Vĩnh Lộc cũng là một huyện vốn có truyền thống yêu nước và tinh thần hiếu học từ lâu, nơi phát tích của nhà Trịnh và 12 đời chúa Trịnh, Thành nhà Hồ, phủ Trịnh, các khu di tích lịch sử c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA LỊCH SỬ
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thời gian vẫn cứ thế trôi đi, bánh xe lịch sử sẽ không bao giờ quay ngược trở lại, thế nhưng như vậy không có nghĩa những giá trị lịch sử sẽ bị chôn vùi Nếu như lần theo dấu vết của thời gian thì chúng ta sẽ tìm hiểu được lịch sử Đối với một dân tộc, một vùng đất cũng vậy! Những giá trị văn hóa lịch sử mà bao thế hệ đi trước đã để lại chính là dấu vết Nhìn vào đó chắc chắn chúng ta sẽ tái hiện được phần nào lịch sử Bởi thế muốn tìm
về cội nguồn thì không thể không nhắc đến hệ thống các di tích lịch sử văn hóa Đây là những chứng tích vô cùng quan trọng, nơi ghi dấu những khoảnh khắc hào hùng và lưu giữ biết bao truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta
Từ lâu Việt Nam vốn được xem là một đất nước có bề dày về lịch sử và văn hóa, chính vì thế loại hình du lịch nhân văn cũng được rất nhiều người quan tâm Vậy nên việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa lịch sử là vô cùng quan trọng Nó không chỉ là trách nhiệm riêng của bất kỳ một tổ chức, một địa phương nào, trách nhiệm đó thuộc về tất cả chúng ta, những người may mắn được sinh ra và lớn lên trên mãnh đất quê hương Việt Nam đầy kiêu hãnh Đó không đơn thuần là công việc bảo vệ những giá trị xưa cũ
mà còn là gìn giữ cho những thế hệ mai sau, bởi đây thực sự là những bài học lịch sử thiết thực cho giới trẻ Trên cơ sở đó quảng bá, giới thiệu những giá trị văn hóa lịch sử tốt đẹp ấy đến bạn bè khắp năm châu bốn phương
Dãi đất hình chữ “S” xinh đẹp của đất nước Việt Nam thật đặc biệt! Điều đặc biệt
ấy ở chỗ dù diện tích không lớn, dáng hình mềm mại và con người nhỏ bé thế nhưng Việt Nam lại có thể làm nên những điều hết sức phi thường, tưởng chừng như không thể, và Vĩnh Lộc xứng đáng là một trong những địa phương mang đầy đủ những khí chất như thế! Nằm trong địa vực của tỉnh Thanh Hóa, vùng đất được mệnh danh là “địa linh nhân kiệt”, với truyền thống lịch sử lâu đời Thanh Hóa đã sản sinh ra rất nhiều những nhân vật kiệt xuất như: Lê Lợi, Lê Hoàn, Bà Triệu, Lê Văn Hưu, Lê Thánh Tông, Đào Duy Từ Vĩnh Lộc cũng là một huyện vốn có truyền thống yêu nước và tinh thần hiếu học từ lâu, nơi phát tích của nhà Trịnh và 12 đời chúa Trịnh, Thành nhà Hồ, phủ Trịnh, các khu di tích lịch sử của huyện là những minh chứng lịch sử hào hùng của con người và mảnh đất
Trang 3nơi đây Ngay từ thời phong kiến, huyện Vĩnh Lộc đã có nhiều người là những vị tướng giỏi cầm quân đánh giặc cứu nước như: Trần Khát Chân, Hoàng Ðình Ái, Trịnh Khả, Tống Duy Tân
Theo thống kê, trên địa bàn huyện Vĩnh Lộc hiện có 251 di tích, trong đó rất nhiều
di tích nổi tiếng có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa có triển vọng cho phát triển kinh tế du lịch, đặc biệt là vào tháng 6 năm 2011 vừa qua Thành nhà Hồ vừa được Ủy ban Di sản thế giới tại kỳ họp thứ 35 được tổ chức tại Paris (Cộng Hòa Pháp) chính thức công nhận
là di sản văn hóa thế giới Tuy nhiên hiện nay những di tích lịch sử văn hóa trên vẫn chưa thực sự được khai thác một cách triệt để, để có thể thu hút được lượng lớn du khách đến tham quan và đem lại hiệu quả kinh tế cho huyện và nhân dân địa phương
Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó, tôi chọn đề tài “Di tích lịch sử văn hóa ở huyện
Vĩnh Lộc - Thanh Hóa với việc phát triển du lịch địa phuơng” làm báo cáo khóa luận tốt
nghiệp ra trường của mình, qua đó nhằm góp một phần công sức bé nhỏ của mình vào việc bảo tồn, gìn giữ và khai thác những giá trị văn hóa lịch sử phục vụ cho việc phát triển du lịch của địa phương và giới thiệu tới bạn bè, du khách bốn phương đến với Vĩnh Lộc
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thanh Hoá là vùng đất vốn có lịch sử lâu đời, đây là một trong những cái nôi của dân tộc Việt Nam Những ai đã từng đến với Thanh Hoá thì không nên bỏ qua vùng đất Vĩnh Lộc - nơi mà hiện nay vẫn còn lưu giữ lại rất nhiều những tinh hoa quá khứ qua những di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng như: thành Nhà Hồ, nhà cổ Tây Giai, phủ Trịnh - nghè Vẹt, chùa Tường Vân, chùa Báo Ân, đền Trần Khát Chân… Chính vì thế Vĩnh Lộc được nhắc đến rất nhiều trong sách, báo, tài liệu có giá trị từ trước đến nay
Trong cuốn “Đại Nam nhất thống chí” do Á Nam Trần Tuấn Khải biên dịch có
miêu tả đầy đủ về vị trí địa lý của huyện Vĩnh Lộc cũng như sự thay đổi tên gọi và lãnh thổ qua từng thời kỳ
Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 24 (2008) viết về
“Không gian văn hoá Tây Đô” của tác giả Nguyễn Thị Thuý cũng trình bày về địa thế và
những biến đổi của huyện Vĩnh Lộc sau khi được Hồ Quý Ly chọn làm Tây Đô
Trang 4Cuốn “Đại Việt sử ký toàn thư” của Ngô Sỹ Liên biên soạn đã ghi lại hoàn cảnh xây dựng thành nhà Hồ Ngoài ra “Non nước Việt Nam” của tác giả Phạm Công Sơn cũng
đã đưa ra những thông tin cơ bản về thành nhà Hồ…
Có nhiều sách từng viết về khu đền thờ Trần Khát Chân nổi tiếng ở Vĩnh Lộc như
cuốn “Đồng Khánh địa dư chí”, “Thanh Hoá Vĩnh Lộc huyện chí” của Lưu Công Đạo
(viết năm Bính Tý, Gia Long thứ 15/1816) đã chỉ ra rất rõ vị trí và đặc điểm của ngôi đền này
Viết về phủ Trịnh - nghè Vẹt danh Y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (quê xã Liên Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên) từ xã Tình Diễm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh được chúa Thịnh Vương Trịnh Sâm vời vào phủ chúa Trịnh ở Thăng Long, chữa trị
cho Vương tử Trịnh Cán Năm 1782 ông viết tác phẩm “Thượng Kinh ký sự” (ghi chép những sự việc lần đầu tiên đến Kinh Đô) trong đó có bài thơ “Đáo vương phủ”, “Thuật
hoài” đã miêu tả lại rất sinh động cảnh lộng lẫy cung son, hương hoa ngào ngạt và cả âm
vang tiếng vẹt của phủ Chúa
Ngoài ra còn rất nhiều các di tích nổi tiếng, có giá trị trên địa bàn huyện Vĩnh Lộc
được nhắc đến nhiều trong các bài viết như: Hải Đăng (2011) “Ngôi nhà cổ đẹp nhất Việt
Nam”(vietnamnet.vn) miêu tả cụ thể về ngôi nhà cổ Tây Giai ở thôn Tây Giai, xã Vĩnh
Tiến; Anh Tuấn(2009) “Chùa Giáng được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc
gia”(Baomoi.com) viết về chùa Giáng (chùa Tường Vân); Thu Trang (2011) “Hành trình đến với những thắng tích dọc đôi bờ sông Mã” (thanhnhaho.vn)…
Còn rất nhiều sách báo, bài viết khác nữa viết về vùng đất Vĩnh Lộc cũng như các
di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Nhìn chung các tác phẩm, bài viết đều tập trung nghiên cứu lịch sử, đặc điểm, hình dáng của các di tích chứ chưa đi vào phân tích
cụ thể, đánh giá, khai thác tiềm năng đối với phát triển du lịch ở địa phương Vì vậy nghiên cứu đề tài này tôi hy vọng sẽ phần nào đóng góp ý tưởng của mình cho những kế hoạch phát triển du lịch của huyện trong thời gian tới
3 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu về truyền thống lịch sử văn hóa của huyện Vĩnh Lộc
Trang 5- Tìm hiểu về thực trạng của hệ thống các di tích lịch sử văn hóa hiện nay ở huyện
- Vấn đề trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa hiện nay ở Vĩnh Lộc
- Đưa ra những định hướng khai thác các giá trị văn hóa lịch sử của các di tích cho việc phát triển du lịch của địa phương
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Di tích lịch sử văn hóa của huyện Vĩnh Lộc - Thanh Hóa với việc phát triển du lịch địa phương
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu về đặc điểm địa lý, lịch sử, kinh tế - xã hội, văn hóa - con người của huyện Vĩnh Lộc - Thanh Hóa Qua đây biết được đặc điểm cụ thể của các di tích Đồng thời đề tài sẽ tập trung nghiên cứu một số di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu như: thành nhà
Hồ, nhà cổ Tây Giai, phủ Trịnh, nghè Vẹt, chùa Tường Vân, đền Trần Khát Chân,
Ngoài ra đề tài cũng sẽ tìm hiểu thực trạng khách du lịch đến với các di tích cũng như phương thức khai thác các điểm di tích này để đưa vào hoạt động du lịch ở địa phương Bên cạnh đó đưa ra định hướng và một số giải pháp phát triển du lịch của các di tích lịch sử văn hóa ở huyện Vĩnh Lộc
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Để hoàn thành khóa luận này chủ yếu tôi dựa vào các tư liệu sau:
- Các tư liệu thành văn: sách chuyên ngành, các công trình nghiên cứu, khóa luận tốt nghiệp, bài viết, sách báo, tạp chí, văn bản
- Các văn bia, tiến hành công tác điền dã thực tế và trò chuyện trực tiếp với người dân địa phương
- Sử dụng một số webside: http: //svhttdl.thanhhoa.gov.vn
http://thanhhoatourism.gov.vn http://www.vietnamtourism.com
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 6Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi sử dụng đến những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích tổng hợp: nhằm phân tích, tổng hợp các tư liệu, thông tin
liên quan đến đề tài để khái quát hóa, mô hình hóa các vấn đề nghiên cứu và đạt được mục tiêu đề ra
- Phương pháp thống kê: trong quá trình tìm kiếm và sưu tầm tài liệu từ những
nguồn trong những khoảng thời gian khác nhau nên cần được sắp xếp và hệ thống lại một cách khoa học cho phù hớp với mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp phỏng vấn: đưa ra câu hỏi cho những du khách đến tham quan,
những người quản lý, cán bộ văn hóa, người dân địa phương và đặc biệt là người cao tuổi
để thu thập thêm thông tin
- Phương pháp khảo sát thực địa: nhằm lấy số liệu, thông tin phục vụ cho việc
trình bày, đồng thời kiểm nghiệm độ chính xác, để kết quả nghiên cứu có tính thuyết phục Phương pháp này rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến độ chính xác của đề tài
- Phương pháp chuyên gia: tận dụng những ý kiến của lãnh đạo, chính quyền, cán
bộ nghiên cứu trong lĩnh vực văn hóa để thu thập thông tin là hết sức thiết thực và bổ ích phục vụ cho nghiên cứu đề tài Vận dụng phương pháp này có thể rút ngắn được quá trình điều tra phức tạp đồng thời bổ sung cho phương pháp điều tra cộng đồng
6 Đóng góp của đề tài
6.1 Về mặt khoa học
Góp phần đưa ra cái nhìn tổng thể hơn về những di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện vĩnh Lộc và vị trí của nó đối với ngành du lịch Từ đó có những kế hoạch đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là về du lịch của địa phương
6.2 Về mặt thực tiễn
- Giới thiệu tới du khách mọi miền biết đến vùng đất Vĩnh Lộc nhiều hơn qua các
di tích
- Góp phần làm rõ hơn giá trị đích thực của mỗi di tích trên địa bàn huyện
- Các cơ quan chính quyền địa phương sẽ quan tâm chú trọng hơn nữa tới việc phát triển du lịch tham quan các điểm di tích lịch sử văn hóa
Trang 7- Đưa ra những đề xuất định hướng trong bảo tồn, giữ gìn và khai thác giá trị văn hóa để phát triển du lịch
- Những ai có lòng đam mê, quan tâm tới văn hóa và lịch sử của huyện Vĩnh Lộc cũng có thể lấy đề tài này phục vụ cho việc nghiên cứu của mình
7 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, phần nội dung chính gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung
Chương 2: Di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Vĩnh Lộc - Thanh Hóa
Chương 3: Vấn đề khai thác di tích lịch sử văn hóa ở huyện Vĩnh Lộc vào việc phát triển du lịch địa phương
Trang 8PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý luận chung 1.1 Khái quát về du lịch
1.1.1 Khái niệm về du lịch
Hiện nay du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến ở các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Tuy nhiên cho đến nay nhận thức về nội dung du lịch vẫn chưa thống nhất Do hoàn cảnh khác nhau, dưới góc độ nghiên cứu khác nhau Khi điểm lại các công trình nghiên cứu về du lịch, giáo sư tiến sĩ Berkener, một chuyên gia có uy tín về du lịch trên thế giới đã đưa ra nhận xét:
“Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa”
Du lịch gắn liền với việc nghỉ ngơi, giải trí, nhằm phục hồi, nâng cao sức khỏe và khả năng lao động cho con người, nhưng trước hết liên quan mật thiết tới sự thay đổi chỗ
ở của họ Vậy du lịch là gì?
