy có nghĩa khái quát

Trong tiếng Việt, còn có một số từ mà các âm tiết trong từng từ được biểu hiện trên chữ viết không có phụ âm đầu

Một số ví dụ:

(1) ồn ã, ấm áp, ép uổng, êm ái, im ắng, êm ả, ít ỏi, oằn oại, oi ả, ốm o, yên

ả, yếu ớt, ao ước, ấm ức, o ép,…(những từ xác định được hình vị gốc)

(2) ấp úng, ẽo ợt, ỉ eo, oái oăm, óc ách, ỏn ẻn, õng ẹo, ỡm ờ, ậm ọe,

…(những từ không xác định được hình vị gốc)

Thoạt nhìn và đối chiếu với định nghĩa về từ láy, chúng ta có thể khẳng định những từ trên không phải là từ láy Nhưng nếu quan sát kĩ, các từ trên đều giống nhau về hình thức ngữ âm: cùng vắng khuyết phụ âm đầu Cạnh đó, đặc trưng ngữ nghĩa của những từ này cũng gần giống với đặc trưng ngữ

nghĩa nói chung của từ láy Vì vậy, những từ trên cũng là từ láy

Khi nhận biết từ láy, chúng ta không nên để hình thức chữ viết của từ

“đánh lừa” Ví dụ, cần hiểu rằng những từ như: cuống quýt, cập kênh, cồng

kềnh là những từ láy âm (phụ âm đầu “k” được lặp lại, được ghi bằng những

chữ cái khác nhau)

1.3.3 Phân loại từ láy

Căn cứ vào số lần láy, người ta chia từ láy tiếng Việt thành hai loại lớn:

từ láy đôi, từ láy ba (là sản phẩm của lần láy thứ nhất) và từ láy tư (sản phẩm của lần láy thứ hai)

Trang 14

Trong các từ láy toàn bộ (toàn bộ âm tiết của hình vị gốc được giữ

nguyên, ví dụ: xanh xanh, xinh xinh, xa xa,…), cần chú ý hai dạng biến thể: láy đôi toàn bộ có biến thanh (ví dụ: đo đỏ, nhè nhẹ, …) và láy đôi toàn bộ có biến đổi vần, thanh (ví dụ: tôn tốt, đèm đẹp, khang khác,…)

Cũng vẫn dựa vào tiêu chí nói trên, người ta chia từ láy bộ phận thành từ láy âm (cái được giữ lại là phụ âm đầu) và từ láy vần (cái được giữ lại là vần).Một số ví dụ:

+ Láy âm: - dễ dàng, gượng gạo, mập mạp, múa may, đần độn, run rẩy,

gọn gàng,…(hình vị gốc đứng trước)

- thập thò, lấp ló, khấp khểnh,…(hình vị gốc đứng sau)

+ Láy vần: - lờ đờ, luẩn quẩn, lờ mờ, bắng nhắng, bỡ ngỡ, luống cuống,…

(hình vị gốc đứng sau)

- co ro, thiêng liêng,… (hình vị gốc đứng trước)

1.3.4 Nghĩa của từ láy

Đặc trưng chung về nghĩa của từ láy là được hình thành từ nghĩa của

hình vị gốc theo hướng mở rộng hoặc thu hẹp, tăng cường hoặc giảm

nhẹ,…Nói cách khác, nghĩa của từ láy là sự sắc thái hóa nghĩa của từ gốc (sắc

thái hóa là thêm cho ý nghĩa của hình vị gốc một số sắc thái nào đó) Có thể

có nhiều dạng sắc thái hóa, nhưng cụ thể hóa nghĩa của hình vị gốc là dạng phổ biến hơn cả Cụ thể hóa là so với nghĩa của hình vị gốc, nghĩa của từ láy

cụ thể, rõ nét, xác định hơn, hẹp hơn, gợi tả hơn, có giá trị biểu hiện và biểu cảm cao hơn Hãy so sánh nghĩa của hình vị gốc và nghĩa của các từ láy dưới đây:

khờ → khờ khạo, run → run rẩy, đần → đần độn, rối → bối rối,…

Một dạng cụ thể hóa khác về nghĩa của từ láy là dạng giảm nhẹ hăc thu

hẹp nghĩa của hình vị gốc Ví dụ: hình vị gốc “xanh” chỉ đặc điểm về màu sắc

của nhiều loại sự vật, hiện tượng như: trời xanh, nước xanh, lá cây xanh, mực

xanh, da xanh,…Nhưng đến nghĩa của từ láy toàn bộ xanh xanh thì lại có tính

Trang 15

chất giảm nhẹ về độ đậm đặc (hơi xanh) và loang ra trên bề mặt Còn nghĩa

của từ láy phụ âm đầu xanh xao thì mang tính chất thu hẹp rất rõ Từ láy này

chỉ nói về nước da của người trong trạng thái ốm yếu

Đặc trưng ngữ nghĩa của một số từ láy có cùng một mô hình cấu tạo,

đồng thời có chung một khuôn vần Ví dụ: những từ láy cũng có mô hình cấu

tạo X“âp” – Xy (X là phụ âm đầu, “âp” là vần của hình vị láy, y là vần của

hình vị gốc) như: khấp khểnh, gập ghềnh, lấp ló, lập lòe, bập bùng, nhấp nhô,

nhấp nhỏm, thập thò, mấp mô,…thường diễn tả trạng thái ẩn – hiện, có –

không, lên – xuống, một cách đều đặn của sự vật, hiện tượng Cũng tương

tự, những từ láy có mô hình cấu tạo Xy – X“ăn” (X là phụ âm đầu, y là vần

của hình vị gốc “ăn” là vần của hình vị láy) như: nhỏ nhắn, xinh xắn, bằng

bặn, vừa vặn, vuông vắn, tươi tắn, nhã nhặn, may mắn, lành lặn, đầy đặn, đều đặn, chắc chắn, già giặn,…thường diễn tả một tính chất đạt đến mức chuẩn

mực, không chê vào đâu được (tất nhiên, những từ như: nhọc nhằn, cục cằn, khó khăn, muộn mằn,…sẽ mang một mặt đặc trưng ngữ nghĩa khác)

