Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã để lại cho Đảng ta, nhân dân ta nhiều bài học kinh nghiệm vô cùng quý giá, trong đó có bài học kinh nghiệm về phương pháp cách mạng, đ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
Trang 2Lời cảm ơn!
***
Để hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến thầy giáo- Thạc Sỹ Nguyễn Tiến Lương đã hướng dẫn tận tình cho em trong thời gian qua Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm
ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Chính trị- Trường Đại học Sư phạm, Khoa Lý luận Chính trị- Trường Đại học Kinh tế cùng gia đình, bạn bè, người thân đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này!
Qua quá trình nghiên cứu bản thân em đã cố gắng tìm hiểu, vận dụng các kiến thức được học tập, dành nhiều thời gian cho việc tìm kiếm tài liệu và tham khảo thêm một số người đi trước, nhưng do năng lực bản thân còn hạn chế, nhận thức chưa cao, thời gian nghiên cứu không cho phép, do đó đề tài không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Cho nên em mong muốn nhận được sự đóng góp của các thầy cô, các anh chị cũng như các bạn sinh viên để khóa luận của em được hoàn thiện hơn!
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện:
Võ Thị Thúy Hằng
Trang 3A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã đi qua ngót 37 năm, nước nhà đã hoàn toàn độc lập, cả nước thống nhất đi lên xây dựng CNXH Từ môt nước có xuất phát điểm tương đối thấp, lại bị chiến tranh tàn phá chúng ta đi lên xây dựng đất nước theo con đường XHCN- con đường mà Đảng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã lựa chọn Mặc dù gặp phải nhiều khó khăn nhưng với quyết tâm cao độ của toàn Đảng, toàn dân muốn hoàn thành di nguyện của Bác Hồ
xây dựng đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” công cuộc xây dựng đất
nước đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Nền kinh tế đã thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, trì trệ và đang tiến nhanh trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện, văn hóa, giáo dục, y tế…có bước phát triển, chúng ta đã tham gia sâu rộng và ngày càng hiệu quả ở các tổ chức khu vực như ASEAN, APEC, ASEM, WTO Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã để lại cho Đảng ta, nhân dân ta nhiều bài học kinh nghiệm vô cùng quý giá, trong đó có bài học kinh nghiệm về phương pháp cách mạng, đó là việc kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự, chính trị với đấu tranh ngoại giao, mà đặc biệt là kết hợp giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao với phương châm “vừa đánh, vừa đàm” là đỉnh cao trong nghệ thuật đấu tranh cách mạng của Đảng
Với chủ trương, đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử trong từng thời kỳ, Đảng đã chọn đúng thời điểm để mở mặt trận ngoại giao, lãnh đạo kết hợp đúng đắn, đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao Đường lối đó đã tạo điều kiện phát huy được sức mạnh của
cả nước, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, làm nên sức mạnh tổng hợp để đánh thắng địch từng bước tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn Trong giai đoạn hiện nay, khi thế giới đang bước vào quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế thì việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời
Trang 4đại, tạo nên sức mạnh tổng hợp để hội nhập quốc tế thành công, xây dựng CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN là hết sức quan trọng Vì vậy, việc nghiên cứu quá trình Đảng lãnh đạo kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1965- 1975
từ đó đúc kết ra những bài học kinh nghiệm để vận dụng vào hội nhập quốc tế hiện nay là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng Với lý
do đó, tôi chọn đề tài: “Đảng lãnh đạo kết hợp đấu tranh quân sự với đấu
tranh ngoại giao trong cách mạng Việt Nam giai đoạn 1965-1975” làm đề tài
khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Đường lối đấu tranh kết hợp quân sự và ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ giai đoạn 1965- 1975 của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo nhằm tranh thủ mọi nguồn lực trong và ngoài nước góp phần đẩy nhanh thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ Đây là một trong những vấn đề nổi bật được nhiều người quan tâm nghiên cứu Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu các sách, báo, bài viết, chuyên khảo về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong kháng chiến chống Mỹ chẳng hạn như:
Các cuốn sách viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ cũng như các cuốn
sách viết về ngoại giao Việt Nam thời chống Mỹ như: “Tổng kết cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước, thắng lợi và bài học”(Ban chỉ đạo tổng kết chiến
tranh trực thuộc Bộ Chính trị - Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995) “Ngoại
giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp giành độc lập, tự do (1945 – 1975)”(Học
viện quan hệ quốc tế - Nxb Chính trị quốc gia , Hà Nội, 2001) “Tấn công
ngoại giao và tiếp xúc bí mật” (Mai Văn Bộ - Nxb Thành phố Hồ Chí Minh,
1985) “Mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ” (Nguyễn Duy Trinh - Nxb Sự thật,1979) “Thế giới ca ngợi thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta” (Nxb Sự thật, 1977) “Đại thắng mùa xuân” (Văn Tiến Dũng - Nxb quân đội nhân dân,
Trang 51977) “Bài giảng về đường lối quân sự của Đảng” (Võ Nguyên Giáp - Viện
khoa học quân sự, Hà Nội, 1974)
Những bài trong hội thảo khoa học, các tạp chí, các bài chuyên khảo
như:“Sự kết hợp chính trị - quân sự - ngoại giao trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước” (Tạp chí cộng sản).“ Đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo của Đảng – nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến”(TS.Phạm Văn Thạch - Báo nhân dân ngày 1/4/2010) “ Đấu tranh ngoại giao, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” (Vũ
* Nhiệm vụ
- Làm rõ hoàn cảnh lịch sử và đường lối của Đảng về kết hợp đấu tranh quân
sự với đấu tranh ngoại giao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ giai đoạn 1965- 1975
- Làm rõ những bài học kinh nghiệm trong quá trình Đảng lãnh đạo kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ giai đoạn 1965- 1975 đồng thời đưa ra những kiến nghị về việc vận dụng bài học
đó vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay
* Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập nghiên cứu đường lối kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ giai đoạn 1965- 1975
Trang 64 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Đề tài được thực hiện dựa trên những nguyên lý của chủ
nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao
Phương pháp nghiên cứu:Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong
đề tài là: Phương pháp lịch sử và phương pháp logic, phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, đối chiếu, so sánh…
5 Đóng góp của đề tài
Qua nghiên cứu làm rõ nội dung đường lối của Đảng về sự kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ giai đoạn 1965- 1975, đề tài góp thêm nguồn tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu Lịch
sử Đảng, nghiên cứu đường lối của Đảng
6 Ý nghĩa của đề tài
- Đề tài góp phần làm sáng rõ thêm nội dung đường lối kết hợp đấu
tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao của Đảng trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước
- Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập môn lịch
sử Đảng và môn Đường lối cách mạng Đảng
7 Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Phần nội dung được chia làm 2 chương:
Chương 1: Đảng lãnh đạo kết hợp đấu tranh tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao trong cách mạng Việt Nam giai đoạn 1965- 1968
Chương 2: Đảng lãnh đạo kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao trong cách mạng Việt Nam giai đoạn 1969-1975
Trang 7B PHẦN NỘI DUNG Chương 1
ĐẢNG LÃNH ĐẠO KẾT HỢP ĐẤU TRANH QUÂN SỰ VỚI ĐẤU TRANH NGOẠI GIAOTRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 1965- 1968
Tổng kết thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-
1975, Đại hội lần thứ IV của Đảng đã nêu lên nhiều nhân tố trong đó có phương pháp đấu tranh cách mạng đúng đắn, sáng tạo Điển hình là sự kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, đến một giai đoạn cần thiết thì
mở mặt trận đấu tranh ngoại giao và kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao Đây là phương châm thích hợp nhằm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến đấu, chiến thắng đế quốc Mỹ xâm lược
1.1 Các khái niệm
Để làm rõ quá trình Đảng lãnh đạo kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chúng ta đi vào tìm hiểu một số khái niệm liên quan như: quân sự, đấu tranh quân sự; ngoại giao, đấu tranh ngoại giao
1.1.1 Quân sự và đấu tranh quân sự
Theo từ điển bách khoa Việt Nam khái niệm quân sự theo nghĩa rộng:
là lĩnh vực hoạt động đặc biệt của xã hội liên quan đến đấu tranh vũ
trang, chiến tranh và quân đội hay các lực lượng vũ trang Quân sự theo nghĩa
hẹp: là một trong những hoạt động cơ bản trong quân đội, cùng với các hoạt động khác như chính trị, hậu cần, kỹ thuật tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội
Đấu tranh quân sự là đấu tranh của lực lượng vũ trang diễn ra trên mặt trận quân sự, chống lại sức mạnh quân sự của thế lực ngoại bang hòng dùng
vũ lực để đặt ách thống trị lên các quốc gia khác Lực lượng tham gia trên mặt
Trang 8trận đấu tranh quân sự gồm có bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân
du kích
1.1.2 Ngoại giao và đấu tranh ngoại giao
Theo từ điển bách khoa Việt Nam: Ngoại giao là một nghệ thuật tiến hành trong việc đàm phán, dàn xếp, thương lượng giữa những người đại diện cho một nhóm hay một quốc gia Thuật ngữ này thông thường đề cập đến ngoại giao quốc tế, việc chỉ đạo, thực hiện các mối quan hệ quốc tế thông qua
sự can thiệp hay hòa giải của các nhà ngoại giao liên quan đến các vấn đề như kinh tế, thương mại, văn hóa, du lịch, chiến tranh và tạo nền hòa bình… Các hiệp ước quốc tế thường được đàm phán bởi các nhà ngoại giao trước tiên để
đi đến việc xác nhận chính thức của các chính trị gia của các nước
Ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được hiểu là quá trình hình thành và phát triển đường lối đối ngoại của Đảng nhằm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
Đường lối đấu tranh ngoại giao của Đảng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vừa nhằm đấu tranh chống lại âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, vừa nhằm huy động sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến đấu, chiến thắng đế quốc Mỹ xâm lược
1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao
Hồ Chí Minh là một nhà chính trị, nhà quân sự lỗi lạc, người được UNESCO công nhận là Anh hùng giải phóng dân tộc và là danh nhân văn hóa thế giới Người đã có vai trò to lớn trong cuộc đấu tranh giành và giữ nền độc lập dân tộc để đất nước ta có được hòa bình, độc lập như ngày hôm nay
Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, người đã để lại cho chúng ta nhiều tư tưởng lớn có ý nghĩa vạch thời đại Những tư tưởng của người xuất phát từ sự hiểu biết uyên thâm về nền văn hóa Đông, Tây, Kim, Cổ kết hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam Tư tưởng của người không lý luận dài
Trang 9dòng, không tầm chương trích cú mà là những lời lẽ bình dị, ngắn gọn, súc tích rất gần gũi với mỗi người dân, dễ nghe, dễ hiểu, dễ làm Đặc biệt, ở người lời nói luôn đi kèm với hành động, những tư tưởng của người luôn được kiểm chứng bởi hoạt động của chính bản thân người Bởi vậy, những tư tưởng của người luôn là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng ta trên con đường lãnh đạo đất nước
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc, người là một nhà lãnh đạo tài tình, là chỗ dựa của toàn Đảng, toàn dân ta Người cũng có nhiều quan điểm chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo nhằm đưa cuộc cách mạng của chúng ta đến thắng lợi cuối cùng Trong những quan điểm đó
có quan điểm về sự kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, người đã rất coi trọng sự kết hợp giữa chiến trường với mặt trận ngoại giao Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định rằng ngoại giao phải có thực lực làm cơ sở, muốn có ngoại giao thành công thì phải dựa trên thực lực mạnh Năm 1944, khi lực lượng cách mạng của ta còn chưa mạnh, một số đồng chí của ta muốn tiến hành quan hệ với chính phủ Tưởng Giới Thạch và Mỹ để xin cầu viện nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở các đồng chí phải chú ý đến thực lực trước khi nói đến ngoại giao Tại Hội nghị Liễu Châu (3/1944) người khẳng định: Nếu mình chưa có thực lực làm cơ sở thì hãy khoan nói đến ngoại giao hoặc cây có cao thì bóng mới dài, ý nói thực lực cách mạng có mạnh mới có thắng lợi trên đấu trường ngoại giao Sau đó, khi cách mạng tháng 8 đã thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa- Nhà nước Công Nông đầu tiên ở Đông Nam Châu Á
đã được thành lập, trong một cuộc trả lời phỏng vấn của các tờ báo liên quan
đến việc thành lập Chính phủ Liên hiệp ngày 26-12-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định về công tác ngoại giao như sau: Thực lực như cái chiêng
mà ngoại giao là cái tiếng Chiêng có to thì tiếng mới lớn Nhìn qua lịch sử thế giới thì rõ Muốn được các nước công nhận phải qua một thời gian khá
Trang 10lâu Qua đó ta thấy được người đã nhìn thấy mối quan hệ biện chứng giữa
thực lực với ngoại giao, giữa mặt trận ngoại giao với mặt trận quân sự Thực tiễn cuộc kháng chiến chống Pháp đã chứng minh điều đó Chỉ khi trên chiến trường chúng ta giành được những thắng lợi thì chúng ta mới có tiếng nói và giành thế chủ động trên mặt trận ngoại giao Thật vậy, khi trên chiến trường
chúng ta giành được chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu”, “Chấn
động địa cầu”, đập tan cái gọi là sức mạnh quân sự của Pháp có sự viện trợ
của Mỹ thì lúc đó thực dân Pháp mới chịu ngồi vào bàn đàm phán ở Hội nghị Gienever để ký Hiệp định Gienever nhằm chấm dứt cuộc chiến tranh của chúng ở Đông Dương
Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cũng với quan điểm đó, Người
đã đưa ra những tư tưởng chỉ đạo đúng đắn giúp Đảng ta mở mặt trận ngoại giao đúng lúc Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn căn dặn các đồng chí lãnh đạo rằng chúng ta mở mặt trận ngoại giao nhưng không có nghĩa là mặt trận
đó đấu tranh một cách độc lập mà phải luôn chú trọng đến mối quan hệ với chiến trường Khi nói chuyện với đại diện Chính phủ ta sắp lên đường sang Paris đàm phán với Mỹ người căn dặn kỹ 4 điều trong đó người khẳng định rằng: các chú đi Pháp, ở nhà người ta đánh cho các chú phát huy, nghĩa là phải tận dụng thắng lợi trên chiến trường để làm vốn trên bàn đàm phán Phải biết kết hợp quân sự với ngoại giao, vừa đánh vừa đàm mới có hiệu quả cao nhất Như vậy Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng ba mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao phải luôn kết hợp chặt chẽ với nhau tạo nên sức mạnh tổng hợp để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược Trong ba mặt trận đó mặt trận nào
là chủ yếu là tùy thuộc vào thực tiễn cách mạng nước ta qua từng thời kỳ
Những tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chí Minh trên đây là kim chỉ nam cho mọi quyết sách của Đảng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ Đảng ta đã thấm nhuần tư tưởng của người mở mặt trận ngoại giao khi chúng ta đã giành được những thắng lợi trên chiến trường miền Nam trong những năm 1954- 1965
Trang 11Đó là khi thực lực của ta đã mạnh, chúng ta đã phá tan hai chiến lược “Chiến
tranh Đơn phương” và “Chiến tranh Đặc biệt” của Mỹ, đã chứng tỏ được khả
năng của quân cách mạng của ta không hề e ngại khi đối đầu với một đội quân tinh nhuệ và được trang bị đầy đủ vũ khí như quân đội Mỹ Sau khi mở mặt trận ngoại giao, Đảng ta đã kết hợp nhuần nhuyễn vừa đánh, vừa đàm phán, (kết hợp giữa đánh với đàm), tùy vào từng hoàn cảnh, từng thời điểm cụ thể
Từ đó chúng ta đã phát huy được sức mạnh tổng hợp để đánh thắng kẻ thù, đem lại độc lập, tự do cho dân tộc
1.3 Đảng lãnh đạo kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao
trong cách mạng Việt Nam giai đoạn 1965- 1968
1.3.1 Hoàn cảnh lịch sử
*Hoàn cảnh thế giới
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, ba dòng thác cách mạng trên thế giới tiếp tục phát triển: Hệ thống XHCN thế giới hình thành và không ngừng lớn mạnh về mọi mặt; phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển mạnh
mẽ ở Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ la tinh; phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân lao động ở các nước tư bản đòi tự do dân chủ, cải thiện đời sống cũng dâng cao mạnh mẽ Bên cạnh đó, sự thành công và phát triển của cách mạng Trung Quốc khiến cho Mỹ lo sợ trước nguy cơ bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản sẽ đe dọa đến vị trí cường quốc của Mỹ Trọng điểm trong chiến lược toàn cầu của Mỹ chuyển xuống khu vực Đông Nam Á và khi đó
Việt Nam là một vị trí đặc biệt quan trọng trong kế hoạch “Đắp con đê ngăn
chặn làn sóng đỏ” của Mỹ
Lúc này trong hệ thống XHCN, Liên Xô vẫn là một cường quốc kinh tế
và quân sự lớn đối trọng với Mỹ kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai Đặc biệt ở Liên Xô, chủ nghĩa xét lại Khơrutxôp sụp đổ là một bước ngoặt trong đời sống chính trị của Liên Xô và trong chính sách của Liên Xô đối với Việt Nam Liên Xô giành nhiều sự quan tâm hơn đối với cuộc cách mạng của Việt
Trang 12Nam, những giúp đỡ của Liên Xô cho nước ta ngày càng lớn và có hiệu quả hơn so với trước đó Đây là một thuận lợi lớn đối với cuộc cách mạng ở miền Nam Việt Nam Sự ủng hộ, giúp đỡ của Liên Xô không những là nguồn động viên to lớn về vật chất mà còn là một động lực về mặt tinh thần, giúp Đảng ta, nhân dân ta vững tin hơn vào con đường mà Việt Nam đang hướng tới là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH Bên cạnh Liên Xô thì Trung Quốc cũng giành cho ta sự giúp đỡ to lớn, có hiệu quả và ngày càng nhiều hơn mặc dù trong giai đoạn này Liên Xô và Trung Quốc đang có những bất đồng sâu sắc về quan điểm Ngoài ra, trên thế giới đang hình thành mặt trận nhân dân thế giới phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam và ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam
Về phía Mỹ, do sa lầy vào cuộc chiến tranh Việt Nam, đầu tư quá nhiều cho quốc phòng mà nền kinh tế hàng đầu thế giới này có phần sụt giảm nhiều
so với trước, vai trò cường quốc của Mỹ đang bị đe dọa Trong khi đó một số nước khác ở Châu Âu và cả Nhật Bản lợi dụng việc Mỹ bị sa lầy ở Đông Dương để vượt lên thoát ra khỏi sự kiểm soát của Mỹ cả về kinh tế, chính trị
và quân sự
Đây là những điều kiện quốc tế thuận lợi cho cuộc cách mạng của nước
ta trong giai đoạn này Tuy nhiên bên cạnh đó tình hình quốc tế vẫn còn một
số khó khăn không nhỏ tác động đến phong trào cách mạng Việt Nam Trước hết do đánh giá quá cao sức mạnh của Mỹ, Liên Xô đã tìm cách hướng ta đi vào thương lượng với Mỹ khi điều kiện chưa chín muồi Cụ thể là từ năm
1965 đến 1968 Liên Xô đã 24 lần chuyển ý kiến của Mỹ đề nghị chúng ta đàm phán, thương lượng [1, 313] Trong khi đó ở Trung Quốc, cuộc cách mạng văn hóa mà Trung Quốc đang tiến hành cũng có tác động xấu đến chính sách của Trung Quốc đối với Việt Nam và cả Đông Dương Một mặt, Trung Quốc vẫn giúp ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nhưng mặt khác Trung Quốc lại muốn hướng ta đi theo đường lối của họ Ngoài ra, đây cũng là giai
Trang 13đoạn mà mâu thuẫn Xô- Trung diễn ra gay gắt gây chia rẽ giữa các nước trong phe XHCN Điều này cũng gây ra không ít khó khăn cho sự phát triển của cách mạng Việt Nam Một khó khăn nữa đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn này là việc Mỹ tiến hành những hoạt động ngoại giao xảo quyệt nhằm lừa bịp dư luận thế giới, hù dọa các nước với mục đích cô lập, đè bẹp
ta, buộc ta phải đầu hàng chúng Thế giới vẫn tồn tại xu thế phục Mỹ, sợ Mỹ,
sợ chiến tranh nguyên tử Chính phủ Mỹ nhắn qua Liên Xô đề nghị Việt Nam đàm phán, nhưng khi chúng ta yêu cầu Mỹ chấm dứt mọi hành động chống phá Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì ta sẽ đàm phán với Mỹ, một yêu cầu hết sức chính đáng thì lại không được chính phủ Mỹ chấp thuận
* Hoàn cảnh trong nước
Ở Việt Nam, sau trận Điện biên phủ “lừng lẫy năm châu”, “chấn động
địa cầu” chúng ta đã buộc thực dân Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán và ký
Hiệp định Genever về Việt Nam, Pháp phải rút quân khỏi Việt Nam chấm dứt hơn 87 năm đô hộ nước ta Sau khi Hiệp định Genever được ký kết, miền Bắc nước ta hoàn toàn được giải phóng Tuy nhiên, do âm mưu thâm độc của bọn
đế quốc, thực dân, miền Nam nước ta lại trở thành thuộc địa kiểu mới của
Mỹ Để thực hiện âm mưu biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của mình, song song với việc gạt bỏ Pháp và chính quyền thân Pháp, Mỹ đã xây dựng nên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm- đại diện cho giai cấp tư sản mại bản và phong kiến phản động trung thành với Mỹ Chúng đã huy động bộ máy quân đội, cảnh sát để tiến hành những cuộc thảm sát đối với nhân dân miền Nam Với ý đồ thâm độc của mình, Mỹ đã mở nhiều chiến dịch nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng của ta với mục đích biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, thành căn cứ quân sự của Mỹ Với quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước trong 10 năm đầu ( 1954-
1964) quân và dân ta đã đánh bại lần lượt hai chiến lược “Chiến tranh đơn
phương” và “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ
Trang 14Từ năm 1963 cuộc đấu tranh của nhân dân ta đã có bước phát triển mới
Ba chỗ dựa của “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ là ngụy quân, ngụy quyền, ấp
chiến lược và đô thị đều bị quân ta tấn công liên tục và đang bị lung lay, đứng trước nguy cơ bị sụp đổ hoàn toàn
Ngụy quân- đội quân đánh thuê, công cụ chính của đế quốc Mỹ thì: đại
bộ phận lực lượng vũ trang và nửa vũ trang ở cấp thôn, xã đã bị tan rã và bộ phận còn lại đang tiếp tục tan rã; các đơn vị tập trung kể cả các đơn vị chủ lực
cơ động bị tiêu hao và tiêu diệt ngày càng nặng, ngày càng tan rã nghiêm trọng về tinh thần và tỏ ra không thể đương đầu nổi với chiến tranh du kích đang phát triển rộng khắp và với những trận đánh lớn của quân chủ lực ta như
ở An Lão, Bình Giã…vừa qua
Chính quyền ngụy- ngụy quyền: chính quyền tay sai của đế quốc Mỹ
ngày càng chống đối và xâu xé lẫn nhau kịch liệt, những cuộc đảo chính xảy
ra liên tiếp khiến cho Mỹ không thể nào tạo ra được một tình hình chính trị cũng như một chính quyền tay sai ổn định
Hệ thống ấp chiến lược được coi là “xương sống của cuộc chiến tranh
đặc biệt” thì đã bị phá tan 4 đến 5 phần; phần lớn nhân dân và đất đai ở nông thôn đã thuộc về vùng giải phóng Đáng chú ý là việc phá ấp chiến lược và
mở rộng vùng giải phóng đồng bằng Khu V đang tạo ra một thế trận chia cắt với chiến trường Tây Nguyên
Các đô thị trước đây được địch xem là hậu phương an toàn của chúng,
thì nay ở đó phong trào quần chúng đã vùng dậy rất mạnh mẽ với khí thế tiền khởi nghĩa Các tầng lớp trung gian ngày càng ngả về xu hướng trung lập Hai lực lượng Phật giáo và Công giáo trước đây địch còn lợi dụng được nay đang phân hóa, đặc biệt trong Phật giáo xu hướng chống Mỹ- ngụy ngày càng phát triển
Đến đầu năm 1965, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ về cơ bản đã bị phá sản Sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, Mỹ bắt
Trang 15đầu chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ồ ạt đưa quân Mỹ tiến vào miền Nam nước ta Đây là “cố gắng quân sự lớn nhất, bước leo thang chiến
tranh cao nhất của Đế quốc Mỹ ở miền Nam cũng là lần đầu tiên Hoa Kỳ đưa nhiều quân nhất đi xâm lược kể từ sau cuộc chiến tranh thế giới thứ hai” [1,
59] Về tính chất và mục đích, cuộc chiến tranh này vẫn là một cuộc chiến tranh xâm lược nhằm thực hiện chủ nghĩa thực dân kiểu mới Tuy nhiên cuộc chiến tranh này từ chỗ dựa vào ngụy quân, ngụy quyền là chủ yếu chuyển thành cuộc chiến tranh dựa vào hai lực lượng chiến lược là quân đội viễn chinh Mỹ và quân đội chính quyền Sài Gòn, vừa tập trung lực lượng chủ yếu trên chiến trường miền Nam vừa mở rộng chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc, tạo ra tình hình cả nước có chiến tranh với Mỹ Trong cuộc chiến tranh này, quân Mỹ đã dùng những thủ đoạn tác chiến mới như hỏa lực mạnh, cơ động cao, bước nhảy sâu, quây vùng rộng để “tìm diệt” chủ lực ta với tham vọng “bẻ gãy xương sống Việt Cộng” và “chụp bắt” cơ quan đầu não kháng chiến của ta ở miền Nam nhằm bao vây, cô lập miền Nam Lực lượng quân chiến đấu của Mỹ cũng được huy động rất cao gồm cả lục quân, không quân
và hải quân
Tuy đế quốc Mỹ trực tiếp đem quân vào nước ta gây cho ta không ít khó khăn nhưng giai đoạn này cách mạng Việt Nam vẫn có những thuận lợi nhất định Ở miền Bắc, công cuộc xây dựng CNXH đã đạt được nhiều thành tựu, kế hoạch năm 5 lần thứ nhất đã đạt và vượt các chỉ tiêu về kinh tế, văn hóa Nhân dân miền Bắc vẫn từng giờ, từng phút nhớ đến miền Nam ruột thịt, luôn kề vai sát cánh cùng nhân dân miền Nam kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Sự chi viện về sức người, sức của của miền Bắc cho miền Nam ngày càng được tăng cường trên mọi mặt
Trước khi Mỹ đưa quân vào miền Nam so sánh lực lượng về mọi mặt giữa cách mạng miền Nam và địch đã thay đổi nhanh chóng theo hướng có lợi cho ta Phong trào du kích chiến tranh phát triển mạnh mẽ và rộng khắp trong
Trang 16khi lực lượng vũ trang và nửa vũ trang của địch ở cấp thôn, xã đã tan rã đại bộ phận, lực lượng cách mạng ở miền Nam đã lớn mạnh về mọi mặt và đang ở vào thế thuận lợi, tuyệt đại đa số nhân dân miền Nam đã đoàn kết trong “Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam”, mặt trận đã trở thành người tổ chức và động viên mọi lực lượng yêu nước ở miền Nam “Lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam” đã lớn mạnh vượt bậc, có tinh thần chiến đấu cao và đứng vững trên hầu khắp các địa bàn chiến lược quan trọng Về trình độ tác chiến, ta đã sử dụng lực lượng tập trung ngày càng nhiều trong từng trận đánh, làm thất bại hết chiến thuật này đến chiến thuật khác của địch, đánh những trận tiêu diệt ngày càng lớn trong những điều kiện địa hình khác nhau
và đã bắt đầu có khả năng đánh thắng nhiều trận lớn trong một thời gian ngắn trên nhiều hướng khác nhau Phong trào cách mạng ở thành thị ngày càng phát triển mạnh mẽ, vùng giải phóng tuy chưa hoàn chỉnh nhưng đã bao gồm đại bộ phận rừng núi và nông thôn Nam Bộ và Khu V với phần lớn số dân và ngày càng được củng cố Đảng bộ miền Nam đã có cơ sở rộng rãi và vững chắc được tôi luyện trong chiến đấu, liên hệ chặt chẽ với quần chúng, có kinh nghiệm phong phú trong đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, trong việc
tổ chức thực hiện đường lối của Đảng
Như vậy có thể thấy, bước sang giai đoạn 1965- 1968, tình hình trong nước và thế giới có nhiều biến động và ngày càng có lợi cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta Trên thế giới, hệ thống XHCN ngày càng lớn mạnh, phong trào đấu tranh vì hòa bình phát triển, làn sóng dư luận thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh chống Mỹ của nhân dân Việt Nam ngày càng lên cao… Ở trong nước, công cuộc xây dựng CNXH của miền Bắc đạt được nhiều thành quả tích cực góp phần chi viện cho cuộc kháng chiến ở miền Nam Ở miền Nam, những thắng lợi của quân và dân ta trên tất cả các mặt trận đã làm cho chiến
lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ thất bại hoàn toàn Mỹ buộc phải chuyển sang kế hoạch “Chiến tranh cục bộ” ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ và các nước
Trang 17đồng minh của Mỹ vào Miền Nam Việt Nam đồng thời mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc nước ta Đồng thời với việc đẩy mạnh tiến công quân sự xâm lược nước ta, đế quốc Mỹ thực hiện kế hoạch ngoại giao nhằm che dấu âm mưu xâm lược Với những luân điệu “Hòa bình trong tầm tay”, “chiến tranh hạn chế”, “thực hiện can kết với ngụy quyền Sài Gòn”; đồng thời Mỹ còn thông qua đại diện Chính phủ Liên
Xô đề nghị Việt Nam đàm phán”
Đây là những thuận lợi và khó khăn cơ bản cho sự phát triển của cách mạng nước ta trong giai đoạn mới
1.3.2 Đường lối đấu tranh của Đảng
Để chống lại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ, Ban Chấp hành
Trung ương Đảng đã họp các Hội nghị lần thứ 11(3/1965) và 12 (12/1965) để nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện tình hình do âm mưu và hành động chiến tranh mới của đế quốc Mỹ gây ra và đề ra nhiệm vụ mới để lãnh đạo toàn dân đoàn kết chặt chẽ, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược Đảng ta nhận định rằng, đến cuối năm 1964 với chiến thắng Bình Giã của quân dân miền Nam, rõ ràng là ngụy quân không còn đủ sức chống đỡ nổi trước sức tiến công của quân giải phóng miền Nam và đế quốc Mỹ cũng bắt đầu thấy rằng chúng có thể thua trong chiến tranh đặc biệt
Đầu năm 1965, đế quốc Mỹ liều lĩnh tiến hành chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc nước ta, chủ yếu là để cứu vãn sự thất bại của chúng ở miền Nam; cuộc chiến tranh bằng bộ binh vẫn còn hạn chế ở chiến trường miền Nam là chính, phương hướng chiến lược của địch về cơ bản vẫn chưa thay đổi
Trước tình thế bị động, lúng túng ấy, đế quốc Mỹ phải ồ ạt đưa quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam Điều đó chứng tỏ rằng chiến lược chiến tranh đặc biệt đã bị phá sản Đảng ta cũng nhận định trong cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở miền Nam nước ta, về tính chất và mục đích vẫn là
Trang 18cuộc chiến tranh xâm lược nhằm thực hiện chủ nghĩa thực dân mới, song cuộc chiến tranh đó từ chỗ dựa vào lực lượng quân ngụy là chủ yếu, đã phát triển thành một cuộc chiến tranh của Mỹ, dựa vào hai lực lượng chiến lược là quân đội viễn chinh Mỹ và quân Ngụy do đó cuộc chiến tranh sẽ diễn ra gay go, ác liệt hơn Nhưng đế quốc Mỹ tăng cường và mở rộng chiến tranh trong thế thua, thế bị động theo một chiến lược đầy mâu thuẫn và bế tắc Trước hết, chiến lược của Mỹ phản ánh mâu thuẫn sâu sắc giữa mục đích chính trị là cứu vãn chế độ thực dân kiểu mới và biện pháp đưa quân đội viễn chinh vào xâm lược theo lối thực dân kiểu cũ Thứ hai là do tính chất phi nghĩa của chiến tranh xâm lược, quân đội viễn chinh Mỹ chiến đấu không có lý tưởng, bị nhân dân Việt Nam, nhân dân tiến bộ Mỹ và nhân dân thế giới lên án, tinh thần chiến đấu của chúng ngày càng sút kém Dù có trang bị hiện đại đến đâu chúng cũng không thể đương đầu nổi với sức mạnh đoàn kết, chiến đấu của quân và dân ta Thứ ba là tuy đế quốc Mỹ có tiềm lực kinh tế và quân sự mạnh nhất trong phe đế quốc, nhưng tình hình thế giới cũng như tình hình nước Mỹ không cho phép chúng sử dụng hết tiềm lực ấy Chúng không thể tăng quân vào miền Nam với bất kể số lượng nào mà không tính đến những khó khăn về mọi mặt trên chiến trường Việt Nam, trên thế giới cũng như trong nước Mỹ
Hơn nữa, đế quốc Mỹ tăng quân vào miền Nam đúng vào lúc chiến
lược “Chiến tranh đặc biệt” của chúng bị phá sản về căn bản, chiến tranh
nhân dân của ta đang phát triển mạnh mẽ và rộng khắp; ngụy quân, ngụy quyền bị thất bại nghiêm trọng cả về chính trị và quân sự, vùng chiếm đóng của chúng bị thu hẹp còn lực lượng của ta thì đang lớn mạnh nhanh chóng về mọi mặt Đặc biệt trong mấy tháng đầu năm 1965 Mỹ tăng quân ồ ạt vào miền Nam đã liên tiếp bị những thất bại nặng nề, lúng túng, bị động Trong khi đó cuộc chiến tranh phá hoại của địch ở miền Bắc cũng thất bại nặng Vì vậy,
Đảng ta khẳng định: “Dù đế quốc Mỹ có đưa vào mấy chục vạn quân, về
Trang 19chiến lược chúng cũng buộc phải phân tán lực lượng trên khắp các chiến trường và ngày càng lâm vào thế bị động, càng sa lầy và thất bại Quân đội viễn chinh Mỹ cũng không thể nào cứu vãn được ngụy quân, ngụy quyền khỏi
sự sụp đổ tất yếu” [19, 700] Trong khi đó, lực lượng cách mạng của Việt
Nam đã lớn mạnh về mọi mặt và đang ở vào thế thuận lợi
Ở miền Nam, Mặt trận giải phóng đã có cơ sở rộng rãi và vững chắc trong công nhân, nông dân, tập hợp được các giai cấp trong nhân dân, các nhân sỹ yêu nước, nắm vững và dương cao ngọn cờ độc lập, dân chủ Lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam đã lớn mạnh vượt bậc, có tinh thần chiến đấu cao, có chiến thuật, kỹ thuật tốt, đánh du kích giỏi, đánh vận động giỏi lại triển khai và đứng vững trên hầu hết các địa bàn chiến lược quan trọng
ở khắp nông thôn và rừng núi Vùng giải phóng tuy chưa hoàn chỉnh nhưng
đã bao gồm phần lớn dân số, ngày càng được củng cố và phát huy ưu thế của chế độ độc lập và dân chủ Đảng bộ miền Nam có cơ sở rộng rãi và vững chắc…
Ở miền Bắc, công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội cũng đã giành được
nhiều thành quả quan trọng, cao trào “chống Mỹ, cứu nước” được phát động
và thực hiện rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân Ngoài ra, trên thế giới, cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam ở cả hai miền được sự ủng hộ tích cực và giúp đỡ mạnh mẽ của các nước XHCN anh em, được sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của các nước dân tộc chủ nghĩa và của nhân dân yêu chuộng hòa bình kể cả nhân dân Mỹ
Trên cơ sở phân tích tình hình quốc tế và trong nước, so sánh lực lượng giữa ta và địch Trung ương Đảng đã khẳng định chúng ta có đủ điều kiện để đánh Mỹ và thắng Mỹ và nêu rõ quyết tâm: Chống Mỹ cứu nước là nhiệm vụ
thiêng liêng của cả dân tộc từ Nam chí Bắc “Chúng ta phải động viên lực
lượng cả nước, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc
Mỹ trong bất kỳ tình huống nào nhằm bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền
Trang 20Nam, hoàn thành cách mạng dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện hòa bình, thống nhất nước nhà Toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta cần cố gắng vượt bậc, tập trung lực lượng của cả nước, kiên quyết đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, đánh bại đế quốc Mỹ và tay sai trên chiến trường chính là miền Nam” [19, 705]
Phương châm chiến lược chung trong cuộc chiến tranh giải phóng chống Mỹ cứu nước là đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính Chúng ta phải nắm vững phương châm đánh lâu dài, càng đánh càng mạnh thì mới khoét sâu được nhược điểm về chính trị và quân sự của Mỹ, tiêu diệt một phần quan trọng sinh lực quân Mỹ, tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận quân ngụy, đè bẹp
ý chí xâm lược của Mỹ và giành thắng lợi cuối cùng Trong hoàn cảnh cụ thể hiện nay, trên cơ sở tiếp tục quán triệt và vận dụng phương châm đánh lâu dài, chúng ta cần phải cố gắng đến cao độ, tập trung lực lượng cả hai miền để tranh thủ thời cơ, giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam Quân và dân ta cần ra sức tăng cường lực lượng
về mọi mặt, tiếp tục phát triển thế chủ động, liên tiếp tấn công địch, kiên quyết phấn đấu để giành những thắng lợi ngày càng to lớn Đó là phương châm chỉ đạo chiến lược đúng đắn duy nhất
Về phương châm đấu tranh, Trung ương Đảng khẳng định: Cần phải tiếp tục duy trì phương châm kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, triệt để thực hiện ba mũi giáp công Trong đó Đảng ta khẳng định, trong giai đoạn hiện nay, đấu tranh quân sự có tác dụng quyết định trực tiếp và giữ một vị trí ngày càng quan trọng Nhưng đấu tranh quân sự chỉ thu được kết quả lớn nhất nếu nó được kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị; đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị tiếp tục phối hợp với nhau, thúc đẩy nhau Điều quan trọng là phải căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể mới mà vận dụng phương châm cho linh hoạt và thích hợp, triệt để phối hợp các mặt trận quân sự, chính
Trang 21trị, binh vận từ phạm vi nhỏ đến phạm vi lớn, từ hình thức thấp đến hình thức cao
Ngoài ra, Đảng ta cũng khẳng định trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước, chúng ta cần nắm vững phương châm dựa vào sức mình là chính nhưng đồng thời chúng ta cần hết sức tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và viện trợ quốc
tế vì đó là một nhân tố quan trọng góp phần vào thắng lợi của nhân dân ta
Ở miền Bắc, Mỹ dựng lên cái gọi là sự kiện Vịnh Bắc Bộ để huy động
không quân và hải quân đánh phá miền Bắc nước ta với ý đồ đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá Trước tình hình đó, Nghị quyết lần thứ 11 và 12 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III đã đề ra nhiệm vụ đối với miền Bắc là:
“Tiếp tục xây dựng miền Bắc vững mạnh về kinh tế và quốc phòng trong điều
kiện có chiến tranh, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ để bảo vệ vững chắc miền Bắc XHCN, động viên sức người, sức của
ở mức cao nhất để chi viện cho cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam, đồng thời tích cực đề phòng địch mở rộng chiến tranh cục bộ ra cả nước” [19,
715]
Bên cạnh những mục tiêu về chính trị và quân sự thì đấu tranh ngoại giao cũng được Đảng ta hết sức quan tâm Trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 11, một trong những nhiệm vụ cụ thể của miền Bắc được Đảng
và Nhà nước ta đề ra là đẩy mạnh công tác ngoại giao cho phù hợp với tình hình mới Trong đó trên cơ sở thực hiện quyết tâm của ta là đánh bại địch ở miền Nam, bảo vệ miền Bắc và đẩy lùi âm mưu mở rộng chiến tranh của địch, Đảng ta khẳng định phương hướng đấu tranh ngoại giao của ta cần phải đạt được những yêu cầu:
Về miền Nam: Làm rõ chính sách và hành động của đế quốc Mỹ là xâm lược, và chính quyền miền Nam chỉ là tay sai của đế quốc Mỹ; làm rõ chính
đế quốc Mỹ và tay sai đã phá hoại hiệp định Gienever năm 1954; làm rõ cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân miền Nam là chính nghĩa, nhân dân miền
Trang 22Nam đấu tranh chống đế quốc Mỹ vì độc lập dân tộc và hòa bình; làm rõ cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân miền Nam là một đóng góp to lớn vào sự nghiệp đấu tranh của nhân dân thế giới chống chủ nghĩa đế quốc do Mỹ cầm đầu, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH Bởi vì, đế quốc Mỹ dùng miền Nam làm nơi thí nghiệm cho cuộc chiến tranh đặc biệt của chúng, nhằm dập tắt cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân các nước, đặc biệt là nhân dân các nước Á, Phi và Mỹ Latinh, thực hiện chính sách thực dân kiểu mới, với tham vọng làm bá chủ thế giới; đấu tranh ngoại giao trong thời kỳ này còn phải tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ ngày càng mạnh mẽ và đầy đủ hơn của phe XHCN và của nhân dân thế giới đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của ta ở miền Nam
Về miền Bắc: Làm rõ đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc là
hòng gỡ thế chúng thất bại trong “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam nhưng
chúng càng mở rộng chiến tranh càng thất bại nặng nề hơn; làm rõ đế quốc
Mỹ đã xâm phạm chủ quyền độc lập của Việt Nam; làm rõ đế quốc Mỹ đã phá hoại hiệp định Gienever năm 1954
Khi nhận được ý kiến của Liên Xô về việc Mỹ đề nghị chúng ta đàm phám, chúng ta cũng tỏ rõ thiện chí của mình bằng việc khẳng định: Mỹ chấm dứt mọi hành động chống phá Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì chúng ta
có thể đàm phán với Mỹ ở bất cứ nơi nào trên thế giới
Trong phát hiểu tại Hội nghị Trung ương lần thứ 12 (12- 1965) đồng chí Lê Duẩn cũng đã giành một phần nói về kết hợp giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao Đồng chí nhận định: Vấn đề đánh và đàm không phải là vấn đề hoàn toàn mới Trong lịch sử nước ta Nguyễn Trãi cũng đã thực hiện chiến lược lấy yếu thắng mạnh, có đánh, có đàm để chống quân phong kiến nhà Minh Các đồng chí Trung Quốc cũng đã từng chủ trương vùa đánh, vừa đàm khi đánh nhau với Mỹ Tưởng…
Trang 23Ở Việt Nam lúc này, đồng chí Lê Duẩn cũng khẳng định: về chiến lược chính trị, chúng ta chủ trương cách mạng miền Nam phải trải qua những bước quá độ trước khi tiến tới thống nhất nước nhà và đưa cả nước lên CNXH Về mặt quân sự chúng ta không chủ trương đánh và tiêu diệt đến tên lính Mỹ cuối cùng ở miền Nam và bắt đế quốc Mỹ phải đầu hàng không điều kiện, mà chúng ta chủ trương đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào Như vậy, vấn đề có đánh
có đàm- đánh thắng đến mức độ nhất định lại tiếp tục đàm phán Vừa đánh vừa đàm là một sách lược gắn liền với đường lối chính trị và quân sự nói trên
Ngoài ra đồng chí cũng khẳng định rằng: “Trong tình hình của chúng ta có lẽ
không cần đợi phải giành thắng lợi một cách căn bản rồi mới đàm mà đến một lúc nào đó trong những điều kiện nhất định sẽ có thể vừa đánh vừa đàm nhằm hạn chế những hành động quân sự của đối phương, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi hơn nữa trên thế giới cũng để giấu bớt ý đồ chiến lược của chúng ta” [19, 660]
Như vậy, trong quan điểm chỉ đạo của mình Đảng ta rất coi trọng sự kết hợp giữa mặt trận quân sự và mặt trận ngoại giao, giữa đánh và đàm Bởi vậy trong giai đoạn này Đảng ta liên tục tổ chức các hoạt động ngoại giao, lên kế hoạch tuyên truyền những ngày lễ lớn nhằm tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước trong phe XHCN, các nước tiến bộ và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới chẳng hạn như các đợt vận động tuyên truyền trong ngày 20/7 hằng năm- Ngày quốc tế ủng hộ nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược với những hoạt động cụ thể như: 20/7/1965 Đại hội đoàn kết nhân
dân Á- Phi lần thứ 4 họp tại Uynnơba đa quyết định tổ chức “Tuần lễ ủng hộ
nhân dân Việt Nam chống xâm lược Mỹ” Đảng ta đã lên kế hoạch tuyên
truyền, vận động nhân dân ta và nhân dân thế giới nhằm gây căm thù và kịch liệt lên án đế quốc Mỹ và tay sai, đập tan luận điệu “hòa bình” lừa bịp của chúng Ngày 20/7/1966, Đảng ta cũng phát động một cuộc tuyên truyền rộng rãi nhằm: phát động dư luận thế giới tố cáo và lên án mạnh mẽ âm mưu của
Trang 24Mỹ tăng cường chiến tranh xâm lược ở miền Nam và “leo thang” trong chiến tranh phá hoại miền Bắc; tuyên truyền, giáo dục sâu rộng trong cán bộ và nhân dân ta, làm cho mọi người nhận rõ âm mưu, tội ác của đế quốc Mỹ, nhận
rõ chỗ mạnh, chỗ yếu của địch và của ta… nhằm nâng cao cảnh giác đối với
âm mưu của địch cũng như tin tưởng vào đường lối chống Mỹ của ta; động viên nhân dân thế giới có những hành động thiết thực, mạnh mẽ chặn tay bọn xâm lược Mỹ mở rộng chiến tranh…
Thời gian này, để tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của bạn bè thế giới,
Đảng ta tổ chức “Cuộc họp mặt những nhà khoa học, văn hóa thế giới ủng hộ
nhân dân Việt Nam chống cuộc chiến tranh xâm lược Mỹ” nhằm tạo tiếng
vang và gây ảnh hưởng quốc tế rộng lớn góp phần động viên thêm nhiều lực lượng ủng hộ ta và cô lập đế quốc Mỹ Ngoài ra, nhận thức rõ rằng trong tình thế sa lầy ngày càng nguy ngập ở miền Nam Việt Nam đế quốc Mỹ đã dùng thủ đoạn đấu tranh tàn bạo nhất, phạm những tội ác tày trời ở cả hai miền Nam- Bắc nước ta Những tội ác đó của địch cần được đưa ra ánh sáng một cách rõ ràng, liên tục để góp phần khơi sâu lòng căm thù của nhân dân ta, động viên lòng căm thù của nhân dân thế giới đối với đế quốc Mỹ xâm lược,
Đảng ta đã quyết định thành lập tổ chức “Điều tra tội ác chiến tranh của đế
quốc Mỹ ở Việt Nam”
Đầu năm 1967, khi thế và lực của ta đã mạnh trên chiến trường, Đảng
ta tiếp tục đưa ra chủ trương mở mặt trận ngoại giao để phối hợp với hai mặt trận chính trị và quân sự, vận dụng sách lược vừa đánh vừa đàm với mục đích: Tranh thủ hơn nữa dư luận thế giới, tỏ thiện chí của ta, vạch mặt hòa bình bịp bợm của đế quốc Mỹ, gây thêm sức ép đòi Mỹ phải chấm dứt ném bom miền Bắc, nói chuyện với mặt trận, rút quân khỏi miền Nam; khoét sâu những khó khăn của địch trong nội bộ chúng và trên thế giới, kiềm chế bớt việc mở rộng chiến tranh ở miền Nam, leo thang ở miền Bắc đồng thời tranh thủ thời gian tăng cường lực lượng quốc phòng miền Bắc và tăng cường giúp
Trang 25đỡ miền Nam; góp phần làm tan rã ngụy quân và đẩy mạnh phong trào đô thị
ở miền Nam, làm cho ngụy quyền lung lay khó duy trì được ách thống trị của chúng
Trong Nghị quyết lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương ngày
27/1/1967 Đảng ta khẳng định: “Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
của nhân dân ta hiện nay đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao Chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường Tuy nhiên đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường, mà trong tình hình quốc tế hiện nay, đối với tính chất cuộc đấu tranh của ta và địch cuộc đấu tranh ngoại giao vẫn giữ một vai trò tích cực, chủ động” [20, 197] Đảng ta cũng khẳng định phương châm của đấu tranh
ngoại giao là: phát huy thế mạnh, thế thắng của ta; chủ động tiến công địch; giữ vững tính độc lập đồng thời phối hợp chặt chẽ với các nước XHCN anh
em Mục đích của đấu tranh ngoại giao được Đảng ta xác định là nhằm tố cáo mạnh hơn nữa những tội ác đã man của bọn xâm lược Mỹ, vạch trần thủ đoạn hòa bình bịp bợm của chúng; đề cao lập trường 4 điểm của chính phủ ta và bản tuyên bố 5 điều của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam; làm sáng tỏ lập trường chính nghĩa và thế tất thắng của ta; tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ mạnh mẽ hơn nữa bằng nhiều hình thức của nhân dân các nước XHCN anh em, của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và mọi lực lượng yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, lập một mặt trận thống nhất của nhân dân thế giới chống đế quốc Mỹ xâm lược Như vậy, từ đây mặt trận ngoại giao chính thức được mở và trở thành một mặt trận đấu tranh chính, gay go, ác liệt không kém cuộc đấu tranh trên chiến trường
Bước sang năm 1968, trên cơ sở những thắng lợi mà quân dân ta đã giành được về chính trị, quân sự và ngoại giao, Đảng ta đã họp Hội nghị lần
Trang 26thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Trong hội nghị này Đảng ta khẳng định xu thế của tình hình địch năm 1968 là sẽ chuyển vào thế phòng ngự một cách bị động hơn trước Còn về phía ta, quân ta đang đánh bại một bước phát triển cao của chiến tranh cục bộ của Mỹ ở miền Nam và đã làm phá sản cơ bản cuộc chiến tranh xâm lược của chúng ở nước ta, chúng ta đã đánh thắng địch cả về chiến lược lẫn chiến thuật Diễn biến cơ bản của tình hình là ta đang ở thế thắng, thế chủ động, thuận lợi, địch đang ở thế thua, thế bị động, khó khăn Tình hình cho phép chúng ta chuyển cuộc chiến tranh cách mạng sang một thời kỳ mới- đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên một bước phát triển cao hơn Từ đó Đảng ta xác định phương hướng và nhiệm vụ trong
thời kỳ mới là: “Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân
và toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích và tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định, đạt tới mục tiêu chiến lược mà Đảng đã đề ra”
[21, 57] Hội nghị cũng xác định nhiệm vụ của hoạt động ngoại giao là phải phối hợp chặt chẽ và nhịp nhàng với đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị
ở trong nước, tích cực phục vụ cho cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa giành được thắng lợi
Tháng 12/1967, Bộ Chính trị đã ra một Nghị quyết lịch sử chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam sang thời kỳ mới, thời kỳ tiến lên giành thắng lợi quyết định bằng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa vào tất cả các đô thị, dinh lũy của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trên khắp miền Nam Nghị quyết này sau đó đã được Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III họp tháng 1/1968 thông qua
1.3.3 Kết quả thực hiện
Việc đế quốc Mỹ đưa quân trực tiếp tham gia vào chiến trường miền Nam đã gây cho ta một số khó khăn nhất định Tuy nhiên, với ý chí quyết tâm không hề lay chuyển được, thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trang 27“Không có gì quí hơn độc lập, tự do”, quân và dân ta đã liên tục đánh bại
những âm mưu và hành động của Mỹ ngụy, gây ra cho chúng những khó khăn trên chiến trường cũng như trên bàn đàm phán
Ngày 27/5/1965, ngay khi quân đội Mỹ đặt chân đến Núi Thành (Quảng Nam), một đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ đã bị ta diệt gọn Sau đó, tại Vạn Tường (Quảng Ngãi) ngày 18/8/1965, cuộc ra quân đầu tiên của 8.000 quân Mỹ gồm 6 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn pháo 105 ly, một số lớn xe tăng thiết giáp có không quân và hải quân hỗ trợ đã bị một lực lượng của ta ít hơn 10 lần phản công quyết liệt Kết quả là 900 tên Mỹ bị loại khỏi vòng chiến đấu, 4 đại đội của chúng, 22 xe tăng và xe bọc thép, 13 máy bay bị diệt Chiến thắng này đã chứng tỏ khả năng thắng Mỹ về quân sự trong chiến tranh
cục bộ, mở ra cao trào “Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt” trên khắp miền
Nam
Tiếp đó, ngày 19/10/1965, tại Plâyme bộ đội ta đã mở một chiến dịch phản công giáng cho sư đoàn 1 kỵ binh bay Mỹ một trận đẫm máu, 3.000 tên địch trong đó có 1.700 tên lính Mỹ bị tiêu diệt, 4 tiểu đoàn địch bị diệt gọn, nhiều đơn vị khác bị thiệt hại nặng Chỉ một thời gian sau đó, chúng ta đã đánh bại hai cuộc tiến công mùa khô của địch: Mùa khô năm 1965-1966 và mùa khô năm 1966 – 1967, loại khỏi vòng chiến đấu 290.000 tên địch, trong
đó có 128.000 tên Mỹ và chư hầu làm thất bại chiến lược “Tìm diệt” và “Bình
định” của Mỹ
Bên cạnh việc đẩy mạnh các hoạt động đấu tranh trên chiến trường, Đảng ta cũng chú trọng đến việc tích cực đấu tranh trên mặt trận ngoại giao
và đã giành được một số thắng lợi nhất định chúng ta tiếp tục tranh thủ được
sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của các nước XHCN anh em Chúng ta cũng nhận được sự đồng tình, ủng hộ của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân quốc tế, mọi lực lượng yêu chuộng hòa bình trên thế giới đặc biệt
Trang 28là nhân dân tiến bộ Mỹ, đã tạo nên một mặt trận nhân dân thế giới đông đảo chống Mỹ buộc Mỹ phải đối phó
Đáp lại luận điệu hòa bình “bịp bợm” của Mỹ, chúng ta đã đưa ra lập
trường của mình là “Chỉ sau khi Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom
và mọi hoạt động chiến tranh khác chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ mới có thể nói chuyện được” [2, 216-
217] Tuy nhiên Mỹ vẫn muốn đàm phán trên thế mạnh, muốn dùng việc ném bom bắn phá miền Bắc nhằm gây sức ép cho ta buộc ta phải tiến hành đàm phán theo một cục diện có lợi cho Mỹ Rõ ràng những chuyển biến trên chiến trường đang có lợi cho ta nhưng vẫn chưa đủ để buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh và đi vào đàm phán
Ngày 28/12/1967, Bộ Chính trị đã họp và chủ trương mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy tết mậu thân 1968 Thực hiện chủ trương đó, ngày 30 và 31 tháng 1 năm 1968, quân và dân ta ở miền Nam đã đồng loạt tấn công và nổi
dậy ở 64 thành phố, thị xã và nhiều vùng nông thôn sát thành thị Cuộc tổng
tiến công và nổi dậy của ta năm 1968 là một “đòn sét đánh” đối với bọn trùm xâm lược Mỹ, làm choáng váng cả nước Mỹ đế quốc và dư luận thế giới Theo
dư luận chính giới Mỹ lúc này, nó làm nổi bật lên trước mắt chính quyền Giôn xơn, nguy cơ lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ, quân đội Mỹ bị đánh bại trong một cuộc chiến tranh Sau 1 tháng, tướng Oétmôlen, tổng chỉ huy quân Mỹ ở miền Nam bị cách chức, bộ trưởng bộ quốc phòng Mỹ MácNamara từ chức Sau 2 tháng Giôn xơn phải tuyên bố ba điểm: 1 đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra; 2 Nhận đàm phán với ta tại hội nghị Paris; 3 Không tranh cử tổng thống nhiệm kỳ hai nữa Đây
là sự thừa nhận đầu tiên nhưng đầy đủ nhất về sự phá sản của chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ [1, 71- 72]
Trang 29Ở miền Bắc, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu để bảo vệ vững chắc miền Bắc Trải qua 4 năm từ 8/1964 đến 1/11/1968 quân dân miền Bắc đã bắn rơi 3234 máy bay các loại trong đó có 6 pháo đài bay B52
Ngày 31/11/1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào và chiến sỹ
cả nước nâng cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, quyết tâm giải phóng
miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hòa bình, thống nhất tổ quốc: “Hễ còn
một tên xâm lược trên đất nước thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch
nó đi” [30, 732] Hưởng ứng lời kêu gọi đó, toàn Đảng, toàn dân ta trên tất cả
các mặt trận lại tiếp tục đấu tranh, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước
*
* *
Có thể nói, giai đoạn 1965- 1968 là giai đoạn Đảng ta hình thành đường lối kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao, từng bước hình thành cục diện vừa đánh, vừa đàm tạo ra một thế trận chống Mỹ toàn diện trên tất cả các mặt trận Với những thắng lợi to lớn ở cả hai miền Nam, Bắc, trên
cả ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao, cuộc chiến đấu của nhân dân
ta từ đây bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ mà cục diện đánh- đàm, đàm- đánh được phối hợp nhuần nhuyễn với nhau làm nên những thắng lợi to lớn của ta sau này Đặc biệt, cục diện đánh- đàm đã tạo cho ta diễn đàn Paris, một diễn đàn mới có lợi cho ta trong cuộc đấu tranh với Mỹ trên dư luận quốc tế
Nó là một bàn đạp rất tốt cho ta đẩy mạnh tuyên truyền trong nhân dân Mỹ và nhân dân các nước phương tây về chính sách thâm độc của Mỹ và cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta
Trang 30Chương 2 ĐẢNG LÃNH ĐẠO KẾT HỢP ĐẤU TRANH QUÂN SỰ VỚI ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM GIAI
* Hoàn cảnh thế giới
Trên thế giới, phe XHCN ngày càng lớn mạnh, các nước XHCN và các nước tiến bộ trên thế giới vẫn tiếp tục giành sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Việt Nam Tuy nhiên, giai đoạn này mâu thuẫn Xô- Trung vẫn chưa chấm dứt, Mỹ tiến hành hoạt động ngoại giao xảo quyệt,
ra sức lợi dụng mâu thuẫn đó để thỏa hiệp với Trung Quốc, hòa hoãn với Liên
Xô hòng hạn chế sự giúp đỡ của các nước XHCN đối với cuộc kháng chiến
của ta để thực hiện “Chiến tranh bóp nghẹt” như chúng tuyên bố và ép các
nước đó đồng tình giải quyết vấn đề Việt Nam theo ý Mỹ
Lúc này ở trong nước, Mỹ đang phải đối mặt với nhiều khó khăn nghiêm trọng, đế quốc Mỹ ngày càng suy yếu vì sức mạnh kinh tế và quân sự của Mỹ bị dàn quá mỏng trên thế giới do chính sách bành trướng quá mức của chúng Các đế quốc khác sau một thời gian phục hồi đã phát triển nhanh chóng, thoát ra khỏi tình trạng lệ thuộc vào Mỹ, nhiều nước đã vươn lên trở thành những địch thủ nguy hiểm của Mỹ trên mặt trận kinh tế, Do đó, những mâu thuẫn giữa đế quốc Mỹ và các đế quốc khác ngày càng phát triển, các khối liên minh quân sự trong đó có khối OTAN (NATO) đã nứt rạn, các cuộc
Trang 31khủng hoảng tiền tệ trong thế giới tư bản và các cuộc “chiến tranh kinh tế”
ngày càng trở nên gay gắt Trong khi đó, thắng lợi của cuộc tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân năm 1968 của ta đã làm chấn động dư luận Mỹ và làm giảm sút ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ Bộ máy chiến tranh của đế quốc Mỹ còn bị tiến công từ nhiều phía ngay trong nội bộ nước Mỹ Phong trào nhân dân Mỹ chống chiến tranh xâm lược Việt Nam và đòi quân Mỹ rút về nước dấy lên khắp nước Mỹ: phong trào đấu tranh của công nhân, nhân dân lao động, của người da màu, đặc biệt là sự bùng nổ và phát triển sâu rộng của phong trào sinh viên đòi quyền dân chủ và chống chiến tranh xâm lược của
Mỹ ở Việt Nam đã lan rộng khắp các trường Đại học Mỹ và lan sang các trường Trung học, đã thành hạt nhân của phong trào thanh niên Mỹ đấu tranh quyết liệt chống chiến tranh xâm lược Việt Nam với hành động đốt thẻ quân
dịch, với khẩu hiệu “thà ngồi tù còn hơn đi lính sang Việt Nam” Năm 1969,
hàng triệu người Mỹ biểu tình ở các thành phố Hạ nghị viện Mỹ cũng ra quyết nghị đòi rút tất cả quân Mỹ trên bộ ở Việt Nam về nước trong thời gian ngắn nhất Không những vậy, nhân dân thế giới cũng lên án và phản kháng những cuộc phiêu lưu mới của chính quyền Ních xơn Các nước đồng minh của Mỹ cũng ra mặt xa lánh Mỹ Chưa bao giờ địa vị và uy tín của Mỹ trong thế giới tư bản lại giảm đến mức tồi tệ như vậy
Tình hình đó thúc ép giai cấp thống trị Mỹ phải điều chỉnh chiến lược toàn cầu để ổn định dư luận nước Mỹ nhưng vẫn giữ nguyên được chính quyền tay sai Nguyễn Văn Thiệu dưới chế độ thực dân mới của Mỹ Lợi dụng tâm lý chống chiến tranh của nhân dân Mỹ, Ních xơn tung ra lời hứa sẽ chấm dứt chiến tranh trong vòng 6 tháng để trúng cử tổng thống nước Mỹ trong thời
kỳ bầu của tổng thống cuối năm 1968
Tháng 1/1969, Nich Xơn trúng cử tổng thống Mỹ, lúc này ở Mỹ phong trào phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam ngày càng dâng cao, nước
Mỹ được ví như “Một người già mang trong mình nhiều chứng bệnh nan y”,
Trang 32chính tổng thống Ních xơn trong ngày nhận chức Tổng thống Mỹ (20-l-1969)
đã phải phát biểu: “Nước Mỹ đang có khủng hoảng về tinh thần, mắc kẹt
trong chiến tranh, cấu xé và chia rẽ nội bộ Cuộc chiến tranh Việt Nam đã gây ra căng thẳng gay gắt với nước Mỹ không riêng về mặt kinh tế, quân sự
mà cả xã hội cũng như chính trị Sự bất đồng cay đắng đã xé rách cơ cấu đời sống tinh thần nước Mỹ và bất kể kết quả chiến tranh như thế nào, vết xé rách vẫn còn lâu mới lành” [Bách khoa toàn thư mở Wikipedia] Trước tình hình
đó Nich Xơn đã đưa ra cái gọi là “Học thuyết Ních Xơn” dựa trên 3 nguyên
tắc: sẵn sàng thương lượng; chia sẻ trách nhiệm và tăng cường sức mạnh Mỹ
và áp dụng vào Việt Nam mô hình “Việt Nam hóa chiến tranh”
* Hoàn cảnh trong nước
Sau thất bại của “Chiến tranh cục bộ”, Mỹ lại tiếp tục cuộc chiến tranh
ở Việt Nam bằng mô hình “Việt Nam hóa chiến tranh” được thực hiện với
công thức: Chính quyền ngụy, hỏa lực Mỹ, cố vấn Mỹ và quân đội ngụy
Thực chất, đây là chính sách “dùng người Việt trị người Việt”, “Dùng người
Đông Dương giết người Đông Dương” mà theo đại sứ Mỹ Bân Đi thì đó là
hành động “thay màu da trên xác chết”, một mô hình chiến tranh bằng tiền và
vũ khí của Mỹ, do Mỹ chỉ huy nhưng lại tránh được thiệt hại về sinh mạng cho thanh niên Mỹ, xoa dịu làn sóng chống chiến tranh trong lòng nước Mỹ đang dâng cao Chính quyền Ních xơn vừa từng bước rút quân Mỹ, vừa ra sức tăng cường và củng cố ngụy quân, ngụy quyền; vừa xuống thang chiến tranh vừa phản công và tiến công rất quyết liệt để chống lại ta Chúng tập trung hầu hết lực lượng của Mỹ- ngụy để bình định nông thôn, sử dụng phương tiện chiến tranh hiện đại kể cả vũ khí hóa học, chiến tranh điện tử và không quân chiến lược để tiến hành chiến tranh hủy diệt, chiến tranh giành dân và đánh các căn cứ địa và hậu phương của ta Đồng thời, Mỹ cũng quyết định đưa chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương, tăng cường chiến tranh ở Lào với mô
hình “Lào hóa chiến tranh” và mở rộng chiến tranh sang Cămpuchia với mô
Trang 33hình “Khơ me hóa chiến tranh” Ngoài ra Mỹ cũng đã tiến hành một loạt các
biện pháp như: Ra sức củng cố ngụy quyền, xây dựng ngụy quân đông và hiện đại; ráo riết thực hiện chương trình bình định; tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc nhằm cắt nguồn chi viện cho miền Nam; tìm mọi cách thỏa hiệp với Trung Quốc, hòa hoãn với Liên Xô hòng cắt giảm viện trợ chủ yếu của Việt Nam
Về phía ta, mặc dù sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân năm 1968 do không kịp thời chuyển hướng tiến công sang các vùng nông thôn chúng ta đã gặp những khó khăn nhất định nhưng nhìn chung cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa đã tạo ra một bước ngoặt cơ bản trong cục diện chiến tranh Ta đã phát triển thế chiến lược tiến công của chiến tranh cách mạng đến một bước mới, hình thành một thế tiến công và bao vây chiến lược ngày càng vững mạnh trên cả ba vùng thành thị nông thôn đồng bằng và rừng núi Sức mạnh tổng hợp của đấu tranh quân sự, chính trị song song kết hợp với đấu tranh ngoại giao đang được phát triển đến đỉnh cao Ta đã tạo ra sự chuyển biến mới trong lực lượng so sánh giữa ta và địch, lực lượng quân sự
và chính trị của ta mạnh hơn bất cứ thời điểm nào trước đây, động viên được một khí thế cách mạng và một tinh thần quyết chiến, quyết thắng mạnh mẽ,
uy thế cách mạng được nâng cao hơn bao giờ hết Ở miền Bắc, sau 4 năm chiến đấu anh dũng, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ đồng thời ra sức xây dựng CNXH, hết lòng, hết sức làm tròn nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn Trên cơ sở thắng lợi về quân sự, chính trị của cả hai miền ta đã triển khai mạnh mẽ mặt trận tấn công ngoại giao và liên tiếp thu được những thắng lợi ngày càng to lớn Đặc biệt, từ ngày 6 đến 8/6/1969 các lực lượng cách mạng miền Nam bao gồm Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, Liên minh các lực lượng đoàn kết vì dân chủ và tiến bộ đã tiến hành Đại hội và tại đây Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời đã kiện toàn hệ thống
Trang 34chính trị của cách mạng miền Nam Ngay khi thành lập nó đã được 23 nước công nhận, 21 nước đặt quan hệ ngoại giao Có thể khẳng định uy tín và địa vị của ta trên trường quốc tế lớn mạnh chưa từng thấy Cũng trong giai đoạn này
hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đánh cho Mỹ cút đánh cho
ngụy nhào” nhân dân ta ở cả hai miền hăng hái sản xuất và chiến đấu Giữa
lúc toàn thể nhân dân ta ở cả hai miền Nam, Bắc đang đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và xây dựng CNXH thì ngày 2/9/1969, Chủ tịch
Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của Đảng ta, của dân tộc ta, một chiến sỹ lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc đã qua đời Nhân dân ta ở cả hai miền đã hưởng ứng lời kêu gọi của
BCH Trung ương Đảng “biến đau thương thành hành động cách mạng” dũng
cảm tiến lên tiếp tục sự nghiệp vĩ đại của người
2.1.2 Đường lối đấu tranh của Đảng
Ngày 1/1/1969, trong thư chúc tết Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Vì độc
lập, vì tự do, đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” Tiếp đó, nhân ngày
quốc tế ủng hộ nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược 20/7/1969
Hồ Chủ tịch đã ra lời kêu gọi nhân dân cả nước trong đó người khẳng định:
“Đế quốc Mỹ thất bại đã rõ ràng nhưng chúng chưa chịu từ bỏ dã tâm bám lấy miền Nam nước ta Quân và dân cả nước ta triệu người như một, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, không sợ hy sinh, không sợ gian khổ, quyết duy trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, quyết chiến, quyết thắng đánh cho quân Mỹ phải rút sạch, đánh cho ngụy quân và ngụy quyền sụp đổ hết, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hòa bình, thống nhất nước nhà”
[2, 222- 223] Lời chúc tết và lời kêu gọi của Bác đã củng cố thêm quyết tâm đánh Mỹ của toàn Đảng, toàn dân ta, tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn cho công cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta
Ngày 10/5/1969, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 188-NQ/TW, trong
đó chúng ta đã đánh giá âm mưu và chủ trương của địch và khắng định Mỹ đã
Trang 35bị những thất bại nặng nề về mọi mặt, ý chí xâm lược của chúng đã bị lung lay rõ rệt, chúng đã buộc phải xuống thang chiến tranh từng bước, khó lòng duy trì cuộc chiến tranh xâm lược với quy mô hiện nay trong một thời gian dài và nhất định sẽ thất bại Tuy nhiên, Đảng ta cũng nhận định rằng bản chất của Mỹ rất ngoan cố, chúng còn có tiềm lực, còn có lực lượng lớn trên chiến trường, còn giữ được các vị trí và các khu quan trọng, cho nên chúng mong muốn xuống thang trên thế mạnh để giải quyết chiến tranh bằng thương lượng với điều kiện có lợi cho chúng Vì vậy, theo nhận định của Đảng ta, chủ
trương của địch hiện nay là: “Từng bước phi Mỹ hóa, Việt Nam hóa cuộc
chiến tranh, từng bước xuống thang chiến tranh, vừa xuống thang vừa giữ gìn sức người, sức của đặc biệt là giữ gìn sinh lực quân Mỹ, vừa ra sức giành giật với ta để kết thúc chiến tranh trên một thế mạnh nhất định” [22, 140]
Từ việc nhận định tình hình và đánh giá âm mưu của địch, tháng 1/1970, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 18 đã đề ra nhiệm
vụ trước mắt của cách mạng Việt Nam là: “Tiếp tục phát triển chiến lược tiến
công một cách toàn diện, liên tục và mạnh mẽ, đẩy mạnh tiến công quân sự và tiến công chính trị, kết hợp với tiến công ngoại giao; vừa tiến công địch vừa
ra sức xây dựng lực lượng quân sự và chính trị của ta ngày càng lớn mạnh, đánh bại âm mưu “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, đánh bại âm mưu xuống thang từng bước nhưng kéo dài chiến tranh để tạo thế mạnh hòng duy trì chủ nghĩa thực dân mới của chúng ở miền Nam nước ta; làm thất bại chiến lược phòng ngự của địch, tạo nên chuyển biến mới trong cục diện chiến tranh, giành thắng lợi từng bước đi đến giành thắng lợi quyết định, đánh cho
Mỹ phải rút hết quân, đánh cho ngụy phải suy sụp tạo điều kiện cơ bản để thực hiện một miền Nam độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tới thống nhất nước nhà” [23, 130]
Trước âm mưu của địch mở rộng chiến tranh ra 3 nước Đông Dương,
ngày 19/6/1970 Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết “về tình hình mới ở bán đảo