Đầu tiên du lịch được hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc một nhóm người
rời khỏi chỗ ở của mình trong một thời gian ngắn đến các vùng xung quanh để nghỉ ngơi, giải trí hay chữa bệnh Ngày nay người ta đã thông nhất rằng về cơ bản, tất cả các hoạt động di chuyển của con người trong hay ngoài nước trừ việc cư trú chính trị, tìm việc làm
và xâm lược đều mang ý nghĩa du lịch
Theo Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of Official Travel Organization: IUOTO): “Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm
ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống”
Liên Hiệp Quốc (1963) định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ hay ngoài nước
họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”
Theo Pirogiơnic (1985) thì: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rãnh rỗi liên quan tới sự di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận
Trang 9thức - văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hóa”
Trong Pháp lệnh Du lịch của Việt Nam, tại điều 10, thuật ngữ “du lịch” lại được hiểu như sau: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hóa - xã hội Dựa theo cách tiếp cận trên, nên tách thuật ngữ du lịch thành hai phần để định nghĩa nó Du lịch có thể được hiểu như là:
+ Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rãnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng
+ Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rãnh rỗi của cá nhân, tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh
Trên thực tế, hoạt động du lịch ở nhiều nước chẳng những đã đem lại lợi ích kinh
tế, mà còn cả lợi ích chính trị, văn hóa, xã hội… Nhiều nước trên thế giới, ngành du lịch phát triển với tốc độ khá nhanh và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân, nguồn thu nhập từ ngành du lịch đã chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm xã hội
Trang 10- Loại hình du lịch quốc tế: là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến của khách nằm ở lãnh thổ của các quốc gia khác nhau Ở hình thức du lịch này khách phải đi qua biên giới và tiêu ngoại tệ ở nơi đến du lịch
- Loại hình du lịch nội địa: là hình thức đi du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến của khách nằm trong lãnh thổ của một quốc gia
Căn cứ vào nhu cầu làm nảy sinh hoạt động du lịch
- Loại hình du lịch chữa bệnh: tập hợp của các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu chữa bệnh bằng các tài nguyên có lợi cho một số các bệnh tật về thể xác và tinh thần của
du khách
- Loại hình du lịch nghỉ ngơi, giải trí: nhu cầu chính làm nảy sinh loại hình du lịch này là sự cần thiết phải nghỉ ngơi để phục hồi thể lực và tinh thần cho con người Đây là loại hình du lịch có tác dụng giải trí, làm cuộc sống thêm đa dạng và giải thoát con người
ra khỏi công việc hàng ngày
Nằm trong loại hình này là các hình thức tham gia hoạt động tại các công viên giải trí, công viên chủ đề, các casino…
- Loại hình du lịch thể thao: tập hợp các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu tham gia hoặc tham dự các hoạt động thể thao của du khách
- Loại hình du lịch văn hóa: mục đích là nhằm nâng cao hiểu biết cá nhân về mọi lĩnh vực như: lịch sử, kiến trúc, kinh tế, hội họa, chế độ xã hội, cuộc sống của người dân cùng phong tục, tập quán của đất nước du lịch
- Loại hình du lịch lịch sử: là loại hình nhằm giới thiệu với du khách về lịch sử của một dân tộc qua việc đưa khách đến những nơi ghi dấu các sự kiện lịch sử, các bảo tàng lịch sử, viện bảo tàng các di tích cách mạng…
- Loại hình du lịch sinh thái: loại hình này nhấn mạnh sự hấp dẫn của thiên nhiên Khách du lịch được đưa đến các vùng có môi trường tự nhiên được bảo vệ tốt, chưa bị ô nhiễm, đảm bảo tính nguyên sơ
- Loại hình du lịch công vụ: đối tượng chính của loại hình này là khách du lịch đi
vì mục đích công vụ Thông thường khách đi tham dự các hội nghị, hội thảo, kỷ niệm các ngày lễ lớn, các cuộc gặp gỡ, các cuộc triển lãm hàng hóa, hội chợ… Đặc điểm của loại
Trang 11hình này là có tính thời vụ khá thấp, yêu cầu các điểm du lịch phải có các điều kiện cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu của đối tượng khách này như phòng hội nghị, hội thảo, các điều kiện giao thông thuận lợi, các tiện nghi phục vụ cho công việc của du khách
- Loại hình du lịch tôn giáo: loại hình du lịch này thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng đặc biệt của những người theo các đạo khác nhau Đây là loại hình du lịch có tính thời vụ khá căng thẳng vì sự tập trung đột ngột của nhu cầu vào những thời điểm nhất định hàng năm Vấn đề của các doanh nghiệp du lịch là cần có sự chuẩn bị sẵn sàng cho việc cung ứng dịch vụ vào những thời điểm này, việc điều tiết cầu là khá hạn chế
- Loại hình du lịch thăm hỏi, du lịch quê hương: đây là loại hình du lịch phần lớn nảy sinh do nhu cầu của những người xa quê hương đi thăm hỏi bà con họ hàng, bạn bè thân quen, đi dự lễ cưới, tang lễ…
- Loại hình du lịch quá cảnh: nảy sinh do nhu cầu đi qua lãnh thổ của một nước nào đó trong thời gian ngắn để đến nước khác
Căn cứ vào hình thức tổ chức chuyến đi
- Loại hình du lịch theo đoàn: ở loại hình này các thành viên tham dự đi theo đoàn
và thường có sự chuẩn bị từ trước, trong đó đã định ra những nơi sẽ tới thăm, lưu trú và
ăn uống
- Loại hình du lịch cá nhân: bao gồm du lịch cá nhân có thông qua tổ chức du lịch
Cá nhân đi du lịch theo kế hoạch định trước của các tổ chức du lịch, tổ chức của công đoàn hay tổ chức xã hội khác Khách đi du lịch không phải đi cùng đoàn mà chỉ tuân theo những điều kiện đã được thông báo và chuẩn bị trước
Căn cứ vào phương tiện giao thông được sử dụng
- Loại hình du lịch bằng xe đạp
- Loại hình du lịch bằng xe máy
- Loại hình du lịch bằng xe ôtô
- Loại hình du lịch bằng tàu hỏa
- Loại hình du lịch bằng tàu thủy
- Loại hình du lịch bằng máy bay
Căn cứ vào phương tiện lưu trú được sử dụng
Trang 12- Loại hình du lịch ở khách sạn (Hotel)
- Loại hình du lịch ở khách sạn ven đường (Motel) - khách sạn ở bên lề những chặng đường dài dành cho du khách đi du lịch bằng ôtô
- Loại hình du lịch ở lều, trại (Camping)
- Loại hình du lịch ở làng du lịch (Tourism Village)
Căn cứ vào thời gian du lịch
- Loại hình du lịch dài ngày: thường từ 7 – 10 ngày
- Loại hình du lịch ngắn ngày: thường từ 1 – 2 ngày, du lịch cuối tuần (weekend holiday)
Căn cứ vào địa lý của nơi đến du lịch
- Loại hình du lịch nghỉ núi
- Loại hình du lịch nghỉ biển, sông, hồ
- Loại hình du lịch thành phố
- Loại hình du lịch đồng quê
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch
1.1.3.1 Những yếu tố tác động đến nhu cầu đi du lịch
Thời gian rảnh rỗi của nhân dân
Muốn thực hiện cuộc hành trình đi du lịch đòi hỏi con người phải có thời gian Do vậy, thời gian rảnh rỗi của nhân dân là điều kiện tất yếu phải có để con người tham gia vào hoạt động du lịch Thời gian rảnh rỗi của nhân dân từng nước được quy định trong
Bộ luật lao động hoặc theo hợp đồng lao động được ký kết
Mức sống về vật chất và trình độ văn hóa chung của người dân cao
- Mức sống về vật chất cao: thu nhập của nhân dân là chỉ tiêu quan trọng và là điều kiện vật chất để họ có thể tham gia du lịch Con người khi muốn đi du lịch không chỉ cần
có thời gian mà còn phải có đủ tiền mới có thể thực hiện được mong muốn đó Khi đi du lịch và lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên, khách du lịch luôn luôn phải tiêu dùng nhiều loại dịch vụ, hàng hóa Để có thể đi du lịch và tiêu dùng du khách phải có phương tiện vật chất đầy đủ Đó là điều kiện nhất thiết để biến nhu cầu đi du lịch nói chung thành nhu cầu có khả năng thanh toán Vì đi du lịch ngoài việc phải trả các khoản tiền cho cho các
Trang 13nhu cầu giống như thường ngày, họ còn phải trả thêm cho các khoản khác như tiền tàu
xe, tiền thuê nhà, tiền tham quan… và xu hướng của con người khi đi du lịch thường là chi tiêu rộng rãi hơn Do vậy phúc lợi vật chất của nhân dân là điều kiện có ý nghĩa to lớn trong sự phát triển của du lịch Người ta đã xác lập được rằng mỗi khi thu nhập của nhân dân tăng thì sự tiêu dùng du lịch cũng tăng theo, đồng thời có sự thay đổi của cơ cấu tiêu dùng du lịch
- Trình độ văn hóa chung của nhân dân cao: trình độ văn hóa chung của một dân tộc được đánh giá chính theo các điểm sau: hệ thống và chất lượng của giáo dục, đào tạo Xuất bản nhiều sách báo đạt trình độ văn hóa, chính trị, khoa học, nghệ thuật cao Các phương tiện thông tin đại chúng phát triển Các hoạt động ca hát, phim, ảnh, nhạc, kịch phong phú Nếu trình độ văn hóa chung của một dân tộc được nâng cao, thì động cơ đi du lịch của nhân dân ở đó tăng lên rõ rệt Mặt khác khi phát triển du lịch sẽ dễ đảm bảo phục
vụ khách du lịch một cách văn minh và làm hài lòng du khách nhất
Điều kiện giao thông vận tải phát triển
Từ xưa giao thông vận tải là tiền đề cho sự phát triển du lịch Ngày nay giao thông vận tải đã trở thành một trong những nhân tố chính cho sự phát triển của du lịch, đặc biệt
là du lịch quốc tế Trong những năm gần đây, lĩnh vực giao thông, đặc biệt giao thông trong du lịch phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng
Không khí chính trị hòa bình, ổn định trên thế giới
Đó là yếu tố đảm bảo cho việc mở rộng các mối quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa các quốc gia trên thế giới Trong phạm vi các mối quan hệ kinh tế, sự giao lưu về du lịch giữa các nước trong khu vực, trên toàn cầu không ngừng phát triển Nếu một vùng có chiến tranh hoặc hay xảy ra các cuộc xung đột, nhân dân ở các nước tại vùng đó khó có điều kiện ra nước ngoài du lịch và ngược lại khách du lịch trên thế giới cũng khó có điều kiện vào nước đó đi du lịch Chính vì vậy nếu không khí chính trị căng thẳng thì hoạt động du lịch cũng khó mà phát triển
1.1.3.2 Những yếu tố tác động đến hoạt động kinh doanh du lịch
Tình hình và xu hướng phát triển kinh tế của đất nước
Trang 14Khả năng và xu hướng phát triển du lịch của một đất nước phụ thuộc lớn vào tình hình và xu hướng phát triển kinh tế ở đó Theo ý kiến của một số chuyên gia kinh tế thuộc hội đồng kinh tế và xã hội của Liên hiệp quốc, một đất nước có thể phát triển du lịch nếu nước đó tự sản xuất được phần lớn số của cải vật chất cần thiết cho du lịch Nếu một nước cần phải nhập một khối lượng lớn hàng hóa để trang bị cho cơ sở vật chất kỹ thuật và để đảm bảo cho việc phục vụ khách du lịch thì việc cung ứng vật tư, hàng hóa sẽ hết sức khó khăn
Tình hình chính trị, hòa bình ổn định của đất nước và các điều kiện an toàn đối với du khách
- Tình hình chính trị, hòa bình ổn định của đất nước: tình hình chính trị, hòa bình
ổn định là tiền đề cho sự phát triển (đời sống) kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của một đất nước Một quốc gia mặc dù có nhiều tài nguyên về du lịch cũng không thể phát triển được nếu như ở đó luôn xảy ra các sự kiện hoặc thiên tai làm xấu đi tình hình chính trị và hòa bình (không có điều kiện để phát triển kinh doanh du lịch và cũng không thu hút được khách du lịch)
Trên thế giới những nước có đường lối chính trị trung lập và nền hòa bình ổn định như Thụy Sỹ, Áo, Thụy Điển thường có sức hấp dẫn đối với đông đảo quần chúng nhân dân - các khách du lịch có tiềm năng Ngược lại, những nước có nền chính trị hòa bình bất ổn, hay có những biến cố như cách mạng, đảo chính quân sự (Philippin, Nam Triều Tiên) sự phát triển của du lịch bị hạn chế nhiều khi bị phá hủy
- Điều kiện an toàn đối với du khách: các yếu tố ảnh hưởng đến sự an toàn trực tiếp hoặc gián tiếp của khách du lịch có thể xét theo các hướng: tình hình an ninh, trật tự
xã hội ; lòng hận thù của người dân bản xứ đối với một dân tộc nào đó; các loại dịch bệnh như tả, lỵ, dịch hạch, sốt rét
Những yếu tố tác động đến phát triển du lịch ở trên tác động một cách độc lập lên
sự phát triển của du lịch Các yếu tố ấy ảnh hưởng đến du lịch tách rời nhau Do vậy nếu thiếu hụt đi một trong những điều kiện trên, sự phát triển của du lịch có thể bị trì trệ, giảm sút hoặc hoàn toàn ngừng hẳn Sự có mặt của tất cả những điều kiện ấy đảm bảo
Trang 15cho sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch như một hiện tượng kinh tế - xã hội đại chúng
1.1.4 Tác động của du lịch đến kinh tế, văn hóa và môi trường
1.1.4.1 Tác động của du lịch đến kinh tế
Tác động tích cực
- Thương mại: khách du lịch quốc tế mang theo tiền từ các quốc gia khác nhau Điều này có hiệu quả giống như một ngành xuất khẩu và du khách có trách nhiệm mang ngoại tệ vào, do đó làm cải thiện cán cân thanh toán thương mại quốc gia
Du lịch được coi như một loại hàng hoá xuất khẩu có giá trị như khoáng sản hoặc nông sản ở một số nước Nếu du lịch được duy trì thường xuyên và phù hợp thì có thể coi
nó như là một tác nhân giữ ổn định một khoản từ xuất khẩu
- Nông nghiệp và Công nghiệp: khi một khu vực nào đó trở thành một điểm du lịch hấp dẫn, du khách từ mọi nơi đổ về sẽ làm cho nhu cầu về mọi hàng hoá tăng lên đáng kể Việc đòi hỏi một số lượng lớn vật tư, hàng hoá các loại đã kích thích mạnh mẽ các ngành kinh tế có liên quan, đặc biệt là nông nghiệp và công nghiệp chế biến Đồng thời các hàng hoá, vật tư cho du lịch đòi hỏi phải có chất lượng cao, phong phú về chủng loại, hình thức đẹp và hấp dẫn Điều này có nghĩa là yêu cầu hàng hoá phải được sản xuất trên một công nghệ cao, trình độ tiên tiến Các chủ xí nghiệp buộc phải đầu tư trang thiết
bị hiện đại, tuyển chọn và sử dụng công nhân có tay nghề cao để sản xuất các mặt hàng đáp ứng nhu cầu du khách Ngành du lịch cũng tạo ra sự nổi tiếng cho sản xuất công nghiệp cũng như nông nghiệp địa phương thông qua việc đáp ứng nhu cầu của du khách
về các sản phẩm lương thực - thực phẩm, dụng cụ, đồ đạc Đồng thời tạo khả năng để tăng khối lượng sản xuất của địa phương nhằm đáp ứng những nhu cầu mới, nhu cầu bổ sung thêm từ khách
- Giao thông vận tải: điểm du lịch có hấp dẫn du khách hay không nhờ vào khả năng linh hoạt và tiện nghi của ngành giao thông vận tải rất lớn Khách đi du lịch luôn muốn được phục vụ với chất lượng cao nhất Đòi hỏi này thúc đẩy sự phát triển của giao thông vận tải, nhất là ngành vận tải hành khách Các nhà kinh doanh vận tải sẽ phải chú trọng nâng cao chất lượng phục vụ ngành vận tải Không những số lượng phương tiện
Trang 16được nâng cao mà chất lượng phương tiện cũng như chất lượng đường ngày càng hoàn thiện hơn Sự tiến bộ đó tạo ra bộ mặt mới của hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông Kéo theo đó, nó gián tiếp tạo ra sự tiến bộ nói chung của ngành giao thông vận tải đối với địa phương
- Các tác động khác
+ Tạo ra nhiều việc làm mới: công việc mà du lịch tạo ra có phạm vi rộng bao la gồm các lĩnh vực quản lí, tài chính, điều hành, khoa học thông tin, bán và marketing Tuy nhiên phần lớn cơ hội việc làm ở phạm vi điều hành và tác nghiệp Du lịch cũng tạo ra công việc cho các nhà quản lí như quản lí văn phòng, quản lí khách sạn, quản lí nhà hàng, bếp trưởng hoặc giám đốc marketing… còn lại phần lớn công việc đòi hỏi kỹ năng không cao như phục vụ phòng, phụ bếp, dọn dẹp, khuân vác
+ Tăng nguồn thu nhập cho nhà nước: khách du lịch cũng có nghĩa vụ phải nộp thuế Có thể là thuế trực tiếp như thuế khởi hành phải trả ở các sân bay hoặc thuế phòng cộng thêm vào hoá đơn thanh toán lưu trú tại khách sạn Cũng có thể là thuế gián tiếp như thuế máy bay tiếp đất, thuế nhiên liệu hoặc thuế giá trị gia tăng đối với các hàng hoá dịch
vụ
+ Khuyến khích nhu cầu nội địa: khi một khu vực thu hút được du khách quốc tế
sẽ làm tăng sự quan tâm trong nước đối với các điểm hấp dẫn ở khu vực đó Ngoài ra nếu địa phương phát triển các tiện nghi và cơ sở dịch vụ để thu hút khách quốc tế thì điều này cũng có lợi cho dân chúng địa phương Khi các khách sạn mới, các khu giải trí, các tiện nghi dịch vụ mới được xây dựng mà thu hút được khách du lịch quốc tế thì cũng làm cho người dân địa phương ở đây sẽ thích nghỉ ngơi “tại nhà” - tại địa phương mình hơn
+ Giúp phát triển các vùng đặc biệt: du lịch sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho các vùng có những vấn đề khó khăn nhất định của một quốc gia như vùng sâu vùng xa Để phát triển du lịch ở các vùng này nhà nước sẽ giúp đỡ phát triển cơ sở hạ tầng, đưa lực lượng lao động đến khu vực này, xây dựng nhà ở và các trạm giao thông, thiết lập các trạm phát thanh, truyền hình và mạng lưới thông tin liên lạc Khi khu du lịch đã phát triển, mang lại thu nhập cao hơn, cơ sở hạ tầng được cải thiện, đời sống văn hoá tinh thần
Trang 17phong phú sẽ thuyết phục được những hộ dân chuyển đến và yên tâm định cư tại các vùng này
Tác động tiêu cực
- Hiện tượng rò rỉ du lịch: hoạt động du lịch tiêu thụ một lượng lớn sản phẩm của các ngành nghề khác từ nông, công nghiệp, giao thông vận tải đến thông tin liên lạc Những nguồn lực này không phải lúc nào cũng được sử dụng một cách hiệu quả trong du lịch, đặt biệt với sản phẩm du lịch là các tour trọn gói, các dịch vụ được mua bán theo gói
có sẵn dẫn tới việc tồn tại các tài nguyên, sản phẩm không đáp ứng nhu cầu của người mua được bán chung trong gói sản phẩm đó Khi đó các sản phẩm sẽ không thực hiện hết giá trị sử dụng của mình hoặc bị bỏ quả trong quá trình khách du lịch tiêu thụ sản phẩm
du lịch
- Việc thực hiện hoạt động kinh doanh du lịch cũng gây ra lãng phí năng lượng, nhân lực, tài nguyên khi có sự phân bố không đồng đều nguồn lực tại các địa điểm khác nhau vào những thời gian khác nhau một cách không hợp lí
- Lạm phát do du lịch: phát triển du lịch tạo ra nguồn thu lớn cho nền kinh tế, là động lực thúc đẩy nhiều ngành kinh tế khác phát triển, tạo ra nguồn ngoại tệ lớn cho quốc gia, đi kèm với đó là thúc đẩy sự phát triển nóng của nền kinh tế Việc một nguồn tiền lớn
đổ vào một quốc gia hay một địa phương nào đó do du lịch tạo ra sự dư thừa nguồn cung tiền trên thị trường, gây trượt giá đồng tiền trên phạm vi quốc gia, dẫn tới nguy cơ lạm phát gia tăng, điều này tùy vào trường hợp có thể tạo thành tác động tiêu cực cho nền kinh tế
