Chính vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về năng lực trí tuệ và một số chỉ số sinh học liên quan trên các đối tượng học sinh và sinh viên, đ ặc biệt là học sinh trung học phổ thôn
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nước ta đang trên con đường đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước để theo kịp và hội nhập kinh tế với các nước trên thế giới Điều này đòi hỏi phải có một nguồn nhân lực dồi dào đủ năng lực trí tuệ, xã hội phải có những con người có trình độ học vấn cao, hiểu biết sâu rộng các lĩnh vực, phản ứng nhanh với thời cuộc Đào tạo những con người đáp ứng được các yêu c ầu của xã hội
là nhiệm vụ của ngành giáo dục Vì thế giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu Với tiêu chí giáo dục toàn diện (đức, trí, thể, mĩ) cho học sinh, hiện nay ngành giáo dục đang trên con đường đổi mới để nâng cao chất lượng dạy và học Để đạt được mục đích này, ngành giáo dục đã không ngừng nâng cao cơ sở vật chất, đổi mới nội dung chương trình, trang thiết bị dạy học và phương pháp dạy học Tuy nhiên, sự đổi mới này chỉ có hiệu quả khi áp dụng đúng với từng đối tượng học sinh, phù hợp với năng lực nhận thức của học sinh ở từng lứa tuổi Do đó, việc xác định năng lực trí tuệ của học sinh là một vấn đề cần thiết Chính vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về năng lực trí tuệ và một số chỉ số sinh học liên quan trên các đối tượng học sinh và sinh viên, đ ặc biệt là học sinh trung học phổ thông Kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu đó cho thấy, năng lực trí tuệ của học sinh thay đổi theo lứa tuổi và điều kiện xã hội
Trong những năm gần đây, cùng với nhịp điệu phát triển chung của đ ất nước, kinh tế tỉnh Quảng Nam cũng có sự phát triển mạnh mẽ, đời sống xã hội ngày được nâng cao, sự quan tâm của gia đình, nhà trường và xã hội đối với thế hệ trẻ ngày càng nhiều Với sự thay đổi về điều kiện kinh tế - xã hội đã có những tác động mạnh mẽ tới sự phát triển trí tuệ của thanh thiếu niên, trong đó có học sinh đồng bào dân tộc thiểu số
Trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Quảng Nam là ngôi trường giành cho những học sinh dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh, là nơi giáo dục, đào tạo các em trở thành những công dân có ích cho đất nước, cho xã hội; và đ ặc biệt đóng góp sức mình phục vụ cho địa phương vùng sâu vùng xa Vì vậy, việc nghiên c ứu năng lực trí tuệ để từ đó đề ra những phương pháp dạy học phù hợp nhằm mục đích nâng cao kết quả học tập cho học sinh dân tộc thiểu số là cần thiết
Trang 3Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi chọn đề tài: “NGHIÊN CỨU CHỈ SỐ
IQ VÀ MỘT SỐ CHỨC NĂNG CƠ B ẢN TRÍ TUỆ CỦA HỌC SINH ĐỒNG BÀO DÂN TỘC TRƯỜNG THP T DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH QUẢNG NAM”
2 Mục tiêu đề tài
- Đánh giá thực trạng năng lực trí tuệ, trình độ tư duy khái quát, trình độ trí nhớ
và khả năng chú ý của học sinh trường THPT DTNT tỉnh Quảng Nam
- Đánh giá mối liên quan giữa năng lực trí tuệ và học lực của học sinh trường THPT DTNT tỉnh Quảng Nam
- Đề ra một số biện pháp nhằm phát triển năng lực trí tuệ của học sinh, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THPT DTNT tỉnh Quảng Nam
3 Nội dung của đề tài
- Xác định chỉ số IQ và mức trí tuệ của học sinh theo tuổi và giới tính
- Nghiên cứu trình độ phát triển một số chức năng cơ bản của trí tuệ học sinh như trình độ tư duy khái quát, trình độ trí nhớ thính giác và khả năng chú ý
- Xác định mối liên quan giữa năng lực trí tuệ và học lực
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao năng lực trí tuệ của học sinh
Trang 4NỘI DUNG Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Năng lực trí tuệ
Sự thành đạt c ủa mỗi con người phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khách quan
