Đặc biệt, trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi đã khai thác nguồn tài liệu lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ quốc gia II về chế độ Việt Nam Cộng hòa trên các mặt: quân sự, kinh tế, chí
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1
3 Mục đích nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 3
6 Đóng góp của đề tài 3
7 Bố cục đề tài 3
NỘI DUNG Chương 1: NỀN ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HÒA (1965-1975) 1.1 Sự ra đời của nền Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa 4
1.1.1 Hoàn cảnh ra đời 4
1.1.2 Sự thành lập nền Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa 10
1.1.2.1 Vài nét về Nguyễn Văn Thiệu 10
1.1.2.2 Sự thành lập chính quyền Nguyễn Văn Thiệu 12
1.1.2.3 Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa năm 1967 14
1.2 Bộ máy nhà nước Việt Nam Cộng hòa (1967 – 1975) 16
1.2.1 Cơ quan Lập pháp 16
1.2.2 Cơ quan Hành pháp 17
1.2.3 Cơ quan Tư pháp 20
1.3 Bản chất của nền Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa 22
1.3.1 Chính quyền tay sai của đế quốc Mĩ 22
1.3.2 Chính quyền quân sự khoác áo dân sự 27
Chương 2: SỰ SỤP ĐỔ CỦA NỀN ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HÒA 2.1 Sự khủng hoảng của nền Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa 31
2.1.1 Phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam 31
2.1.2 Khủng khoảng từ bên trong chế độ Việt Nam Cộng hòa 38
2.2 Sự sụp đổ của nền Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa 44
2.2.1 Cuộc tổng tiến công chiến lược Xuân 1975 44
2.2.2 Diễn văn từ chức của Nguyễn Văn Thiệu 48
2.2.3 Chế độ Việt Nam Cộng hòa những ngày cuối cùng 50
2.3 Hệ quả của sự sụp đổ nền Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa 53
KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc mở ra thời kì mới trong lịch sử nhân loại - thời hiện đại Thế giới phân thành hai cực Xô - Mĩ theo khuôn khổ hội nghị Ianta nhưng Mĩ mong muốn xây dựng một thế giới do Mĩ làm chủ Can thiệp vào Đông Dương, thay chân Pháp xâm lược Việt Nam sau năm 1954 chính là một bước trong kế hoạch bá chủ thế giới của Mĩ
Khác với các thực dân và đế quốc trước đây, Mĩ dựng lên ở miền Nam Việt Nam một bộ máy chính quyền tay sai để thí nghiệm cho “chủ nghĩa thực dân kiểu Mĩ” Sự tồn tại của nhà nước Việt Nam Cộng hòa là để hợp thức hóa cho hành động xâm lược của Mĩ ở Việt Nam, che đậy mưu đồ chia cắt lâu dài Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự và lập phòng tuyến ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản lan ra khu vực Đông Nam Á
Thực hiện mục đích trên, chế độ “cộng hòa gia đình trị” đứng đầu là Ngô Đình Diệm được Mĩ khai sinh và bảo trợ suốt 9 năm (1956-1963) nhưng khi cần thiết Mĩ vẫn có thể “thay ngựa giữa dòng” và tiếp tục lợi dụng chính quyền Nguyễn Văn Thiệu trong hơn 10 năm sau đó
Nghiên cứu sự ra đời, tồn tại và sụp đổ của nền Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa (1965-1975) giúp làm sáng tỏ bản chất xâm lược của Mĩ ở miền Nam Việt Nam Qua đây chúng ta cũng có thể hiểu rõ hơn về chế độ Sài Gòn thời Nguyễn Văn Thiệu đồng thời nắm được một giai đoạn quan trọng trong diễn trình lịch sử dân tộc
Với ý nghĩa đó và mong muốn được làm quen với công việc nghiên cứu khoa học, biến quá trình đào tạo trong trường đại học thành quá trình tự đào tạo của bản
thân, tôi thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Nền Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa
và sự sụp đổ của nó (1965-1975)”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Liên quan đến đề tài có một số tác phẩm đề cập ở mức độ nhất định: cuốn
Thiệu Kì - Một thời hãnh tiến, một thời suy vong của Lý Nhân (2000), cuốn Cuộc tổng tiến công chiến lược Xuân 1975 và sự cáo chung của của chế độ Sài Gòn của
Trang 4Nguyễn Huy Thục (2005) và Nhà Trắng với cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Trần Trọng Trung (2005), cuốn Về đại thắng mùa xuân năm 1975 qua nguồn tư
liệu của chính quyền Sài Gòn của Cục lưu trữ nhà nước (2010), cuốn Lịch sử Việt Nam 1954-1975 của Nguyễn Đình Lê (2010),
Một số công trình của các tác giả trong và ngoài nước viết về Mĩ với cuộc
chiến tranh tại miền Nam nước ta có thể tham khảo như: cuốn Nước Mĩ từ Rudơven
đến Nixơn (1996) của Perter A Buler, cuốn Những bí mật của cuộc chiến tranh Việt Nam của Philip B Davitson (1995), cuốn Tấm thảm kịch và những bài học về Việt Nam của Robert S.McMacnamara (1995), cuốn Việt Nam cuộc chiến thất bại của
Mĩ của Joe Allen (2009) và cuốn Tại sao Mĩ thua ở Việt Nam của Nguyễn Phúc Đức
(2009), cuốn Cuộc kháng chiến chống Mĩ nhìn từ phía bên kia của Cao Đắc Trung,
Đậu Xuân Luận, Nguyễn Văn Sử (2010)