- Sự phụ thuộc của nền kinh tế vào du lịch: nếu du lịch đóng vai trò, tỉ trọng lớn trong nền kinh tế thì khi xảy ra sự mất cân bằng tỉ trọng giữa các thành phần trong nền kinh tế sẽ dẫn đến sự phát triển hay khủng hoảng của du lịch có khả năng gây ra những biến chuyển to lớn trong đời sống kinh tế, xã hội của quốc gia, địa phương Sự phụ thuộc này tạo thành yếu điểm cho nền kinh tế khi du lịch gặp khó khăn Thêm vào đó, một đặc trưng nổi bật của kinh tế du lịch là tính mùa vụ, nếu kinh tế của quốc gia hay địa phương quá phụ thuộc vào du lịch thì sự lên xuống theo mùa vụ của kinh tế du lịch sẽ kéo theo sự chao đảo của cả nền kinh tế
Trang 18- Ngày nay điều kiện kinh tế, cuộc sống ngày càng được nâng cao nếu người dân trong nước đi nước ngoài trong các kì nghỉ mang theo tiền bạc và chi tiêu tiền bạc ở nước ngoài thì lợi ích kinh tế của du lịch bị ảnh hưởng
- Ngoài ra tỉ giá trao đổi cũng có thể ảnh hưởng tới số người đi du lịch Khi tỉ giá trao đổi các ngoại tệ mạnh biến động một cách đột ngột sẽ dẫn đến sự thay đổi đáng chú
ý của mô hình du lịch Ở các nước phát triển, hiệu quả của du lịch có thể không đáng chú
ý như đối với các nước đang phát triển Bởi vì các nước phát triển có thể có sự phối hợp tốt của nhiều loại hàng hoá xuất khẩu mà không chỉ dựa vào một vài loại sản phẩm để tạo
ra sự cân bằng cho cán cân thanh toán thương mại Do đó, lợi ích của du lịch đối với cán cân thương mại của một quốc gia phải được đánh giá một cách thận trọng
- Du lịch mang lại lợi ích phát triển sản xuất địa phương chỉ áp dụng cho những nước nhận khách du lịch Nhưng nếu các nguyên vật liệu mới cần cho ngành du lịch mà phải nhập khẩu từ nước ngoài thì lợi ích này không còn phù hợp nữa Những nguyên liệu, hàng hoá và vật phẩm cung cấp như thực phẩm, hàng tiêu dùng hoặc hàng hoá lưu niệm đáng lẽ phải nhập khẩu nhưng được sản xuất tại địa phương hoặc trong nước thì mới tạo
ra lợi ích thực sự cho nước chủ nhà
- Việc thúc đẩy phát triển các ngành có liên quan đòi hỏi các ban ngành phải có sự quan tâm, chú ý trong việc quản lý Nếu như cứ để cho việc phát triển đó diễn ra một cách tự phát, không có sự quản lý thì rất dễ xảy ra tình trạng mất ổn định, gây khó khăn cho việc giải quyết Phát triển quá nhiều sẽ làm tốn một khoản tiền khá lớn trong công tác
tu bổ, bảo dưỡng và quản lý các cơ sở hạ tầng giao thông
- Tiền tệ tiêu hao từ khu vực này sang khu vực khác, nước này sang nước khác, đất đai trở nên khan hiếm và đắt đỏ do quy hoạch du lịch Hệ quả tiếp theo là tình trạng lạm phát cục bộ hay giá cả hàng hoá tăng cao, nhiều khi vượt quá khả năng chi tiêu của người dân địa phương, nhất là của những người là thu nhập của họ không liên quan đến du lịch Một hạn chế về việc làm trong du lịch đối với các nước đang phát triển là lao động địa phương được tuyển dụng vào những công việc bán kỹ năng hoặc không có kỹ năng và một số vị trí quản lí thấp, còn các vị trí quản lí chính thường do người nước ngoài đảm nhận
Trang 19- Du lịch tạo ra việc làm có thể mang tính thời vụ hoặc nhất thời Công việc thời
vụ, công việc theo ca và công việc vào các ngày nghỉ là những đặc điểm của ngành Điều này ảnh hưởng khá lớn đến việc sắp xếp công việc cho lao động, thiếu nhân viên ở thời
vụ này nhưng thừa ở thời vụ khác
1.1.4.2 Tác động của du lịch đến văn hóa
Tác động tích cực
- Du lịch là ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt Bên cạnh tài nguyên tự nhiên
là tài nguyên văn hóa nhân văn Bởi vậy mà lâu nay cụm từ “du lịch văn hóa” hình thành như một loại hình du lịch mà điểm đến là những nơi chứa đựng giá trị văn hóa lâu đời như những công trình kiến trúc nghệ thuật, phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, ẩm thực, lễ hội,… Một trong những ý nghĩa tích cực đầu tiên là du lịch giúp mở rộng giá trị của sản phẩm văn hóa Nếu không có du lịch, sản phẩm văn hóa chỉ đơn thuần có giá trị lịch sử, nghệ thuật hay khoa học không thể đóng góp giá trị kinh tế cho nền kinh tế quốc
dân
- Hoạt động du lịch giúp bảo tồn, duy trì lâu bền những giá trị văn hóa đang dần mai một hoặc bị phá hủy bởi thời gian, bởi sự lãng quên của người dân bản địa Minh chứng rõ ràng rằng hàng năm chính quyền các cấp luôn dành một khoản kinh phí tương đối lớn cho việc trùng tu, tôn tạo chùa chiền, các công trình điêu khắc, mỹ thuật,… tùy theo sức hấp dẫn du khách của điểm đến
- Hoạt động du lịch cũng tạo điều kiện cho sự tiếp xúc và giao thoa giữa các nền văn hoá khác nhau Khách du lịch khi đến một điểm du lịch nào đó sẽ được tìm hiểu và khám phá nền văn hoá bản địa, đồng thời cư dân bản địa sẽ tiếp thu có chọn lọc những nền văn hoá đến từ các đất nước khác nhau thông qua khách du lịch Chẳng hạn như thông qua các lễ hội Việt - Nhật tại Hội An, Việt Nam - Hàn Quốc, Việt Nam - Trung Hoa hay đón các đoàn tàu Hòa Bình, đã du nhập vào nước ta những nét văn hóa mới về cách sống hiện đại, cũng như những món ăn mới lạ Từ sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc mà giảm đi được những hiểu lầm thù ghét lẫn nhau
Tác động tiêu cực
Trang 20- Du lịch thâm nhập vào cộng đồng làm thương mại hóa những giá trị văn hóa bản địa thuần túy Ngày nay dễ dàng nhận thấy những hình ảnh khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng, các quán ăn tạm, các cửa hàng bán đồ ăn theo… mọc lên nhan nhản với các hoạt động kinh doanh manh mún, xô bồ xung quanh khu vực đền, chùa - nơi vốn là chốn thiêng, không gian tĩnh mịch của tâm linh Ví dụ như chùa Hương, Yên Tử, phủ Tây Hồ, phủ Giày… vào mùa lễ hội
- Du lịch ảnh hưởng đến lối sống của một bộ phận dân địa phương, làm mai một đi những giá trị văn hóa trong tâm thức họ Ngày nay lên Sapa du khách có thể thấy những chàng trai, cô gái dân tộc H’Mông, Thái ăn mặc lai căng, đầu tóc nhuộm màu nhuộm màu lòe loẹt, những phiên chợ tình hồn nhiên, mộc mạc bị biến thành những trò mua vui, tiêu khiển, thương mại hóa
- Hiện tại vấn đề bản sắc văn hóa chưa được quan tâm đúng mức, nếu không muốn nói là mạnh ai nấy làm, hiểu thế nào làm như thế Như với thổ cẩm chẳng hạn, sản phẩm này được bày bán tại mọi điểm du lịch từ Bắc vào Nam và tất cả đều hao hao giống nhau Chủ yếu là thổ cẩm công nghiệp, dệt bằng sợi ni lông, phối mầu và hoa văn dệt theo
"kiểu thổ cẩm" Với sản phẩm như thế, người làm du lịch dù muốn cũng không thể giúp
du khách phân biệt sự khác nhau giữa các loại thổ cẩm Thái, Mông, Dao với Chăm, Ba
Na, Mạ Hiện nay có nhiều nét văn hóa độc đáo, hấp dẫn đang bị pha trộn và bỏ qua Như vậy, trong khi bản sắc văn hóa chưa được sử dụng sao cho thật hiệu quả để quảng
bá, giao lưu trong du lịch thì các hình thức pha tạp văn hóa lại lên ngôi
Nếu để ý, khi đến nhiều khu du lịch trong nước sẽ dễ dàng bắt gặp những ngôi nhà sàn không rõ thuộc về tộc người nào với mái cong, lợp ngói âm dương, trạm trổ rồng phượng, không ra đình cũng không ra chùa Rồi các nhà hàng bày la liệt rượu tây và thực đơn luôn dài dằng dặc các món ăn tây Bản sắc văn hóa địa phương thường được giới thiệu qua cơm lam, rượu cần, thổ cẩm dệt công nghiệp, quạt giấy cùng ô lụa sặc sỡ, vòng ốc, dây đeo cổ, bật lửa xanh đỏ vốn sản xuất ở nước ngoài Thậm chí đến những chai rượu Sán Lùng - vốn là đặc sản của vùng Lào Cai, cũng được mang ra giới thiệu với thực khách ở các điểm du lịch cách Lào Cai tới vài trăm cây số, thực - hư lẫn lộn Có lẽ
vì thế, sẽ không quá lời nếu đánh giá là đã có nhiều lễ hội văn hóa, nhiều khu du lịch
Trang 21được tổ chức, vận hành theo các tiêu chí văn hóa "ảo", thậm chí mục đích kinh doanh lấn
át mục đích văn hóa, du khách tiếp xúc với các màn diễn về văn hóa đã ít nhiều chuyên nghiệp hóa hơn là tiếp xúc trực tiếp với văn hóa trong ý nghĩa thực tiễn sống động của
nó
- Du lịch phát triển, dẫn đến việc nhiều luồng văn hóa khác nhau du nhập vào trong nước, tạo nên sự phức tạp về văn hóa Theo đó, những nét văn hóa không hay làm băng hoại thuần phong mỹ tục Những biểu hiện của sự suy giảm giá trị văn hóa có thể thấy được ở việc thương mại hóa các lễ hội, nghi lễ truyền thống bị mất đi, cái mới xâm nhập theo xu hướng tiêu cực trong phong tục, tập quán, nếp sống Điều này do du khách mang đến, khi họ là những người đến từ nhiều quốc gia khác nhau, mỗi người có nhận thức khác nhau, có trình độ nghề nghiệp khác nhau, có phong tục tập quán, tính cách và thói quen, nếp sống khác nhau…, thì nền văn hóa bản địa sẽ bị xáo trộn đi ít nhiều Buôn bán những hàng hoá và văn hoá phẩm cấm, ăn mặc không lịch sự, có những đòi hỏi trái với thuần phong mỹ tục của địa phương nơi đến tham quan Để ngăn chặn sự suy giảm này, thì cộng đồng dân cư nơi địa phương trước hết phải biết giữ gìn những nét văn hóa truyền thống, đậm màu sắc dân tộc thì mới có thể đứng vững trước sức mạnh của sự giao thoa và quốc tế hóa
- Hoạt động du lịch phát triển cũng kéo theo tính chất thương mại hóa ngày càng cao trong các lễ hội và sự bùng phát của những hoạt động mê tín dị đoan, làm phai mờ đi
sự thiêng liêng trong các lễ hội truyền thống
- Các điệu múa, vở tuồng cổ truyền đã bị thay đổi so với gốc ban đầu, do tâm lý của khách không thích xem những điều đã cũ nên nó đã bị biến đổi sao cho phù hợp với thị hiếu du khách
- Lợi dụng du lịch, nhiều thế lực xấu đã dựa vào đó để tuyên truyền, bôi nhọ, xuyên tạc về hệ thống văn hóa, chính trị, xã hội của quốc gia Thực tế cho thấy, nhiều kẻ