và chủ quan, nhưng cái quyết định là yếu tố chủ quan mà cốt lõi là năng lực trí tuệ
Trong tiếng La tinh trí tuệ có nghĩa là hiểu biết, thông tuệ, còn trong Từ điển Tiếng Việt trí tuệ là khả năng nhận thức lý tính đạt đến trình độ nhất định Giống như nhiều vấn đề khác trong tâm lý học, thật là khó có thể nêu lên được một định nghĩa hoàn chỉnh và đầy đủ nhất về thuật ngữ “trí tuệ” bởi lẽ cho đến hiện nay có nhiều quan điểm của các nhà khoa học khác nhau trên thế giới nghiên cứu về vấn đề này Do đó, “trí tuệ” được định nghĩa theo những cách khác nhau Tuy nhiên, chúng
ta có có thể khái quát một cách tương đối các quan niệm đã có về trí tuệ thành 3 nhóm quan điểm: nhóm thứ nhất coi trí tuệ là khả năng hoạt động lao động và học tập của cá nhân; nhóm thứ hai đồng nhất hóa trí tuệ với năng lực tư duy trừu tượng của cá nhân; nhóm thứ ba coi trí tuệ là năng lực thích ứng tích cực của cá nhân [9]
- Quan điểm thứ nhất: coi trí tuệ là một đặc điểm tâm lý học phức tạp của con người mà kết quả của công việc học tập và lao động phụ thuộc vào nó Đại diện cho khuynh hướng này là B.G Ananhiev [9]
- Quan điểm thứ hai: coi trí tuệ là một chức năng chung đối với việc suy luận
và giải quyết vấn đề trong các tình huống khác nhau Đại diện cho khuynh hướng này là A.Binet [9]
- Quan điểm thứ ba: coi trí tuệ là năng lực thích ứng của con người với những điều kiện và nhiệm vụ mới trong đời sống Đại diện cho khuynh hướng này
là R Stern Theo ông, trí tuệ là năng lực suy luận và khả năng sáng tạo trên cơ sở kết hợp những kinh nghiệm khác nhau để giải quyết vấn đề mới [9]
Các quan điểm trên không mâu thuẫn với nhau mà mỗi quan điểm xuất phát
từ một phía c ạnh quan trọng Tuy nhiên, chưa có một khái niệm nào chứa đựng đầy
đủ bản chất của các hiện tượng phức tạp như trí tuệ Năng lực trí tuệ biểu hiện ở nhiều mức độ và liên quan đến nhiều hiện tượng tâm lý khác nhau
- Mức độ 1: năng lực trí tuệ thể hiện qua mặt nhận thức như nhận biết, nhanh
Trang 5hiểu, nhanh nhớ hoặc biết tìm ra các quy luật, ngoài ra, nó còn thể hiện ở khả năng tưởng tượng phong phú
- Mức độ 2: năng lực trí tuệ biểu hiện qua hành động như nhanh trí, tháo vát, linh hoạt, sáng tạo
- Mức độ 3: năng lực trí tuệ biểu hiện qua phẩm chất như óc tò mò, lòng say
mê, sự hứng thú, kiên trì
Có một khái niệm gắn chặt với trí tuệ là sự thông minh, nói cách khác trí tuệ gần như được khai thác ho ặc phát huy bằng sự thông minh Thông minh là khả năng phản ứng có hiệu quả trong những tình huống mới, là phẩm chất cao c ủa trí tuệ mà bản chất của nó là tư duy tích cực, chủ động, sáng tạo, linh ho ạt trước những vấn đề
thực tiễn lý luận [8] Chúng ta có thể phânsự "thông minh" ra làm hai loại chính như sau: trí thông minh căn bản, hay trí thông minh đích thực và trí thông minh cụ thể:
- Trí thông minh căn bản là khả năng tiếp thu kiến thức nhanh, nhạy, chính xác; và khả năng tự tìm ra kiến thức mới Trong đó khả năng tiếp thu kiến thức chính xác (đúng), nghĩa là khả năng nhận thức phù hợp với thực tế xảy ra trong thế giới khách quan, chiếm vị trí trung tâm, và đóng vai trò nòng cốt [10]
- Trí thông minh cụ thể là khả năng tiếp thu kiến thức nhanh, nhạy, chính xác; và khả năng tự tìm ra kiến thức mới trong những vấn đề cụ thể, trong những lĩnh vực, những phạm vi cụ thể [10]
Việc phát triển của trí thông minh căn bản là nhiệm vụ chính c ủa giáo dục, giáo dục có vai trò nâng cao kiến thức một cách trực tiếp, cho học sinh Bên c ạnh
đó, sự phát triển của trí thông minh căn bản làm tăng khả năng tự học của học sinh, kết quả làm tăng trí thông minh cụ thể, và nâng cao kiến thức một cách tự nhiên Do
đó, trong quá trình học tập, nâng cao kiến thức, ta vừa phát triển được trí thông minh căn bản và trí thông minh cụ thể [10]
Sự phát triển trí tuệ của học sinh từ lâu đã được nhiều nhà sư phạm, nhà tâm
