1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khai thác tài nguyên biển phục vụ cho du lịch tỉnh thanh hóa giai đoạn 2005 2010 định hướng phát triển đến năm 2020

83 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khai Thác Tài Nguyên Biển Phục Vụ Cho Du Lịch Tỉnh Thanh Hóa Giai Đoạn 2005-2010. Định Hướng Phát Triển Đến Năm 2020
Tác giả Lê Thị Sam
Trường học Đại Học Đà Nẵng - Trường Đại Học Sư Phạm
Chuyên ngành Sư Phạm Địa Lý
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • A. MỞ ĐẦU (2)
    • 1. Lí do chọn đề tài (2)
      • 2.1 Mục tiêu (3)
      • 2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu (3)
    • 3. Lịch sử nghiên cứu (3)
      • 3.1. Ở Thế Giới (3)
      • 3.2. Ở Việt Nam (4)
      • 3.3 Ở Thanh Hóa (4)
      • 4.1 Quan điểm hệ thống (5)
      • 4.2 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ (5)
      • 4.3 Quan điểm kinh tế - sinh thái bền vững (5)
      • 4.4 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh (6)
      • 5.1 Phương pháp thực địa (6)
      • 5.2 Phương pháp thu thập, tổng hợp, phân tích tài liệu, xử lí số liệu (6)
      • 5.3 Phương pháp sử dụng bản đồ, biểu đồ (0)
      • 5.4 Phương pháp phỏng vấn (6)
      • 5.5 Phương pháp thu thập, phân tích và xử lý số liệu (7)
    • 6. Giới hạn của đề tài (7)
    • 7. Cấu trúc đề tài (7)
  • Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG (9)
    • 1.1 Các khái niệm liên quan (9)
      • 1.1.1 Du lịch (9)
      • 1.1.2. Du khách (9)
      • 1.1.3 Tài nguyên du lịch ......................................................................................... 10 1.1.4 Ý nghĩa của ngành du lịch với sự phát triển kinh tế, xã hội và môi trường 13 (10)
      • 1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến ngành du lịch (14)
    • 1.2 Cơ sở thực tiễn (17)
      • 1.2.1 Thực trạng phát triển du lịch của Việt Nam (17)
      • 1.2.2 Tình hình phát triển của vùng du lịch Bắc Trung Bộ (21)
  • CHƯƠNG 2. TÌNH HÌNH KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DU LỊCH BIỂN TỈNH THANH HOÁ GIAI ĐOẠN 2005 - 2010 (24)
    • 2.1 Khái quát chung về tự nhiên, KT-XH tỉnh Thanh Hoá (24)
      • 2.1.1 Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ (24)
      • 2.1.2 Đặc điểm về tự nhiên (24)
      • 2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội (27)
    • 2.2 Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch biển tỉnh Thanh Hoá (30)
      • 2.2.1 Các dạng tài nguyên du lịch biển tỉnh Thanh Hoá (30)
      • 2.2.2 Tình hình khai thác (44)
    • 2.3. Hiệu quả của việc khai thác (52)
      • 2.3.1 Kinh tế (52)
      • 2.3.2 Xã hội (54)
      • 2.3.3 Môi trường (54)
      • 2.3.4 Một số hạn chế (55)
  • Chương 3. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐẾN NĂM 2020 (57)
    • 3.1 Định hướng chung (57)
    • 3.2 Định hướng cụ thể (61)
      • 3.2.1 Đầu tư cơ sở vật chất – kỹ thuật, cải tạo, nâng cấp các điểm du lịch hiện có (61)
      • 3.2.2 Xây dựng và đưa vào hoạt động các điểm du lịch mới theo hướng hiện đại hoá, phù hợp với cảnh quan môi trường địa phương (65)
      • 3.2.3 Nghiên cứu phát triển đa dạng các loại hình du lịch biển (66)
      • 3.2.4 Nghiên cứu phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù của địa phương (66)
      • 3.2.5 Ứng dụng khoa học – kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực (67)
      • 3.2.6 Củng cố và mở rộng thị trường du lịch (68)
      • 3.2.7 Chính sách ưu đãi đối với tổ chức, cá nhân (trong và ngoài nước) đầu tư phát triển du lịch biển tại tỉnh Thanh Hoá (68)
    • 3.3 Một số giải pháp (69)
      • 3.3.1 Bảo vệ tôn tạo các tài nguyên và môi trường du lịch (69)
      • 3.3.2 Đẩy mạnh công tác xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá du lịch (0)
      • 3.3.3 Phối hợp với các địa phương khác trong việc phát triển du lịch (71)
      • 3.3.4 Giữ gìn an ninh, trật tự an to àn xã hội (0)
    • 1. Kết luận (73)
    • 2. Kiến nghị (73)

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG

Các khái niệm liên quan

Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế xã hội đã dẫn đến nhu cầu gia tăng về các hoạt động tinh thần, đặc biệt là du lịch, trở nên phong phú và đa dạng hơn Điều này đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu từ nhiều người với các quan điểm khác nhau về du lịch.

