1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc trưng hậu hiện đại trong tiểu thuyết kafka bên bờ biển của haruki murakami

95 60 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc trưng hậu hiện đại trong tiểu thuyết kafka bên bờ biển của haruki murakami
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Thủy
Người hướng dẫn Th.S Nguyễn Phương Khánh
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 788,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những lý do tạo nên sức hấp dẫn cho các sáng tác của Haruki Murakami chính là việc ông đã khéo léo đan cài các yếu tố hậu hiện đại vào trong tác phẩm của mình, tạo dư vị đặc bi

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

- -

NGUYỄN THỊ NGOC THÚY

Đặc trưng hậu hiện đại trong tiểu thuyết

Kafka bên bờ biển của Haruki Murakami

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của Th.S Nguyễn Phương Khánh Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình này

Đà Nẵng, ngày 05 tháng 5 năm 2012

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Ngọc Thủy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến Th.S Nguyễn Phương Khánh – người đã rất nhiệt tình, tận tâm hướng dẫn tôi thực hiện khóa luận này Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn – trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài Tôi cũng xin chân thành cảm ơn bạn bè và người thân đã ủng hộ, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Mặc dù có nhiều cố gắng song do trình độ còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp chân thành của quý thầy cô và bạn bè để

đề tài được hoàn thiện hơn

Đà Nẵng, ngày 05 tháng 5 năm 2012 Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Ngọc Thủy

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Cấu trúc của đề tài 8

CHƯƠNG I: VỀ CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI VÀ NHÀ VĂN HARUKI MỦAKAMI 9

1.1 Khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại 9

1.1.1 Hoàn cảnh ra đời của chủ nghĩa hậu hiện đại .9

1.1.2 Một số quan niệm về chủ nghĩa hậu hiện đại 11

1.2 Đặc điểm của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học 13

1.2.1 Chủ nghĩa hậu hiện đại và cách nhìn đời sống 13

1.2.2 Chủ nghĩa hậu hiện đại và hệ thống thi pháp phá cách 14

1.2.3 Đặc trưng tiểu thuyết hậu hiện đại 16

1.3 Chủ nghĩa hậu hiện đại trong mối tương quan với chủ nghĩa hiện đại 17

1.4 Haruki Murakami và tiểu thuyết Kafka bên bờ biển 20

1.4.1 “Thần tượng văn chương Nhật” Haruki Murakami 20

1.4.2 Kafka bên bờ biển – “một ám ảnh siêu hình dai dẳng” 23

CHƯƠNG II: KAFKA BÊN BỜ BIỂN – HẬU HIỆN ĐẠI TRONG CÁCH NHÌN CON NGƯỜI VÀ XÃ HỘI 27

2.1 Hậu hiện đại trong cách nhìn về con người 27

2.1.1Thế giới nhân vật khác thường và sự mờ hóa nhân vật 27

2.1.2 Cái tôi cô đơn, băn khoăn về sự tồn tại của bản thân 31

2.1.3 Khát vọng sống với bản ngã của chính mình 41

2.1.4 Nhân vật và văn hóa đại chúng thời hậu hiện đại 45

2.2 Hậu hiện đại trong cách nhìn về xã hội 48

2.2.1 Hiện thực xã hội bị xé lẻ, phân tách 48

Trang 6

2.2.2 Sự mỉa mai đối với các quan niệm truyền thống 51

CHƯƠNG III: KAFKA BÊN BỜ BIỂN – HẬU HIỆN ĐẠI TRONG NGHỆ THUẬT KỂ CHUYỆN 58

3.1 Kết cấu phân mảnh 58

3.1.1 Sự tan rã của cốt truyện truyền thống 58

3.1.2 Sự phân tán của điểm nhìn nghệ thuật 60

3.1.3 Sự đảo lộn trật tự không – thời gian 63

3.2 Những lằn ranh của thực và ảo 66

3.2.1 Sự đan xen giữa các yếu tố thực và ảo 66

3.2.2 Bí ẩn như là một thủ pháp 68

3.3 Ngôn ngữ và biểu tượng 71

3.3.1 Ngôn ngữ cắt dán 71

3.3.2 Hệ thống biểu tượng, ẩn dụ đầy ám ảnh 74

3.4 Yếu tố “nhại” và siêu liên kết 77

3.4.1 “Nhại” như là một thuộc tính hậu hiện đại 78

2.4.2 Siêu liên kết hay là liên văn bản 81

KẾT LUẬN 85

THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khi nói về vai trò và nhiệm vụ của nhà văn, Balzac đã có một nhận định nổi tiếng: “Nhà văn là người thư ký trung thành của thời đại” Như vậy, nhà văn nói riêng và người sáng tạo nghệ thuật nói chung phải là người đi sát với hiện thực cuộc sống, lấy đó làm nguồn cảm hứng cho các tác phẩm của mình Cùng với sự đổi thay không ngừng của xã hội, nhà văn cũng phải có những đổi mới trong nghệ thuật sáng tác của mình để phù hợp với xu thế phát triển của xã hội đồng thời phù hợp với nhu cầu đọc mới của độc giả Bên cạnh đó, những thành tựu rực rỡ trong khoa học – kỹ thuật đã đưa thế giới đến một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên của công nghệ tiên tiến, của sự bùng nổ thông tin, song con người cũng phải đối mặt với những vấn đề chính trị, dân tộc, xã hội mới Chính sự phát triển cao độ đó đã đòi hỏi văn học phải có những biến chuyển mới để theo kịp tốc độ của xã hội Không thỏa mãn với những phương thức biểu hiện của chủ nghĩa hiện đại, chủ nghĩa hậu hiện đại đã ra đời Với

sự cách tân trong kỹ thuật viết, trong việc tìm kiếm và xử lý đề tài cùng với thế giới quan độc đáo, chủ nghĩa hậu hiện đại có vị trí rất quan trọng trên văn đàn thế giới với các tên tuổi đã đi vào lịch sử văn học như: Jean – Francois Lyotard, G.G.Marquez, Donald Barthelme, Bobbie Ann Mason, Julio Cortázar, Michel Foucault, Milan Kudera, Umberto Eco… Xuất hiện tại Mỹ, chủ nghĩa hậu hiện đại nhanh chóng lan rộng sang các nước châu Âu và một số nước châu Á, trong đó có Nhật Bản

Có thể nói Haruki Murakami là nhà văn Nhật Bản gây được nhiều chú ý của giới phê bình và độc giả nhất trong những năm gần đây Các tác phẩm của ông có sức lôi cuốn lạ kì, khiến người đọc như bị cuốn vào một mê cung ngôn từ và các hình ảnh đủ chiều kích khác nhau Một trong những lý do tạo nên sức hấp dẫn cho các sáng tác của Haruki Murakami chính là việc ông đã khéo léo đan cài các yếu tố hậu hiện đại vào trong tác phẩm của mình, tạo dư vị đặc biệt cho người đọc Cuốn

tiểu thuyết Kafka bên bờ biển là một minh chứng cho điều này Chính sự thành

Trang 8

công của Haruki Murakami đã là động lực thúc đẩy chúng tôi lựa chọn đề tài “Đặc

trưng hậu hiện đại trong tiểu thuyết Kafka bên bờ biển của Haruki Murakami”

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Về chủ nghĩa hậu hiện đại:

“Hai chữ “hậu hiện đại” (Postmoderne) và “giải cấu trúc” (Deconstruction) gắn với tên tuổi lẫy lừng của Jean – Francois Lyotard (1924 – 1998) và Jacques Derrida (1930 – 2004) không chỉ là hai khái niệm triết học mới mẻ mà còn là hai trong số những tiêu ngữ thời thượng nhất của các phương tiện truyền thông đại chúng” [12, tr.7] Khi nói đến sự ra đời của chủ nghĩa hậu hiện đại thì không thể không nhắc đến Lyotard với bài viết nổi tiếng “Điều kiện hậu hiện đại: Bản tường trình về tri thức” Sau này bài viết đã trở thành phần đầu của cuốn sách có tính chất

mở đầu và dẫn đường cho chủ nghĩa hậu hiện đại: Hoàn cảnh hậu hiện đại Trong

công trình công phu này, Lyotard đã xác định rõ “Đối tượng của công trình nghiên cứu này là hoàn cảnh của tri thức trong các xã hội phát triển nhất” [12, tr.53] Tác giả coi tri thức trong thời hậu hiện đại là một sản phẩm để tiêu thụ, buôn bán và trao đổi Chủ nghĩa hậu hiện đại tồn tại một cách tự do, độc lập, không chịu sự chi phối, khống chế nào, không có một thứ ngôn ngữ nào có thể bao phủ lên nó Lyotard cũng đề nghị một hướng đi cho chủ nghĩa hậu hiện đại: phủ nhận các “đại tự sự”, chỉ chú trong vào “tiểu tự sự”, các vi văn bản phải được tồn tại bình đẳng với các siêu văn bản

Một công trình được coi là rất công phu về chủ nghĩa hậu hiện đại là Văn học

hậu hiện đại thế giới những vấn đề lý thuyết Cuốn sách này tập trung nhiều bài viết

rất chất lượng của các tác giả trong và ngoài nước như: I.P.Ilin, Charles Jencks, Mary Klages, Barry Lewis, Phương Lựu, Nguyễn Văn Dân, Nguyễn Minh Quân, Nguyễn Ước

Bài viết Chủ nghĩa hậu hiện đại những khái niệm căn bản của Nguyễn Minh

Quân đã đề xuất cách tiếp cận dễ dàng nhất với chủ nghĩa hậu hiện đại là từ chủ nghĩa hiện đại Chủ nghĩa hậu hiện đại sẽ được làm sáng tỏ trên bình diện lịch sử -

xã hội và văn học, các khuynh hướng nghệ thuật Khi đi vào nghiên cứu những khái

Trang 9

niệm căn bản của chủ nghĩa hậu hiện đại, tác giả bài viết đã phân tích khá kỹ về sự hình thành, quá trình lan rộng tầm ảnh hưởng, chia chủ nghĩa tư bản thành ba thời

kỳ tương ứng với ba chủ nghĩa khác nhau trong mỹ học Trong lý thuyết hậu hiện đại, tác giả quan tâm tới giải trình ngôn ngữ hậu hiện đại, xác định nền tảng của nó

là dựa trên “nguyên tắc liên văn bản (intertextuality)” [1, tr.164] Để soi chiếu sự khác biệt của chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại, Nguyễn Minh Quân đã đề cập đến hai lĩnh vực: tri thức và mỹ học để nhận diện hai chủ nghĩa này

Một bài viết được đánh giá rất cao là Chủ nghĩa hậu hiện đại hay là hiện

tượng chồng chéo khái niệm của Nguyễn Văn Dân Để xác định khái niệm hậu hiện

đại, trước tiên Nguyễn Văn Dân lược lại quá trình hình thành khái niệm, điểm lại các khái niệm của các nhà nghiên cứu khác nhau theo trình tự thời gian Nguyễn Văn Dân cũng đi phân biệt giữa chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại để đi đến kết luận: “về mặt lý thuyết, những gì mà những người đề xướng chủ nghĩa hậu hiện đại chủ trương thì hầu hết đã có ở chủ nghĩa hiện đại ( ) xét về mặt đặc tính nghệ thuật thì cả chủ nghĩa hiện đại lẫn chủ nghĩa hậu hiện đại đều không có những đặc tính thống nhất” [1, tr.126-127] Tác giả nhận thấy trong chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại đề có những nhánh nhỏ hơn, nên đây là hiện tượng “chồng chéo khái niệm” Trước thực trạng cụm từ “chủ nghĩa hậu hiện đại” được dùng khá phổ biến và dễ dãi, tác giả đặt ra câu hỏi: có nhất thiết cần có thuật ngữ đó hay không hay đơn giản đây là “mốt sính khái niệm” Cuối cùng Nguyễn Văn Dân kết luận: “chỉ nên dùng khái niệm “hậu hiện đại” cho kiến trúc và hội họa, còn trong các lĩnh vực khác, đặc biệt là trong văn học, thì không nên dùng nó, mà chỉ nên dùng khái niệm “(chủ nghĩa) tối (hoặc siêu) hiện đại” [1, tr.166]

Đáng chú ý trong cuốn Văn học hậu hiện đại thế giới những vấn đề lý thuyết

là bài viết Một hồ sơ về chủ nghĩa hậu hiện đại của Nguyễn Ước Tác giả soi chiếu

chủ nghĩa hậu hiện đại dưới nhiều góc độ khác nhau như: mỹ học và văn học; lịch

sử, kinh tế và xã hội; chân lý của lý trí và khoa ; thông qua các đại tự sự Tác giả còn đề cập đến những tiền đề căn bản của chủ nghĩa hậu hiện đại, tìm ra những nét

dị biệt giữa chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại, các khái niệm cơ bản và phương

Trang 10

pháp luận của chủ nghĩa này Tất cả những kiến thức được trình bày rất logic, giúp người đọc có một cái nhìn tuần tự và hệ thống về chủ nghĩa hậu hiện đại

Lê Huy Bắc cũng giành hẳn một phần trong cuốn Truyện ngắn: lí luận, tác

giả và tác phẩm của mình để nói về hậu hiện đại Tác giả điểm qua các công trình

nghiên cứu về hậu hiện đại, các khái niệm từ trước đến nay, trên cơ sở đó hình thành nên khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại của mình Nếu Blach nghiên cứu về tiểu thuyết hậu hiện đại thì Lê Huy Bắc tập trung xác định truyện ngắn hậu hiện đại Ông đề cập đến bốn khuynh hướng truyện ngắn hậu hiện đại phổ biến nhất: truyện ngắn huyền ảo, truyện ngắn mảnh vỡ, truyện ngắn nhại, và truyện ngắn cực hạn cùng các tác phẩm tiêu biểu

Bước đầu tìm hiểu thi pháp hậu hiện đại của Phương Lựu lại rất thành công

khi tìm ra “một hệ thống thi pháp khôn những đột phá truyền thống mà còn bất định trên mọi phương diện”, bao gồm: chủ đề vô định, hình tượng mơ hồ, tình tiết chồng chéo, ngôn ngữ bành trướng, thể loại bứt phá Tác giả xét các khía cạnh trên ở nhiều thể loại khác nhau: kịch, thơ, truyện

Gần đây, GS.TS Phương Lựu đã xuất bản cuốn Lý thuyết văn học hậu hiện

đại, trong đó có khắc họa tổng quan về chủ nghĩa hậu hiện đại và các trường phải,

chủ nghĩa của nó Công trình được kết cấu thành 10 chương, cho thấy sự công phu

và chuyên tâm của tác giả Ba chương đầu mang tính cơ sở lý luận, tiền đề Tác giả khẳng định lý luận hậu hiện đại không tách rời lý luận hiện đại nhưng mang những tính chất khác hẳn, không thể lẫn lộn Tác giả cũng trình bày những nét tổng quan

về chủ nghĩa hậu hiện đại, nhất là ở phương diện sáng tác Ba chương tiếp theo trình bày lý luận văn học hậu hiện đại trong giai đoạn đầu, Ở giai đoạn này chủ yếu thiên

về phê phán, phủ nhận, phá vỡ lý thuyết truyền thống Tác giả khái quát lại lý thuyết của các nhà lý luận tiên phong, lý thuyết của chủ nghĩa giải cấu trúc và trường phái giải cấu trúc Hoa Kỳ Kế đến là ba chương trình bày về sự chuyển biến nội tại của

lý luận văn học hậu hiện đại từ chỗ “phá” đến “xây”, từ phê phán ngôn ngữ, giải cấu trúc đến sự quay trở về với lịch sử, với chính trị Tác giả dành riêng chương 10 để

Trang 11

trả lời cho câu hỏi: “Lý luận văn học hậu hiện đại đã kết thúc chưa?”, từ đó đi vào

dự đoán những bước phát triển của chủ nghĩa hậu hiện đại

Như vậy, chủ nghĩa hậu hiện đại nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà phê bình và lý luận văn học trên thế giới Các nhà nghiên cứu thường đặt chủ nghĩa hậu hiện đại trong mối tương quan với chủ nghĩa hiện đại, đồng thời xét nó như một khách thể với các khía cạnh như: tri thức, mỹ học, văn học, lịch sử, xã hội… Hậu hiện đại trong văn học được nghiên cứu kỹ lưỡng dưới góc độ thể loại và thi pháp Có thể thấy, các công trình đều đã rất dụng công trong việc nhận diện và khắc họa chủ nghĩa hậu hiện đại để bạn đọc quan tâm có được một cái nhìn cụ thể

và rõ nét nhất về khuynh hướng văn học này

2.2 Về nhà văn Haruki Murakami:

Haruki Murakami được coi là nhà văn đương đại tiêu biểu nhất của Nhật Bản Với sức sáng tạo dồi dào cũng sự nghiên túc trong hoạt động văn chương, Haruki Murakami đã để lại dấu ấn đặc biệt trong lòng độc giả với những tác phẩm

vô cùng độc đáo Hội thảo bàn tròn về hai tác giả Haruki Murakami và Banana Yoshimoto do công ty Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam phối hợp với Đại sứ quán Nhật Bản tổ chức tại Hà Nội vào ngày 17 tháng 3 năm 2007 là một cơ hội hiếm có để các nhà lý luận, phê bình văn chương và độc giả có thể trao đổi, bày tỏ suy nghĩa của mình về hiện tượng văn học này Chúng ta có thể điểm qua một số bài tham luận được trình bày trong hội thảo như sau:

Ooi Kouicho – Ký giả ban Văn nghệ của báo Manichi đóng góp bài Haruki

Murakami – hiện tượng cùng thời đại Trong bài phát biểu này, Kouichi đã chia

hình ảnh Haruki Murakami trên phương tiện truyền thông thành năm thời kỳ Qua từng thời kỳ, Kouichi phác họa hình ảnh, hoạt động của Haruki Murakami – “nhà văn luôn tồn tại ở tiền cảnh của sân khấu văn học Nhật Bản” Kouichi đã “khái quát thông qua các biến chuyển về biểu hiện trên phương tiện truyền thông Từ đó có thể phác họa một phần nào đó về “Haruki Murakami và thời đại của ông”

Còn Will Slocombe trong bài Haruki Murakami và đạo đức của sự thông

dịch đã đề cập đến yếu tố hậu hiện đại trong các sáng tác của Murakami Theo

Trang 12

Slocombe, “kỹ thuật văn chương của Murakami lấy từ các nguồn của Mỹ và sử dụng các thủ pháp hậu hiện đại” Tác giả bài viết cũng khai thác ở các khía cạnh như người dẫn chuyện là sự vận dụng của “tiểu thuyết – tôi” theo lối hậu hiện đại, nỗi hoang tưởng mang tính hậu hiện đại, sự đề cao tầm quan trong của cá nhân và nhiều khía cạnh khác để khẳng định điều này

Với những tác phẩm gây đươc tiếng vang lớn trong công chúng, sức ảnh hưởng của Haruki Murakami không chỉ gói gọn trong phạm vi xứ sở Phù Tang mà

nó còn lan rộng sang nhiều quốc gia khác, trong đó có Trung Hoa Trong bài phát biểu tại Sở Sự vụ Bắc Kinh, Quỹ Giao lưu Quốc tế Nhật Bản ngày 25/6/2005, dịch giả Lâm Thiếu Hoa đã khẳng định điều này: “Tại Trung Quốc, ảnh hưởng của Haruki Murakami giống như sương sớm hoặc mây chiều, giăng mắc khắp đường to ngõ nhỏ, phiêu diêu vô định, song lại không nơi nào không có” Dịch giả Lâm Thiếu Hoa còn đi vào khám phá vẻ đẹp trong tác phẩm của Murakami theo bốn khía cạnh: vẻ đẹp văn chương, vẻ đẹp cô độc, vẻ đẹp ẩn dụ và những lý giải của Murakami đối với tác phẩm của mình, vẻ đẹp sâu sắc

Ở Việt Nam, các sáng tác của Haruki Murakami thu hút hàng loạt những dịch giả hàng đầu như Trần Tiễn Cao Đăng, Dương Tường, đồng thời các nhà nghiên cứu, phê bình cũng có rất nhiều bài viết nhằm trao đổi về hiện tương văn học này Chẳng hạn như bài phỏng vấn của Lê Tâm với nhà nghiên cứu, phê bình văn học, người đã rất dày công nghiên cứu về văn học Nhật Bản – Nhật Chiêu Trong bài phỏng vấn này, Nhật Chiêu đã khẳng định: “sáng tác của ông (Haruki Murakami – người viết) mang tính toàn cầu chứ không phải tình Nhật Bản ( ), mang tính hiện đại chứ không phải là truyền thống ( ) nó là một thế giới vô sai biệt, nơi mà những yếu tố đối địch hòa lẫn vào nhau” Nhật Chiêu cũng nhấn mạnh trong các sáng tác của Haruki Murakami có sự “vận dụng rất nhiều thủ pháp khác nhau từ hiện thực, siêu thực đến hậu hiện đại”

Trong bài phỏng vấn của Lê Hồng Lâm với dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng với tựa đề: “Tôi không muốn trở thành kẻ nghiện Murakami ”, dịch giả Cao Đăng đã thẳng thắn bộc lộ những suy nghĩa của mình về văn chương của Haruki Murakami

Trang 13

Trần Tiễn Cao Đăng cũng đề cập đến yếu tố hậu hiện đại của Haruki Murakami, chẳng hạn như: phá bỏ các “đại tự sự”, cách xây dựng cấu trúc tiểu thuyết và ông

dẫn chứng trong Biên niên ký chim vặn dây cót Kết thúc bài phỏng vấn, Trần Tiễn

Cao Đăng một lần nữa khẳng định về tầm của Haruki Murakami: “Tầm của ông đủ lớn để nuốt chửng người viết khác” Thiết nghĩ, chỉ cần một nhận xét như vậy cũng

đủ để khẳng định sự ghi nhận và trân trọng của Trần Tiễn Cao Đăng nói riêng và độc giả nói chung đối với Haruki Murakami

Tác giả Nguyễn Tuấn Khanh trong Những cây bút kiệt xuất của văn học

Nhật bản hiện đại cũng đã đi vào tìm hiểu Haruki Murakami Nguyễn Tuấn Khanh

đã chia con đường văn học của Haruki Murakami thành ba giai đoạn và bám theo những tác phẩm tiêu biểu của từng giai đoạn đó, từ đó khẳng định thành công của nhà văn Nguyễn Tuấn Khanh khẳng định: “Haruki Murakami đã tạo dựng nên cả một lớp độc giả hâm mộ rộng rãi trên toàn thế giới” [8, tr.400], “Kenzaburo Oe đã giành được giải Nobel văn chương nhưng dường như Haruki Murakami mới là tác giả nổi tiếng nhất, có ảnh hưởng nhất ở Nhật Bản cũng như ở nước ngoài” [8, tr.400]

Như vậy, sau khi điểm qua một số nghiên cứu trong và ngoài nước có thể thấy đã có nhiều người quan tâm đến Haruki Murakami và yếu tố hậu hiện đại trong sáng tác của ông Đó là một nền tảng rất vững chắc cho khóa luận của chúng tôi Do vậy, chúng tôi mạnh dạn đi vào tìm hiểu đề tài “Đặc trưng hậu hiện đại trong tiểu

thuyết Kafka bên bờ biển của Haruki Murakami” với hy vọng có thể cung cấp một

cái nhìn hệ thống và tương đối toàn diện cho người đọc

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Khóa luận tập trung vào việc phát hiện và làm rõ các đặc trưng của chủ nghĩa hậu hiện đại biểu hiện trên một số phương diện như: cách nhìn về con người và xã

hội, kết cấu, ngôn ngữ, liên văn bản… trong tiểu thuyết Kafka bên bờ biển của

Haruki Murakami

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 14

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng văn bản Kafka bên bờ

biển của Haruki Murakami do Dương Tường dịch, NXB Văn học phối hợp với

Công ty Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam phát hành năm 2011 để phục vụ cho quá trình nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu

Để xử lý đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

♦ Phương pháp phân tích – tổng hợp: sau khi tiếp xúc với văn bản tác phẩm, chúng tôi tiến hành phân tích, sau đó tổng hợp để chỉ ra các đặc trưng của chủ nghĩa hậu hiện đại được ánh xạ trong tác phẩm

♦ Phương pháp so sánh – đối chiếu: không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một tác phẩm của Haruki Murakami, chúng tôi tiến hành so sánh, đối chiếu với những tác phẩm khác của ông cũng như những tác phẩm của một số tác giả khác để

mở rộng đề tài cũng như cho thấy nét đặc sắc của Haruki Murakami

5 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài của chúng tôi được kết cấu thành 3 chương chính:

Chương I: Về chủ nghĩa hậu hiện đại và nhà văn Haruki Murakami

Chương II: Kafka bên bờ biển – hậu hiện đại trong cách nhìn con người và

xã hội

Chương III: Kafka bên bờ biển – hậu hiện đại trong nghệ thuật kể chuyện

Trang 15

CHƯƠNG I: VỀ CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI

VÀ NHÀ VĂN HARUKI MURAKAMI 1.1 Khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại

1.1.1 Hoàn cảnh ra đời của chủ nghĩa hậu hiện đại

Trước khi xét đến hoàn cảnh ra đời của chủ nghĩa hậu hiện đại, chúng ta có thể thấy rằng, bản thân thuật ngữ “hậu hiện đại” cũng đang gây nhiều tranh cãi về thời điểm ra đời của nó Theo Nguyễn Minh Quân, hậu hiện đại “manh nha từ năm

1934, và được sử dụng lần đầu bởi Arnold Toynbee vào năm 1939” [1, tr.156] Còn theo Phương Lựu, “thuật ngữ “Hậu hiện đại” đã xuất hiện từ nửa sau thế kỷ XIX” [11, tr.55] Ông cho rằng thuật ngữ này xuất hiện vào năm 1870, khi một họa sĩ người Anh gọi hội họa mới mẻ hơn hội họa ấn tượng Pháp là “hội họa hậu hiện đại” Tuy nhiên ta có thể thấy, “hậu hiện đại” là một khái niệm lịch sử xã hội, có thể đó là thời kỳ hậu công nghiệp hoặc thời kỳ thông tin bùng nổ sau Đại chiến Thế giới II Khái niệm “hậu hiện đại” ra đời kéo theo các khái niệm khác như: “tính hậu hiện đại”, “chủ nghĩa hậu hiện đại”…

Nếu lấy mốc Thế chiến II để phân định ranh giới như đã nêu ở trên thì ta có thể thấy, sau Chiến tranh thế giới lần II, tình hình an ninh trên toàn cầu không hề đảm bảo Chiến tranh kết thúc nhưng lại mở màn cho hàng loạt các cuộc chiến tranh khác, tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau: chiến tranh lạnh, chạy đua vũ trang, đối kháng Đông Tây, vũ khí hạt nhân, chiến tranh Triều Tiên, Algeria, Việt Nam… Hàng loạt cuộc đấu tranh của công nhân nổi lên Không khí bao trùm địa cầu là không khí hoang mang, bi quan Người ta hoài nghi tất cả Cùng lúc đó, khoa học

kỹ thuật lại đạt được những bước phát triển đáng kể với thời đại “hậu công nghiệp”

Sự ra đời của máy tính, bùng nổ thông tin, các thành tựu khoa học được áp dụng vào đời sống Địa cầu nhỏ lại và người ta đã thấy “thế giới phẳng” Thời kỳ hậu hiện đại thực sự bắt đầu với chủ nghĩa kỹ trị Tràn ngập khắp nơi là các mặt hàng tiêu dùng, con người thừa thãi vật phẩm để đáp ứng nhu cầu sống Cùng với sự thay đổi chóng mặt của kinh tế, khoa học kĩ thuật, tư tưởng, tình cảm con người cũng

Trang 16

thay đổi theo Ít nhiều người ta không còn cảm thấy sự gắn bó mật thiết với nhau như trước nữa Cộng với sự khủng hoảng của an ninh khiến người ta cảm thấy sự bất an, muốn co mình lại để giữ một độ an toàn nhất định Thế giới đổi thay và

“Thượng Đế đã chết” “Chúng ta giết chết thần thánh của mình…, chúng ta không còn gì hết, cái gì cũng tạm thời, không hoàn chỉnh, do mình làm nên, chúng ta xây dựng phát ngôn trên cõi hư vô” (Ihhab Hassan) Ta có thể nhìn thấy rất rõ sự phân tuyến giữa tiến bộ kỹ thuật và đạo đức con người Nhiều nhà nghiên cứu mải mê theo đuổi khoa học thuần túy mà bỏ qua những yếu tố mấu chốt và tiên quyết của phẩm hạnh, do vậy đã có nhiều phát minh vi phạm nguyên tắc đạo đức Bên cạnh

đó, thời kỳ hậu hiện đại kéo theo sự ra đời của “hậu triết học” với quan niệm thiên chức và sứ mệnh của mình không còn là đi tìm chân lý nữa bởi xã hội hiện tại không còn chỗ cho lý luận tỏ rõ quyền uy của mình nữa, thái độ hoài nghi đã chiếm lĩnh tất cả Con người hoài nghi, phủ định chân lý, nhưng lại không có ý định đi xây dựng những chân lý mới Trên phương diện biểu đạt, con người không còn làm chủ được ngôn ngữ nữa mà trở thành yếu tố phụ thuộc Con người không còn là trung tâm, là đích hướng đến của ngôn ngữ mà bị ngôn ngữ khống chế, gò ép “Không phải tôi nói ngôn ngữ, mà ngôn ngữ nói về tôi” Trong khi đó, sự sáng tạo về văn hóa thì lại mở rộng chưa từng có Cùng với sự phát triển của nền công nghiệp hàng hóa, văn hóa cũng trở thành thương phẩm, thành nhu cầu thiếu yếu của con người Không còn cái ranh giới mà người ta cố dựng lên bao đời giữa văn học cao cấp và văn học bình dân nữa Muốn văn học đến được với công chúng thì cần sự phổ cập,

vì thế văn chương hướng tới sự bình dân hóa, đại chúng hóa Các công trình nghiên cứu, lý luận cũng vậy Do đó ranh giới giữa nghệ thuật và đời sống không còn sự phân định như trước

Trong hoàn cảnh như vậy, chủ nghĩa hậu hiện đại ra đời Có thể thấy, nền văn học hậu hiện đại từ những năm 50, 60 của thế kỷ XX trở đi phát triển rộng rãi khắp châu Âu, châu Mỹ và thậm chí lan tràn đến cả Nhật Bản, kéo theo sự ra đời và bành trướng của chủ nghĩa hậu hiện đại Trải qua một thời gian phát triển, với các tên tuổi như G.G Marquez, Donald Barthelma, Umberto Eco, Michel Foucault,

Trang 17

Milan Kudera…, chủ nghĩa hậu hiện đại đã thực sự khẳng định được vị trí thống lĩnh của mình trên văn đàn

1.1.2 Một số quan niệm về chủ nghĩa hậu hiện đại

Đến nay, nhiều người vẫn nhẫm lẫn giữa “tính hậu hiện đại” và “chủ nghĩa hậu hiện đại” Cả hai khái niệm này đều liên quan của xã hội hậu hiện đại Có thể hiểu, “tính hậu hiện đại” là những đặc tính của xã hội đó thời hậu hiện đại Còn

“chủ nghĩa hậu hiện đại” là xét trên bình diện văn hóa Hai khái niệm này có thể

“đồng đại” nhưng không “đồng thời” Có nghĩa là có xã hội hậu hiện đại thì mới có những đặc tính của nó (“tính hậu hiện đại”), rồi mới xét riêng trên phương diện văn học nghệ thuật (“chủ nghĩa hậu hiện đại”) Cũng giống như “hậu hiện đại”, xoay quanh “chủ nghĩa hậu hiện đại” (postmodernism) nhận được rất nhiều ý kiến khác nhau Chúng tôi xin liệt kê một số ý kiến sau:

Jean – Francois Lyoard trong Hoàn cảnh hậu hiện đại quan niệm chủ nghĩa

hậu hiện đại là “trạng thái của văn hóa sau những biến đổi tác động đến các quy tắc trò chơi (các luật chơi) của khoa học, văn học và nghệ thuật từ cuối thế kỷ XIX” [10, tr.53] và nó thể hiện “sự hoài nghi đối với các siêu tự sự” [12, tr.54]

Gilles Lipovetsky trong Kỷ nguyên trống rỗng (1983) coi “hậu hiện đại là sự

quay trở về với nguồn gốc của con người” [1, tr.112]

Andreas Huyssens quan niệm chủ nghĩa hậu hiện đại đang cố gắng vượt qua cái ranh giới mà chủ nghĩa hiện đại dùng để phân chia nghệ thuật ưu tú với nghệ thuật đại chúng và cho rằng chủ nghĩa hậu hiện đại cần được đón nhận và phê phán như một lực lượng mới [1, tr.116]

Hal Foster cũng phân biệt ra hai loại chủ nghĩa hậu hiện đại: một loại mang tính chất bảo thủ và một loại mang tính hậu cấu trúc chủ nghĩa nhưng cả hai loại đều chủ trương triệt tiêu hoặc giải thể chủ thể [1, tr.116]

Còn theo Từ điển Bách khoa Nhân chủng học Văn hóa , “Chủ nghĩa hậu hiện

đại được định nghĩa như một trào lưu chiết trung, khởi đầu từ mỹ học về kiến trúc

và triết học Chủ nghĩa hậu hiện đại tán thành thái độ hoài nghi có hệ thống cái viễn cảnh lấy lý thuyết làm nền tảng” [1, tr.502]

Trang 18

John Barth và Umberto Eco cùng với nhiều tác giả khác đã định nghĩa “chủ nghĩa hậu hiện đại như một cách viết trong đó người ta có thể dùng các hình thức truyền thống một cách châm biếm (irony) hay hoán vị (displaced) để diễn tả các chủ

đề bất diệt” [1, tr.68]

Nguyễn Văn Dân trong bài viết Chủ nghĩa hậu hiện đại hay là hiện tượng

chồng chéo khái niệm đã thống kê ra ba nhóm quan niệm chính về hậu hiện đại như

Đồng thời, Nguyễn Văn Dân cũng bộc lộ quan điểm của mình Theo ông, chủ nghĩa hậu hiện đại là thuật ngữ chỉ “các xu hướng văn học – nghệ thuật khác nhau

về đặc tính nghệ thuật nhưng giống nhau về đặc tính thời gian, tức là dùng để chỉ các xu hướng văn học – nghệ thuật ngoài chủ nghĩa hiện thực truyền thống, xuất hiện ở nửa cuối thế kỷ XX, sau thời kỳ của chủ nghĩa hiện đại, và chúng cũng có xu hướng tìm tòi đổi mới, thậm chí đổi mới đến cực đoan, đến siêu hiện đại” [1, tr.129]

Nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học Phương Lựu lại khẳng định: “Chủ nghĩa hậu hiện đại là một hiện tượng văn hóa, có nguyên nhân sâu xa từ cơ sở xã hội và ý thức của thời đại” [1, tr.71]

Như vậy, có rất nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại xuất phát từ những góc độ nghiên cứu cụ thể khác nhau Trong phạm vị khóa luận này, chúng tôi đã tinh lọc các ý kiến của những người đi trước và mạnh dạn đề đạt một cách hiểu Chủ nghĩa hậu hiện đại là thuật nghữ để chỉ một trào lưu trong văn học, nghệ thuật, thậm chí cả triết học từ nửa sau thế kỷ XX (khoảng những năm 50,

Trang 19

60) Chủ nghĩa hậu hiện đại đã tác động mạnh mẽ đến nghệ thuật về phương diện thể loại và có những đổi mới mang tính đứt đoạn với chủ nghĩa hiện đại về thi pháp Trong văn học, chủ nghĩa hậu hiện đại mang tính phi lí tính, phi chủ thể, tính phân mảnh, tính phi xác định…

1.2 Đặc điểm của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học

1.2.1 Chủ nghĩa hậu hiện đại và cách nhìn đời sống

Chủ nghĩa hiện đại qua thời gian hình thành và phát triển đã tạo dựng trong lòng nó rất nhiều khuynh hướng nghệ thuật khác nhau: chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tự nhiên… Tuy mỗi khuynh hướng đề tập trung khai thác những khía cạnh khác nhau của hiện thực đời sống (chủ nghĩa lãng mạn khai thác lý tưởng, tình cảm, chủ nghĩa hiện thực chú trọng thực tế cuộc sống với những mảng đen tối nhất còn chủ nghĩa tự nhiên thì quan tâm tới bản năng của con người) nhưng gặp nhau ở một điểm chung là “đều có mô thức về chiều sâu, cho nên những hiện tượng họ đưa ra đều chứa đựng bản chất bên trong, trong ngẫu nhiên có tất yếu, trong hình thức có nội dung, cho dù những nội dung bản chất tất yếu đó của cuộc đời được quan niệm không giống nhau” [11, tr.62] Nhưng, như một sự trái dấu, chủ nghĩa hậu hiện đại không tạo dựng tác phẩm của mình theo xu hướng ấy Một tác phẩm muốn theo chủ nghĩa hậu hiện đại thì trước hết nó phải chuyên chở cảm quan hậu hiện đại Điều đó thể hiện ở hình tượng con người trong thời kỳ hậu công nghiệp trở nên hoang mang cùng cực và khủng hoảng niềm tin Họ không còn tin vào những lý thuyết cuộc sống, những mô hình thực tế mà trước nay tưởng như vẫn vậy Sự vỡ vụn niềm tin ấy khiến con người phủ nhận và đạp đổ tất cả những

mô thức chiều sâu mà chủ nghĩa hiện đại cố công xây dựng Quan trọng hơn, không

ai có ý định tái thiết lại mô thức nào thay thế nữa Với chủ nghĩa hậu hiện đại “phía sau hiện tượng không hề có bản chất, bên trong ngẫu nhiên không hề có tất yếu, bên dưới vô thức không thể có ý thức, bên trên ngôn từ không thể có ngôn ngữ” [11, tr.63] Văn học, như một điều tất yếu, phải ghi nhận thời kỳ mà nó tồn tại Chính vì thế, các tác phẩm văn chương thời này không thể bao quát cả hiện thực xã hội mà chỉ đi vào những mảnh ghép hiện thức khác nhau mà thôi Nói cách khác, văn học

Trang 20

nghệ thuật chối bỏ các “đại tự sự” và chú trọng đặc biệt đến các “tiểu tự sự” Những nhà văn tự bó hẹp khoảng không gian thực tế lại, từ bỏ giấc mơ thống trị thế giới Chính điều này đã tạo sự đổi mới trong cấu trúc tác phẩm Tác phẩm không còn sự liên kết chặt chẽ theo kiểu có A mới có B, từ B dẫn đến C như trước đây nữa Sự lỏng lẻo trong liên kết khiến những tác phẩm như phân mảnh, rời rạc khắp nơi Các nhà văn không có ý định lắp ghép các mảnh vỡ hiện thực ấy lại, vì thế, công việc xâu chuỗi ấy thuộc về người đọc Và tính phi chủ thể ra đời Do tác phẩm văn học được cấu trúc từ những miếng ghép như vậy nên không có trung tâm, từ đó đưa đến việc không có chủ thể của những câu chuyện ấy Tính thống nhất không còn, thay vào đó là tính dị biệt, tính đa tạp và sự bùng nổ của tính ngoại biên Điều này lại dẫn dụ đến tính liên văn bản Một tác phẩm không còn miêu tả một chỉnh thể nữa

mà chỉ tập trung vào cái bộ phận mà thôi, vì vậy, tác phẩm gắn chặt với mọi thứ xung quanh nó Tác phẩm vừa có quan hệ nội tại với văn bản vừa có quan hệ liên kết với các văn bản khác Có nghĩa là ta không thể tách tác phẩm ra khỏi hiện thưc được nữa mà phải đặt nó trong mối quan hệ với các đối tượng khác, từ đó mới giúp

ta hiểu được ý nghĩa của tác phẩm Điều đó cho thấy tác phẩm văn học của chủ nghĩa hậu hiện đại cũng mang tính tiếp nối, kế thừa

1.2.2 Chủ nghĩa hậu hiện đại và hệ thống thi pháp phá cách

GS.TS Phương Lựu gọi hệ thống thi pháp của chủ nghĩa hậu hiện đại là “hệ thống thi pháp bất định và đột phá” [11, tr.66] Cũng không có gì là lạ khi chủ nghĩa hậu hiện đại đã tạo dựng được những thủ pháp phá vỡ truyền thống như: nhại, uy – mua đen, cắt dán…

Trước tiên, tác phẩm văn học hậu hiện đại rất khó xác định được chủ đề Do chủ nghĩa hậu hiện đại “quan niệm hiện thực không theo mô típ chiều sâu, cuộc đời tản mạn, không có trung tâm, không mang bản chất gì cả, cho nên sáng tác cụ thể không thể mà cũng không cần phải tập trung đề cập đến bất cứ vấn đề nào Chính đề không có, phụ đề lại càng không Nhà văn hậu hiện đại sáng tác theo kiểu lắp ghép tùy tiện” [11, tr.67] Đây chính là điểm mấu chốt của vấn đề Các nhà văn hậu hiện đại không đặt niềm tin vào bất cứ cái gì, không quan tâm đến đức tin hay thế cuộc

Trang 21

Nhận thức được sự không thống nhất của cuộc đời, các nhà văn tùy tiện sáng tác, ngẫu nhiên lắp ghép, không theo bất cứ quy luật nào cả, vì thế các tác phẩm này trở nên vô định về chủ để

Các hình tượng được xây dựng trong tác phẩm cũng trở nên mơ hồ, khó nắm bắt “Chủ nghĩa hậu hiện đại tuyên bố không chỉ tác giả mà rộng ra cả chủ thể đã chết, thì nhân vật được hư cấu ra cũng không thể sống động được” [11, tr.68] (khác hẳn với chủ nghĩa hiện đại rất quan tâm đến tâm lý nhân vật) Do đó nhân vật của chủ nghĩa hậu hiện đại không được tập trung khắc họa, chỉ là “mờ mờ nhân ảnh”, không rõ ràng về nguồn gốc

Các tác phẩm hậu hiện đại không chú trọng đến việc sắp xếp tình tiết, do vậy tạo nên sự chồng chéo trong các chi tiết truyện Họ coi hiện thực là những mảnh vỡ, vậy hà cớ gì phải sắp đặt trong sáng tác? Các chi tiết dường như được viết một cách ngẫu nhiên, không cần xếp gọn Thậm chí họ còn đảo lộn cả trật tự không gian, thời gian, tạo ra những mê cung thật sự Quá khứ, hiện tại, tương lai bị trộn lẫn, thậm chí

có cả đứt đoạn và nhảy cóc, khiến người đọc mụ mị và rối bời

Nhà văn hậu hiện đại rất thú vị với việc sử dụng ngôn từ Họ coi trọng, tôn sùng ngôn từ đến mức làm cho nó cương nở ra mọi biên độ, tạo sự “bành trướng” (Phương Lựu) Họ thích thú tạo ra những ký hiệu độc đáo Văn hậu hiện đại sử dụng nhiều câu đơn, nhiều đoạn thoại, tích cực sử dụng các phông chữ đặc biệt để tác động đến độc giả Chủ nghĩa hậu hiện đại rất linh hoạt trong việc sử dụng ngôn

từ để làm mới tác phẩm của mình

Chưa bao giờ chúng ta chứng kiến sự bùng nổ về thể loại như ở chủ nghĩa hậu hiện đại Các nhà văn có xu hướng sáng tác theo lối “phản thể loại”, tìm tòi những loại hình mới Chẳng hạn ở lĩnh vực tiểu thuyết chúng ta có tiểu thuyết mới, tiểu thuyết mới mới, phản tiểu thuyết, siêu tiểu thuyết, tiểu thuyết siêu cấp, tiểu thuyết siêu tưởng, tiểu thuyết tự sinh… Thơ thì có thơ tự bạch, thơ ngôn ngữ, thơ cụ thể… Thậm chí họ còn trộn xáo các thể loại với nhau: “Rất khó nói được đâu là

ranh giới giữa tiểu thuyết và tuyển tập truyện ngắn trong cuốn Lives of girls and

women của Alice Muro, giữa tiểu thuyết và trường thi trong cuốn Coming through

Trang 22

Slaughter của Michael Ondatje, giữa tiểu thuyết và tự truyện trong cuốn China men

của Maxine Hong Kingston, giữa tiểu thuyết và lịch sử trong cuốn Shame của

Salman Rushdie” (Nguyễn Hưng Quốc) Chính sự sáng tạo và đột phá về thể loại này đã đặt người đọc trong một môi trường dồi dào và có thể thoải mái lựa chọn thể loại phù hợp với xu hướng văn chương của mình

1.2.3 Đặc trưng tiểu thuyết hậu hiện đại

Cuối cùng, để kéo những vấn đề lý thuyết về gần đề tài mà khóa luận hướng tới hơn, chúng tôi xin được trình bày sơ qua những đặc trưng của tiểu thuyết hậu hiện đại Nhà văn hậu hiện đại “chối bỏ hoàn toàn cái khuynh hướng giải thích và trình bày thế giới bằng hình thức siêu truyện” [1, tr.405] Từ sự thay đổi nhận thức

ấy, họ say mê diễn đạt lại thế giới phức tạp và đa dạng ngoài kia bằng những “phiến đoạn” (chữ của Antonio Blach), bằng những lát cắt cuộc đời Để làm được điều đó, các nhà văn “hòa trộn ranh giới giữa không gian của nghệ thuật và không gian của

kỹ thuật, giữa ý thức và vô thức, giữa hiện thực và ma quái” [1, tr.405] Cùng với

đó, tiểu thuyết dần đi theo khuynh hướng đào sâu, chiêm nghiệm bản thân, mà theo Antonio Blanch gọi là “tự ngắm vuốt”, tức là nhích tới thuyết duy ngã cùng với thứ ngôn ngữ tự ám thị Nhà văn hậu hiện đại từ chối hiện thực bao trùm, cây cầu nối liền trí tuệ của nhà văn với hiện thực đời sống bị cắt đứt, do đó nhà văn quay trở về với bản thân, với chính mình, với mảnh ghép của tâm hồn mình bằng một thứ ngôn ngữ tự ám thị Đồng thời với đó là một thái độ khôi hài “Người nghệ sĩ hậu hiện đại không mơ ước một xã hội tiến bộ hơn mà họ chỉ tham gia vào sự sáng tạo ra một thế giới nghệ thuật song song với thế giới hiện thực mà ở đó với tiếng cười ha hả họ quan chiêm những hình ảnh được thai nghén từ một thế giới nguyên mẫu trong đó những ấu trĩ của tính hiện đại vẫn được vận dụng một cách nghiêm chỉnh” [1, tr.410] Từ đó, họ sáng tạo ra thứ tiểu thuyết đầy sinh lực và khát vọng, phá tan mọi thể chế, đập vỡ mọi xích xiềng Họ đảo lộn ngôn ngữ của chính mình, thay đổi ngữ pháp, không phục tùng cơ chế, phá vỡ khuôn mẫu Các hình ảnh đan xen, hoàn quyện vào nhau “tạo ra những văn bản đậm đặc dù sức chuyển tải những trạng thái căng thẳng sâu sắc của con người, chuyển tải cuộc đấu tranh giữa bản năng của sự

Trang 23

sống và bản năng của cái chết” [1, tr.411] Chính vì thế mà Antonio Blach, trong bài

viết Vài suy nghĩ về cái gọi là tiểu thuyết hậu hiện đại của mình đã khẳng định: tiểu

thuyết hậu hiện đại bao gồm năm đặc trưng: một nhận thức mới, khuynh hướng hướng tới sự tự ngắm vuốt, ngôn ngữ tự ám thị, một thái độ khôi hài, một thứ văn học đầy sinh lực và khát vọng Chúng ta không thể không nhắc đến những tên tuổi như John Barth, Thomas Pynchon, Donald Barthelme, John Hawks… - những người đã thực sự làm nên bộ mặt mới cho tiểu thuyết hậu hiện đại

1.3 Chủ nghĩa hậu hiện đại trong mối tương quan với chủ nghĩa hiện đại

Nếu nói đến tương quan giữa chủ nghĩa hậu hiện đại và chủ nghĩa hiện đại thì

ta có thể nhắc đến ba loại ý kiến về vấn đề này: loại thứ nhất cho rằng chủ nghĩa hậu hiện đại là sự phát triển (có lẽ là tất yếu) của chủ nghĩa hiện đại một cách logic; loại thứ hai thì khẳng định chủ nghĩa hậu hiện đại và chủ nghĩa hiện đại có liên quan với nhau theo quan hệ phủ định, cái có sau phủ nhận cái có trước; còn loại thứ

ba lại cho rằng chủ nghĩa hậu hiện đại không có liên quan gì đến chủ nghĩa hiện đại, cho dù đó là quan hệ khẳng định hay phủ định Nhưng có một điều mà bất cứ ai tìm hiểu về chủ nghĩa hậu hiện đại cũng phải công nhận, đó là chủ nghĩa hậu hiện đại có một độ vênh nhất định so với chủ nghĩa hiện đại Độ vênh ấy có lẽ bắt nguồn từ những khác biệt trong tư duy Nếu như ở khía cạnh lập luận, chủ nghĩa hiện đại lấy

cơ sở làm gốc, từ cơ sở đi lên thì chủ nghĩa hậu hiện đại lại dựa vào các thành tố đa tầng của các cấp độ lập luận đa tầng và có xu hướng đan kết với nhau như mạng nhện Ở phương diện khoa học, chủ nghĩa hiện đại theo chủ nghĩa lạc quan phổ quát trong khi chủ nghĩa hậu hiện đại theo duy hiện thực của các giới hạn Trong quan niệm về thành phần và toàn thể thì chủ nghĩa hiện đại coi thành phần bao gồm cái toàn bộ còn chủ nghĩa hậu hiện đại coi toàn bộ hơn thành phần Về mặt ngôn ngữ, nếu ở chủ nghĩa hiện đại, ngôn ngữ có tính quy chiếu thì ở chủ nghĩa hậu hiện đại, ý nghĩa ngôn ngữ tùy thuộc bối cảnh xã hội thông qua cách sử dụng

Mặc dù vậy, ta có thể thấy, về phương diện mỹ học thì mỹ học hậu hiện đại

có nhiều điểm tương đồng với mỹ học hiện đại, chẳng hạn như sự soi rọi nội tâm, ý thức bản ngã, cách đoạn và không liên tục, tính đồng diễn Vì vậy, sẽ không có gì

Trang 24

ngạc nhiên nếu ta thấy nhiều đặc tính của chủ nghĩa hậu hiện đại cũng có thể tìm thấy trong chủ nghĩa hiện đại, hay nói một cách khác, chủ nghĩa hiện đại có những yếu tố manh nha của chủ nghĩa hậu hiện đại Ví dụ như tính phi lý tính trong chủ nghĩa hậu hiện đại nhưng ngay từ đầu thế kỷ XX, một số trào lưu tiên phong của chủ nghĩa hiện đại đã coi trọng trực giác và cảm tính Những mầm mống manh nha này còn được thể hiện rõ nét hơn ở hội họa, điêu khắc, kiến trúc và một số lĩnh vực nghệ thuật khác

Nhưng bất luận thế nào, sự tương đồng đó cũng không đủ sức để xóa bỏ sự khác biệt giữa chủ nghĩa hậu hiện đại và chủ nghĩa hiện đại Ngay ở phương diện

mỹ học, quan điểm hiện đại mang nặng tính đại tự sự Nghệ thuật hiện đại tự cho mình một vai trò lịch sử to lớn và mang niềm tin vào khả năng vô hạn của con người Trong khi đó, mỹ học hậu hiện đại lại cho rằng “Mỹ học cũng như các vật thể giả tạo khác mà hiện thực hoàn toàn bị khuất lấp sau những hiện tượng” [1, tr.169] Nghệ thuật chỉ là một yếu tố tham gia vào sự hỗn loạn của các vật thể ấy và người đọc có tin tưởng hay không thì hoàn toàn phụ thuộc và kinh nghiệm cá nhân, nền văn hóa mà người đọc đang thụ hưởng cũng như tài năng phản ánh thế giới của nhà văn Xét một cách cụ thể hơn, nếu chủ nghĩa hiện đại luôn chất chứa ưu tư, than phiền về trạng thái tha hóa của con người, của đạo đức, của nhân sinh thì chủ nghĩa hậu hiện đại lại càng dị thường sự tha hóa đó lên Chủ nghĩa hiện đại rất có ý thức

về cái tôi, coi đó là mục tiêu của hoạt động nghệ thuật của mình, là điểm mốc để xác định dấu ấn cá nhân thì chủ nghĩa hậu hiện đại lại tán thưởng giải chủ thể, nghĩa

là con người bị hòa tan trong bối cảnh xung quanh Chủ nghĩa hiện đại đôi chỗ còn mang cảm quan lịch sử nhưng chủ nghĩa hậu hiện đại thì không, chỉ còn mối liên hệ không gian mà thôi Hình thức nghệ thuật của chủ nghĩa hiện đại vẫn có thể lý giải được ở một khía cạnh nào đó (cho dù nó được thể hiện dị thường, kỳ lạ đến đâu) nhưng với chủ nghĩa hậu hiện đại, việc lý giải trở thành bất khả Cái biểu đạt và cái được biểu đạt như tách rời nhau, từ chối những nỗ lức cố hiểu hết, cố giải mã của bạn đọc, khiến bạn đọc hoàn toàn rối trí, âm u Vì vậy, nếu chủ nghĩa hiện đại thường sử dụng các thủ pháp như tượng trưng, kỹ thuật dòng ý thức thì chủ nghĩa

Trang 25

hậu hiện đại lại rất chuộng lối “uy – mua màu đen” kết hợp hoang đường với hoạt

kê, thông qua cái hài để biểu đạt cái bi, tạo cảm giác tiên cảm cho ngày tận thế

Như vậy, cho dù có nhiều luồng ý kiến khác nhau, nhưng tựu trung đều khẳng định sự phá cách và một tư duy nghệ thuật hoàn toàn mới của chủ nghĩa hậu hiện đại Để khái quát hóa sự khu biệt đó, chúng tôi xin được trình bày sơ đồ phân biệt của I Hassan mà người ta thường nhắc đến khi đề cập tới mối quan hệ giữa chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại:

Chủ nghĩa hiện đại Chủ nghĩa hậu hiện đại

Chủ nghĩa lãng mạn / chủ nghĩa tượng

trưng

Chủ nghĩa siêu vật lý / chủ nghĩa đađa

Hình thức (gắn bó / khép kín) Phản hình thức (phân mảnh / mở)

Đối tượng nghệ thuật, gói trọn trong tác

phẩm

Trình diễn, tiến trình

Trang 26

Có chiều sâu Chỉ bề mặt

Sinh dục tính, biểu tượng dương vật Nhiều hình thái

Khởi nguyên / nguyên nhân Khác – biệt – khác – biệt

[1, tr.506]

1.4 Haruki Murakami và tiểu thuyết Kafka bên bờ biển

1.4.1 “Thần tượng văn chương Nhật” Haruki Murakami

Haruki Murakami có lẽ là tên tuổi của văn học Nhật Bản được nhắc đến nhiều nhất trong thời gian gần đây Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Tuấn Khanh

đã khẳng định: “Kenzaburo Oe đã giành được giải Nobel văn chương, nhưng dường như Haruki Murakami mới là tác giả nổi tiếng nhất, có ảnh hưởng nhất ở Nhật Bản cũng như ở nước ngoài” [8, tr.400] Bắt đầu đăng đàn từ năm 1979 với tác phẩm

Lắng nghe gió hát (đoạt giải Gunzo), kể từ đó, Haruki Murakami đã tìm được con

đường đi vào lòng công chúng bằng một văn phong riêng, không trộn lẫn

Haruki Murakami sinh năm 1949 tại Kyoto, Nhật Bản nhưng hầu hết tuổi thơ của ông lại sống ở Shukugawa, Kobe Ông sinh ra trong một gia đình có ông nội là tăng lữ Phật giáo, ông ngoại là thương gia vùng Osaka, bố mẹ là giáo viên dạy văn

Trang 27

học Nhật Bản Tuy vậy, ông lại ít gần gũi với văn học, văn hóa truyền thống Nhật

mà ngược lại, ông yêu thích các tác phẩm phương Tây nhiều hơn Trong cuộc phỏng vấn với Larry Mc Caffery, ông thổ lộ: “Tôi nghĩ, việc tôi tìm đến những loại hình văn hóa này là một biểu hiện nổi loạn chống lại cho tôi (ông là một giáo viên văn học Nhật) và những tư tưởng Nhật Bản chính thống Từ lúc tôi mười sáu tuổi, tôi đã không đọc tiểu thuyết Nhật Bản nữa mà tìm đến những nhà văn Nga, Pháp như Dostoyevsky, Stendhal và Balzac qua các bản dịch Sau bốn năm học tiếng Anh

ở trường phổ thông, tôi bắt đầu đọc văn học Mỹ tại các hiệu sách cũ Nhờ đọc tiểu thuyết Mỹ, tôi thoát khỏi nỗi cô đơn của chính mình để được lạc vào một thế giới khác…” [6, tr.404] Vì thế ông đã chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây Những bản nhạc Pop, Rock thập niên 50, 60 của thế kỷ XX xuất hiện nhiều trong tác phẩm của ông Sáng tác của Kurt Vonnegut, Elvis, F Scott Fitzgerald… cũng được ông nhắc tới Ngoài ra, Murakami còn rất đam mê và am hiểu nhạc Jazz

Năm 1968, ông vào Đại học Waseda ở Tokyo, nghiên cứu kịch nói và điện ảnh Tại đây ông gặp gỡ Yoko – người bạn đời sau này của ông Tại trường đại học, ông trải nghiệm rất nhiều điều: các tác phẩm văn học, kịch bản phim được ông đọc say mê, cuộc nổi loạn của sinh viên năm 1968, làm thêm ở một cửa hàng bán đĩa nhạc… Chính niềm đam mê ông nhạc đã thôi thúc ông mở một quán rượu có chơi nhạc Jazz tên là “Peter Cat” ở Kokubunji, Tokyo cùng với vợ năm 1974 Quán rượu tồn tại đến năm 1982

Sau này, Haruki Murakami kể lại, ý tưởng sáng tác đến với ông một cách tình cờ Đó là khi ông đang xem một trận bóng chày ở sân vận động Meiji – Jingu Khi nhìn cầu thủ người Mỹ xoay người ném bóng, ông “đột nhiên cảm thấy mình có thể viết một cái gì đó” Mong muốn ấy lớn dần, chuyển thành khát khao mạnh mẽ,

và, đến năm 1979, ông xuất bản tác phẩm đầu tay Lắng nghe gió hát Tác phẩm đã

mở đường cho sự nghiệp sáng tác của Murakami Tiếp sau đó là Pinball, 1973 (1980), Cuộc săn cừu hoang (1982), Xứ sở kỳ diệu vô tình và nơi tận cùng thế giới

(1985) Những tác phẩm của Murakami đã thu hút độc giả bằng một văn phong mới

mẻ và những vấn đề nhạy cảm Chẳng hạn, Xứ sở kỳ diệu vô tình và nơi tận cùng

Trang 28

thế giới được xuất bản khi Nhật Bản bước vào thời kỳ bùng nổ kinh tế Tác phẩm đã

thể hiện những chiêm nghiệm của con người về sự đa chiều, đa diện của thực tại xã hội để nhận ra cuộc sống không phải là thiên đường Cũng trong năm này, Murakami nhận giải thưởng Tanizaki Junichiro Năm 1986, ông rời Nhật Bản sang sinh sống ở nước ngoài Ông lang thang hết nước này đến nước khác và cuối cùng định cư tại Mỹ, trở thành thành viên Hiệp hội Nhà văn Princeton năm 1991 Điều

đáng chú ý là năm 1987, ông xuất bản Rừng Na – uy – cuốn sách gây tiếng vang lớn

và tác động mạnh mẽ đến thế hệ trẻ, tạo nên một hiệu ứng thực sự Một năm sau,

Nhảy, nhảy, nhảy ra đời, là “một tác phẩm táo bạo nhất, nổi bật nhất, thông thái nhất

của ông cho đến lúc này” (Alfred Birnbaum)

Năm 1992, ông cho ra mắt Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời Có lẽ sức

cuốn hút của tác phẩm được tỏa ra từ cách kể chuyện độc đáo của ông, khiến câu chuyện không đặc biệt cũng trở thành “cuốn tiểu thuyết cảm động sâu sắc nhất của ông” (The Boston Globe) Năm 1995, ông xuất bản cuốn tiểu thuyết lớn trong đời:

Biên niên ký chim vặn dây cót Ông viết tác phẩm này trong bốn năm ở Princeton,

ngày ngày ra thư viện đọc đủ các loại sách Cuốn tiểu thuyết đã thật sự khẳng định

“tầm” của Murakami Thế giới nhân vật thần bí và đầy biến ảo đã khiến người đọc

bị choáng ngợp thực sự Haruki Murakami đã thực sự thành công với chủ nghĩa phi

lý và chủ nghĩa huyền thoại

Năm 1995 cũng được đánh dấu bằng một sự kiện lớn: trận động đất ở Hanshin, Kobe và vụ rải chất độc sarin ở nhà ga xe điện ngầm Tokyo Haruki Murakami hồi hương và viết các tác phẩm nhập cuộc hơn với không khí cuộc sống

biến động từng ngày Từ năm 1997 đến năm 2000, ông xuất bản Dưới lòng đất (cuốn sách phi hư cấu đầu tiên) và Sau cơn động đất sau khi phỏng vấn các nạn

nhân của vụ rải chất độc Năm 1999, một lần nữa ông lại làm bạn đọc khắp nơi phải

nghiêng mình khâm phục trước kiệt tác Người tình Sputnik: “Một cuốn tiểu thuyết

hay, nhẹ như sợi lông, nhưng buồn da diết… một cuốn sách quyến rũ” (Sunday Herald)

Trang 29

Năm 2002, Kafka bên bờ biển ra đời, “gây tiếng vang lớn ở khắp châu Á,

châu Âu và nước Mỹ, đây được coi là sự tiếp tục lối viết sử dụng ngụ ngôn, ẩn dụ, một sở trường của ông” [8, tr.428] Tác phẩm đã được trao giải thường Franz Kafka tại Praha, Séc năm 2006 và Murakami là người thứ 6 nhận được giải thưởng cao

quý này Cũng trong năm 2006, Cây liễu mù và Người đàn bà ngủ, tập truyện mới

nhất của Murakami vừa được P Gabriel và Jay Rubin dịch sang tiếng Anh đã mang

về cho nhà văn giải thưởng truyện ngắn quốc tế Franz Oconnor Các tiểu thuyết

khác nối tiếp nhau ra đời: Sau nửa đêm (2004), Tôi nghĩ gì khi tôi chạy bộ (2007),

1Q84 (2009) đã khẳng định thêm tài năng và thành công vang dội của Murakami

Tháng 9 năm 2007, ông được trao bằng tiến sĩ danh dự của University of Liege, đồng thời cũng được trao bằng tiến sĩ danh dự của Princeton University vào tháng 6 năm 2008 Tháng 1 năm 2009, ông nhận giải thưởng Jerusalem – giải thưởng được trao tặng hai năm một lần cho các tác phẩm đề cập đến quyền tự do của con người,

xã hội, chính trị và nhà nước

Bên cạnh việc sáng tác, ông còn giành không ít thời gian để dịch những tác phẩm nước ngoài sang tiếng Nhật, tạo điều kiện để bạn đọc Nhật Bản tiếp cận với văn học thế giới Ông dịch các tác phẩm của Chandler, J.D Salinger, Truman Capote, F.S Fitzgerald…

Tuy nhiên, ở Nhật Bản, ông lại vấp phải sự phản đối của một số nhà văn và nhà phê bình văn học như Masao Miyoshi Miyoshi coi các tác phẩm của Murakami như là thứ văn chương đại chúng, chỉ những người dễ dãi, “cấp thấp” mới đọc chúng Nhưng bất luận thế nào, cho dù bị phê phán gay gắt ra sao cũng không ai có thể phủ nhận được Murakami là một trong những nhà văn quyến rũ nhất hiện nay và

là người có đóng góp lớn lao trong việc đưa văn học Nhật Bản vượt biên giới, đến với văn chương quốc tế

1.4.2 Kafka bên bờ biển – “một ám ảnh siêu hình dai dẳng”

Kafka bên bờ biển ra đời vào năm 2002 sau hàng loạt các tác phẩm thành

công khác như: Cuộc săn cừu hoang, Xứ sở kỳ diệu vô tình và nơi tận cùng thế giới,

Rừng Na – uy, Biên niên ký chim vặn dây cót hay Người tình Sputnik, tiếp tục vang

Trang 30

danh ở cả châu Á, châu Âu và nước Mỹ 531 trang tiểu thuyết vẽ ra trước mắt độc giả một thế giới huyền bí với những con người kỳ lạ, khuyết thiếu về tâm hồn

Tác phẩm được cấu trúc thành hai tuyến nhân vật song song với nhau Ở tuyến thứ nhất, cũng là những chương lẻ là câu chuyện về Kafka Tamura – thiếu niên 15 tuổi – bỏ nhà ra đi để trốn chạy lời nguyền độc địa của người cha Kafka sống một mình với cha – nhà điêu khắc lừng danh Koichi Tamura Mẹ cậu đã bỏ đi, đem theo chị gái khi cậu được 4 tuổi Ngay từ khi còn bé, cha cậu đã đưa ra lời tiên đoán: “Một ngày kia, mày sẽ giết cha mày, ngủ với mẹ và chị gái mày” Lời tiên đoán được cha cậu lặp đi lặp lại, như “một cơ chế gá sẵn” bên trong Kafka Quá kinh hãi và không muốn mình “hỏng không cách chi cứu vãn được”, vào đúng sinh nhật thứ 15 của mình, Kafka quyết định bỏ nhà đi bằng cách đáp một chuyến xe bus xuyên đêm đến Takamatsu của Shikoku để trở thành “trang thiếu niên mười lăm tuổi kiên cường nhất thế giới” [16, tr.8] Cậu quen Sakura – cô gái 21 tuổi làm nghề uốn tóc – và băn khoăn không hiểu Sakura có phải là chị gái mình không Một đêm, cậu tỉnh dậy, thấy mình bị ngất trong một bụi rậm với chiếc áo đẫm máu và không nhớ được bất cứ điều gì đã xảy ra Hoảng sợ, cậu tìm nơi ẩn trú, cuối cùng đến sống trong một thư viện nhỏ Cậu được tiếp xúc với Oshima – nhân viên thư viện – vốn

là một người giới tính không rõ ràng, bị bệnh máu không đông nhưng rất thực tế, sâu sắc, am tường nhiều lĩnh vực Cậu cũng gặp Miss Saeki – phụ trách thư viện –

52 tuổi, quyến rũ, sang trọng và bí ẩn Kafka lại quay cuồng trong câu hỏi, liệu Miss Saeki có phải là mẹ mình không Cậu được biết hôm cậu tỉnh dậy với chiếc áo đẫm máu cũng chính là hôm cha cậu bị giết Cậu đã ngủ với Miss Saeki ở thư viện và ngủ với Sakura trong mơ Kafka hoang mang cực độ Liệu có phải lời nguyền đã ứng nghiệm?

Cùng chạy song hành với câu chuyện của Kafka là hành trình của Nakata – ông già thiểu năng trí tuệ Sau một vụ bất tỉnh tập thể kỳ lạ hồi tiểu học, Nakata mất khả năng đọc và viết, trở thành một người “không thông minh sáng láng gì”, sống bằng trợ cấp, đi lại bằng thẻ xe bus miễn phí dành cho người khuyết tật Nhưng bù lại, ông có khả năng nói chuyện với mèo (trên thực tế, Nakata kiếm sống bằng nghề

Trang 31

tìm mèo lạc) và làm các thứ từ trên trời rơi xuống Trong một lần đi tìm con mèo mai rùa một tuổi Goma, Nakata đụng phải Johnnie Walker – kẻ tiêu diệt mèo Để cứu Goma và Mimi, Nakata buộc phải giết Johnnie rồi bỏ đi thật xa sau khi đã làm nên một trận mưa cá, mưa đỉa Ông quá giang nhiều người và cuối cùng được tay lái

xe tải tốt bụng Hoshino đưa đến Shikoku Hành trình của Nakata giống hệt Kafka, cùng đến Takamatsu và thư viện nhỏ ấy Cuối cùng, con đường hai người đi cũng giao nhau “trên cả bình diện thực tại và siêu hình” Thật bất ngờ khi một người như Nakata lại là người nắm giữ chìa khóa hóa giải toàn bộ câu chuyện, đưa các nhân vật về đúng vị trí của mình

Khi nói về Kafka bên bờ biển, nhiều người cho rằng đó là sự nối tiếp của Murakami ở Biên niên ký chim vặn dây cót Cũng cùng cách viết mơ hồ, khó lý giải như nhiều tác phẩm của ông, đặc biệt là ở Biên niên ký chim vặn dây cót, Kafka bên

bờ biển tràn ngập những chi tiết kỳ lạ, những hình ảnh siêu thực, ẩn dụ, tượng

trưng: trận hôn mê tập thể, mưa cá, mưa đỉa, khu rừng “bên rìa thế giới”, cô gái điếm trích dẫn Hegel, Bergson, những người lính thoát khỏi cuộc chiến tranh… khiến người đọc như lạc vào một mê cung chữ nghĩa phức tạp, khó hiểu Có thể nói, tiểu thuyết này được cấu trúc bởi tầng tầng lớp lớp hình ảnh, rất khó nắm bắt Tất cả đan cài, hòa quyện vào nhau, cùng quy tụ ở một nơi để làm nổi bật ý nghĩa của tác phẩm

Cũng tiếp nối mạch thành công của các tác phẩm trước, Kafka bên bờ biển

nhận được sự chào đón nồng nhiệt của bạn đọc xa gần Rất nhiều nhà văn, nhà phê bình không hề tiết kiệm lời khen hay giấu diếm sự thán phục với Murakami và cuốn tiểu thuyết này của ông “Văn Murakami chẳng mấy khi ở dưới mức mê đắm cả, và

tôi đã ngấu nghiến Kafka bên bờ biển một lèo không nghỉ… Với những ai yêu một

tự sự lớn, cuốn tiểu thuyết này thực sự huy hoàng” (David Mitchell), “Kafka bên bờ

biển có thừa huyền bí để làm những người hâm mộ sung sướng, và sẽ chiêu mộ

thêm cả những người mới (Matt Thorne), “Chưa bao giờ tôi gặp một cuốn sách thuyết phục được mình đến thế bởi sự sáng tạo trong trần thuật và sự yêu thích kể chuyện… hấp dẫn vô cùng” (Stuart Jeffries)… Giải mã sự thành công của

Trang 32

Murakami, ta có thể thấy một trong nhưng nguyên nhân tạo nên sức hút của Kafka

bên bờ biển chính là biệt tài trộn lẫn các yếu tố của tác giả, mà như Dương Tường

gọi là “lẩu thập cẩm và Scheherazade”: “Kafka bên bờ biển có đủ thứ - siêu thực,

hiện thực kỳ ảo, bi kịch Hy Lạp, uy – mua, suspense, ảo giác, chiêm bao, những leitmotiv về định mệnh, bóng ma của Thế chiến II… Những triết luận về văn học, phân tâm học, âm nhạc học Mưa cá Mưa đỉa Cả một cô gái điếm trích dẫn Bergson Nói bằng thuật ngữ “chưởng” thì Murakami tung ra hơi nhiều chiêu thức… Với cái tài kể chuyện của một nàng Scheherazade, Murakami đã tạo nên một page turner theo đúng nghĩa một cuốn sách hấp dẫn đến độ đã cầm lên là phải đọc gấp đến trang cuối không rời tay” Như vậy, những kiến thức thu nhặt từ nhiều lĩnh vực được lồng ghép với nhau trong một cấu trúc truyện chặt chẽ, được kể bằng một giọng văn mới mẻ, trung lập chính là một trong những yếu tố tạo nên sức hút cho tiểu thuyết này Đồng thời, khả năng làm việc tập trung và nghiêm túc (ông viết

Kafka bên bờ biển trong vòng 6 tháng và sửa bản thảo trong 1 năm) đã giúp

Murakami tạo nên một tác phẩm “huy hoàng”

Tuy nhiên, phải nói thêm rằng, Kafka bên bờ biển cũng nhận được không ít

những phản hồi tiêu cực (giống như Murakami cũng bị không – đón – nhận) Một

số ý kiến cho rằng Kafka bên bờ biển thể hiện sự “bần cùng hóa nền văn học Nhật

Bản”, nhất là ở phương diện ngôn ngữ cũng như Murakami đã đưa vào đó nhiều

yếu tố “Tây học” Nhưng bất kỳ ai khi đọc Kafka bên bờ biển cũng cảm nhận được

không khí mờ ảo, hư vô, như thực như mơ của nó Người đọc như bị cuốn vào cuộc hành trình bí ẩn của Nakata, cuộc đấu tranh vật lộn với định mệnh của Kafka, bản nhạc nhẹ nhàng, sâu lắng nhưng trừu tượng, siêu thực của Miss Saeki,…Người đọc cũng không khỏi day dứt về bản ngã, về cuộc sống, về con người, về hiện tại, quá khứ, tương lai, về nỗi cô đơn đến bất lực, sự tuyệt vọng đến hoang mang hay định mệnh đến nghiệt ngã… Tất cả những điều đó chờ đợi bạn đọc đến để khám phá, để cảm nhận vẻ đẹp của “cuốn tiểu thuyết khác thường và mê hoặc nhất cho tới nay của thần tượng văn chương Nhật Haruki Murakami” (Vintage) và để nó trở thành

“ám ảnh siêu hình dai dẳng” (John Updike) trong trái tim mỗi người

Trang 33

CHƯƠNG II: KAFKA BÊN BỜ BIỂN - HẬU HIỆN ĐẠI TRONG

CÁCH NHÌN CON NGƯỜI VÀ XÃ HỘI 2.1 Hậu hiện đại trong cách nhìn về con người

2.1.1 Thế giới nhân vật khác thường và sự mờ hóa nhân vật

Có thể nói, xây dựng nhân vật là công việc cốt tử của nhà văn Nhân vật sẽ

có chức năng như điểm trung gian, để từ đó truyền đi những tín hiệu ý nghĩa từ nhà

văn tới bạn đọc Nói cách khác, nhà văn nói qua nhân vật và người đọc hiểu từ nhân

vật GS Hà Minh Đức đã khẳng định tầm quan trọng của việc xây dựng nhân vật

trong tác phẩm văn học trong cuốn Lý luận văn học: “Văn học không thể thiếu nhân

vật, vì đó chính là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng (…) Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời sống trong một thời kỳ lịch sử nhất định” [5, tr.126]

Ý thức được điều đó nên các nhà văn đã không tiếc công sức tìm tòi, xây dựng những nhân vật phù hợp nhất, hoàn hảo nhất để giúp mình truyền tải thông điệp văn chương Các nhà văn hậu hiện đại cũng chủ tâm xây dựng những nhân vật tối ưu cho mình Nhưng khác với những nhà văn hiện đại, khác với kiểu tiểu thuyết Bildungsroman, nhân vật trong tác phẩm hậu hiện đại không được xây dựng một cách chi tiết, tỉ mỉ theo kiểu khắc họa cũng không được miêu tả theo trình tự thời gian Các nhân vật hậu hiện đại không được trực diện miêu tả, mà chỉ như những nét phác họa từ ngoại hình đến tính cách Thậm chí, đôi khi các nhân vật còn không

rõ ràng về nguồn gốc Họ mơ hồ trong quá khứ và không tương lai

Các nhân vật trong tiểu thuyết của Haruki Murakami cũng mơ hồ như vậy Ngay cả với Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời – cuốn tiểu thuyết có màn mở

đầu không thể cổ điển hơn – cũng chất chứa biết bao bí ẩn Miêu tả về ba giai đoạn của cuộc đời Hajime hết sức rõ ràng, nhưng lại khiến người đọc nảy sinh biết bao câu hỏi Điều gì là điều mà Hajime thực sự kiếm tìm? Tương lai sẽ ra sao, nếu Hajime không thoát khỏi cái bóng ám ảnh kia? Shimamoto – san rốt cuộc là ai?

Kafka bên bờ biển cũng khiến người đọc hoang mang bởi thế giới nhân vật khác

thường và bí ẩn như vậy

Trang 34

Kafka – nhân vật khá rõ ràng về nguồn gốc xuất thân: là con của điêu khắc gia cực kỳ nổi tiếng Koichi Tamura, mười lăm tuổi, học tại trường trung học tư thục

và sống ở quận Nakano thuộc Tokyo – nhưng đồng thời cũng lại là nhân vật bí ẩn Ngay cái tên Kafka cũng chỉ là tên giả Cậu lấy theo tiếng Tiệp (“kafka” có nghĩa là

“quạ”), bởi cậu luôn tâm niệm mình là quạ lạc đàn, cần phải thật khỏe mạnh và kiên cường, cho dù luôn là “quạ cô đơn” Gia thế của cậu cũng có nhiều uẩn khúc Mẹ cậu bỏ đi mang theo chị gái, cậu không nhớ mặt mẹ, không có bất cứ ký ức gì Ngay

cả tên của mẹ cậu cũng không biết Ngay cả huyết thống họ hàng cũng chỉ là một vùng trống huơ trống hoác:

“Ông bà nội em mất lâu rồi và cha em chẳng có anh, chị, em hay cô, dì, chú, bác gì cả Không một ai Em không thật chắc chắn lắm, nhưng em biết cha em không bao giờ dây dưa với họ hàng Và em cũng không bao giờ nghe nói gì về họ hàng bà con về phía bên mẹ em Em muốn nói thậm chí em còn không biết tên tục của mẹ em nữa kia, cho nên làm sao em biết được về họ hàng của bả?

“Nghe như thể cha cậu là người ngoài trái đất ấy,” Sakura nói “Như thể ông ấy từ một hành tinh xa lắc nào đến, đội lốt người, cuỗm lấy một phụ nữa của Trái Đất, rồi sinh ra cậu để nối dõi tông đường Rồi mẹ cậu phát hiện ra, hoảng sợ

và bỏ trốn Như trong một bộ phim khoa học viễn tưởng đen” [16, tr.103]

Ngoại hình của Kafka cũng chỉ được phác họa đôi nét, khi cậu miêu tả chính mình: “Mắt tôi trong gương nom lạnh như mắt thằn lằn, thần thái trân trân không ai đọc nổi” [16, tr.13] hay qua nhận xét của Oshima: “Cậu có một thân hình đẹp, lực lưỡng Bất luận cậu thừa kế nó từ ai, cậu vẫn thuộc loại đẹp trai Ờ, nói cho chính xác, cậu hơi quá riêng biệt để có thể gọi là đẹp trai theo nghĩa thông thường Nhưng cậu không hề khó coi Ít nhất, cũng bắt mắt mình Cậu thông minh, nhanh nhẹn” [16, tr.303] Thân thế đã vậy, cậu còn là người rất khác thường so với lứa tuổi mười lăm của mình “So với tuổi mười lăm, cháu quả là rất biết lẽ đúng sai” [16, tr 282] Sớm chịu những mất mát tinh thần từ thuở ấu thơ, cậu trưởng thành, chững chạc hơn rất nhiều so với lứa tuổi Gánh chịu lời nguyền tàn nhẫn, trong cậu luôn có nỗi

sợ hãi và hoang mang đến cực độ “Với một trang thiếu niên mười lăm tuổi thậm chí chưa cần đến dao cạo râu, hành trang cậu mang theo quả là nặng nề” [16, tr

Trang 35

280] Dường như cậu đã trải qua muôn ngàn đau khổ của kiếp người, trôi dạt trong

vạn bể bất hạnh và về đây, tái tạo lại dưới hình dạng cậu bé mười lăm tuổi kín đáo,

luôn tràn ngập ưu tư về cuộc đời

Người giúp đỡ Kafka rất nhiều trong cuộc hành trình tìm lại bản thân mình là

Oshima Người thanh niên ấy nắm giữ một vai trò đặc biệt trong cuộc sống của

Kafka những ngày xa nhà Không chỉ giúp Kafka có được nơi trú ẩn an toàn theo cả

nghĩa vật chất và tinh thần, Oshima còn là người cảm thông và chia sẻ với Kafka

những cảm giác, ý nghĩ mơ hồ, giúp cậu lý giải phần nào những rối rắm trong lòng

cậu Nhưng xét trên phương diện thể chất, Oshima là một người khác thường Nhìn

bề ngoài, Oshima là chàng thanh niên “xinh xắn, chứ không điển trai, nếu muốn nói

cho chính xác” [16, tr.43], “dong dỏng cao, mặc áo sơ mi trắng, đeo cặp kính nhỏ,

ngồi sau quầy Một mớ tóc dài mảnh rủ xuống trán Thuộc loại có thể thấy trong

những phim đen trắng của Truffaut” [16, tr 425] Nhưng thực chất, Oshima là nữ

giới Xét trên phương diện giới tính thì Oshima đúng là khá phức tạp và bất thường:

“Thân thể tôi là đàn bà, nhưng tinh thần tôi thì hoàn toàn là đàn ông (…) Nhưng tôi

không phải là một người nữ đồng giới tình dục, mặc dù tôi ăn mặc thế này Sở thích

tình dục của tôi là với đàn ông Nói cách khác, tôi là nữ, nhưng lại là nam trong

hành xử đồng giới tình dục Tôi hoạt động tình dục qua hậu môn và không bao giờ

dùng âm hộ để làm tình Âm vật của tôi nhạy cảm, nhưng vú tôi lại vô cảm Tôi

không hành kinh” [16, tr.204 – 205] Có lẽ chính bởi sự trung hòa của cả hai giới

trong con người mình nên Oshima có cả sự cả quyết, cứng rắn lẫn sự mềm mại, nhu

hòa Có thể nói một cách hình tượng rằng Oshima giống như một dòng suối, trung

hòa tất cả những bão giông trong cuộc hành trình khó khăn của Kafka

Ông lão Nakata cũng được phác họa vài nét sơ sài về ngoại hình Đầu húi

cua, tóc muối tiêu, ông luôn tươi cười, ăn mặc gọn gàng, mặt mày dễ coi và đôi mắt

đặc biệt sáng Hành trang của ông gồm chiếc túi vải bố, cái mũ bạc phếch phong

trần, cái ô to đùng và phích luôn đầy trà nóng Cuộc đời của ông được kể chăm chút

hơn, thông qua một đoạn tự thoại Nhưng chính từ cuộc đời này, nhiều cái rễ của sự

kỳ lạ được bắt ra Cái tai nạn hy hữu xảy ra ở Đồi Bát Cơm mà đến nay người ta

Trang 36

cũng không lý giải được đã biến cậu bé Nakata thông minh, nhanh nhẹn, học giỏi và ngoan ngoãn thành một người “không thông minh sáng láng gì, cũng không thạo giải thích dài dòng” Lão đã từng chết ba tuần liền, và dường như lão đã để lại bên kia thế giới một nửa con người và cả khả năng đọc, viết Cái bóng của lão thu gọn lại chỉ còn một nửa nên nó nhẹ và nhạt hơn bóng của người khác Lão có khả năng làm cho các thứ từ trên trời rơi xuống, tạo thành các trận mưa đá, mưa đỉa, đoán được cái hiện tượng tự nhiên và tuyệt nhất là biết nói chuyện với mèo Tất cả những khả năng ấy của ông dường như đều được bắt nguồn từ vụ tai nạn kỳ bí kia Một năng lực siêu nhiên nào đó đã đặc biệt ưu ái ông nhưng đồng thời cũng lấy đi những

kỹ năng cũng như cách tư duy của người bình thường Nakata có thể là một “quái kiệt” theo cách nhìn nhận của Hagita, cũng có thể là “ông già kỳ quặc” với Hoshino, hoặc là chìa khóa hóa giải toàn bộ câu chuyện phức tạp Cũng có thể ông là tất cả những vị trí đó và là nhân vật kỳ lạ nhất của toàn tiểu thuyết Những hành động, lời nói của ông không có bất cứ cơ sở vững chắc nào, nếu ông chưa thấy một sự việc/sự vật nào đó thì ông chưa biết làm gì tiếp theo, hay nói cách khác, ông tìm kiếm mà không dự định trước kế hoạch Mặc dù vậy nhưng ở ông lại có sức thuyết phục đến

kỳ lạ, khiến biết bao người giúp đỡ ông trên đường đi, khiến Hoshino bỏ cả công việc để theo ông trong cuộc hành trình dài, khiến Miss Saeki vừa nhìn thấy ông đã cảm thấy thân thiết Bất luận thế nào đi nữa, Nakata vẫn là ông già lạ kỳ nhất và những hành động của ông luôn dẫn người đọc tới những ngạc nhiên và bất ngờ

Nhưng nhân vật bí ẩn nhất của Kafka bên bờ biển có lẽ là Miss Saeki Không

thể phủ nhận bà là người phụ nữ đẹp: “Đó là một phụ nữ mảnh dẻ (…) tư thế rất đàng hoàng Tóc dài buộc lỏng sau gáy, mặt rất tao nhã và thông minh với đôi mắt đẹp và nụ cười luôn thấp thoáng trên môi Tôi không biết diễn tả như thế nào, nhưng quả là nụ cười ấy tạo nên một cảm giác hoàn hảo, nó khiến tôi nghĩ đến một đốm nắng tươi, một đốm nắng đặc biệt chỉ có thể bắt gặp ở một nơi biệt lập” [16, tr.47], “Lưng rất thẳng, dáng đi quyền quý (…) Không một chút phô trương, tất cả toát lên một vẻ tao nhã, tinh tế cao độ” [16, tr.432] Vẻ đẹp của bà được cảm nhận qua cái nhìn của Kafka, của Hoshino, còn cuộc đời bà được hé lộ qua lời kể của

Trang 37

Oshima Cuộc đời nhiều biến cố, mất mát và nỗi đau Ngay cả khi bà đã trở về và làm việc lâu dài cho Thư viện tưởng niệm Komura thì bà vẫn là một ẩn số Bà sống

ra sao? Bà đã đi những đâu, gặp những ai, trải qua những gì, vượt lên nỗi đau ra sao? Tất cả đều không được giải thích cặn kẽ Bà đột ngột biến mất rồi đột ngột trở

về Cuộc sống của người phụ nữ xinh đẹp độc thân lại càng trở nên quyến rũ hơn bởi lớp màn bí ẩn Không giống như Kafka với những đoạn độc thoại khiến người đọc có thể hiểu được suy nghĩ của cậu, người ta hoàn toàn không nắm bắt được điều

gì đang diễn tiến trong tâm trí Miss Saeki Bà nghĩ gì khi quay trở lại? Bà mong muốn gì? Tại sao bà lại quyết định ngủ với Kafka? Liệu bà có phải là mẹ của cậu bé? Tất cả những câu hỏi bỏ ngỏ ấy càng khiến cho nhân vật Saeki trở nên lôi cuốn, hấp dẫn người đọc

Ngoài các nhân vật kể trên, Kafka bên bờ biển còn hiện hữu thêm những

bóng dáng nhân vật khác thường nữa Chẳng hạn Johnnie Walker – kẻ diệt mèo – là một người “rất cao, y đội một cái mũ cao thành kỳ dị và đi ủng da, bước rất nhanh” [16, tr.95] Hay lão Đại tá Sanders – hiện thân của “khái niệm” – một tay dắt gái đường phố, xuất hiện và hỗ trợ Nakata cũng như Hoshino kịp thời… Những nhân

vật ấy đã góp phần tạo nên thế giới nhân vật phong phú cho Kafka bên bờ biển

Không chuyên chú mô tả ngoại hình hay đời sống nhân vật, Haruki Murakami đã để cho bạn đọc tự nắm bắt những thông tin ấy Người ta có thể lượm lặt một chút về nhân vật này, một chút về nhân vật kia thông qua các đoạn hội thoại Trái ngược với cách xây dựng nhân vật truyền thống – người đọc không cần đòi hỏi

mà mọi thông tin đều được phơi bày trước mắt, việc tao dựng nhân vật theo cách này khiến người đọc không thể thờ ơ, cũng không thể đoán trước trình tự của câu chuyện Và mỗi nhân vật trở thành một bí mật, một cánh cửa cần được mở ra và

khám phá, để chiêm nghiệm ý nghĩa thật sự của thiên tiểu thuyết độc đáo này

2.1.2 Cái tôi cô đơn, băn khoăn về sự tồn tại của bản thân

Có thể nói, điểm nổi bật và dễ nhận thấy trong các sáng tác của Haruki

Murakami là nỗi cô đơn Nó trải dài trong nhiều tác phẩm của ông, từ Rừng Na –

uy, Xứ sở kỳ diệu vô tình và nơi tận cũng thế giới, Phía Nam biên giới, phía Tây mặt

Trang 38

trời, Người tình Sputnik cho đến Kafka bên bờ biển Nó ám ảnh các nhân vật của

ông, từ Toru Wantanabe, Naoko, Hajime, Sumire, Miu cho đến Kafka, Miss Saeki

Không phải ngẫu nhiên mà nhân vật của ông trong Xứ sở kỳ diệu vô tình và nơi tận

cùng thế giới thổ lộ: “Hai người có thể nằm cạnh nhau nhưng nhắm mắt lại thì vẫn

cứ cô đơn” Không phải ngẫu nhiên mà Hajime khẳng định: “Sớm hay muộn, tất cả mọi người đều sẽ rơi vào sự cô độc vô tận nơi im lặng đã đánh mất mọi âm thanh, ở giữa bóng tối đó” [14, tr.251] Và cũng không phải ngẫu nhiên mà Miu biến thành

“một cái vỏ rỗng” Sự cô độc dường như đã là một “cơ chế được gá sẵn” trong bản thân các nhân vật do Murakami sáng tạo nên Họ mang sẵn nỗi cô đơn trong bản chất, trong tiềm thức, trong đáy tâm hồn Ngay khi họ vui sướng, thành công, đủ đầy khát vọng, tận hưởng vẫn thấp thoáng nỗi cô đơn bàng bạc của kiếp người Đọc những tác phẩm của Haruki Murakami, ta luôn tự hỏi: họ (các nhân vật) mang trái tim thương tổn đến mức nào mà luôn cô độc như vậy? Hay chính nỗi cô đơn mới là bản chất của các nhân vật ấy? Có lẽ nào Murakami xây dựng các tình tiết, vẽ nên các chi tiết, hình thành các hành động, tính cách cũng chính là để tô đậm nỗi sự đơn độc ấy mà thôi?

Kafka bên bờ biển cũng mang nặng một nỗi niềm cô đơn như vậy Cô giáo

Setsuko Okamochi khi kể về vụ tai nạn bí ẩn trên Đồi Bát Cơm cho cảnh sát nghe cũng đã bày tỏ: “Tôi cảm thấy hết sức cô đơn, như thể mình là người cuối cùng còn sống trên Trái Đất Tôi không thể mô tả cảm giác cô đơn tuyệt đối đó Tôi chỉ muốn tan biến trong thinh không và thôi nghĩ về bất cứ cái gì nữa hết” [16, tr.23] Trong bức thư gửi giáo sư Shigenori Tsukayama cô giáo này cũng nhắc lại đại ý một kết luận của giáo sư: “”Mỗi chúng ta, với tư cách là một cá nhân, là cực kỳ đơn độc, đồng thời chúng ta lại được liên kết bởi một ký ức có tính chất nguyên mẫu” [16, tr.110 – 111] Và nỗi cô đơn ấy được khắc họa đậm nét trong nhân vật chính của tiểu thuyết – cậu bé Kafka Tamura

Ngay khi mới chỉ là một cậu nhóc, Kafka đã ý thức rõ ràng nỗi cô đơn của mình Không có mẹ, không có chị gái bên cạnh, cậu sống một mình bên người cha lạnh lùng và kỳ lạ, do vậy ngày càng thu mình trong vỏ ốc của nỗi đơn côi Cậu đã

Trang 39

âm thầm chuẩn bị rất lâu cho cuộc trốn thoát khỏi căn nhà địa ngục đó, chạy trốn khỏi lời nguyền kinh hoàng mà cha đã giáng xuống cậu Nỗi cô đơn toát lên từ cung cách sinh hoạt của cậu Kafka tự lập trong các hoạt động, trong cuộc sống thường ngày, tự lo cho mình những vấn đề nhỏ nhất Cậu tập tạ với máy tập, tập bơi lội – những môn thể thao không đòi hỏi sự phối hợp, những môn thể thao của đơn côi Ở lớp, cậu không có bạn bè Không bao giờ cười, không giao du với ai cũng không tham gia bất cứ hoạt động nào Bằng mọi cách, cậu in dấu ấn của mình mờ nhạt nhất có thể lên những người mà hàng ngày cậu tiếp xúc Không một ai dám gần gũi cậu Bức tường vô hình ấy cứ cao dày lên mãi, khoanh lấy vùng ốc đảo của riêng Kafka Chua chát thay, sự xa cách và lạnh lùng trong mối quan hệ của cha con họ ngày một rõ nét, như một mũi dao dị hình xuyên thẳng vào tim Kafka Cho đến cái ngày định mệnh ấy – sinh nhật lần thứ 15, cậu bỏ nhà đi thì chính cậu cũng không thể nắm chắc được cha cậu có quan tâm, có đi tìm cậu hay không “Liệu ông cảm thấy thế nào khi phát hiện ra tôi đột nhiên biến mất? Nhẹ nhõm chăng? Bối rối? Hoặc thậm chí là chẳng cảm thấy gì cả Tôi dám cược là ông thậm chí chưa nhận thấy sự vắng mặt của tôi nữa kia” [16, tr.53] Bỏ nhà ra đi là một cuộc hành trình vất vả và gian nan Trong suốt cuộc hành trình ấy, Kafka bối rối cùng cực với hàng trăm sự việc kỳ lạ: cậu không biết có phải mình đã giết cha hay không, Miss Saeki

có phải là mẹ cậu hay Sakura có lẽ nào là người chị gái cậu vẫn tìm kiếm? Cậu phải đấu tranh giữa tình yêu với Miss Saeki 15 tuổi và tĩnh mẫu tử với Mis Saeki ngoài năm mươi Cậu cũng không thể từ chối mối quan hệ xác thịt với người phụ nữ ấy cũng như nỗi khao khát đến cháy bỏng với Sakura Trong tất cả những hỗn độn, hoang mang ấy, Kafka chỉ có một mình, hoặc nếu có người lý giải, có người cảm thông thì cũng không giúp cậu thỏa mãn hoàn toàn Vẫn là trạng thái “Mày hoang mang hoàn toàn rồi” [16, tr.456] Cậu gần như kiệt quệ trong chuỗi ngày ấy, trong

sự vò xé ấy, sự cô đơn cùng cực ấy: “Tôi tì hai tay lên thành bồn rửa mặt, ngả người

về phía trước, áp đầu vào gương Tôi cảm thấy muốn khóc, nhưng cho dù tôi có khóc, cũng chẳng có ai đến cứu tôi Chẳng có ai ” [16, tr.83]

Trang 40

Điều đáng nói nhất là chúng ta đều tưởng Kafka cô đơn vì bị vậy bủa trong lời nguyền, trong ngôi nhà lạnh lẽo, nhưng kì thực, khi cậu chạy trốn, cậu cũng không thoát khỏi lời nguyền và cũng không thoát khỏi cô đơn Thậm chí, nỗi cô đơn còn thấm ngược lại, sâu hơn bao giờ hết, nhiều khi tưởng thành hình thành khối, có thể nắm bắt được rõ ràng Cậu cô đơn mọi lúc mọi nơi Khi nhìn thấy lũ học sinh đi học, Kafka “cảm thấy không khí như loãng ra và một cái gì đè nặng lên ngực Tôi

có thực sự hành động đúng không? Ý nghĩ đó khiến tôi cảm thấy đơn côi Tôi quay lưng lại phía bọn học sinh và ráng không nhìn chúng nữa” [16, tr.42] Khi ngồi đợi tàu hỏa, nỗi cô đơn cũng không buông tha cậu: “Ga đông nghịt người nườm nượp ra vào tất cả đều mặc những bộ quần áo ưa thích, tay xách túi hoặc va li, mỗi người đều tất tả lo toan một công việc khẩn cấp nào đó Tôi nhìn đám đông, không ngừng hối hả ấy và tưởng tượng đến một trăm năm về sau Một trăm năm nữa, tất cả mọi người ở đây, kể cả tôi, sẽ biến khỏi mặt đất và biến thành tro bụi Với ý nghĩa kỳ cục ấy, mọi thứ trước mắt tôi dường như tựa nên hư ảo, tựa hồ một ngọn gió có thể

cuốn hết đi” [16, tr.66] Ý nghĩ ấy rất gần gũi với Nguyễn Huy Thiệp trong Những

người thợ xẻ: “Bạt ngàn hoa ban trắng bên đường, màu trắng đến là khắc khoải, nao

lòng Này hoa ban, một nghìn năm sau thì mày có trắng thế không?” Sự chênh vênh giữa quá khứ và hiện tại, sự bấp bênh và mơ hồ khi nghĩ đến tương lai khiến Kafka hoài nghi cả sự tồn tại của bản thân Ngay cả khi cậu tưởng mình tự do nhất: cách

xa Tokyo hàng trăm cây số, không tới trường, không bạn bè, họ hàng thân thích hay người quen biết, không có người cha lãnh đạm luôn nhìn con bằng đôi mắt thù hằn… thì chính cậu lại bâng khuâng, không hiểu được thực tế những việc đang diễn ra: “Tôi nhắm mắt lại và cố suy nghĩ thật sâu, thật kỹ xem mình tự do đến mức nào, nhưng không sao nắm được đầy đủ ý nghĩa của điều đó Tôi chỉ biết là mình hoàn toàn trơ trọi Hoàn toàn một mình ở một nơi xa lạ, như một nhà thám hiểm đơn độc vừa mất cả la bàn lẫn bản đồ Phải chăng tự do có nghĩa là thế” [16, tr.52] Cậu mơ

hồ trong thực tại và nỗi sợ hãi trở nên thường trực: “Trong khi tôi ngồi đó, dưới trời đêm lung linh, một nỗi sợ mãnh liệt lại xâm chiếm tôi Tim tôi đập với tốc độ một dặm/phút và tôi hầu như không thở được (…) Đột nhiên tôi cảm thấy đơn côi, hoàn

Ngày đăng: 08/05/2021, 20:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Tuấn Ảnh, Lại Nguyên Ân (biên soạn) (2003), Văn học hậu hiện đại những vấn đề lý thuyết, NXB Hội nhà văn và Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại những vấn đề lý thuyết
Tác giả: Đào Tuấn Ảnh, Lại Nguyên Ân (biên soạn)
Nhà XB: NXB Hội nhà văn và Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2003
2. Lê Huy Bắc (2003), Truyện ngắn hậu hiện đại thế giới, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn hậu hiện đại thế giới
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2003
3. Lê Huy Bắc (2004), Truyện ngắn: lý luận, tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn: lý luận, tác gia và tác phẩm
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
4. Nhật Chiêu, V.Bảy (2006), “Murakami – vượt qua giải Nobel”, Tuổi trẻ cuối tuần, số 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Murakami – vượt qua giải Nobel”, "Tuổi trẻ cuối tuần
Tác giả: Nhật Chiêu, V.Bảy
Năm: 2006
5. Hà Minh Đức (chủ biên) (2006), Lý luận văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
6. Nguyễn Ngọc Hà (2009), “Kafka bên bờ biển, những dấu hiệu của tiểu thuyết hậu hiện đại”, Bản tin ĐHQGHN, số 218 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kafka bên bờ biển, những dấu hiệu của tiểu thuyết hậu hiện đại”, "Bản tin ĐHQGHN
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hà
Năm: 2009
7. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2009), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
8. Nguyễn Tuấn Khanh (biên soạn và giới thiệu) (2011), Những cây bút kiệt xuất trong văn học Nhật Bản hiện đại, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cây bút kiệt xuất trong văn học Nhật Bản hiện đại
Tác giả: Nguyễn Tuấn Khanh (biên soạn và giới thiệu)
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2011
9. Cao Kim Lan (2008), “Lịch sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và dấu vết hệ hình thi pháp Hậu hiện đại”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và dấu vết hệ hình thi pháp Hậu hiện đại”, Tạp chí "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Cao Kim Lan
Năm: 2008
10. Phương Lựu (2010), “Bước đầu tìm hiểu thi pháp hậu hiện đại”, Tạp chí Nhà văn, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu thi pháp hậu hiện đại”, Tạp chí "Nhà văn
Tác giả: Phương Lựu
Năm: 2010
11. Phương Lựu (2011), Lý thuyết văn học hậu hiện đại, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết văn học hậu hiện đại
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2011
12. Jean – Francois Lyotard (2007), Hoàn cảnh hậu hiện đại , NXB Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn cảnh hậu hiện đại
Tác giả: Jean – Francois Lyotard
Nhà XB: NXB Tri thức
Năm: 2007
13. Haruki Murakami (2007), Người ti – viá NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người ti – viá
Tác giả: Haruki Murakami
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2007
14. Haruki Murakami (2007), Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời
Tác giả: Haruki Murakami
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2007
15. Haruki Murakami (2008), Rừng na – uy, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rừng na – uy
Tác giả: Haruki Murakami
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2008
16. Haruki Murakami (2011), Kafka bên bờ biển, NXB Văn học. Các website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kafka bên bờ biển
Tác giả: Haruki Murakami
Nhà XB: NXB Văn học. Các website
Năm: 2011
17.Đào Tuấn Ảnh, Những yếu tố hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam qua so sánh với văn xuôi Nga, www.vienvanhoc.org.vn – trang web của Viện Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yếu tố hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam qua so sánh với văn xuôi Nga
18. Lê Huy Bắc, Khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại và truyện ngắn hậu hiện đại , www.vanhocnghethuatphutho.org.vn – trang web của Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại và truyện ngắn hậu hiện đại
19. Nhật Chiêu, Thiền và hậu hiện đại, www.hauhiendai.ms24h.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiền và hậu hiện đại
20. Chu Xuân Diên, Để góp phần nghiên cứu huyền thoại và thi pháp huyền thoại trong sáng tác văn học, www.khoavanhoc-ngonngu.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để góp phần nghiên cứu huyền thoại và thi pháp huyền thoại trong sáng tác văn học

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w