đã giả danh du khách nhưng lại vào trong nước với mục đích tuyên truyền, lôi kéo, phá hoại tư tưởng chính trị và bản sắc văn hóa dân tộc
1.1.4.3 Tác động của du lịch đến môi trường
Tác động tích cực
Trang 22- Tăng cường chất lượng môi trường: du lịch có thể cung cấp những sáng kiến cho việc làm sạch môi trường thông qua kiểm soát chất lượng không khí, nước, đất, ô nhiễm tiếng ồn, thải rác và các vấn đề môi trường khác thông qua các chương trình quy hoạch
cảnh quan, thiết kế xây dựng và bảo dưỡng các công trình kiến trúc
- Du lịch góp phần vào việc phát động và quy hoạch trồng nhiều cây xanh giúp làm đẹp cảnh quan và một không gian xanh với không khí trong lành
Tác động tiêu cực
- Ảnh hưởng tới nhu cầu và chất lượng nước: du lịch là ngành công nghiệp tiêu thụ nước nhiều, thậm chí tiêu hao nguồn nước sinh hoạt hơn cả nhu cầu nước sinh hoạt của
địa phương Vậy nên để phát triển du lịch nguồn nước sạch càng trở nên khan hiếm hơn
- Đối với nước thải: nếu như không có hệ thống thu gom nước thải cho khách sạn, nhà hàng thì nước thải sẽ ngấm xuống bồn nước ngầm hoặc các thuỷ vực lân cận (sông,
hồ, biển), làm lan truyền nhiều loại dịch bệnh như giun sán, đường ruột, bệnh ngoài da, bệnh mắt hoặc làm ô nhiễm các thuỷ vực gây hại cho cảnh quan và nuôi trồng thủy sản
- Rác thải: vứt rác thải bừa bãi là vấn đề chung của mọi khu du lịch Ðây là nguyên nhân gây mất cảnh quan, mất vệ sinh, ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng và nảy sinh xung đột xã hội
- Ô nhiễm không khí: tuy được coi là ngành "công nghiệp không khói", nhưng du lịch có thể gây ô nhiễm không khí thông qua phát xả khí thải động cơ xe máy và tàu thuyền, đặc biệt là ở các trọng điểm và trục giao thông chính, gây hại cho cây cối, động vật hoang dại và các công trình xây dựng bằng đá vôi và bê tông
- Năng lượng: tiêu thụ năng lượng trong khu du lịch thường không hiệu quả và lãng phí
- Ô nhiễm tiếng ồn: tiếng ồn từ các nhà hàng, quán bar, các phương tiện giao thông và du khách có thể gây phiền hà cho cư dân địa phương và các du khách khác kể cả động vật hoang dại
- Ô nhiễm phong cảnh: ô nhiễm phong cảnh có thể được gây ra do khách sạn nhà hàng có kiến trúc xấu xí thô kệch, vật liệu ốp lát không phù hợp, bố trí các dịch vụ thiếu khoa học, sử dụng quá nhiều phương tiện quảng cáo nhất là các phương tiện xấu xí, dây
Trang 23điện, cột điện tràn lan, bảo dưỡng kém đối với các công trình xây dựng và cảnh quan Phát triển du lịch hỗn độn, pha tạp, lộn xộn là một trong những hoạt động gây suy thoái môi trường tệ hại nhất
- Làm nhiễu loạn sinh thái: việc phát triển hoạt động du lịch thiếu kiểm soát có thể tác động lên đất (xói mòn, trượt lở), làm biến động các nơi cư trú, đe doạ các loài động thực vật hoang dại (tiếng ồn, săn bắt, cung ứng thịt thú rừng, thú nhồi bông, côn trùng ) Xây dựng đường giao thông và khu cắm trại gây cản trở động vật hoang dại di chuyển tìm mồi, kết đôi hoặc sinh sản, phá hoại san hô do khai thác mẫu vật, cá cảnh hoặc neo
đậu tàu thuyền
- Du lịch phát triển kéo theo sự gia tăng các nguồn ô nhiễm, ô nhiễm nước, rác thải, nếu không được xử lí đúng quy trình công nghệ, các chất thải ngấm vào đất làm cho
đất bị ô nhiễm không thể canh tác được
1.2 Khái quát về di tích lịch sử văn hóa
1.2.1 Khái niệm về di tích lịch sử văn hóa
Đất nước Việt Nam trải qua cả mấy nghìn năm giữ nước và dựng nước Trang sử hào hùng ấy được ghi lại bằng nhiều loại hình sử liệu khác nhau: di tích - di vật, hình ảnh, chữ viết, ngôn ngữ truyền miệng Trong số những nguồn sử liệu ấy thì di tích lịch sử văn hóa đóng vai trò như một nguồn sử liệu vật chất quan trọng Nó cho chúng ta thông tin trực tiếp từ những hoạt động của con người trong quá khứ mà nhiều nguồn sử liệu khác không hoặc không có điều kiện đề cập tới (dĩ nhiên, các nguồn sử liệu khác cũng có những ưu thế riêng) Thông tin từ những nguồn sử liệu này đã giúp cho các nhà nghiên cứu lịch sử có những bằng chứng để khẳng định thêm sự có mặt của nhóm cộng đồng cư dân đã sống và tồn tại trên mảnh đất này
Di tích lịch sử văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó
có chứa đựng các điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người trong lịch sử sáng tạo ra Như vậy, ở một mức độ hẹp hơn có thể thấy rằng di tích lịch sử văn hóa là những dấu tích, dấu vết hoạt động của con người trong quá trình lịch sử còn sót lại
Căn cứ Điều 4 Luật di sản văn hoá, Điều 14 Nghị định số 92/2002/NĐ - CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn
Trang 24hoá, thì di tích lịch sử văn hoá được định nghĩa như sau : “Di tích lịch sử văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm
đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học”
1.2.2 Phân loại các di tích lịch sử văn hóa
Cũng theo Điều 4, Luật di sản văn hoá thì có thể phân loại các di tích lịch sử văn hoá như sau :
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như đền Hùng, Cổ Loa, cố đô Hoa Lư, Cột cờ
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như khu di tích lịch sử Kim Liên, đền Kiếp Bạc, Đền Mẫu Đợi, Lam Kinh, đền Đồng Nhân
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ, địa đạo Củ Chi, khu di tích lịch sử cách mạng Pắc Bó
- Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai ở Lạng Sơn, núi Đọ ở Thanh Hóa, hang Giòn và Dầu Giây thuộc vùng Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai
- Quần thể các công trình kiến trúc, hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như chùa Một Cột, thánh điện Mỹ Sơn
1.3 Tác động của du lịch tới các di tích lịch sử văn hóa
1.3.1 Tác động tích cực
- Hoạt động du lịch phát triển từ đó các di tích lịch sử văn hóa sẽ được tiến hành nghiên cứu, kiểm kê, ra quyết định xếp hạng di tích, soạn thảo các văn bản quy định nhằm bảo tồn, tôn tạo, tôn vinh giá trị của các di tích lịch sử văn hóa
- Thông qua hoạt động du lịch, các di tích lịch sử văn hóa được giới thiệu tới đông
đảo tới du khách bốn phương, bao gồm cả du khách nước ngoài Những di tích đã được công nhận là di sản văn hóa thế giới được giới thiệu ra nước ngoài thông qua nhiều hình
Trang 25thức như các hội thảo, hội nghị ở nước bạn hoặc qua các phương tiện thông tin đại chúng,
ấn phẩm Khách nước ngoài đến thăm nước sở tại thưởng ngoạn, nghiên cứu, trải nghiệm
từ các di tích lịch sử văn hóa, qua đó, họ hiểu thêm về các giá trị truyền thống của người bản địa, đồng thời giúp cho họ có niềm tin trong việc chọn đâu là điểm đến, điểm đầu tư đáng tin cậy
- Đối với các di tích đã được công nhận là những di sản văn hóa thế giới được UNESCO tôn vinh là những thương hiệu đặc biệt đã góp phần thu hút khách du lịch trong nước cũng như nước ngoài đến đó du lịch nhiều hơn, nhờ đó quảng cáo thêm sự nổi tiếng cho các di sản
- Loại hình du lịch nhân văn càng phát triển, đương nhiên hoạt động phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa sẽ được mở rộng sáng tạo thêm như Festival Huế, đêm rằm phố
cổ (Hội An) cũng như việc trùng tu, tôn tạo lại các di tích cũng từ đó mà được đẩy mạnh hơn
- Các di tích lịch sử văn hóa ở mỗi địa phương, mỗi quốc gia sẽ được bảo tồn và giữ gìn thông qua hoạt động du lịch Nếu không có du lịch thì bạn bè thế giới không thể biết đến Hà Nội với một ngàn năm lịch sử, không thể biết Hà Nội có chùa Một Cột, có đền Ngọc Sơn, có chùa Khai Quốc, có Văn Miếu Quốc Tử Giám… Nếu không có du lịch, sản phẩm văn hóa chỉ đơn thuần có giá trị lịch sử, nghệ thuật hay khoa học không thể đóng góp một giá trị kinh tế nhất định cho nền kinh tế quốc dân
- Lôi cuốn cộng đồng vào hoạt động bảo vệ di tích, tham gia vào kinh doanh du lịch góp phần bảo vệ di tích Từ đó nâng cao đời sống tinh thần, vật chất của cộng đồng, cũng như nâng cao ý thức bảo vệ di tích lịch sử văn hóa cho cư dân địa phương Từ việc thấy được những nguồn lợi từ hoạt động du lịch mang lại mà người dân sẽ càng có ý thức hơn trong việc bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa để phát triển du lịch cho địa phương và đảm bảo cuộc sống cho gia đình
1.3.2 Tác động tiêu cực
- Hàng năm trên cả nước có rất nhiều các lễ hội được tổ chức tại các điểm, khu di tích với quy mô lớn nhỏ khác nhau Nếu như trước đây lễ hội là nơi để nhân dân tụ họp, vui chơi, giải trí, mừng vụ mùa bội thu, cũng như tưởng nhớ đến các vị thần linh, những
Trang 26anh hùng dân tộc có công với đất nước thì ngày nay khi hoạt động du lịch ngày càng phát triển kéo theo tính chất thương mại hóa ngày càng cao trong các lễ hội, các tệ nạn
mê tín dị đoan như xem bói, rút quẻ diễn ra ở các chùa chiền, miếu mạo ngày một nhiều
đã làm mất đi vẻ tôn nghiêm của di tích Không chỉ vậy các lều quán bán hàng ăn, nước giải khát cũng được dựng lên một cách lụp xụp, tạm bợ rất mất mĩ quan quanh di tích trong thời gian diễn ra lễ hội
- Hoạt động du lịch phát triển mạnh mẽ, các di tích lịch sử văn hóa bị sử dụng quá công suất dẫn đến bị hư hỏng và xuống cấp, hoặc do một số bộ phận khách du lịch thiếu
ý thức có những hành động thiếu văn hóa như viết, vẽ bậy lên di tích, phá hoại di tích, dẫn đến các di tích có thể bị mai một dần