Thuật ngữ du lịch bắt nguồn từ tiếng Pháp là Tour (nghĩa là một cuộc dạo chơi)

Theo I.I Nga Pizopnhic (1985), du lịch là hoạt động của con người trong thời gian rảnh, bao gồm việc di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên Mục đích của du lịch là để nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất, nâng cao kiến thức văn hóa và thể thao, đồng thời tiêu thụ các giá trị tự nhiên, kinh tế và văn hóa.

Khái niệm du lịch ngày càng được mở rộng, bao gồm tất cả các hoạt động của con người trong và ngoài nước, ngoại trừ cư trú chính trị, tìm việc làm hoặc xâm lược Tại Việt Nam, theo “Pháp lệnh du lịch” ký ngày 20/2/1999, du lịch được định nghĩa là hoạt động của con người bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí và nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.

Du khách là yếu tố quan trọng để đánh giá sự phát triển của ngành du lịch, ảnh hưởng lớn đến doanh thu và cơ cấu sản phẩm dịch vụ Định nghĩa về du khách lần đầu xuất hiện trong từ điển du lịch Oxford năm 1811, chỉ những người đến từ nơi khác với mục đích tham quan, du ngoạn.

Sau này có nhiều tác giả đã đưa ra khái niệm về du khách:

- Theo nhà kinh tế học người Anh Odgilvi “Khách du lịch loại khách đi xa một thời gian nhất định, tiêu một khoản tiền tiết kiệm được”

Theo Hiệp hội du lịch quốc tế, du khách quốc tế được định nghĩa là những người tạm trú tại một quốc gia khác trong thời gian từ 24 giờ trở lên, khác với nơi cư trú thường xuyên của họ.

Theo Jozeptander, nhà kinh tế học người Áo, khách du lịch là những người di chuyển theo sở thích đến những nơi ngoài nơi cư trú chính của họ để thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt cao cấp, mà không nhằm mục đích kinh tế.

Du khách đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động du lịch, là yếu tố then chốt để phát triển ngành du lịch Sự quan trọng của du khách không thể thiếu trong việc tạo ra trải nghiệm và thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành này.

Du lịch là một ngành kinh tế với định hướng rõ ràng dựa trên tài nguyên tự nhiên Tài nguyên du lịch không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức lãnh thổ du lịch mà còn hình thành sự chuyên môn hóa trong các ngành du lịch và nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của tài nguyên du lịch đến sự phát triển của ngành này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, đặc biệt là trình độ phát triển của nền kinh tế.

Tài nguyên du lịch bao gồm sự kết hợp giữa cảnh quan tự nhiên và các yếu tố lịch sử, văn hóa, kiến trúc, cùng với những giá trị văn hóa phi vật thể Những tài nguyên này không chỉ phục vụ cho dịch vụ du lịch mà còn đáp ứng nhu cầu chữa bệnh, nghỉ ngơi và tham quan của du khách.

Tài nguyên du lịch không chỉ đơn thuần là điều kiện tự nhiên hay văn hóa lịch sử, mà là giá trị tổng hợp từ các yếu tố tự nhiên, kinh tế và xã hội có khả năng phục vụ cho mục đích du lịch.

Tài nguyên du lịch ban đầu tồn tại như những điều kiện lao động của ngành du lịch, trước khi ngành này phát triển Khi nhu cầu xã hội gia tăng, các tài nguyên này được khảo sát, đánh giá và đưa vào sử dụng trong ngành du lịch, với chi phí lao động xã hội là yếu tố quyết định để biến chúng thành tài nguyên du lịch Đồng thời, tài nguyên du lịch cũng là một khái niệm lịch sử, biến đổi theo sự thay đổi của các điều kiện kinh tế - xã hội.

Tài nguyên du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển mạng lưới du lịch, bao gồm các tuyến và điểm du lịch Chúng giúp xác định vị trí các điểm du lịch, cũng như hỗ trợ trong việc xây dựng và tổ chức các chương trình du lịch hấp dẫn.

Tài nguyên du lịch được chia làm hai nhóm: tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn

- Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm: địa hình, khí hậu, nguồn nước, sinh vật

Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm các di tích văn hóa, lịch sử, kiến trúc, lễ hội, và các hoạt động du lịch gắn liền với truyền thống dân tộc Những yếu tố này không chỉ phản ánh bản sắc văn hóa mà còn tạo ra các trải nghiệm phong phú cho du khách thông qua các hoạt động văn hóa - thể thao và các hình thức nhận thức khác.

Tài nguyên du lịch đóng vai trò then chốt trong sự phát triển của ngành du lịch, định hướng rõ rệt cho tổ chức lãnh thổ và cấu trúc chuyên môn hóa Quy mô hoạt động du lịch phụ thuộc vào khối lượng tài nguyên, cũng như tính nhịp điệu và mùa vụ của chúng Sự kết hợp giữa số lượng và chất lượng tài nguyên có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển của ngành du lịch ở cả cấp độ vùng lãnh thổ và quốc gia.

* Tài nguyên du lịch tự nhiên

Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm các thành phần tự nhiên có khả năng phục hồi và phát triển thể lực, trí lực, cũng như sức khỏe và khả năng lao động của con người.

Tài nguyên này được lôi cuốn phục vụ cho nhu cầu cũng như sản xuất dịch vụ du lịch

Các dạng địa hình xâm thực đặc sắc : như địa hình karst, địa hình vùng núi granit, tạo ra cảm xúc thẩm mỹ mạnh ở du khách

Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Thực trạng phát triển du lịch của Việt Nam a Đặc điểm chung

Việt Nam sở hữu điều kiện địa lý tự nhiên phong phú và tiềm năng du lịch đa dạng, thu hút du khách bởi vẻ đẹp sinh thái và nền văn hóa đa dạng Đất nước này nổi bật với di sản văn hóa phong phú, các làng nghề truyền thống và những lễ hội đặc sắc gắn liền với các nhóm dân tộc.

Trong suốt 45 năm phát triển, ngành Du lịch luôn nhận được sự quan tâm từ Đảng và Nhà Nước, với việc xác định vị trí quan trọng của Du lịch trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, phù hợp với yêu cầu cách mạng qua từng giai đoạn phát triển.

Trong giai đoạn đất nước tạm thời bị chia cắt từ năm 1960 đến 1975, du lịch Việt Nam ra đời để phục vụ các đoàn khách của Đảng và Nhà nước Để đáp ứng nhu cầu này, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 26/CP vào ngày 09/07/1960, thành lập Công ty du lịch Việt Nam trực thuộc Bộ Ngoại thương.

Năm 1969, chức năng quản lý du lịch được chuyển giao từ Phủ Thủ tướng sang Bộ Công an Dù trong bối cảnh chiến tranh khó khăn và qua nhiều cơ quan quản lý khác nhau, ngành du lịch vẫn nỗ lực vượt qua thử thách, từng bước mở rộng các cơ sở du lịch tại Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Tam Đảo, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An và nhiều địa phương khác.

Ngành du lịch đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, đảm bảo phục vụ an toàn và chất lượng cho một lượng lớn khách từ Đảng, Nhà nước và các đoàn chuyên gia quốc tế.

Xã hội chủ nghĩa đã hỗ trợ Việt Nam thực hiện hai nhiệm vụ quan trọng: xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và giải phóng miền Nam để thống nhất đất nước Đồng thời, nó cũng tạo điều kiện cho việc đón tiếp và phục vụ nhu cầu du lịch, tham quan, nghỉ mát của cán bộ, bộ đội và nhân dân.

Sau khi miền Nam được giải phóng và đất nước thống nhất, ngành du lịch Việt Nam bắt đầu phát triển mạnh mẽ, mở rộng ra khắp các miền Tổ quốc Thời kỳ này chứng kiến sự hình thành bộ máy tổ chức và đội ngũ lao động cho ngành du lịch, đồng thời cải thiện cơ sở vật chất kỹ thuật để chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, ngành du lịch phải đối mặt với thách thức lớn từ hậu quả của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bao gồm việc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế và vượt qua tình trạng bao vây cấm vận của Mỹ, trong khi vẫn phải duy trì cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc và Tây Nam.

Từ năm 1975 đến 1990, ngành du lịch Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ, góp phần bảo tồn và phát triển các cơ sở du lịch tại các tỉnh, thành phố vừa được giải phóng Nhiều cơ sở mới đã được xây dựng và mở rộng từ Huế, Đà Nẵng, Bình Định đến Nha Trang, Lâm Đồng, thúc đẩy sự phát triển du lịch toàn quốc.

Hồ Chí Minh, Vũng Tàu và Cần Thơ đã thành lập các doanh nghiệp du lịch nhà nước trực thuộc Tổng cục Du lịch và Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố và đặc khu Sự ra đời của Tổng cục Du lịch Việt Nam vào tháng 6 năm 1978, trực thuộc Hội đồng Chính phủ, đánh dấu bước phát triển quan trọng của ngành du lịch Việt Nam.

Trong giai đoạn này, ngành du lịch Việt Nam đã nỗ lực vượt qua khó khăn để đón tiếp khách quốc tế, đặc biệt từ các nước Xã hội chủ nghĩa Du lịch không chỉ giới thiệu về đất nước và con người Việt Nam mà còn thúc đẩy giao lưu giữa hai miền Nam - Bắc, góp phần giáo dục tinh thần yêu nước và tự hào dân tộc Qua du lịch, thế giới hiểu rõ hơn về nguyện vọng hòa bình và phát triển của Việt Nam, đồng thời giúp phá vỡ bao vây cấm vận Về mặt kinh tế - xã hội, ngành du lịch đã có bước phát triển mạnh mẽ, tạo nền tảng vững chắc cho giai đoạn mới.

Bảng 2.1: Số lượng khách du lịch hàng năm

(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2011 )

Từ năm 1990 đến nay, ngành du lịch Việt Nam đã có sự khởi sắc đáng kể, với những thành tựu ban đầu quan trọng trong quản lý và phát triển Chỉ thị 46/CT-TƯ của Ban Bí thư Trung ương Đảng vào tháng 10 năm 1994 đã nhấn mạnh tầm quan trọng của phát triển du lịch như một chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội, góp phần vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Các cơ chế chính sách phát triển du lịch đã dần được hình thành và thể chế hóa bằng các văn bản quy phạm pháp luật, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ngành và nâng cao hiệu lực quản lý.

c Một số kết quả đã đạt được

Sau 45 năm hình thành và phát triển, được Đảng và Nhà nước quan tâm, các ngành, các cấp phối hợp, giúp đỡ, nhân dân hưởng ứng, bạn bè quốc tế ủng hộ, cùng với sự cố gắng nỗ lực của cán bộ, công nhân viên toàn ngành, Du lịch Việt Nam đã có những tiến bộ đáng ghi nhận trong việc chuẩn bị hành trang để vững bước tiến vào thế kỷ 21 với vai trò ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trong những năm qua, du lịch Việt Nam đã có sự tăng trưởng ổn định với tốc độ trung bình khoảng 20% Thị phần du lịch của Việt Nam trong khu vực đã tăng từ 5% năm 1995 lên trên 8% năm 2005, dẫn đến việc thu nhập từ ngành du lịch tăng lên nhiều lần Thành công này đã góp phần quan trọng giúp du lịch trở thành một trong những ngành có đóng góp lớn vào GDP của đất nước.

Hoạt động du lịch ngày càng thể hiện rõ hiệu quả kinh tế - xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo và làm giàu cho xã hội Sự phát triển của du lịch đã làm tăng tỷ trọng GDP của ngành trong tổng thu nhập quốc dân, cải thiện diện mạo đô thị và nông thôn, nâng cao đời sống người dân tại nhiều địa phương như Sa Pa, Hạ Long, và Hội An Du lịch không chỉ tạo ra khả năng tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ tại chỗ mà còn thúc đẩy các ngành khác phát triển, khôi phục lễ hội và nghề thủ công truyền thống Ngoài ra, du lịch còn thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mở rộng giao lưu giữa các vùng miền trong nước và quốc tế Theo ước tính năm 2012, ngành du lịch đã tạo ra trên 234.000 việc làm trực tiếp và khoảng 510.000 việc làm gián tiếp, đặc biệt cho thanh niên và phụ nữ.

Ngành du lịch Việt Nam vẫn còn nhỏ và chưa phát triển tương xứng với tiềm năng của mình, với tốc độ tăng trưởng việc làm thấp hơn mức trung bình khu vực Các ngành hỗ trợ du lịch chưa phát triển đồng bộ, trong khi hệ thống hạ tầng giao thông yếu kém và phương tiện vận tải lạc hậu Công nghệ thông tin và thương mại điện tử chưa được áp dụng rộng rãi trong quản lý tour du lịch, cùng với hoạt động xúc tiến du lịch ở nước ngoài còn yếu Dịch vụ giải trí, văn hóa, thể thao và ngân hàng chưa đáp ứng đủ nhu cầu, trong khi sản phẩm du lịch còn thiếu phong phú và đa dạng, gây khó khăn cho sự phát triển của ngành.

TÌNH HÌNH KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DU LỊCH BIỂN TỈNH THANH HOÁ GIAI ĐOẠN 2005 - 2010

Khái quát chung về tự nhiên, KT-XH tỉnh Thanh Hoá

2.1.1 Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ

Thanh Hóa, tỉnh nằm ở địa đầu vùng kinh tế Bắc Trung Bộ, có diện tích 11.106,3 km², đứng thứ hai trong vùng và thứ năm cả nước Tỉnh còn sở hữu 18.000 km² vùng biển thuộc Biển Đông.

Tọa độ địa lý của Thanh Hóa được xác định như sau:

- Điểm cực Bắc : nằm ở vĩ độ 20 0 40’ B, thuộc xã Trung Sơn, Quan Hóa

- Điểm cực Nam: nằm ở vĩ độ 19 0 18'B thuộc xã Hải Hòa - Tĩnh Gia

- Điểm cực Đông được kinh độ 106 0 05’ Đ thuộc xã Nga Điền – Nga Sơn

- Điểm cực Tây : nằm ở vĩ độ 104 0 20’Đ ,thuộc xã Quang Điền – huyện Quang Chiểu – Mường Lát

Thanh Hóa có vị trí địa lý tiếp giáp với nhiều tỉnh thành và quốc gia: phía Bắc giáp Ninh Bình, Hòa Bình, Sơn La với đường ranh giới dài 175 km; phía Nam giáp Nghệ An với đường ranh giới dài 160 km; phía Đông giáp biển Đông với bờ biển dài 102 km; và phía Tây giáp Lào với đường biên giới dài 192 km.

Thanh Hóa, với vị trí địa lý chiến lược, đóng vai trò là cầu nối giữa các tỉnh phía Bắc và phía Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu và trao đổi thương mại không chỉ trong nước mà còn với các quốc gia trong khu vực và toàn cầu.

2.1.2 Đặc điểm về tự nhiên a Đặc điểm địa hình Đặc điểm nổi bật của địa hình Thanh Hóa là nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam Từ những đồi núi cao khoảng 1000 - 1500m ở phía Tây Bắc, địa hình trở nên thoải dần, kéo dài và mở rộng về phía Đông Nam Vùng đồi núi chiếm 3/4 diện tích còn vùng đồng bằng chỉ chiếm 1/4 diện tích lãnh thổ Nhìn chung địa hình Thanh Hóa có thể chia thành các tiểu vùng sau:

Tiểu vùng miền núi và trung du của Thanh Hóa chiếm phần lớn diện tích lãnh thổ tỉnh, với độ cao trung bình trên 1000m Mặc dù miền đồi trung du có diện tích hạn chế, nhưng nó vẫn nằm trong hệ thống miền núi – trung du của tỉnh, không được tách biệt thành một bộ phận riêng.

Đồng bằng Thanh Hóa, với diện tích 680 nghìn ha, là vùng đồng bằng lớn nhất miền Trung và đứng thứ ba cả nước Khu vực này có đầy đủ đặc điểm của một đồng bằng châu thổ, nhờ vào phù sa được bồi đắp từ các hệ thống sông như sông Mã, sông Yên và sông Hoạt.

Khu vực này bao gồm các huyện và thị xã như Nga Sơn, Hậu Lộc, Hằng Hóa, Sầm Sơn, Quảng Xương, Nông Cống và Tĩnh Gia, trải dài dọc theo bờ biển Nơi đây có vùng sình lầy ở Nga Sơn cùng với các cửa sông như sông Mã, sông Hoạt và sông Bạng Địa hình tương đối bằng phẳng với nhiều bãi tắm và khu vực có tiềm năng lấn biển Khí hậu nơi đây cũng có những đặc điểm riêng biệt.

Khí hậu Thanh Hóa mang tính chất nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt:

Mùa nóng kéo dài từ cuối mùa xuân đến giữa mùa thu, đặc trưng bởi nắng nóng và mưa nhiều Thời gian này thường xảy ra bão lụt và hạn hán, cùng với sự xuất hiện của gió mùa Tây Nam, khiến nhiệt độ có thể đạt tới 39-40 độ C.

Mùa lạnh kéo dài từ giữa mùa thu đến hết mùa xuân, thường có ít mưa và gió mùa đông bắc xuất hiện Đặc điểm của đầu mùa lạnh là khô ráo, trong khi cuối mùa lạnh lại ẩm ướt hơn.

Thanh Hóa có khoảng 1650 giờ nắng mỗi năm, với tháng 7 là tháng có số giờ nắng cao nhất, trong khi tháng 2 và tháng 3 có giờ nắng ít nhất Tổng lượng nhiệt hoạt động hàng năm đạt 8600 °C, với nhiệt độ trung bình dao động từ 23,3 đến 23,6 °C Vào mùa hè, nhiệt độ có thể vượt quá 40 °C, trong khi mùa đông, nhiệt độ có thể giảm xuống chỉ còn 5-6 °C.

Thanh Hóa có lượng mưa trung bình từ 1730 đến 1980mm mỗi năm, với mùa mưa diễn ra từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm khoảng 85% tổng lượng mưa hàng năm Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, chỉ chiếm 15% lượng mưa Độ ẩm không khí trung bình ở đây đạt từ 80 đến 85%.

Về chế độ gió mùa : Ở Thanh Hóa thường có 3 loại gió xuất hiện trong một năm đó là

- Gió mùa mùa đông (hay còn gọi là gió mùa đông bắc) là khối không khí từ cao áp Xibia thổi về trong mùa đông mang thời tiết lạnh

Gió mùa Tây Nam, hay còn gọi là gió Lào, là khối khí di chuyển từ vịnh Bengan qua Thái Lan và Lào vào Việt Nam, mang theo đặc tính khô và nóng do hiệu ứng phơn.

- Gió Đông Nam là khối khí thổi từ biển Đông vào nên mát mẻ nhiều

Khí hậu xứ Thanh mang lại nhiều thuận lợi nhưng cũng gây ra không ít khó khăn cho sự phát triển kinh tế xã hội Để phát triển bền vững, Thanh Hóa cần áp dụng các biện pháp hiệu quả nhằm khai thác tối đa những lợi thế khí hậu, đồng thời khắc phục các thách thức do yếu tố khí hậu gây ra Các đặc điểm thuỷ văn và hải văn cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình này.

Thanh Hóa có hệ thống sông ngòi phong phú với 16 con sông chính và nhánh, tổng chiều dài lên đến 1.072 km, trong đó sông Mã dài 528 km Mật độ sông ngòi tại đây dao động từ 0,1 đến 1,06 km/km² Hằng năm, các sông ở Thanh Hóa cung cấp khoảng 20 tỉ m³ nước ra biển, đáp ứng đầy đủ nhu cầu nước cho sản xuất và sinh hoạt của người dân Ngoài ra, tỉnh còn sở hữu nhiều hồ và đập thủy điện có giá trị quan trọng trong đời sống và sản xuất.

Đặc điểm thủy văn của tỉnh Thanh Hóa không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái Do đó, tỉnh cần xây dựng các chiến lược cụ thể để khai thác hiệu quả các lợi thế này, nhằm phát triển ngành du lịch bền vững và nâng cao giá trị cảnh quan.

Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch biển tỉnh Thanh Hoá

2.2.1 Các dạng tài nguyên du lịch biển tỉnh Thanh Hoá

Du lịch biển đang trở thành một chiến lược quan trọng trong phát triển ngành du lịch, nhằm khai thác cảnh quan và sinh thái ven biển để thúc đẩy kinh tế, nâng cao thu nhập cho người dân, đồng thời gia tăng ngân sách cho cả trung ương và địa phương.

Thanh Hóa sở hữu bờ biển dài 102 km và vùng lãnh hải 1,7 km², cùng với nhiều cửa lạch và đảo ven bờ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế biển Khu vực này có tiềm năng lớn để khai thác các loại hình du lịch biển đảo đa dạng, bao gồm du lịch tắm biển, nghỉ dưỡng, sinh thái, thể thao mạo hiểm, tàu biển, cũng như du lịch hội nghị và hội thảo, nhờ vào những lợi thế cạnh tranh nổi bật.

Vùng biển Thanh Hoá nằm ở bờ tây vịnh Bắc Bộ có vị trí địa lý 19 0 18' -

Vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền Việt Nam nằm trong tọa độ 20°30' vĩ độ Bắc và 105°30' - 107°30' kinh độ Đông, bao gồm cả các hải đảo và phần đất liền ven biển.

Vùng đất liền ven biển bao gồm 6 huyện và thị xã: Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoàng Hoá, Quảng Xương, Tĩnh Gia và thị xã Sầm Sơn, với dân số năm 2010 đạt 1.076,7 ngàn người, chiếm 31,6% tổng dân số tỉnh Diện tích tự nhiên trên đất liền là 123.600 ha, tương đương 11,1% tổng diện tích đất đai của tỉnh Vùng này được ngăn cách với đồng bằng Bắc Bộ bởi dãy Tam Điệp ở phía Bắc và dãy núi Xước ở phía Nam, tạo nên sự phân chia địa hình rõ rệt.

Khu vực này có địa hình tương đối bằng phẳng với những ngọn đồi và núi nhỏ gần biển, nghiêng dần từ tây sang đông và từ tây bắc xuống đông nam Đặc biệt, khu vực Tây Nam huyện Tĩnh Gia có độ dốc lớn do tiếp giáp với vùng đồi núi Như Xuân Bờ biển hình cánh cung và có bốn hệ thống sông chính là sông Hoạt, sông Mã, sông Yên và sông Bạng, đổ ra biển qua năm cửa lạch chính: Lạch Sung, Lạch Trường, Lạch Hới, Lạch Ghép và Lạch Bạng, phân bố đồng đều trên lãnh thổ.

Vùng biển Thanh Hóa sở hữu 7 hòn đảo xinh đẹp, bao gồm Đảo Mê, Nẹ, Hộp, Góc, Miệng, Đót và Nghi Sơn, với tổng diện tích lên tới 810 ha Các đảo này nằm trong đường cơ sở, thuộc nội thủy, tạo nên một hệ sinh thái đa dạng và phong phú cho khu vực.

Mê cách bờ 10 km, các đảo nghề cá là nơi trú đậu cho tàu thuyền và là thắng cảnh thiên nhiên hấp dẫn Vùng lãnh hải 12 hải lý trở vào có diện tích khoảng 700 hải lý vuông, chia thành hai vùng rõ rệt Vùng biển phía Bắc từ Nga Sơn đến cửa Hới nông, với độ sâu 20 mét cách bờ 30 km, có nhiều cồn cát và rạm ngầm Bờ biển ở đây được bồi thường xuyên, trung bình hàng năm lấn ra biển 5 – 8 m Ngược lại, vùng biển phía Nam từ cửa Hới đến Nghi Sơn - Tĩnh Gia có thềm biển hẹp và sâu, đáy biển bằng phẳng với độ sâu 14 - 18 m tại khu vực đảo Mê - Vụng Nghi Sơn Chế độ thủy triều không đều, với chu kỳ chênh lệch từ 30 phút đến 1 giờ, thời gian thủy triều lên 8 - 9 giờ và xuống 14 - 15 giờ, độ lớn trung bình từ 130-160 cm, lớn nhất 324 cm tại cửa Hới Khu vực này nằm ở cửa vịnh Bắc bộ, chịu ảnh hưởng của dòng hải lưu nóng và lạnh, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của phù du sinh vật biển.

Biển Thanh Hóa có nguồn lợi hải sản phong phú với trữ lượng cá đạt từ 140.000 đến 165.000 tấn mỗi năm, chiếm khoảng 3% tổng trữ lượng cá biển của cả nước Đặc biệt, các loại hải sản quý như tôm he, tôm hùm và mực có giá trị kinh tế cao Ngư trường Thanh Nghệ Tĩnh và ngư trường cửa vịnh Bắc Bộ là những địa điểm nổi tiếng tại miền Bắc với nguồn lợi hải sản đa dạng.

Thanh Hoá sở hữu bờ biển dài 102 km và vùng biển đặc quyền kinh tế rộng lớn, đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Biển không chỉ ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng và môi trường của tỉnh mà còn góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá Sau hơn 20 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, tiềm lực kinh tế biển của Thanh Hoá ngày càng được khẳng định và phát triển mạnh mẽ.

Thanh Hóa, nằm ở vùng Bắc Trung Bộ, sở hữu nhiều tài nguyên du lịch phong phú, đặc biệt là tiềm năng du lịch tự nhiên với tài nguyên biển đa dạng.

Bờ biển Thanh Hóa nổi bật với vẻ đẹp tự nhiên, bãi cát trắng mịn và nước biển trong xanh, cùng với nhiệt độ lý tưởng từ 25 o C đến 27 o C vào mùa hè và 20 o C vào mùa đông Địa hình nơi đây không chỉ thuận lợi cho việc tắm biển mà còn tạo ra nhiều cảnh quan du lịch hấp dẫn, bao gồm bốn bãi biển đã được khai thác và hệ thống đảo ven bờ phong phú Tài nguyên biển đặc thù này tạo cơ hội cho việc phát triển các sản phẩm du lịch biển cạnh tranh cao, góp phần hình thành các điểm, cụm, và trung tâm du lịch biển quy mô khu vực và quốc tế.

Vùng biển Thanh Hóa không chỉ nổi bật với tiềm năng du lịch biển mà còn sở hữu nhiều di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, làng nghề truyền thống và các lễ hội phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch.

UBND tỉnh Thanh Hóa đã phê duyệt các quy hoạch chi tiết phát triển du lịch biển, xác định khu du lịch Sầm Sơn là trọng điểm của tỉnh Ngoài Sầm Sơn, các điểm du lịch vệ tinh như Hải Tiến, Hải Hòa và Nam Sầm Sơn cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển du lịch biển Du khách đến biển Thanh Hóa sẽ được trải nghiệm cảnh quan thiên nhiên đa dạng với núi, biển, rừng, đảo và vịnh, mang lại cảm giác gần gũi với cội nguồn và nguồn cảm hứng độc đáo.

Nhiệt độ trung bình ban ngày không quá cao, điều này giúp du khách phương Bắc dễ chịu hơn khi tham quan Nhiệt độ vừa phải cho phép họ thoải mái phơi nắng Vào ban đêm, nhiệt độ cũng không cao, tạo điều kiện lý tưởng cho du khách tận hưởng không gian mát mẻ, thuận lợi cho việc đi dạo, giải trí và có giấc ngủ ngon.

Nhiệt độ nước biển lý tưởng cho du lịch tắm biển là từ 20 đến 30 độ C Động thực vật biển không chỉ đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái mà còn thu hút du khách muốn khám phá và thưởng thức hải sản đặc trưng của địa phương Những điểm đến có nhiều tôm, cá và san hô sẽ càng hấp dẫn hơn đối với các nhà thám hiểm và những người yêu thích khám phá vẻ đẹp của đại dương.

Hiệu quả của việc khai thác

Du lịch là một chiến lược quan trọng trong phát triển ngành du lịch, nhằm khai thác cảnh quan và sinh thái ven biển để thúc đẩy kinh tế, nâng cao thu nhập cho người dân, và gia tăng ngân sách cho cả Trung ương lẫn địa phương.

Doanh thu từ du lịch biển hàng năm đạt hàng trăm tỷ đồng, chiếm 65-70% tổng doanh thu du lịch của tỉnh, đóng vai trò quan trọng trong việc tái sản xuất kinh tế địa phương.

Sự phát triển của ngành du lịch biển không chỉ thúc đẩy ngành du lịch của tỉnh mà còn kích thích sự phát triển của các ngành công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và dịch vụ khác.

Việt Nam đã được xếp hạng trong top 10 điểm đến hàng đầu thế giới, với hiệu quả du lịch ngày càng rõ rệt trên nhiều phương diện Hoạt động du lịch không chỉ thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác mà còn tạo ra nhu cầu tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ tại chỗ mỗi năm Đầu tư từ cả nhà nước và tư nhân vào cơ sở hạ tầng và trang thiết bị du lịch đang gia tăng Hệ thống các khu, điểm, và tuyến du lịch được hoàn thiện, góp phần thay đổi diện mạo và khẳng định vai trò quan trọng của ngành du lịch trong sự phát triển kinh tế - xã hội.

Du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Thanh Hóa, với doanh thu tăng trưởng ấn tượng qua các năm Cụ thể, doanh thu du lịch của tỉnh từ 84.126 triệu đồng vào năm 2000 đã tăng lên 245.900 triệu đồng vào năm 2005 và đạt 1.005.000 triệu đồng vào năm 2010 Trong đó, doanh thu từ lưu trú và ăn uống đóng góp phần lớn vào tổng doanh thu du lịch.

Du lịch biển đã đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của vùng biển Thanh Hóa, với quy mô GDP năm 2010 tăng gấp 1,87 lần so với năm 2005 GDP bình quân đầu người đạt 645 USD vào năm 2010, cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong đời sống kinh tế của người dân địa phương.

Du lịch biển đang phát triển mạnh mẽ, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại các khu du lịch biển, làm tăng tỷ trọng ngành dịch vụ và giảm tỷ trọng ngành ngư nghiệp Doanh thu du lịch bình quân hàng năm đã tăng 38,1%, trong khi số lượt khách đến các khu du lịch biển cũng tăng 21,9%.

Sự phát triển du lịch biển đã nâng cao môi trường đầu tư, thu hút nhiều dự án tại các khu vực như Sầm Sơn, Hải Hòa, Hải Tiến và khu kinh tế Nghi Sơn.

Hoạt động du lịch biển đã thúc đẩy sự phát triển của cơ sở hạ tầng giao thông, điện, nước, bưu chính viễn thông, tài chính và ngân hàng, góp phần cải thiện dần các khu vực khó khăn.

Du lịch mang lại nhiều lợi ích nhưng cũng gây ra những hạn chế, ảnh hưởng đáng kể đến người dân Sự phát triển của ngành du lịch dẫn đến sự gia tăng tiêu dùng sản phẩm, làm giá cả các mặt hàng tăng vọt, gây khó khăn cho những người có thu nhập thấp.

Khai thác tài nguyên du lịch biển đã thúc đẩy giao lưu giữa các huyện trong tỉnh, nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau Qua từng tuyến du lịch, du khách và địa phương có cơ hội tiếp xúc, trao đổi, học hỏi, từ đó trau dồi những giá trị văn hóa tốt đẹp và rút ra bài học kinh nghiệm quý báu.

Phát triển du lịch biển không chỉ thay đổi diện mạo của các khu du lịch mà còn góp phần nâng cao đời sống kinh tế xã hội tại Thanh Hóa, tạo ra nhiều cơ hội việc làm và tăng thu nhập cho người dân, đồng thời giúp phân bố dân cư và lao động một cách hợp lý.

Du lịch biển giúp cho hoạt động văn hóa – xã hội, đời sống vùng ven biển nâng lên

Công tác giáo dục và đào tạo đã có những cải thiện đáng kể, với việc mở rộng mạng lưới trường lớp để đáp ứng nhu cầu học tập của trẻ em trong khu vực Nhờ đó, đội ngũ nhân lực trong ngành du lịch không chỉ tăng về số lượng mà còn cải thiện rõ rệt về chất lượng, đặc biệt là trình độ ngoại ngữ và khả năng giao tiếp.

Du lịch biển phát triển có nhiều trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp được mở ra phục vụ cho ngành du lịch

Sự phát triển du lịch biển không chỉ thúc đẩy kinh tế mà còn đảm bảo tình hình chính trị, an ninh trật tự và an toàn xã hội, nhờ vào sự tham gia tích cực của các ban ngành và đoàn thể xã hội.

Du lịch biển phát triển giúp cho các địa phương xích lại gần nhau hơn, liên kết với nhau tạo nên những sản phẩm đặc trưng cho tỉnh

Lối sống và phong cách ăn mặc của du khách, đặc biệt là khách du lịch nước ngoài, đang có ảnh hưởng đến thói quen sinh hoạt của người dân địa phương, dẫn đến việc văn hóa Á Đông ngày càng bị mai một.

Khai thác tài nguyên du lịch phục vụ cho việc phát triển du lịch biển vừa đem lại những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực cho môi trường

Khai thác hợp lý nguồn tài nguyên hợp lý sẽ đem lại môi trưòng xanh, sạch đẹp cho địa phương phát triển du lịch

Phát triển du lịch biển thường có sự đầu tư quản lý của các ban ngành, các nhà đầu tư nên môi trường du lịch cũng được cải thiện

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐẾN NĂM 2020

Ngày đăng: 08/05/2021, 20:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đình Trung Kiên, Một số vấn đề về du lịch Việt Nam, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, năm 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về du lịch Việt Nam
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
4. Trần Đức Thanh, Nhập môn Khoa học du lịch, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, năm 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn Khoa học du lịch
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
5. Nguyễn Minh Tuệ, Nguyễn Viết Thịnh, Lê Thông, Địa lý KT – XH đại cương, năm 2005, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý KT – XH đại cương
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
7. Lê Thông, Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Minh Tuệ, Địa lý KT – XH Việt Nam, NXB Đại học sư phạm, năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý KT – XH Việt Nam
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
8. Bùi Thị Hải Yến, Tài nguyên du lịch, NXB Giáo dục, năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên du lịch
Nhà XB: NXB Giáo dục
9. Tìm hiểu tình hình phát triển du lịch tỉnh Thanh Hóa giai đọan (2000 - 2007). Định hướng và giải pháp phát triển đến năm 2015. Nguyễn Thị Linh (2009) Khác
10. Tài liệu 100 năm du lịch Sầm Sơn. UBND thị xã Sầm Sơn.(2007) Khác
11. Đánh giá điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội để phát triển du lịch của thị xã Sầm Sơn Khác
12. Tạp chí du lịch 13. Trang web:http//www. google.com.vn http.samson.vn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w