lý học quan tâm và nghiên cứu Theo Q.Piagie, sự phát triển trí tuệ của trẻ em về nguyên tắc giống như sự phát triển của sinh học Nó là một bộ phận của toàn bộ sự phát triển của cơ thể nhằm thích ứng với môi trường sống Quan điểm này cho thấy tiến trình phát triển trí tuệ ở trẻ em từ nhỏ đến tuổi trưởng thành, trên bình diện khác
Trang 6nhau có tính tổng quát cho các giai đoạn phát triển khác nhau Sự phát triển trí tuệ ở trẻ em là quá trình tạo lập các cấu trúc trí tuệ mới theo khuynh hướng kế thừa và phủ định những cấu trúc đã có c ủa bản thân các em Để có các c ấu trúc mới đó, chủ thể phải tiến hành các hoạt động với môi trường, nhằm tích lũy và hoàn thiện những trí thức và thao tác đã có để đến khi chín muồi sẽ chuyển hóa thành c ấu trúc mới có chất lượng cao hơn Quá trình này phụ thuộc vào sự chín muồi của các c ấu trúc sinh học của cơ thể, đặc biệt là cấu trúc thần kinh
Trong nghiên cứu trí tuệ, không thể không tính đến vai trò các yếu tố liên quan đến sự phát triển trí tuệ Nếu khái quát có thể chia các yếu tố này thành 3 nhóm: các yếu tố sinh học – thể chất, các yếu tố xã hội và yếu tố chủ thể Tư tưởng của các nhà di truyền là trí tuệ được quyết định theo con đường di truyền sinh học
Về phương diện triết học, các quan niệm đều nhấn mạnh yếu tố môi trường, đặc biệt
là của Jonh Locke Theo đó, linh hồn chúng ta khi sinh ra, có thể nói như một tờ giấy trắng, không có một kí hiệu hay một ý niệm nào cả Mọi tri thức của con người không phải là bẩm sinh, mà là kết quả của nhận thức Con người có được tri thức là nhờ kinh nghiệm, cũng như sự quan sát đối với các sự vật xung quanh Còn G.Piagie quan niệm sự phát sinh và phát triển trí tuệ cá nhân chịu sự chi phối của 4 nhân tố:
- Thứ nhất là sự tăng trưởng cơ thể, đ ặc biệt là sự chín muồi của phức hợp được tạo thành bởi hệ thần kinh và nội tiết [6]
- Thứ hai là vai trò của sự luyện tập và kinh nghiệm thu được thông qua hoạt động với đối tượng [6]
- Thứ ba là sự tương tác và chuyển giao xã hội [6]
- Thứ tư là tính chủ thể và sự phối hợp chung của các hành động cá nhân.[6] Tuy nhiên, khi xét về phương diện phát triển tâm lý loài người, cũng phương diện phát triển trí tuệ cá nhân, Karl Marx đã đưa ra luận điểm: “Con người tạo ra hoàn c ảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy” Đây được coi là định lý của sự phát triển trí tuệ Môi trường xã hội vừa quy định nội dung và phương thức phát triển trí tuệ vừa là sản phẩm của nó Môi trường xã hội là nguồn gốc của sự phát triển trí tuệ và luôn tồn tại mối quan hệ chuyển hóa và sinh thành lẫn nhau giữa yếu tố sinh học và môi trường xã hội với chủ thể.[6]
Trang 71.2 Những kết quả nghiên cứu về trí tuệ trên Thế giới và Việt Nam
1.2.1 Những kết quả nghiên cứu về trí tuệ trên Thế giới
Trí tuệ là một hoạt động tâm lý phức tạp, bao gồm khả năng nhận thức, ngôn ngữ vận động và khả năng thích ứng với xã hội, nó là một trong những đặc tính tâm
lý và tư duy mà chỉ con người mới có
Để đánh giá được trí tuệ của mỗi cá nhân, có nhiều phương pháp khác nhau, một trong số các phương pháp phổ biến hiện nay là phương pháp trắc nghiệm (test) Đây là một công cụ đã được tiêu chuẩn hóa dùng để đo lường khách quan một hay nhiều phía cạnh hoàn chỉnh qua những mẫu trả lời bằng ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ hoặc những loại hành vi khác Năm 1905, Alfred Binet và Simon đã dùng phương pháp trắc nghiệm trí tuệ để phân biệt các trẻ em học kém bình thường và các trẻ em học kém chậm phát triển trí tuệ Sau đó, trắc nghiệm này được cải tiến nhiều lần để dùng cho trẻ em và người lớn[6]
Năm 1912, W Stern là người đầu tiên đưa ra khái niệm “hệ số thông minh”
Hệ số thông minh viết tắt là IQ (Intelligence Quotient), nó là chỉ số đo nhịp độ phát triển trí tuệ đặc trưng cho mỗi đứa trẻ và được tính theo công thức sau:
IQ = MA
CA x 100 Trong đó:
MA (Mental Age): là tuổi trí khôn được tính theo kết quả bài trắc nghiệm
CA (Cholorogical Age): là tuổi thời gian tính theo ngày tháng năm sinh Như vậy, hệ số IQ chỉ ra sự vượt lên hay chậm lại của tuổi trí khôn (MA) so với tuổi thời gian (CA) Giữa tuổi trí khôn và tuổi thời gian có mối tương quan tuyến tính
D.Wechsler không đồng tình với quan niệm của W.Stern Ông cho rằng, sự phát triển trí tuệ diễn ra suốt đời một người một cách không đồng đều, nên hệ số IQ của W.Stern không thể đánh giá được sự phát triển của trí tuệ và không phải là một chỉ số thông minh
Dựa và hệ thống trắc nghiệm của Binet, các nhà khoa học đã đưa ra hàng loạt các bài trắc nghiệm khác nhau tùy thuộc vào mục đích đề ra ban đầu Đó là các Test phân tích nghiên cứu trí tuệ của Richard Meili (1928) sử dụng vào tư vấn nghề
Trang 8nghiệp và tư vấn học đường; Test khuôn hình tiếp diễn chuẩn của J.C.Raven (1936); Test trí tuệ đa dạng của Gille (1944); Test thông minh cho trẻ em của Wisc (1949)…Test Raven là trắc nghiệm được sử dụng phổ biến và rộng rãi nhất, được xây dựng trên thuyết tri giác hình thể của nhà tâm lý học Gestal và thuyết tân phát sinh c ủa Spearman Thuyết tri giác hình thể của Gestal, mỗi bài tập của test như một chỉnh thể, gồm nhiều yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau Khi giải nghiệm thể phải đánh giá tổng thể, sau đó phân tích yếu tố bị tách rời để đưa vào, tạo nên một khuôn hình hoàn chỉnh Thuyết tân phát sinh của Spearman, quá trình tư duy hình thể đươc chia làm ba pha, dựa trên ba quy luật của tân phát sinh là: sự nắm bắt toàn bộ, hoàn chỉnh khung hình; Sự vạch ra mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành một cấu trúc hoàn chỉnh; Trên cơ sở mối quan hệ giữa các yếu tố, tìm ra yếu tố còn thiếu của khuôn hình
Test Raven được công bố lần đầu tiên năm 1936, sau hai lần chuẩn hóa vào năm 1945 và 1956 đã được UNESCO công nhận và chính thức đưa vào sử dụng để chẩn đoán trí tuệ của con người từ năm 1960 Ưu điểm của test Raven là nó mang tính khách quan và tính lo ại trừ cao những khác biệt về văn hóa, xã hội của đối tượng nghiên cứu, do vậy có thể nghiên cứu trên nhiều đối tượng khác nhau Hơn nữa, kĩ thuật thực hiện tương đối đơn giản, dễ thực hiện, tốn ít thời gian.[8]
Năm 1967, Wiliam, K.Pranken Burg, Josiahb Dodds và Anma, W.Fandal thuộc trường đại học của trung tâm Y học Colorado (Mỹ) đã nghiên cứu và đưa ra test Denver Đây là bộ test gồm 105 bài tập được sắp xếp theo phiếu kiểm tra theo 4 khu vực: cá nhân – xã hội, vận động tinh tế - thích ứng, ngôn ngữ, vận động thô sơ Trắc nghiệm chủ yếu vận dụng các tiêu chuẩn phát triển bình thường ở trẻ nhỏ, sắp xếp các tiêu chuẩn vào một hệ thống chung để tiến hành nhận định, đánh giá đối tượng nghiên cứu trong một thời gian dài Đây là một phương pháp nhằm sớm đánh giá trình độ phát triển trí tuệ và phát triển sớm các trạng thái chậm phát triển ở trẻ nhỏ
Ngày nay, có khoảng hơn 2000 các trắc nghiệm trí tuệ khác nhau, trong đó
có khoảng 500 trắc nghiệm về nhân cách đã được xuất bản
1.2.2 Những kết quả nghiên cứu về trí tuệ ở Việt Nam
Trang 9Trí tuệ là phẩm chất rất quan trọng của con người, nó liên quan đến cả thể chất và tinh thần Ở Việt Nam, trước năm 1975, việc sử dụng Test Raven vào nghiên cứu trí tuệ còn rất hạn chế Từ những năm 80 trở lại đây, các công trình nghiên cứu trí tuệ ngày càng nhiều
Trần Trọng Thủy (1999) đã sử dụng test Raven để nghiên cứu trình độ phát triển trí tuệ của học sinh THPT quận Hoàn Kiếm – Hà Nội Kết quả cho thấy, chiều hướng, cường độ và chất lượng phát triển trí tuệ học sinh qua các lứa tuổi khác nhau Nhìn chung, cường độ phát triển trí tuệ từ trung bình trở lên
Năm 2001, khi nghiên cứu năng lực trí tuệ và học lực của học sinh THPT Huyện Ba Vì – Hà Tây, Nguyễn Thị Lý đã nhận xét: năng lực trí tuệ của cha mẹ và học sinh có mối tương quan thuận Tuổi sinh con của người mẹ có ảnh hưởng đến nang lực trí tuệ của học sinh.[7]
