1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đối tượng nghiên cứu trong đề tài là từ láy của thơ xuân quỳnh

67 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đối tượng nghiên cứu trong đề tài là từ láy của thơ Xuân Quỳnh
Tác giả Đoàn Thị Tuyết Trinh
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 571,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hệ thống từ tiếng Việt từ láy chiếm một số lượng phong phú, điều đó luôn thu hút các nhà nghiên cứu không ngừng khai thác, nghiên cứu về sự đa dạng của nó.. Trong cuốn Từ vựng Ngữ

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

- -

ĐOÀN THỊ TUYẾT TRINH

Đối tượng nghiên cứu trong đề tài là từ láy của

thơ Xuân Quỳnh

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ có một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo nên tác phẩm văn học, bởi nó là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ dùng để tạo ra các thông điệp gửi đến người đọc Khi sáng tác, các nhà văn, nhà thơ đều hết sức chú trọng đến việc lựa chọn, thậm chí đắn đo cân nhắc kỹ lưỡng trước khi quyết định dùng một từ nào đó Lịch sử văn học đã chứng minh một tác phẩm văn học có tồn tại với thời gian hay không là tùy thuộc vào những giá trị mà tác phẩm đó mang lại, trong đó có khả năng sử dụng ngôn từ của tác giả

Đã có nhà ngôn ngữ học thống kê tiếng Việt có đến trên dưới 5.000 từ láy, một khối lượng từ rất lớn làm nên bản sắc riêng của ngôn ngữ Việt Từ láy là phương thức cấu tạo từ quan trọng của từ tiếng Việt Trong hệ thống từ tiếng Việt từ láy chiếm một số lượng phong phú, điều đó luôn thu hút các nhà nghiên cứu không ngừng khai thác, nghiên cứu về sự đa dạng của nó Đối với các tác phẩm văn chương, đặc biệt là thơ ca thì từ láy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi những giá trị tượng thanh, tượng hình và giá trị biểu cảm Mỗi từ láy chứa đựng trong mình một sự thể hiện rất tinh tế và sinh động về sự cảm thụ chủ quan, về cách đánh giá và thái độ của người nói trước sự vật và hiện tượng đời sống xã hội Cho nên, về phương diện sử dụng, từ láy là phương tiện tạo hình đắc lực của văn học nghệ thuật, đặc biệt là của thơ ca

Khi nhắc đến thơ ca nói riêng và văn học Việt Nam nói chung người ta biết đến Xuân Quỳnh là một nữ sĩ đầy tài năng, một tâm hồn thơ nhạy cảm, thơ Xuân Quỳnh có những nét rất trong sáng, nhẹ nhàng và tinh tế, ngôn ngữ thơ bình dị, gần gũi với cuộc sống và mang một chiều sâu nội tâm rộng lớn Thơ Xuân Quỳnh mang nhiều nét đặc sắc về ngôn từ cũng như những biện

Trang 3

pháp nghệ thuật Có thể nói Xuân Quỳnh là một hiện tượng nổi bật trên bầu trời thơ ca Việt Nam, là nhà thơ nữ lớn cuối thế kỉ XX Nghiên cứu về thơ Xuân Quỳnh giúp chúng ta hiểu hơn về một hồn thơ sâu sắc, một tâm hồn nhạy cảm và một mẫu người phụ nữ hoàn hảo Nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh cũng rất đặc sắc, về ngôn ngữ thơ cũng như các biện pháp nghệ thuật khác

Đã có không ít công trình nghiên cứu, những cuộc hội thảo về thơ bà, đặc biệt thơ Xuân Quỳnh còn được dịch ra các ngôn ngữ nước ngoài Nghiên cứu về thơ bà chúng tôi có cơ hội hiểu sâu sắc hơn về một nhà thơ tài năng, về con người cũng như phong cách thơ ca của Xuân Quỳnh

Việc sử dụng từ láy trong thơ ca mang lại nhiều tác dụng tích cực, tạo được âm điệu cho bài thơ một cách nhịp nhàng hơn, giúp người đọc dễ cảm nhận hơn Từ láy trong thơ Xuân Quỳnh chiếm một số lượng khá lớn Khảo sát, nghiên cứu về từ láy trong thơ Xuân Quỳnh giúp chúng tôi hiểu sâu hơn

về từ láy trong tiếng Việt cũng như là nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ đặc sắc trong thơ bà

Việc nghiên cứu, khảo sát từ láy trong thơ ca là một quá trình nghiên cứu khoa học công phu, đòi hỏi người nghiên cứu phải có sự kiên trì và nghiêm túc Nghiên cứu đề tài này giúp chúng tôi có được những kiến thức quan trọng cho việc học tập và nghiên sau này

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Từ láy là một hiện tượng đặc biệt của từ tiếng Việt, nó góp phần tạo nên

sự phong phú cho từ tiếng Việt Từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về từ láy trong tiếng Việt Nhưng có lẽ nói đến từ láy chúng ta không thể không nhắc đến Hoàng Văn Hành - người đã có những công trình

nghiên cứu có giá trị về từ láy trong tiếng Việt Các công trình như Từ điển từ

láy tiếng Việt, Từ láy trong tiếng Việt là những cuốn sách cung cấp những

kiến thức về từ láy một cách đầy đủ Trong cuốn Từ láy trong tiếng Việt vấn

Trang 4

đề về từ láy được tác giả nghiên cứu sâu, cung cấp cho người đọc những kiến thức về từ láy tương đối đầy đủ, cuốn sách chia làm ba phần, phần thứ nhất là

Những cách nhìn khác nhau đối với hiện tượng láy (tr 9-23) Phần thứ hai Từ láy tiếng Việt (tr 24- 144) Phần thứ ba Mấy kết luận bước đầu (tr 146- 154)

Cuốn Từ điển từ láy tiếng Việt là cuốn sách được tác giả Hoàng Văn Hành

chủ biên, cuốn sách đã tập hợp hầu hết vốn từ láy trong tiếng Việt, với hơn

5000 đơn vị, và 7000 câu trích dẫn nguyên văn từ các tác phẩm văn học, các

báo và tạp chí minh họa cho cách dùng từ trong thực tế Có thể nói cuốn Từ

điển từ láy tiếng Việt đã giúp cho bạn đọc một cái nhìn tổng quát nhất về hệ

thống từ láy trong tiếng Việt

Trong cuốn Từ vựng Ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục, 1981 tác giả

Đỗ Hữu Châu đã có những nghiên cứu về từ láy trong tiếng Việt Từ trang

34-45 của cuốn sách, vấn đề về từ láy được tác giả nói đến một cách khá đầy đủ

Trong cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và từ tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội,

2000, từ trang 130-151 tác giả giành hẳn một chương để nói về từ vựng học

và từ, trong đó có vấn đề về từ láy từ trang 146-149

Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà cũng có bài viết Hiện tượng láy với việc

tạo tính nhạc trong thơ ca in trên Tạp chí ngôn ngữ số 5 năm 2002 từ trang 59

- 64 Bài viết cũng đã có những đánh giá về vai trò quan trọng của từ láy trong việc sáng tác thơ ca

Xuân Quỳnh là một tác giả lớn của nền thơ ca Việt Nam, với một tâm hồn thơ sâu sắc, ngôn ngữ thơ tinh tế gần gũi, giọng thơ đầm ấm Bà là một hiện tượng đặc biệt của nền thơ ca dân tộc, sau Hồ Xuân Hương một nữ sĩ tài hoa xuất chúng, một hiện tượng của nền thơ ca Việt Nam thì có lẽ Xuân Quỳnh được biết đến như là nữ hoàng của thơ tình Về cuộc đời cũng như con đường thơ Xuân Quỳnh đã có rất nhiều sự quan tâm nghiên cứu của những nhà lí luận, phê bình Tiêu biểu có các công trình

Trang 5

Trong cuốn Xuân Quỳnh thơ và đời do Vân Long sưu tầm và tuyển chọn

dã tập hợp được rất nhiều bài thơ hay của nữ sĩ Xuân Quỳnh và những bài

viết của một số nhà phê bình, nghiên cứu Trong đó có bài Cảm nhận về thơ

Xuân Quỳnh của Lưu Khánh Thơ, bài viết này đã phần nào khái quát được

phong cách thơ Xuân Quỳnh cũng như những quan niệm trong sáng tác của

bà “ Hình như Xuân Quỳnh ít phải bận tâm về việc đi tìm hình thức biểu hiện Chị cũng không mất công nhiều lắm trong việc lựa chọn hình ảnh, chải chuốt ngôn ngữ…” [16 tr 245] “ Điểm đặc sắc hơn trong nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh có lẽ là giọng điệu thơ Thơ chị có một giọng điệu riêng rất dễ nhận ra Giọng điệu ở đây không phải cách nói mà cảm xúc, là giọng điệu của tâm hồn Một giọng điệu không kiểu cách, khiên cưỡng, mà luôn tự nhiên, phóng khoáng…” [16 tr 246]

Cũng trong cuốn này Lại Nguyên Ân có bài Con người và nhà thơ, bài

viết cũng đã cung cấp một số chi tiết về cuộc đời Xuân Quỳnh cũng như con người nhà thơ, phong cách thơ “…Từ bài mở đầu tập Chồi biếc in rõ dấu ấn

ca dao, sang những tập thơ sau này, chị đã trở nên lành nghề, thậm chí đã biết tận dụng cả sự khéo tay, tận dụng những cách cấu tứ của cả nhà thơ cùng lứa lẫn nhà thơ lớp trước Và chị đã văn chương hóa không ít, hơn nữa, đã cùng các nhà thơ cùng lứa tạo ra một kiểu “văn chương hóa” mới, một kiểu trang sức mới Nhưng cốt cách thơ Xuân Quỳnh, qua mọi biến thái vẫn gắn bó với những gì đã có nơi chị từ điểm xuất phát Ấy là giọng thơ ưng phô bày, kể lể, nhắn nhe, tự tình, ví von, một giọng thơ dù biến hóa đến mức văn hoa kiểu mẫu vẫn đọng lại cái phần gắn bó với lối nói, lối nghĩ, lối cảm thông thường

có thể là xa xưa nữa của người Việt, của tiếng Việt Thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng dễ hiểu với công chúng đông đảo Sáng rõ, nhã nhặn, giản dị- là những đặc tính cho cả trong thơ lẫn văn xuôi.” [16 tr 140-141]

Trang 6

Trong cuốn Đến với thơ Xuân Quỳnh do Ngô Viết Dinh tuyển chọn và

biên tập, cũng là một công trình tập trung nhiều bài viết, bài phê bình về thơ

Xuân Quỳnh Một số bài viết tiêu biểu như bài Cuộc đời để lại của Vương Trí

Nhàn Bài viết là lời kể của tác giả về cuộc nói chuyện giữa tác giả và nhà thơ Xuân Quỳnh về con đường thơ, phong cách thơ Xuân Quỳnh và những lời tâm sự của Xuân Quỳnh mà tác giả đã ghi nhận “… những người có dịp quen biết riêng tác giả Gió Lào cát trắng đều biết chị có thói quen diễn tả tâm trạng mình qua thơ đúng đến từng khía cạnh tưởng là nhỏ nhặt Mỗi bài thơ ra đời, diễn tả cái lý lịch cụ thể của nó, và nếu chắp các bài thơ đó lại, người ta có thể

có cả cuộc đời Quỳnh…” [7 tr 65]

Trong cuốn này tác giả Mai Quốc Liên cũng có bài viết Vài lời muộn

màng… Là những lời tâm sự, sẻ chia những bình luận về cuộc đời, con người

và thơ Xuân Quỳnh để lại trong kí ức của tác giả “ Có thể nói rằng sau Xuân Diệu thời Thơ mới, không có nhà thơ nào đã viết thơ tình hay như Xuân Quỳnh” [7 tr 101]

“Xuân Quỳnh là một nhà thơ bẩm sinh, một nhà thơ vút lên từ số phận, từ tình yêu, từ những vui buồn đời thường của một thời dữ dội Người con gái ấy không có ý định làm một cuộc cách tân thơ, cũng không có ý định trau chuốt nghệ thuật thơ mình, nhưng chị đi trên con đường lớn của thơ, con đường đi

từ trái tim và ở lại giữa trái tim người đời…” [7 tr 106] Có thể nói những ai

đã quen biết và tiếp xúc với Xuân Quỳnh thì đều có những ấn tượng khó phai

về con người này, một người phụ nữ với hồn thơ tinh tế, da diết

Cuốn Thơ Xuân Quỳnh và những lời bình do Ngân Hà tuyển chọn, NXB

Văn hóa - thông tin, 2003 là công trình tập trung đầy đủ nhất những bài viết

về cuộc đời cũng như sự nghiệp thơ Xuân Quỳnh và những cảm nhận của các

tác giả về thơ Xuân Quỳnh Trong cuốn sách này có bài viết Nhớ Xuân

Quỳnh, nhớ một giọng thơ của Mã Giang Lân Bài viết là những cảm nhận rất

Trang 7

chân thành của tác giả về thơ Xuân Quỳnh, về những giá trị đặc sắc của thơ ca

mà bà đã để lại

“Ba mươi năm làm thơ, Xuân Quỳnh để lại những ấn tượng sâu sắc cho người đọc Chị đã tạo cho mình một tiếng nói riêng, nhiều thanh điệu: trẻ trung, hồn nhiên, cởi mở nhưng cũng luôn lo âu, trăn trở, nói nhiều về mình nhưng cũng cố vươn lên, hòa tình cảm của mình vào cuộc sống chung của nhân dân, của đất nước Một tâm hồn thơ nhân hậu mà say mê, sôi nổi, bộc trực Chị nói đến tình yêu tha thiết, chủ động…” [8 tr 139]

Cuốn giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại tập 2, Nguyễn Văn Long chủ

biên là cuốn sách khái quát một cách đầy đủ về đặc điểm của nền văn học nước ta sau năm 1945, cuốn sách cũng tập trung một số nhà thơ, nhà văn lớn của Việt Nam sau 1945 về con người cũng như là sự nghiệp sáng tác Trong

đó có nhà thơ Xuân Quỳnh từ trang 244-261 Trong phần này các tác giả đã khái quát về cuộc đời của nữ sĩ Xuân Quỳnh và con đường sáng tác của bà

“…Bà giành nhiều tâm huyết nhất cho đề tài tình yêu và trở thành một trong những người viết thơ tình hay nhất ở thời đại chúng ta Không bạo liệt và chua chát, đáo để như Hồ Xuân Hương, không e ấp như Phan Thị Thanh Nhàn, không nông nổi dại khờ như Đoàn Thị Lam Luyến, trái tim yêu của Xuân Quỳnh vừa nồng nhiệt, bạo dạn, vừa dịu dàng, đằm thắm, lại có cái điềm tĩnh, sâu sắc của sự từng trải, biết chấp nhận những cái hữu hạn của cuộc đời…’ [15 tr 255]

Bên cạnh đó còn có một số tiểu luận, luận văn nghiên cứu về thơ Xuân

Quỳnh như: Khóa luận tốt nghiệp Tính nữ trong thơ Xuân Quỳnh do T.S Nguyễn Khắc Sính hướng dẫn, ĐHSP Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ Thế giới

nghệ thuật trong thơ Xuân Quỳnh do T.S Lê Tiến Dũng hướng dẫn, ĐHSP

TP HCM

Trang 8

Các công trình nghiên cứu về thơ Xuân Quỳnh từ trước đến nay chiếm số lượng khá lớn, thơ bà còn được dịch ra nhều thứ tiếng trên thế giới Tuy nhiên

ở phạm vi khóa luận tốt nghiệp vấn đề từ láy trong thơ Xuân Quỳnh vẫn chưa

có công trình nghiên cứu nào

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu trong đề tài là từ láy của thơ Xuân Quỳnh

Phạm vi nghiên cứu: Tuyển thơ Xuân Quỳnh - Không bao giờ là cuối do

Lưu Khánh Thơ tuyển chọn, NXB Hội nhà văn, 2011

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê, phân loại

- Phương pháp phân tích ngôn ngữ

- Phương pháp đối chiếu, so sánh

5 Bố cục của khóa luận

Trong khóa luận này ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung chúng tôi chia làm 3 chương

Chương I: Những vấn đề chung

Chương II: Khảo sát, thống kê, phân loại từ láy trong thơ Xuân Quỳnh Chương III: Vai trò, giá trị của từ láy trong thơ Xuân Quỳnh

Trang 9

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Khái quát chung về từ tiếng Việt

1.1.1 Khái niệm từ

Có rất nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm từ tiếng Việt

Quan niệm của Đỗ Hữu Châu: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, có một ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức (hoặc kiểu cấu tạo) cấu tạo nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để cấu tạo câu.” [4 tr 122]

Quan niệm của Hồ Lê: “Từ là đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh phi liên kết hiện thực, hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa.” [13 tr 104]

Quan niệm của Nguyễn Kim Thản: “Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách ra khỏi các đơn vị của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng hoặc ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp.” [14 tr 38]

Ở đây chúng tôi đồng ý theo quan niệm của Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu - Hoàng Trọng Phiến: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do các lời nói để tạo câu.” [6 tr 142]

1.1.2 Các kiểu từ Tiếng Việt

1.1.2.1.Từ đơn

Từ đơn là từ do một hình vị tạo nên Phương thức dùng một tiếng làm một

từ sẽ cho ta các từ đơn Đó là từ được cấu tạo bằng một tiếng

Trang 10

Ví dụ: người, hoa, đi, đứng, xấu, đẹp, tôi, bác…

Thứ nhất, các thành tố cấu tạo trong từ đều rõ nghĩa, khi dùng mỗi thành

tố để cấu tạo từ đơn thì nghĩa của từ đơn và nghĩa của các thành tố không trùng nhau

Ví dụ: ăn ở ≠ ăn ≠ ở, ăn nói ≠ ăn ≠ nói

Thứ hai, một thành tố rõ nghĩa tổ hợp với thành tố không rõ nghĩa Trong hầu hết các trường hợp, những yếu tố không rõ nghĩa này vốn rõ nghĩa nhưng

bị bào mòn dần đi ở các mức độ khác nhau Bằng con đường tìm tòi từ nguyên và lịch sử, người ta thường xác định được nghĩa của chúng

Ví dụ: chợ búa, bếp núc, đường sá, tre pheo, cỏ rả, sầu muộn, chó má, gà qué, cá mú, xe cộ, áo xống

+ Từ ghép chính phụ Là những từ ghép mà có thành tố cấu tạo này phụ thuộc vào thành tố cấu tạo kia Thành tố phụ có vai trò phân loại, chuyên biệt hoá và sắc thái hoá cho thành tố chính

Ví dụ: tàu hoả, đường sắt, sân bay, hàng không, nông sản, cà chua, máy cái, dưa hấu, cỏ gà, xấu bụng, tốt mã, lão hoá, xanh lè, đỏ rực, ngay đơ, thẳng tắp, sưng vù…

-Từ láy

Trang 11

Là từ mà khi các yếu tố cấu tạo nên chúng có thành phần ngữ âm lặp lại Gồm có phần điệp và phần đối

Ví dụ: đo đỏ, mênh mông, lang thang…

1.2 Từ láy trong Tiếng Việt

1.2.1 Khái niệm từ láy

Về từ láy trong tiếng Việt, các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau

Theo Diệp Quang Ban – Hoàng Văn Thung: “Từ láy là những từ phức được tạo ra từ phương thức láy âm có tác dụng tạo nghĩa, và để tạo ra nhạc tính cho sự hòa phối âm thanh đối với một ngôn ngữ giàu nhạc tính như tiếng Việt, sự láy không đơn thuần là sự lặp lại âm tiết ban đầu, mà bao giờ cũng kèm theo một sự biến đổi âm, thanh nhất định, dù là ít nhất, để tạo ra cái thế vừa điệp vừa đối, vừa giống nhau lại vừa khác nhau” [1 tr 51]

Theo Đỗ Hữu Châu: “Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh tức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm: nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng, của một hình vị hay đơn vị có nghĩa.”[4 tr 34]

Theo Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu - Hoàng Trọng Phiến: “Một từ được gọi là từ láy khi các yếu tố cấu tạo nên chúng có thành phần ngữ âm được lặp lại, nhưng vừa có lặp (còn gọi là điệp) vừa có biến đổi (còn gọi là đối).” [6 tr 146]

Trong khóa luận này chúng tôi thống nhất với quan điểm của Hoàng Văn Hành

Theo Hoàng Văn Hành: “Từ láy nói chung là từ được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định, sao cho quan hệ giữa các

Trang 12

tiếng trong từ vừa điệp, vừa đối, hài hòa với nhau về âm thanh và về nghĩa, có giá trị biểu trưng hóa.”[11 tr 27]

1.2.2 Đặc điểm từ láy trong tiếng Việt

1.2.2.1 Đặc điểm về mặt ngữ âm

- Đặc điểm của thành tố cấu tạo nên tiếng láy

+ Thành tố gốc (tiếng gốc): là một từ có nghĩa, có khả năng tách khỏi từ láy, đứng độc lập và có thể kết hợp với các thành tố khác để tạo nên một nghĩa mới

Ví dụ: nhanh nhẹn, nhanh nhẩu…

Từ nhanh có khả năng đứng độc lập và có nghĩa (đi nhanh, chạy nhanh,

nói nhanh…)

+ Thành tố láy (tiếng láy): là những bộ phận lặp lại hoàn toàn hoặc một phần (phụ âm đầu, vần) của thành tố gốc

Ví dụ: - đu đủ, nơi nơi, châu chấu…

- thanh thản, nhẹ nhàng, tung tăng…

- linh tinh, lung tung, lan man…

- Cơ sở cấu tạo từ láy

+ Từ láy hoàn toàn: những từ vừa điệp phụ âm đầu, điệp phần vần có khi điệp cả thanh điệu

Ví dụ: chuồn chuồn, nho nhỏ, tim tím…

+ Từ láy bộ phận:

Từ láy phụ âm đầu: những từ điệp phụ âm đầu, đối phần vần, thanh điệu biến đổi theo quy tắc nhất định

Ví dụ: nhanh nhẩu, mênh mông, lạnh lẽo…

Từ láy vần: những từ đối phụ âm đầu, điệp phần vần, thanh điệu biến đổi theo quy tắc nhất định

Ví dụ: bâng khuâng, lang thang, lung tung

Trang 13

1.2.2.2 Đặc điểm về mặt ngữ nghĩa

Theo Hoàng Văn Hành từ láy trong tiếng Việt xét về mặt ngữ nghĩa có ba loại:

Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm giản đơn

Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm cách điệu

Từ láy vừa biểu trưng hóa ngữ âm, vừa chuyên biệt hóa về nghĩa

-Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm giản đơn

Từ láy ở nhóm này gồm những từ thuộc nhiều loại khác nhau nhưng đều có một điểm chung là mô phỏng âm thanh tự nhiên theo cơ chế láy Xét về góc độ ngữ nghĩa có thể chia từ láy biểu trưng hóa ngữ âm giản đơn làm hai loại

+ Loại thứ nhất: gồm những từ láy là từ tiếng vang thực sự, gần giống với

âm thanh tự nhiên theo cơ chế láy

Ví dụ: tùng tùng, lộc cộc, oai oái…

+ Loại thứ hai: gồm những từ láy mà sự mô phỏng âm thanh chỉ là hình thức bên trong còn chức năng chính của nó là gọi tên sự vật hay hiện tượng từ quá trình phát ra âm thanh do từ mô phỏng, đó là những từ tiếng vang, từ tượng thanh nhưng được chuyển nghĩa theo phép hoán dụ

Ví dụ: bìm bịp (chim), cút kít (xe), cheo cheo (con)…

Các loại từ láy trên bên cạnh việc mô phỏng âm thanh còn có sự mô phỏng của khuôn hình miệng khi phát âm, có giá trị biểu cảm, giá trị gợi tả rất

rõ, sự mô phỏng không phải bắt chước nguyên xi mà phần nào đã được cách điệu hóa, vì vậy làm cho việc hòa phối âm thanh trong các từ láy có sự biểu trưng hóa

-Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm cách điệu

Đó là những từ như đăm đăm, lồm ngồm, bâng khuâng…Nếu xét trong mối quan hệ giữa nghĩa của chúng với hiện thực khách quan thì có thể chia làm hai nhóm:

Trang 14

Nhóm thứ nhất: gồm những từ biểu thị sự vật như đu đủ, chuồn chuồn, châu chấu, bươm bướm…

Nhóm thứ hai: gồm những từ biểu thị thuộc tính ( tính chất, quá trình, trạng thái…) như luộm thuộm, bâng khuâng, lôi thôi…

Nếu căn cứ vào tính chuyên biệt hóa hay không chuyên biệt hóa về nghĩa thì có thể phân thành hai nhóm nhỏ:

+ Nhóm những từ chuyên biệt hóa về nghĩa: đó là những từ chuyên biểu thị thuộc tính của thuộc tính (thuộc tính bậc hai) Được biểu thị theo hai hướng:

Thuộc tính được đánh giá theo thang độ, thường gợi tả mức độ, sắc vẻ của

thuộc tính ấy Ví dụ: trành trạnh (vuông), au au (đỏ), dằng dặc (dài), vành

vạnh (tròn)…

Thuộc tính không được đánh giá theo thang độ, thường gợi tả cách thức diễn ra của quá trình ấy Ví dụ: khư khư (giữ), sa sả (mắng), ngặt nghẽo (cười)…

+ Nhóm những từ không chuyên biệt hóa về nghĩa: là những từ vừa biểu thị thuộc tính bậc một, vừa biểu thị thuộc tính bậc hai Với kiểu cơ cấu nghĩa này có hai thành tố: thành tố thứ nhất biểu thị một thuộc tính nào đó, thành tố thứ hai biểu thị thuộc tính của thuộc tính đó

Ví dụ: mênh mông: thuộc tính thứ nhất là rộng, thuộc tính thứ hai là mức

độ rộng, da diết: thuộc tính thứ nhất là nhớ, thuộc tính thứ hai chỉ mức độ nhớ

-Từ láy vừa biểu trưng hóa về ngữ âm vừa chuyên biệt hóa về nghĩa

Là những từ mà nghĩa của nó có thể giải thích được không chỉ nhờ nghĩa của tiếng gốc, mà còn nhờ giá trị tạp nghĩa của sự hòa phối ngữ âm trong cấu tạo của nó Trong đó điệp và đối khuôn vần đóng vai trò quan trọng

Trang 15

“Những sắc thái nghĩa ở từ láy rất đa dạng và phong phú Chúng ít nhiều tùy thuộc vào bản chất ngữ nghĩa của tiếng gốc Nếu như tiếng gốc trong từ láy vốn là động từ thì sắc thái nghĩa phụ thêm ở từ láy sẽ miêu tả phương thức của hành động hay quá trình mà phương thức được gợi tả là thế này hay thế kia lại tùy thuộc mô hình láy, hay cũng có thể nói là tùy thuộc vào tiếng láy trong tương quan với tiếng gốc do người bản ngữ lựa chọn.” [11 tr 92]

Ví dụ: nhay nháy khác nhấp nháy Nghĩa của hai từ này đều là nghĩa của

tiếng gốc nhưng có sự biến đổi ngữ âm trong quá trình cấu tạo từ

“ Sở dĩ có thể nói giá trị ngữ nghĩa của tiếng láy tùy thuộc vào mối tương quan của nó với tiếng gốc là vì nghĩa của nó chính là nghĩa của tiếng gốc, nhưng bị nhòe đi do những biến đổi ngữ âm trong quá trình cấu tạo từ Đồng thời những biến đổi ở vỏ ngữ âm của tiếng láy cốt là để tạo ra sự hòa phối ngữ

âm với tiếng gốc, mà sự hòa phối ngữ âm ấy tự nó lại có giá trị biểu trưng hóa, có giá trị tạo nghĩa.” [11 tr 92] Vì vậy trong các từ láy đã bị mất tiếng gốc thì giá trị biểu trưng hóa ngữ âm vẫn tồn tại

Ví dụ: rì rào, xào xạc, tập tễnh…

Cơ cấu nghĩa của các từ láy dạng này rất đa dạng, tuy nhiên chúng ta vẫn

có thể giải thích được ở một mức độ nào đó nhờ nghĩa của tiếng gốc, cách hòa phối âm thanh, ngữ nghĩa của từ Chúng ta gọi những từ này là từ láy vừa biểu trưng hóa ngữ âm vừa chuyên biệt hóa về nghĩa

1.2.3 Cơ sở phân loại từ láy

Theo quan điểm của Hoàng Văn Hành thì về mặt cấu tạo của từ láy trong tiếng Việt nên phân loại theo nhiều hướng

Thứ nhất là nên lấy số bậc trong quá trình cấu tạo từ láy làm tiêu chí Với hướng phân loại này ta có hai trường hợp là từ láy bậc một và từ láy bậc hai

Từ láy bậc một là từ láy đôi: đo đỏ, mênh mông, bâng khuâng…

Trang 16

Từ láy bậc hai là từ láy kép, tương ứng với từ láy ba và từ láy tư: xốp xồm xộp, bập bà bập bềnh…

Cách phân loại thứ hai là lấy mức độ tác động của cơ chế láy vào tiếng gốc hay mức độ điệp trong quan hệ giữa các tiếng ở từ láy Với cách phân loại này thì chúng ta có từ láy hoàn toàn và láy bộ phận

Từ láy hoàn toàn: chuồn chuồn, vằng vặc, đo đỏ…

Từ láy bộ phận: mênh mang, nhỏ nhắn, linh tinh…

Cách phân loại thứ ba là lấy tính chất điệp hoặc đối khuôn vần trong việc phân loại làm căn cứ Như vậy với cách phân loại này chúng ta có bốn kiểu từ láy

Từ láy hoàn toàn, điệp vần: nơi nơi, chuồn chuồn, khư khư…

Từ láy hoàn toàn, đối vần: vằng vặc, nườm nượp…

Từ láy bộ phận, điệp vần: lang thang, lao xao, la cà…

Từ láy bộ phận, đối vần: lung lay, rung rinh, bé bỏng…

1.3 Xuân Quỳnh thơ và đời

1.3.1 Cuộc đời Xuân Quỳnh

Xuân Quỳnh sinh ngày 6 tháng 10 năm 1942 tại xã La Khê, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây Bà xuất thân trong một gia đình công chức, mồ côi mẹ từ nhỏ, ở với bà nội Tháng 2 năm 1955, Xuân Quỳnh được tuyển vào Đoàn Văn công nhân dân Trung ương và được đào tạo thành diễn viên múa Bà đã nhiều lần đi biểu diễn ở nước ngoài và dự Đại hội thanh niên sinh viên thế giới năm

1959 tại Viena (Áo) Từ năm 1962 đến 1964, bà học Trường bồi dưỡng những người viết văn trẻ (khoá I) của Hội Nhà văn Việt Nam Sau khi học xong, làm việc tại báo Văn nghệ, báo Phụ nữ Việt nam Bà là hội viên từ năm

1967, ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khoá III Năm 1973, bà kết hôn với nhà viết kịch, nhà thơ Lưu Quang Vũ, trước đó Xuân Quỳnh kết hôn lần đầu tiên với một nhạc công của Đoàn Văn công nhân dân Trung ương

Trang 17

và đã ly hôn Từ năm 1978 đến lúc mất bà làm biên tập viên Nhà xuất bản Tác phẩm mới Xuân Quỳnh mất ngày 29 tháng 8 năm 1988 trong một tai nạn giao thông tại đầu cầu Phú Lương, thị xã Hải Dương, tỉnh Hải Dương cùng với Lưu Quang Vũ và con trai út Lưu Quỳnh Thơ mới 13 tuổi Xuân Quỳnh được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001

1.3.2 Sự nghiệp sáng tác

Xuân Quỳnh là nhà thơ tài năng, trong suốt quãng đời sáng tác ngắn ngủi của mình bà đã kịp để lại cho đời những tác phẩm hết sức có giá trị về nội dung và nghệ thuật Những vần thơ hết sức tinh tế, và tràn đầy cảm xúc ấy đã trường tồn trong lòng người đọc cho đến ngày nay và cả mai sau

Về các tác phẩm thơ:

Tơ tằm – chồi biếc (thơ, in chung, 1963)

Hoa dọc chiến hào (thơ, in chung, 1968)

Gió Lào, cát trắng (thơ, 1974)

Lời ru trên mặt đất (thơ, 1978)

Sân ga chiều em đi (thơ, 1984)

Tự hát (thơ, 1984)

Hoa cỏ may (thơ, 1989)

Thơ Xuân Quỳnh (1992, 1994)

Thơ tình Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ (1994)

Cây trong phố - Chờ trăng (thơ, in chung)

Bầu trời trong quả trứng (thơ thiếu nhi, 1982)

Truyện Lưu Nguyễn (truyện thơ, 1985)

Bên cạnh thơ, Xuân Quỳnh còn sáng tác văn xuôi, đặc biệt là mảng truyện thiếu nhi Xuân Quỳnh thường viết về những gì gần gũi xung quanh mình, xung quanh cuộc sống

Mùa xuân trên cánh đồng (truyện thiếu nhi, 1981)

Trang 18

Bến tàu trong thành phố (truyện thiếu nhi, 1984)

Vẫn có ông trăng khác (truyện thiếu nhi, 1986)

Tuyển tập truyện thiếu nhi (1995)

1.3.3 Ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh

Một nhà thơ nữ với giọng thơ trữ tình, tinh tế và sâu sắc, những vần thơ của bà đã cho chúng ta một sự trải nghiệm phong phú Đó là những cảm xúc tình yêu dâng trào, một trái tim khao khát yêu và được yêu, đó những tình cảm sâu sắc, chân thành của con người và một tâm hồn đầy nội cảm đó là những gì ta cảm nhận qua những vần thơ của bà

Thơ Xuân Quỳnh nổi tiếng với sự tinh tế, trong sáng, nhẹ nhàng, thơ bà còn toát lên một tình yêu da diết và một sự đồng cảm trong tâm hồn con người, giàu cảm xúc với những cung bậc khác nhau như chính tính cách luôn hết mình của Xuân Quỳnh Những bài thơ khi hạnh phúc đắm say, lúc đau khổ tột cùng, lúc suy tư của nhà thơ luôn gần gũi vì được viết với sự đằm thắm của một người phụ nữ vừa làm thơ vừa làm vợ, làm mẹ

Thơ Xuân Quỳnh giàu tình cảm, tình cảm sâu và tinh tế nhưng lẩn khuất phía sau tình cảm ấy lại là tư tưởng có tính khái quát, triết lý (Cơn mưa không phải của mình, Đồi đá ong và cây bạch đàn, Chuyện cổ tích về loài người, Những người mẹ không có lỗi ) Đấy là những triết lý nảy sinh từ đời sống

mà bà đã chiêm nghiệm được

Thơ Xuân Quỳnh hướng nội, rất tâm trạng cá nhân, thơ là đời sống đích thực, đời sống của bà trong những năm đất nước còn chia cắt, còn chiến tranh, còn gian khổ, là những lo toan con cái, cơm nước, cửa nhà của một người phụ

nữ, người phụ nữ làm thơ thường ngược xuôi trên mọi ngả đường bom đạn Nét riêng của Xuân Quỳnh so với thế hệ nhà thơ hiện đại cùng thời chính là ở khía cạnh nội tâm đó, thơ chị là thơ mang tâm trạng Tâm trạng thơ Xuân Quỳnh là tâm trạng nảy sinh từ đời sống của chính chị, từ hoàn cảnh của riêng

Trang 19

chị Xuân Quỳnh có tài tỏa lên các chi tiết ngẫu nhiên quan sát được từ đời sống, biến các chi tiết đời trở nên thơ, có sức gợi, sức cảm kì lạ (Trời trở rét, Không đề, Gió Lào cát trắng, Mùa hoa doi, Hoa cỏ may )

Ngôn ngữ thơ không cầu kỳ, hoa mỹ mà rất giản dị, chân thành như chính nỗi lòng của Xuân Quỳnh Tịếng thơ chính là tiếng lòng của chị, tiếng hát của trái tim đang dặt dìu theo sóng nhạc tình yêu Đọc thơ Xuân Quỳnh ta có cảm giác như là nước tuôn ra từ mạch nguồn trong trẻo, mát lành và vô tận, là hương tỏa ra từ vườn hoa đương thì hương sắc

Có thể nói ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh rất phong phú, ngôn ngữ thơ mang một âm hưởng nhẹ nhàng, sâu lắng nhưng cũng có khi vui tươi, trẻ trung và cũng có khi triết lí sâu sắc Thơ bà đã thể hiện được một tâm hồn chân thật, sâu sắc và nồng nàn, tạo cho người đọc một cảm giác nhẹ nhàng và có một sự đồng cảm khi cảm nhận Cũng vì vậy mà thơ Xuân Quỳnh đã đi vào tâm hồn biết bao thế hệ người Việt và đã để lại trong lòng mỗi người vẻ đẹp của một hồn thơ trữ tình, lãng mạn

Xuân Quỳnh đã tạo ra một phong cách thơ riêng, một giọng thơ trữ tình đằm thắm không hòa lẫn với bất kì một giọng thơ nào Ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh là thứ ngôn ngữ bình dị, trong sáng, thơ bà tạo cho người đọc một cảm giác yên bình như được đắm mình trong dòng suối mát lành Vừa có sự nhẹ nhàng, trong sáng nhưng cũng xen lẫn những triết lí, lo âu Có thể nói ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh là sự kết hợp của nhiều loại gia vị đặc sắc để tạo nên một món ăn tinh thần hoàn hảo

Trang 20

CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT, THỐNG KÊ, PHÂN LOẠI TỪ LÁY

TRONG THƠ XUÂN QUỲNH 2.1 Khảo sát thống kê

2.1.1 Giới hạn khảo sát

Trong khóa luận này chúng tôi đi vào khảo sát từ láy trong 100 bài thơ

của nhà thơ Xuân Quỳnh in trong tuyển thơ Không bao giờ là cuối của nhà

xuất bản Hội nhà văn, 2011

2.1.2 Số lượng và tần số xuất hiện của từ láy

Trong 100 bài thơ in trong tuyển thơ Không bao giờ là cuối thì có đến 94 bài có sử dụng từ láy với 388 lượt dùng của 217 từ láy

Bảng 2.1: Số lượng và tần số xuất hiện của từ láy trong thơ Xuân Quỳnh

Trang 21

27 Choáng váng 1 51.Gìn giữ 1

Trang 24

171.Thanh thản 1 195.Trẻ trung 2

Trang 25

2.2 Phân loại từ láy

2.2.1 Phân loại từ láy theo cấu tạo ngữ âm

Dựa vào số lượng âm tiết, phân loại từ láy trong thơ Xuân Quỳnh như sau:

2.2.2.1.Từ láy bậc một

“Từ láy bậc một chính là từ láy đôi Đó là những từ mà khi cấu tạo tiếng gốc được nhân đôi một bước sao cho giữa tiếng láy và tiếng gốc có được sự hòa phối ngữ âm thể hiện ở quy tắc điệp và đối” [10 tr 39]

a Láy hoàn toàn: “Đặc trưng chung của từ láy hoàn toàn là trong cấu tạo

của nó tiếng gốc được lặp lại toàn bộ ở tiếng láy” [10 tr39]

Đối với từ láy hoàn toàn thì được chia làm hai loại: Từ láy hoàn toàn điệp vần và từ láy hoàn toàn đối vần

- Từ láy hoàn toàn, điệp vần: “Đặc trưng của những từ láy thuộc mẫu này

là điệp phụ âm đầu, khuôn vần và thanh” [10 tr41]

- Từ láy hoàn toàn, đối vần: “Đặc trưng của từ láy hoàn toàn, đối vần là điệp phụ âm đầu và đối khuôn vần nhờ sự biến dạng theo quy tắc chuyển đổi chính âm hoặc phụ âm cuối.” [10 tr41]

Xét theo mức độ biến đổi âm thanh của tiếng láy so với tiếng gốc thì phân loại từ láy hoàn toàn theo ba dạng tiêu biểu sau:

-Lặp lại hoàn toàn tiếng gốc

-Có sự khác biệt về thanh điệu

-Có sự khác biệt về phụ âm cuối

Trang 26

Bảng 2.2.1a: Phân loại từ láy hoàn toàn

Từ láy hoàn toàn Lặp lại hoàn toàn

1.Ầm ầm (tt) 1 Châu chấu (dt) 1 Biền biệt (pht)

2 Chuồn chuồn (dt) 2 Cỏn con (tt) 2 Chan chát (tt)

3 Đâu đâu (dt) 3 Cồ cộ (tt) 3 Dằng dặc (tt)

4 Giăng giăng (tt) 4 Đăm đắm (tt) 4 Nườm nượp (tt)

5 Lớp lớp (dt) 5 Khe khẽ (tt) 5 Quang quác (đgt)

6 Luôn luôn (pht) 6 Loang loáng (đgt) 6 Sàn sạt (đgt)

7 Mãi mãi (pht) 7 Lồng lộng (tt) 7 Vằng vặc (tt)

8 Mau mau (tt) 8 Ngờ ngợ (đgt) 8 Vun vút (tt)

9 Nao nao (đgt) 9 Nho nhỏ (tt)

10 Nơi nơi (dt) 10 Roi rói (tt)

11 Rào rào (tt) 11 Thăm thẳm (tt)

15 từ, chiếm tỉ lệ 40,5 % tổng số từ láy đôi hoàn toàn, từ láy hoàn toàn có sự khác biệt về thanh điệu có 14 từ chiếm tỉ lệ 37,8 % , từ láy hoàn toàn có sự khác biệt về phụ âm cuối có 8 từ chiếm tỉ lệ 21,7 %

Trang 27

b Từ láy bộ phận: “Đặc trưng của từ láy bộ phận là trong cấu tạo của nó

tiếng gốc chỉ lặp lại một phần của tiếng láy” [10 tr 48]

Theo quan điểm của tác giả Hoàng Văn Hành thì từ láy bộ phận được phân chia thành hai loại: Từ láy bộ phận, điệp vần và từ láy bộ phận, đối vần + Từ láy bộ phận, điệp vần: “Đặc trưng của mẫu này là điệp khuôn vần, thanh và đối phụ âm đầu” [10 tr 48]

+ Từ láy bộ phận, đối vần: “Từ láy bộ phận đối vần là từ được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc, vừa bảo tồn phụ âm đầu vừa kết hợp một khuôn vần mới từ ngoài vào tiếng láy để tạo thế vừa điệp vừa đối” [10 tr 53]

Từ láy bộ phận trong tuyển thơ Không bao giờ là cuối của Xuân Quỳnh

Bảng 2.2.1b: Phân loại từ láy bộ phận trong thơ Xuân Quỳnh

Trang 28

14 Chở che (đgt) 14 Lang thang (đgt)

15 Cồn cào (tt) 15 Lao xao (đgt)

16 Của cải (dt) 16 Lấm tấm (tt)

17 Da diết (tt) 17 Leng keng (tt)

18 Dãi dầu (tt) 18 Linh tinh (tt)

19 Dạt dào (tt) 19 Loay hoay (đgt)

20 Day dứt (đgt) 20 Lung tung (tt)

Trang 29

36 Hồi hộp (đgt) 60 Mênh mông (tt)

51 Lung lay (đgt) 75 Ngọt ngào (tt)

52 Lưu luyến (đgt) 76 Ngổn ngang (tt)

Trang 30

84 Nhỏ nhoi (tt) 108 Run rẩy (đgt)

Trang 31

136 Trẻ trung (tt) 147 Xao xuyến (đgt)

137 Trơ trọi (tt) 148 Xào xạc (đgt)

138 Vẩn vơ (tt) 149 Xình xịch (tt)

139 Vất vả (tt) 150 Xôn xao (tt)

140 Viển vông (tt) 151 Xốn xang (tt)

141 Vĩnh viễn (tt) 152 Xúm xít (đgt)

Từ láy bộ phận trong thơ Xuân Quỳnh chiếm một số lượng khá lớn với

179 từ, chiếm tỉ lệ 82,5 % tổng số từ láy trong tuyển thơ Trong đó từ láy phụ

âm đầu chiếm đa số với 152 từ chiếm 84,9 % tổng số từ láy bộ phận, từ láy phần vần chiếm số lượng nhỏ với 27 từ, chiếm 15,1 % tổng số từ láy bộ phận

số từ láy trong tuyển thơ Đây là từ láy được cấu tạo trên cơ sở đối vần, và có

sự biến đổi về thanh điệu, cả 4 âm tiết đều nằm trong cùng một nhóm âm vực cao (thanh ngang, thanh sắc)

2.2.2 Phân loại từ láy theo từ loại

Qua việc khảo sát từ láy theo từ loại trong 100 bài thơ in trong tuyển thơ

Không bao giờ là cuối chúng tôi thấy có sự phong phú về từ loại, sự đa dạng

Trang 32

đó giúp cho lời thơ có sự linh hoạt, hình ảnh thơ phong phú và nhiều màu sắc hơn

Bảng 2.2.2: Phân loại từ láy theo từ loại

“Danh từ có ý nghĩa khái quát chỉ vật (hiểu rộng, bao gồm cả người, động

vật, thực vật, đồ vật, các chất, những khái niệm trừu tượng về vật tương đương với những thứ vừa kể) có thể đứng trước từ ấy, nọ…và thường giữ vai trò chủ ngữ hoặc bổ ngữ trong câu.” [6 tr 269]

Từ láy thuộc loại danh từ trong thơ Xuân Quỳnh chiếm tỉ lệ không lớn, với tổng số 217 từ láy nhưng từ láy danh từ chỉ có 8 từ, chiếm tỉ lệ 3,7 %

Ví dụ:

Chuồn chuồn ơi báo làm chi bão tới

Trời bão lên rồi mày ở đâu? [19 tr180]

Khi nào lớn tao lái xe sang Trung Quốc

…Sang Liên Xô – đi khắp nơi nơi [19 tr 126]

Như bạn bè, như khách

Xuân vừa lạ vừa quen [19 tr 174]

Trang 33

2.2.2.2 Động từ

“Động từ có nghĩa khái quát chỉ hành động (hiểu rộng, bao gồm các hoạt động vật lí – tâm lí – sinh lí), có thể đứng sau từ hãy và thường giữ chức vụ vị ngữ trong câu.”[ 6 tr 271]

Trong 217 từ láy trong tuyển thơ Không bao giờ là cuối thì có 49 từ láy

thuộc từ loại động từ, đây cũng là một số lượng từ láy không nhỏ Từ láy động từ sẽ tạo cho người đọc những vần thơ sinh động hơn, lời thơ trở nên phong phú và hấp dẫn hơn

Ví dụ:

Cuộc đời tôi có cát chở che

Khi đánh giặc cát lại làm công sự [19 tr 145]

Cát vắng sông đầy cây ngẩn ngơ Không gian xao xuyến chuyển sang mùa [19 tr 91]

Liễu ven hồ buông dài lưu luyến

Có gì như không liên quan [19 tr 172]

2.2.2.3 Tính từ

“Tính từ có ý nghĩa khái quát chỉ tính chất, có thể đứng sau từ rất và

thường làm vị ngữ hay định ngữ trong câu.” [ 6 tr 272]

Trong tuyển thơ Không bao giờ là cuối, từ láy thuộc từ loại tính từ chiếm

số lượng khá lớn, với 156 từ chiếm tỉ lệ 71,9 % Với số lượng từ láy tính từ khá nhiều đã góp phần tạo nên sự đa dạng về mặt ngôn từ và phong phú về hình ảnh thơ

Ví dụ:

Nhưng em ơi tiếng hát

Muôn đời còn trẻ trung [19 tr 175]

Ngày đăng: 08/05/2021, 20:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (1998), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
2. Nguyễn Tài Cẩn (1981), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Khác
3. Lê Cận- Phan Thiều (1983), Giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
4. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng Ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
5. Đỗ Hữu Châu (1997), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
6. Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu - Hoàng Trọng Phiến (2000), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
7. Ngô Viết Dinh (tuyển chọn và biên tập), (2003), Đến với thơ Xuân Quỳnh, NXB Thanh niên Khác
8. Ngân Hà (tuyển chọn và biên tập) (2003), Thơ Xuân Quỳnh và những lời bình, NXB Văn hóa_thông tin Khác
9. Nguyễn Thị Thanh Hà, (2002), Hiện tượng láy với việc tạo tính nhạc trong thơ ca, Tạp chí ngôn ngữ, số 5, tr 59-64 Khác
10. Hoàng Văn Hành, (chủ biên), (1995), Từ điển từ láy tiếng Việt, NXB Giáo dục Khác
11. Hoàng Văn Hành (2008), Từ láy trong tiếng Việt, NXB Khoa học xã hội Khác
12. Đinh Trọng Lạc- Bùi Minh Toán (1994), Tiếng Việt (tập 2), NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
13. Hồ Lê, (1976), Vấn đề cấu tạo từ Tiếng Việt hiện đại, NXB KHXH, Hà Nội Khác
14. Đỗ Thị Kim Liên, (1999), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục Khác
15. Nguyễn Văn Long (chủ biên), (2007), Giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại tập 2, NXB Đại học Sư phạm Khác
16. Vân Long (sưu tầm và tuyển chọn) (2011), Xuân Quỳnh Thơ và đời, NXB Văn học Khác
17. Hoàng Phê, (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Khác
18. Lưu Khánh Thơ- Đông Mai (tuyển chọn), (2003), Xuân Quỳnh- cuộc đời và tác phẩm, NXB Phụ nữ Khác
19. Lưu Khánh Thơ, (2011), Tuyển thơ Không bao giờ là cuối, NXB Hội nhà văn Khác
20. Tạ Thị Toàn, (2007), Bài giảng Ngữ pháp tiếng Việt, NXB ĐHSP Đà Nẵng Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w