- Chất thải ở những công trình vệ sinh, rác thải của du khách đến tham quan xả ra, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cảnh quan và môi trường tại di tích
- Lượng khách du lịch tham gia quá đông ở một số di tích vào những thời điểm cao điểm của mùa du lịch sẽ làm làm mất đi không gian yên tĩnh, tôn nghiêm của các di tích, có thể làm nhiễu loạn đời sống tâm linh của các tín đồ
- Việc trùng tu không theo quan điểm bền vững và những quy định kỹ thuật có thể làm mất đi những giá trị truyền thống vốn có và tính độc đáo của di tích Nhiều di tích sau khi trùng tu một cách bừa bãi bị “trẻ hóa” ra đến cả mấy trăm tuổi trở nên vô cùng kệch kỡm
Chương 2: Di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Vĩnh Lộc - Thanh Hóa 2.1 Vĩnh Lộc và tiềm năng du lịch
2.1.1 Khái quát về huyện Vĩnh Lộc – Thanh Hóa
2.1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Huyện Vĩnh Lộc nằm ở hạ lưu sông Mã và sông Bưởi Trung tâm huyện lỵ cách thành phố Thanh Hoá 45 Km về phía Tây - Bắc theo quốc lộ 45, cách thị xã Bỉm Sơn 40km về phía Tây theo quốc lộ 217 Vĩnh Lộc nằm ở Tây Bắc tỉnh Thanh Hóa, có diện tích tự nhiên là 157,41Km2, tọa độ 20o4’41 - 105o06’ vĩ độ Bắc, 105o39’32 đến 105o40’ 39’’ kinh độ Đông
Trang 27Phía Bắc giáp với huyện Thạch Thành
Phía Nam giáp với huyện Yên Định và huyện Cẩm Thủy
Phía Đông giáp với huyện Hà Trung
Phía Tây giáp với huyện Cẩm Thủy
Từ Vĩnh Lộc có thể ngược lên phía Bắc theo hai ngã để đến Thạch Thành, Cẩm Thủy hoặc có thể men theo bờ đê sông Mã, sông Bưởi xuống các xã miền xuôi của huyện rồi gặp quốc lộ 1A ở thị trấn Lèn dài 23km Các tuyến giao thông liên xã tuy còn gặp nhiều khó khăn nhưng nhìn chung đã được đảm bảo Là một huyện trung du, phần lớn diện tích Vĩnh Lộc là vùng đồng bằng, đồng chiêm trũng, nên mùa mưa bão thường xảy
ra ngập úng, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân
Khí hậu, thời tiết
Vĩnh Lộc là huyện trung du thuộc khí hậu trung du miền núi Thanh Hóa, chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa, ảnh hưởng trực tiếp từ gió Tây Nam (gió Lào), có đặc điểm khô nóng, gây ra nhiệt độ cao, kéo dài tập trung từ đầu tháng 3 đến tháng 7, mùa đông thường có sự xuất hiện của gió mùa đông bắc kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, mỗi khi mưa về thường kéo theo mưa phùn và giá rét Vậy nên đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc sản xuất cây trồng và vật nuôi cũng như đời sống nhân dân trong huyện Nhìn chung thời tiết trong năm thường được chia làm hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 9 năm trước đến tháng 5 năm sau, mùa mưa từ tháng 6 đến hết tháng 9 Vào đầu mùa xuân thường có rét đậm, sương giá, cuối vụ thường có gió Tây sớm, không khí nóng và khô
+ Nhiệt độ không khí trung bình là 25oC, cao nhất là 39oC và thấp nhất là 9oC Tổng nhiệt độ trong năm là 8500oC đến 8600oC, riêng mùa từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm đến 60%, biên độ nhiệt độ năm 11 - 12oC Trong đó: bốn tháng từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau nhiệt độ trung bình là 20oC, 5 tháng từ tháng 5 đến tháng 9 nhiệt độ trung bình là 25oC
+ Lượng mưa trung bình năm từ 1500 -1900 mm, riêng mùa mưa chiếm khoảng 86% - 88% Hàng năm có khoảng 137 ngày có mưa, tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 9 xấp xỉ 400 mm, thấp nhất là tháng 01 dưới 20 mm
Trang 28+ Độ ẩm không khí trung bình năm là 86% Vào mùa đông, những ngày khô hanh heo độ ẩm xuống thấp dưới 50% (thường xảy ra vào tháng 12) Cuối đông sang xuân vào những ngày mưa phùn độ ẩm lên tới 89%
+ Hướng gió phổ biến là hướng Đông Nam và Đông Bắc, phân bố theo mùa Tốc
độ gió trung bình là 1,5 – 1,8m/giây
Thủy văn và nguồn nước
Huyện Vĩnh Lộc có 2 con sông là sông Mã và sông Bưởi, trong đó sông Bưởi chính là phụ lưu của sông Mã Sông Mã dài 512km, phần chảy qua lãnh thổ Việt Nam là 410km, riêng địa phận Thanh Hóa sông Mã chảy qua hơn 200km và chảy qua Vĩnh Lộc
là 20km Ngoài ra sông Mã còn có 2 phụ lưu lớn nữa là sông Chu và sông Cầu Chày đều hợp lưu với sông Mã trên địa phận Thanh Hóa Các phụ lưu nhỏ như sông Lũng, sông Sơn Trà, sông Nậm Soi Sông Mã chủ yếu chảy giữa vùng rừng núi và trung du Phù
sa sông Mã là nguồn chủ yếu tạo nên đồng bằng Thanh Hóa lớn thứ ba ở Việt Nam
Sông Bưởi bắt nguồn từ Hòa Bình, dài khoảng 130km, chảy qua Vĩnh Lộc 12km, lưu lượng trung bình khoảng 52,2m 3/s Đây là nguồn nước ngọt dồi dào cung cấp nước cho sản xuất và đời sống của nhân dân Ngoài ra còn có nguồn nước ngầm trong lòng đất cung cấp nước cho nhà máy nước sạch (cung cấp nước cho cho thị trấn và xã Vĩnh Thành) và hàng ngàn giếng khơi, giếng khoan phục vụ sinh hoạt trong nhân dân
Tài nguyên đất
Đất ở Vĩnh Lộc chủ yếu là sản phẩm bồi tụ của sông Bưởi và sông Mã đã hình
thành nên các nhóm đất:
- Nhóm đất phù sa bồi tụ ven sông
- Nhóm đất phù sa không được bồi tụ, bị ngập nước vào mùa hè
- Nhóm đất Feralit vàng đỏ phù hợp với trồng cây lâm nghiệp, cây ăn quả
Tài nguyên rừng
Theo quyết định số 2755/QĐ - UBND ngày 12 tháng 9 năm 2007 của chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt và rà soát quy hoạch ba loại rừng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa thì huyện Vĩnh Lộc có diện tích đất lâm nghiệp là 2891,49 ha thuộc rừng sản xuất Toàn bộ diện tích đất lâm nghiệp đã giao cho các hộ gia đình quản lý, sử dụng lâu
Trang 29dài với mục đích lâm nghiệp Trong những năm qua nhân dân trong huyện đã tham gia chương trình 337,661 của Chính phủ nhằm phủ xanh đất trống, đồi trọc, kết quả là đã trồng được 2373,92 ha rừng gồm các loại cây xà cừ, bạch đàn, keo lá tràm, keo tai tượng,
sao đen… Hiện nay toàn bộ diện tích rừng trồng đang được quản lý và bảo vệ
Tài nguyên khoáng sản
Vĩnh Lộc có các mỏ khoáng sản để sản xuất vật liệu xây dựng gồm là đá vôi và đá
ốp lát:
- Mỏ đá vôi Vĩnh Ninh có trữ lượng 22 triệu tấn có thể làm nguyên liệu sản xuất xi
măng và sử dụng vào công nghệ luyện kim
- Mỏ đá ốp lát núi Bền - Vĩnh Minh, đá có các màu xám, trắng, vân may, xám đen,
có trữ lượng 2 triệu m3, phục vụ cho chế biến đá xuất khẩu Ngoài ra còn có các mỏ đá
nhỏ nằm rải rác ở các xã: Vĩnh Quang, Vĩnh Yên,Vĩnh Thịnh,
- Mỏ sét: dùng làm xi măng tại Vĩnh Thịnh có trữ lượng 780.000m3
- Mỏ sét Bãi Trời - Vĩnh Hưng có trữ lượng 7,8 triệu tấn, công dụng làm gạch,
ngói nung
Địa hình huyện Vĩnh Lộc trũng thấp, dễ gây ra ngập úng trong mùa mưa nên vấn
đề tăng mùa vụ rất khó khăn Khí hậu thời tiết có nhiều bất lợi cho sản xuất nông nhiệp
và đời sống nhân dân Chất lượng nước sông Bưởi có nguy cơ ngày càng ô nhiễm Tuy nhiên vượt lên mọi khó khăn nhân dân Vĩnh Lộc đã cần cù hăng say lao động, sản xuất
và đạt được những thành tựu vô cùng to lớn trong những năm vừa qua Để đạt được những kết quả như vậy một phần là do điều kiện khí hậu, đất đai phù hợp với nhiều loại cây trồng, vật nuôi, mặt khác huyện có đường giao thông thuận lợi, có đường quốc lộ 217 chạy qua, hệ thống đường giao thông liên huyện, liên xã, liên thôn đã hoàn chỉnh rất thuận lợi cho giao lưu với các vùng, miền trong cả nước Hệ thống sông Mã, sông Bưởi
có khả năng vận tải đường thủy và phục vụ tưới tiêu cho sản xuất nông nhiệp Thêm vào
đó là môi trường đất, không khí rất trong sạch đảm bảo tốt môi trường sống cho nhân
dân
2.1.1.2 Lịch sử hình thành huyện
Trang 30Vĩnh Lộc là một vùng đất cổ, nói theo quan niệm của các nhà địa chất học Dưới ảnh hưởng của chấn động tạo sơn Hymalaya, cách ngày nay chừng 120 triệu năm, đã hình thành các dãy núi đá vôi ở Vĩnh Lộc Các dãy núi này đã phản ánh đầy đủ các giai đoạn của hiện tượng catxtơ và tạo ra trong lòng nó vô số hang động đẹp, rất phù hợp cho
việc phát triển ngành văn hóa du lịch trong tương lai
Nền đất Vĩnh Lộc được hình thành từ kỷ đệ tứ bắt đầu từ thế Plêisôxen, cách ngày nay khoảng 2 triệu năm Vùng Tây Bắc Vĩnh Lộc nhìn chung được hình thành từ rất sớm Vùng đồng bằng phía Đông Nam được thành tạo muộn hơn trong kỷ Đệ Tứ (bao gồm từ thế Plêisôxen đến Hôlôxen - Giai đoạn muộn) phủ nông lên nền đất cổ đã ổn định Do địa hình mang đặc điểm chuyển tiếp từ miền núi đến đồng bằng, nên miền xuôi của Vĩnh Lộc vẫn còn rải rác nhiều đồi núi “sót” không hoàn toàn mang đặc trưng của đồng bằng Vùng xuôi này được tạo bởi trầm tích mang tới do hoạt động của các dòng sông cổ (nhất là sông Cả, sông Bưởi) Hàng năm, hai con sông này còn chuyển tải một lượng phù sa đáng
kể, góp phần tạo nên những cánh bãi màu mỡ ven sông, rất thuận lợi cho phát tiển nông
nghiệp
Từ thời tiền sử đất Vĩnh Lộc đã có con người cư trú Dấu vết con người thời đá cũ (cách ngày nay vài chục vạn năm) còn lưu lại ở di tích núi Nổ (xã Vĩnh An) Thời đá mới với di tích khảo cổ học Đa Bút Đến thời kỳ văn hóa Đông Sơn, Vĩnh Lộc là một miền
đất quan trọng trong bộ Cửu Chân của đất nước các vua Hùng
Thời Bắc thuộc, Vĩnh Lộc thuộc huyện Tư Phố của bộ Cửu Chân Trong đời Trần được gọi là huyện Vĩnh Ninh Thời Lê Trung Hưng đổi thành Vĩnh Phúc Đến thời Tây Sơn kiêng chữ “Phúc” (chỉ họ Nguyễn Phúc của các Chúa Nguyễn) đổi tên là Vĩnh Lộc
Từ 1977 - 1982 sát nhập hai huyện Vĩnh Lộc, Thạch Thành nên gọi là Vĩnh Thành, sau
đó tách huyện trở lại tên gọi như cũ là Vĩnh Lộc cho đến ngày nay