Năm 2004, Nguyễn Công Thùy Trâm đã nghiên cứu chỉ số hình thái thể lực sinh lý của học sinh thành phố Đà Nẵng Kết quả nghiên cứu cho thấy, số học sinh tiểu học Đà Nẵng có chỉ số IQ cao tăng dần và chỉ số IQ thấp giảm dần theo tuổi Giữa chỉ số IQ và học lực có mối tương quan thuận với nhau: tỉ lệ học sinh có chỉ số
IQ cao giảm dần theo mức giảm học lực và ngược lại.[10]
Nguyễn Thị Xuyến (2008) nghiên cứu trí tuệ và một số chỉ số sinh học của học sinh trường tiểu học và trung học cơ sở thị trấn Phố Mới – Quế Võ – Bắc Ninh cũng nhận thấy, năng lực trí tuệ của học sinh tiểu học và trung học cơ sở thị trấn Phố Mới xếp loại trung bình và không có sự khác biệt đáng kể năng lực trí tuệ theo giới tính Chỉ số IQ của học sinh tăng dần theo tuổi, thấp nhất lúc 6 tuổi và cao nhất lúc 12 tuổi Giữa chỉ số IQ và học lực có mối tương quan thuận [14]
Trần Thị Phương Mai (2011) khi nghiên cứu trình độ trí tuệ của học sinh khối lớp 10-11-12 trường THPT Tr ần Phú – Đà Nẵng cũng đưa ra kết luận: năng lực trí tuệ tăng dần theo khối Giữa chỉ số IQ và học lực có mối tương quan thuận với nhau: tỉ lệ học sinh có IQ cao giảm dần theo mức giảm của học lực và ngược lại
tỉ lệ học sinh có IQ thấp giảm dần theo mức giảm của học lực.[8]
1.3 Một số nét về điều kiện kinh tế - xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Nam
Trang 10- Quảng Nam là một tỉnh thuộc khu vực Duyên hải Miền Trung nằm ở trung
độ của cả nước, vừa có vùng đồng bằng ven biển vừa có vùng trung du, miền núi; địa hình có độ dốc lớn, hiểm trở Tổng diện tích vùng miền núi là 845,763 ha chiếm 81,25% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh; trong đó diện tích diện tích vùng đồng bào dân tộc thiểu số cư trú là 683,792 ha, chiếm 80,8% diện tích tự nhiên c ủa toàn vùng miền núi
- Do địa hình đồi núi cao và có độ dốc lớn, giao thông đi l ại khó khăn, thường bị chia cắt trong mùa mưa lũ; diện tích đất sản xuất nhỏ, manh mún, phương thức sản xuất, canh tác còn lạc hậu mang nhiều tính tự cung tự cấp; điều kiện canh tác phụ thuộc nhiều vào thời tiết, tự nhiên; sản lượng cây trồng thấp lại thiếu ổn định, nghề nghiệp chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi Hơn nữa, hậu quả chiến tranh
để lại khá nặng nề (Quảng Nam là chiến trường ác liệt nhất của Khu V) nên kinh tế
- xã hội vùng núi còn rất nhiều khó khăn Hiện nay cả tỉnh có 57 xã đặc biệt khó khăn bao gồm 12 xã tuyến biên giới Việt Nam - Lào
- Trên địa bàn tỉnh có 20 dân tộc, đông nhất là dân tộc Kinh có 1.280.587 người, chiếm 93,2%; các dân tộc thiểu số như dân tộc Cơ Tu có 37.310 người, chiếm 2,71%; dân tộc Xơ Ðăng có 30.231 người, chiếm 2,2%; dân tộc Mnông có 13.685 người, chiếm 0,99%; dân tộc Giẻ Triêng có 4.546 người, chiếm 0,33%; dân tộc Co có 4.607 người, chiếm 0,33%; dân tộc Hoa có 1.106 người, chiếm 0,08%; dân tộc Tày có 509 người, chiếm 0,03%; dân tộc Mường có 364 người, chiếm 0,02%; dân tộc Nùng có 247 người, chiếm 0,01%; các dân tộc khác chiếm 0,1% Sinh sống trên địa bàn 69 xã của 11huyện/14 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh, nhưng tập trung chủ yếu ở 6 huyện vùng cao, miền núi là Nam Trà My, Bắc Trà
My, Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang và Phước Sơn
- Thu nhập bình quân đầu người đạt từ 1,2 đến 1,4 triệu đồng/người/năm Tỷ
lệ dùng nước sạch đ ạt tỷ lệ 50%, dùng điện đạt 34,24% và 60,62% số dân dùng phương tiện truyền thanh Bình quân đất sản xuất nông – lâm nghiệp từ 1.400 đến 1.700 m2/hộ Tỷ lệ đói nghèo theo chuẩn mới còn cao, c ụ thể: Nam Giang 52,63%, Đông Giang 52,77%, Bắc Trà My 56,31%, Phước Sơn 59,74%, Nam Trà My 77,79% và Tây Giang 84,62%.[13]
Trang 11Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Học sinh đồng bào dân tộc khối lớp 10, 11 và 12 trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Quảng Nam
Tất cả học sinh nghiên cứu đều khỏe mạnh, không có dị tật bẩm sinh hoặc bị bệnh mãn tính
Bảng 2.1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo khối lớp và giới tính
Các đối tượng đo phải tương đối thuần nhất: cùng sống trong điều kiện địa
lý, hoàn cảnh xã hội, cùng giới tính và cùng thời gian nghiên cứu
có 1 nội dung riêng
Bộ A: thể hiện tính toàn vẹn, liên tục của cấu trúc
Bộ B: thể hiện sự giống nhau giữa các cặp hình
Bộ C: tính tiếp diễn logic của sự biến đổi cấu trúc
Bộ D: sự thay đổi logic vị trí các hình
Bộ E: phân tích cấu trúc và bộ phận trắc nghiệm
Trang 12Mỗi học sinh được phát 1 quyền trắc nghiệm Raven và phiếu trả lời, học sinh làm bài độc lập sau khi đã được hướng dẫn
Mỗi bài tập đúng được cộng 1 điểm, cộng điểm của tất cả các bộ A, B, C, D,
E Đối chiếu với bảng điểm chuẩn kì vọng của từng bộ của mỗi tổng điểm tương đương với tổng điểm của cá nhân đó Nếu các số hiệu này giao động trong khoảng
± 2 và tổng số giá trị tuyệt đối của các hiệu số ở tất cả các bộ ≤ 6 thì cho phép sử dụng kết quả đó Nếu không thõa mãn 1 trong 2 điều kiện trên thì kết quả bị loại bỏ
- Căn cứ vào điểm Test Raven, tính chỉ số IQ theo công thức:
𝐼𝑄 = 𝑋 − 𝑋̅
15 + 100
Trong đó: X: điểm trắc nghiệm Raven
𝑋̅: trị số trung bình cộng của nhóm nghiệm thể
: độ lệch chuẩn điểm trắc nghiệm của nhóm
- Sau đó, đối chiếu chỉ số IQ với tiêu chuẩn phân loại trí tuệ theo bảng phân loại hệ số thông minh của D Wechsler
Bảng 2.2: Phân loại hệ số thông minh của D Wechsler
2.2.3 Phương pháp xác định trình độ tư duy khái quát
- Khả năng tư duy khái quát của học sinh được đánh giá thông qua 12 khuôn hình của bộ E trong Test Raven và được phân loại qua bảng sau:
Trang 13Bảng 2.3: Phân loại khả năng tư duy khái quát
Các loại khả năng TDKQ Số điểm đạt được
2.2.4 Phương pháp đo trí nhớ thính giác
Trí nhớ thính giác ở học sinh được đo bằng phương pháp Nechaiev:
Đọc rõ ràng cho học sinh nghe dãy chữ số thứ nhất gồm 12 số có 2 chữ số, không cho học sinh ghi chép gì trong quá trình đọc Sau khi đọc xong, ra lệnh cho học sinh ghi lại các chữ số mà các em nhớ trên giấy, không cần theo thứ tự
Lặp lại thao tác trên cho dãy số thứ 2 cũng gồm 12 số có 2 chữ số khác nhau Trình độ trí nhớ thính giác được đánh giá theo số lượng trung bình các chữ
số đúng qua 2 lần trắc nghiệm
2.2.5 Phương pháp đo chú ý
Khả năng chú ý của học sinh được đo bằng phương pháp Bourdon:
Phát cho học sinh 1 bản in có nhiều chữ cái Yêu cầu học sinh khoanh tròn 2 chữ cái nhất định theo yêu c ầu trong vòng 5 phút Cứ sau mỗi phút lại ra lệnh cho học sinh gạch 1 gạch thẳng đứng vào ngay khe giữa 2 chữ cái Sau đó, không dừng lại mà tiếp tục làm trong 5 phút
Khả năng chú ý c ủa học sinh được thể hiện qua các chỉ số: nhịp độ chú ý, tâm thế chú ý, độ tập trung chú ý, độ chính xác của chú ý
- Nhịp độ chú ý của học sinh được đánh giá qua năng suất chú ý, tức là chữ
số trung bình đếm được của học sinh trong 1 phút
- Tâm thế chú ý của học sinh (sự ưu tiên cho tốc độ hay độ chính xác) được đánh giá qua sự so sánh năng suất chú ý và chữ số trung bình đếm sai trong 1 phút
- Độ chính xác của chú ý được tính theo công thức:
A = Tổng số chữ đúng / (Tổng số chữ đúng + Tổng số chữ sai)
2.2.6 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê bằng chương trình Microsoft
Excel
Trang 14Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Năng lực trí tuệ của học sinh trường THPT DTNT tỉnh Quảng Nam
3.1.1 IQ điểm chuẩn trung bình của học sinh trường THPT DTNT tỉnh Quảng Nam theo khối lớp và theo giới tính
Năng lực trí tuệ của học sinh được xác định qua chỉ số IQ Kết quả nghiên cứu chỉ số IQ của học sinh khối lớp 10-11-12, trường THPT DTNT tỉnh Quảng Nam được trình bày qua bảng 3.1
Bảng 3.1: IQ điểm chuẩn trung bình của học sinh trường THPT DTNT tỉnh Quảng
Trang 15Hình 3.2: IQ điểm chuẩn trung bình của học sinh theo giới tính
Các số liệu trong bảng 3.1 cho thấy:
- IQ điểm chuẩn trung bình c ủa học sinh khối lớp 10-11-12 tăng dần: IQ điểm chuẩn trung bình là 100.00 ± 6.27 ở khối lớp 10 tăng lên đến 100.04 ± 7.61 ở khối lớp 12, tăng thêm 0.04
IQ điểm chuẩn trung bình c ủa học sinh khối lớp 10-11-12 trong nghiên cứu của chúng tôi đạt 100.01 ± 7.2, xếp loại trí tuệ trung bình, tốc độ tăng trung bình của chỉ số IQ hằng năm là 0.02
- IQ điểm chuẩn trung bình của cả học sinh nam và học sinh nữ đều tăng theo khối lớp:
+ Học sinh nam: IQ điểm chuẩn trung bình là 99.94 ± 7.64 ở khối lớp 10 tăng lên đến 100 ± 6.53 ở khối lớp 12, tăng thêm 0.06
+ Học sinh nữ: IQ điểm chuẩn trung bình là 100.02 ± 5.18 ở khối lớp 10 tăng lên đến 100.05 ± 7.83 ở khối lớp 12, tăng thêm 0.03
Kết quả này cho thấy sự phát triển IQ điểm chuẩn liên quan đến sự tích lũy kiến thức, kinh nghiệm và lượng thông tinh trong quá trình học tập cũng như trong đời sống hằng ngày của học sinh, tăng dần từ khối lớp 10 cho đến khối lớp 12 Đặc biệt là học sinh khối lớp 12 đã có mục đích học tập rõ ràng, có động lực học tập thúc đẩy nhằm đạt kết quả cao trong các kì thi như: thi tốt nghiệp THPT, thi tuyển sinh Đại học, Cao đẳng, nên kết quả này là hoàn toàn phù hợp với quy luật tự nhiên
- Ở cùng một khối lớp, IQ điểm chuẩn trung bình của nữ cao hơn nam:
99.94
99.96
100 100.02
Khối lớp Chỉ số IQ
Trang 16+ Khối lớp 10: IQ điểm chuẩn trung bình của nữ cao hơn nam là 0.08 + Khối lớp 11: IQ điểm chuẩn trung bình của nữ cao hơn nam là 0.1
+ Khối lớp 12: IQ điểm chuẩn trung bình của nữ cao hơn nam là 0.05
Nhưng mức chênh lệch điểm IQ trung bình của học sinh nam và học sinh nữ
ở từng lớp tuổi là không lớn và đều không có ý nghĩa thống kê Điều này chứng tỏ, không có sự khác biệt về năng lực trí tuệ theo giới tính
- Để đánh giá kết quả thu được, chúng tôi tiến hành so sánh nó với kết quả nghiên cứu của Trần Thị Phương Mai trên đối tượng học sinh THPT Tr ần Phú- TP
Đà Nẵng Kết quả so sánh được trình bày trong bảng 3.2
Bảng 3.2: IQ điểm chuẩn trung bình của học sinh theo nghiên cứu của tác giả khác
nhau Giới
Lớp
KQNC (2012)
TTPM (2011)
KQNC (2012)
TTPM (2011)
KQNC (2012)
TTPM (2011)
12 100.00 112.44 100.05 109.95 100.04 111.20
Hình 3.3: Biểu đồ biểu diễn IQ điểm chuẩn của học sinh khối lớp 10-11-12 theo
nghiên cứu của các tác giả khác nhau
Khối lớp Chỉ số IQ
Trang 17Hình 3.4: Biểu đồ biểu diễn IQ điểm chuẩn trung bình của học sinh nam theo
nghiên cứu của các tác giả khác nhau
Hình 3.5: Biểu đồ biểu diễn IQ điểm chuẩn trung bình của học sinh nữ theo
nghiên cứu của các tác giả khác nhau
Khối lớp Chỉ số IQ
Chỉ số IQ
Trang 18Qua bảng 3.2, ta thấy:
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi về IQ điểm chuẩn trung bình c ủa học sinh thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Thị Phương Mai:
+ Mức chênh lệch về IQ điểm chuẩn trung bình c ủa học sinh khối lớp
10-11-12 trường THPT DTNT tỉnh Quảng Nam so với kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Thị Phương Mai dao động từ 7.88 đến 10.8
+ Mức chênh lệch về IQ điểm chuẩn trung bình c ủa học sinh nam và học sinh nữ khối lớp 10-11-12 trường THPT DTNT tỉnh Quảng Nam so với kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Thị Phương Mai dao động từ 8.5 đến 12.44 đối với nam
và từ 7.31 đến 9.9 đối với nữ
Bên cạnh đó, mức độ tăng bình quân hằng năm về IQ điểm chuẩn trung bình của học sinh trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi so với các kết quả nghiên cứu khác cũng có sự chênh lệch
+ Mức tăng trung bình của học sinh khối lớp 10-11-12 trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi là 0.02, Trần Thị Phương Mai là 1.66
+ Mức tăng trung bình của học sinh nam khối lớp 10-11-12 trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi là 0.03, Tr ần Thị Phương Mai là 2 Đối với học sinh nữ khối lớp 10-11-12, trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi là 0.025, Trần Thị Phương Mai là 1.31
Sự khác biệt về IQ điểm chuẩn trung bình của học sinh trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi so với kết quả trong nghiên cứu của tác giả Trần Thị Phương Mai
là do đối tượng nghiên cứu thuộc địa bàn khác nhau Đối tượng nghiên cứu của tác giả Trần Thị Phương Mai là học sinh trường THPT Trần Phú - TP Đà Nẵng, còn đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là học sinh dân tộc miền núi tỉnh Quảng Nam Ở địa bàn khác nhau thì điều kiện kinh tế- xã hội, chế độ dinh dưỡng và lượng thông tin tích lũy là khác nhau Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi sinh ra, lớn lên ở các vùng miền núi tỉnh Quảng Nam, nơi mà mọi điều kiện kinh tế, xã hội và trình độ dân trí còn thấp Điều kiện sống của học sinh chưa được tốt, sự quan tâm c ủa cha
mẹ đến sự phát triển năng lực trí tuệ của con cái còn hạn chế, môi trường học tập của các em không tốt như ở thành phố, lượng thông tin xã hội thấp, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào đời sống còn hạn chế Điều này cũng chứng tỏ, sự phát
Trang 19triển trí tuệ của học sinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có ảnh hưởng của điều kiện sống
3.1.2 Phân bố học sinh theo các mức trí tuệ
Qua nghiên cứu, chúng tôi thống kê được tỉ lệ học sinh nam, nữ thuộc các
mức trí tuệ khác nhau và được trình bày trong bảng 3.3
Bảng 3.3: Phân bố tỉ lệ (%) học sinh theo các mức trí tuệ
Lớp Giới
tính
Mức trí tuệ
I (≥130)
II (120-129)
III (110-119)
IV (90-109)
V (80-89)
VI (70-79)
VII (<70)
Trang 20Hình 3.6: Phân bố tỉ lệ (%) học sinh theo khối lớp và mức IQ
Hình 3.7: Phân bố tỉ lệ (%) học sinh theo giới tính và mức IQ
Mức trí tuệ
Tỉ lệ %
Tỉ lệ %
Trang 21Kết quả nghiên cứu ở bảng 3.3 cho thấy:
- Sự phân bố tỉ lệ học sinh khối lớp 10-11-12 ở các mức trí tuệ khác nhau là khác nhau Trong đó:
+ Tỉ lệ học sinh có mức trí tuệ từ 90-109 là cao nhất, chiếm 47.70% Cụ thể: khối lớp 10 tỉ lệ này là 55.81%, khối lớp 11 là 40.87% và khối lớp 12 là 46.60%
+ Tỉ lệ học sinh có mức trí tuệ từ 110-119 chiếm 20.72% Cụ thể: khối lớp
10 tỉ lệ này là 20.93%, khối lớp 11 là 22.93% và khối lớp 12 là 22.61%
+ Học sinh có mức trí tuệ từ 80-89 chiếm tỉ lệ nhỏ hơn là 14.47% Cụ thể: khối lớp 10 tỉ lệ này là 9.3%, khối lớp 11 là 14.78% và khối lớp 12 là 17.48%
+ Tỉ lệ học sinh có mức trí tuệ từ 120-129 và từ 70-79 là tương đương nhau
Cụ thể: tỉ lệ học sinh có mức trí tuệ từ 120-129 là 6.58% và tỉ lệ học sinh có mức trí tuệ từ 70-79 là 6.59%
+ Học sinh có mức trí tuệ <70 chiếm tỉ lệ nhỏ là 2.96%
+ Tỉ lệ học sinh có mức trí tuệ ≥130 là nhỏ nhất, chiếm 0.99%
- Sự phân bố tỉ lệ học sinh trong cùng một giới ở các mức trí tuệ khác nhau thì khác nhau Trong đó:
+ Tỉ lệ học sinh ở mức trí tuệ ≥130, 90-109, 80-89, 70-79 ở nữ cao hơn nam
Cụ thể:
Mức trí tuệ ≥130: tỉ lệ học sinh nam là 0%, nữ là 1.21%
Mức trí tuệ 90-109: tỉ lệ học sinh nam là 46.35%, nữ là 49.18%
Mức trí tuệ 80-89: tỉ lệ học sinh nam là 13%, nữ là 13.26%
Mức trí tuệ 70-79: tỉ lệ học sinh nam là 6.5%, nữ là 8.84%
+ Tỉ lệ học sinh có mức trí tuệ 120-129, 110-119 ở nam cao hơn nữ Cụ thể:
Mức trí tuệ 120-129: tỉ lệ học sinh nam là 12.2%, nữ là 7.73%
Mức trí tuệ 110-119: tỉ lệ học sinh nam là 18.7%, nữ là 16.57%
Kết quả này có thể là do ở học sinh c ấp bậc THPT đã hình thành hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp Với giai đoạn này, điều có ý nghĩa nhất với các em là ý nghĩa thực tiễn của môn học đó đối với cá nhân, khả năng tiếp thu môn học của các em Học sinh nam thường thích các môn học đòi hỏi tính logic cao, trong khi các em nữ lại thiên về các môn học cần trí nhớ hơn là các môn c ần sự