1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu vận dụng một số phương pháp tự học nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn vật lý thông qua chương động lực học chất điểm vật lý 10 nâng cao trung học phổ thông

82 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với lý do đó mà tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu vận dụng một số phương pháp tự học nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Vật lý thông qua chương Động lực học chất điểm Vật lý 10 Nâng ca

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

10 Nâng cao trung học phổ thông

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

SƯ PHẠM VẬT LÝ

Trang 2

Vật lý được xem là ngành khoa học cơ bản bởi vì các định luật vật lý chi

phối tất cả các ngành khoa học tự nhiên khác Điều này có nghĩa là những ngành khoa học tự nhiên như sinh học, hoá học, địa lý học chỉ nghiên cứu từng phần cụ thể của tự nhiên và đều phải tuân thủ các định luật vật lý Vật lý còn có quan hệ mật thiết với toán học Các lý thuyết vật lý là bất biến khi biểu diễn dưới dạng các quan hệ toán học, và sự xuất hiện của toán học trong các thuyết vật lý cũng thường phức tạp hơn trong các ngành khoa học khác

Chính vì điều đó mà Vật lý học là môn học cơ bản trong tất cả các trường phổ thông ở nước ta( kể cả trung học cơ sở và trung học phổ thông ).Chương trình học của môn học Vật lý kéo dài đến 7 năm học ( từ lớp 6 đến lớp 12) chính vì vậy việc nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Vật lý cho học sinh trung học phổ thông nói riêng và học sinh trung học là rất cần thiết

Trong thời đại hội nhập Quốc tế và công nghệ thông tin các trường trung học phổ thông ở nước ta cũng mở rộng quy mô cũng như thay đổi các phương thức dạy

và học Như I.A Gontcharov đã nói: “Các bài giảng của giáo sư, cho dù có đầy

đủ, súc tích đến đâu, có chứa chan tình yêu tri thức của bản thân giáo viên đến đâu, thì về thực chất, mà nói, đó chẳng qua cũng vẫn chỉ là chương trình, là những lời chỉ dẫn tuần tự để điều chỉnh trật tự nhận thức của sinh viên Người nào chỉ biết ngồi nghe giáo sư giảng chứ bản thân mình trong lòng không cảm thấy khát khao đọc sách, thì có thể nói tất cả những điều người ấy nghe giảng ở trường đại học cũng sẽ chỉ như một toà nhà xây trên cát mà thôi” Việc dạy và học ở trường trung

học phổ thông cũng như vậy Tuy nhiên chưa có bất cứ lý luận nào cụ thể về việc

dạy học Vật lý ở trường phổ thông Để nâng cao chất lượng dạy và học, dạy học

Trang 3

môn Vật lý ở các trường trung học phổ thông cũng đã có một số tác giả bàn đến vấn

đề tự học, dạy – tự học, nghiên cứu của học sinh Nâng cao chất lượng dạy và học của các trường trung học phổ thông là một nhiệm vụ hết sức cấp thiết bởi vì sản

phẩm đào tạo của các trường trung học phổ thông là “nguồn nguyên liệu” cho các

trường đại học, cao đẳng và trung cấp trong cả nước – nơi đào tạo ra các sản phẩm đào tạo đóng góp quan trọng trong nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước Có thể khẳng định lợi thế thuộc về những quốc gia có nguồn nhân lực bậc cao đáp ứng nhu cầu khoa học công nghệ trong thời đại mới

Với lý do đó mà tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu vận dụng một số phương

pháp tự học nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Vật lý thông qua chương Động lực học chất điểm Vật lý 10 Nâng cao trung học phổ thông”

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Nghiên cứu vận dụng những phương pháp tự học của học sinh ở trường

trung học phổ thông thông qua chương Động lực học chất điểm Vật lý 10 Nâng cao

trung học phổ thông

- Hình thành cơ sở lý luận cho việc cho vấn đề dạy học, dạy - tự học, nghiên

cứu học sinh trung học phổ thông

- Tạo được thư viện gồm các câu hỏi, bài tập tự luận, bài tập trắc nghiệm

nhằm hỗ trợ cho việc dạy và học chương Động lực học chất điểm Vật lý 10 Nâng

cao trung học phổ thông

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu của đề tài

- Học sinh trường Trung học phổ thông, quan tâm đến các học sinh lớp 10

- Nội dung, chương trình Sách giáo khoa Vật lý 10 Nâng cao, quan tâm

chương Động lực học chất điểm

- Phương pháp dạy học môn Vật lý đối với học sinh các trường trung học phổ thông, đặc biệt là các phương pháp dạy học, dạy – tự học

* Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ nghiên cứu dạy học chương Động lực học chất điểm Vật lý 10

Nâng cao trung học phổ thông

Trang 4

4 Giả thuyết khoa học

Nếu vận dụng phương pháp tự học trong dạy học chương Động lực học chất

điểm Vật lý 10 Nâng cao trung học phổ thông một cách hợp lý, đạt hiệu quả sẽ góp

phần nâng cao chất lượng dạy và học chương Động lực học chất điểm nói riêng và

bộ môn Vật lý trong chương trình Vật lý trung học phổ thông nói chung

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận về tự học và các phương pháp tự học

- Nghiên cứu nội dung bộ sách Vật lý dành cho học sinh các trường trung

học phổ thông, quan tâm chương Động lực học chất điểm Vật lý 10 Nâng cao trung

học phổ thông

- Vận dụng một số phương pháp tự học vào dạy học chương Động lực học

chất điểm Vật lý 10 Nâng cao trung học phổ thông theo chương trình dành cho học

sinh trường Trung học phổ thông

6 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lý thuyết: Đọc các tài liệu liên quan đến đề tài, lý luận dạy học

Vật lý, dạy học phát triển và các phương pháp dạy học vật lý , bộ sách Vật lý trung học phổ thông

- Nghiên cứu thực tiễn: điều tra việc giảng dạy Vật lý ở trường trung học

phổ thông về chương trình, nội dung, phương pháp dạy học chương Động lực học

chất điểm

- Thực nghiệm sư phạm: để đánh giá giả thuyết khoa học đã đề xuất

7 Cấu trúc khóa luận tốt nghiệp

Bài nghiên cứu gồm có 3 phần:

I MỞ ĐẦU

II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Vận dụng phương pháp tự học cho

học sinh trường Trung học phổ thông

Chương 2: Vận dụng phương pháp tự học và dạy – tự học cho học sinh

thông qua chương Động lực học chất điểm

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

III KẾT LUẬN

Trang 5

Chương I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC

CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 Tự học trong quá trình dạy học trong nhà trường

- Trong lịch sử giáo dục vấn đề tự học được quan tâm từ rất sớm Ý tưởng dạy học coi trọng người học, chú trọng đến người học đã có từ thời cổ đại, tuỳ theo từng giai đoạn lịch sử và mức độ phát triển của xã hội mà ý tưởng phát triển và trở thành quan điểm dạy học tiến bộ ngày nay Phương Tây cổ đại có phương pháp dạy

học của Socrate (Hy Lạp,469-390 TCN), Arixtốt (384-322 TCN) nhằm mục đích phát hiện “chân lý” bằng cách đặt câu hỏi để cho người học tự tìm ra kết luận Socrate gọi là “phép đỡ đẻ” khẩu hiệu dạy học của ông là “anh phải tự biết lấy

anh” Khổng Tử (479-355 TCN ) ở phương Đông dạy học theo đối tượng và kích

thích suy nghĩ của học sinh “Không tức giận vì muốn biết thì không gợi mở cho,

không bực vì không rõ được bày vẽ cho Vật có 4 góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc thì không dạy nữa” ( Luận ngữ )

- Đến thời kỳ Phục Hưng ở Châu Âu, dạy học lấy người học làm trung tâm

đã trở thành một tư tưởng, có nhiều nhà giáo dục vĩ đại đã coi trọng tự học

Môngtennhơ (1533-1592) được coi là một trong các ông tổ của Châu Âu cho rằng

muốn dạy học có hiệu quả, không nên bắt buộc trẻ em phải làm theo những ý muốn

chủ quan của thầy J.A Komenxki (1592-1670) kêu gọi người người thầy phải làm

theo những hứng thú trong học tập từ đó nỗ lực bản thân tự nắm vững trí thức J.J

Rousseau (1712-1778) yêu cầu người dạy cần hiểu rõ người học và quan tâm đến lợi ích của người học Ông nói: “Đừng cho trẻ em khoa học,mà để trẻ tự phát

minh” A.Disterwerg (1780-1866): “Người thầy giáo tồi truyền đạt chân lý, người thầy giáo giỏi dạy cách tìm ra chân lý” K.Đ.Usinki (1824-1873) cho rằng muốn

dạy học tốt cần tìm hiểu tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh Fuorrier (1772 – 1837 )

rất coi trọng việc dạy học với thực tế J.Dewey (1859-1852) chủ trương giáo dục

phải dựa vào kinh nghiệm thực tế của trẻ Việc giảng dạy phải kích thích được hứng thú , phải để trẻ độc lập tìm tòi , thầy giáo là người tổ chức, người thiết kế, người cố vấn

Trang 6

- Ở Liên Xô (cũ) nhiều tài liệu về vấn đề tự học và vấn đề tự đọc được xuất bản Chẳng hạn N.A Rubakin có nhiều tài liệu chuyên bàn về vấn đề tự học như:

“Tự học như thế nào”(Nước Nga Xô Viết-M 1962- NXB Thanh niên, Hà Nội –

1982), “Tâm lý người học” (Nhà nước –M 1992)… A.A Gorơxepxki và M.I

Liubinxưna ( Đại học tổng hợp Lêningrat) trong “Tổ chức công tác tự học của sinh

viên Đại học”, đã tổng kết những kinh nghiệm cá nhân trong công tác dạy học ở trường Đại học và đưa ra một số đề nghị về cách học hiệu quả của sinh viên

- Phong trào “Nhà trường mới” đầu thế kỷ XX đề cao sự hoạt động tích cực

của học sinh, khuyến khích học sinh tự sắp xếp thời gian học theo khả năng, tự học lấy cho mình, tự mình thấy trách nhiệm trước việc học tập Trong dạy học đã tiến hành phân hoá, coi trọng cá thể hoá, họ chủ trương để cho trẻ hoàn toàn tự do, phát triển trong từng trẻ em năng khiếu riêng biệt Những tâm lý này đã được nhiều nhà tâm lý, Giáo dục đề cập đến như O.Decroly, C.Freinel, J.Piagiet, B.F Skinner,…

- Những năm cuối thế kỷ XX giáo dục toàn cầu càng nhấn mạnh đến giáo dục lấy học sinh làm trung tâm, coi trọng tự học, tự đào tạo Quan niệm mới về

“Học tập suốt đời: một động lực đào tạo” sẽ giúp con người đáp ứng những yêu

cầu thế giới thay đổi nhanh chóng Điều này thể hiện những đòi hỏi chẳng những có

thật mà còn đang ngày càng mãnh liệt “Không thể thoả mãn những đòi hỏi đó

được, nếu mỗi con người không học cách học” Học cách học chính là học cách tự

học, tự đào tạo

Ở Việt Nam vấn đề tự học cũng đã ra đời từ rất xa xưa Thời phong kiến thầy

đồ dạy học thường kèm cặp một nhóm nhiều đối tượng có trình độ khác nhau Các thầy phải chú ý đến trình độ, đặc điểm tính cách của từng đối tượng và có biện pháp dạy thích hợp Người học tự học thông qua hình thức có thầy trực tiếp và gián tiếp

Từ những năm 1945 trở về sau này, Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng việc phát triển giáo dục thường xuyên, các lớp Bổ túc văn hoá, Đại học tại chức, vừa học vừa làm…mở ra chủ yếu dựa vào hình thức tự học là chính Từ sau những năm

1970, với tinh thần “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”, ở các

trường Cao đẳng, Đại học cũng như các trường trung học phổ thông đã có nhiều chuyển biến tích cực trong việc tăng cường các hoạt động tự học của học sinh, sinh viên Nhiều Hội nghị khoa học về đổi mới phương pháp dạy học, các đề tài nghiên

Trang 7

cứu khoa học, các bài báo khoa học được công bố xoay quanh vấn đề nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy và học ở trường trung học phổ thông, trong đó vấn đề tự học,

tự nghiên cứu của học sinh rất được coi trọng

Những công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục – đào tạo đều đã được thống nhất một trong những tư tưởng xuyên suốt của Người là tự học,

tự đào tạo Người cho rằng “học cốt lõi là tự học”, Người dạy: Muốn học suốt đời,

làm việc suốt đời thì phải tự học, muốn tự học có kết quả thì phải có mục đích rõ ràng, lao động nghiêm túc, có các điều kiện cần thiết, tích cực luyện tập và thực hành

Trong nghị quyết của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội, trong Luật giáo dục

(chẳng hạn điều 40, mục 2) đều coi trọng tự học tự đào tạo của người học

1.2 Hoạt động học và bản chất của hoạt động học

- Tâm lý học liên tưởng cho rằng: Hoạt động học thực chất là quá trình hình thành các liên tưởng, phát triển trí nhớ của người học Hoạt động học sẽ có hiệu quả

nếu người học có thể hình thành cho mình những mối liên hệ giữa các khái niệm, các quy luật,cách thức để từ đó ghi nhớ và tái hiện tài liệu học tập tốt hơn

- Tâm lý học hành vi định nghĩa hoạt động học là quá trình hình thành những

hành vi mới, hay tạo nên những thay đổi trong hành vi để đáp ứng lại những ảnh

hưởng tác động từ bên ngoài Qua hoạt động học người học hình thành mối liên hệ

giữa kích thích và phản ứng trả lời, luyện tập để mối quan hệ đó mạnh lên, vững

chắc hơn Hoạt động học chính là quá trình “củng cố sự trả lời” Với quan niệm

hoạt động như vậy, việc học ở trạng thái thụ động và chất lượng hoạt động học phụ thuộc chủ yếu vào táo động của giáo viên

- Hoạt động học được xác định là quá trình người học kiến tạo, xây dựng tri thức “Người học tự xây dựng những cấu trúc trí tuệ riêng cho mình về những tài

liệu học tập, lựa chọn những thông tin phù hợp, giải nghĩa thông tin dựa trên vốn kiến thức đã có và nhu cầu hiện tại, bổ sung những thông tin cần thiết để tìm ra ý nghĩa những tài liệu mới” Lý thuyết kiến tạo quan tâm đến những đặc điểm tâm lý

bên trong người học và việc thể hiện nó, những yếu tố được xem là quan trọng hơn

là những yếu tố tác động từ môi trường

Trang 8

- Lý thuyết thông tin cho rằng loài người thường xuyên xử lý thông tin Hoạt

động học được xem là quá trình xử lý thông tin Người học đóng vai trò là người

tiếp nhận thông tin được đưa đến và xử lý nó Từ đó giáo trình và tài liệu tham khảo, các nguồn cung cấp thông tin đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình học tập

- Tâm lý xã hội – văn hoá nhấn mạnh vai trò của hoạt động xã hội và văn hoá đối với người học Trước hết, hoạt động học thực chất là quá trình học sinh tham

gia vào các hoạt động xã hội – văn hoá được giáo viên tổ chức Vì vậy, chất lượng

hoạt động học của học sinh phụ thuộc vào chất lượng tổ chức các hoạt động xã hội

đó Hoạt động học là quá trình học sinh tự khám phá môi trường thông qua quá

trình hợp tác Giáo viên và học sinh cùng hoạt động liên tục và tác động qua lại lẫn nhau để cùng kiến tạo tri thức cho học sinh Trong quá trình đó, ban đầu người học bắt chước những phương thức hành động đã được nền văn hoá chấp nhận với sự giúp đỡ của giáo viên và những học sinh có khả năng cao hơn Sau đó sự giúp đỡ được rút dần để học sinh có thể thực hiện những phương thức đó và dần dần nội tâm

hoá chúng Như vậy hoạt động học chính là quá trình học sinh tự chiếm lĩnh những

phương thức hoạt động đã tồn tại trong một nền văn hoá nhất định qua việc tham gia vào các hoạt động xã hội – văn hoá được giáo viên tổ chức

Vưgôtxki đã phân biệt việc học trong cuộc sống hằng ngày và hoạt động học

xảy ra trong nhà trường Việc phân biệt này có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với tự

học Hoạt động học được coi là một hoạt động đặc biệt, chú trọng đến sự thay đổi của chính bản thân học sinh Hoạt động học xảy ra một cách có chủ định, có mục đích và không là yếu tố bổ sung cho bất kì hoạt động chủ đạo nào khác Hoạt động

học có chủ định có bốn đặc điểm cơ bản, đó là: có đối tượng là tri thức, kỹ năng, kỹ

xảo tương ứng; nhằm phát triển trí tuệ năng lực của người học, làm thay đổi bản thân người học; có tính chất tái tạo và nhằm tiếp thu cả phương pháp chiếm lĩnh tri thức; được điều khiển một cách có ý thức Ngoài ra, Vưgôtxki còn phân biệt việc

học mang tính chất kinh nghiệm (empirical learning ) với việc học mang tính chất

lý thuyết ( theoretical learning ) Việc học mang tính chất kinh nghiệm dựa trên quá

trình so sánh một số đối tượng khác nhau, tìm ra đặc điểm chung có thể quan sát được và trên cơ sở đó xây dựng khái niệm chung về nhóm đối tượng Như vậy khái

Trang 9

niệm được hình thành thông qua con đường đi từ cái cụ thể đến cái khái quát Đây

là hình thức học mang tính chất đặc trưng của trẻ trước khi đến nhà trường và cũng được sử dụng trong nhà trường truyền thống Hình thức học này có thể đạt hiệu quả cao, nếu người học thấy việc học hấp dẫn và thực sự muốn học Điểm yếu nhất của hình thức học này là người học có thể hình thành những khái niệm sai lệch Người học hình thành những khái niệm dựa trên những đặc điểm chung của các đối tượng, trong khi đó những đặc điểm chung này chưa chắc đã là những đặc điểm chủ yếu làm cơ sở cho việc hình thành khái niệm Đây là hình thức học ở mức độ phát triển thấp Người học thường sử dụng hình thức học này khi không có hệ thống dạy học được tổ chức một cách phù hợp

Hình thức học lý thuyết dựa trên việc cung cấp cho người học những phương pháp chung và hoàn thiện để giải quyết một nhóm vấn đề nhất định Những phương pháp này hướng người học đến những đặc điểm chủ yếu, chứ không phải là đặc điểm chung của mỗi nhóm Người học dần dần chiếm lĩnh và nội tâm hoá việc sử dụng những phương pháp đó thông qua những hoạt động được tổ chức một cách đặc biệt Đây là một quá trình đi từ khái quát đến cụ thể Việc học này giúp hình thành những khái niệm khoa học Các nhà khoa học Nga đã chứng minh rằng hình thức học này ít đòi hỏi luyện tập và nhớ một cách máy móc nên thường hấp dẫn người học, ít bị lỗi, ngoài ra hình thức học này đưa đến sự chiếm lĩnh hoàn toàn, mức độ lưu giữ cao và tri thức được sử dụng một cách rộng rãi và có ý thức Có thể nói,

trường phái tâm lý học này thấy được rằng vai trò thúc đẩy sự phát triển nhận thức của dạy học phụ thuộc chủ yếu vào loại hoạt động nào được tổ chức cho người học chứ không phải vào việc môn học nào được dạy trong nhà trường

Yếu tố văn hoá - xã hội đóng vai trò đặc biệt trong hoạt động học Sự nhận

thức là quá trình của cá nhân và được chia sẻ trong xã hội, được xã hội chuyển tải

và chịu ảnh hưởng của người khác trong giao lưu Văn hoá và xã hội tác động đến việc học sinh tư duy như thế nào, học cái gì Các chức năng tâm lý cấp cao đều là những mối quan hệ xã hội được nội tâm hoá Việc học, tư duy và tri thức đều có được từ sự hợp tác, năng lực tự học được phát triển cao trong cách hợp tác với những người khác

Trang 10

- Ngày nay, ở phương Tây, tâm lý học xã hội – văn hoá hay tâm lý học – lịch

sử mà Vưgôtxki là một đại biểu xuất sắc được phát triển thành một trong ba hệ

thống quan điểm chính nghiên cứu về tri thức và việc học, với tên gọi là xu hướng

toàn cảnh (situated perspective ) bên cạnh thuyết hành vi và tâm lý học nhận thức (

Greeno và Collin, 1996) Xu hướng này cho rằng, tri thức là kết quả của kiến tạo xã hội, là kết quả của sự tác động qua lại giữa cá nhân và môi trường Sự hiểu biết là một đặc trưng của nhóm gồm những người cùng tham gia hoạt động và của cá nhân người tham gia trong cộng đồng Nhóm hoặc cá nhân có tri thức sẽ có thể hoà hợp với những điều kiện của hoạt động bao gồm các quy định và sự ủng hộ của xã hội

và hệ thống vật chất, kỹ thuật của môi trường Như vậy việc học là hoạt động tạo ra

sự hoà hợp với những quy định và sự ủng hộ đó của hệ thống vật chất và xã hội mà con người có quan hệ tác động qua lại

- Vận dụng lý thuyết hoạt động trong dạy học

Theo quan điểm tâm lý học tư duy thì sự học là một sự phát triển về chất của cấu trúc hành động Cùng một biểu hiện hành vi bên ngoài giống nhau nhưng chất lượng hiệu quả của sự học (mức độ lĩnh hội kiến thức cũng như đối với sự phát triển năng lực của học sinh) là khác nhau, tuỳ thuộc vào cấu trúc của hành động cụ thể, ở đây hành vi được xem như biểu hiện ra ngoài của kết quả hành động còn cách thức

để đạt tới kết quả đó được xem như cấu trúc bên trong của hành động

Như vậy sự học phải có quá trình hình thành và phát triển của các dạng hành động, là sự thích ứng của chủ thể

Hoạt động của chủ thể tương ứng với động cơ thúc đẩy hoạt động đó Động

cơ là một cái khách quan hàm chứa nhu cầu Cái khách quan ấy làm cho hoạt động

có đối tượng và là cái hướng của hoạt động (mục đích ) vào một kết quả nhất định Khi đó hoạt động của con người hoạt động của con người là hoạt động của chủ thể

có ý thức bao gồm một hệ thống các hành động tương ứng với các điều kiện và phương tiện hành động, cấu trúc của lý thuyết hoạt động được xây dựng theo sơ đồ sau:

Trang 11

Phương tiện quan trọng để giáo viên định hướng hành động nhận thức của

học sinh là câu hỏi

- Định hướng hành động trong dạy học Vật lý

Nghiên cứu sự định hướng hành động nhận thức của học sinh trong dạy học,

ta có thể có ba mức độ định hướng được áp dụng trong quá trình dạy học cụ thể:

1 Định hướng tái tạo là kiểu định hướng trong đó giáo viên hướng học sinh vào việc huy động, áp dụng những kiến thức, cách thức hoạt động, cái mà học sinh

đã nắm được hoặc đã được giáo viên chỉ ra một cách tường minh, học sinh có thể

thực hiện được nhiệm vụ mà họ đảm nhận ( tiến hành theo angôrit đã biết trước)

2 Định hướng tìm tòi Đó là kiểu định hướng trong đó giáo viên không chỉ ra cho học sinh một cách tường minh các kiến thức và cách thức hoạt động mà học

sinh cần áp dụng, mà giáo viên chỉ ra đưa cho học sinh những gợi ý sao cho học sinh có thể tìm tòi, huy động và xây dựng những kiến thức và cách thức hoạt động

thích hợp để giải quyết nhiệm vụ mà họ đảm nhận, có nghĩa tự đòi hỏi học sinh tự

Trang 12

xác nhận hành động thích hợp trong tình huống không phải đã quen thuộc đối với

họ

3 Định hướng khái quát hoá chương trình hoá Đó là kiểu định hướng trong

đó giáo viên gợi ý cho học sinh tương tự kiểu định hướng tìm tòi,nhưng giúp học

sinh ý thức được đường lối khái quát của việc tìm tòi giải quyết vấn đề Sự định

hướng được chương trình hoá theo các bước dự định hợp lý Giáo viên thực hiện từng bước hướng dẫn học sinh giải quyết nhiệm vụ

- Sự định hướng ban đầu đòi hỏi học sinh tự lực tìm tòi giải quyết các vấn đề

đã đặt ra

- Nếu học sinh không đáp ứng được thì có sự trợ giúp tiếp theo của giáo viên

là sự phát triển định hướng khái quát ban đầu ( gợi ý thêm, cụ thể hoá, chi tiết hoá

thêm một bước) để thu hẹp phạm vi mức độ phải tìm tòi giải quyết cho vừa sức học

sinh

- Nếu học sinh vẫn không đáp ứng được thì sự hướng dẫn của giáo viên

chuyển sang kiểu định hướng tái tạo

* Trên cơ sở ba mức độ (kiểu) định hướng đã nêu trên, giáo viên cần chuẩn

bị hệ thống câu hỏi định hướng đặt ra cho học sinh, đó là điều kiện tốt nhất tổ chức

hoạt động tự học, tự nghiên cứu của học sinh

1.3 Tự học, một trong những yếu tố quyết định chất lượng đào tạo

- Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo… đã nêu rõ vai trò của tự học với tư cách là nội lực: Học về cơ bản là tự học, nói đến tự học là

nói đến nội lực của người học và ngoại lực của người học Nội lực của người học

bao gồm các yếu tố: một nền tảng học vấn nhất định, mục đích, động cơ, nhu cầu học, ý chí, nghị lực học tập, cách học hiệu quả, khả năng vận dụng kiến thức, kỹ

năng, tận dụng những thuận lợi, hạn chế những khó khăn để học tốt Ngoại lực của

người học là toàn bộ các yếu tố của các cơ chế, môi trường, điều kiện, phương

tiện…có liên quan đến người học Ngoại lực là quá trình chuyển đổi bên ngoài, nội lực là quá trình có những chuyển đổi bên trong người học, hai quá trình này thống nhất và đối lập nhau tạo nên sự phát triển của tự học Chất lượng đào tạo cao nhất

khi dạy học – ngoại lực cộng hưởng với tự học – nội lực, tạo ra năng lực tự học của

người học

Trang 13

- Các nhà tâm lý học đã chứng minh rằng năng lực của mỗi cá nhân được hình thành và phát triển chủ yếu trong quá trình hoạt động và giao lưu của con người Con đường tốt nhất, hiệu quả nhất để nâng cao chất lượng đào tạo và đạt

được mục tiêu giáo dục – đào tạo là: học bằng hoạt động tự học, tự nghiên cứu của

học sinh, thông qua chính bằng hoạt động tự chiếm lĩnh kiến thức, mà hình thành

năng lực và thái độ cho học sinh

- Hội đồng quốc tế Jacques Delors về giáo dục thế kỷ XXI trong báo cáo

“Học tập, một kho báu tiềm ẩn” gửi UNESCO, xuất bản năm 1996, khẳng định xu

thế lớn toàn cầu hoá, kéo theo hàng loạt căng thẳng cần phải khắc phục Báo cáo

này đã nêu: Học suốt đời là một trong những chìa khoá nhằm vượt qua những thách

thức của thế kỷ XXI, với đề nghị gắn nó với 4 trụ cột giáo dục: Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để làm người, hướng về xây dựng một xã hội học

tập Quan niệm mới “ học tập suốt đời: một động lực xã hội” sẽ giúp con người đáp

ứng những yêu cầu thế giới thay đổi nhanh chóng Điều này thể hiện những đòi hỏi

chẳng những có thật mà còn đang ngày càng mãnh liệt hơn “Không thể thoả mãn

những đòi hỏi đó được, nếu mỗi con người không học cách học” Học cách học

chính là học cách học tự học

- Hoạt động học chính của học sinh là quá trình tự giác, tích cực, tự chiếm

lĩnh tri thức khoa học, nghề nghiệp bằng hành động của chính mình hướng tới để đạt được những mục đích nhất định, Vì vậy, quá trình tổ chức đào tạo phải làm cho hoạt động của học sinh thật sự chủ động trong học tập, mà cụ thể là tăng cường nhiều hơn quá trình tự học, tự nghiên cứu của học sinh Hoạt động học của học sinh diễn ra trong điều kiện có kế hoạch, nội dung chương trình đào tạo, mục tiêu, phương thức đào tạo, thời gian đào tạo đã được xác định Trong hình thức dạy học tập trung, người giáo viên trực tiếp tổ chức và hướng dẫn quá trình nhận thức của học sinh, còn học sinh đóng vai trò chủ thể nhận thức, tích cực huy động mọi phẩm chất tâm lý các nhân của mình để tiến hành hoạt động học nhằm chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng và thái độ Nếu học sinh thụ động, không có sự vận động tích cực các thao tác tư duy của bản thân, thì không thể chiếm lĩnh tri thức và không thể hoàn thành nhân cách cá nhân được Một thực trạng hiện nay ở các trường THPT là

có giáo viên thường làm thay học sinh theo kiểu cầm tay chỉ việc, từ khâu xác định