Ở thời kỳ phong kiến Vĩnh Lộc đã một lần vinh hạnh mang xứ mệnh là kinh đô
của nước Đại Ngu dưới Vương Triều Nhà Hồ (1400 – 1407)
2.1.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
Trang 31Vĩnh Lộc có 15 xã và 01 thị trấn, có diện tích tự nhiên là 157,5km2 , trong đó diện tích đất nông nghiệp là 157,62 ha, diện tích đất đồi núi là 2891,49 ha và nuôi trồng thủy
sản chiếm 312,64 ha
Đời sống nhân dân chủ yếu là sản xuất nông nghiệp do đẩy mạnh phong trào sản xuất, kinh doanh trồng rừng, vườn đồi, ưu tiên phát triển cây công nghiệp, dịch vụ Cơ cấu kinh tế của huyện tính đến 30/12/2011 là:
Nông - Lâm - Ngư ngiệp đạt 42,2 %
Công nghiệp - Xây dựng đạt 24,6 %
Thương mại - Dịch vụ đạt 33,2 %
Về nông - lâm - ngư nghiệp
Trồng trọt là ngành chủ đạo trong nông nghiệp với các cây trồng chính hiện nay là: lúa nước, ngô, khoai, sắn, rau quả thực phẩm, ớt, lạc, mía, đậu tương Trước kia huyện còn trồng nhiều bông nhưng hiện nay không trồng nữa Gần đây huyện đang đưa các giống lúa cao sản vào trồng ngày một nhiều, đáng chú ý trồng giống lúa nếp cái hoa vàng
và tám thơm Lúa được trồng trên các loại đất đã được thuỷ lợi hoá Huyện có 2 vụ chính
là chiêm xuân và thu mùa với diện tích tương đương nhau nhưng vụ lúa thu mùa có năng suất thấp hơn vụ chiêm xuân Diện tích trồng lúa cả năm ổn định ở mức 9000 ha Vùng lúa trọng điểm phân bố ở phía ở các xã ven sông Mã - nơi có mật độ dân cư cao và hệ thống thuỷ lợi phát triển Như vậy cùng với sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, cơ cấu kinh
tế nông nghiệp đã có những chuyển biến tích cực Cơ cấu trà vụ được bố trí hợp lý để thích ứng với điều kiện tự nhiên của từng vùng Việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăm sóc các loại cây trồng, phòng trừ sâu bệnh cũng được chú trọng Do vậy, năng suất tăng cao, sản lượng và chất lượng tăng khá nhanh (Năng suất bình quân đã tăng lên
60 tạ/ha) Nhờ đó, Vĩnh Lộc đã giữ vững và ổn định an ninh lương thực với mức lương
thực bình quân đầu người đạt 545 kg/năm
Bên cạnh cây chủ lực lúa, các loại cây màu và cây công nghiệp cũng cho giá trị kinh tế cao Cây thuốc lá một thời được coi là cây xoá đói giảm nghèo, giờ đã thay bằng cây mía, dâu, lạc Diện tích các loại cây công nghiệp tăng đã góp phần nâng cao đời sống của nhiều hộ dân
Trang 32So với các huyện trong tỉnh, ngành chăn nuôi của Vĩnh Lộc phát triển chậm hơn Tuy vậy, trong 2 năm gần đây, Vĩnh Lộc cũng đã đưa nhiều vật nuôi có giá trị kinh tế vào chăn thả như: bò lai sind, lợn hướng nạc, bước đầu đem lại hiệu quả cao Ngoài ra, để khai thác có hiệu quả vùng đồng, đặc biệt là vùng đồng trũng, Vĩnh Lộc đã mạnh dạn kết hợp sản xuất xen canh lúa và nuôi trồng thuỷ sản bằng mô hình lúa - cá Mô hình kết hợp này bước đầu cho giá trị kinh tế cao, tận dụng tối đa đất ruộng, biến những vùng đất vốn bất lợi trong trồng trọt thành thuận lợi trong nuôi trồng thủy sản
Diện tích đất lâm nghiệp chiếm 3,53 % diện tích đất tự nhiên và tập trung ở phía Đông Bắc và Tây Bắc của huyện Dưới sự quan tâm chỉ đạo của Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân huyện, chương trình trồng rừng theo dự án 327, 661 được Vĩnh Lộc duy trì đều đặn qua từng năm Với chủ trương cải tạo đất, phủ xanh đất trống đồi trọc, huyện đã tiến hành giao đất, giao rừng, tăng trách nhiệm của chủ sử dụng đất Các cây lâm nghiệp chủ yếu được đưa vào trồng là thông, bạch đàn, keo, tràm Diện tích rừng tăng không những góp phần giữ vững môi trường sinh thái, mà còn là một nguồn nguyên liệu dồi dào, đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành chế biến và khai thác lâm sản trong tương lai
Diện tích mặt nước nuôi thuỷ sản nước ngọt là 197 ha, cho sản lượng là 563 tấn (năm 2006) với các loại chính là: cá mè, cá trôi, cá trắm, cá chép, cá chim trắng Ngoài
ra, trên các dòng sông Mã, sông Bưởi còn có 78 lồng, bè cá Tính đến năm 2011 toàn huyện đã có gần 200 trang trại, gia trại
Về công nghiệp, thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và du lịch
Vĩnh Lộc đang chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ; giảm tỷ trọng ngành nông - lâm nghiệp
Công nghiệp được phát triển chủ yếu dựa trên nguồn nguyên liệu tại chỗ (nông sản, khoáng sản) và nguyên liệu nhập từ các huyện miền núi (lâm sản) Tổng số doanh nghiệp và cơ sở sản xuất trên lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp là 836, trong đó
17 doanh nghiệp và 819 cơ sở sản xuất kinh doanh Đặc biệt trong huyện đã hình thành cụm công nghiệp khai thác và sản xuất đá Giá trị xuất khẩu từ đá đạt 300000 USD
Trang 33Bên cạnh đó, những năm qua một số ngành nghề truyền thống tiếp tục được duy trì và phát triển, ngành chế biến gỗ, sản xuất đồ mộc, chế biến lương thực - thực phẩm đã khẳng định được vị thế trong ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Vì vậy trong những năm kế tiếp, Vĩnh Lộc sẽ tập trung phát triển một số làng nghề như: mây giang đan, trồng dâu nuôi tằm ươm tơ nhằm đạt được mục tiêu tăng tỷ trọng ngành công nghiệp
- tiểu thủ công nghiệp trong cơ cấu kinh tế huyện
Đối với Thương mại: thị trấn Vĩnh Lộc là trung tâm thương mại lớn nhất, ngoài ra Vĩnh Lộc còn có 9 chợ phân bố ở các xã Trong đó, một số chợ tiêu biểu là chợ Giáng có tiếng từ xa xưa, nay thuộc thị trấn Vĩnh Lộc quản lý, chợ Bồng nay thuộc xã Vĩnh Tân quản lý, chợ Tây Giai cũng là một chợ lớn của huyện nằm ở phía tây thành nhà Hồ Các mặt hàng chủ yếu là lúa, gạo, ngô, rau, đậu, thực phẩm, đá ốp lát, đá mỹ nghệ, mía, thuốc
lá, ớt Các mặt hàng mua vào chủ yếu là điện, nhiện liệu, vật tư, nông nghiệp, thiết bị, máy móc, hàng tiêu dùng
Là một huyện có diện tích không rộng, nhưng bù lại Vĩnh Lộc có nhiều di tích lịch
sử văn hoá, những dấu ấn lịch sử còn lại khá đậm nét với khu di tích thành nhà Hồ, phủ Trịnh, nghè Vẹt, đền thờ Trần Khát Chân Ðây là tiền đề và thế mạnh để Vĩnh Lộc phát triển loại hình du lịch văn hoá lịch sử Bên cạnh đó là những dãy núi, cùng dòng chảy của sông Bưởi và sông Mã đã tạo cho Vĩnh Lộc phong cảnh "sơn thuỷ hữu tình" Từ các hồ đập có thể khai thác và phát triển du lịch sinh thái, với hệ thống hang động kéo dài, những nhũ đá, suối nước là các địa điểm hết sức lý tưởng đối với khách du lịch trong và ngoài nước
Về hoạt động tài chính - ngân hàng - tín dụng
Cùng với nông nghiệp, công nghiệp, du lịch, ngành thương mại - dịch vụ Vĩnh Lộc cũng phát triển tương đối đa dạng, thị trường mở rộng đến các thôn, xã trong huyện Tổng mức bán lẻ ước đạt 70 tỷ đồng
Hoà nhịp với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động của ngân hàng, kho bạc đã đáp ứng yêu cầu lưu thông tiền tệ, phục vụ phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo Nguồn vốn sử dụng đạt khoảng 50 tỷ đồng, trong đó số vốn cho vay của ngân hàng nông nghiệp
và phát triển nông thôn đạt khoảng 36 tỷ đồng, ngân hàng phục vụ người nghèo đạt
Trang 34khoảng 11 tỷ đồng Các hộ vay vốn sản xuất - kinh doanh đều đạt hiệu quả cao, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế huyện, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện và dần ổn định Thu nhập bình quân tính theo đầu người tăng từ xấp xỉ 100 USD lên gần 300 USD, tỷ lệ hộ đói nghèo giảm xuống còn 10,5%
- Hệ thống giao thông nông thôn đang được nhựa hoá và bê tông hoá, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình vận chuyển và thông thương giữa các địa phương Hiện nay toàn huyện có gần 1000 km đường bộ các loại Trong đó có:
+ Quốc lộ 45 từ cầu Kiểu - Vĩnh Ninh đi qua các xã: Vĩnh Thành - Thị trấn Vĩnh Lộc - Vĩnh Tiến - Vĩnh Long - đi huyện Thạch Thành đoạn này dài 12,5 km
+ Quốc lộ 217: từ quốc lộ 1A qua Hà Trung, qua các xã Vĩnh Thịnh - Vĩnh Minh - Vĩnh Tân -Vĩnh Hùng - Vĩnh Hoà - Thị trấn Vĩnh Lộc - Vĩnh Tiến - Vĩnh Long - Vĩnh Quang - qua Eo Lê sang huyện Cẩm Thuỷ đoạn chạy qua huyện dài 25 km ngoài 2 tuyến quốc lộ, trên địa bàn có tỉnh lộ 5, đoạn chạy qua huyện dài 5 km (Vĩnh Hùng - Dốc Cuội
- Thạch Thành)
+ Hệ thống giao thông liên xã, liên thôn cũng được mở mang, toàn huyện có 285
km đường xe cơ giới đi được và đã được rải nhựa hoặc bê tông hoá
Giao thông đường thuỷ trên địa bàn huyện được duy trì và phát triển, huyện có 2 tuyến sông: sông Bưởi và Sông Mã tạo thành mạng giao thông thuỷ bộ khá hoàn chỉnh Các cầu lớn, nhỏ trên các tuyến giao thông đã được xây dựng và hoàn thành, phá thế ốc đảo, tạo thuận lợi cho sự phát triển về kinh tế - xã hội, cải thiện bộ mặt nông thôn
Trang 35- Mạng lưới bưu điện, thông tin liên lạc có những bước phát triển rộng khắp và đa dạng về loại hình dịch vụ với mức bình quân 1,5 máy/100 dân Hiện nay huyện Vĩnh Lộc
có 4 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông gồm:
+ Viễn thông Vĩnh Lộc thuộc VNPT cung cấp các dịch vụ: internet, điện thoại cố định, điện thoại cố định không dây, điện thoại di động …
+ Viễn thông quân đội (Vietteltelecom): cung cấp các dịch vụ: internet, điện thoại
cố định không dây, điện thoại di động
+ Viễn thông điện lực (EVN telecom): internet, điện thoại cố định không dây, điện thoại di động…
+ S telecom: điện thoại di động - 1 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính thuộc VNPT