Tóm lại, nghĩa của từ láy khá phong phú, đa dạng, nhiều màu vẻ, có giá trị biểu hiện, biểu cảm rất cao Với đặc trưng này, từ láy xứng đáng được coi

là một loại từ đặc sắc, có vị trí quan trọng trong ngôn ngữ văn chương

1.4 Nội dung dạy học từ láy trong chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học

Trong chương trình dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học hiện nay; ở lớp

1, 2, 3; từ láy chưa được dạy cho các em trong phân môn LT&C

Bước sang chương trình môn Tiếng Việt lớp 4, nội dung về từ láy được dạy cho các em vào tuần 4 của phân môn LT&C Bài học về từ láy được chia làm hai kiểu: bài lí thuyết và bài luyện tập

Bài lí thuyết về từ láy gồm có ba phần Phần nhận xét đưa ra ngữ liệu từ láy và hệ thống câu hỏi giúp học sinh nhận xét, phân tích để tìm hiểu những

từ phức nào do những tiếng có âm đầu hoặc vần lặp lại nhau tạo thành để từ

Trang 16

đó nhận biết được từ láy và giúp học sinh rút ra được những nội dung của phần ghi nhớ Phần ghi nhớ tóm lược những kiến thức và đưa ra những ví dụ

cụ thể để các em nhận diện được từ láy một cách dễ dàng hơn Phần luyện tập

là một tổ hợp bài tập vận dụng kiến thức đã học vào trong hoạt động nói, viết Bài học về từ láy được dạy chung với từ ghép trong cùng một tiết học Trong các phần nhận xét, ghi nhớ và luyện tập đều lồng ghép hai nội dung này với nhau để học sinh có thể phân biệt được hai cách chính để tạo từ phức là:

+ Ghép những tiếng có nghĩa lại với nhau Đó là từ ghép

+ Phối hợp những tiếng có âm đầu hay vần (hoặc cả âm đầu và vần)

giống nhau Đó là từ láy

Bài luyện tập về từ láy cũng được xây dựng chung với bài tập về từ ghép Trong bài học này gồm có 3 bài tập nhưng bài tập về từ láy chỉ chiếm 1 bài Bài tập yêu cầu các em tìm từ láy trong bài văn và phân loại những từ láy tìm được thành 3 loại:

+ Từ láy có hai tiếng giống nhau ở âm đầu

+ Từ láy có hai tiếng giống nhau ở vần

+ Từ láy có hai tiếng giống nhau ở cả âm đầu và vần

Ở lớp 5, các em không được dạy lại kiến thức về từ láy mà nội dung chỉ được lồng ghép và mở rộng thông qua tiết học tổng kết vốn từ ở tuần 15 và qua các tiết ôn tập cuối học kì

TIỂU KẾT

Việc tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Phạm Hổ; những đặc trưng của văn học thiếu nhi cùng với những kiến thức lí thuyết về

từ láy nói chung; nội dung dạy học từ láy trong chương trình môn Tiếng Việt

ở Tiểu học nói riêng và nội dung thơ Phạm Hổ trong chương trình Tiểu học là rất cần thiết Bởi đây là cơ sở lí luận để giúp chúng tôi khảo sát hệ thống từ láy trong thơ Phạm Hổ viết cho thiếu nhi Căn cứ vào cơ sở lí luận đó; chúng

Trang 17

tôi khảo sát, thống kê, phân loại và rút ra những nhận xét về hệ thống từ láy được sử dụng trong thơ Phạm Hổ Từ đó, chúng tôi tiến hành xây dựng bài tập bổ trợ giúp học sinh lớp 4, 5 nhận biết về từ láy, đồng thời cho các em thấy được những giá trị mà từ láy mang lại trong thơ Phạm Hổ viết cho thiếu nhi cũng như giúp các em biết đến những bài thơ mà ông đã viết dành tặng riêng cho các em

Trang 18

CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT HỆ THỐNG TỪ LÁY TRONG THƠ PHẠM HỔ VIẾT CHO THIẾU NHI

2.1 Thống kê, phân loại các từ láy được sử dụng trong thơ Phạm Hổ viết cho thiếu nhi

2.1.1 Tiêu chí phân loại

Việc phân loại từ láy tiếng Việt, người ta thường dựa vào hai tiêu chí sau:

- Căn cứ vào số lần láy, người ta chia từ láy tiếng Việt thành hai loại lớn:

từ láy đôi, từ láy ba (là sản phẩm của lần láy thứ nhất) và từ láy tư (sản phẩm của lần láy thứ hai)