Trang 14

nhiệm vụ nhận thức, trình bày nội dung tri thức… đến các bước đi, kế hoạch học tập

cụ thể Cách học như vậy tất yếu dẫn đến tính ỷ lại của số đông học sinh, sẽ không phát huy được năng lực tự học của học sinh

Hoạt động học nhằm mục tiêu cải tạo, phát triển chính học sinh là hoạt động

mà không ai có thể làm thay Vì thế, đòi hỏi học sinh phải tự giác, tích cực sáng tạo, phải có năng lực Các nghiên cứu về dạy học phát triển đã cho kết quả rằng trong

quá trình phát triển của mỗi cá nhân đều có tính tích cực bên ngoài và tính tích cực

bên trong Tính tích cực bên ngoài thể hiện ở ý chí quyết tâm thực hiện các yêu cầu

của giáo viên, của nhà trường Các thao tác hành vi bên ngoài có thể kiểm soát

được Tính tích cực bên trong thể hiện ở chỗ người học sinh có động cơ học tập,

mục đích học tập tiếp thu các tác động bên ngoài để biến thành nhu cầu nhận thức,

tích cực đào sâu suy nghĩ một cách chủ động tự giác, tự lực Tính tích cực bên trong

dẫn đến sự phát triển độc lập của mỗi cá nhân học sinh, là cơ sở cho tự học suốt đời

Người giáo viên Vật lý cần quán triệt tư tưởng dạy học là sự hợp tác giữa giáo viên

và học sinh

1.4 Khái niệm phương pháp tự học và các hình thức tự học

Có nhiều hình thức tự học nhưng có thể nhận thấy: Tự học là quá trình hoạt

động nhận thức độc lập, tự lực, tích cực của người học

1.4.1 Tự học

Có nhiều quan niệm về tự học:

- Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi học hỏi để hiểu biết thêm,

có thầy hay không ta không cần biết Người tự học hoàn toàn làm chủ mình, muốn học môn nào tuỳ ý, muốn học lúc nào cũng được, đó mới là điều kiện quan trọng

- Tự học là tự tìm tòi, tự đặt câu hỏi, tự tìm hiểu để nắm được vấn đề, hiểu sâu hơn, thậm chí hiểu khác đi bằng cách sáng tạo, đi đến một đáp số, một kết luận khác

- Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), dùng các phẩm chất của mình, rồi cả động

cơ tình cảm, cá nhân quan sinh (như trung thực khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, có lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn

Trang 15

thành thuận lợi…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của chính mình

- Tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thực hành có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên và sự hướng dẫn trực tiếp của cơ sở giáo dục và đào tạo mà ở đây là trường trung học phổ thông

- Tổng hợp những quan niệm trên, có thể rút ra những tính chất đặc trưng cơ

bản của quá trình tự học: Tự mình tổ chức xây dựng, kiểm tra, kiểm soát tiến trình

học tập với ý thức trách nhiệm, tự quyết định trong việc lựa chọn mục tiêu học tập, lựa chọn các hoạt động học tập Chú ý đến cách học tập; bởi vì kiến thức kỹ năng

có thể thay đổi theo tiến bộ khoa học kỹ thuật; tự lựa chọn các hình thức, phương pháp kiểm tra đánh giá, tự học chuẩn bị cho việc học suốt đời

Như vậy, có thể quan niệm về tự học như sau: Tự học là người tự quyết định

việc lựa chọn mục tiêu học tập, lựa chọn các hoạt động họ c tập và các hình thức phương pháp kiểm tra, đánh giá thích hợp, từ đó tổ chức xây dựng, kiểm tra, kiểm soát tiến trình học tập của cá nhân với ý thức trách nhiệm

1.4.2 Quy trình tự học

Từ quan niệm về tự học, có thể hiểu được quá trình tự học là quá trình xuất phát từ sự ham muốn, khao khát nhận thức, người học ấp ủ trong mình những dự định, dựa vào những phương tiện nhận thức để tích luỹ kinh nghiệm, tri thức và hành động để đạt kết quả nhận thức, có thể hiểu như sau:

Sơ đồ 2

- Học sinh xây dựng kế hoạch học tập : học sinh là người chủ động trong lựa chọn cách học, thể hiện ở chỗ ngay từ khi bắt đầu học đã tiềm ẩn nhu cầu tất yếu phải học và trong suốt quá trình học tập, đảm bảo tự học thường xuyên, trách nhiệm Học sinh phải có động cơ học tập, hiểu được nhiệm vụ học tập Để học tập

có hiệu quả, học sinh phải hoạch định tiến trình học tập, phải chọn đúng nội dung trọng tâm, sắp xếp thời gian hợp lý, dự định cách học có hiệu quả, lựa chọn tài liệu

và các phương tiện thiết bị cho việc học

Trang 16

- Học sinh thực hiện kế hoạch học tập: Đây là giai đoạn hoạt động thực sự của học sinh, quyết định thành công của việc học Giai đoạn này bao gồm các công việc: Làm việc với sách, tài liệu, nghe giảng, làm thí nghiệm, luyện tập xemina, xử

lý thông tin, giải quyết vấn đề…Ở giai đoạn này học sinh phải vận dụng những kỹ năng học tập để có thể thực hiện tốt kế hoạch học tập

+ Kỹ năng về tri thức: Ghi chép bài học, tóm tắt ( hệ thống, tự liên hệ thông tin với thông tin đã học), xây dựng sơ đồ, phân loại, phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu trượng hoá, khái quát hoá, tương tự, quy nạp – diễn dịch, và thay thế tức là tìm những thông tin khác để so sánh và dùng mới thay cũ

+ Những kỹ năng về cảm xúc và những kỹ năng về xã hội, hợp tác trong nhóm và trong lớp, đặt câu hỏi, tự trao đổi với bản thân mình, tự đánh giá, tập trung,

kỹ năng lựa chọn, tự tin…

+ Kỹ năng chuyển đổi tri thức: đó là kỹ năng hoạch định, chú ý có định hướng, chú ý có chọn lọc, tự quản lý, tự đánh giá, phát hiện vấn đề, giải quyết vấn

đề, kỹ năng tự vận dụng cách học thích hợp…

- Tự kiểm tra: trong tự học, học sinh phải chủ động tự kiểm tra việc thực hiện

kế hoạch học tập Tự kiểm tra, đánh giá giúp học sinh ý thức về khả năng, củng cố vững chắc động cơ học tập cá nhân, tạo thêm hứng thú Việc tự kiểm tra, đánh giá của học sinh cần có sự hỗ trợ của nhóm học, của thầy, của các phương tiện, thiết bị Học sinh phải biết so sánh, đối chiếu các kết luận của bản thân với kết luận của thầy, của bạn, của tài liệu, biết phân tích, tổng hợp, thể chế hoá, biết kiểm tra tính bền bỉ trong việc thực hiện kế hoạch tự học

- Hoạt động tự điều chỉnh: Là hoạt động rất quan trọng trong tự học, học sinh phải suy nghĩ lại, phải tự sửa sai, phải biết bổ sung thêm cách học, thêm các kiến thức cần thiết, tìm kiếm thêm tài liệu, phải biết hệ thống hoá Học sinh phải rút kinh nghiệm về cách học, về cách phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề, cách đánh giá,

có thể lật ngược vấn đề để điều chỉnh…

Trang 17

- Có thể biểu diễn quy trình tự học theo sơ đồ sau:

1.4.3 Các hình thức của phương pháp tự học

- Tự học hoàn toàn: Là hình thức tự học ở mức độ cao nhất, người học không

đến trường, không cần sự hướng dẫn của giáo viên, người học tự lựa chọn mục tiêu

học tập, lựa chọn các hoạt động học tập và các hình thức phương pháp kiểm tra,

đánh giá, từ đó tổ chức, xây dựng, kiểm tra, kiểm soát tiến trình học tập của cá nhân với ý thức trách nhiệm

- Tự học qua phương tiện truyền thông: Người học không tiếp xúc trực tiếp

với thầy mà chủ yếu nghe giáo viên giảng giải qua phương tiện truyền thông

- Tự học có hướng dẫn qua tài liệu hướng dẫn : Người học trực tiếp làm việc

với tài liệu hướng dẫn Trong tài liệu trình bày mục tiêu, nội dung, phương pháp xây dựng kiến thức, chỉ dẫn cách tra cứu tìm kiếm, bổ sung kiến thức

- Tự học trong một giai đoạn hay một khâu của quá trình học tập : Học bài và

làm bài ở nhà theo nhiệm vụ học tập là việc làm thường xuyên của bất kì người học nào

- Tự học trong quá trình học tập ở trường có hướng dẫn của giáo viên – biến

quá trình tự học thành quá trình tự đào tạo hay nói cách khác là quá trình dạy – tự học