- Hệ thống điện: hiện nay trên địa bàn huyện được cấp điện từ 3 tuyến:
+ Tuyến 35 KV từ trạm 110 kv Yên Phong - Yên Định theo lộ 376 qua các xã Vĩnh Ninh - Trạm trung gian núi Đún xã Vĩnh Thành đi xã Vĩnh Long và đi huyện Thạch Thành cung cấp điện cho 12 xã và thị trấn
+ Tuyến 10 kv từ trạm trung gian thị trấn Quán Lào - Yên Định qua xã Định Tân vượt sông Mã cấp điện cho các xã: Vĩnh Hùng, Vĩnh Tân, Vĩnh Minh, Vĩnh Thịnh, Vĩnh
An
+ Tuyến 35 KV mới xây dựng năm 2003 theo lộ 375 từ trạm 110 kv Hà Ninh (Hà Trung) đi Vĩnh Thịnh - Vĩnh Hùng - Vĩnh Thành khép mạch vòng với lộ 376 của trạm
110 kv Yên phong - Yên Định tại xã Vĩnh Thành
Tổng đường dây các cấp điện áp 35 kv - 10 - 0,6 kv là 180 km tổng số các trạm biến áp là 70 trạm, trong đó 1 trạm trung gian 35 kv dung lượng 2 x 2500 KVA, gần 70 trạm tiêu thụ, tổng dung lượng gần 11000 KVA
- Hệ thống cung cấp nước: huyện có trạm bơm Yên Tôn (xã Vĩnh Yên) là công trình đầu mối lớn của huyện với năng lực thiết kế 2800 ha Nhiệm vụ chủ yếu là là tưới vùng phía Tây sông Bưởi Ngoài ra trên địa bàn huyện còn được bố trí các trạm bơm Vĩnh Hùng, trên 30 trạm bơm khác phục vụ tưới, đưa tổng năng lực tưới bằng bơm toàn huyện là 7900 ha
Trang 362.1.1.4 Văn hóa - con người
của cải cách giáo dục Công tác quản lý giáo dục ngày càng chặt chẽ, tiến bộ hơn Hiện nay toàn huyện có 3 trường THPT, 1 trung tâm giáo dục thường xuyên, 16 trường THCS,
17 trường tiểu học và 16 trường mầm non Đến năm 2008 có 21 trường đạt chuẩn quốc gia
Về văn hoá - y tế và thể dục thể thao:
Công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng cũng đạt nhiều kết quả tốt
Các cơ sở khám, chữa bệnh được đầu tư nâng cấp, đảm bảo nhu cầu khám, chữa
bệnh của nhân dân Ðồng thời, do thực hiện tốt chương trình y tế dự phòng nên
nhiều năm liền Vĩnh Lộc không để xảy ra dịch bệnh, sức khoẻ của nhân dân được
đảm bảo Hiện nay trên địa bàn huyện có 1 trung tâm y tế, 1 bệnh viện đa khoa và
16 trạm y tế xã
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII của Ðảng về phát triển văn
hoá cơ sở Phong trào xây dựng làng văn hoá, gia đình văn hoá được cán bộ Đảng
viên và quần chúng nhân dân đồng tình ủng hộ hưởng ứng, đến nay toàn huyện có
146 đơn vị khai trương xã, làng, cơ quan văn hoá, trong đó có 5 xã văn hoá
Hệ thống truyền thanh được tăng cường, đài truyền thanh huyện được xây dựng
mới và lắp đặt máy phủ sóng FM phủ sóng toàn huyện
Huyện có 1 sân vận động trung tâm có diện tích 1,2 ha và nhà thi đấu trung
tâm có khả năng tổ chức các giải thi đấu cấp tỉnh Ngoài gia còn có 146 sân vận
động ở các xã phục vụ việc tập luyện và thi đấu các môn: bóng đá, bóng chuyền,
bóng bàn, cầu lông
Trang 37Có thể nói, trong những năm qua, Ðảng bộ và nhân dân huyện Vĩnh Lộc đã
đạt được nhiều thành tựu quan trọng Kinh tế tăng trưởng khá, chính trị ổn định,
đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt Những định hướng
và tiềm năng, cùng những thành tựu đạt được là động lực, nhân tố quan trọng giúp
Ðảng bộ và nhân dân huyện Vĩnh Lộc tiếp tục thực hiện thắng lợi mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội trong những năm tới Cùng với việc đẩy mạnh phát triển nông
nghiệp, nâng cao cơ sở hạ tầng Vĩnh Lộc sẽ tập trung vào việc phát triển mạnh mẽ
du lịch, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Đặc biệt là nghiên cứu xây dựng công
trình phân lũ, chặn lũ và sống chung với lũ vùng sông Bưởi
Con người
Vĩnh Lộc là một huyện có truyền thống văn hóa - lịch sử lâu đời Toàn huyện có
16 xã, thị trấn Dân số gần 90000 người, với 22000 hộ, nữ giới có 40000 người, chiếm 51% dân số, lực lượng lao động khoảng 30000 người Trên địa bàn huyện có hai dân tộc Kinh và Mường sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm 98,3%, dân tộc Mường chiếm 1,3%
Về mặt tôn giáo chủ yếu nhân dân ở đây theo đạo Phật Đồng bào theo đạo Thiên Chúa chiếm 27% dân số, sinh sống trên địa bàn 7 xã
Vĩnh Lộc là vùng đất phát tích của Nhà Trịnh tạo nên 12 đời Chúa điều hành đất nước (1545 – 1778) Tại vùng đất này đã sinh ra Trạng nguyên Trịnh Tuệ (1736), đồng thời cũng là nơi sinh thành và nuôi dưỡng cụ Tống Duy Tân - người gắn liền với phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX (1886 – 1892)
Vĩnh Lộc là vùng đất có nhiều đặc sản nổi tiếng như: sâm Báo, được vinh danh là
“thiên hạ đệ nhất danh sâm”, và được coi là nhân sâm, đặc sản của núi Báo xã Vĩnh Hùng; chè lam Phủ Quảng đã nổi tiếng cả vùng với đặc điểm cứng, giòn, mang đậm hương vị thơm ngon của gạo nếp cổ truyền, vị cay của gừng, vị bùi của lạc và ngọt ngào của mật mía làng Còng (Vĩnh Hưng) Nhiều đặc sản đã được đã từng được đem để tiến
vua như “dưa Don, cà Giáng, bánh tráng phố Bồng” Từ lâu đời truyền trong dân gian
vẫn còn lưu:
“ Ai về nhớ táo Phương Giai
Trang 38Nhớ ổi Đa Bút, nhớ khoai chợ Bồng”
Ngoài văn hóa ẩm thực thì các giá trị văn hóa phi vật thể còn được lưu truyền đến ngày nay ở Vĩnh lộc cũng vô cùng phong phú như: tiếng hát chèo thuyền trên sông trong
lễ hội Rước Nước tại chùa Báo Ân - xã Vĩnh Hùng, hát múa chèo chải trong lễ hội Trần Khát Chân ở Vĩnh Thành, hát múa chèo chải trong lễ hội Kỳ Phúc ở Vĩnh Quang, hát trống quân ở nhiều làng quê cũng vẫn còn lưu giữ Ngoài ra còn có các văn tự sắc phong được nhân dân lưu giữ ở rất nhiều đình chùa, đền miếu cũng là những gia tài văn hóa vô cùng quý giá
Có thể nói Vĩnh Lộc là vùng đất cổ sớm có con người tụ cư sinh sống, một vùng đất giàu truyền thống văn hóa không ngừng phát triển qua các thời kỳ lịch sử Con người nơi đây rất giàu tình yêu đối với tình yêu quê hương Nếu có dịp đến với Vĩnh Lộc sẽ thấy rằng người dân nơi đây rất hiếu khách, niềm nở và dễ mến
2.1.2 Tiềm năng du lịch ở huyện Vĩnh Lộc - Thanh Hóa
2.1.2.1 Tiềm năng du lịch tự nhiên
Thiên nhiên đã ưu ái ban tặng cho Vĩnh Lộc nhiều danh lam thắng cảnh, hang động đẹp như ở chốn thần tiên Có nhiều thắng tích do quá trình biến đổi địa chất hàng triệu năm tạo nên như: thắng tích Tiên Sơn (động Tiên Sơn), nơi hiện nay vẫn còn giữ được những nét rất hoang sơ với những đám cây thị dại chen nhau mọc, khoác cho cảnh sắc nơi đây một màu xanh mướt mắt Từ cửa động, phóng tầm mắt xuống thung lũng sẽ thấy màu xanh của lá, màu tối của nước hồ, màu trắng của cánh cò bay, đem lại vẻ đẹp thanh thản cho thiên nhiên nơi đây Ngoài ra còn có rất nhiều những thắng tích tự nhiên nổi tiếng khác nổi tiếng khác như quần thể Ngũ Hành Động ở Vĩnh An, động Eo Lê ở Vĩnh Quang, núi Tứ Linh, núi Xuân Đài, núi Tiến Sĩ
Ngoài ra huyện còn có những phong cảnh tự nhiên xen lẫn nhân tạo như: Ngũ Linh Động ở Vĩnh An, động Hồ Công ở Vĩnh Ninh Xưa kia các vua chúa, tao nhân mặc khách đã đến đây du ngoạn ngắm cảnh và để lại các bút tích mà hiện nay vẫn còn lưu giữ,
đó là những bài thơ bằng chữ Hán có giá trị lịch sử văn hóa nghệ thuật cao
Tóm lại tài nguyên du lịch tự nhiên của Vĩnh Lộc rất đa dạng và phong phú Đây
sẽ là một sự lựa chọn đúng đắn cho bất kỳ ai đến với vùng đất này
Trang 392.1.2.2 Tiềm năng du lịch nhân văn
Tiềm năng du lịch nhân văn ở Vĩnh Lộc chủ yếu là các di tích lịch sử, văn hóa nghệ thuật Huyện có một hệ thống các di tích lịch sử quan trọng và đặc sắc từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc đến các triều đại phong kiến Đã qua bao biến đổi thăng trầm của thiên nhiên và xã hội vẫn không hề bị lãng quên
Vĩnh Lộc từng được chọn làm kinh đô của đất nước, nơi phát tích của nhà Trịnh
và 12 đời chúa Trịnh, lại sớm có con người tụ cư sinh sống Chính những yếu tố đó đã sớm tạo nên một vùng đất giàu truyền thống văn hóa không ngừng phát triển qua các thời
kỳ lịch sử, điều đó đã được chứng minh qua các di tích và di chỉ khảo cổ học như: di chỉ cồn Mũi Ốc (làng Còng, xã Vĩnh Hưng), di chỉ Đa Bút (xã Vĩnh Tân), di chỉ làng Hang Núi Sen (xã Vĩnh An), đền Nàng Bình Khương, đền Tam Tổng, hang Nàng nơi giam vua Trần Thiếu Đế (cháu ngoại của Hồ Quý Ly) cùng hai nàng hầu tại xã Vĩnh Yên, di tích đền thờ Thái úy Trịnh Khả - người có mặt trong hội thề Lũng Nhai của Lê Lợi Tất cả những yếu tố này sẽ là điểm mạnh để huyện Vĩnh Lộc phát triển ngành dịch vụ du lịch
Với nguồn tài nguyên du lịch nhân văn như vậy, chắc chắn Vĩnh Lộc sẽ là một điểm du lịch hấp dẫn của xứ Thanh
2.2 Các di tích lịch sử văn hóa ở huyện Vĩnh Lộc - Thanh Hóa
2.2.1 Hệ thống các di tích lịch sử văn hóa ở huyện Vĩnh Lộc - Thanh Hóa
Vĩnh lộc là một huyện nhỏ với 131 thôn làng nhưng mật độ di tích lại khá dày, có đến 251 di tích và danh thắng Theo thống kê của phòng Văn hóa Thông tin huyện thì tính đến 30/12/2011 trên địa bàn huyện Vĩnh Lộc đã có 58 di tích được xếp hạng, 14 di tích cấp quốc gia và 1 di sản văn hóa thế giới Có thể phân loại các di tích đã được xếp hạng như sau: 32 di tích văn hóa lịch sử, 3 di tích cách mạng, 3 thắng tích, 1 di tích khảo
cổ học
Số di tích chưa được xếp hạng là 193 di tích, trong đó có 78 phế tích Số di tích còn hiện trạng là 115, trong đó 13 di tích được tôn tạo lại, 23 di tích đã xuống cấp nghiêm trọng Dưới đây là hệ thống một số các di tích lịch sử văn hóa ở huyện Vĩnh Lộc:
2.2.1.1 Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước