Tìm hiểu đề tài này, sẽ giúp chúng ta chỉ ra được một số đặc trưng văn hóa của Ấn Độ và Trung Quốc cũng như thấy được vai trò, mức độ ảnh hưởng của hai nền văn hóa ấy đến Việt Nam trên l
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
thời cổ - trung đại
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4.1 Mục đích nghiên cứu 4
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Nguồn tư liệu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Đóng góp của đề tài 6
8 Bố cục của đề tài 6
NỘI DUNG 7
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ MỐI QUAN HỆ LỊCH SỬ, VĂN HÓA VÀ SỰ DU NHẬP, PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG - TÔN GIÁO ẤN ĐỘ,
TRUNG QUỐC Ở VIỆT NAM 7
1.1 Ấn Độ, Trung Quốc và Việt Nam - những mối quan hệ lịch sử, văn hóa 7
1.1.1 Việt Nam - Trung Quốc 7
1.1.2 Việt Nam - Ấn Độ 9
1.2 Sự du nhập và phát triển của tư tưởng - tôn giáo Ấn Độ và Trung Quốc ở Việt Nam 11
1.2.1 Phật giáo 11
1.2.2 Ấn Độ giáo 16
1.2.3 Nho giáo 18
1.2.4 Đạo giáo 21
Trang 3Chương 2: NHỮNG ĐIỂM DỊ BIỆT TRONG ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ
TƯỞNG - TÔN GIÁO ẤN ĐỘ VÀ TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI VIỆT NAM
THỜI CỔ - TRUNG ĐẠI 24
2.1 Niên đại ảnh hưởng 24
2.2 Con đường ảnh hưởng 26
2.2.1 Xét về mặt địa lý 26
2.2.2 Xét về tính chất 29
2.2.3 Xét về phương thức 31
2.3 Phạm vi ảnh hưởng 35
2.4 Mức độ ảnh hưởng 43
2.5 Một số nhận xét, đánh giá 45
KẾT LUẬN 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xét về trạng thái văn hóa thì một nền văn hóa không bao giờ tồn tại ở trạng thái tĩnh, mà luôn ở trạng thái động Đó là sự vận động phát triển, tiếp xúc, giao lưu với bên ngoài Hai trung tâm văn hóa lớn của phương Đông cổ đại là Ấn Độ và Trung Quốc cũng nằm trong trạng thái chung ấy Những nền văn hóa ấy đã phát triển rực rỡ và có ảnh hưởng rất lớn đối với các nước, các khu vực trên thế giới, đặc biệt đối với các quốc gia Đông Nam Á Dĩ nhiên, Việt Nam không nằm ngoài phạm
vi ảnh hưởng đó
Mặc dầu chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ và Trung Quốc từ rất sớm nhưng trước khi tiếp nhận những yếu tố văn hóa ấy, Việt Nam đã có nền văn hóa bản địa, mang đặc điểm chung của cơ tầng văn hóa Đông Nam Á Trong quá trình phát triển,Việt Nam đã tiếp thu những thành tựu văn hóa Ấn Độ và Trung Quốc trên nhiều lĩnh vực nhưng sâu sắc nhất là tư tưởng - tôn giáo Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử khác nhau nên ảnh hưởng của hai nền tư tưởng tôn giáo Ấn Độ và Trung Quốc đến Việt Nam không hoàn toàn giống nhau
Tìm hiểu đề tài này, sẽ giúp chúng ta chỉ ra được một số đặc trưng văn hóa của Ấn Độ và Trung Quốc cũng như thấy được vai trò, mức độ ảnh hưởng của hai nền văn hóa ấy đến Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng - tôn giáo
Mặt khác, tìm hiểu về đề tài này còn góp phần làm sáng tỏ bản sắc văn hóa Việt Nam trong quá trình tiếp xúc, giao lưu và chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ
và Trung Quốc; cung cấp những kiến thức cần thiết, cơ bản cho quá trình giảng dạy, học tập về lịch sử - văn hóa Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam trong chương trình lịch
Trang 5Nam hoặc các nước Đông Nam Á Cho đến bây giờ, vấn đề đối sánh ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, Trung Quốc đối với Việt Nam vẫn đang còn rất mới mẻ và chưa có một công trình chuyên khảo nào
Với tất cả những lý do đó, trên cơ sở kế thừa nguồn tài liệu của các học giả
đi trước, chúng tôi chọn nghiên cứu vấn đề Dị biệt trong ảnh hưởng của tư tưởng - tôn giáo Ấn Độ và Trung Quốc đối với Việt Nam thời cổ - trung đại làm khóa
luận tốt nghiệp
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề dị biệt trong ảnh hưởng của tư tưởng - tôn giáo Ấn Độ, Trung Quốc đối với Việt Nam thời cổ - trung đại vẫn còn rất mới mẻ Các nhà nghiên cứu có đề cập tới một khía cạnh có liên quan nhưng còn rất sơ lược, được thể hiện rõ qua các tác phẩm, công trình nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, những công trình nghiên cứu về sự ảnh hưởng của từng nền văn
hóa Ấn Độ, Trung Quốc đến các quốc gia Đông Nam Á trong đó có Việt Nam
Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đến Đông Nam Á được đề cập trong cuốn
Một số chuyên đề lịch sử thế giới của Vũ Dương Ninh (chủ biên), xuất bản năm
2008 Công trình đã trình bày về sự ảnh hưởng của Ấn Độ lan tỏa trên một địa bàn khá rộng lớn Nền văn minh Ấn Độ đặc biệt bắt rễ nhanh ở các quốc gia Đông Nam
Á, ảnh hưởng trên nhiều lĩnh vực và đem lại những thành tựu cho sự phát triển lịch
sử khu vực này, đặc biệt là những ảnh hưởng trên lĩnh vực tôn giáo (Phật giáo, Ấn
Độ giáo) và Việt Nam cũng không nằm ngoài phạm vi ảnh hưởng đó
Ngoài ra, còn có những công trình khác như khóa luận tốt nghiệp của Phan Văn Hải, năm 2006, khoa Lịch sử - trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng nghiên cứu
Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đối với các quốc gia Đông Nam Á (Thời cổ - trung đại)
Về ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc đến các quốc gia Đông Nam Á:
Cuốn Giới thiệu văn hóa phương Đông của trường Đại học Khoa học - xã hội và
nhân văn, khoa Đông phương học, xuất bản năm 2008 trình bày sơ lược về sự tiếp xúc cưỡng bức và giao thoa văn hóa Đông Nam Á với văn hóa Hán mà rõ nhất là
Trang 6Việt Nam để lại dấu ấn sâu sắc trên lĩnh vực tư tưởng - tôn giáo Ngoài ra, còn có
các tác phẩm khác như Triết giáo Đông phương của Dương Ngọc Dũng, xuất bản
năm 2003 cũng đề cập đến vấn đề này
Thứ hai, những công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề Việt Nam giao lưu
và chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ và Trung Quốc cụ thể là:
Cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam của tác giả Trần Quốc Vượng, xuất bản năm
2009 đã khẳng định rằng sự giao lưu, tiếp biến giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Quốc diễn ra trong thời gian dài, qua nhiều thời kỳ Cho đến hôm nay không một nhà văn hóa nào lại phủ nhận ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc đối với văn hóa Việt Nam Còn Ấn Độ, mặc dầu không tiếp giáp trực tiếp với Việt Nam, nhưng văn hóa của quốc gia này đã ảnh hưởng trên nhiều bình diện và đã thẩm thấu bằng
nhiều hình thức khác nhau Ngoài ra còn có cuốn Việt Nam văn hóa sử cương của
Đào Duy Anh, xuất bản năm 2006 cũng bàn về vấn đề này
Thứ ba, những công trình nghiên cứu trực tiếp đề cập đến vấn đề ảnh hưởng
của tư tưởng - tôn giáo Ấn Độ và Trung Quốc đối với Việt Nam
Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm, xuất bản năm 2001,
trong khi tìm hiểu về bản sắc văn hóa Việt Nam đã đưa ra nhận định quan trọng rằng: Tiếp thu văn hóa Ấn Độ ta có nền văn hóa Chăm độc đáo và một nền Phật giáo Việt Nam, còn đối với Trung Quốc ta tiếp thu đồng thời tư tưởng và tôn giáo (Nho giáo - Phật giáo - Đạo giáo)
Tác phẩm được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh của Trần Văn Giàu, xuất bản
năm 2003 cũng có đề cập đến vấn đề này, thể hiện qua sự du nhập của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo và sự tác động của nó tới văn hóa Việt Nam trong quá trình tồn tại và phát triển
Ngoài ra, còn có một số công trình đề cập đến sự ảnh hưởng riêng biệt của
từng quốc gia đến Việt Nam như cuốn Tôn giáo trong đời sống văn hóa Đông Nam
Á của Trương Sĩ Hùng, xuất bản năm 2010; Các bài giảng về lịch sử tư tưởng phương Đông của Trần Đình Hượu, xuất bản năm 2007; Văn hóa học và văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm, xuất bản năm 2004; Các hình thái tín ngưỡng tôn
Trang 7giáo ở Việt Nam của Nguyễn Đăng Duy, xuất bản năm 2001; Văn hóa cổ Chămpa
của Ngô Văn Doanh, xuất bản năm 2002
Nhìn chung, những công trình, bài viết cụ thể ở trên đã đề cập đến ảnh hưởng đến văn hóa Ấn Độ và Trung Quốc đến Việt Nam nhưng mới chỉ ở mức độ, khía cạnh nhất định có liên quan đến đề tài Cho đến nay vẫn chưa có một công trình chuyên khảo nào nghiên cứu về vấn đề đối sánh ảnh hưởng của tư tưởng - tôn giáo
Ấn Độ và Trung Quốc đối với Việt Nam thời cổ - trung đại
Trên cơ sở các nguồn tài liệu và bài viết của các tác giả, chúng tôi tổng hợp, khái quát và đi sâu nghiên cứu làm sáng tỏ những điểm dị biệt trong ảnh hưởng của
tư tưởng - tôn giáo Ấn Độ và Trung Quốc đối với Việt Nam trong thời kỳ này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của đề tài là sự du nhập và phát triển của tư tưởng - tôn giáo Ấn
Độ, Trung Quốc trong đó chú trọng đến những điểm dị biệt trong sự ảnh hưởng của chúng đối với Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Không gian: với trình độ hiểu biết còn hạn chế về văn hóa Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, trong khuôn khổ của đề tài khóa luận tốt nghiệp, chúng tôi giới hạn không gian nghiên cứu là tìm hiểu về những điểm dị biệt trong ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ và Trung Quốc đối với Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng - tôn giáo chủ yếu là Phật Giáo, Ấn Độ giáo (Ấn Độ); Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo (Trung Quốc)
+ Thời gian: giới hạn từ đầu Công nguyên đến thế kỷ XIX
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
- Vạch rõ điểm dị biệt trong ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ và Trung Quốc đến Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng - tôn giáo trong khoảng thời gian từ đầu Công nguyên đến thế kỷ XIX
Trang 8- Thấy được tính cởi mở và linh hoạt trong văn hóa Việt Nam, luôn sẵn sàng tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại một cách có chọn lọc, nhằm làm giàu cho văn hóa dân tộc trên nền tảng văn hóa bản địa
- Thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp này giúp chúng tôi lĩnh hội kiến thức, nâng cao năng lực tự nghiên cứu để phục vụ cho công tác giảng dạy sau này
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài thực hiện những nhiệm vụ sau :
- Khái quát về sự giao lưu văn hóa Ấn Độ, Trung Quốc và Việt Nam
- Tìm hiểu về niên đại, con đường, mức độ tác động và phạm vi ảnh hưởng của từng tư tưởng - tôn giáo (Phật giáo, Ấn Độ giáo, Nho giáo, Đạo giáo) đồng thời chỉ ra điểm dị biệt trong từng phương diện đó
- Rút ra một số nhận xét, đánh giá về sự dị biệt trong ảnh hưởng của tư tưởng
- tôn giáo Ấn Độ và Trung Quốc đối với Việt Nam
5 Nguồn tư liệu
Để hoàn thành đề tài, chúng tôi dựa vào nguồn tài liệu sau :
- Các công trình nghiên cứu về văn hóa, đặc biệt là tư tưởng - tôn giáo gồm các tài liệu dịch, tài liệu chuyên khảo, phê bình, các bài giảng về tư tưởng - tôn giáo phương Đông nói chung (Ấn Độ, Trung Quốc và Việt Nam nói riêng)
- Tạp chí, báo thuộc chuyên ngành lịch sử, văn hóa, tôn giáo
- Các bài viết liên quan đến tư tưởng - tôn giáo trên các website của các cá nhân, tổ chức
6 Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp luận: để hoàn thành đề tài này chúng ta đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa duy vật lịch sử và phương pháp luận biện chứng của sử học mác xít
+ Phương pháp lịch sử và phương pháp logic với các phương pháp cụ thể như phân tích, tổng hợp trong đó đặc biệt chú trọng phương pháp so sánh, đối chiếu để rút ra được sự dị biệt
Trang 97 Đóng góp của đề tài
Đề tài đạt được mục đích nghiên cứu sẽ có những đóng góp sau :
- Vạch ra những điểm dị biệt trong ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ và Trung Quốc đến Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng - tôn giáo
- Góp phần làm sáng tỏ quá trình giao lưu văn hóa của các quốc gia phương
Đông thời cổ - trung đại Qua đó, ta có thể thấy được thái độ “không chối từ” trong
giao lưu, tiếp biến văn hóa của Việt Nam
- Là tài liệu tham khảo cho các chuyên đề về ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ
và Trung Quốc đối với Việt Nam; Lịch sử tư tưởng phương Đông và Việt Nam; hay Lịch sử văn minh thế giới và cho những ai quan tâm đến vấn đề này
8 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo đề tài gồm hai chương :
Chương 1: Khái quát về mối quan hệ lịch sử, văn hóa và sự du nhập, phát triển của
tư tưởng - tôn giáo Ấn Độ, Trung Quốc ở Việt Nam
Chương 2: Những điểm dị biệt trong ảnh hưởng của tư tưởng - tôn giáo Ấn Độ và Trung Quốc đối với Việt Nam thời cổ - trung đại
Trang 10NỘI DUNG Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ MỐI QUAN HỆ LỊCH SỬ, VĂN HÓA VÀ SỰ
DU NHẬP, PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG - TÔN GIÁO ẤN ĐỘ,
TRUNG QUỐC Ở VIỆT NAM 1.1 Ấn Độ, Trung Quốc và Việt Nam - những mối quan hệ lịch sử, văn hóa
1.1.1 Việt Nam - Trung Quốc
Việt Nam và Trung Quốc - hai nước láng giềng không chỉ gần gũi về mặt địa
lý mà còn gần gũi về văn hóa, trong lịch sử đã sớm có sự tiếp xúc và giao lưu với
nhau Có thể nói rằng, “quan hệ Việt Nam - Trung Quốc là một trong những mối
quan hệ địa chính trị lâu đời nhất trên thế giới còn tồn tại đến ngày nay”[49]
Thời cổ - trung đại mối quan hệ giữa hai quốc gia rất phức tạp, thể hiện rất rõ qua góc nhìn lịch sử, văn hóa với hai thời kỳ cơ bản đó là thời Bắc thuộc và thời tự chủ
Năm 179 TCN, cuộc kháng chiến thất bại, nước Âu Lạc rơi vào ách đô hộ
của nhà Triệu, mở ra thời Bắc thuộc trong lịch sử nước ta Thời kỳ này kéo dài hơn
một nghìn năm, trải qua ách đô hộ của các triều đại Triệu, Hán, Ngô, Ngụy, Tấn, Tống, Tề, Lương, Tùy, Đường Các triều đại phong kiến phương Bắc áp bức bóc lột nặng nề rắp tâm xóa bỏ độc lập chủ quyền của dân tộc ta, biến nước ta thành quận huyện; thực hiện chính sách đồng hóa dân tộc triệt để và tiêu diệt văn hóa của nhân dân ta Vấn đề lớn nhất của lịch sử đặt ra cho người Việt là phải đấu tranh giành độc lập và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Mặc dù thế lực phong kiến phương Bắc đã ra sức củng cố tổ chức cai trị của chúng trên đất nước ta bằng nhiều biện pháp và thủ đoạn thâm độc, song với tinh thần yêu nước bất khuất, nhân dân ta đã liên tục vùng lên đấu tranh vũ trang để giành lại độc lập Trải qua cuộc đấu tranh trường kỳ, quyết liệt và vô cùng gian khổ
đã nhiều lần nhân dân ta giành được thắng lợi, đuổi kẻ thù ra khỏi bờ cõi, xây dựng được chính quyền tự chủ Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng, Lý Bí, Phùng Hưng lãnh đạo Những năm tháng độc lập quý giá đó đã tiết thêm sức mạnh cho cuộc đấu tranh giành lại độc lập về sau càng quyết liệt, rộng lớn hơn
Trang 11Trong sự nghiệp đấu tranh lâu dài chống Bắc thuộc, vấn đề đặt ra đối với dân tộc Việt Nam không chỉ giành độc lập cho đất nước mà còn phải đấu tranh để bảo
vệ các di sản văn hóa cổ truyền
Thời Bắc thuộc “Văn hóa Hán vào nước ta không chỉ theo chân đội quân
xâm lược mà còn theo những đợt di dân cưỡng bức”[13;-tr.17] Thế lực phong kiến
phương Bắc thực hiện chính sách “đồng hóa” chúng đưa những phạm nhân, dân
nghèo vào Âu Lạc cho họ sống xen kẽ với cộng đồng người Việt; hoặc có những dòng người tị nạn do Trung Quốc rộng lớn mà chiến tranh cát cứ lại diễn ra triền miên và luôn chịu sự đe dọa của thiên tai, đói rét, chính vì thế họ rời bỏ quê hương
đất nước, tìm đến phương Nam trú ngụ “Trong quá trình cộng cư, hai nền văn hóa
Việt - Hoa đã có sự ảnh hưởng qua lại”[13;-tr.17] Không chỉ thế, thời Bắc thuộc,
biên giới hai nước còn bỏ ngỏ cư dân hai vùng thường xuyên buôn bán, trao đổi hàng hóa, thông qua đó hai nền văn hóa có dịp tiếp xúc với nhau Song nhìn chung,
dưới thời Bắc thuộc sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa thể hiện tính chất cưỡng bức
Cuộc khởi nghĩa Khúc Thừa Dụ vào năm 905 thắng lợi đã đưa lịch sử nước
ta sang một trang mới, mở ra thời đại độc lập tự chủ dưới chế độ phong kiến, kéo dài cho đến khi thực dân Pháp đặt ách đô hộ vào cuối thế kỷ XIX
Thời độc lập tự chủ để có thể xây dựng một nhà nước vững mạnh có thể tồn tại bên cạnh nước Trung Quốc luôn có tham vọng bành trướng và đồng hóa dân tộc
ta thì các triều đại phong kiến Đại Việt đã học hỏi mô hình chính trị quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền của Trung Quốc
Dưới các triều Ngô, Đinh - Tiền Lê, nhà nước trung ương tập quyền bước đầu được thiết lập Cùng với việc xây dựng quốc gia phong kiến độc lập tự chủ, bộ máy nhà nước theo mô hình này cũng dần được hoàn thiện Các triều đại phong kiến Việt Nam trở nên vững mạnh đặc biệt dưới các triều Lý, Trần, Lê Sơ
Đứng trước hành động xâm lược của thế lực phong kiến phương Bắc, nhà nước phong kiến của các triều đại ấy đã lãnh đạo nhân dân đưa các cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi, giáng những đòn nặng nề vào tư tưởng bành trướng của chúng
Trang 12Cụ thể là hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống, kháng chiến chống Tống lần thứ nhất diễn ra vào năm 981 (thời Tiền Lê) và kháng chiến chống Tống lần hai năm 1075 - 1077 (thời Lý); nhà Trần đánh bại quân Mông Cổ năm
1258, quân Nguyên vào năm 1285 và kế tiếp là năm 1288 Đến đầu thế kỷ 15 nhà Minh xâm chiếm được Đại Việt và cai trị trong 20 năm, nhưng cũng bị đánh đuổi Cũng như các triều đại phong kiến phương Bắc trước đó năm 1789 nhà Thanh đã đem quân sang xâm lược nước ta song dưới sự lãnh đạo của Quang Trung Nguyễn Huệ cuộc kháng chiến của nhân dân ta đã đi đến thắng lợi
Mặc dù Trung Quốc nhiều lần xâm lược nước ta, bị nhân dân ta đánh bại, nhưng ngay sau khi đẩy lùi các cuộc xâm lược này, triều đình Việt Nam đã cử ngay
sứ giả sang và thực hiện triều cống dưới hình thái nước phiên thuộc của Trung
Quốc, nhằm khôi phục quan hệ “hòa hiếu” để tránh xung đột về sau
Thời tự chủ cùng với việc tổ chức kháng chiến chống xâm lược để bảo vệ độc lập tự chủ thì Việt Nam cũng đã có sự tiếp xúc, giao lưu với văn hóa Trung Quốc, đó là sự giao lưu tiếp biến tự nguyện Thể hiện rõ nét ở sự tiếp thu khuôn mẫu văn hóa Trung Quốc từ mô hình chính trị đến hệ thống tư tưởng - tôn giáo, luật pháp, văn chương, nghệ thuật
Như vậy, qua góc nhìn lịch sử - văn hóa chúng ta có thể thấy rất rõ Việt Nam
và Trung Quốc thời cổ - trung đại đã có sự giao lưu, tiếp xúc và ảnh hưởng lẫn nhau
rất sâu sắc “Vì thế, trong văn hóa Hán có yếu tố văn hóa Phương Nam và văn hóa
Việt Nam lại mang màu sắc của văn hóa Trung Quốc”[13;-tr.17]
1.1.2 Việt Nam - Ấn Độ
Sự gần gũi về điều kiện địa lý, tộc người là cơ sở ban đầu tạo điều kiện cho
cư dân Ấn Độ sớm có sự giao lưu kinh tế - văn hóa với các quốc gia Đông Nam Á trong đó có Việt Nam
Vào đầu công nguyên, khi hàng hải phát triển thì sự giao lưu tiếp xúc và ảnh hưởng đó lại càng được đẩy mạnh Sử cũ cho thấy chính người Ấn Độ đã biết và
tìm đến Đông Nam Á từ rất sớm: “sử thi Ramayana của Ấn Độ đã nói tới xứ Java
và Sumatra Arthasatra do Kautitya soạn thảo bắt đầu từ thế kỷ IV TCN đã nói tới
Trang 13xứ đất vàng (Suvarnabhumi), Đảo vàng (Suvarnadvipa) để chỉ miền đất Đông Nam Á”[33;-tr.16]
Nói như vậy, rất có khả năng từ xưa người Ấn Độ đã đến đây tìm vàng, ngoài vàng ở Đông Nam Á còn có rất nhiều sản vật quý như đá quý, gia vị, hương liệu nên người Ấn Độ đã tìm đến đây để buôn bán
Tư liệu, hiện vật khảo cổ học cũng chứng minh cho mối quan hệ từ rất sớm của Ấn Độ với nước ta, đặc biệt qua các hiện vật phát hiện được ở Óc Eo (An
Giang) và các địa điểm khác ở đồng bằng Sông Cửu Long “Gần đây cuộc khai quật
khảo cổ học ở Ban Don Ta Phet (Thái Lan) đã phát hiện chiếc vòng bằng thủy tinh xanh lá cây trong suốt, cắt hình trụ 8 cạnh, chuỗi vòng hạt tròn bằng mã não, hoặc Carnelian có màu đen, trắng, đỏ có mài vân đẹp, có hoa tai bằng đá quý tạc hình sư tử quỳ phục, là những vật đã thấy ở Taxila, Orissa (Ấn Độ) Những chuỗi vòng như thế tìm thấy với số lượng đáng kể ở Óc Eo và cả ven biển miền Trung, miền Nam Việt Nam”[33;-tr.17]
Ngoài ra, người ta còn tìm thấy các loại nắp bình hương chóp nón, một kiểu
“Stupa” đã thấy ở Taxila, Orissa lại cũng thấy ở miền Nam Việt Nam Nhiều
khuyên tai có hình đầu trâu rất giống nhau đã được phát hiện ở Sa Huỳnh, Cần Giờ (Việt Nam)
Trong ba thế kỷ đầu công nguyên là giai đoạn thâm nhập của văn hóa Ấn Độ vào Việt Nam Ba thế kỷ tiếp theo thế kỷ IV - VI CN, Ấn Độ mở rộng phạm vi ảnh hưởng văn hóa đặc biệt là tôn giáo trên phạm vi rộng lớn hơn ở các vùng quần cư Theo thư tịch của Trung Quốc ghi chép là Hỗn Điền (người Ấn Độ) đã tham gia lập
nước Phù Nam đầu thế kỷ I và tiếp sau đó là “một người Bàlamôn ở Ấn Độ tên là
Kiều Trần Như sang làm vua Phù Nam”[33;-tr.20] Từ đó, có nhiều người Ấn Độ
khác đến Phù Nam tiếp tục truyền bá tôn giáo Thế kỷ VI, Phù Nam trở thành một trung tâm Phật giáo quan trọng ở Đông Nam Á và cả Tây Thái Bình Dương
Ở giai đoạn sau này từ thế kỷ VII đến thế kỷ X, văn hóa Ấn Độ mở rộng ảnh hưởng trên địa bàn mới đó là Chân Lạp (sau khi Chân Lạp hùng mạnh đã chiếm Phù Nam) còn vương quốc Champa vẫn tiếp tục chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ Từ
Trang 14sau thế kỷ X, Ấn Độ vẫn giữ quan hệ với nước ta nhưng quan hệ giao lưu văn hóa
đã mang tính chất và nội dung khác xa so với thời kỳ trước
Như vậy, người Ấn Độ đã sớm tìm đến Việt Nam trao đổi buôn bán hàng hóa
và cũng chính con đường thương mại đã tạo điều kiện thúc đẩy sự tiếp xúc giao lưu văn hóa giữa hai quốc gia Bằng con đường hòa bình, sự ảnh hưởng của văn hóa Ấn
Độ đối với Việt Nam diễn ra nhanh chóng trên nhiều lĩnh vực như tôn giáo (Phật giáo và Ấn Độ giáo), nghệ thuật (chủ yếu là điêu khắc và kiến trúc), chữ viết (chữ Phạn), văn học (nhất là văn học dân gian) phong tục tập quán, lối sống Đặc biệt ảnh hưởng về thiết chế xã hội, nhà nước của Ấn Độ cũng tác động đến sự hình thành và phát triển của các quốc gia cổ - trung đại trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay Nhìn chung, Champa và Phù Nam là hai quốc gia cổ chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất của văn hóa Ấn Độ Tuy nhiên, càng về sau ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ mờ nhạt dần cùng với sự suy vong của hai quốc gia này
1.2 Sự du nhập và phát triển của tư tưởng - tôn giáo Ấn Độ và Trung Quốc ở Việt Nam
1.2.1 Phật giáo
Đạo Phật là một trong những học thuyết triết học, tôn giáo lớn trên thế giới Phật giáo ra đời vào thế kỷ thứ VI TCN ở Ấn Độ trên vùng đất thuộc Nepan ngày nay Sự ra đời của đạo Phật gắn liền với tên tuổi người sáng lập là Thái tử Tất Đạt
Đa Cồ Đàm (Siddhartha Gauthama) Từ lãnh thổ Ấn Độ, Phật giáo đã truyền bá đến các nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam
Phật giáo được truyền bá vào nước ta bằng con đường hòa bình Ở quốc gia Đại
Việt vào đầu công nguyên, Phật giáo từ Ấn Độ đã được trực tiếp truyền vào theo đường
biển cùng với các thương nhân Trong các chuyến đi viễn dương này một hai vị tăng được cung thỉnh để cầu nguyện cho thủy thủ đoàn và các vị tăng này nhờ đó mà đến truyền bá đạo Phật vào các dân tộc Đông Nam Á
Cuốn Thiền uyển tập anh ghi lại cuộc đàm luận giữa thiền sư Thông Biện và
Thái hậu Linh Nhân Thông Biện đã dẫn lời pháp sư Đàm Thiên đối thoại với vua Tùy
Cao Đế: “Giao Châu có đường thẳng thông tới Thiên Trúc Lúc Phật giáo mới tới Giang
Trang 15Đông chưa đầy đủ gì, thì ở thủ đô Luy Lâu (cũng gọi là Liên Lâu) của Giao Châu đã có tới 20 ngôi bảo tháp (chùa), độ được hơn 500 vị tăng và dịch được hơn 15 cuốn kinh rồi”[5;-tr.16]
Qua câu chuyện, chúng ta thấy Phật giáo được truyền thẳng từ Ấn Độ vào Phật giáo vào Việt Nam trước khi Trung Quốc sang, Luy Lâu là một trung tâm Phật giáo lớn
so với các trung tâm Bành Thành và Lạc Dương của Trung Quốc Làn sóng du nhập Phật giáo từ Trung Quốc truyền sang Việt Nam muộn hơn Càng về sau, việc truyền
bá Phật giáo trực tiếp từ Ấn Độ sang giảm dần, thay vào đó theo đường bộ Phật giáo
từ phương Bắc du nhập vào chiếm ưu thế hơn Có ba tông phái lớn của Phật giáo Đại Thừa từ Trung Quốc được truyền bá vào Việt Nam đó là Thiền tông, Tịnh độ tông, Mật tông, trong đó Thiền tông giữ vai trò nổi bật và quan trọng
Thời kỳ Bắc thuộc, chính quyền đô hộ phong kiến Trung Quốc đã sử dụng
nhiều thủ đoạn xảo quyệt để nhằm đồng hóa dân tộc ta, trong đó có cả việc tìm cách lợi dụng Phật giáo, tuy nhiên kết quả cuối cùng là không được như mong muốn của chúng Còn về phía nhân dân ta tiếp nhận Phật giáo là bởi những lí do riêng của nhân dân ta Ngay trên quê hương Ấn Độ, Phật giáo đã là một tôn giáo đại diện cho một hệ tư tưởng cách mạng và tiến bộ Khi đến Việt Nam, ngoài quá trình truyền bá bằng con đường hòa bình, bản thân giáo lý của đạo Phật với tư tưởng bình đẳng của
nó và sự gần gũi với đạo lý sống cổ truyền của dân bản xứ đã được người Việt tiếp nhận như là chất keo kết dính tinh thần đoàn kết của dân tộc Bên cạnh đó, bản thân Phật giáo với tính chất cởi mở, bao dung với các tôn giáo khác có sự tương đồng với truyền thống khoan dung tôn giáo của người Việt Tất cả những nguyên nhân này lý giải vì sao thời Bắc thuộc Phật giáo đã nhanh chóng được tiếp nhận và xác
lập được chỗ đứng vững chắc trong xã hội
Thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, sau khi nước ta giành được độc lập, tự chủ Phật
giáo ngày càng được phát triển nhanh chóng, trở thành tôn giáo chiếm ưu thế trong
xã hội và có những đóng góp tích cực cho đất nước
Trang 16Sang thời Lý - Trần, Phật giáo phát triển cực thịnh, có thể coi là đỉnh cao hội
nhập của Phật giáo vào văn hóa Việt Nam Sự phát triển của Phật giáo thời Lý - Trần được biểu hiện ở các mặt sau đây:
Thứ nhất, số tín đồ phát triển rộng rãi trong cả nước, tầng lớp tăng sĩ đóng vai trò quan trọng trong xã hội Thời kỳ này, số tăng ni Phật tử trong cả nước tăng
lên rất nhiều, theo Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu “Dân chúng quá nửa làm sư
sãi”[35;-tr.225] Đặc biệt, tầng lớp tăng ni rất được đề cao trong xã hội và có nhiều
nhà sư nổi tiếng như: Vạn Hạnh, Đa Bảo, Viên Thông, Trí Thông, Từ Đạo Hạnh, Pháp Loa…
Thứ hai, tông phái ngày càng phát triển Đến thời Lý - Trần, ngoài hai phái Thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi và Vô Ngôn Thông ra đời từ trước thì còn thêm hai phái đó
là phái Thảo Đường và Thiền phái Trúc Lâm Sang thời Trần, dưới ảnh hưởng tư tưởng của vua Trần Nhân Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ, ba thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường hợp lại thành một và đưa tới sự phát triển của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
Thứ ba, việc xây dựng chùa tháp, tạc tượng, đúc chuông Phật đặc biệt được coi trọng, sách vở Trung Quốc truyền tụng về bốn công trình nghệ thuật lớn mà họ
gọi là “An Nam Tứ Đại Khí” đó là Tượng Phật chùa Quỳnh Lâm, Tháp Báo Thiên,
chuông Quy Điền và Vạc Phổ Minh
Đến nhà Hồ, Phật giáo có chiều hướng giảm sút, tuy vậy ảnh hưởng của Phật
giáo vẫn còn rất sâu đậm trong xã hội, nhất là tại các làng xã
Phật giáo đã trải qua thời kỳ phát triển cực thịnh dưới hai triều đại Lý - Trần, những thập niên đầu của thế kỷ XVII xuất hiện những môn phái mới của Phật giáo như Lâm Tế, Tào Động Thời Trịnh - Nguyễn, Phật giáo ở một mức độ nhất định được các chúa ủng hộ, nhưng sang thế kỷ XIX, Phật giáo đã không còn được ưa chuộng khi triều Nguyễn thành lập
Như vậy, từ đầu thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XIX, hầu hết các triều đại phong kiến đã thi hành chính sách hạn chế sự phát triển của Phật giáo, giám sát chặt chẽ đối với tăng ni và cấm việc xây dựng chùa chiền mới (nhất là thời Lê Thánh Tông
Trang 17và các vua triều Nguyễn) Điều đáng lưu ý là mặc dầu không được sự ủng hộ của triều đình Phật giáo vẫn có sức sống mạnh mẽ trong đời sống của nhân dân
Thời cổ - trung đại Phật giáo không chỉ du nhập và ảnh hưởng ở quốc gia Đại Việt mà vương quốc Champa và Phù Nam cũng vậy
Ở Champa Phật giáo từ Ấn Độ đã sớm có mặt ở vương quốc này ngay từ
những năm đầu công nguyên Bằng chứng đầu tiên cho ta biết điều đó là “Tấm bia
ký Võ cạnh (Nha Trang) có niên đại thế kỷ III - IV, các nhà khoa học đã cho rằng nội dung tấm bia đã toát lên tư tưởng Phật giáo”[10;-tr.353] Bằng chứng thứ hai là
“Pho tượng Phật bằng đồng có niên đại thế kỷ thứ IV đến đầu thế kỷ thứ VI tìm thấy
ở Đồng Dương”[10;-tr.353]
Ngoài tượng Phật Đồng Dương, các nhà khảo cổ học còn tìm thấy các thân tượng Phật ở Quảng Khê (Quảng Bình) và hình Phật trên phù điêu ở Phước Tịnh (Phú Yên) Những bức tượng này đều gần với kiểu tượng của Ấn Độ trong khung niên đại thế kỷ IV - VI
Bên cạnh các hiện vật, sử liệu Trung Quốc cũng cho ta biết về sự có mặt của
Phật giáo ở Champa buổi đầu: “Nhà sư Nghĩa Tịnh đã coi chămpa thế kỷ VII là một
quốc gia kính mến học thuyết Phật Thích Ca Vào đời nhà Tùy năm Đại Nghiệp thứ nhất (605), Lưu Phương đem quân từ Giao Châu đi đánh Lâm Ấp v à chiếm được quốc đô Lưu Phương vào thành bắt hết người Chăm, thu được 18 thần chủ bằng vàng thờ trong miếu, hơn 1350 bộ kinh Phật và nhiều sách viết bằng chữ Chiêm bà”[10;-tr.354]
Như vậy, dưới vương triều đầu tiên của vương quốc Champa - vương triều Gangaraji (cuối thế kỷ II - đầu thế kỷ IX), Phật giáo đã phổ biến rộng khắp ở khu vực phía Bắc (vùng Amaravati xưa) của Champa Trong những thế kỷ tiếp theo, nó vẫn tiếp tục ảnh hưởng, thời Indrapura còn để lại một số bia thuần mang nội dung
Phật giáo Đại Thừa “Bia thứ nhất trong số này là bia An Thái (Quảng Nam) có niên
đại năm 902 của một vị triều thần tên là Sthavira Nagapuspa Mục đích dựng bia là việc cúng hiến một Lokanatha cho tu viện Pramuđitalokesvara Đoạn này trình bày
về tôn giáo ca ngợi Avalokitesvara xuất hiện như một đấng đại từ bi trắc ẩn đã cho
Trang 18phép tất cả những người phạm tội thoát khỏi địa ngục để Vajrapani giải phóng họ
và đưa họ vào con đường của Phật Ngoài ra, trong bia ký này có những đoạn rất vắn tắt nói về ba vị Phật là Sakyamuni Amitabha và Vairocana”[10;-tr.363]
Lịch sử Champa, suốt từ thế kỷ X cho đến khi chấm dứt sự tồn tại của mình như một quốc gia, vương quốc này đã trải qua cả một thời kỳ lịch sử dài đầy biến động Song cũng như thời kỳ trước, bức tranh Phật giáo của Champa thời kỳ này được ghi lại khá đầy đủ trong các bia ký
Từ thời Jaya Harivarman I, bắt đầu một cuộc chiến tranh giữa bắc và nam Champa; giữa Champa và Campuchia Kết quả là đất nước bị tàn phá rồi trở thành một tỉnh của Khmer từ năm 1203 đến 1220 Tuy bận chinh chiến, các vua Champa
vẫn chăm lo tới đời sống tôn giáo của đất nước: “Các bia ký thời kỳ này đều nói tới vai
trò quan trọng của Phật giáo Đại Thừa ở Champa Bản thân vua Suryavarmadeva, sau lúc ổn định đất nước vào năm 1193, đã tuyên bố theo đạo phá p (dharma) của Phật giáo Đại Thừa”[10;-tr.371]
Từ năm 1220, khi quân Khơme rút quân, Champa mới lại bắt đầu sự thống nhất và thịnh trị của mình, lúc bấy giờ Phật giáo Đại Thừa vẫn tiếp tục tồn tại ở
vương quốc này “Tấm bia ở làng Kiếm Ngọc (Bình Định) có niên đại 1265 mở đầu
lời tôn kính Đức Phật rồi nói tới việc vua được phong tên thụy là Sivaloka - tên thụy cuối cùng ở Champa”[10;-tr.372]
Đầu thế kỷ XIV, Champa bước vào một thời kỳ chiến tranh liên miên với Đại Việt Đến năm 1471, Champa đã phải chấm dứt sự tồn tại của mình như một vương quốc Mặc dầu bia ký ở giai đoạn này có rất ít, nhưng qua vài bia ký ít ỏi còn lại cùng với những tài liệu khác đã chứng tỏ cho đến những ngày cuối cùng Phật giáo vẫn ngự trị ở Champa
Ở Phù Nam, Phật giáo từ Ấn Độ đã du nhập vào Phù Nam từ rất sớm vào
khoảng thế kỷ II CN Trong những thế kỷ sau, Phật giáo ở Phù Nam vẫn tiếp tục tồn
tại và phát triển Theo tư liệu của Trung Quốc: “Năm 484 triều Vĩnh Minh thứ 2,
vua Phù Nam tên Jayavarman đã sai một đạo nhân người nước Thiên Trúc tên là Thích Na Già Tiên dâng biểu văn, xin Hoàng đế Trung Quốc xem xét phong tục văn
Trang 19hóa mà giúp cho Phật pháp hưng thịnh vì rằng hiện tăng chúng tu tập ngày càng đông, pháp sự ngày càng được mở rộng… Và vua Jayavarman hiến dâng cho Hoàng đế Trung Quốc một pho tượng long vương bằng vàng, một pho tượng Phật bằng bạch đàn Trong thời gian vua Jayavarman (484 - 515) ở ngôi, có 2 nhà sư người Phù Nam đến Trung Quốc dịch kinh, đó là Sànghapàla (Tăng Già Bà La) và Mandr (Mạn Đà La) Hai nhà sư Phù Nam này không chỉ dịch được nhiều bộ kinh
mà còn mang nhiều kinh tiếng Phạn từ Phù Nam đến Trung Quốc”[53]
Điều đó đã chứng minh, rõ ràng lúc bấy giờ ở Phù Nam Phật giáo rất thịnh hành và phát triển nhanh chóng, thậm chí nó còn có sức lan tỏa tới các quốc gia
khác trong đó có Trung Quốc “Theo Tục Cao Tăng truyện, q 1 thì khoảng năm Đại
Đồng (535 - 545) có sắc chiếu bảo Trương Phạm đến nước Phù Nam xin thỉnh các
bộ kinh luận của các bậc danh tăng… Nước Phù Nam nghe tin liền cho Chân Đế (Gumrata) tuyển chọn những bộ kinh luận bổ ích để đưa sang Trung Quốc”[53]
Như vậy, Phù Nam đã tiếp nhận và chịu ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo Ấn
Độ trong suốt quá trình tồn tại của vương quốc này
1.2.2 Ấn Độ giáo
Từ rất sớm các tôn giáo Ấn Độ đã sớm du nhập vào các quốc gia cổ - trung đại nằm trên các vùng lãnh thổ của Việt Nam ngày nay như vương quốc Champa và vương quốc Phù Nam
Đối với Vương quốc Champa, thì cho đến nay chúng ta chưa tìm thấy một tư
liệu nào nói về người Ấn Độ đến truyền đạo ở Champa, thế nhưng ngay ở những thế
kỷ đầu công nguyên đạo Bàlamôn có mặt ở vùng đất thuộc vương quốc Champa
Các bia ký Champa trước thế kỷ VII đã cho chúng ta biết nhiều về Bàlamôn
giáo tại xứ sở này “Bốn bia ký bằng chữ Phạn kiểu Pallaya tìm thấy ở Quảng Nam v à
Phú Yên của ông vua có tên là Bhadravarman có ghi chép về vị thần Bhadresvaravamin
Ba trong bốn bia ký đó ghi nhận lãnh địa dành cho vị thần này Còn bia ký Mỹ Sơn th ì nói đến sự thành kính dành cho “Mahesvara, Uma, Brahma, Visnu ”[10;-tr.354]
Đến đầu thế kỷ VII, tôn giáo của Champa đã được thể hiện qua những bia ký của ông vua Sambhuvarman Như vậy, lúc bấy giờ Ấn Độ giáo mà chủ yếu là Siva
Trang 20giáo đã trở thành tôn giáo chính thống của vua chúa Champa Các công trình kiến trúc tôn giáo đã ra đời như thánh địa tôn giáo - khu Mỹ Sơn, nhiều đền thờ các thần
Ấn Độ giáo được xây dựng Nghệ thuật điêu khắc đã tạo nên một số lượng lớn các tượng thần, dưới nhiều dạng để thờ phụng như Linga, Mukhalinga, Jatalinga Các bia ký và các công trình kiến trúc đó đã cho thấy được tầm quan trọng của Siva giáo Qua các bia ký của Vikrantarman I và II, chúng ta được biết Visnu giáo đã song song tồn tại bên cạnh Siva giáo
Như vậy, từ cuối thế kỷ II đến đầu thế kỷ IX, Ấn Độ giáo đã phổ biến rộng khắp ở khu vực phía Bắc của Champa
Thời Hoàn Vương, người ta tìm thấy các bia ký của Satyavarman và Vikrantavarman ở Po Nagar (tại Nha Trang) có nói tới một linga được trang trí của người thầy của nữ thần Bhagavati Bên cạnh đó, người ta còn tìm thấy ba bia ký (hai của Indravarman I và một của Vikrantavarman III) tìm thấy ở Phan Rang nói nhiều tới Visnu giáo Điều đó chứng tỏ cũng như ở thời kỳ trước ở Champa tồn tại song song hai giáo phái của Ấn Độ giáo đó là Siva giáo và Visnu giáo
Từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, theo các tư liệu bia ký Ấn Độ giáo vẫn tiếp tục tồn tại, ngự trị ở Champa Lịch sử vương quốc Champa có nhiều biến động song
“Siva giáo cũng vẫn là chính thống của vương triều, của quốc gia”[10;-tr.375]
Đối với vương quốc Phù Nam, qua một số hiện vật tìm thấy chúng ta có thể
khẳng định rằng Ấn Độ giáo đã có mặt và tồn tại ở đây “Bia Phù Nam I phát hiện
ở Gò Tháp, Đồng Tháp Mười, trong một phế tích gọi là tháp 5 ngọn, chính quyền Pháp chuyển về Sa Đéc, rồi chuyển về Sài Gòn, ghi số thứ tự K5, nay trưng bày ở bảo tảng lịch sử thành phố Hồ Chí Minh”[31;-tr.135] Bia này còn được gọi tắt là bia
Gunavarman đã được xác định niên đại cuối thế kỷ V Bên cạnh đó người ta còn tìm thấy tấm bia Phù Nam 2 còn gọi là Neak Ta DamBang Dek Cả hai tấm bia đều thấm đượm tinh thần Ấn Độ giáo, chi phái Visnu là tôn giáo phổ biến ở Phù Nam
Bên cạnh các văn bia Phù Nam còn có một hệ thống tượng thờ Ấn Độ giáo
mà chủ yếu là Visnu giáo xuất hiện ở hệ thống trưng bày, cụ thể có “10 pho tượng
được trưng bày, trong bảo tàng Bangkok có xuất xứ Nam Thái Lan, 7 pho tìm thấy
Trang 21trên đất Cambốt được lưu trữ ở bảo tàng Phnôm Pênh và 3 pho tìm thấy trên đất Việt Nam lưu trữ ở bảo tàng thành phố Hồ Chí Minh”[31;-tr.159]
Chính những tác phẩm đó đã tạo nên trường phái nghệ thuật Phù Nam, tượng trưng cho đỉnh cao văn hóa Phù Nam độc đáo, đặc sắc vượt trội trong toàn khu vực
Như vậy, Ấn Độ giáo sau khi du nhập vào đã được người Phù Nam tiếp thu
và duy trì sự tồn tại của nó trong suốt quảng thời gian tồn tại của vương quốc này
1.2.3 Nho giáo
Nho giáo là một học thuyết chính trị, xã hội, đạo đức ra đời ở Trung Quốc thời cổ đại do Khổng Tử sáng lập Nho giáo đã phát triển qua những thời đại khác nhau ở mỗi giai đoạn đã có sự kế thừa, phát triển, hoàn thiện học thuyết Đến thời Hán Vũ Đế đã cho độc tôn Nho giáo Từ đó, Nho giáo đã trở thành ý thức hệ chính thống của chế độ phong kiến Trung Quốc suốt hơn 2000 năm Trong quá trình tồn tại và phát triển, Nho giáo đã ảnh hưởng sang các nước khác trong đó có Việt Nam
Trong suốt hơn 1000 năm Bắc thuộc, các triều đại phong kiến phương Bắc luôn thực hiện âm mưu đồng hóa dân tộc Việt Một trong những thủ đoạn để thực hiện âm mưu đồng hóa là truyền bá Nho giáo - thời kỳ này là Hán nho
Ngay từ đầu công nguyên, hai Thái thú là Tích Quang và Nhâm Diên đã
“dựng nhà học dẫn dắt bằng lễ nghĩa”[35;-tr.130] Ở Giao Chỉ và Cửu Chân vào
cuối thời Đông Hán Thái Thú Sĩ Nhiếp đã cho dựng trường Nho học tại thành Luy
Lâu, tạo điều kiện thuận lợi cho Nho giáo phát triển “Số trường Nho học nhiều hơn
trước, chẳng những con em bọn thống trị ngoại quốc được đi học mà còn có cả con
em của người bản địa giàu có cộng tác với quân đô hộ”[19;-tr.56] Kết quả là một
số người Việt có học vấn được bổ sung vào hàng ngũ quan lại như Trương Trọng,
Lý Cẩm, Lý Tiến
Như vậy, ở thời Bắc thuộc sự phổ biến Nho giáo vào nước ta nằm trong âm mưu đồng hóa dân tộc ta của giai cấp thống trị phong kiến phương Bắc nên gặp phải sự chống cự của nhân dân ta Vì lẽ đó, trong suốt thời kỳ này Nho giáo tuy đã được du nhập nhưng chưa có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam
Trang 22Bước sang thời kỳ độc lập tự chủ, dưới các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê do tình hình chính trị không ổn định nên vẫn chưa có chủ trương tích cực để thúc đẩy
sự phát triển của Nho giáo Sự thể hiện của Nho giáo trong xã hội là hết sức mờ nhạt
Thời Lý - Trần, có thể coi là thời kỳ bước đầu phát triển của Nho giáo Việt
Nam Điều đó được thể hiện qua việc quán triệt tư tưởng triết học, đạo đức của Nho
giáo Theo thuyết “mệnh trời” và “thuyết thiên nhân cảm ứng” bản thân việc nhà Lý
thay thế nhà Lê được tuyên truyền là làm theo mệnh trời Vì đề cao trung hiếu, Lý Thái Tông (1028 - 1054) ngay lúc mới lên ngôi đã tổ chức cho các quan làm lễ
tuyên thệ ở miếu Đồng Cổ Lời thề viết “làm con bất hiếu, làm tôi bất trung xin
thần minh giết chết”[35;-tr.135]
Nhiều triều vua Lý - Trần thi hành đường lối chính trị nhân chính thường tỏ
ra rất nhân từ trong việc trị nước Sự phát triển của Nho giáo ở thời Lý - Trần, được
biểu hiện rất rõ rệt ở mặt giáo dục và thi cử “Năm 1070, nhà Lý cho xây dựng văn
miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ Phối, vẽ hình thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế, Hoàng Thái tử được đưa đến đây để học tập”[62] Năm 1075, lần đầu
tiên nhà Lý mở khoa thi Minh kinh bác học và thi Nho học tam trường, sang thời Trần Nho giáo phát triển hơn so với thời Lý Do nhu cầu đào tạo nhân tài cho đất nước, ở thời Trần các khoa thi được mở đều đặn hơn
Có thể thấy đến thời Lý - Trần, Nho giáo bắt đầu có chỗ đứng trong xã hội, tuy vậy, trong thời gian này Nho giáo chỉ được tiếp thu trong tầng lớp cầm quyền, ở triều đình và cả lộ phủ còn trong dân gian Nho giáo vẫn chưa giữ vai trò chủ đạo, chưa có ảnh hưởng sâu đậm
Thời Hồ - một triều đại chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, song Hồ Quý Ly cũng đã thể hiện tư tưởng của mình về Nho giáo bằng việc viết sách Minh Đạo gồm
14 thiên, soạn Quốc ngữ thi nghĩa và dịch thiên Vô dật trong thượng thư ra quốc ngữ
Thời Lê Sơ, Nho giáo rất phát triển và đạt tới vị trí độc tôn dưới thời Lê
Thánh Tông Sự phát triển của học tập và thi cử tạo nên tầng lớp tri thức quan lại
Trang 23đông đảo thấm nhuần tư tưởng Khổng Tử đó là biểu hiện của sự phát triển không ngừng của Nho giáo thời nhà Lê Sự phát triển của Nho giáo ở thời kỳ này chủ yếu biểu hiện ở việc quán triệt các mặt tư tưởng triết học, nguyên tắc đạo đức, đường lối chính trị, đặc biệt thể hiện ở sự phát triển của chế độ giáo dục thi cử Nhà Lê đã đưa Nho giáo thành quốc giáo
Thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497), Nho giáo chiếm địa vị độc tôn trong sự toàn thịnh của chế độ quân chủ chuyên chế ở nước ta Vua Lê Thánh Tông là người sùng Nho và ngay từ khi mới lên ngôi ông đã có xu hướng Nho giáo hóa cả triều đình và toàn xã hội Nhà vua đứng trên lập trường dân tộc để tiếp thu Nho giáo,
mong ước một xã hội được xây dựng trên đường lối “văn trị”, “lễ trị”, “đức trị” Tư
tưởng của Lê Thánh Tông được phản ánh khá rõ trong bộ luật Hồng Đức Nhà nho Nguyễn Trãi, là nhà tư tưởng kiệt xuất ở thế kỷ XV Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi chịu ảnh hưởng tư tưởng nhân nghĩa của Nho giáo
Ở các thế kỷ XVI - XVII, giai cấp thống trị ở Đàng Ngoài cũng như ở Đàng Trong,
tuy ở mức độ khác nhau, nhưng đều xem Nho giáo là nền tảng tư tưởng của mọi thiết chế chính trị, xã hội Để củng cố hơn nữa địa vị của Nho giáo trong nhân dân, năm 1663 chúa Trịnh đã mở rộng 24 điều giáo huấn của Lê Thánh Tông thành 47 điều, phân phát cho các làng xã để xã trưởng hàng năm đọc và giảng giải cho nhân dân Tôn ti trật tự trong triều đình được chấn chỉnh, các sách kinh điển của Nho giáo vẫn là nội dung chủ yếu của giáo dục, thi cử Tuy nhiên, Nho giáo thế kỷ đầu XVIII có những biểu hiện suy yếu, khủng hoảng xét từ góc độ đạo thống, ở thể chế chính trị Đây là thời kỳ xã hội biến loạn, Nho giáo lúng túng và bộc lộ hết những điểm yếu vốn có của mình trong quản lý, điều hành xã hội
Bước sang thế kỷ XIX, các vua đầu triều Nguyễn nhận thức được vai trò quan
trọng của Nho giáo trong việc củng cố chế độ phong kiến tập quyền chuyên chế nên
đã lấy Nho giáo làm quốc giáo, tổ chức và phát triển giáo dục Nho học Đồng thời các vua triều Nguyễn cũng hạn chế xây dựng chùa chiền, theo gương nhà Lê ban
“Mười điều huấn dụ”, giao cho các làng xã giảng giải cho dân Những việc làm của
Trang 24nhà Nguyễn có tác dụng nhất định trong hàng ngũ quan lại, nho sĩ, ít nhiều củng cố lại trật tự gia đình, già trẻ, củng cố mối quan hệ vua tôi
Tuy vậy, sự khủng hoảng của chế độ phong kiến dưới triều Nguyễn đã không thể không làm lung lay Nho giáo - chỗ dựa tinh thần của nó Dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, với chính sách nhằm xóa bỏ dần nền giáo dục Nho học, Nho học bước vào thời kỳ suy tàn
1.2.4 Đạo giáo
Đạo giáo là tôn giáo kết hợp những hình thức mê tín thời cổ đại (như cúng tế quỷ thần, bói toán, phù phép, đồng bóng, cầu tiên ) với học thuyết Đạo gia, ra đời vào thời Đông Hán và được chia làm hai nhánh đó là Đạo giáo thần tiên và Đạo giáo phù thủy
Đạo giáo được truyền bá vào nước ta, có lẽ vào thời suy vi của nhà Đông Hán (hay còn gọi là Hậu Hán), nhưng ảnh hưởng của nó lúc này còn rất hạn hẹp Theo lời tựa của sách Mâu Tử thì vào khoảng cuối thế kỷ thứ II, Trung Quốc nhiễu loạn mà Giao Châu lại tương đối yên ổn cho nên, nhiều Đạo sĩ Trung Quốc đã tìm đến Giao Châu để tu luyện theo phép tịch cốc và luyện đan trường sinh bất tử Chính Mâu Bác cũng từng đọc sách của họ nhưng ông không tin theo Sau Mâu Bác, viên thứ sử Giao Châu là Trương Tân có nhiều việc làm tỏ rõ rằng ông chịu ảnh hưởng của Đạo giáo khá sâu sắc[41;-tr.309-310]
Từ khoảng đầu thế kỷ thứ V trở đi, Đạo giáo mới được truyền bá ngày càng mạnh mẽ ở nước ta đặc biệt nhất là dưới thời đô hộ của nhà Đường Bấy giờ chính quyền phong kiến đô hộ vẫn thường có xu hướng nhất thể hóa đội ngũ quan lại với lực lượng Đạo sĩ Quan lại không phải chỉ là người nắm trọn quyền lực chính trị, quân sự và kinh tế ở trong tay mà còn là những Đạo sĩ cao tay ấn, tài ba gồm đủ mọi phép biến hóa thần thông Đại diện tiêu biểu nhất cho những người thuộc xu hướng đồng nhất này là Cao Biền[41;-tr.311]
Thời Bắc thuộc, không chỉ Đạo giáo phù thủy mà cả Đạo giáo thần tiên cũng
dễ xâm nhập vào nước ta bởi vì chính nó cũng dựa vào ma thuật, thần bí và dựa vào những kì phương, dị thuật phổ biến trong các tầng lớp xã hội Có thể nói, thời Bắc
Trang 25thuộc Đạo giáo được nhân dân ta tiếp nhận khá nhanh và đây là hiện tượng hoàn toàn khách quan, nằm ngoài ý đồ của chính quyền đô hộ đương thời
Về xu hướng chung, Đạo giáo Thần tiên chỉ được truyền bá rất hạn hẹp trong tầng lớp trên của xã hội, trong lúc đó Đạo giáo dân gian (hay Đạo phù thủy) lại có điều kiện phát triển một cách mạnh mẽ
Thời Đinh - Tiền Lê, Đạo giáo gắn với Phật giáo, nhiều nhà sư đồng thời là
đạo sĩ giỏi về phép thuật Thời kỳ này các vị vua nước ta rất tin Đạo giáo, nên đã sử
dụng để trừ yêu, diệt tà Tiêu biểu là “vua Đinh Tiên Hoàng “lấy lễ thầy trò” để tiếp
pháp sư Văn Du Tường, nhờ pháp sư chém hết hung thần Xương Cuồng (tích rằng thần Xương Cuồng là Mộc tinh do cây chiên đàn ở Bạch Hạc sống lâu năm quá, bẩm thụ khí âm dương của trời đất mà biến thành tinh yêu, phá hoại nhân dân)”[19;-tr.436]
Ở thời Lý - Trần, trong guồng máy nhà nước, từ triều đình trung ương đến địa
phương có một bộ phận quan lại xuất thân là Đạo sĩ Thời kỳ này, số lượng đền miếu, Đạo quán được xây dựng ngày càng nhiều, quy mô cũng rất đa dạng[41;-tr.330]
Bên cạnh tăng quan có cả chức đạo quan, thời Lý - Trần, các đạo sĩ của Đạo giáo giữ vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh Họ được triều đình mời đi trấn yểm các núi sông trong nước, vào cung làm lễ tống trừ ma quỷ đêm ba mươi tết,
làm phép cầu đảo chống hạn, giảng giải cho vua về phép tu luyện “sự kiện vua Trần
với đạo sĩ núi Yên Tử đi về kinh hỏi phép tu luyện”[19;-tr.437]
Đến thời Trần, vua Trần cũng thi hành chính sách phong chức Tả nhai cho những đạo sĩ thông thạo tôn giáo của mình Trong xã hội, số lượng các Đạo sĩ, Pháp
sư, chân nhân, thầy cúng, thầy phù thủy khá đông Họ thực sự là một lực lượng gắn bó chặt chẽ với xã hội đương thời Cùng với hàng loạt những người tu hành theo Phật giáo, các đạo sĩ đã tham gia vào quá trình điều khiển đời sống tư tưởng của các tầng lớp nhân dân
Trong dân gian, Đạo giáo càng thịnh Sử cũ chép rằng: “Lý Giác người cầm
đầu cuộc bạo động ở Diễn Châu dưới thời Lý Nhân Tông, là kẻ đã học được “thuật lạ”, “biết biến cỏ thành người”[19;-tr.437] Dân gian có rất nhiều cuộc khởi nghĩa
Trang 26nông dân mang tính chất Đạo giáo phù thủy, không chỉ thế chính nhà cầm quyền phong kiến cũng đã có lúc dùng ma thuật để trị một số cuộc khởi nghĩa
Không chỉ trong cuộc sống thường ngày, mà cả trong văn học cũng thấm đượm tinh thần của Đạo giáo, được thể hiện qua sách Lĩnh Nam Chích Quái, chuyện Từ Thức kết duyên với nàng tiên Giáng Hương rất phổ biến, ly kỳ Qua đó nói lên tầm ảnh hưởng của Đạo giáo
Từ thế kỷ XV, Nho giáo giành được địa vị độc tôn trên vũ đài chính trị, tư tưởng của dân tộc Cùng với Phật giáo, Đạo giáo bị bài xích và hạn chế phát triển Tuy vậy, từ đầu thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII, đất nước ở trong tình trạng biến động chính trị sâu sắc đã tạo điều kiện cho Phật giáo và Đạo giáo có điều kiện phát triển mạnh mẽ Bước sang thế kỷ XIX, thái độ của nhà Nguyễn đối với Đạo giáo nhìn chung là rất cởi mở
Vào cuối thế kỷ XIX, khi ý thức tư tưởng Nho giáo tỏ ra hoàn toàn bất lực trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp thì tư tưởng và tín ngưỡng Đạo giáo cũng như Phật giáo đã có những cố gắng nhất định để góp phần chống xâm lược đặc biệt
là dùng Đạo giáo phù thủy
Trang 27Chương 2: NHỮNG ĐIỂM DỊ BIỆT TRONG ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG - TÔN GIÁO ẤN ĐỘ VÀ TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI VIỆT NAM
THỜI CỔ - TRUNG ĐẠI 2.1 Niên đại ảnh hưởng
Tôn giáo Ấn Độ truyền bá ra ngoài biên giới từ rất sớm Ở thế kỷ III TCN, dưới sự chỉ đạo của vua Ấn là Asoka, nhiều tăng đoàn đã đi ra nước ngoài truyền bá Phật giáo Trong khoảng thời gian này, Phật giáo Ấn Độ đã du nhập vào nhiều nước
trong đó có Việt Nam: “Ngay sau đại hội kết tập kinh điển lần thứ ba tại thành phố
Pataliputra (Hoa Thị) - Ấn Độ, trước tây lịch 300 năm, vua Asoka (A-Dục) cùng với Đại lão Hoà Thượng Moggaliputta Tissa (Mục Kiền Liên Tử Đế Tu) đã cử và đẩy mạnh các phái đoàn như Lai Sứ giả trên đường truyền bá Phật pháp tới các nước Viễn Đông, Đông Bộ, Địa Trung Hải, Tích Lan và toàn cõi bán đảo Đông Dương, trong đó có Miến Điện, Thái Lan và Việt Nam Do hai vị cao tăng Sona và Uttara truyền tới Hầu hết các nơi thường có dấu ấn bằng chùa tháp, cột đá hay bia đá để ghi lại công đức của vua Asoka”[58]
Ở nước ta, Đồ Sơn là địa điểm đầu tiên mà các nhà sư trực tiếp truyền bá và tại đây họ đã cùng với nhân dân địa phương xây bảo tháp Asoka, theo nghiên cứu
“Vùng Đồ Sơn chính là thành Nê Lê, nơi có bảo tháp của vua Asoka ”[58]
Các tư liệu lịch sử Việt Nam cũng đã chứng minh cho sự có mặt của Phật giáo Ấn Độ trên đất nước ta từ những thế kỷ trước công nguyên Cụ thể, ngọc phả Hùng Vương, có lần vua Hùng Vương thứ 7 là Chiêu Vương lên núi Tam Đảo cầu
Tiên thì nghiễm nhiên đã thấy có chùa thờ phật; Tác phẩm Lĩnh nam chích quái cho
biết sự có mặt của của đạo Phật vào đời Hùng Vương thế kỷ III, qua câu chuyện Công chúa Tiên Dung là con gái của vua Hùng lấy Chữ Đồng Tử Chuyện kể rằng Chữ Đồng Tử và Tiên Dung đã lập phố xá buôn bán giao thiệp với người nước ngoài, một hôm Đồng Tử theo khách buôn ngoại quốc đến núi Quỳnh Viên và tại đây Đồng Tử đã gặp một nhà sư Ấn Độ trong một túp lều, nhờ đó mà Đồng Tử và Tiên Dung đã biết đến đạo Phật
Trang 28Như vậy, qua sự đối chiếu chúng ta có thể thấy rằng các đoàn phái Như Lai
sứ giả của vua A-Dục đi đến các nước truyền đạo trong khoảng thời gian (325 TCN
- 258 TCN) tương ứng với thời Hùng Vương ở nước ta và trùng hợp với câu chuyện ghi trong ngọc phả Hùng Vương, chuyện Chử Đồng Tử và thành Nê Lê
Qua các tư liệu trong và ngoài nước, chúng ta có thể khẳng định rằng phật giáo Ấn Độ đã được truyền vào nước ta từ thời Hùng Vương, song phải đến những thế kỷ đầu công nguyên mới được truyền bá mạnh mẽ và có những bằng chứng cụ
thể hơn Phật giáo Ấn Độ được truyền đến nước ta rất nhanh chóng “Xứ Giao Châu
có đường thông tới Thiên Trúc Lúc Phật giáo mới truyền đến Giang Đông chưa được rộng khắp thì tại Luy Lâu đã có tới hai mươi ngôi bảo tháp, hóa độ được hơn năm trăm vị tăng và dịch được mười lăm quyển kinh rồi”[41;-tr.69] Thư tịch cổ của
Trung Quốc cho rằng bấy giờ có ba trung tâm Phật giáo rất lớn đó là Lạc Dương, Bành Thành (hai trung tâm này thuộc Trung Quốc) và Luy Lâu Trong ba trung tâm này thì Luy Lâu vẫn lớn hơn cả
Ở miền trung, trên lãnh thổ Champa các nhà khảo cổ học đã tìm thấy hiện vật chứng minh cho sự có mặt của Phật giáo đó là tấm bia Võ Cạnh (Nha Trang) có niên đại vào khoảng thế kỷ III - IV Đây được xem là tấm bia viết bằng chữ Phạn về Phật giáo được phát hiện sớm nhất ở Đông Nam Á
Trên địa bàn miền Nam vương quốc Phù Nam, tôn giáo từ Ấn Độ truyền vào muộn hơn phía Bắc, song trong những thế kỷ đầu công nguyên Ấn Độ giáo và Phật giáo cũng đã có mặt trên vương quốc này thể hiện trước hết qua 4 bia ký đó là bia Phù Nam 1, bia Phù Nam 2, bia Phù Nam 3 và bia Phù Nam 4 Mặc dù, hiện nay chúng không còn nguyên vẹn nhưng vẫn cho chúng ta thấy được những nội dung chứng tỏ sự có mặt của hai tôn giáo này trên lãnh thổ của vương quốc Phù Nam
Như vậy, Phật giáo từ quê hương Ấn Độ đã có mặt ở nước ta từ rất sớm đó là kết quả của cả một quá trình không ngừng truyền bá Trong các thành tố ngoại nhập của văn hóa Việt Nam, thì Phật giáo là thành tố xuất hiện sớm nhất lúc mà xã hội ta chưa có một tôn giáo nào Cùng với Phật giáo, Ấn Độ giáo cũng đã du nhập vào
Trang 29Champa, Phù Nam và có sự ảnh hưởng trong suốt khoảng thời gian tồn tại của hai vương quốc này
Những năm đầu công nguyên, không chỉ có tôn giáo Ấn Độ mà tư tưởng -
tôn giáo Trung Quốc cũng du nhập vào Việt Nam mà trước tiên là Nho giáo “Thời
Tây Hán, đầu công nguyên, hai viên Thái Thú Tích Quang và Nhâm Diên dựng học hiệu, dạy lễ nghĩa tại quận Giao Chỉ, Cửu Chân” [19;-tr.55]
Đến cuối thời Đông Hán, Thái Thú Sĩ Nhiếp đã cho dựng trường Nho học tại
thành Luy Lâu, tạo điều kiện thuận lợi cho Nho giáo phát triển “Số trường Nho học
nhiều hơn trước, chẳng những con em bọn thống trị ngoại quốc được đi học mà còn
có cả con em của người bản địa giàu có cộng tác với quân đô hộ ”[19;-tr.56]
Nho giáo vào nước ta nằm trong âm mưu đồng hóa dân tộc ta của giai cấp thống trị phong kiến phương Bắc, nên gặp phải sự chống cự của nhân dân ta Vì lẽ
đó, trong suốt thời kỳ Bắc thuộc Nho giáo tuy đã được du nhập vào song vẫn chưa
có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam Đầu công nguyên, bên cạnh tư tưởng Nho giáo thì các tôn giáo khác như Phật Giáo và Đạo giáo cũng được truyền bá vào và có ảnh hưởng lớn đối với văn hóa Việt
Như vậy, qua đó chúng ta có thể khẳng định rằng thời gian và quá trình ảnh hưởng của tư tưởng - tôn giáo Trung Quốc ở Việt Nam liên tục, lâu dài và sâu sắc hơn Ấn Độ Nếu như, tôn giáo Ấn Độ chỉ ảnh hưởng đến Đại Việt từ đầu công nguyên đến khoảng thế kỷ VI và trong thời gian tồn tại của hai vương quốc Champa (thế kỷ II - thế kỷ XV), Phù Nam (thế kỷ I - thế kỷ VI) thì tư tưởng - tôn giáo Trung Quốc được truyền bá và tạo ảnh hưởng lâu dài đối với nước ta kể từ thời Bắc thuộc cho đến hết thế kỷ XIX
2.2 Con đường ảnh hưởng
2.2.1 Xét về mặt địa lý
Xét về mặt địa lý, tôn giáo Ấn Độ đến Việt Nam qua hai con đường đó là đường bộ và đường biển, trong đó đường biển là con đường chủ yếu
Về đường bộ, từ Ấn Độ đến Việt Nam có thể đi bằng đường bộ qua vùng
Assam và Akaran, Miến Điện, Vân Nam rồi tới vùng thung lũng Sông Hồng song
Trang 30con đường này gặp phải những khó khăn như phải qua những sa mạc mênh mông, mùa hè rất nóng bức còn mùa đông thì băng giá cực lạnh; núi non hiểm trở đầy thú
dữ rất nguy hiểm và không tiện lợi cho việc giao thương Hơn nữa lúc bấy giờ, đi đường bộ chỉ có thể dùng lạc đà và ngựa, do đó rất khó khăn trong việc di dân, cũng không thể chuyên chở hàng hóa với số lượng lớn Bởi những lý do đó, về sau đường
bộ không còn được các thương nhân và các tu sĩ Phật Giáo sử dụng
Về đường biển, từ Ấn Độ theo đường biển đến Srilanka, Miến Điện, Thái
Lan, đến vùng sông Mê Kông (Campuchia) có thể vào phía Nam của Việt Nam Với
sự tiến bộ của kĩ thuật hàng hải, một mặt người Ấn Độ đã học được kĩ thuật đóng tàu lớn của Ba Tư, mặt khác biết lợi dụng gió mùa ở Ấn Độ Dương để chạy những thuyền buồm có sức chở lên đến 600 - 700 người và thực hiện chuyến đi dài ngày trên biển Đi bằng đường biển sẽ nhanh hơn và chở được nhiều hàng hóa hơn so với đường bộ Do đó, các thương gia Ấn đã sử dụng con đường này, nhưng phải theo gió mùa Tây Nam mới có thể dong thuyền đến nước ta, lúc trở về họ phải đợi năm sau mới có gió mùa Ðông Bắc để xuôi buồm về Ấn Ðộ Vì lênh đênh trên biển dài ngày đầy sóng to gió lớn nguy hiểm như vậy, nên những thương gia người Ấn thường cung thỉnh một vài vị tu sĩ Phật Giáo cùng đi trên thuyền với họ để cầu nguyện, theo chân các giáo sĩ, Phật giáo của Ấn Độ đã được truyền bá vào nước ta
Ngoài hai con đường trên, các nhà truyền giáo và thương nhân người Ấn còn
đi bằng con đường khác để đến Việt Nam mà những con đường này có sự kết hợp
giữa thủy và bộ “Từ nam Ấn thay vì phải qua eo biển Malacca về phía nam xa xôi
họ đã qua eo đất Kra và bán đảo Mã Lai, họ có thể vượt mấy tiếng đồng hồ đường
bộ là có thể từ biển Ấn Ðộ để vào biển Mã Lai Họ dùng thủy đạo giữa Andaman và Nicobar, hoặc dùng thủy đạo giữa Nicobar và Achin để đến Kedah rồi tiếp tục đường bộ này đến Thái Lan, Campuchia và vào Việt Nam Những người Ấn xuất phát từ Trung Ấn còn dùng tuyến đường bộ qua đèo Hasse Des Trois Pagodes, theo sông Kanburi xuống châu thổ sông Menam, từ đó đến sông Mekong qua đất Lào rồi vào Thanh Hóa, Nghệ An và đến Luy Lâu của Giao Châu Trên tuyến đường này
Trang 31các nhà khảo cổ cũng đã tìm được các cổ vật của nền văn minh Ấn Ðộ và di tích Phật Giáo”[61]
Lúc bấy giờ không chỉ thương nhân Ấn Độ đến nước ta buôn bán mà các thương nhân của Đại Việt, Champa và Phù Nam cũng buôn bán trong khu vực với
người Ấn Cụ thể, trên lãnh thổ Champa (Trung Bộ) “Dựa vào cổ sử Hán như Tiền
Hán Thư, Hậu Hán Thư cùng các di chỉ khảo cổ như Óc Eo, Sa Huỳnh đã cho thấy vùng biển phía Nam Việt Nam, xưa thuộc vương quốc Champa đã nhộn nhịp thương thuyền của các quốc gia thuộc văn minh Ấn Độ”[53] Ở Phù Nam, thương
cảng Óc Eo là nơi neo đậu của các tàu hàng viễn dương để tiếp nhận hàng hóa sản vật từ các tàu chợ trong vùng, cũng là nơi trao đổi hàng hóa giữa các con tàu đến từ các nước phương Đông và phương Tây trong đó có cả Ấn Độ Sở dĩ, hoạt động buôn bán ở đây nhộn nhịp là vì các tiện nghi hạ tầng, nền nếp hoạt động quy cũ của thương cảng và việc coi trọng chữ tín của cư dân nơi đây Mặt khác, còn có một yếu
tố rất quan trọng không thể không nói đến “Đây là nơi tránh bão lý tưởng, đồng
thời là nơi lưu trú chờ lúc thuận gió mùa trên mặt Biển Đông hay trong Ấn Độ Dương”[47]
Như vậy, cùng với hoạt động giao thương, tôn giáo Ấn Độ đã du nhập và ảnh hưởng đối với nước ta chủ yếu thông qua đường biển
Đối với Trung Quốc, do vị trí gần gũi núi liền núi, sông liền sông Việt Nam
nằm gần kề Trung Quốc, vì thế từ rất sớm nước ta đã chịu ảnh hưởng của quốc gia này qua cả hai con đường đó là đường bộ và đường biển
Về đường biển, từ Vân Nam Trung Quốc có thể đến nước ta qua lưu vực
sông Hồng, lúc bấy giờ giao thông đường thủy ở lưu vực này được khai thác và phát triển, vì thế trong lịch sử Trung Quốc, các triều đại phong kiến như nhà Tống, nhà Minh đã đến tại các thương cảng của nước ta để buôn bán Suốt thời kỳ cổ trung đại, trao đổi kinh tế hàng hoá giữa Lào Cai (Việt Nam) và Vân Nam (Trung Quốc)
đã diễn ra khá mạnh mẽ qua con đường này
Về đường bộ, từ Vân Nam và Quảng Tây Trung Quốc có thể đi thẳng xuống
phía Bắc Việt Nam
Trang 32Thời cổ - trung đại, các triều đại phong kiến phương Bắc tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam hay các đoàn người di dân, thương nhân Trung Quốc sang buôn bán ở nước ta đều đi theo hai con đường này Ngay từ những thế
kỷ đầu công nguyên, theo đường bộ và đường biển, tư tưởng - tôn giáo của Trung Quốc cũng đã du nhập và ảnh hưởng ở nước ta
2.2.2 Xét về tính chất
Sự du nhập và ảnh hưởng của tôn giáo Ấn Độ đối với nước ta không phải qua con đường chiến tranh, sử dụng vũ lực của những kẻ đi chinh phục mà hoàn toàn được tiến hành một cách hòa bình, tự nguyện
Cùng với thuyền buôn của thương nhân, các giáo sĩ đã sớm đặt chân đến Việt Nam Trong lúc truyền giáo, các nhà sư luôn gắn liền với cuộc sống của nhân dân lao động Họ luôn gần gũi và cùng đồng hành với mọi tầng lớp nhân dân, nên đã tạo cho nhân dân cảm giác gần gũi, thân thiết, thấy được những nét tương đồng về văn hóa Do đó, tôn giáo Ấn Độ ngay từ lúc truyền vào nước ta đã được người Việt mở lòng đón nhận
Cùng với quá trình truyền đạo, các vị tăng sĩ Ấn đã góp phần lập ra trung tâm đạo Phật tại Luy Lâu (nay thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam) - một trong những trung tâm lớn nhất của đạo Phật tại phương Đông đầu Công nguyên cùng với hai trung tâm Lạc Dương và Bành Thành (Trung Quốc)
Khác với Ấn Độ, tư tưởng - tôn giáo Trung Quốc ảnh hưởng đến Việt Nam vừa thể hiện tính chất cưỡng bức nhưng cũng chứa đựng cả yếu tố hòa bình, tự nguyện
Thứ nhất, giao lưu mang tính chất cưỡng bức xảy ra trong thời kỳ Bắc thuộc
lúc người Việt bị xâm lược, đô hộ (từ thế kỷ I - thế kỷ X và từ năm 1407 - 1427)
Thời Bắc thuộc, để thống trị đất nước ta nhà Hán đã thực hiện chính sách
đồng hóa nhằm tiêu diệt văn hóa Việt Để thúc đẩy quá trình đồng hóa văn hóa, giai cấp thống trị Hán cho di cư ồ ạt người Hán sang đất Việt, gồm quan lại và dân nghèo người Hán Chúng khuyến khích nhóm người này lấy vợ Việt và sinh con trên đất Việt, đồng thời chúng tiến hành truyền bá và sử dụng Nho giáo làm công cụ
Trang 33thống trị nhân dân ta về mặt tinh thần Vì thế, ngay từ đầu Nho giáo chỉ được một
bộ phận tầng lớp trên của xã hội tiếp nhận còn nhân dân ta thì căm ghét và xa lánh Mục tiêu của nhân dân ta là đấu tranh chống lại giặc ngoại xâm để bảo vệ nền độc lập dân tộc nên tư tưởng của Trung Quốc vừa mới du nhập vào đã bị nhân dân ta chối từ
Lúc bấy giờ, bên cạnh Nho giáo chính quyền phong kiến phương Bắc còn truyền bá Phật giáo và Đạo giáo vào Việt Nam nhưng cũng nhằm mục đích phục vụ cho công cuộc thống trị Song ngay trên quê hương Ấn Độ, Phật giáo đã thể hiện tinh thần từ bi, bác ái, với truyền thống bao dung tôn giáo, người Việt đã tiếp thu và
tiếp biến những tôn giáo này cho phù hợp với văn hóa bản địa “Phật giáo đi vào
nước ta như là nước vào đất khô hạn, Phật, Bồ Tát đi vào trong dân tộc Việt Nam như người cha hiền, mẹ hiền, thầy và bạn hiền”[5;-tr.21]
Còn Đạo giáo thì gần gũi, có nét tương đồng với tập tục tín ngưỡng dân gian với đời sống văn hóa của người Việt Do đó, thời Bắc thuộc Đạo giáo được nhân dân ta tiếp nhận một cách nhanh chóng
Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng, trong thời kỳ Bắc thuộc tư tưởng - tôn giáo của Trung Quốc đã du nhập vào nước ta theo con đường chiến tranh xâm lược, mang tính chất cưỡng bức Vì thế, Nho giáo đã bị nhân dân ta chối từ còn Phật giáo
và Đạo giáo vẫn được nhân dân ta tiếp nhận và sử dụng làm công cụ chống lại thế lực phong kiến phương Bắc
Thứ hai, bên cạnh con đường chiến tranh cưỡng bức, tư tưởng - tôn giáo
Trung Quốc còn vào Việt Nam thông qua các con đường hòa bình, tự nguyện
Thời Bắc thuộc, trong điều kiện bị cưỡng bức đồng hoá, người Việt đã có sự
tiếp nhận tự nguyện một số yếu tố văn hoá Trung Quốc và biến đổi cho phù hợp với văn hóa bản địa, song đến thời độc lập tự chủ giao lưu văn hóa tự nguyện mới được biểu hiện rõ nét
Từ sau khi thoát khỏi ách thống trị của Trung Quốc, giành độc lập vào nửa đầu thế kỷ thứ X đến trước khi rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp (vào nửa sau thế kỷ XIX) với tư cách là một nước nhỏ nằm kế cận một nước lớn, Việt Nam luôn
Trang 34thể hiện một cách chủ động tích cực trong ngoại giao, thiết lập quan hệ triều cống
với Trung Quốc nhằm xây dựng một mối quan hệ hòa bình và ổn định: “Việt Nam
phải nộp cống, kẻ cầm quyền mới lên ngôi phải cầu phong, n hận sắc chỉ của hoàng
đế Trung Quốc phải khấu đầu, nếu không làm tròn phận sự sẽ bị cất quân hỏi tội”[52]
Trong thời kỳ này, cùng với việc thiết lập quan hệ hòa hảo với thiên triều nhằm ổn định tình hình chính trị, do nhận thấy sự gần gũi, tương đồng trong văn hóa của hai quốc gia, nước ta không những không từ chối mà còn tiếp nhận các giá trị văn hóa của Trung Quốc và biến đổi nhằm làm giàu cho văn hóa Việt Biểu hiện trước hết qua việc các triều đại phong kiến nước ta học hỏi và dần đi theo mô hình chính trị - văn hóa của Trung Quốc Kể từ đây, tư tưởng - tôn giáo của Trung Quốc đều được các triều đại phong kiến Việt Nam sử dụng làm công cụ thống trị về mặt tinh thần Cụ thể, ở thời Lý - Trần cả Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo đều có chỗ
đứng trong xã hội và phát huy vai trò của mình “Lấy cơ sở của dòng tôn giáo chủ
lưu là đạo Phật, được nhà nước chính thức đứng ra bảo trợ như một quốc giáo Bên cạnh đó, Đạo giáo cũng có điều kiện phát triển, bám rễ sâu trong quần chúng bình dân Đạo Nho đang ở thế đi lên, như một nền giáo dục và văn hóa chính trị để xây dựng một thể chế quân tập quyền, nhưng chưa phải là một hệ tư tưởng chính thống”[18;-tr.52] Lúc bấy giờ, tư tưởng - tôn giáo này đã thẩm thấu vào trong mỗi
một con người và trở thành yếu tố cần thiết trong đời sống tinh thần của người Việt[52]
Qua đó, ta có thể kết luận rằng tôn giáo Ấn Độ được truyền bá đến nước ta hoàn toàn bằng mang tính chất hòa bình, còn tư tưởng - tôn giáo Trung Quốc đến Việt Nam vừa mang tính chất cưỡng bức vừa mang tính chất tự nguyện
2.2.3 Xét về phương thức
Tôn giáo Ấn Độ được truyền sang nước ta thông qua cả hai con đường vừa trực tiếp vừa gián tiếp, nhưng trước hết là qua con đường gián tiếp
Con đường thương mại, sở dĩ ban đầu người Ấn Độ tìm đến với Đông Nam
Á, tìm đến với Việt Nam là vì đây là xứ sở có nhiều vàng, ngọc thạch, nhiều lâm
Trang 35thổ sản quý và các loại cây gia vị, hương liệu được quý tộc Ấn Độ ưa chuộng Hơn nữa, đây là nơi đông đúc dân cư, sẽ là thị trường rộng lớn cho việc buôn bán hàng hóa của các thương nhân Ấn Độ Như vậy, mục đích ban đầu người Ấn Độ đến với nước ta là để đẩy mạnh hoạt động thương mại Theo chân thương nhân, các giáo sĩ
đã lên thuyền để cầu an, cầu cho buôn bán diễn ra thuận lợi vì thế họ đã đến Việt Nam Qua hoạt động thương mại tôn giáo Ấn Độ đã gián tiếp ảnh hưởng đến nước
ta Dù là tăng lữ hay thương nhân khi đến Việt Nam họ đều mang theo tôn giáo tín
ngưỡng “có lẽ bởi vì sự truyền bá tôn giáo là phương tiện thuận lợi nhất để cảm
hóa, chan hòa với bản địa, để tạo nên cộng đồng “đồng đạo” cảm thông và ủng hộ giữa những người xa xứ với nhau và giữa những người ngoại quốc với dân bản địa”[33;-tr.17] Trong khoảng ba thế kỷ đầu công nguyên, cùng với sự giao thương
các tôn giáo Ấn Độ đã có mặt trên đất nước ta
Con đường di dân, theo thư tịch cổ của Trung Quốc ghi chép một người Ấn
Độ tên là Hỗn Điền đã tham gia thành lập nước Phù Nam vào thế kỷ I, tiếp theo là Kiều Trần Như sang làm vua Phù Nam, kể từ đó nhiều giáo sĩ Ấn Độ có điều kiện
đến Phù Nam để truyền bá tôn giáo Không chỉ thế, “Vào những năm đầu công
nguyên có các cuộc xâm lăng của người Kushans cũng có thể là nguyên nhân gây
ra những đợt di tản người Ấn ra nước ngoài Những người Ấn ra nước ngoài đã truyền bá tôn giáo và văn minh của họ cho dân địa phương trên quê hương mới đó
là lẽ đương nhiên và nó đã trở thành như vết dầu loang dần dần rộng ra khắp các vùng lân cận”[51] Rất có thể, người Ấn Độ đã di cư sang truyền đạo ở nước ta
trong khoảng thời gian này
Thứ hai, con đường trực tiếp thể hiện qua con đường truyền đạo Nhận thấy
được tầm quan trọng của tôn giáo, từ đầu công nguyên một số tăng sĩ Ấn Độ đã trực
tiếp sang nước ta truyền giáo, để mở rộng phạm vi ảnh hưởng “Theo sử cũ một số
tăng sĩ Ấn Độ đến truyền giáo ở đây như Ma Ha Kỳ Vực (Marajavaka), Khưu Đa
La (Ksudara) vào cuối thể kỷ II SCN, sau đó là Khương Tăng Hội, Chi Lương Cương (Kalaruci) giữa thế kỷ thứ III SCN, sau đó nữa là Đạt Ma Đề Bà khoảng thế
Trang 36kỷ IV SCN ”[46;-tr.79] Bên cạnh đó, có nhà nghiên cứu cho rằng dưới thời vua
A-Dục đã có những đoàn truyền giáo Ấn Độ sang Miến Điện, Thái Lan, Việt Nam
Nếu như, ban đầu tôn giáo Ấn Độ đến với Việt Nam qua con đường gián tiếp, sau đó qua bằng con đường trực tiếp thì tư tưởng - tôn giáo Trung Quốc hầu như được truyền trực tiếp sang nước ta và qua những con đường mà chỉ trong quan
hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc mới có
Con đường chiến tranh, sự truyền bá văn hóa của Trung Quốc vào Việt Nam
chủ yếu thông qua con đường này Năm 111 TCN, nhà Hán thôn tính Nam Việt và biến Âu Lạc thành đất đai của nhà Hán, sau khi đặt ách thống trị lên đất nước ta, chính quyền phong kiến phương Bắc đã thực hiện chính sách đồng hóa, nô dịch nhân dân ta về tư tưởng, truyền bá văn hóa Hán học thông qua truyền bá Nho giáo vào Việt Nam Theo đó, Phật giáo và Đạo giáo cũng du nhập vào Việt Nam thời kỳ này Trong suốt thời kỳ độc lập - tự chủ, Trung Quốc còn nhiều lần tiến hành chiến tranh xâm lược, do đó tư tưởng - tôn giáo đã có điều kiện để mở rộng ảnh hưởng trong xã hội người Việt
Con đường sách phong, cũng là con đường tạo điều kiện giao lưu văn hóa
Việc phái sứ thần đến Trung Quốc nhận sách phong bắt đầu diễn ra từ thế kỷ X, sau khi Việt Nam đã thoát ra khỏi ách đô hộ của phong kiến Trung Quốc, giành lại được
nền độc lập hoàn toàn Chính Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại
chí đã chỉ rõ “Nước ta từ thời Hùng Vương mới bắt đầu thông hiếu với Trung Quốc, nhưng danh hiệu còn nhỏ, không được dự vào hàng chư hầu triều hội của nhà Minh Đường Rồi bị Triệu Đà kiêm tính, nhà Hán phong Đà làm Nam Việt Vương, chỉ được sánh với chư hầu của Trung Quốc, chứ chưa từng được nêu là một nước Đến sau nội thuộc vào nhà Hán nhà Đường, bèn thành quận huyện Đến lúc Đinh Tiên Hoàng bình định các sứ quân, khôi phục mở mang bờ cõi, bấy giờ điển lễ sách phong của Trung Quốc mới nhận cho đứng riêng là một nước”[50]
Con đường thương mại, thời Bắc thuộc Trung Quốc đã tăng cường bóc lột
vơ vét của cải của nhân dân ta, do nhu cầu vận chuyển vật cống, thuế khóa thu được
Trang 37ở nước ta về Trung Quốc, chính quyền đô hộ chăm lo đến việc sửa chữa, xây đắp đường sá, dẫn đến sự thông thương giữa hai nước
Bước sang thời phong kiến độc lập, với sự hưng khởi của con đường tơ lụa trên biển, hoạt động giao thương của Trung Quốc và Việt Nam ngày càng được đẩy mạnh
Năm 1009, Lê Long Đĩnh xin đặt quan hệ buôn bán với nhà Tống, được nhà Tống cho thông thương với Châu Liêm và trấn Như Hồng (thuộc nam Quảng Tây, Quảng Đông)
Ở triều Lý, tiền đồng Đường Tống của Trung Quốc vào Đại Việt chiếm một
tỷ lệ lớn, điều này thể hiện sự phát triển trong quan hệ buôn bán Đại Việt - Trung Quốc Hoạt động giao thương thời kỳ này, chủ yếu diễn ra ở cảng biển Vân Đồn, hàng xuất của ta chủ yếu là các loại lâm thổ sản còn hàng nhập là các sản phẩm như giấy, bút, tơ, vải, gấm vóc Đến thời Trần, sử cũ cho biết thuyền buôn nước Tống vẫn tiếp tục đến nước ta buôn bán
Sang thời Lê Sơ, triều đình kiểm soát ngoại thương chặt chẽ, hạn chế việc giao thương với nhà Minh song sự trao đổi hàng hóa vẫn tiếp tục diễn ra Còn triều đình nhà Minh cũng đưa ra lệnh cấm nhưng nhiều người Hoa vẫn lén lút qua lại biên giới buôn bán với người dân Việt Một bộ phận người Hoa vượt biên giới sang rồi ở lại sinh sống tại Đại Việt Do đó, sau nhiều năm, hình thành một tầng lớp người Hoa chuyên kinh doanh buôn bán ở nước ta
Trong các thế kỷ XVI - XVIII, hàng năm các thuyền buôn Trung Quốc từ Quảng Châu dong buồm xuống các cảng Vân Đồn, Vạn Ninh (Quảng Ninh) rồi vào Phố Hiến (Hưng Yên) hay Vị Hoàng (Nam Định) hay vào các cảng Đàng Trong như Hội An, Nước Mặn, Bến Nghé Ở Hội An, có đến 6000 Hoa kiều mà phần lớn
là lái buôn giàu có, vừa mua bán hàng hóa, vừa làm lái buôn cho Phương Tây Vào cuối thế kỷ XVIII, thương nhân hầu như đã làm chủ thị trường Đại Việt
Cuối thế kỷ XIX, khi nhà Nguyễn chủ trương “đóng cửa” không buôn bán
với các nước phương Tây thì các cửa hàng buôn của người Hoa vẫn tiếp tục phát triển
Trang 38Như vậy, hoạt động buôn bán trao đổi hàng hóa của nước ta và Trung Quốc diễn ra xuyên suốt thời cổ - trung đại Theo đó, văn hóa của hai quốc gia đã có sự tiếp xúc và giao lưu với nhau trong thời kỳ này
Con đường di dân, Trung Quốc là một đất nước rộng lớn, chiến tranh cát cứ
diễn ra triền miên nhiều người đã di cư sang nước ta Năm thứ 8 đến năm thứ 25
CN, “Thời Vương Mãn đông đảo kẻ sĩ Trung Quốc lánh nạn di cư sang Giao Chỉ,
họ góp phần truyền bá đạo Nho bằng cách mở trường để kiếm sống”[19;-tr.56]
Ngoài ra, còn một số trường hợp đặc biệt như bị triều đình đày biệt xứ ngoài cửa ải,
như Ngu Phiên bị đày sang Giao Châu, mở trường “dạy học không biết mỏi, môn đệ
thường có vài trăm người” Không chỉ do chiến tranh cát cứ mà tác động của ngoại
cảnh như thiên tai, đói rét người dân cũng phải rời bỏ quê hương Do đó, từ đời Hán đến đời Đường đã có những đoàn người lớn di cư đến nước ta, trong quá trình cộng
cư tư tưởng - tôn giáo Trung Quốc đã có sự ảnh hưởng đối với xã hội người Việt
2.3 Phạm vi ảnh hưởng
Thứ nhất, từ đầu công nguyên đến thế kỷ VI, tôn giáo Ấn Độ ảnh hưởng
đến nước ta trên cả ba vùng lãnh thổ còn tư tưởng - tôn giáo Trung Quốc bắt đầu
ảnh hưởng ở phía Bắc
Về phạm vi ảnh hưởng của tôn giáo Ấn Độ:
Bắc Bộ, thời kỳ Văn Lang - Âu Lạc chúng ta chưa tìm thấy bằng chứng ảnh
hưởng của tôn giáo Ấn Độ, song đến những thế kỷ đầu công nguyên ảnh hưởng đó
đã biểu hiện rất rõ nét trước hết qua Phật giáo Phật giáo được truyền thẳng từ Ấn
Độ vào Việt Nam trước khi Phật giáo từ Trung Quốc sang “Theo K Mukerji trong
sách Indian Literature in China and the Far East, ở Trung Quốc phải đợi đến đầu thế kỷ thứ V, Cưu Ma La Thập (Kumarajiva) đến Trung Quốc dịch kinh Bát Nhã và sau đó mới có ảnh hưởng sâu rộng của bộ kinh này Trong lúc đó bộ Bát Thiên Tụng Bát Nhã (Astasahasrika) do Khương Tăng Hội dịch tại Giao Châu vào đầu thế kỷ III”[51]
Ðiều này cho thấy Phật giáo từ quê hương Ấn Độ đã có mặt tại Giao Châu từ rất sớm ngay từ thế kỷ III, để có đủ trình độ ngôn ngữ và kiến thức, có thể dịch kinh
Trang 39được thì chắc chắn tại Giao Chỉ phải có các viện nghiên cứu và giảng dạy Phật Pháp nhất là về kinh Bát Nhã và dạy tiếng Pali, Sanskrit do các Tăng sĩ người Ấn giảng dạy Như vậy, trong những thế kỷ đầu công nguyên, với hoạt động truyền đạo của các nhà sư Phật giáo Ấn Độ đã nhanh chóng phát triển ngay trên đất nước ta
Trung Bộ, ngay từ rất sớm những thế kỷ đầu công nguyên các tôn giáo Ấn
Độ đã sớm có mặt tại vương quốc Champa Về Phật giáo bằng chứng đầu tiên đó là
“tấm bia ký Võ Cạnh (Nha Trang) có niên đại thế kỷ III - IV Chỉ qua vài dòng chữ
Phạn viết theo kiểu chữ Amaravati như “Lokasyà ya gatàgati”(“Sự chết hoặc sự chinh phục của thế giới này”) hay Parajànàn karuna”(“Từ bi trắc ẩn đối với chúng sanh”), các nhà khoa học cho rằng nội dung của tấm bia này toát lên tư tưởng Phật giáo”[10;-tr.353] Bằng chứng thứ hai về Phật giáo ở Champa trong thời kỳ đầu là
“pho tượng Phật bằng đồng có niên đại từ thế kỷ IV đến đầu thế kỷ VI tìm thấy ở
Đồng Dương”[10;-tr.353] Pho tượng này gần như giống hoàn toàn với phong cách
tượng Phật Amaravati của Ấn Độ
Bên cạnh những hiện vật thể hiện sự có mặt của Phật giáo ở Champa vào đầu công nguyên, người ta còn tìm thấy các bia ký tồn tại trước thế kỷ VII nói về Ấn Độ giáo
tại xứ sở này “Bốn bia ký bằng chữ Phạn kiểu Pallaya tìm thấy ở Quảng Nam và Phú
Yên của ông vua có tên là Bhadravarman có nghi chép về vị thần Bhadresvaravamin Ba trong bốn bia ký đó ghi nhận lãnh địa giành cho vị thần này Còn bia ký Mỹ Sơn thì nói đến sự thành kýnh giành cho “Mahesvara, Uma, Brahmà, Visnu ”[10;-tr.354]
Như vậy, những thế kỷ đầu công nguyên các tôn giáo lớn của Ấn Độ (Phật giáo và Ấn Độ giáo) đã có mặt và ảnh hưởng đến vùng lãnh thổ này
Nam Bộ, trong suốt quá trình tồn tại Phù Nam đã có sự giao lưu và chịu ảnh
hưởng sâu sắc của văn hóa Ấn Độ: “quốc gia quan trọng nhất trong các quốc gia
“Ấn Độ hóa”là Phù Nam”[34;-tr.116] Trước khi chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn
Độ, trong đời sống tinh thần người Phù Nam theo tín ngưỡng bái vật giáo với truyền thống thờ cự thạch, thờ sinh thực khí bằng đất nung, bằng đá cuội tự nhiên
mà những hình tượng thảo mộc, cầm thú trên các hiện vật đã có từ lâu đời ở vùng đồng bằng châu thổ Nam Bộ