NGƯỜI HỌC LẬP KẾ HOẠCH

THỰC HIỆN

Trang 18

- Tự học làm bài tập ở nhà: Người học tự tìm kiếm những bài tập và nghiên

cứu tìm cách giải

Trong luận văn chủ yếu đề cập đến hình thức tự học này, đưa ra một số biện

pháp chủ yếu nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh bậc học THPT

1.4.4 Dạy – tự học

- Bản chất cốt lõi của hoạt động học là phải hình thành và phát triển tính tích

cực trong hoạt động học của học sinh và rèn luyện cho học sinh có những kỹ năng

cơ bản của năng lực tự học, tự nghiên cứu làm cho học sinh biết chiếm lĩnh toàn bộ

bộ máy của môn học, cấu trúc logic của môn học đó, các phương pháp đặc trưng của khoa học đó và biết ứng dụng những hiểu biết đó vào việc tiếp tục học tập và lao động Dạy thực chất là dạy – tự học

- Theo Nguyễn Kỳ: thầy dạy để trò tự học, thầy dạy mục tiêu giúp cho học

trò tự học, biết tự học suốt đời, có năng lực tự học sáng tạo Dạy và tự học có mối

quan hệ về mục tiêu giáo dục Thành công trong tự học là mục tiêu cuối cùng của

nhà giáo Tất cả vì năng lực tự học sáng tạo của học sinh thân yêu Thầy dạy như

thế nào để cho trò biết cách tự học và phát triển năng lực tự học, tác động bên ngoài của thầy vật chất hoá hoạt động tự học bên trong học trò; dạy và tự học có mối quan

hệ về phương pháp dạy và tự học, về ngoại lực và nội lực

- Dạy – tự học là một quá trình hoạt động có điều khiển ít nhất ở hai cấp độ quản lý và thực hiện:

(1) Ở cấp độ quản lý có mối quan hệ điều khiển dọc giữa cấp trên ( cơ quan

quản lý) và cấp dưới (người thực hiện) dựa trên các tiêu chuẩn chất lượng của ngành Để đảm bảo dạy – tự học đạt yêu cầu chất lượng thì cấp quản lý phải tạo đủ điều kiện cần thiết cho dạy – tự học và phải theo dõi, kiểm tra đánh giá thường xuyên quá trình và kết quả của việc dạy học

(2) Ở cấp độ thực hiện có mối quan hệ điều khiển ngang giữa người dạy và

người học trên cơ sở hợp tác bình đẳng, cùng đảm bảo chất lượng theo yêu cầu

Trong thực tế ở cấp độ thực hiện luôn tồn tại mối quan hệ điều khiển dọc nhất định từ phía người dạy Ở bậc THPT, do đặc điểm tâm lý, sinh lý độ tuổi của học sinh trung học phổ thông mà tính chất quan hệ chiều dọc ở mức độ cao hơn

Trang 19

- Ở nhà trường THPT, người giáo viên phải đồng thời là người nghiên cứu

tìm tòi phát hiện, mở rộng và là phong phú những tri thức khoa học ở bộ môn mình giảng dạy Hoạt động dạy có hai chức năng trực tiếp thường xuyên tương tác nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau, đó là truyền đạt thông tin dạy học và điều khiển hoạt động học Chức năng điều khiển hoạt động học là chức năng quan trọng trong quá trình dạy – tự học, thể hiện ở chỗ người giáo viên phải định hướng, tổ chức giúp học sinh tối ưu hoá quá trình tự chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo, thông qua đó hình thành phát triển năng lực tự học, nghề nghiệp, hình thành và phát triển nhân cách Nội dung của việc định hướng bao gồm: Định hướng mục tiêu nội dung, cách học Nội dung công việc tổ chức, dẫn dắt của giáo viên gồm: Kế hoạch hành động, hệ thống hướng dẫn tài liệu tự học và các test tự kiểm tra, bài toán nhận thức, hướng dẫn xemina, làm việc theo cá nhân, cặp, nhóm…với giáo viên là người cố vấn, trọng tài để học sinh tự tổ chức nhằm giải quyết nhiệm vụ học tập

Kết quả cuối cùng của quá trình đào tạo là kiến thức nghề nghiệp, phương pháp và thái độ của học sinh

- Về phương pháp: Giúp học sinh phát triển các năng lực, phẩm chất hoạt

động trí tuệ và thể chất, các phương pháp tự học, tự nghiên cứu

- Về thái độ: Bồi dưỡng cho học sinh lý tưởng, niềm tin, đạo đức, thái độ

1.4.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tự học

* Nhóm nhân tố bên trong:

- Năng lực tự học: Trong các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tự học, năng lực tự học của bản thân người học là quan trọng nhất, vì người học là chủ thể chiếm

lĩnh tri thức, chân lý bằng hành động của chính mình

- Động cơ, hứng thú học tập: Động cơ học tập quyết định kết quả học tập của

học sinh

- Phương pháp tự học: Để tự học mang lại hiệu quả cao đòi hỏi mỗi người phải có phương pháp tự học, tự nghiên cứu theo phương pháp của mình

* Nhóm nhân tố bên ngoài ảnh hưởng rất lớn đến tự học đó là:

- Phương pháp giảng dạy của giáo viên: Quá trình dạy học ở THPT là dạy

cho học sinh các tự học, để học sinh có được tư duy độc lập và phương pháp cộng tác độc lập ngay khi đang học ở trong trường, đặc biệt là việc học bộ môn Vật lý

Trang 20

Chính sự thay đổi cách dạy đòi hỏi mức độ làm việc độc lập của học sinh rất cao Nếu giáo viên làm thay, ít khuyến khích học sinh làm việc độc lập, không đề ra yêu cầu cao cho học sinh, thì dù giáo viên có tích cực đến đâu mà học sinh không nỗ lực học thì dạy học không có kết quả

- Yêu cầu của xã hội, nhà trường: Xã hội hiện đại, công nghệ thông tin phát

triển cần phải có phương tiện, phương pháp giao lưu mới Đồng thời tri thức của loài người đang tăng nhanh về khối lượng, đổi mới nhanh về chất lượng và nội dung Dù kéo dài thời gian học trong nhà trường bao nhiêu cũng chưa đủ để thích ứng với cuộc sống luôn đổi thay, mà phải biết cách học để tự học suốt đời

- Cơ sở vật chất: Trong tự học, tự nghiên cứu điều quan trọng nhất là phải có

sách, đồ dùng và trang thiết bị học tập cần thiết

- Thời gian: Trong quá trình đào tạo, học sinh phải học nhiều môn, mỗi môn

có vị trí tính chất, nội dung, khối lượng thông tin khác nhau Để học tốt học sinh phải quản lý thời gian hợp lý

Hai nhân tố trên có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau tạo điều kiện để tự học đạt kết quả cao

Tóm lại, học sinh muốn tự học đạt kết quả tốt cần có những điều kiện sau:

- Phải được trang bị chuẩn kiến thức môn học, kiến thức cơ sở cho việc hiểu biết, luyện tập, hoạt động theo đúng mục đích yêu cầu

- Phải được hướng dẫn phương pháp tự học

- Có thời gian cho tự học

- Có tài liệu phục vụ cho tự học

- Có đủ sức khoẻ cho tự học

- Có nhận thức đúng và quyết tâm cao trong tự học

- Có quy trình đào tạo, cơ chế thuận lợi, cơ sở vật chất, trang thiết bị tốt cho tự học Quá trình tự học của học sinh là quá trình tự thân vận động, tự phát triển thông qua việc giải quyết các mâu thuẫn bên trong, giữa một bên là nhu cầu hiểu biết ngày càng cao, khối lượng học tập ngày càng lớn, đáp ứng nhu cầu kiến thức thực tiễn cuộc sống hiện tại và của nghề nghiệp sau này…với một bên là điều kiện hiện có và có nhiều hạn chế về năng lực tự học Mâu thuẫn này luôn tồn tại, liên tục xảy ra, liên tục được khắc phục để giải quyết bởi chính bản thân học sinh

Trang 21

Kết luận chương I

Chúng tôi đã nghiên cứu cơ sở lý luận về tự học trong quá trình dạy học, cho thấy:

Tự học trong quá trình dạy học đã được nghiên cứu vận dụng từ lâu theo lịch

sử phát triển của nhà trường trên thế giới

Tự học đóng vai trò quan trọng trong quá trình dạy học Đối với học sinh ở trường trung học phổ thông, tự học là động lực biến học thành tự học, tự nghiên cứu bây giờ, và là tiền đề để biên quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo khi học sinh vào học tại các trường Đại học, Cao đẳng,…

Tự học gắn liền với hoạt động tự học tư duy và hoạt động nhận thức độc lập,

tự lực của người học

Muốn tự học tốt phải biết các phương pháp tự học ( phương pháp đọc, phương pháp ghi chép, cách đặt câu hỏi, cách trả lời câu hỏi…); phương pháp phát hiện vấn đề và phương pháp giải quyết vấn đề

Quá trình tự học người học phải biết: Lập kế hoạch – Thực hiện kế hoạch –

Tự kiểm tra – Tự điều chỉnh, các hoạt động này được tiến hành theo một chu trình kín

Để học sinh tự học tốt giáo viên phải dạy học theo định hướng dạy – tự học Kết quả khảo sát và tìm hiểu thực tiễn cho thấy mức độ tự học và vận dụng các phương pháp tự học của học sinh THPT hiện nay vẫn còn ở mức độ thấp

Trang 22

Chương II VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC VÀ DẠY TỰ HỌC CHO HỌC SINH

THÔNG QUA CHƯƠNG ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM

2.1 Các biện pháp vận dụng phương pháp tự học và dạy – tự học cho học sinh

Biện pháp 1:

- Giao cho học sinh hệ thống câu hỏi, những nhiệm vụ cụ thể, chuẩn bị trước các giờ học lý thuyết xây dựng kiến thức mới hoặc thực hành vật lý ( có thời gian cho học sinh chuẩn bị ở nhà một cách hợp lý)

- Học sinh dựa trên nhiệm vụ được giao đọc sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, thu thập thông tin, tìm cách trả lời viết thành văn bản có trước giờ học ở lớp

Biện pháp 2:

- Giao nhiệm vụ cho học sinh, ( cá nhân hoặc làm việc theo nhóm ) tự đọc một phần nội dung cụ thể trong quá trình , tự đặt những câu hỏi – tự tìm cách trả lời dựa trên nội dung văn bản

- Học sinh phát biểu được định nghĩa của lực và nêu được lực là đại lượng vec-tơ Phát biểu được quy tắc tổng hợp các lực tác dụng lên một chất điểm và phân tích một lực thành hai lực theo các phương xác định

Trang 23

- Học sinh nắm được và vận dụng được 3 định luật Niu-tơn vào việc giải các bài tập liên quan và giải thích các hiện tượng vật lý trong thực tế

- Học sinh nắm được các lực cơ học (lực hấp dẫn, trọng lực, lực đàn hồi, lực

ma sát) và vận dụng nó vào việc giải các bài tập và các hiện tượng vật lý có liên quan đến các lực này

- Học sinh cũng nắm và vận dụng được một loại cơ học đặc biệt, đó là lực hướng tâm

- Học sinh nêu được hệ quy chiếu phi quán tính là gì và các đặc điểm của

nó Viết được công thức của lực quán tính của vật đứng yên trong hệ quy chiếu phi quán tính

- Có được thế giới quan duy vật biện chứng không gian – thời gian, vật chất – vận động…đoạn tuyệt được một cách dứt khoát trong ý thức coi lực là một thực thể triết học duy tâm

- Bên cạnh phát triển tự duy logic thì tự duy biện chứng qua nội dung học chương này của mỗi học sinh đều phát triển

2.3 Tổ chức dạy học một số nội dung cụ thể

Với các đặc điểm như vậy có thể cho phép giáo viên tổ chức các tình huống dạy học, kích thích học sinh tự chủ xây dựng tri thức

Trang 24

Quá trình tự học chương này đòi hỏi và cho phép học sinh làm quen với các phương pháp nhận thức vật lý, nhất là phương pháp tự học, năng lực giải quyết vấn đề

Song song với việc nắm vững các hiện tượng, khái niệm, các thuyết, các ứng dụng thực tế quan trọng, học sinh có cơ hội rèn luyện các kĩ năng hoạt động trí óc

và chân tay, qua đó mở rộng vốn hiểu biết cơ bản, kỹ thuật tổng hợp, đồng thời phát triển các năng lực trí tuệ, trình độ tư duy Thế giới quan duy vật biện chứng của học sinh được bồi dưỡng

- Grap hóa nội dung chương “Động lực học chất điểm”

Sơ đồ 4

Lực quán tính

Hệ quy chiếu phi quán tính

Lực hướng tâm

Lực

ma sát

Lực đàn hồi

Lực hấp dẫn

Lực quán tính

li tâm

Chuyển động của vật

bị ném

Chuyển động của hệ vật Tổng hợp và phân tích lực

Trang 25

- Những đơn vị kiến thức cơ bản trong chương “Động lực học chất điểm”

1 Lực Quy tắc tổng hợp và phân tích lực

- Định nghĩa lực: Lực là đại lượng vec-tơ đặc trưng cho tác dụng của vật này

lên vật khác mà kết quả là gây ra gia tốc cho vật hoặc làm vật biến dạng

Lực được biểu diễn bằng một vec-tơ

+ Gốc của vec-tơ là điểm đặt của lực

+ Phương và chiều của vec-tơ là phương và chiều của lực

+ Độ lớn của vec-tơ biểu thị độ lớn của lực

- Quy tắc tổng hợp lực: Hợp lực của hai lực đồng quy được biểu diễn bằng

đường chéo (kẻ từ điểm đồng quy) của hình bình hành mà hai cạnh là những vec-tơ biểu diễn hai lực thành phần

- Phân tích lực: Phân tích lực là thay thế một hay nhiều lực tác dụng đồng

thời và gây hiệu quả giống hệt như lực ấy

2 Ba định luật Niu-tơn

- Định luật I Niu-tơn: Nếu một vật không chịu tác dụng của lực nào hoặc

chịu tác dụng của các lực có hợp lực tác dụng bằng 0, thì nó có thể giữ nguyên trạng thái đứng yên hoặc chuyển động thẳng đều

- Định luật II Niu-tơn: Gia tốc của một vật luôn cùng hướng với lực tác dụng

lên vật Độ lớn của vec-tơ gia tốc tỉ lệ thuận với độ lớn của vec-tơ lực tác dụng lên vật và tỉ lệ nghịch với khối lượng của vật

F a m

=

urr

Hoặc là Fur= mar

- Định luật III Niu-tơn: Khi vật A tác dụng lên vật B một lực, thì vật B cũng

tác dụng lại vật A một lực Hai lực này là hai lực trực đối

AB BA

F = - F

Trang 26

* Đặc điểm của lực tác dụng và phản lực: là hai lực trực đối, nhưng không cân bằng nhau, vì chúng tác dụng lên hai vật khác nhau

3 Các lực cơ: Hấp dẫn, Trọng lực, Đàn hồi, Ma sát

* Lực hấp dẫn:

- Định luật vạn vật hấp dẫn: Lực hấp dẫn giữa hai vật (coi như chất điểm) có

độ lớn tỉ lệ thuận với tích hai khối lượng của chúng và tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng

1 2 2

- Ví dụ: lực đàn hồi của lò xo, lực căng của sợi dây…

- Những đặc điểm của lực đàn hồi của lò xo:

+ Phương của lực trùng với phương của trục lò xo

+ Chiều của lực ngược chiều với chiều biến dạng của lò xo,

+ Độ lớn tỉ lệ thuận với độ biến dạng của lò xo

- Định luật Húc: Trong giới hạn đàn hồi, lực đàn hồi của lò xo tỉ lệ với độ biến dạng của lò xo

dh

F = kDl

* Lực ma sát:

- Lực ma sát trượt:

+ Xuất hiện ở mặt tiếp xúc của vật đang trượt trên một bề mặt

+ Có hướng ngược với hướng của vận tốc

+ Có độ lớn tỉ lệ với độ lớn của áp lực

+ Hệ số tỉ lệ giữa độ lớn của lực ma sát trượt và độ lớn của áp lực gọi là hệ

ma sát trượt Hệ số ma sát trượt phụ thuộc vào vật liệu và tình trạng của hai mặt tiếp xúc và được dùng để tính lực ma sát trượt

+ Công thức: F mst= m t N

- Lực ma sát lăn:

Trang 27

+ Xuất hiện ở chỗ tiếp xúc của vật với bề mặt mà vật lăn trên đó để cản trở chuyển động lăn;

+ Rất nhỏ so với ma sát trượt

- Lực ma sát nghỉ:

+ Xuất hiện ở mặt tiếp xúc của vật với bề mặt để giữ cho vật đứng yên trên

bề mặt đó khi vật bị một lực tác dụng song song với mặt tiếp xúc;

+ Có độ lớn cực đại; lực ma sát nghỉ cực đại lớn hơn lực ma sát trượt

+ Công thức tính lực ma sát nghỉ cực đại: F M = m n N

* Trọng lực: Trọng lực của một vật là hợp lực của lực hấp dẫn mà Trái Đất

tác dụng lên vật và lực quán tính li tâm xuất hiện do sự quay của Trái Đất quanh trục của nó

5 Hệ quy chiếu phi quán tính Lực phi quán tính

- Hệ quy chiếu phi quán tính là một hệ quy chiếu chuyển động có gia tốc so

với một hệ quy chiếu quán tính, các định luật Niu-tơn không còn nghiệm đúng nữa

- Trong một hệ quy chiếu chuyển động với gia tốc ar so với hệ quy chiếu quán tính, các hiện tượng cơ học xảy ra giống như là mỗi vật có khối lượng m chịu thêm tác dụng của một lực bằng - mar Lực này gọi là lực quán tính:

Trang 28

Thông qua việc xử lí bài tập, học sinh sẽ có điều kiện để vận dụng linh hoạt các kiến thức lí thuyết

Bài tập ví dụ: Khi học xong bài học Lực hấp dẫn, có thể cho một bài tập nhỏ

để giúp học sinh vận dụng kiến thức

Tính lực hấp dẫn giữa hai tàu thủy; mỗi tàu có khối lượng 100 000 tấn khi chúng cách nhau 0,5 km Lực đó có làm chúng tiến lại gần nhau không ?

Giải:

Lực hấp dẫn giữa hai tàu thủy:

8 8 11

Lực này rất nhỏ và hoàn toàn không thể khiến hai tàu thủy tiến lại gần nhau

- Kỹ năng suy luận lý thuyết

Nâng cao kỹ năng phân tích, giải quyết vấn đề, kỹ năng trình bày, bảo vệ và phản biện ý kiến trước đám đông Để giải quyết tình huống, bản thân học sinh hay nhóm học sinh cùng phân tích và thảo luận để đi đến giải pháp, sau đó trình bày giải pháp của mình cho cả lớp Lúc này học sinh tiếp thu kinh nghiệm làm việc theo nhóm, chia sẻ kiến thức, thông tin để cùng đạt đến mục tiêu chung Học sinh cũng học cách tôn trọng và lắng nghe ý kiến của người khác để làm cho vốn kiến thức của mình phong phú hơn Đây chính là kỹ năng rất cần thiết đối với học sinh

Bài tập ví dụ: Sau khi học xong bài Định luật I Niu-tơn, có thể cho học sinh thử trả lời câu hỏi sau:

Xe ô tô rẽ quặt sang phải, người ngồi trong xe bị xô về phía nào? Tại sao ? Giải:

- Khi xe ô tô rẽ quặt sang phải, người ngồi trong xe bị xô về phía ngược lại Có hiện tượng này xảy ra là do khi xe chuyển động thì người ngồi trên xe cũng có một quán tính Khi xe đột ngột rẽ quặt sang phải thì do tính bảo toàn về cả độ lớn và hướng của vận tốc nên người trong xe sẽ bị xô về phía ngược lại (bên trái )

- Phát triển kỹ năng tự học:

Nâng cao tính chủ động, sáng tạo và hứng thú cho học sinh trong quá trình học tập Khác với việc tiếp thu lí thuyết một cách thụ động, khi được giao các bài tập, các đề tài…học sinh hay các nhóm học sinh tìm kiếm và phân tích các thông tin

Trang 29

để đi đến giải pháp cho bài tập hay đề tài đó Để đáp ứng được yêu cầu này, học sinh phải chủ động tư duy, thảo luận – tranh luận, tìm hiểu thêm về lí thuyết, tài liệu tham khảo để đạt đến giải pháp Chính trong quá trình tư duy, thảo luận - tranh luận giải pháp của mình, học sinh hay nhóm học sinh đã tham gia vào quá trình nhận thức Sự tham gia tích cự đó đã góp phần tạo ra sự hứng thú và say mê học tập, sáng tạo của học sinh

2.5 Tìm hiểu tình hình dạy học chương “Động lực học chất điểm” sách Vật lí

10 Nâng cao tại các trường THPT

Mục đích của việc tìm hiểu thực tế dạy học chương “Động lực học chất điểm ” đối với học sinh trường THPT là để giúp chúng tôi thu được một số thông tin:

- Khi dạy học chương “Động lực học chất điểm ” giáo viên có những thuận lợi đồng thời gặp những khó khăn gì

- Những phương pháp mà giáo viên đã sử dụng và hiệu quả của nó

- Trình độ tư duy của học sinh

- Hoạt động tự chủ của học sinh trong các giờ học: thời gian học sinh hoạt động và các hình thức hoạt động

Trên cơ sở những thông tin thu được, chúng tôi sẽ đưa ra những nhận xét sơ

bộ về sự tiếp thu tri thức và khả năng tự chủ trong hoạt động nhận thức của học sinh

Để thu nhận những thông tin nói trên chúng tôi sử dụng các biện pháp sau đây:

- Trao đổi trực tiếp với giáo viên, xin giáo viên các bài giáo án trong chương

- Trao đổi trực tiếp với học sinh, xem vở, xem các bài kiểm tra, kết quả các bài kiểm tra, tham gia các buổi xemina và thực hành của học sinh

- Dự giờ một số tiết dạy ở trường THPT Nguyễn Hiền (Đà Nẵng)

Qua những thông tin thu thập được từ phía giáo viên và từ phía học sinh, chúng tôi nhận được những ý kiến và kết quả sau:

2.5.1 Những thuận lợi và khó khăn khi dạy chương “Động lực học chất điểm”

Thuận lợi:

Trang 30

Hầu hết giáo viên cho rằng chương “Động lực học chất điểm” là đề tài hấp dẫn đối với học sinh, bao gồm nhiều kiến thức có liên quan đến các hiện tượng trong thực tế, gần gũi với học sinh

Khó khăn:

Để nắm vững được chương “Động lực học chất điểm” học sinh cần nắm vững một loạt khái niệm, định nghĩa hoàn toàn mới đối với học sinh Thời lượng các tiết lí thuyết không đủ để truyền đạt một lượng kiến thức hoàn toàn mới Bên cạnh đó, chương này cũng là chương có các dạng toán mới khá khó, nhưng thời lượng các tiết bài tập cũng tương đối ít Chính vì vậy, đòi hỏi học sinh phải tự học,

tự nghiên cứu nhưng khả năng tự học của học sinh lại tương đối yếu

Các khái niệm về lực, hệ quy chiếu quán tính, phi quán tính, các loại lực cơ học rất trừu tượng, không chỉ khó đối với người học mà còn khó đối với người dạy trong việc diễn đạt cho học sinh dễ hiểu

2.5.2 Phương pháp dạy học mà giáo viên thường sử dụng ở trường THPT(đặc biệt là trường THPT Nguyễn Hiền)

- Hầu hết giáo viên đều sử dụng phương pháp thông báo các kiến thức theo nội dung bài học, cố gắng trình bày rõ ràng, nhấn mạnh nội dung kiến thức cơ bản

- Trong giờ học, giáo viên có đặt câu hỏi, nhưng các câu hỏi chủ yếu ở mức

độ tái hiện

2.5.3 Trình độ vật lí của học sinh

Theo đánh giá của giáo viên thì trình độ tư duy vật lý của học sinh theo các mức độ sau:

- Khả năng tái hiện kiến thức vật lí: 35%

- Khả năng tư duy trừu tượng, suy luận vấn đề: 32%

- Khả năng vận dụng kiến thức vào việc làm bài tập ở nhà: 21%

- Khả năng vận dụng sáng tạo các kiến thức vật lí vào các tình huống mới: 12%

2.5.4 Hoạt động của học sinh trên lớp

- Theo kết quả điều tra thì thời gian trung bình dành cho học sinh tự chủ hoạt động trên lớp trong chương “Động lực học chất điểm” là 15 phút

Trang 31

* Qua trao đổi với giáo viên “thời gian như vậy là nhiều hay ít”, phần lớn giáo viên được hỏi thì cho rằng thời gian như vậy là quá ít so với chủ trương tăng cường tính tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh

2.6 Tổ chức các hoạt động dạy học

Để góp phần bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh trong môn học Vật lí nói chung Chúng tôi xây dựng tiến trình dạy học một số bài trong chương “Động lực học chất điểm”

Giáo án xây dựng kiến thức mới

Bài 13:

LỰC TỔNG HỢP VÀ PHÂN TÍCH LỰC

I MỤC TIÊU

1 Kiến thức

- Phát biểu được định nghĩa của lực và nêu được lực là đại lượng vec-tơ

- Phát biểu được các quy tắc tổng hợp các lực tác dụng lên một chất điểm

- Phát biểu được quy tắc phân tích lực

- Ôn bài cũ: ôn lại các kiến thức về lực đã được học ở THCS

- Chuẩn bị bài mới: Bài 13 Lực Tổng hợp và phân tích lực

III PHƯƠNG PHÁP

- Phương pháp trực quan, nêu vấn đề, đối thoại

IV DỰ KIẾN NỘI DUNG GHI BẢNG:

Trang 32

Bài 13:

LỰC TỔNG HỢP VÀ PHÂN TÍCH LỰC

1 Nhắc lại về lực:

- Lực là đại lượng vec-tơ đặc trung cho tác dụng của vật này lên vật khác mà

kết quả là gây ra gia tốc cho vật hoặc làm vật biến dạng

- Lực được biểu diễn bằng một vec-tơ

+ Gốc của vec-tơ là điểm đặt của lực

+ Phương và chiều của vec-tơ là phương và chiều của lực

+ Độ lớn của vec-tơ biểu thị độ lớn của lực

2 Tổng hợp lực :

Tổng hợp lực là thay thế nhiều lực tác dụng đồng thời vào một vật bằng một lực có tác dụng giống hệt như tác dụng của toàn bộ những lực ấy

- Lực thay thế gọi là hợp lực ; các lực được thay thế gọi là các lực thành phần

a) Thí nghiệm: Bố trí thí nghiệm như hình 13.3(trang 60 SGK) trên 1 tấm bảng

thẳng đứng

b) Quy tắc tổng hợp lực:

- Hợp lực của hai lực đồng quy được biểu diễn bằng đường chéo (kẻ từ điểm đồng quy) của hình bình hành mà hai cạnh là những vec-tơ biểu diễn hai lực thành phần

Trang 33

IV TIẾN TRÌNH DẠY, HỌC

* Ổn định tổ chức (2 phút)

- Ổn định lớp và kiểm tra sĩ số:

* Kiểm tra bài cũ (9 phút)(phần này giáo viên sẽ sử dụng phiếu học tập

chuẩn bị sẵn, phát cho toàn bộ lớp thông qua các tổ trưởng)

Câu hỏi: 1 Dựa vào các kiến thức đã biết ở THCS, hãy cho biết: Nêu khái niệm về

lực

2 Hãy nêu các đặc điểm của lực

Trả lời:

1 Lực là đại lượng vec-tơ đặc trưng cho tác dụng của vật này lên vật khác

mà kết quả là gây ra gia tốc cho vật hoặc làm vật biến dạng

2 Lực được biểu diễn bằng một vec-tơ

+ Gốc của vec-tơ là điểm đặt của lực

+ Phương và chiều của vec-tơ là phương và chiều của lực

+ Độ lớn của vec-tơ biểu thị độ lớn của lực

Đối với phần này thì sau 2 – 3 phút giáo viên có thể thu lại nhìn lướt qua có thể dễ dàng biết được học sinh nào có tự học ở nhà, học sinh nào không tự học ở nhà, từ đó kiểm tra ngay các học sinh đó

Hoạt động 1 (3 phút): Đặt vấn đề

Hoạt động học của học sinh Hoạt động dạy của giáo viên

- Học sinh chú ý lắng nghe Tự nhận thức

hóa được vấn đề của bài học

- Quan sát hình 13.2 trong sách giáo khoa trang 60, sà lan chịu các lực

1, 2

F F

ur ur

tác dụng làm thay đổi vận tốc của

sà lan Ta có thể thay thế hai lực tác dụng vào sà lan bằng một lực Fur khác

mà vẫn có tác dụng như hai lực ban đầu được không Muốn biết được điều đó,

chúng ta tiến hành tìm hiểu bài học: Lực – Tổng hợp và phân tích lực

Trang 34

Hoạt động 2 (13 phút): Tìm hợp lực của hai lực

Hoạt động học của học sinh Hoạt động dạy của giáo viên

- Có thể dùng một lực khác để thay thế hai

lực tác dụng vào sà lan

- Phải tìm được phương, chiều, độ dài của

lực Fur có quan hệ như thế nào đối với

phương, chiều và độ dài của hai lực được

thay thế F Fur ur1, 2

- Dự đoán 1: Có phương là đường phân

giác của góc tạo bởi hai vec-tơ lực F Fur ur1, 2

Có độ lớn bằng tổng độ lớn hai lực đó

- Dự đoán 2: Có phương là đường phân

giác của góc tạo bởi hai vec-tơ lực F Fur ur1, 2

Có độ lớn bằng trung bình cộng độ lớn hai

lực đó

- Sử dụng tác dụng của lực là làm cho vật

bị biến dạng Cho hai lực F Fur ur1, 2 cùng tác

dụng vào một vật làm cho vật biến dạng,

xác định phương, chiều, độ lớn của hai

lực Sau đó thay thế hai lực bằng lực

F

ur

cũng làm cho vật bị biến dạng như

trường hợp hai lực trên tác dụng và xác

định phương, chiều, độ dài của Fur Cuối

cùng tìm mối quan hệ về phương, chiều,

độ dài của hai lực thay thế F Fur ur1, 2

* Học sinh làm theo nhóm dưới sự hướng

dẫn của giáo viên

- Vậy lực Fur có quan hệ như thế nào đối với hai lực thay thế F Fur ur1, 2 ?

- Muốn tìm quan hệ đó phải tìm những yếu tố nào đặc trưng cho vec-tơ lực?

- Hãy thảo luận nhóm và đưa ra các phương án thí nghiệm để kiểm tra các dự đoán trên

Định hướng của giáo viên :

- Nếu sử dụng tác dụng của lực là làm thay đổi vận tốc của vật thì việc xác định lực thay thế là khó khăn vì khi đó vật chịu tác dụng của lực sẽ chuyển động

- Phải tác dụng lực như thế nào để có thể xác định được phương, chiều, độ lớn của lực tác dụng ?

Trang 35

- Hình bình hành

- Phương chiều của lực thay thế là phương

đường chéo của hình bình hành , độ lớn là

độ dài của đường chéo hình bình hành đó,

và chiều được vẽ như hình vẽ:

- Không chính xác

- Học sinh tiếp thu, ghi nhớ

- Học sinh phát biểu quy tắc

- Biểu diễn các lực như thế nào để tìm mối quan hệ giữa chúng ?

* Đến đây, giáo viên cho một học sinh nhắc lại các bước trình tự tiến hành thí nghiệm kiểm tra, sau đó đại diện nhóm lên nhận thí nghiệm để tiến hành thí nghiệm kiểm tra và báo cáo kết quả

- Tìm mối quan hệ giữa các lực thay thế với các lực được thay thế

* Định hướng của GV:

- Nếu nối đầu mút của các vec-tơ lại với nhau ta có hình gì ?

- Khi đó phương, chiều, độ dài của

vec-tơ lực thay thế xác định như thế nào ?

- Dự đoán trên của chúng ta có chính xác không ?

* Thông báo khái niệm tổng hợp lực

- Lực thay thế là hợp lực Các lực được thay thế gọi là các lực thành phần

- Từ kết quả của thí nghiệm hãy nêu quy tắc tìm hợp lực của hai lực đồng quy ?

- Ngoài quy tắc hình bình hành chúng ta

có thể tìm hợp lực của hai lực F Fur ur1, 2

Trang 36

- Làm tương tự như hình trên

bằng quy tắc đa giác Từ điểm ngọn của

vec-tơ Fur1 ta vẽ nối tiếp một vec-tơ Fur'2

song song và bằng vec-tơ Fur2 Vec-tơ hợp lực Fur có gốc là gốc của vec-tơ Fur1

và ngọn là ngọn của vec-tơ Fur'2 Ba

vec-tơ đó tạo thành một tam giác lực

- Hãy vẽ hình minh họa quy tắc đa giác

- Khi cần tổng hợp nhiều lực thì làm như thế nào ?

Hoạt động 3 (10 phút): Tìm phép phân tích lực

Hoạt động học của học sinh Hoạt động dạy của giáo viên

- Học sinh tiếp thu, ghi nhớ

-Có thể phân tích trọng lực thành hai

- Có thể phân tích một lực thành hai hay nhiều lực tương đương được không ? Nếu được phải làm như thế nào ?

- Giáo viên thông báo khái niệm phân tích lực Tuy nhiên mỗi lực có thể được phân tích thành hai lực thành phần theo các cách khác nhau Ta thường dựa vào điều kiện trong mỗi bài toán để chọn trước phương của lực thành phần

- Giáo viên yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi: Một vật đặt trên mặt phẳng nghiêng, hãy phân tích trọng lực Pur tác dụng lên vật làm hai thành phần

- Định hướng của giáo viên : Trọng lực

Trang 37

thành phần như hình vẽ: thành phần Pur1 có

tác dụng nén vật xuống theo phương

vuông góc với mặt phẳng nghiêng; thành

phần Pur2có xu hướng kéo vật trượt theo

mặt phẳng nghiêng

tác dụng vào vật có tác dụng như thế nào khi vật nằm trên mặt phẳng nghiêng ? Căn cứ vào tác dụng đó để phân tích trọng lực ra hai thành phần được không?

Hoạt động 4 (5 phút):Giải thích vấn đề đặt ra đầu bài, vận dụng , củng cố

Hoạt động học của học sinh Hoạt động dạy của giáo viên

- HS lắng nghe ( không ghi vào vở), khẳng

định lại kiến thức

- Chú ý, nhận xét kết quả bài làm của bạn

- Giáo viên khẳng định lại hiện tượng và nhận xét các câu trả lời của học sinh đầu bài

-Giáo viên gọi 1 HS lên bảng làm bài tập

3 trang 63 SGK

Hoạt động 5 (3phút) : Giao nhiệm vụ về nhà

Hoạt động học của học sinh Hoạt động dạy của giáo viên

- Nhận phiếu học tập thông qua các tổ

trưởng, về nhà tiến hành làm bài tập và

chuẩn bị các nội dung cho bài mới được

nêu trong phiếu học tập

- Giáo viên phát phiếu học tập cho học sinh có các câu hỏi kiểm tra bài mới học

và những phần chuẩn bị cho bài mới:

Bài 14: Định luật I Niu-tơn

V RÚT KINH NGHIỆM:

………

………

………

………

Trang 38

PHIẾU HỌC TẬP

Họ và tên……… Lớp ………

Câu 1: Trong dân gian trước đây thường dùng câu “vụng chẻ khỏe nêm” để

nói tác dụng của cái nêm trong việc chẻ củi Nêm là một vật cứng có tiết diện hình tam giác nhọn, được cắm vào khúc củi Tại sao khi gõ búa mạnh vào nêm thì củi bị bật ra ?

Câu 2: Cho hai hợp lực đồng quy có độ lớn F1 = F2 = 20 N

Hãy tìm độ lớn hợp lực của hai lực khi chúng hợp với nhau một góc a = 00,

600 , 900 , 1200, 1800

Vẽ hình biểu diễn cho mỗi trường hợp

Nhận xét về ảnh hưởng của góc a đối với độ lớn của hợp lực

Câu 3: Vật nào tác dụng vào cung làm cho cung biến dạng ? Vật nào tác

dụng vào mũi tên làm mũi tên bay đi ?

Trang 39

Câu 4: Em hãy đứng giữa hai chiếc bàn đặt gần nhau, mỗi tay đặt lên một

bàn rồi dùng sức chống tay để nâng người lên khỏi mặt đất Em làm lại như thế vài lần và mỗi lần đẩy hai bàn ra xa nhau một chút Hãy báo cáo kinh nghiệm mà em thu được

………

………

………

………

Chuẩn bị cho bài mới Bài 14: Định luật I Niu-tơn

- Đọc trước bài trong SGK

Trang 40

- Giáo án bài giảng dạy học theo phương pháp dạy – tự học

- Hình vẽ liên quan đến định luật vạn vật hấp dẫn

4 Học sinh

- Ôn bài cũ: Bài 16 Định luật III Niu-tơn

- Chuẩn bị bài mới: Bài 17 Lực hấp dẫn

III PHƯƠNG PHÁP

- Phương pháp trực quan, nêu vấn đề, đối thoại

IV DỰ KIẾN NỘI DUNG GHI BẢNG:

Ngày đăng: 08/05/2021, 20:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w