Đặc biệt, trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi đã khai thác nguồn tài liệu lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ quốc gia II về chế độ Việt Nam Cộng hòa trên các mặt: quân sự, kinh tế, chính trị - xã hội, ngoại giao và văn hóa,… với độ chính xác cao
Ngoài ra chúng tôi cũng đối chiếu một số hồi ký của các tưỡng lĩnh Sài Gòn
trước đây phục vụ cho nghiên cứu đề tài Đó là cuốn Sụp đổ và tự thú (1985) của Trần Mai Hạnh, cuốn Tâm sự tướng lưu vong (1995) của Hoàng Linh Đỗ Mậu, cuốn Đọc hồi kí các tướng tá Sài Gòn (2000) của Mai Nguyễn,…
Những tài liệu kể trên có đề cập tới các khía cạnh khác nhau của đề tài và đây thực sự là những nguồn tài liệu bổ ích giúp chúng tôi trong quá trình nghiên cứu
Trang 5Thực hiện đề tài này chúng tôi còn mong muốn hiểu sâu sắc thêm về cuộc kháng chiến “thần thánh” của dân tộc mình trước đế quốc Mĩ và tay sai
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Nhà nước Việt Nam Cộng hòa 1975)
(1965-Phạm vi nghiên cứu của đề tài là sự thành lập, tổ chức bộ máy nhà nước, sự tồn tại và sụp đổ của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu (1965-1975)
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Tài liệu chúng tôi sưu tầm phục vụ làm khóa luận từ nhiều nguồn: sách, báo, tạp chí,… tại các thư viện, đăng tải trên các trang web điện tử Trong đó những tài liệu lưu trữ về chính quyền Sài Gòn từ Trung tâm lưu trữ Quốc gia II (Thành phố
Hồ Chí Minh) giữ vai trò quan trọng
Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi sử dụng và kết hợp sử dụng nhiều phương pháp: phương pháp logic, phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh, tổng hợp, đánh giá,… để rút ra những kết luận khoa học
6 Đóng góp của đề tài
Nghiên cứu đề tài thuộc lĩnh vực khoa học cơ bản, mong muốn của chúng tôi
là tập hợp các nguồn tư liệu lien quan để làm sáng rõ bản chất của Nhà nước Việt Nam Cộng hòa dưới thời Nguyễn Văn Thiệu
Trong khóa luận của mình chúng tôi có đưa ra những nhận định, đánh giá mang tính khoa học có thể sử dụng làm nguồn tư liệu cho những ai quan tâm tham khảo
7 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung khóa luận gồm hai chương
Chương 1: Nền Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa (1965-1975)
Chương 2: Sự sụp đổ của nền Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa
Trang 6NỘI DUNG Chương 1: NỀN ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HÒA (1965-1975)
1.1 Sự ra đời của nền Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa
1.1.1 Hoàn cảnh ra đời
Cuộc đảo chính ngày 2-11-1963 cùng cái chết của Ngô Đình Diệm đánh dấu
sự sụp của nền “cộng hòa gia đình trị” họ Ngô ở miền Nam Việt Nam sau hơn chín năm tồn tại (1956-1963) Sau đảo chính, chế độ “cộng hòa tay sai” của đế quốc Mĩ
ở miền Nam Việt Nam bước vào thời kì rối loạn với rất nhiều xáo trộn
Cùng ngày đảo chính, Hội đồng Quân sự cách mạng - tổ chức chính trị mới gồm 11 viên tướng do Dương Văn Minh làm Chủ tịch, Trần Văn Đôn và Tôn Thất Đính làm Phó Chủ tịch thành lập và ra Tuyên cáo số 1 nói lên lập trường của bộ ba cầm đầu đảo chính gồm năm điểm:
1 Không chủ trương thiết lập một chế độ độc tài hay một nền dân chủ
“phóng túng” mà là một nền dân chủ trong tinh thần kỷ luật
2 Chính quyền sẽ được giao cho một chính phủ dân cử: giải tán Quốc hội của Diệm; tạm ngừng áp dụng Hiến pháp năm 1956
3 Tiếp tục chiến tranh chống cộng
4 Các chính đảng (không cộng sản) được hoạt động trong khuôn khổ an ninh quốc phòng
5 Đối ngoại: đứng trong quỹ đạo của thế giới tự do; tôn trọng các Hiệp định
mà chính quyền Diệm đã ký với Mĩ
Ngày 4-11-1963, Nguyễn Ngọc Thơ cựu Phó Tổng thống của Diệm được chỉ định làm Thủ tướng nội các “dân sự” gồm 15 bộ trưởng, chịu trách nhiệm trước Hội đồng Quân sự cách mạng và Quốc trưởng Dương Văn Minh
Để kịp thời định hướng cho chính quyền mới ở Sài Gòn, ngày 6-11-1963, Hội nghị bất thường được tổng thống Kennơđi triệu tập ở Hônôlulu, cả Đại sứ Mĩ tại Sài Gòn (Cabốt Lốt) và Bộ trưởng Quốc phòng Mĩ (Mắc Namara) đều có mặt,
thống nhất lập trường tiếp tục tập trung nỗ lực vào vấn đề quân sự Theo đó: “Chiến
tranh là yêu cầu cấp bách nhất Phải nhanh chóng tập hợp mọi lực lượng vào công
Trang 7cuộc chống cộng một cách hữu hiệu hơn, tiếp tục chương trình ấp chiến lược với cái tên nào đó hấp dẫn hơn Chưa vội bầu Quốc hội” [20; 413]
Như vậy là giới lãnh đạo Nhà Trắng vẫn tiếp tục lập trường gây chiến và nuôi dưỡng chính quyền tay sai mới ở Nam Việt Nam Ngày 22-11-1963, Tổng thống Mĩ Giôn Kennơđi bị ám sát Chính quyền mới lập tại Sài Gòn vẫn luôn khẳng định quan điểm là đồng minh của Mĩ, nhưng vị Tổng thống mới của Hoa Kỳ là Giônxơn vẫn e ngại: “tình hình rối ren tồi tệ về chính trị có thể tiếp diễn ở Sài Gòn” Quan chức Mĩ ở Sài Gòn lo lắng “Hội đồng Quân sự cách mạng không thực hiện được sự đoàn kết quốc gia” [20; 424]
Cuộc đảo chính lật đổ Diệm là màn dạo đầu cho hàng loạt cuộc thanh trừng lật đổ trong nội bộ chính quyền Sài Gòn suốt ba năm sau đó (1963-1965) Theo đó, Sài Gòn đã hơn chục lần lên “cơn sốt chính trị” Chính quyền Giônxơn mất kiểm soát, loay hoay nghĩ cách khống chế các “con rối chính trị Sài Gòn” Ngày 30-1-
1964, Mĩ giật dây tướng Nguyễn Khánh lật đổ Minh - Thơ nhằm cải thiện tình hình Tuy nhiên, tình trạng lộn xộn vẫn tiếp diễn với chính quyền mới của “thằng Mĩ con” do những tranh chấp quyết liệt giữa nhóm “tướng trẻ” và “tướng già” để giành quyền lãnh đạo quốc gia Thế chính trị ở sài Gòn được ví như “trứng để đầu đẳng”
Tháng 1-1964, trước sự non yếu của chính quyền tay sai và sự phát triển của phong trào kháng chiến chống Mĩ - ngụy ở Nam Việt Nam, những người cầm đầu Nhà Trắng và Lầu Năm Góc quyết định trực tiếp tham chiến ở Việt Nam thông qua
kế hoạch R.6 Việc Mĩ tấn công quân sự ra miền Bắc Việt Nam với trò bịp “vịnh
Bắc Bộ” là một bước leo thang chiến tranh để rồi “ngã đau” của Mĩ Sự vụ này cũng chính là nguồn gốc của biến cố chính trị ngày 16-8-1964 tại Sài Gòn
Cuộc đảo chính ngày 20-2-1965 (báo chí phương Tây gọi là cuộc đảo chính thứ Mười) đã làm thay đổi cục diện chính trị miền Nam Việt Nam với sự thắng thế của bọn “tướng trẻ” Người Mĩ một lần nữa cho thấy chất “thực dụng” của mình qua việc lật đổ chính quyền Nguyễn Khánh và tiếp tục vung “chiếc gậy đôla” chỉ huy chính quyền của bọn “tướng trẻ” Chính quyền Phan Huy Quát được Tòa Đại sứ Mĩ dựng lên và bảo hộ trong bốn tháng với hy vọng vào một kẻ dễ bảo, “một con ngựa
Trang 8cưỡi được trên chiến trường miền Nam hiểm trở” Nhưng bọn “tướng trẻ” không thỏa mãn vì Phan Huy Quát luôn muốn gạt quân nhân ra khỏi nội các và họ luôn sẵn sàng lật Quát khi có cơ hội
Tình hình chính trường miền Nam Việt Nam kể từ ngày Cabốt Lốt lật Diệm
được thể hiện xác đáng qua nhận định của Đại sứ Taylo: “Lớn hay nhỏ, ồn ào hay
lặng lẽ, mười cuộc đảo chính đã diễn ra Tòa Đại sứ đã trải qua mười ba tháng o bế
“thằng Mĩ con”, những tưởng dựa vào hắn mà làm nên chuyện Nhưng rồi, như một bầy ngựa non khác giống nhốt chung một chuồng, bọn tướng lĩnh Sài Gòn đánh nhau loạn xạ khiến cho Tòa Đại sứ hoa mắt, không sao điều khiển nổi những con rối do chính mình buộc và giật dây” [20; 473]
Cho đến khi chính quyền của Nguyễn Văn Thiệu được xác lập (6-6-1965), Sài Gòn còn kinh qua ba vụ chính biến nữa Như vậy, chính quyền tay sai của Mĩ ở miền Nam Việt Nam đã trải qua 3 năm xáo trộn với những cuộc đấu tranh nội bộ gay gắt và quyết liệt Trong khi đó, lực lượng và phong trào cách mạng miền Nam chống Mĩ và chính quyền Sài Gòn tiếp diễn dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam
Một tuần sau đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm, ngày 7 và 8-11-1963, Ban thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam họp phân tích tình hình và đưa ra tuyên bố của Mặt trận trước chính quyền Sài Gòn
Mặt trận nhận định: “Cuộc đảo chính quân sự ngày 1-11-1963 một mặt nói lên âm mưu nham hiểm của đế quốc Mĩ kéo dài và mở rộng hơn nữa cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam, một mặt nó thể hiện sự bế tắc cao độ của Chính phủ Kennơđi trước một tình thế thúc bách mà nó không có khả năng giải quyết theo những phương pháp đơn giản hơn… Cuộc đảo chính ngày 1-11-1963 đặt ra trước mắt nhân dân miền Nam một số vấn đề cấp bách mà bất kỳ người Việt Nam yêu nước nào cũng quan tâm Đó là nguy cơ mở rộng hơn nữa cuộc chiến tranh hiện nay
và sự xâm lược ngày càng sâu của đế quốc Mĩ, đó là nguy cơ duy trì chế độ độc tài dưới hình thức mới với những nhân vật mới… ”
Trang 9Mặt trận tỏ rõ quan điểm, lập trường trước những người cầm quyền mới ở Sài Gòn qua Tuyên bố 6 điểm:
1 Triệt hạ vô điều kiện toàn bộ chế độ độc tài phát xít của Ngô Đình Diệm
2 Thực hiện không trì hoãn một nền dân chủ thực sự rộng rãi
3 Chấm dứt ngay sự xâm lược của đế quốc Mĩ ở miền Nam Việt Nam
4 Thực hiện chính sách kinh tế độc lập tự chủ
5 Chấm dứt cuộc đổ máu giữa những người Việt Nam
6 Các phái hữu quan ở Nam Việt Nam cùng nhau thương lượng để đi đến ngừng bắn và giải quyết những vấn đề trọng đại của đất nước
Bản Tuyên bố cũng đã xác định đường hướng cho các lực lượng cách mạng miền Nam Việt Nam là kiên quyết đấu tranh cho độc lập, thống nhất và tự do, chống đế quốc Mĩ xâm lược và tay sai
Việt Nam Cộng hòa là chế độ luôn đi ngược với lợi ích của nhân dân miền Nam Việt Nam, khước từ mọi đề nghị vì hòa bình, ổn định của quần chúng cách mạng, của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam Mục tiêu mà chính quyền mới lập ở Sài Gòn dốc toàn lực để giải quyết là: “xóa bỏ ảnh hưởng sâu sắc của Mặt trận Dân tộc giải phóng ở nông thôn” [20; 415] Mười ngày sau cuộc đảo
chính lật đổ Diệm, hãng thông tấn Mĩ UP đưa ra nhận xét: “Chế độ mới sau khi giết
Diệm - Nhu lại sớm đứng trước thử thách lớn: Họ không hoàn toàn được lòng dân mặc dù người dân hoan hỉ trước cái chết của Diệm” [20; 415]
Sau khi nền độc tài gia đình trị của anh em Diệm - Nhu sụp đổ, làn sóng đấu tranh cách mạng miền Nam phát triển ngày càng mạnh mẽ Phật giáo với lập trường
“chống đối chính phủ, đòi Thơ từ chức” trở thành mối lo ngại lớn đối với chính quyền mới lập tại Sài Gòn Phong trào đấu tranh của quân dân cách mạng miền Nam Việt Nam càng khoét sâu thêm mâu thuẫn nội bộ của chế độ Việt Nam Cộng hòa Phong trào “thi đua giết giặc lập công” từ sau chiến thắng Ấp Bắc (Mỹ Tho) ngày 2-1-1963 tiếp tục phát triển sôi nổi và rộng khắp miền Nam Việt Nam Hàng loạt trận đánh có qui mô lớn của quân cách mạng diễn ra vào cuối năm 1963 gây cho Mĩ và ngụy quyền Sài Gòn nhiều tổn thất: Bầu Cỏ (Tây Ninh), Giồng Trôm
Trang 10(Bến Tre), An Thanh Thủy (Mỹ Tho), Ômôn (Cần Thơ), Tân Trụ (Tân An), Đường Long (Thủ Dầu Một),… Nửa đầu tháng 12-1963 được đánh giá là “thời kỳ đen tối nhất của Mĩ trong cuộc chiến tranh Việt Nam” [20; 430]
Bước sang năm 1964, vừa lên nắm quyền tại Nhà Trắng, tổng thống Giônxơn
đã nhận được báo cáo của MACV về kết quả của trận càn Thạnh Phú (Bến Tre) Kế hoạch tấn công Thạnh Phú được tướng Hakin trực tiếp chỉ huy cùng các tướng lĩnh Sài Gòn (Lê Văn Kim, Lâm Văn Phát,…) với ưu thế quân sự tuyệt đối về lực lượng (đông gấp 17 lần đối phương, gồm 16 tiểu đoàn chủ lực, 1 tiểu đoàn tại chỗ và 6 đại đội biệt kích) và vũ khí, phương tiện kĩ thuật (50 máy bay, 17 tàu chiến, 11 ghe máy tuần tiễu, 2 đại đội M.113, 12 pháo 105 và 155mm,…) Địa hình Thạnh Phú thì như một cái túi, ba mặt là sông biển, chỉ có miệng túi rộng chừng 10 km với một tiểu đoàn Việt cộng đang dự lớp huấn luyện Chiến dịch kéo dài 3 tuần lễ (từ ngày 17-1 đến ngày 5-2-1964) với kết quả làm đau lòng giới cầm quyền Nhà Trắng: 47/50 máy bay tham chiến bị bắn rơi hoặc bị hỏng, 1/5 quân số bị tiêu diệt Một ngày sau khi lính Mĩ và lính Việt Nam Cộng hòa ra quân (18-1-1964), hãng AP của Mĩ đã đưa tin: “Trận đánh lớn nhất trong lịch sử chiến tranh trực thăng vận của Mĩ đã trở thành ngày tồi tệ nhất của chiến thuật này” Người Mĩ thừa nhận: “Nếu như năm
1963 kết thúc bằng việc tiểu đoàn Cọp đen bị diệt gọn thì năm 1964 bắt đầu bằng việc tiểu đoàn lính thủy đánh bộ bị xóa sổ ở Nhị Bình, tiểu đoàn dù chịu chung số phận ở Thường Phước” Báo chí đưa ra một bản thống kê nói rằng: “Trong tháng 1, Việt cộng đánh tới hơn một ngàn trận lớn nhỏ từ Quảng Trị đến miền Tây Nam Bộ” [20; 439]
Đầu tháng 2-1964, quân cách mạng mở trận tập kích lớn vào doanh trại quân
Mĩ ngay giữa thị xã Kon Tum làm gần 100 cố vấn thiệt mạng Hãng thông tấn Mĩ (AP) nhận xét: Đây là lần đầu tiên trong lịch sử của chiến tranh ở Nam Việt Nam,
du kích cộng sản đã có một hành động táo bạo bằng vũ lực tấn công doanh trại Mĩ
Sang tháng 3, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam lãnh đạo nhân dân miền Nam phá 51 đồn địch và 320 ấp chiến lược, làm chủ thêm 15 xã, 2 thị trấn, 1 quận lỵ với 8 vạn dân báo hiệu tình trạng không sáng sủa trong chương
Trang 11trình bình định có trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long của Mĩ - ngụy Giữa tháng 4-1964, chi khu Vĩnh Thuận (Rạch Giá) bị quân ta tiêu diệt Ngày 15-4, tờ
Tuần tin tức nhận xét về thất bại này của quân đội Sài Gòn: “Từ nay cuộc chiến
tranh ở Nam Việt Nam không còn là chuyện mèo vờn chuột nữa mà là cuộc đọ sức giữa một bên sư tử với một bên là hổ” [20; 445] Việc bẽ gãy cuộc hành quân Quyết
thắng 202 của quân cách mạng miền Nam ở Quảng Ngãi (từ 27-4 đến 27-5-1964)
đã chứng minh nhận định đó Đầu tháng 5, ngay tại cảng Sài Gòn tàu sân bay Card trọng tải 16.500 tấn của Mĩ bị đánh chìm làm 73 thủy thủ bị thương Đây là đòn đau nhất đánh vào uy tín của Hoa Kỳ kể từ khi chính quyền Oasinhtơn cam kết tự mình tiến hành chiến tranh năm 1962 Ngày 9-5, chiến sĩ cộng sản Nguyễn Văn Trỗi đặt mìn trên cầu Công Lý đón tiếp Bộ trưởng Quốc phòng Mắc Namara và ngài Đại sứ Mácxoen Taylo của Mĩ gây được tiếng vang lớn, cổ vũ quần chúng Sài Gòn đấu tranh mạnh mẽ
Giới cầm quyền Mĩ trả đũa bằng việc thông qua kế hoạch R6, sử dụng lực lượng không quân và hải quân, leo thang chiến tranh ra miền Bắc Việt Nam gồm 3 bước:
Bước 1: Dùng máy bay U.2 do thám Bắc Việt Nam; dùng biệt kích đường biển và đường không phá rối ngày càng tăng trong cả năm 1964 Bước này mang tên 34.A
Bước 2: Dùng tàu chiến tuần tra vùng biển vịnh Bắc Bộ, vừa theo dõi phản ứng của hải quân đối phương, vừa hỗ trợ cho 34.A Bước này mang tên DESOTO
Bước 3: Nếu Bắc Việt phản ứng với 34.A và DESOTO thì lập tức cho không quân ném bom các đầu mối giao thông trên biên giới Việt - Lào (dọc đường Hồ Chí Minh) đồng thời chuẩn bị sẵn sàng tiến công bắc vĩ tuyến 17 bằng không quân và hải quân
Để thực hiện kế hoạch như dự kiến, chính phủ Hoa Kỳ thấy cần thiết phải có một cái cớ và theo đó sự kiện “vịnh Bắc Bộ” (5-8-1964) được Mĩ dàn dựng mở đầu cho cuộc leo thang của Mĩ và quân đội Sài Gòn ra Bắc Việt Nhưng quân dân miền Bắc đã chống trả quyết liệt và làm thất bại âm mưu mở rộng chiến tranh của Mĩ
Trang 12Trong trận chiến này, Mĩ và tay sai chịu tổn thất rất lớn: 8 trong tổng số 64 máy bay xuất kích bị tiêu tan
Vậy là, chiến lược “chiến tranh đặc biệt” dù được đẩy lên đỉnh cao cũng không khuất phục được nhân dân ta Từ năm 1965, Mĩ buộc phải đi một bước mạo hiểm với việc thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ”, đưa lực lượng quân đội Mĩ
và quân Đồng minh vào tham chiến trực tiếp tại Việt Nam, đồng thời thử thách chính quyền mới lập của Nguyễn Văn Thiệu sau cuộc đảo chính tháng 6 năm 1965 tại Sài Gòn
Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã ra đời trong bối cảnh đầy hỗn loạn như thế, nhưng nó vẫn tiếp tục dựa vào Mĩ và triệt để thực hiện mục tiêu chống cộng Phong trào chống chế độ Mĩ - Thiệu tiếp tục lên cao khắp miền Nam Việt Nam
1.1.2 Sự thành lập nền Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa
1.1.2.1 Vài nét về Nguyễn Văn Thiệu
Cuộc đời binh nghiệp và chính nghiệp của
vị Tổng thống Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa Nguyễn
Văn Thiệu tương đối suôn sẻ Thiệu được coi là
mẫu chính trị gia “gặp thời” Không phải do Mĩ
“rút từ túi áo ra” như Diệm, nhưng Thiệu cũng đã
khôn ngoan dựa vào Mĩ trong suốt thời gian nắm
quyền ở Nam Việt Nam
Nguyễn Văn Thiệu sinh ngày 5 tháng 4 năm 1923, tại làng Tri Thủy, xã Tân Hải, quận Thanh Hải, tỉnh Ninh Thuận Sau khi tốt nghiệp lớp 9, ông lên Sài Gòn học nghề Không lâu sau, ông đăng ký vào học khóa đầu tiên trường Sỹ quan quân đội Việt Nam (sau là trường Võ bị Đà Lạt) Năm 1949, ông tốt nghiệp với quân hàm Thiếu úy, tham gia binh nghiệp trong quân đội Liên hiệp Pháp
Năm 1955, sau khi Pháp rút khỏi Việt Nam, Thiệu gia nhập Quân lực Việt Nam Cộng hòa, với quân hàm Trung tá, giữ chức Chỉ huy trưởng Trường Võ bị Đà Lạt Đến năm 1962, ông lên hàm Đại tá và giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 5 bộ binh Năm 1963, ông tham gia lực lượng đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm
Trang 13Sau đảo chính, ông được phong hàm Thiếu tướng Năm 1964, tướng Nguyễn Khánh thực hiện “chỉnh lý”, nắm quyền lãnh đạo chính quyền, Nguyễn Văn Thiệu được cử giữ chức Tham mưu trưởng rồi Tổng trưởng Quốc phòng
Năm 1965, Thiệu được thăng Trung tướng Cũng năm này, chính phủ của Thủ tướng Phan Huy Quát đã giải tán và trao quyền lãnh đạo quốc gia lại cho Hội đồng tướng lĩnh Hội đồng tướng lĩnh bầu Thiệu giữ chức Chủ tịch “Hội đồng lãnh đạo Quốc gia” và tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch “Ủy ban Hành pháp Trung ương” Nguyễn Văn Thiệu trở thành Quốc trưởng và tướng Kỳ trở thành Thủ tướng của chính phủ mới
Từ năm 1967 đến 1975, Nguyễn Văn Thiệu giữ chức Tổng thống của nền Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa Đêm 25 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu rời Việt Nam với tư cách là đặc sứ của Việt Nam Cộng hòa đến Đài Bắc để phúng điếu Tưởng Giới Thạch Sau đó, ông đến Anh định cư Ông sống một cuộc sống thầm lặng và qua đời vào ngày 29 tháng 9 năm 2001 tại Boston, Hoa Kỳ
Đó là những nét chính về thân thế, cuộc đời và sự nghiệp của vị Tổng thống
Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu Tính cách và con người Thiệu thể hiện chân thực qua nhận xét của Nhà Trắng và các tướng lĩnh Sài Gòn
Sau cái chết của Diệm, Nhà Trắng không còn kiểm soát được tình hình chính trị Nam Việt Nam và buộc phải trông cậy vào chính quyền mới do các tướng lãnh Sài Gòn dựng lên Theo đánh giá chung của phía Mĩ thì Thiệu “là người có nhiều tham vọng, nhưng lại sợ trách nhiệm” Trước khi hợp tác với Thiệu, Tổng thống Linđơn Giônxơn đã nghe báo cáo điều tra chi tiết của cơ quan tình báo (CIA) Mĩ về
vị Quốc trưởng Nguyễn Văn Thiệu:
“Khi cuộc chiến tranh của Pháp được mở rộng trên quy mô toàn bán đảo Đông Dương, Nguyễn Văn Thiệu mới là một Chuẩn úy trong quân đội Pháp Năm
1954, Diệm về nước, trao cho Thiệu cầm đầu trường Võ bị Đà Lạt Bốn năm sau, năm 1959, Thiệu leo lên chức Tư lệnh quân đoàn, rồi Phó Tổng tham mưu trưởng, Thứ trưởng Quốc phòng rồi Phó Thủ tướng
Trang 14Dư luận không đánh giá cao nhân cách của Thiệu Ông ta đã từng theo Diệm, rồi bám cẳng Minh lớn lật Diệm, rồi lại theo Khánh lật Minh, rồi vào bè với Dương Minh Đức và Lâm Văn Phát hạ bệ Khánh Cuộc đảo chính của Đức và Phát không thành, Thiệu quay về ôm chân Khánh trong khi đồng bọn bị Khánh bỏ tù Nước cờ mới nhất của Thiệu là cùng nhóm tướng trẻ (Kỳ - Thi - Có) lật đổ chính quyền Phan Huy Quát để ngồi vào ghế quốc trưởng” [20; 523]
Vị cựu Giám đốc viện quân sự Đà Lạt cũng đưa ra nhận định tương tự:
“Thiệu là một viên tướng tồi, thành tích chiến đấu chẳng có gì xuất sắc Thiệu sinh
ra ở Ninh Thuận trong một gia đình trung lưu Khi còn trẻ, Thiệu đã rời làng đi tìm đường tiến thân trong quân đội thuộc địa Pháp cho đến khi được vào học trường sĩ quan ở Huế Về bản chất Thiệu rất đa nghi và sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn để mưu thành công trong cuộc sống Thiệu cũng rất kiên nhẫn, có thể kiên trì chờ đợi và Thiệu đã chờ sẵn cho đến khi tất cả các đối thủ của mình tự hoại và bị rơi rụng hoàn toàn, Thiệu mới lên nắm quyền cho bớt kẻ cạnh tranh” [7; 16]
Hoàng Đức Nhã, trợ lý thân cận nhất của Thiệu cho biết: “Thiệu đa nghi,
nhưng đa nghi những gì liên quan đến sinh mạng chính trị tương lai của Thiệu” [7;
13]
Có lẽ chính sự “đa nghi” trong tính cách Thiệu đã giúp ông ta yên ổn giữ chức Tổng thống Việt Nam Cộng hòa suốt gần 10 năm và rút lui an toàn trước khi chính quyền Sài Gòn đổ xòa Ngay đến người Mĩ cũng có phần cảm phục Nguyễn Văn Thiệu trong việc lãnh đạo quốc gia chống cộng
1.1.2.2 Sự thành lập chính quyền Nguyễn Văn Thiệu
Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ra đời sau cuộc đảo chính nhanh gọn ở Sài Gòn ngày 6-6-1965 Trước áp lực của quần chúng xuống đường đòi thay đổi nội các (một nội các bị quần chúng Phật tử lên án là độc tài và phân biệt đối xử với tôn giáo), Thủ tướng Phan Huy Quát kêu gọi tướng lĩnh hậu thuẫn Giới quân sự Sài Gòn vốn có âm mưu nắm chính quyền đã nhanh chóng chớp cơ hội, điều động lực lượng về Thủ đô, ép Thủ tướng thừa nhận rằng Chính phủ nội các dân sự bất lực, không giải quyết được cuộc khủng hoảng chính trị và xin từ chức Quân đội tiếp tục
Trang 15được điều động về Sài Gòn, chiếm giữ những vị trí xung yếu trong Đô thành Sáng ngày 12-6, Đài phát thanh truyền đi lời của Quốc trưởng Phan Khắc Sửu, thay mặt Hội đồng quốc gia lập pháp xin trao trả quyền lãnh quốc gia cho các tướng lĩnh Hai ngày sau, nhóm tướng trẻ công bố quyết định thành lập Ủy ban lãnh đạo quốc gia gồm 10 người do Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch, Trung tướng Nguyễn Xuân Chiểu làm Tổng thư ký, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ là Ủy viên Hành pháp và 7 Ủy viên nắm các cơ quan quốc phòng, tổng tham mưu, các vùng chiến thuật và biệt khu Sài Gòn - Gia Định
Ngày 19-6-1965, danh sách chính phủ mới được công bố trên mặt báo, kèm với ảnh của Nguyễn Văn Thiệu - Quốc trưởng và Nguyễn Cao Kỳ - Thủ tướng Trả lời ký giả phương Tây về kết quả cuộc đảo chính lần này, Đại sứ Taylo nhẩm tính bằng việc bấm đốt
ngón tay và nói: “từ khi Diệm đổ đến khi Thiệu
- Kỳ lên, lớn nhỏ đã có 13 cuộc đảo chính”
[20; 489]
Như vậy, đến giữa năm 1965, Nguyễn Văn Thiệu đã nắm chính quyền ở Nam Việt Nam Sự thay ngôi đổi thứ lúc này mới chỉ diễn ra trong nội bộ hàng ngũ lãnh đạo chính quyền Sài Gòn được Mĩ hậu thuẫn
và nuôi dưỡng Để thực sự được quốc tế công nhận là chính quyền hợp pháp ở miền Nam Việt Nam, Hội đồng lãnh đạo quốc gia do Thiệu đứng đầu nhanh chóng tiến hành xây dựng hiến pháp mới, thực hiện một cuộc bầu cử phổ thông đầu phiếu Ngày 1-4-1967, Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa được chính thức ban hành quy định cuộc bầu cử Tổng thống, Phó Tổng thống và Quốc hội chính thức vào ngày chủ nhật (3-9-1967) Cuộc bầu cử diễn ra theo hạn định, các ứng viên ra tranh cử dưới hình thức liên danh (mỗi liên danh 10 người) Ban đầu có 18 liên danh ra tranh cử, sau rút còn 11 liên danh Liên danh Dân chủ của Nguyễn Văn Thiệu đắc cử với 33% tổng số phiếu bầu [32] Tỉ lệ này cho thấy Nguyễn Văn Thiệu và liên danh không
Trang 16được quần chúng tín nhiệm cao Qua “bầu cử” Nguyễn Văn Thiệu chính thức trở thành Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, đứng đầu nền Đệ nhị Cộng hòa Ngày 31-10-1967, Lễ tuyên thệ nhậm chức Tổng thống và Phó tổng thống diễn ra tại trung tâm Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu nhậm chức và tuyên thệ trước quốc dân theo quy
định của Hiến pháp Đệ nhị Cộng hòa: “Tôi long trọng tuyên thệ trước quốc dân sẽ
bảo vệ Tổ quốc, tôn trọng Hiến pháp, phục vụ quyền lợi quốc gia dân tộc và tận lực làm tròn nhiệm vụ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa” [25]
Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu sau hơn hai năm thai nghén (tính từ cuộc đảo chính ngày 6-6-1965) đã được khai sinh trong một cuộc dân cử theo hình thức phổ thông đầu phiếu ngày 3-9-1967 Chế độ Việt Nam Cộng hòa do Thiệu làm chủ
ở miền Nam Việt Nam về hình thức có khác với chế độ “cộng hòa gia đình trị” của anh em Diệm - Nhu nhưng bản chất thì không có gì thay đổi Đó là bộ máy chính quyền tay sai của đế quốc Mĩ, bộ máy chiến tranh ở Nam Việt Nam
1.1.2.3 Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa năm 1967
Từ những ngày đầu nắm quyền tại Sài Gòn, trên cương vị Quốc trưởng Nguyễn Văn Thiệu đã gấp rút chuẩn bị cho việc ban hành Hiến pháp làm cơ sở cho
sự ra đời của nền Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa Tại Đại hội quân lực Việt Nam Cộng
hòa ngày 15-1-1966, Thiệu ra tuyên bố: “Xây dựng một nền dân chủ, với dự tính
thông qua Hiến pháp vào mùa thu và tiến hành Bầu cử chính phủ mới vào đầu năm 1967” [20; 522] Tiếp đó, Nguyễn Văn Thiệu đã chủ trì các cuộc họp của Ủy ban
lãnh đạo Quốc gia thảo luận về việc ban hành Hiến pháp Đồng thời, Thiệu đã thông qua sắc luật thành lập Quốc hội lập hiến ngày 14-4-1966 Ngày 11-9-1966, Quốc hội dân cử thành lập với 117 dân biểu trở thành cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo
và ban hành Hiến pháp Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa
Ngày 18-3-1967, toàn văn Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa đã được Quốc hội lập hiến thống nhất biểu quyết thông qua Ngày 1-4-1967, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu ra Tuyên cáo “ban hành Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa” Như vậy, Hiến pháp ban hành năm 1967 trở thành văn bản có tính pháp quy cao nhất của nhà nước
Trang 17Việt Nam Cộng hòa và được sử dụng như là một công năng đặc biệt để thống trị và điều hành đất nước Việt Nam Cộng hòa từ: chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội
Hiến pháp năm 1967 gồm 9 chương, 117 điều cụ thể như sau:
Chương I: Điều khoản căn bản (Điều 1 đến 5)
Chương II: Quyền lợi và nghĩa vụ công dân (Điều 6 đến 29)
Chương III: Lập pháp (Điều 30 đến 50)
Chương IV: Hành pháp (Điều 51 đến 75)
Chương V: Tư pháp (Điều 76 đến 84)
Chương VI: Các định chế đặc biệt (Điều 85 đến 98)
Chương VII: Chính đảng và đối lập (Điều 99 đến 102)
Chương VIII: Tu chỉnh Hiến pháp (Điều 103 đến 107)
Chương IX: Các điều khoản chuyển tiếp (Điều 108 đến 117)
Hiến pháp 1967 quy định thể chế của nước Việt Nam Cộng hòa là nền Cộng hòa đại nghị do Tổng thống đứng đầu, theo thuyết Tam quyền phân lập của Mĩ với
3 cơ quan chính: Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp Điều 3 của Hiến pháp này quy định: “Ba cơ quan Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp phải được phân nhiệm và phân quyền rõ rệt Sự hoạt động của ba cơ quan công quyền phải được phối hợp và điều hòa để thực hiện trật tự xã hội và thịnh vượng chung trên căn bản tự do, dân chủ và công bằng xã hội” Các điều 115, 116, 117 của Hiến pháp đưa ra quy định cụ thể về việc thành lập và tổ chức bộ máy nhà nước Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa Điều 115 quy định thời hạn cuộc bầu cử Tổng thống và Phó Tổng thống phải được tổ chức chậm nhất sáu tháng kể từ ngày ban hành Hiến pháp Điều 116 nói rõ thời gian bầu
cử Quốc hội Lập pháp và việc tổ chức Tối cao pháp viện và Giám sát viện phải được thực hiện chậm nhất là mười hai tháng kể từ ngày Tổng thống nhiệm kỳ một nhậm chức Và điều 117 của Hiến pháp cho biết: “các cơ cấu khác do Hiến pháp quy định phải được thiết lập chậm nhất là hai năm kể từ ngày Quốc hội pháp nhiệm một được thành lập”
Theo đó, cuộc Bầu cử Tổng thống, Phó Tổng thống và Thượng nghị viện đã diễn ra đúng hạn định vào 3-9-1967, Nguyễn Văn Thiệu lên làm Tổng thống,
Trang 18Nguyễn Cao Kỳ làm Phó Tổng thống Nền Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa trên cơ sở Hiến pháp chính thức thành lập
Dưới thời Nguyễn Văn Thiệu, Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa có tu chỉnh và
bổ sung một số điều liên quan đến Hành pháp Luật tu chỉnh Hiến pháp do Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đề xuất và được Quốc hội thông qua ngày 22-1-1974 nói
về việc sửa đổi các điều 52, 80 và 114 của Hiến pháp ngày 1-4-1967 Tuy nhiên mọi
sự thay đổi Hiến pháp nói chung đều nhằm mục đích củng cố quyền lực của bộ máy nhà nước Việt Nam Cộng hòa và mở rộng quyền Hành pháp trong tay Tổng thống [24]
Như vậy, Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa năm 1967 tạo cơ sở pháp lý cho sự
ra đời bộ máy nhà nước Việt Nam Cộng hòa (1967-1975) Có thể nói, Hiến pháp năm 1967 đã “khai sinh” ra nền Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa và đảm bảo cho sự tồn tại của nó trong gần 10 năm sau đó
1.2 Bộ máy nhà nước Việt Nam Cộng hòa (1967 – 1975)
1.2.1 Cơ quan Lập pháp
Quốc hội là cơ quan Lập pháp, gồm Hạ nghị viện (Dân biểu) và Thượng nghị viện (Nghị sĩ) Nghị sĩ Quốc hội được bầu theo lối phổ thông đầu phiếu Theo Hiến pháp 1967, Dân biểu Hạ viện có nhiệm kỳ 4 năm, Nghị sĩ Thượng viện có nhiệm kỳ
6 năm và cứ 3 năm bầu lại một nửa
Cụ thể, điều 30 Hiến pháp Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa có ghi: “Quyền lập pháp được quốc dân ủy nhiệm cho Quốc hội Quốc hội gồm hai viện: Hạ nghị viện
