Với sự hỗ trợ của các phần mềm Adobe Presenter, giáo viên có thể tạo ra được các bài giảng trực tuyến sinh động có tính tương tác cao hơn dưới dạng phim flash đầy hấp dẫn, giúp cho người
Trang 1GVHD: PGS TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh 1 SVTH: Trần Nhật Linh
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA VẬT LÝ
- -
TRẦN NHẬT LINH
Khai thác và sử dụng phần mềm Adobe Presenter trong việc hỗ trợ xây dựng bài giảng E-
Learning đối với dạy và học trực tuyến Phần
Quang hình học, vật lý 11 nâng cao
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SƯ PHẠM VẬT LÝ
Trang 2GVHD: PGS TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh 2 SVTH: Trần Nhật Linh
LỜI CẢM ƠN
***
Lời đầu tiên, em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới tất cả
các thầy cô giáo trong khoa Vật lý – Trường Đại học sư phạm
Đà Nẵng trong 4 năm vừa qua đã quan tâm, tạo mọi điều kiện
giúp đỡ cho em về mọi mặt kiến thức cũng như các hoạt động
khác Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo
Phó giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Bảo Hoàng Thanh thời gian qua
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em rất nhiều để
em hoàn thành được luận văn này
Bên cạnh đó, em cũng xin chân thành cảm ơn tới sự động
viên khích lệ của gia đình và bạn bè, những người đã luôn sát
cánh bên em trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Mặc dù đã cố gắng hoàn thành bản luận văn trong phạm vi
và khả năng cho phép nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi
thiếu sót, kính mong sự chỉ bảo tận tình và góp ý của quý thầy
cô và các bạn
Đà Nẵng, ngày 16 tháng 5 năm 2012 SVTH: Trần Nhật Linh
Trang 3GVHD: PGS TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh 3 SVTH: Trần Nhật Linh
- -
1 Lí do chọn đề tài
Hiện nay, nền kinh tế đang dần trở thành một nền kinh tế tri thức, tức là
một nền kinh tế mà trong đó có sự sản sinh, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai
trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất
lượng cuộc sống Do đó trên thế giới hiện nay việc nâng cao chất lượng nền giáo
dục đào tào cũng được quan tâm đầu tư phát triển mạnh mẽ Mặt khác, giới trẻ
ngày nay cũng đã được tạo điều kiện rất nhiều trong việc tiếp cận với các thành
tựu khoa học công nghệ
Vì vậy, để nhanh chóng hòa nhập vào xu thế phát triển chung của thế giới,
cũng như đáp ứng được các yêu cầu thách thức đã và đang đặt ra hiện nay thì đòi
hỏi nền giáo dục đào tạo nước ta cần phải có sự thay đổi trong phương pháp dạy
và nâng cao chất lượng dạy và học Bên cạnh phương pháp dạy học truyền thống
cũ như hiện nay, thì ngành giáo dục cũng cần chú trọng đổi mới và hiện đại hóa
các phương pháp dạy học
Điều 28, mục 2 của Luật giáo dục (2005) quy định:” Phương pháp giáo
dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học
sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp
tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình
cảm, đem lại niềm vui và hứng thú cho học sinh”
Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học thì cần có sự thay đổi trong
phương tiện dạy học Các phương tiện dạy học hiện đại có ứng dụng công nghệ
thông tin với những ưu thế vượt trội đã tạo ra được hiệu quả tích cực cho quá
trình dạy học chỉ thị 29/2001/CT-BGD &ĐT của bộ trưởng bộ giáo dục ghi rõ: “
đối với GD & ĐT, CNTT có tác dụng mạnh mẽ làm thay đổi nội dung, phương
pháp, phương thức dạy và học, CNTT là phương tiện để tiến tới một xã hội học
tập” Trên cơ sơ đó, Chỉ thị 22/2005/CT – BGDĐT, nêu rõ: “ tiếp tục đổi mới
Trang 4GVHD: PGS TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh 4 SVTH: Trần Nhật Linh
phương pháp dạy và học; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong các
hoạt động của nhà trường, nhất là ứng dụng trong giảng dạy và học tập…”
E- learning hay còn được gọi bằng những tên gọi khác như học qua web,
học tập trực tuyến … đang trở thành mối quan tâm của nhiều người vì người học
có thể chủ động được thời gian học và còn có thể giúp tiết kiệm chi phí, thời
gian, tiên lợi cho những người ở xa hoặc không có thời gian tới trung tâm đào
tạo
Đối với môn vật lý nói riêng, là một bộ môn khoa học thực nghiệm, những
hình ảnh, lý thuyết trong SGK chưa thể hiện được hết bản chất hiện tượng vật lý,
và chưa thể phát huy hết được tính tích cực, tư duy, sáng tạo của học sinh Phần
Quang hình học là một phần của vật lý học nghiên cứu sự lan truyền của ánh
sáng trong các môi trường Kiến thức phần Quang hình học khá là trừu tượng đối
với học sinh Với sự hỗ trợ của các phần mềm Adobe Presenter, giáo viên có thể
tạo ra được các bài giảng trực tuyến sinh động có tính tương tác cao hơn dưới
dạng phim flash đầy hấp dẫn, giúp cho người học trực tuyến có thể chủ động hơn
trong quá trình tiếp thu kiến thức, phát huy được tính tự học tích cực của người
học Ngoài ra, phần mềm này có một ưu điểm rất mạnh, đó là xây dựng được 1
hệ thống các câu hỏi trắc nghiệm, tương tác, vấn đáp phong phú, đa dạng giúp
học sinh củng cố lại kiến thức sau mỗi bài học Xuất phát từ những lí do trên, tôi
chọn đề tài: “ Khai thác và sử dụng phần mềm Adobe Presenter trong vi ệc
hỗ trợ xây dựng bài giảng E-Learning đối với dạy và học trực tuyến Phần
Quang hình học, vật lý 11 nâng cao”
2 Mục tiêu của đề tài
- Bổ sung cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về việc dạy và học trực tuyến
trong dạy và học bộ môn vật lý ở trường THPT
- Thiết kế được bài giảng điện tử với sự hỗ trợ của phần mềm Adobe
Presenter Phần Quang hình học, vật lý 11 nâng cao
- Biên soạn được tài liệu hướng dẫn sử dụng bài giảng điện tử trong việc
dạy và học trực tuyến Phần Quang hình học, vật lý 11 nâng cao
Trang 5GVHD: PGS TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh 5 SVTH: Trần Nhật Linh
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Hoạt động dạy và học trực tuyến Phần Quang hình học, vật lý 11 nâng cao
với bài giảng được xây dựng dựa trên phần mềm hỗ trợ Adobe Presenter
- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu khai thác và sử dụng phần mềm Adobe
Presenter trong việc dạy và học trực tuyến Phần Quang hình học, vật lý 11 nâng
cao
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về việc dạy và học trực tuyến
trong dạy và học bộ môn vật lý ở trường THPT
- Nghiên cứu mục tiêu, nội dung, chương trình và SGK Quang hình học, vật
lý 11 nâng cao, các nguồn tham khảo khác;
- Thiết kế bài giảng điện tử, sử dụng phần mềm hỗ trợ Adobe Presenter
trong việc xây dựng bài giảng trực tuyến
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở một số trường THPT để đánh giá hiệu
quả của bài giảng điện tử được thiết kế bằng phần mềm hỗ trợ Adobe Presenter
trong dạy và học trực tuyến môn vật lý
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu văn kiện của Đảng, nhà nước và Bộ giáo dục, Luật giáo dục
về việc nâng cao chất lượng dạy và học
- Nghiên cứu các luận văn có liên quan đến đề tài nghiên cứu, phương pháp
dạy học vật lý,…
- Nghiên cứu nội dung, chương trình SGK Phần Quang hình học, vật lý 11
nâng cao
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Đàm thoại với giáo viên và học sinh một số ván đề về việc dạy và học trực
tuyến môn vật lý
- Nghiên cứu khả năng hỗ trợ công nghệ thông tin trong Phần Quang hình
học, vật lý 11 nâng cao
Trang 6GVHD: PGS TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh 6 SVTH: Trần Nhật Linh
- Nghiên cứu phần mềm hỗ trợ Adobe Presenter trong việc xây dựng bài
giảng trong dạy và học trực tuyến Phần Quang hình học, vật lý 11 nâng cao
6 Đóng góp của luận văn
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc khai thác và sử dụng phần mềm Adobe
Presenter trong việc hỗ trợ xây dựng bài giảng điện tử đối với dạy và học trực
tuyến môn Vật lý
- Xây dựng được các bài giảng bài giảng E-Learning đối với dạy và học
trực tuyến Phần Quang hình học, vật lý 11 nâng cao Cung cấp thêm các tài liệu
hữu ích cho việc dạy và học trực tuyến hiện nay
- Rút ra những ưu khuyết điểm trong quá trình xây dựng bài giảng
E-Learning bằng MS Powerpoint kết hợp với phần mềm hỗ trợ Adobe Presenter
Từ đó góp ý những thiếu sót để hoàn chỉnh và làm phong phú thêm cho phương
pháp dạy học E-Learning
7 Cấu trúc và nội dung của luận văn
Mở đầu
Nội dung
- Chương I: Cơ sở lí luận của việc khai thác và sử dụng phần mềm Adobe
Presenter trong việc hỗ trợ xây dựng bài giảng điện tử đối với dạy và học trực
tuyến môn vật lý
- Chương II: Khai thác và sử dụng phần mềm Adobe Presenter trong việc
hỗ trợ xây dựng bài giảng E-Learning đối với dạy và học trực tuyến Phần Quang
hình học, vật lý 11 nâng cao
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Mục lục
Trang 7GVHD: PGS TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh 7 SVTH: Trần Nhật Linh
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG
PHẦN MỀM ADOBE PRESENTER TRONG VIỆC HỖ TRỢ XÂY DỰNG
BÀI GIẢNG E - LEARNING ĐỐI VỚI DẠY VÀ HỌC TRỰC TUYẾN
MÔN VẬT LÝ
1 Cơ sở lí luận của việc tổ chức dạy học E – Learning môn Vật Lý
Nền kinh tế thế giới hiện nay đang bước vào giai đoạn kinh tế tri thức Vì
vậy, việc nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục, đào tạo sẽ là nhân tố sống còn
quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia, công ty, gia đình và cá nhân
Hơn nữa, việc học tập không chỉ bó gọn trong việc học phổ thông, học đại học
mà là học tập suốt đời Việt Nam là một quốc gia đang trên đà phát triển, để có
thể hội nhập nhanh chóng với xu thế phát triển chung của thế giới, đáp ứng được
những thách thức đã và đang được đặt ra thì nền giáo dục Việt Nam cần có sự đổi
mới trong phương pháp dạy và nâng cao chất lượng dạy và học theo hướng tích
cực Dạy và học trực tuyến hay còn gọi là E-learning chính là một giải pháp hữu
hiệu để giải quyết vấn đề này
Vào khoảng năm 2002 trở về trước, các tài liệu nghiên cứu, tìm hiểu về
learning ở Việt Nam không nhiều Trong hai năm 2003-2004, việc nghiên cứu
E-learning ở Việt Nam đã được nhiều đơn vị quan tâm hơn Gần đây các hội nghị,
hội thảo về công nghệ thông tin và giáo dục đều có đề cập nhiều đến vấn đề
E-learning và khả năng áp dụng vào môi trường đào tạo ở Việt Nam như: Hội thảo
nâng cao chất lượng đào tạo ĐHQGHN năm 2000, Hội nghị giáo dục đại học
năm 2001 và gần đây là Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về nghiên cứu
phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 2/2003, Hội
thảo khoa học quốc gia lần II về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ
thông tin và truyền thông ICT/rda 9/2004, và hội thảo khoa học “Nghiên cứu và
triển khai E-learning” do Viện Công nghệ Thông tin (ĐHQGHN) và Khoa Công
Trang 8GVHD: PGS TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh 8 SVTH: Trần Nhật Linh
nghệ Thông tin (Đại học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005
là hội thảo khoa học về E-learning đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam
1.1 Khái niệm E-Learning
E-learning (viết tắt của Electronic Learning) là thuật ngữ mới Hiện nay,
theo các quan điểm và dưới các hình thức khác nhau có rất nhiều cách hiểu về
E-learning Hiểu theo nghĩa rộng, E-learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc
học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là công
“E-Learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa
trên công nghệ thông tin và truyền thông” (Compare Info base Inc)
“E-Learning nghĩa là việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, truyền tải
hoặc quản lý sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền thông khác
nhau và được thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cục” ( MASIE Center)
“Việc học tập được truyền tải hoặc hỗ trợ qua công nghệ điện tử Việc
truyền tải qua nhiều kĩ thuật khác nhau như Internet, TV, video tape, các hệ
thống giảng dạy thông minh, và việc đào tạo dựa trên máy tính ( CBT )” ( Sun
Microsystems, Inc )
“Việc truyền tải các hoạt động, quá trình, và sự kiện đào tạo và học tập
thông qua các phương tiện điện tử như Internet, intranet, extranet, CD-ROM,
video tape, DVD, TV, các thiết bị cá nhân ” ( E-Learningsite)
"Việc sử dụng công nghệ để tạo ra, đưa các dữ liệu có giá trị, thông tin,
học tập và kiến thức với mục đích nâng cao hoạt động của tổ chức và phát triển
khả năng cá nhân." (Định nghĩa của Lance Dublin, hướng tới E-Learning trong
doanh nghiệp)
Trang 9GVHD: PGS TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh 9 SVTH: Trần Nhật Linh
+ Tuy các định nghĩa về Learning có khác nhau, nhưng nói chung
E-Learning đều có những điểm chung sau:
+ Dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông: công nghệ mạng, kĩ thuật
đồ họa, kĩ thuật mô phỏng, công nghệ tính toán…
+ Hiệu quả của Learning cao hơn so với cách học truyền thống do
E-Learning có tính tương tác cao dựa trên multimedia, tạo điều kiện cho người học
trao đổi thông tin dễ dàng hơn, cũng như đưa ra nội dung học tập phù hợp với
khả năng và sở thích của từng người
+ E-Learning sẽ trở thành xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức Hiện
nay, E-Learning đang thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nước trên thế
giới với rất nhiều tổ chức, công ty hoạt động trong lĩnh vực E-Learning ra đời
1.2 Vai trò của E-Learning theo hướng phát huy tính tích cực của
HS dạy học
E-learning được xem là quá trình giáo dục chất lượng cao nhất, trong đó
các giáo viên và học sinh tích cực tham gia để đạt được mục tiêu giáo dục Trong
quá trình công nghệ thông tin và truyền thông được sử dụng để tạo ra một ảo linh
hoạt xung quanh trong đó các tài liệu giáo dục tương tác đa phương tiện được sử
dụng và đồng hoạt động được Khác với mô hình đào tạo truyền thống,
E-Learning cho phép người học có thể học bất kì lúc nào, bất kì nơi đâu và được
chọn những gì họ thích, các học viên có thể mang ra bài tập và các dự án cá nhân
hoặc nhóm, cũng như liên tục tự đánh giá và xét nghiệm
Học tập theo phương pháp E-Learning giúp học viên tiết kiệm thời gian
nhiều hơn, học viên không còn phải đi những quãng đường dài để theo học một
cua học dạng truyền thống mà hoàn toàn có thể học tập bất cứ khi nào muốn, ban
ngày hay ban đêm, tại bất cứ đâu- tại nhà, tại công sở, tại thư viện nội bộ Với rất
nhiều học viên, nó đã mở ra một thế giới học tập mới, dễ dàng và linh hoạt hơn,
mà trước đó họ không hy vọng tới, có thể do không phù hợp, hay vì lớp học cách
nơi họ sống đến nửa vòng trái đất Theo một nghĩa khác, E-Learning đã xóa nhòa
các ranh giới địa lí, mang giáo dục đến với mọi người chứ không phải là mọi
Trang 10GVHD: PGS TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh 10 SVTH: Trần Nhật Linh
người đến với giáo dục Ví dụ nếu học viên muốn tham dự một bài giảng tại Đại
học Gresham tại Luân Đôn thì không nhất thiết phải đến đó, đơn giản chỉ cần
theo dõi trực tiếp qua Internet hay nếu không có thời gian bạn có thể theo dõi lại
bản ghi hình khi muốn Nhờ E-Learning việc học tập dạng thụ động như trước
đây được giảm bớt Học viên không cần phải tập trung trong các lớp học với kiểu
học “đọc và ghi” thông thường, giúp cho việc học tập trở nên rất chủ động Điều
cốt yếu là tập trung vào sự tương tác, “học đi đôi với hành” Tham gia các khóa
học E-Learning giúp việc học tập trở nên thú vị hơn, hấp dẫn hơn và thuyết phục
hơn Các môn học khó hoặc nhàm chán có thể trở nên dễ dàng hơn, thú vị hơn
với Giáo dục điện tử Ví dụ các thí nghiệm vật lý về quang học, hay các phản
ứng hạt nhân có thể làm cho bạn đau đầu khi phải tưởng tượng các đường đi của
tia sáng qua các dụng cụ quang học, hay các quá trình bắn phá hạt nhân thì hãy
xem chúng bằng phim ảnh, flash với truyền hình cáp, ngay ở trong lớp học
Học tập là một hoạt động xã hội, và E-Learning có thể giúp chúng ta thu
được những kết quả chắc chắn và lâu dài, không chỉ thông qua nội dung mà đồng
thời bằng cả cộng đồng mạng trực tuyến Tại đây, học viên được khuyến khích
giao tiếp, cộng tác và chia sẻ kiến thức Theo cách này, E-Learning có thể hỗ trợ
“học tập thông qua nhận xét và thảo luận” E-Learning cho phép học viên tự quản
lí được tiến trình học tập, mức độ kĩ năng của mình theo cách phù hợp nhất
Chúng ta có nhiều cách học khác nhau như đọc, xem, khám phá, nghiên cứu,
tương tác, thực hành, giao tiếp, thảo luận, chia sẻ kiến thức E-Learning đồng
nghĩa với việc học viên có thể truy cập tới rất nhiều nguồn tài nguyên phục vụ
cho học tập: cả tư liệu và con người, và theo cách này mỗi người đều có quyền
chọn lựa hình thức học tập phù hợp nhất với khả năng và điều kiện củamình
E-Learning đồng thời giúp cho việc học tập vẫn có thể tiến hành được đồng thời
trong khi làm việc Giáo dục đã chuyển từ dạng lớp học truyền thống sang máy
tính cá nhân và bây giờ là các thiết bị cầm tay Sự thực là mỗi ngày chúng ta trở
nên năng động hơn
Trang 11GVHD: PGS TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh 11 SVTH: Trần Nhật Linh
Ngày nay, công nghệ thông tin hỗ trợ rất nhiều cho quá trình học tập, cho
phép mọi người học từ xa, tự học và học hỏi lẫn nhau Công nghệ cũng giúp cho
các học viên tiết kiệm được một khoản tiền lớn do giảm được chi phí đi lại và
tăng tính hiệu quả Lý tưởng hơn, nếu mọi người tự học, đồng thời trao đổi với
giáo viên và bạn bè trong lớp, họ có thể tiếp thu nhiều thông tin hơn, nâng cao
hiệu quả giúp cho toàn bộ quy trình
Công nghệ mới và kỹ năng đã tạo ra một cơ hội, nơi học viên có thể tải về
ngay cả những thông tin ít người biết nhất, trước đây khó khăn hoặc tẻ nhạt để có
được, ngay lập tức Những phát triển đã kết hợp để cung cấp nhiên liệu cho một
sự bùng nổ thông tin tiếp tục thay đổi cao hơn giáo dục theo những cách học tập
có thể được hỗ trợ
Các trường đại học ở Việt Nam cũng bước đầu nghiên cứu và triển khai
E-learning Một số đơn vị đã bước đầu triển khai các phần mềm hỗ trợ đào tạo và
cho các kết quả khả quan: Đại học Công nghệ - ĐHQGHN, Viện CNTT -
ĐHQGHN, Đại học Bách Khoa Hà Nội, ĐHQG TP HCM, Học viện Bưu chính
Viễn thông, Gần đây nhất, Trung tâm Tin học Bộ Giáo dục & Đào tạo đã triển
khai cổng learning nhằm cung cấp một cách có hệ thống các thông tin
E-learning trên thế giới và ở Việt Nam Bên cạnh đó, một số công ty phần mềm ở
Việt Nam đã tung ra thị trường một số sản phẩm hỗ trợ đào tạo đào tạo Tuy các
sản phẩm này chưa phải là sản phẩm lớn, được đóng gói hoàn chỉnh nhưng đã
bước đầu góp phần thúc đẩy sự phát triển E-learning ở Việt Nam
Việt Nam đã gia nhập mạng E-learning châu Á (Asia E-learning Network
- AEN, www.asia-elearning.net) với sự tham gia của Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ
Khoa học - Công nghệ, trường Đại học Bách Khoa, Bộ Bưu chính Viễn Thông
Điều này cho thấy tình hình nghiên cứu và ứng dụng loại hình đào tạo này
đang được quan tâm ở Việt Nam Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực
E-learning ở Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu còn nhiều việc phải làm mới tiến
kịp các nước
Trang 12GVHD: PGS TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh 12 SVTH: Trần Nhật Linh
Tuy nhiên,bên cạnh những lợi ích mà E-Learning đem lại, thì vẫn còn tồn
tại những hạn chế nhất định như:
Về phía người học: thì khi tham gia học tập dựa trên E-Learning đòi hỏi ở
chính người học phải có khả năng làm việc độc lập với ý thức tự giác cao độ Bên
cạnh đó, cũng cần thể hiện khả năng hợp tác, chia sẻ qua mạng một cách hiệu
quả với giảng viên và các thành viên khác Người học cũng cần phải biết lập kế
hoạch phù hợp với bản thân, tự định hướng trong học tập, thực hiện tốt kế hoạch
học tập đã đề ra
Về phía nội dung học tập: Trong nhiều trường hợp, không thể và không
nên đưa ra các nội dung quá trừu tượng, quá phức tạp Đặc biệt là nội dung liên
quan tới thí nghiệm, thực hành mà Công nghệ thông tin không thể hiện được hay
thể hiện kém hiệu quả Hệ thống E - Learning cũng không thể thay thế được các
hoạt động liên quan tới việc rèn luyện và hình thành kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng
thao tác và vận động
Về yếu tố công nghệ: Sự hạn chế về kỹ năng công nghệ của người học sẽ
làm giảm đáng kể hiệu quả, chất lượng dạy học dựa trên E-Learning Bên cạnh
đó, hạ tầng công nghệ thông tin (mạng internet, băng thông, chi phí…) cũng ảnh
hưởng đảng kể tới tiến độ, chất lượng học tập
Vậy nên hiện nay, E-Learning chưa có thể thay thế hoàn toàn phương
pháp giảng dạy truyền thống, phương pháp dạy học truyền thống vẫn sẽ phải là
phương thức chủ yếu và phổ biến bởi phù hợp với tất cả các người học và gắn
liền với mỗi người học Với cách học truyền thống, người học cảm thấy an toàn
hơn khi được nghe giảng trực tiếp, được giải quyết vấn đề trực tiếp với giáo viên,
phù hợp với nhiều đối tượng học viên khác nhau Đối với những học viên không
tự giác, không có thói quen tự làm việc hay chủ động làm việc thì cách học
truyền thống ít nhiều cũng có tác động đến họ khi họ được học trực tiếp với giáo
viên trên lớp Giáo viên cũng có thể quan sát được thái độ học tập và khả năng
học tập của mỗi học viên thông qua tiếp xúc trực tiếp Trong khi đó, mô hình đào
tạo trực tuyến không phải phù hợp với tất cả mọi người, chỉ phù hợp với những
Trang 13GVHD: PGS TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh 13 SVTH: Trần Nhật Linh
người học trưởng thành, thực sự có nhu cầu và tự giác học Đối với bài học,
không phải bất kỳ nội dung học nào cũng dễ dàng chuyển đổi sang E-Learning
Có rất nhiều môn học, ngành học phần nội dung có tính thực hành cao, tính thực
tế cao thì khó có thể dùng E-Learning để giảng dạy được, ví dụ: các ngành liên
quan đến chế tạo, nhạc, hội hoạ…, nhưng đối với những môn học thiên về rèn
luyện kỹ năng và hoạt động theo quy trình, có sự thay đổi nhanh về nội dung học
tập, có yêu cầu cập nhật kịp thời, sẽ là những nội dung thích hợp của E-Learning
E-Learning hiện nay và trong tương lai gần vẫn chưa thể thay thế hoàn
toàn cách học truyền thống, mà cần phải có sự kết hợp với nhau để đem lại kết
quả tốt nhất cho quá trình dạy - học
1.3 Thực trạng việc dạy và học môn Vật lý ở nhà trường phổ
thông
Xét đến tình hình chung của việc dạy và học môn Vật lý ở các trường
THPT hiện nay ở nước ta còn gặp rất nhiều khó khăn Đầu tiên phải nói đến đó là
cơ sở vật chất ở nhiều trường còn khá nghèo nàn, hầu như chưa có sự đầu tư cho
việc xây dựng các phòng thí nghiệm cho học sinh thực hiện thí nghiệm trực quan,
các thiết bị thí nghiệm còn ít so với yêu cầu và cũng đã bị hư hỏng khá nhiều do
không được sử dụng thường xuyên, ngoài ra, việc áp dụng CNTT vào công tác
giảng dạy còn rất hạn chế do có quá ít phòng máy hoặc thiếu dụng cụ, thiết bị hỗ
trợ, hoặc kĩ năng áp dụng CNTT của giáo viên còn khá yếu và chưa cập nhật
được thông tin về các phần mềm mới hỗ trợ cho công tác dạy học Môn Vật lý là
một môn học đòi hỏi khả năng tư duy cao, tuy nhiên, nhiều khi phương pháp
giảng dạy trên lớp của giáo viên chưa thể đáp ứng hết lượng kiến thức cần truyền
tải cho học sinh và không thể mở rộng ra tầm hiểu biết cho học sinh nếu chỉ giới
hạn trong thời gian lên lớp
Mặt khác, khi xét về phía người học, tức là học sinh THPT hiện nay, thì
một thực tế cho thấy các em tiếp thu kiến thức còn rất thụ động, chủ yếu là nghe
và ghi chép Rất ít khi các em đưa ra được các câu hỏi xoáy sâu vào trọng tâm
kiến thức bài học, hay đặt ra những vấn đề liên quan tới nội dung đang tìm hiểu
Trang 14GVHD: PGS TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh 14 SVTH: Trần Nhật Linh
Đồng thời, ý thức tự học của các em còn chưa cao, các em hầu như chỉ tiếp thu
lượng kiến thức có sẵn trong Sách giáo khoa và lượng kiến thức do giáo viên
truyền đạt chứ chưa chủ động tìm hiểu thêm kiến thức ở sách, báo, Internet… để
mở rộng tầm kiến thức của bản thân
Và một đặc điểm nữa, đó là ở tâm lí học sinh, môn Vật lý đòi hỏi sự tư
duy khá cao, cũng như phải có niềm say mê, ham học hỏi, nên với phương pháp
giảng dạy truyền thống, thầy đọc trò chép, thì hầu hết các em cảm thấy môn vật
lý rất khó tiếp thu, các em thường không tìm được phương pháp học thích hợp
nên dẫn tới bỏ bê việc đào sâu tìm hiểu kiến thức Chính điều này làm cho các
em mất căn bản dần dần về môn Vật lý và rất vất vả khi phải tìm hiểu thêm một
kiến thức mới
Từ những thực trạng đó cho thấy, với phương pháp dạy học truyền thống
và những yếu kém về trang thiết bị hỗ trợ cho quá trình dạy học thì học sinh
không thế phát huy được hết tính tích cực trong quá trình ghi nhận kiến thức môn
Vật lý nói riêng và các môn học khác nói chung
Sự chú ý đầu tư trang thiết bị hỗ trợ dạy học và quan trọng nhất là sự đổi
mới phương pháp dạy học Phương pháp dạy học có sự hỗ trợ của CNTT sẽ giúp
phát huy được sự tích cực thu nhận kiến thức của học sinh, đồng thời bổ trợ cho
phương pháp dạy học truyền thống nhằm nâng cao chất lượng dạy và học
1.4 Ứng dụng CNTT hỗ trợ cho việc dạy và học môn Vật lý ở nhà trường
phổ thông
CNTT ngày càng khẳng định được sức mạnh và vị thế quan trọng trong
cuộc sống hiện nay, góp phần làm thay đổi nhiều mặt trong xã hội
Việc áp dụng CNTT trong dạy học môn Vật lý ở trường THPT nói riêng
và các môn học khác sẽ nâng cao được chất lượng giảng dạy và học tập Hơn
nữa, do đặc thù của môn học Vật lý là một môn giảng dạy về khoa học tư duy có
nhiều ứng dụng rộng rãi trong thực tế nên việc sử dụng các phần mềm CNTT
(Powerpoint, Violet, Flash…) xây dựng bài giảng không những làm bài giảng
sinh động, dễ hiểu mà còn làm phong phú thêm nguồn kiến thức cho học sinh,
Trang 15GVHD: PGS TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh 15 SVTH: Trần Nhật Linh
đưa học sinh tiến gần đến thực tế hơn và thúc đẩy sự tích cực trong quá trình tiếp
nhận kiến thức
Mặt khác, CNTT cũng giúp giáo viên và học sinh có điều kiện tìm kiếm
được nhiều hơn các nguồn thông tin cần thiết về kiến thức Vật lý trên mạng, truy
cập các website để trao đổi thông tin với mọi người ở khắp mọi nơi trên toàn cầu
giúp mở mang kiến thức và tiếp thu nền tri thức rộng lớn thông qua mạng
2 Bài giảng E-Learning
2.1 Khái niệm bài giảng E-Learning
Bài giảng e-Learning là sản phẩm được tạo ra từ các công cụ tạo bài giảng
(authoring tools), có khả năng tích hợp đa phương tiện (multimedia) gồm phim
(video), hình ảnh, đồ họa, hoạt hình, âm thanh, và tuân thủ một trong các
chuẩn SCORM, AICC…
Bài giảng E-Learning khác hoàn toàn với các khái niệm: giáo án điện tử,
bài trình chiếu hoặc bài giảng điện tử (powerpoint) thường gọi
Từ trước đến nay các giáo viên thường soạn bài giảng bằng PowerPoint
hoặc Violet thì yêu cầu người soạn phải trực tiếp sử dụng nó, còn bài giảng
E-Learning thì là một bài giảng hoàn toàn phụ thuộc vào tác động của người học
Bài giảng E-Learning có thể dùng để học ngoại tuyến (off-line) hoặc trực tuyến
(online) và có khả năng tương tác với người học, giúp người học có thể tự học
mà không cần đến thầy dạy, không cần đến trường – lớp Do đó, để soạn 1 bài
giảng E-Learning bạn phải dự kiến các tình huống xảy ra khi người học tác động
vào bài giảng để có phương án xủ lý thích hợp (Nôm na giống như lập trình
hướng đối tượng !)
2.2 Đặc điểm bài giảng E-Learning
Có thể nói bài giảng E-Learning là bài giảng của giáo viên được soạn thảo
trên nền web Các bài giảng E-learning cho phép học viên có thể học với tốc độ
hiệu quả nhanh nhất có thể Loại hình đào tạo E-learning tự học giúp cho học
viên ghi nhớ kiến thức nhanh hơn thông qua tính tương tác của nó, cho phép học
Trang 16GVHD: PGS TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh 16 SVTH: Trần Nhật Linh
viên tăng tốc độ học thông qua các công cụ học tập mà họ đã quen thuộc và tiếp
nhận những công cụ học tập mà họ ít sử dụng nhất
Các bài giảng E-Learning thường có các đặc điểm nổi bật sau:
Dễ sử dụng: bạn chỉ cần có bộ trình duyệt internet; có định dạng HTML
và được thiết kế để có thể tải về nhanh và giúp bạn tiến hành việc học một cách
nhanh chóng; giao diện thiết kế đào tạo trực tuyến đã được kiểm nghiệm và
chứng minh với hướng dẫn từng bước và dễ dàng Các đặc điểm bao gồm: Công
cụ bookmark (đánh dấu) chỉ cho bạn biết phần mình đang học vì thế bạn có thể
quay trở lại một cách dễ dàng; Mục lục chủ để để tìm kiếm thông tin về tất cả các
phần của khóa
Phần trợ giúp hữu ích và hiệu quả: rất nhiều thông tin trợ giúp có trong
các khóa học trực tuyến, hoặc do đội ngũ nhân viên của chúng tôi cung cấp học
trong khi bạn đang tham gia một khóa học – dễ dàng di chuyển từ một phần của
một khóa học đến một phần cụ thể khác cũng thuộc khóa học đó
Tương tác: các bài tập mô phỏng cho phép học viên thực hành những kiến
thức mà mình đang học, giúp cho học viên ghi nhớ được khối lượng kiến thức
nhiều hơn; cung cấp các phương pháp học khác nhau thông qua các bài tập bằng
phương tiện nghe nói, biểu đồ hiển thị, các bài kiểm tra và các bài tập có thể in ra
được với các file định dạng PDF có thể tải xuống để luyện tập thêm
Tự học và Thuận tiện: học với tốc độ tùy chọn, nhanh chóng và tiết kiệm
thời gian Tập trung vào những kiến thức mà bạn cần- bỏ qua những kiến thức
bạn đã biết hoặc không cần thiết Hoặc các phần lặp lại Bạn luôn luôn kiểm soát
được không gian, thời gian và phương thức học với cách tiếp cận không hạn chế
24 giờ/ngày, 7 ngày/tuần
Các bài học hoàn chỉnh: học chuyên sâu các môn học – các bảng tra thuật
ngữ khóa học được cung cấp, không cần đến từ điển; được xây dựng trên các ghi
chú, thủ thuật học, tham khảo nhanh, các đường link cụ thể và các bài tập mô
phỏng; với các bài tập và các file luyện tập giúp tăng khả năng ghi nhớ của bạn
Trang 17GVHD: PGS TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh 17 SVTH: Trần Nhật Linh
và nâng cao mức độ sử dụng các công cụ học tập cũng như luôn cập nhật các
công cụ học tập này
Các bài kiểm tra đánh giá kỹ năng trước và sau khóa đào tạo để kiểm tra
tiến độ học của bạn: có thể sử dụng trước, trong hoặc sau khi kết thúc khóa học
Kiểm tra thử lần đầu, kiểm tra thử đạt kết quả cao nhất và trình độ khóa đào tạo
trực tuyến đều được theo dõi Nếu qua được các bài kiểm tra, biểu tượng đánh
dấu đã qua màu xanh sẽ xuất hiện, thể hiện bạn “đã hoàn thành khóa học” Trang
lưu kết quả - có những đường link trực tiếp đến từng đơn vị học trình, vì thế nếu
học viên không qua một đơn vị học trình, họ có thể truy cập trực tiếp để làm lại
bài kiểm tra của đơn vị học trình đó
Tương thích với nhiều hệ điều hành: học viên có thể sử dụng hệ điều hành
Windows, Mac và Unix để truy cập vào khóa đào tạo trực tuyến
2.3 Sức mạnh của bài giảng E-Learning trong vi ệc dạy học môn
Vật lý THPT theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh
Xét riêng về tình hình dạy học môn Vật lý ở trường THPT hiên nay, học
sinh còn khá thụ động với việc tiếp nhận và trao đổi các nguồn thông tin kiến
thức Một phần là do phương pháp “thầy đọc, trò chép”, học sinh chỉ chủ yếu tiếp
nhận kiến thức theo một chiều Một phần khác, là do chính ý thức tự học của học
sinh còn chưa cao, các em ngoài việc lên lớp còn tham gia vào các lớp học thêm
bên ngoài, nhưng hầu hết vần còn ỷ lại nhiều vào thầy cô, chưa tự giác tìm kiếm
mở rộng thêm kiến thức ở các nguồn thông tin khác như sách, báo, truyền hình,
Internet…
Trong xã hội toàn cầu hóa ngày nay, học tập là việc cần làm trong suốt
cuộc đời không chỉ để đứng vững trong thị trường việc làm đầy cạnh tranh mà
còn giúp nâng cao kiến thức văn hóa và xã hội của mỗi người Chúng ta cần học
những kỹ năng mới, đồng thời bồi dưỡng nâng cao những kỹ năng sẵn có và tìm
ra những cách thức mới và nhanh hơn để học những kỹ năng này
E-learning là một phương pháp hiệu quả và khả thi, tận dụng tiến bộ của
phương tiện điện tử, internet để truyền tải các kiến thức và kĩ năng đến những
Trang 18GVHD: PGS TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh 18 SVTH: Trần Nhật Linh
người học là cá nhân và tổ chức ở bất kì nơi nào trên thế giới tại bất kì thời điểm
nào Với các công cụ đào tạo truyền thông phong phú, cộng đồng người học
online và các buổi thảo luận trực tuyến, E-learning giúp mọi người mở rộng cơ
hội tiếp cận với các khóa học và đào tạo nhưng lại giúp giảm chi phí
Bài giảng E-Learning là một bài giảng có tương tác multimedia phù hợp
với đăc thù của môn Vật lý, giáo viên có thể sử dụng các multimedia để tạo các
mô phỏng thí nghiệm hay đưa ra các hiên tượng Vật lý dưới dạng flash hoặc
video để học sinh có thể thấy và đưa ra những nhận xét khách quan nhất Ngoài
ra các bài giảng E-Learning còn có hệ thống bài tập áp dụng rất phong phú và
sinh động kích thích được sự tích cực tìm hiểu kiến thức của học sinh Điều này
cho thấy phương pháp này đề cao tính tự học nhờ bài giảng điện tử, đáp ứng tính
cá thể trong học tập
Bài giảng E-Learning xây dựng cho môn Vật lý đáp ứng được các yếu tố
của một phương pháp dạy học tích cực đó là:
+ Thể hiện rõ vai trò của nguồn thông tin và các nguồn lực sẵn có
+ Thể hiện rõ được các thí nghiệm, mô phỏng mà giáo viên không có điều
kiện thực hiện hoặc các thí nghiệm phức tạp, yêu cầu thời gian trong các đoạn
video, flash hay các hiệu ứng Powerpoint, tạo điều kiện cho học sinh nhìn nhận
kiến thức một cách sinh động và dễ hiểu nhất
+ Bố cục trình bày trong bài giảng đơn giản, có điểm nhấn mạnh, tạo cho
học sinh tâm lí thoải mái khi tiếp nhận kiến thức và nắm được trọng tâm bài học
Thể hiện rõ được bản chất và mức độ kiến thức cần huy động
+ Thể hiện rõ được vai trò của người học, người dạy, vai trò của các mối
tương tác trong quá trình học
+ Các bài tập tương tác trong bài giảng E-Learning cho phép học sinh làm
trực tiếp sau khi tìm hiểu kiến thức nội dung trong bài nên thể hiện được kết quả
của người học sau khi tham gia khóa học Tạo hứng thú cho học sinh tiếp tục
tham gia vào các bài giảng E-Learning khác Đồng thời kịp thời sửa sai những
kiến thức chưa nắm rõ
Trang 19GVHD: PGS TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh 19 SVTH: Trần Nhật Linh
2.4 Tiêu chuẩn thiết kế bài giảng E-Learning
Theo ISO- chuẩn là “Các thoả thuận trên văn bản chứa các đặc tả kĩ thuật
hoặc các tiêu chí chính xác khác được sử dụng một cách thống nhất như các luật,
các chỉ dẫn, hoặc các định nghĩa của các đặc trưng, để đảm bảo rằng các vật
liệu, sản phẩm, quá trình và dịch vụ phù hợp với mục đích của chúng”
Mỗi hệ thống khác nhau có cách trao đổi thông tin khác nhau trên mạng
Nhờ có các chuẩn mà chúng ta có thể trao đổi thông tin trên mạng một cách
nhanh chóng Chuẩn Internet bao gồm các chuẩn được IEEE công nhận: HTTP,
HTML, FTP, TCP/IP, SMTP…
Trong hệ thống E-Learning cũng có các chuẩn và trong lĩnh vực này
chuẩn rất quan trọng Bởi vì nếu không có chuẩn chúng ta không thể trao đổi
thông tin với nhau hay sử dụng lại các đối tượng Nhờ có chuẩn toàn bộ thị
trường E-Learning (người bán công cụ, khách hàng, người phát triển nội dung) sẽ
tìm được tiếng nói chung, hợp tác với nhau được cả về mặt kĩ thuật và mặt
phương pháp
Các tiêu chuẩn của bài giảng E-Learning ra đời nhắm đáp ứng cho việc
tạo nên một môi trường học tập đồng nhất, tạo nên sự kế thừa cho các sản phẩm
E-Learning khác Nhìn chung có các chuẩn chính sau đây:
+ AICC (Aviation Industry CBT Committee): AICC có hai chuẩn liên
quan, gọi là AICC Guidelines và Recommendations (AGRs) AGR006 đề cập tới
computer-managed instruction (CMI) Nó được áp dụng cho các đào tạo dựa trên
Web, mainframe, đĩa AGR010 chỉ tập trung vào đào tạo dựa trên Web
+ SCORM (Sharable Content Object Reference Model): Là một mô hình
tham khảo các chuẩn kĩ thuật, các đặc tả và các hướng dẫn có liên quan đưa ra
bởi các tổ chức khác nhau dùng để đáp ứng các yêu cầu ở mức cao của nội dung
học tập Đặc tả ADL SCORM bao gồm Runtime Environment (RTE) quy định sự
trao đổi giữa hệ thống quản lý đào tạo và các SCO (Sharable Content Object -
Đối tượng nội dung có thể chia sẻ được) tương ứng với một module Thực ra thì
SCORM dùng các đặc tả mới nhất của AICC
Trang 20GVHD: PGS TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh 20 SVTH: Trần Nhật Linh
+ QTI (Question and Test Interoperability): Chuẩn về các câu hỏi kiểm
tra Các câu hỏi được phát triển trong một LMS, LCMS hoặc các hệ thống trường
học ảo thường không thể di chuyển được sang các hệ thống khác Đặc tả IMS
Question and Test Interoperabililty cố gắng tìm các cách chung để các bài kiểm
tra, câu hỏi có thể dùng được trong nhiều hệ thống khác nhau
+ LIP (Learner Information Package): Trong thực tế, những người quản
trị dành rất nhiều thời gian đưa thông tin về học viên vào các hệ thống quản lý
học tập khác nhau Đặc tả IMS Learner Information Packaging cố gắng xác định
một định dạng chung về thông tin học viên Các mô tả tuân theo đặc tả có thể
trao đổi một cách tự do giữa các hệ thống khác nhau
+ EIM (Enterprise Information Model): Các hệ thống quản lý cần trao đổi
thông tin với các hệ thống khác của doanh nghiệp IMS Enterprise Information
Model tìm một cách để xác định các định dạng cho phép trao đổi các dữ liệu
quản lý gi các hệ thống
3 Khai thác Adobe Presenter trong việc thiết kế bài giảng E- Learning
3.1 Giới thiệu
3.1.1 Tổng quan
Adobe Presenter 7 là một dạng bổ sung của phần mềm trình chiếu quen
thuộc Microsoft PowerPoint, giúp người dùng biến những buổi trình chiếu
thường nhàm chán trở nên sinh động, có tính tương tác cao hơn dưới dạng phim
flash đầy hấp dẫn Kết quả cuối cùng còn có thể chia sẻ giống như một trang web
thông thường, một tập tin PDF hay thậm chí là sử dụng trên điện thoại di động có
hỗ trợ Flash như của Nokia hoặc có hệ điều hành Windows Mobile
Adobe Presenter đã biến PowerPoint thành công cụ soạn bài giảng
E-Learning, có thể tạo bài giảng để HS tự học, có thể ghi lại lời giảng, hình ảnh bạn
giảng bài, chèn các câu hỏi tương tác, chèn các bản flash, chèn các hoạt động ghi
lại từ bất cứ phần mềm nào khác qua flash, có thể đưa bài giảng lên giảng trực
tuyến,…
Trang 21GVHD: PGS TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh 21 SVTH: Trần Nhật Linh
Adobe Presenter giúp chuyển đổi các bài trình chiếu powerpoint sang
dạng tương tác multimedia, có lời thuyết minh (narration), có thể câu hỏi tương
tác (quizze) và khảo sát (surveys), tạo hoạt động điều khiển dẫn dắt chương trình
(animation), và tạo mô phỏng (simulation) một cách chuyên nghiệp
Điều khẳng định là Adobe Presenter tạo ra bài giảng điện tử tương thích
với chuẩn quốc tế về E - Learning là AICC, SCORM 1.2, và SCORM 2004
3.1.2 Công cụ của Adobe Presenter
Sau khi tải phần mềm về sẽ có một file:
Thực hiện thao tác nháy đúp chuột trái, tuần tự theo các bước sẽ cho kết
quả thành công Khi này, thanh Menu của MS PowerPoint sẽ xuất hiện thêm một
menu mới Adobe Presenter
Về tính năng của chúng tương tự nhau
3.2 Tiềm năng của phần mềm Adobe Presenter
Dễ dàng tạo ra các bài trình chiếu từ các silde trong Powerpoint thành bài
giảng điện tử tương tác theo chuẩn E-learning (có thể dạy và học qua mạng)
Cho phép chèn Flash vào bài giảng
Cho phép ghi âm, hình ảnh, video vào bài giảng
Cho phép tạo các câu hỏi tương tác (bao gồm cả câu hỏi trắc nghiệm)
Giao diện của menu Adobe Presenter trong MS PowerPoint 2003
Giao diện của menu Adobe Presenter trong MS PowerPoint 2007
Trang 22GVHD: PGS TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh 22 SVTH: Trần Nhật Linh
Cho phép xuất bài giảng (tuân theo chuẩn E-learning như SCROM,
AICC…) tạo ta nhiều loại định dạng khác nhau như: website, đĩa CD, và đưa lên
hệ thống Adobe Connect Pro (để có thể dạy và học trực tuyến)
Adobe Presenter sau khi cài sẽ chạy cùng phần mềm Mirosoft PowerPoint
Tuy nhiên, Presenter vẫn chưa dùng được trên phần mềm Presentatiom của bộ
OpenOffice
3.3 Adobe Presenter với việc tổ chức dạy học trực tuyến môn Vật
lý
Trước hết ta cần nắm rõ, Adobe Presenter không phải là một phần mềm
riêng biệt mà là một phần kết hợp bổ trợ cho Power Point tạo ra một bài giảng
trực tuyến
Hiện nay giáo viên thường quen với việc soạn thảo bài giảng trình chiếu
bằng Power Point Tuy nhiên bài giảng bằng Power Point chỉ thuần túy là để
trình chiếu, cần phải có người dẫn chương trình và thuyết minh Vậy nên, để có
thể tạo ra một bài giảng có tính tương tác cao và kích thích được sự tự học tích
cực của người học thì người soạn thảo chỉ cần cài thêm Adobe Presenter
Môn Vật lý có rất nhiều thí nghiệm lớn nhỏ, nếu chỉ phụ thuộc vào các bộ
thí nghiêm thì chưa thể thể hiện hết được hiện tượng, ví dụ như hiện tượng quang
học trong vật lý 11, giáo viên làm thí nghiệm cho học sinh thấy hiện tượng ánh
sáng đi qua thấu kính hội tụ, thấu kính phân kỳ… nhưng học sinh không thể nắm
rõ được các đường đi, các tiêu điểm… của thấu kính, và với các trường hợp khác
nhau thì hình ảnh được tạo ra như thế nào? Học sinh nắm bài rất mơ hồ vì
không thể kịp thời nắm bắt nhiều kiến thức như vậy trong hai tiết học giới hạn
trên lớp Việc xây dựng bài giảng điện tử với sự hỗ trợ của Adobe Presenter sẽ
khắc phục được những khó khăn đó Với bài giảng thông thường được xây dựng
bằng Powerpoint học sinh sẽ được quan sát các hình ảnh, các hiện tượng mô
phỏng rõ ràng hơn, chi tiết hơn, sinh động và dễ hiểu hơn rất nhiều Sử dụng
Adobe Presenter, sẽ giúp chuyển đổi các bài trình chiếu Powerpoint sang dạng
tương tác multimedia, có lời thuyết minh (narration) của giáo viên, có câu hỏi
Trang 23GVHD: PGS TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh 23 SVTH: Trần Nhật Linh
tương tác (quizze) và khảo sát (surveys), tạo hoạt động điều khiển dẫn dắt
chương trình (animation), và tạo mô phỏng (simulation) một cách chuyên nghiệp
Giúp giáo viên có thể thể hiện rõ mục tiêu, bản chất, vần đề cần trao đổi
Adobe Presenter đã biến Powerpoint thành công cụ soạn bài giảng
e-Learning, có thể tạo bài giảng để học sinh tự học, có thể ghi lại lời giảng, hình
ảnh bạn giảng bài, chèn các câu hỏi tương tác, chèn các bản flash thí nghiệm,
chèn các hoạt động ghi lại từ bất cứ phần mềm nào khác qua flash, có thể đưa bài
giảng lên giảng trực tuyến, cho phép học sinh trực tiếp làm bài tập trên hệ thống
câu hỏi Và học sinh có thể học thêm ngoài giờ lên lớp
Bài giảng điện tử e-Learning được đưa trực tiếp vào hệ thống Moodle (mã
nguồn mở) quản lý tài nguyên và quản lý học tập Bên cạnh đó xét về giá, nếu có
mua thì cũng còn rẻ hơn nhiều lần so với một số phần mềm tạo bài trình chiếu do
một số công ty khác trong nước sản xuất (đắt, cứng nhắc, bó hẹp trong một vài
ứng dụng, không hợp chuẩn)
Điều khẳng định là Adobe Presenter tạo ra bài giảng điện tử tương thích
với chuẩn quốc tế về eLearning là AICC, SCORM 1.2, and SCORM 2004
Trang 24GVHD: PGS TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh 24 SVTH: Trần Nhật Linh
CHƯƠNG II: KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG PHẦN MỀM ADOBE
PRESENTER TRONG VIỆC HỖ TRỢ XÂY DỰNG BÀI GIẢNG
E-LEARNING ĐỐI VỚI DẠY VÀ HỌC TRỰC TUYẾN PHẦN QUANG
HÌNH HỌC, VẬT LÝ 11 NÂNG CAO
1 Các tính năng của Adobe presenter
1.1 Thiết lập ban đầu cho bài gi ảng E-Learning
Nhấn vào nút lệnh sẽ cho màn hình sau:
Ta tiến hành đặt title (Tiêu đề) nội dung bài giảng và Themes (giao diện)
phù hợp sau đó chuyển sang chọn sang thẻ Playback và thẻ Quality để hiệu
chỉnh chất lượng cho âm thanh và phim ảnh (nên để chế độ mặc định là phù hợp
Trang 25GVHD: PGS TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh 25 SVTH: Trần Nhật Linh
Cuối cùng chọn thẻ Attackment để đính kèm thêm tài liệu văn bản hoặc
bảng tính bằng nút lệnh ADD Khi này một hộp thoại sẽ xuất hiện cho phép
người dùng lựa chọn tệp tin từ bất cứ nguồn tài nguyên nào (trên máy, trên
website khác)
1.2 Thiết lập các thông số về giáo viên
Vào menu Adobe Presenter chọn
Trong thẻ Presenter chọn Add Khi đó màn hình sau xuất hiện, chúng ta
tiến hành điền các thông tin như hướng dẫn bên dưới:
Attachment
Trang 26GVHD: PGS TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh 26 SVTH: Trần Nhật Linh
Trong trường hợp có nhiều người cùng thực hiện bài giảng này (hiếm khi)
thì vẫn có thể thực hiện thêm người trình bày bằng cách tương tự
Chọn từ menu của Adobe Presenter: Slide Manager => Sellect All =>
Edit: để chọn tên người báo cáo cho tất cả slide
Navigation name: Thay đổi tên slide để hiện thị cho gọn, nếu thấy cần
1.3 Chèn hình ảnh, âm thanh vào bài gi ảng
1.3.1 Chèn video:
Ví dụ
Hình 2.7: Bảng Slide Manager Hình 2.8: Thẻ Edit
Hình 2.5: Thẻ Presenter, cho phép
thiết lập các thông tin về giáo viên
Hình 2.6: Các thông tin sau khi được thiết lập xong
Trang 27GVHD: PGS TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh 27 SVTH: Trần Nhật Linh
Bạn có thể ghi hình video giáo viên giảng bài vào mỗi slide Hãy dùng
webcam ghi video
Để ghi hình trực tiếp (có webcam) chúng ta tiến hành chọn Capture khi
đó chúng ta tiến hành quay với nút , dừng với nút Ngoài ra có thể chèn
video (film) vào silde bằng việc chọn Import khi đó xuất hiện hộp thoại ta lựa
chọn video phù hợp cần chèn, và silde mà ta muốn chèn vào Ví dụ:
Đồng bộ âm thanh với hoạt động trên slide