- Căn cứ vào mức độ láy, nói cách khác, căn cứ vào bộ phận được giữ lại trong âm tiết của hình vị gốc, từ láy được chia thành: từ láy toàn bộ và từ láy

bộ phận Căn cứ vào bộ phận được giữ lại, từ láy bộ phận lại được chia thành

từ láy âm và từ láy vần

Chúng tôi thống kê, phân loại từ láy trong thơ Phạm Hổ viết cho thiếu nhi dựa vào tiêu chí thứ 2 (căn cứ vào bộ phận được giữ lại trong âm tiết của hình vị gốc)

Trang 19

2.1.2 Bảng thống kê

Tập thơ Bài thơ

Từ láy

Từ láy toàn bộ Từ láy bộ phận

Từ láy SL TL(%) Từ láy âm Từ láy vần

phăng phăng, băng

Những

món đồ

chơi

quyến luyến 1 6,25

nghiêng 2 5 lấp lánh, (vi vu) 4 5 8,62 bát ngát 1 6,25

Trang 21

Sung chi chít 1 1,72

cong cong, mỗi

Trang 25

2.2 Nhận xét về từ láy được sử dụng trong thơ Phạm Hổ viết cho thiếu nhi

Theo kết quả khảo sát, trong 10 tập thơ của Phạm Hổ viết cho thiếu nhi, ông đã sử dụng 114 từ láy, cụ thể như sau:

Từ láy bộ phận chiếm số lượng cao, với 74 từ chiếm 65%, trong đó từ láy

âm có tới 58 từ chiếm gần 51% và từ láy vần có 16 từ chiếm 14% tổng số từ láy

Từ láy toàn bộ chiếm số lượng thấp hơn, với 40 từ chiếm 35% tổng số từ láy

Hầu hết từ láy toàn bộ và bộ phận đều được nhà thơ sử dụng trong tất cả

9 tập thơ Chỉ riêng tập thơ “Mẹ, Mẹ ơi! Cô bảo”, nhà thơ đã không sử dụng

từ láy toàn bộ cũng như từ láy bộ phận Từ đó, chúng tôi nhận thấy, trong thơ viết cho thiếu nhi, nhà thơ Phạm Hổ đã sử dụng những từ ngữ đơn giản, gần gũi và phù hợp với tâm lý các em nhưng bên cạnh đó nhà thơ cũng đã lồng ghép một cách tinh tế những từ láy để làm tăng giá trị biểu cảm và biểu đạt cho bài thơ

2.2.1 Nhận xét về từ láy toàn bộ

Theo kết quả khảo sát của chúng tôi, từ láy toàn bộ được sử dụng nhiều

nhất trong tập thơ “Tắm mưa” với 10 từ chiếm 25%; tiếp theo là trong các tập thơ “Em thích em yêu” với 9 từ chiếm 22,5%; “Bạn trong vườn” với 8 từ chiếm 20%; sau đó là các tập thơ “Những người bạn im lặng” với 5 từ chiếm 12,5%; “Những người bạn ồn ào” với 4 từ chiếm 10%; thấp nhất là các tập thơ “Chú vịt bông” chỉ có 2 từ, chiếm 5%; “Những người bạn nhỏ”; “Từ 0 đến

10” có 1 từ chiếm 2,5% Đặc biệt trong hai tập thơ “Chú bò tìm bạn” và “Mẹ,

Mẹ ơi! Cô bảo” chiếm 0%

Tập thơ “Tắm mưa” có tỉ lệ sử dụng cao nhất với 10 từ chiếm 25% , riêng bài thơ Mưa đã có 5 từ nên chiếm tới 50% tỉ lệ từ láy của toàn tập Sau

Trang 26

đó là bài thơ Con quay có 2 từ và các bài thơ còn lại được sử dụng với tỉ lệ

tương đối đồng đều với 1 từ trên 1 bài Chính những từ láy toàn bộ này đã làm cho người đọc, người nghe cảm thụ và hình dung được một cách cụ thể, tinh

tế và sống động âm thanh, hình ảnh của sự vật mà từ biểu thị

Ví dụ: Trong bài thơ Mưa, những âm thanh của tiếng mưa rơi được

người đọc, người nghe cảm nhận một cách cụ thể; tinh tế và có cảm giác như chính mình đưa tay ra hứng những giọt nước đang từ từ rơi xuống

“…Bé xòe

Tay nhỏ Thò ra Ngoài trời

Lạ lùng

Bé nhìn Phải vừa Xuống đất Mưa lại

Về trời Nên bao

Trang 27

Nhiêu hạt Mãi còn

Rơi rơi…”

(Mưa)

Tuy không được tận mắt nhìn và nghe thấy, nhưng chắc hẳn khi đọc bài thơ này, ai cũng có thể cảm nhận một cách chính xác âm thanh của tiếng mưa

rơi xuống đất “chanh chách” Và âm thanh này không phải là âm thanh của

một cơn mưa lớn mà chỉ là những cơn mưa nhỏ nhưng dày hạt qua những từ

“mát mát, êm êm”, bởi khi xòe tay hứng những giọt mưa nhỏ đang rơi trên tay

có cảm giác thật êm dịu và những giọt nước ấy đã đọng lại trong lòng bàn tay

để được nâng niu nhẹ nhàng, làm mát cả lòng người Thế nhưng trong con mắt trẻ thơ của các em, những hạt mưa ấy vừa rơi xuống đất lại bay về trời

nên biết bao nhiêu hạt mưa vẫn cứ rơi rơi mãi không dứt Với cảm nhận ngây

thơ của chính các em đã làm cho những hình ảnh mưa thêm sinh động, bởi mưa là một vòng tuần hoàn từ trên trời rơi xuống đất rồi lại bay về trời

Bằng cách lồng ghép hàng loạt những từ láy tượng thanh, tượng hình một cách sống động đã làm cho những hình ảnh và âm thanh của tiếng mưa luôn hiện lên và vang vọng mãi trong lòng người đọc Bên cạnh đó, nhà thơ đã thể hiện được những cảm nhận về thiên nhiên một cách ngộ nghĩnh và đáng yêu của các em thiếu nhi Và chính những từ láy này như đã giải thích một hiện tượng về thiên nhiên và giúp cho các em biết được âm thanh, cảm giác thật của những hạt mưa khi rơi xuống đất

Và trong bài thơ Con quay, nhà thơ Phạm Hổ đã sử dụng hai từ láy liên

tiếp để tạo thành một câu thơ hoàn chỉnh và qua đó chúng ta có thể tưởng tượng ra được hình ảnh của một người đang say rượu với những bước đi nghiêng nghiêng

“…Bỗng quay thấm mệt Đứng sững, ngủ im

Trang 28

Rồi quay say rượu

Đảo đảo, nghiêng nghiêng”

(Con quay)

Bằng những từ ngữ phong phú nhưng thật gần gũi và thân quen, nhà thơ

đã đưa các em vào sự liên tưởng giữa con quay đã làm việc mệt nhọc với tư thế của một người say rượu nhưng vẫn còn làm chủ được hành động của mình Khi con quay phải làm việc trong một thời gian dài đã thấm mệt nên

đứng sững, lặng im và tiếp đến là mất thăng bằng rồi bắt đầu “đảo đảo” lại thêm “nghiêng nghiêng” Qua hai từ láy tượng hình trên đã làm cho hình ảnh

so sánh của nhà thơ vừa thiết thực nhưng lại độc đáo và con quay trong cuộc sống đời thường đã dần dần đi vào thơ ca một cách tự nhiên và sâu sắc hơn Hơn nữa, những từ láy đơn giản nhưng đầy giá trị miêu tả này đã cho các em biết được trạng thái của con quay khi đang làm việc

Tiếp đến là tập thơ “Em thích em yêu” với 9 từ chiếm 22,5% và tập thơ

“Bạn trong vườn” với 8 từ chiếm 20%; hai tập thơ này chiếm số lượng và tỉ lệ

từ láy khá cao trong tổng số 10 tập thơ được khảo sát Trong đó, từ láy được

sử dụng chủ yếu trong các bài thơ Bé đi cày, Thuyền giấy, Thả diều, Nhảy dây của tập “Em thích em yêu” và bài thơ Gà nở, Roi của tập “Bạn trong vườn”

Ví dụ: Một chiếc thuyền giấy mà tưởng chừng như một con thuyền lớn

đang lướt sóng mạnh mẽ trên mặt nước, hình ảnh ấy được thể hiện trong bài

thơ Thuyền giấy:

“…Bé thích lắm, reo lên Thuyền vẫn trôi, trôi mãi

Bé vạch cỏ, vạch lau Chạy lên thuyền giục, vẫy…

Thuyền phăng phăng trên nước

Bé băng băng trên bờ

Trang 29

Bé theo thuyền, theo mãi Mặc ông trời chuyển mưa…”

phăng phăng và băng băng mà tác giả như làm toát lên được cái thần sắc, sức

mạnh của con người và sự vật trong bài thơ, đó là một cô bé nhỏ đáng yêu nhưng đầy nghị lực và một chiếc thuyền được xếp bằng giấy nhưng có thể vượt qua mọi chướng ngại vật để trôi đi đến những chân trời xa hơn Với hình ảnh thân quen từ những trò chơi hằng ngày của các em mà nhà thơ Phạm Hổ

đã dựng nên một hình ảnh thơ thật đẹp và tràn trề sức sống Và nội dung sâu sắc ẩn chứa bên trong hai từ láy đó là một bài học giáo dục về tình cảm bạn bè luôn có nhau và luôn bên nhau trong mọi hoàn cảnh

Chúng ta lại bắt gặp một hình dáng đảo đảo, nghiêng nghiêng nhưng

không phải là của một con quay làm việc mệt nhọc mà đó là một con diều đang nghiêng mình trong gió chiều của miền quê:

“Diều từ mặt đất Diều cất mình lên

Đảo đảo, nghiêng nghiêng

Rồi diều lên thẳng…”

(Thả diều)

Con diều như một chiếc máy bay đang lấy đà từ mặt đất để cất mình lên bầu trời cao rộng kia Diều không thể tự mình bay lên thẳng mà đằng sau có bóng dáng của một cô, cậu bé đang cầm dây chạy thật xa để đón lấy những

Trang 30

cơn gió mạnh Để bay lên thẳng bầu trời, diều phải nghiêng mình nhiều lần mới có được sự thăng bằng nhất định và khi đó diều sẽ mãi bay cao trong cơn gió chiều mát mẻ Lúc mới bắt đầu đón gió, ai cũng tưởng chừng như diều

đảo đảo rồi lại nghiêng nghiêng thì khó có thể cất mình lên cao được nhưng

đó là sự chuẩn bị cho một chuyến bay xa, bay cao

Cũng là hai từ láy này nhưng tác dụng của chúng lại khác nhau và trong bài thơ này tuy với hình dáng chao đảo nhưng lại làm nền cho một sức mạnh vượt trội về sau Tuy nhiên, hình ảnh này đã cho các em thấy được vẻ đẹp và

sự đáng yêu của những cánh diều tuổi thơ Đọc bài thơ, chúng ta như đang trở

về thời thơ ấu của mình và có thể hình dung được hình ảnh cánh diều đang bắt đầu đón gió để bay lên cao

Từ những sự vật mà các em yêu thích bây giờ tác giả đã tìm đến với những người bạn thân thiết trong vườn nhà, đó là những chú gà mẹ đang trong giai đoạn chăm sóc những đứa con thơ của mình từ miếng ăn đến giấc ngủ:

“…Hạt tấm dính rổ Sâu nhỏ gốc cây Vừa gắp vào mỏ

Mẹ nhả ra ngay

“Túc tục! Túc tục!

Mồi đây! Mồi đây!”

Lại dẫn con đi Quen dần sân ngõ Yêu người, yêu vườn Lợn, trâu, đừng sợ!

“Túc tục! Túc tục!

Lại đây các con!

Trang 31

Nghỉ cho đỡ mệt Bóng tre đã tròn…”

(Gà nở)

Hai âm thanh giống nhau nhưng ý nghĩa của chúng lại rất khác nhau,

tiếng kêu túc tục lần thứ nhất gà mẹ gọi con lại ăn mồi ngon mà mẹ vừa mới tìm được, còn tiếng kêu túc tục lần thứ hai gà mẹ muốn tập hợp con lại và tìm

chỗ mát cho các con cùng nghỉ ngơi Con người giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ riêng của mình và cũng có sự thống nhất với nhau còn động vật không có ngôn ngữ nhưng chúng vẫn có tín hiệu riêng cho mình Những tín hiệu âm thanh của chúng đều có một ý nghĩa nhất định, chúng ta nghe như tất cả âm thanh đó giống hệt nhau nhưng thực chất lại có một đặc trưng riêng Bằng cách sử dụng hai từ láy giống nhau nhưng nhà thơ đã cố ý tạo ra một điểm khác biệt khá lớn trong cùng một âm thanh Đồng thời, qua hình ảnh này tác giả muốn lồng ghép một ý nghĩa giáo dục tình cảm thiêng liêng của người mẹ đối với những đứa con bé nhỏ của mình Người mẹ luôn dành cho con mình những miếng ăn ngon nhất cho dù bụng mẹ đang rất đói, mẹ luôn chăm cho con những giấc ngủ bình yên cho dù mẹ phải thức suốt đêm và mẹ là bến đậu

an toàn nhất cho con mọi lúc, mọi nơi

Với 5 từ chiếm 12,5% tuy số lượng không nhiều và tỉ lệ chưa cao nhưng

những từ láy trong tập thơ “Những người bạn im lặng” lại chứa giá trị biểu đạt và biểu cảm rất lớn Đặc biệt, trong bài thơ Một ông trăng, hình ảnh của

ánh trăng trên bầu trời đã trở thành người bạn thân thiết không chỉ với thiên nhiên mà còn với cả con người

“…Trăng trên sông Trăng trên lúa Trăng giữa cửa Trăng sau cây Trăng đón thầy

Trang 32

Trăng tiễn bạn Trăng mẹ vắng Trăng còn ông Trăng trong tranh Trăng sáng thật Trăng chợt gặp Trăng mãi chờ

Trăng mờ mờ Trăng vằng vặc…”

Trăng là một hình ảnh đẹp thường được nhắc đến trong thơ ca hay hình ảnh dùng để so sánh với những hình tượng trong các tác phẩm nghệ thuật Thế nhưng trong bài thơ này, trăng như là một người bạn ở trên cao nhưng lại muốn bầu bạn với tất cả các bạn ở bất cứ nơi đâu Trăng soi bóng xuống dòng sông và chiếu sáng những ruộng lúa để cùng trò chuyện; trăng lồng vào giữa cửa, nếp sau cây để trở thành những người bạn thật sự gần gũi Hơn thế nữa, trăng như muốn trở thành người bạn đồng hành cùng con người vào những thời khắc của cuộc hội ngộ và chia ly Và dường như ánh trăng kia cũng có tình cảm, cũng biết buồn vui và có rất nhiều tâm trạng giống như con người

Chúng ta sẽ dễ dàng nhận biết được điều đó chỉ qua hai từ láy mờ mờ và vằng

vặc ở cuối đoạn thơ Những lúc thấy vui vẻ thì trăng sáng vằng vặc, còn

những lúc có tâm sự hay đang chờ đợi, mong mỏi điều gì đó thì ánh trăng lại

mờ mờ và đượm buồn Chính hình ảnh này đã cho các em thiếu nhi hiểu được trạng thái và ánh sáng của ánh trăng vào những thời điểm khác nhau Cách miêu tả ánh trăng chẳng khác nào miêu tả hình ảnh của một con người sống

có tình cảm hòa đồng và luôn muốn trở thành bạn của tất cả mọi người

Trang 33

2.2.2 Nhận xét về từ láy bộ phận

2.2.2.1 Nhận xét về từ láy âm

Qua bảng thống kê cho thấy, trong từ láy bộ phận, từ láy âm có 58 từ chiếm tỉ lệ cao nhất gần 51% trong tổng số 114 từ láy được nhà thơ sử dụng

Trong đó, tập thơ “Những người bạn im lặng” chiếm tỉ lệ cao nhất 24,13%

với 14 từ; tập thơ có tỉ lệ tương đối cao trong cả từ láy toàn bộ và từ láy bộ

phận là tập “Bạn trong vườn” với 11 từ chiếm 18,95%; tiếp theo với tỉ lệ trung bình là tập thơ “Em thích em yêu” và “Tắm mưa” chiếm 12,06% với 7 từ; sau đó là hai tập “Từ 0 đến 10”; “Những người bạn ồn ào” với 5 từ chiếm 8,62%; hai tập thơ có cùng tỉ lệ 6,88% với 4 từ, đó là tập “Những người bạn

nhỏ” và “Chú vịt bông”; còn tỉ lệ thấp nhất là ở tập thơ “Chú bò tìm bạn” chỉ

với 1 từ, chiếm 1,72%; đặc biệt trong tập thơ “Mẹ, Mẹ ơi! Cô bảo” không có

một từ láy nào được sử dụng nên tỉ lệ là 0%

Theo kết quả khảo sát, tập thơ “Những người bạn im lặng” là tập thơ có

nhiều từ láy âm nhất với 14 từ chiếm 24,13% Hầu hết tất cả các bài thơ trong

tập đều sử dụng từ láy âm, nhiều nhất là những bài: Sen nở, Đôi que đan, Dây

phơi, Quả sương

Ví dụ: Trong bài thơ Sen nở, Phạm Hổ đã chọn một thể thơ thật phù hợp

Đó là thể thơ hai chữ với nhịp đều đều gợi lên hình ảnh của những hoa sen đang nở tuy bé nhỏ nhưng thật đáng yêu và tràn đầy sức sống Điều đó được thể hiện một cách tinh tế nhờ vào sự kết hợp với những từ láy âm đầy gợi tả: “Nước gương

Im sáng

Cá bơi Lặng im Chuồn chuồn Soi bóng

Bé ngồi

Trang 34

Lặng ngắm Từng cánh Hoa sen Hoa thấp Hoa cao Hoa trước Hoa sau

Lấp ló

Nghiêng đầu

Rình xem Sen nở

……

……

Xinh tươi Sáng hồng

Chỉ thấy

Im lìm

Đong đưa Đong đưa

Hoa sen Lặng đùa Cùng rong Cùng cá Cùng lá Cùng chim…”

(Sen nở)

Trang 35

Trong một không gian lặng im, tất cả mọi sự vật đều hoạt động một cách nhẹ nhàng như không muốn làm khấy động cái không gian yên tĩnh mà đằm thắm ấy Nước gương im sáng và cá vẫn bơi nhưng im lặng, chuồn chuồn soi bóng nhưng không làm lay động mặt nước, bé vẫn ngồi đó ngắm từng cánh hoa sen xếp theo thứ tự thấp – cao, trước – sau nhưng có thể nhìn thấy được

tất cả các cánh trong một bông hoa Cách sử dụng từ láy tượng hình lấp ló đầy

gợi tả đã làm cho người đọc cảm nhận như mình đang ngồi ngắm những bông hoa đang nở ấy Những cánh hoa cứ lúc ẩn, lúc hiện rồi nghiêng đầu qua lại nhưng vẫn im lặng không làm ảnh hưởng đến bầu không khí yên bình Trong

cái tĩnh nhưng chúng ta vẫn thấy được cái động, chúng im lìm nhưng vẫn

đong đưa, đong đưa Những cơn gió nhẹ thổi qua làm những bông hoa khẽ

động đậy cùng với chút vui đùa nhưng thật dịu dàng càng tăng thêm vẻ tĩnh lặng của không gian Bài thơ như chứa đựng một sức sống tiềm tàng lớn lao

từ những sự vật bé nhỏ, yếu ớt bởi vẻ động – tĩnh của chúng, bởi những hình ảnh lấp ló, đong đưa kia Từ chính những vẻ đẹp của hình ảnh thơ bởi những

từ láy mang lại đã có một ý nghĩa giáo dục tình yêu thiên nhiên cho các em thiếu nhi Điều đó muốn nhắc nhở các em phải biết yêu quý và bảo vệ thiên nhiên xung quanh cuộc sống của mình

Từ một sự vật gần gũi, quen thuộc hằng ngày nhưng nhà thơ Phạm Hổ đã khéo léo lồng ghép những ý nghĩa giáo dục sâu sắc về tính cách của con

người qua bài thơ Đôi que đan:

“…Ôi đôi que đan

Sao mà chăm chỉ

Sao mà giản dị Sao mà dẻo dai…

Từng mũi, từng mũi

Nhấp nhô đang hoài

Sợi len bé nhỏ

Trang 36

Mà nên rộng, dài…”

(Đôi que đan) Bằng từ láy chăm chỉ đã thể hiện được những phẩm chất, đặc điểm của con người thông qua hình ảnh làm việc liên tục của đôi que đan Điệp từ từng

mũi và từ láy nhấp nhô gợi sự liên tiếp của từng mũi đan lên xuống đều đặn

và tạo nên sự nhịp nhàng cho câu thơ Từ đó, tác giả đã làm cho đôi que đan trở nên gần gũi, sinh động và hấp dẫn hơn Đồng thời qua hình ảnh làm việc của đôi que đan, tác giả muốn giáo dục cho các em bài học về sự chăm chỉ, cần cù Nếu chúng ta chăm chỉ, chịu khó học tập và làm việc thì sẽ đạt được những kết quả tốt đẹp hơn

Tập thơ có số lượng từ láy âm chiếm tỉ lệ cao tiếp theo là tập “Bạn trong

vườn” với 11 từ chiếm 18,95% Và trong tập thơ này, từ láy âm được sử dụng

trong rất nhiều bài thơ nhưng tiêu biểu nhất qua các bài: Gà nở, Thị, Mía

Ví dụ: Cũng trong bài thơ Gà nở, cũng với hình ảnh của gà mẹ đang dẫn

con đi ăn hay bảo vệ con mình nhưng trong những hoàn cảnh khác nhau:

“Ổ trứng lặng im Giờ kêu “Chiếp! chiếp!”

Mẹ gà xơ xác

Đôi mắt có quầng Con đông vướng chân

Mẹ càng kêu hãnh

Mẹ dang đôi cánh Con biến vào trong

Mẹ ngẩng trông chừng Bọn diều, bọn quạ…

Bây giờ thong thả

Mẹ đi lên đầu

Trang 37

Đàn con bé tí

Líu ríu chạy sau ”

(Gà nở)

Sau bao nhiêu ngày nằm ấp ủ để cho đàn con chào đời thì hình dáng của

một gà mẹ ốm yếu, mệt mỏi lại hiện lên rõ rệt qua một từ ngữ xơ xác đầy giá

trị miêu tả Thế nhưng đằng sau nỗi mệt nhọc ấy là cả một niềm hạnh phúc khi nhìn thấy đàn con của mình đã chào đời thật bình an Tuy nhiên, gà mẹ gặp phải nhiều nỗi lo sợ khi chống chọi với biết bao kẻ thù đang rình rập những đứa con bé bỏng của mình Nhưng không một sức mạnh nào cao hơn tình mẫu tử, gà mẹ đã bảo vệ đàn con được bình yên và bây giờ gà mẹ có thể

nhẹ nhỏm mà bước đi thong thả Giá trị của những từ láy này rất đắt, bởi chỉ

được sử dụng một lần nhưng chính những từ ngữ này đã bao trùm được nội dung và ý nghĩa trọng tâm của bài thơ Bên cạnh đó, bài thơ còn nêu lên một tình cảm mẫu tử thiêng liêng mà mỗi chúng ta ai cũng có và qua đó giáo dục các em phải biết yêu thương và quý trọng người mẹ thân yêu của mình

Những người bạn trong vườn không chỉ là những chú gà hay những con vật bé nhỏ mà còn có cả loại cây ăn quả và cây cảnh như: thị, na, dứa, khế, sung…là những người bạn thân thiết với nhau

“Lá xanh quả xanh Lặng im trên cành

Lá xanh quả vàng

Chim chuyền rung rinh

Người qua nhìn lên Thị thơm nhìn xuống Thị muốn theo về Chơi cùng trẻ xóm

Túi thị lủng lẳng

Bé xách trong tay

Trang 38

rung rinh mà người đọc có thể cảm nhận được

Thị không chỉ muốn chơi đùa trên cành mà như muốn xuống dưới cùng vui đùa với các bạn nhỏ trong xóm của mình Hình ảnh em bé xách túi thị

lủng lẳng trên tay, tung tăng về nhà thật đáng yêu Lúc này bé và thị như đôi

bạn thân không thể rời nhau, nằm trong túi nhưng thị như muốn thể hiện niềm vui khi được cùng về nhà và chăm từng giấc ngủ cho bé Đằng sau điều đó, ta thấy cây thị được Phạm Hổ gửi gắm một tâm trạng rất trẻ thơ là mong muốn

có thật nhiều bạn và ham thích vui chơi

2.2.2.2 Nhận xét về từ láy vần

Qua bảng thống kê, chúng tôi nhận thấy từ láy vần có số lượng thấp nhất trong tổng số từ láy được nhà thơ sử dụng trong 10 tập thơ Tuy nhiên, những

từ láy này đã góp phần làm tăng thêm tính sinh động, hấp dẫn và giá trị gợi tả

cho bài thơ Theo như tỉ lệ thống kê, tập thơ “Bạn trong vườn” có tỉ lệ cao nhất chiếm 31,25% với 5 từ; tiếp đến là hai tập thơ “Em thích em yêu” và

“Chú vịt bông” chiếm 18,75% với 3 từ; sau đó là tập thơ “Những người bạn

im lặng” chiếm 12,5% với 2 từ; và các tập còn lại “Những người bạn nhỏ”,

Trang 39

“Từ 0 đến 10” và “Tắm mưa” chỉ có 1 từ, chiếm 6,25% Riêng ba tập “Chú

bò tìm bạn”, “Mẹ, Mẹ ơi! Cô bảo” và “Những người bạn ồn ào” chiếm 0%

Trong tập thơ “Bạn trong vườn” có bốn bài thơ sử dụng từ láy vần và điển hình nhất là bài thơ Sầu riêng với 2 từ chiếm 12,5%; các bài thơ còn lại

là Gà nở, Na và Roi có sử dụng từ láy nhưng tỉ lệ vẫn chưa cao chỉ có 1 từ

trong 1 bài

Ví dụ: Vẫn là những người bạn trong vườn, vẫn là những tình cảm trong

sáng và ngây thơ nhưng mỗi bạn đều có một cách riêng để thể hiện tình cảm của mình Sầu riêng không nô đùa, chạy nhảy tung tăng hay nghịch theo kiểu trẻ thơ như các bạn nhỏ khác mà hình như sầu riêng là người bạn lớn nhất trong vườn, là một người đã trưởng thành nên cử chỉ, hành động lẫn tình cảm vẫn có sự khác biệt với các bạn của mình

“Nhà ai vừa chín quả đầu

Đã nghe gió thổi vườn sau thơm lừng

Lá chiều khép ngủ ung dung

Để cùng dậy với tưng bừng nắng mai

Vàng thơm sau lớp vỏ gai Múi to, mật ngọt cho ai thỏa lòng Mời cô, mời bác ăn cùng Sầu riêng mà hóa vui chung trăm nhà.”

(Sầu riêng)

Khi buổi chiều buông xuống, con người bắt đầu dừng mọi hoạt động của mình để quay về tổ ấm; mọi vật dường như tĩnh lặng nghỉ ngơi để chuẩn bị cho hoạt động của một ngày mới Sầu riêng cũng khép những chiếc lá của mình xuống để nghiêng mình đón ngày mới lên Tưởng chừng như những

chiếc lá buông xuôi rũ rượi của cái mệt mỏi nhưng bằng hai từ ung dung mà

thần sắc của chúng đã khác hẳn đi, lúc này những chiếc lá như theo quy luật sống của mình bắt đầu xếp lại nhưng với một tư thế thoải mái và nhẹ nhàng

Trang 40

Vào buổi nắng mai, sầu riêng lại vui mừng tưng bừng đón ngày mới lên

Chúng ta dễ dàng nhận thấy niềm vui của sầu riêng cũng như mọi vật khi chào một ngày mới tươi sáng Hơn nữa, chính sầu riêng đã làm tăng thêm niềm vui, những tình làng nghĩa xóm khi tất cả mọi người cùng quây quần bên nhau để chia từng múi sầu riêng thơm lừng Và chính cách miêu tả trạng

thái của sầu riêng qua hai từ láy ung dung và tưng bừng đã giúp các em hiểu

được quy luật hoạt động của sự vật lúc hoàng hôn buông xuống và vào buổi sớm mai

Cũng là những người bạn trong vườn nhưng mỗi người đều có một tính cách riêng Sầu riêng thì chững chạc, nhẹ nhàng và ra dáng của một người trưởng thành còn những quả na thì lại nhỏ bé, nhí nhảnh và đáng yêu

“Na non xanh

Múi loắt choắt

Na mở mắt Múi nở to

Na vào vò Đua nhau chín

Môi chúm chím

Hút múi ra Hạt nhả ra

Đen lay láy…”

(Na)

Quả na được so sánh như những đứa trẻ thơ hồn nhiên, vô tư trước thế giới bao la, rộng lớn của các em Còn múi na được ví như một cậu bé kháu khỉnh với đôi mắt mở to để quan sát những điều mới lạ xung quanh mình Khi đứng trước thế giới ấy, chú bé không những không sợ hãi mà còn cảm thấy thích thú và ngạc nhiên để khám phá tất cả những gì còn xa lạ với các em

bằng đôi mắt mở to, tròn xoe Qua hai từ loắt choắt còn gợi cho chúng ta liên

Ngày đăng: 08/05/2021, 20:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban, Ngữ pháp Tiếng Việt - tập 1, NXB Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt - tập 1
Nhà XB: NXB Giáo dục
2. Hoàng Văn Cẩn, Dạy học tác phẩm Văn học dành cho thiếu nhi - tập 1, NXB Giáo dục, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học tác phẩm Văn học dành cho thiếu nhi - tập 1
Nhà XB: NXB Giáo dục
3. Đỗ Hữu Châu, Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
4. Đỗ Hữu Châu, Giáo trình từ vựng học Tiếng Việt, NXB Đại học Sư phạm, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình từ vựng học Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
5. Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Đăng Mạnh, Hoàng Tiến Tựu, Vân Thanh, Nguyễn Trí, Đào Ngọc, Văn học tập 1, NXB Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học tập 1
Nhà XB: NXB Giáo dục
6. Nguyễn Thị Hạnh, Bài tập trắc nghiệm Tiếng Việt lớp 4, NXB Giáo dục, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập trắc nghiệm Tiếng Việt lớp 4
Nhà XB: NXB Giáo dục
7. Hoàng Văn Hành, Từ láy trong Tiếng Việt, NXB Khoa học Xã hội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ láy trong Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
8. Trần Mạnh Hưởng, Lê Hữu Tỉnh, Bài tập Luyện từ và câu Tiếng Việt 4, NXB Giáo dục, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập Luyện từ và câu Tiếng Việt 4
Nhà XB: NXB Giáo dục
9. Đặng Thị Lanh, Bùi Minh Toán, Lê Hữu Tỉnh, Tiếng Việt tập 1, NXB Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt tập 1
Nhà XB: NXB Giáo dục
10. Lã Thị Bắc Lý, Giáo trình Văn học trẻ em, NXB Đại học Sư phạm, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Văn học trẻ em
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
11. Lê Hoài Nam, Bài giảng Văn học thiếu nhi Việt Nam, NXB Đà Nẵng, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Văn học thiếu nhi Việt Nam
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
12. Trần Đức Ngôn, Dương Thu Hương, Giáo trình Văn học thiếu nhi Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Văn học thiếu nhi Việt Nam
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
13. Vũ Duy Thông, Bàn về Văn học thiếu nhi, NXB Kim Đồng, 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về Văn học thiếu nhi
Nhà XB: NXB Kim Đồng
14. Tiếng Việt 4, 5, NXB Giáo dục, 2007. NGỮ LIỆU KHẢO SÁT 1. Tuyển tập thơ Phạm Hổ, NXB Văn học, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 4, 5", NXB Giáo dục, 2007. NGỮ LIỆU KHẢO SÁT 1. "Tuyển tập thơ Phạm Hổ
Nhà XB: NXB Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w