và Thượng nghị viện” Điều 31 nêu rõ: “Hạ nghị viện gồm từ một trăm đến hai trăm Dân biểu: 1- Dân biểu được bầu theo lối phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín, theo thể thức đơn danh, trong từng đơn vị lớn nhất là tỉnh 2- Nhiệm kỳ Dân biểu là bốn năm, Dân biểu có thể được tái cử 3- Cuộc bầu cử tân Hạ nghị viện sẽ được kết thúc chậm nhất là một tháng trước khi pháp nhiệm cũ chấm dứt” Còn theo điều 32:
“Thượng nghị viện gồm từ ba mươi đến sáu mươi Nghị sĩ: 1- Nghị sĩ được cử tri toàn quốc bầu lên trong một cuộc phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín theo thể thức liên danh đa số Mỗi liên danh gồm từ một phần sáu đến một phần ba tổng số Nghị
Trang 19sĩ 2- Nhiệm kỳ Nghị sĩ là sáu năm, cứ ba năm bầu lại phân nửa, Nghị sĩ có thể được tái cử 3- Các Nghị sĩ trong pháp nhiệm đầu tiên sẽ được chia làm hai nhóm đều nhau theo thể thức rút thăm Nhóm thứ nhất có nhiệm kỳ sáu năm, nhóm thứ hai có nhiệm kỳ ba năm 4- Cuộc bầu cử các tân Nghị sĩ phải được tổ chức chậm nhất là một tháng trước khi phân nửa tổng số Nghị sĩ chấm dứt pháp nhiệm”
Điều 39 Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa năm 1967 quy định Quốc hội có các thẩm quyền sau:
1- Biểu quyết các đạo luật
2- Phê chuẩn các hiệp ước và hiệp định quốc tế
3- Quyết định việc tuyên chiến và nghị hoà
4- Quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh
5- Kiểm soát chính phủ trong việc thi hành chính sách quốc gia
6- Trong phạm vi mỗi viện, quyết định hợp thức hoá sự đắc cử của các Dân biểu hay Nghị sĩ
Theo điều 42 của Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa năm 1967, Quốc hội còn có quyền khuyến cáo, cụ thể:
1- Quốc hội có quyền khuyến cáo thay thế từng phần hay hoàn toàn Chánh phủ với đa số hai phần ba tổng số Dân biểu và Nghị sĩ
2- Nếu Tổng thống không có lý do đặc biệt để khước từ, sự khuyến cáo sẽ có hiệu lực
3- Trong trường hợp Tổng thống khước từ, Quốc hội có quyền chung quyết
sự khuyến cáo với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu và Nghị sĩ Sự khuyến cáo sau này của Quốc hội có hiệu lực kể từ ngày chung quyết [24]
1.2.2 Cơ quan Hành pháp
1.2.2.1 Tổng thống và Phó Tổng thống
Tổng thống là người nắm quyền hành pháp Điều 51 Hiến pháp 1967 viết:
“Quyền Hành pháp được quốc dân ủy nhiệm cho tổng thống”
Điều 52 Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa năm 1967 ghi rõ: “1- Tổng thống và Phó Tổng thống cùng đứng chung một liên danh, được cử tri toàn quốc bầu lên theo
Trang 20lối phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín 2- Nhiệm kỳ của Tổng thống và Phó Tổng
là bốn năm Tổng thống và Phó Tổng thống có thể được tái cử một lần”
Điều 53 của Hiến pháp lại cho biết công dân được quyền ứng cử Tổng thống hoặc Phó Tổng thống khi hội đủ các điều kiện sau đây:
1- Có Việt tịch từ khi mới sanh và liên tục cư ngụ trên lãnh thổ Việt Nam ít nhất mười năm tính đến ngày bầu cử Thời gian công cán và lưu vong chánh trị tại ngoại quốc được kể như thời gian cư ngụ tại nước nhà
2- Đủ 35 tuổi tính đến ngày bầu cử
3- Được hưởng các quyền công dân
+ Ban hành các đạo luật
+ Hoạch định chính sách quốc gia
+ Bổ nhiệm Thủ tướng và các thành viên của Chính phủ, cải tổ một phần hay toàn bộ Chính phủ (hoặc tự ý, hoặc sau khi có sự khuyến cáo của Quốc hội) + Bổ nhiệm các đại sứ, các tỉnh trưởng, thị trưởng, đô trưởng
+ Chủ tọa Hội đồng Tổng trưởng
+ Tổng tư lệnh tối cao quân lực Việt Nam Cộng hoà
+ Chủ tịch Hội đồng An ninh Quốc gia
+ Ký kết, ban hành các hiệp ước và hiệp định quốc tế
+ Tuyên bố tình trạng báo động, giới nghiêm bằng Sắc luật
Điều 66 của Hiến pháp đã quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ của Phó Tổng thống như sau:
1- Phó Tổng thống là Chủ tịch Hội đồng Văn hoá Giáo dục, Hội đồng Kinh
tế - Xã hội và Hội đồng các Sắc tộc Thiểu số
2- Phó Tổng thống không thể kiêm nhiệm một chức vụ nào trong Chính phủ
Trang 21Theo điều 56 của hiến pháp 1967, nhiệm kỳ của Tổng thống và Phó Tổng thống có thể chấm dứt trước kỳ hạn trong những trường hợp:
1.2.2.2 Cơ quan Hành pháp Trung ương
Đứng đầu là Tổng thống Thủ tướng do Tổng thống bổ nhiệm, giữ vai trò điều khiển Chính phủ và các cơ cấu hành chính Quốc gia Thủ tướng chịu trách nhiệm về sự thi hành chính sách Quốc gia trước Tổng thống
Để thực hiện các chính sách Quốc gia do Tổng thống hoạch định, Chính quyền Trung ương được tổ chức thành 19 Bộ:
+ Bộ Cải cách Điền địa và Phát triển Nông - Ngư nghiệp
Đứng đầu các bộ là các Tổng trưởng hoặc Bộ trưởng Các Tổng trưởng và
Bộ trưởng là các thành viên của Chính phủ, thành viên của Hội đồng Nội các (Hội đồng Tổng trưởng) Các Tổng trưởng, Bộ trưởng do Thủ tướng đề nghị lên Tổng thống, Tổng thống bổ nhiệm
Ngoài ra còn có 3 Quốc Vụ Khanh đặc trách: Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hoá, Quốc Vụ Khanh đặc trách tái thiết và phát triển, Văn phòng Quốc Vụ Khanh
Trang 22Thủ tướng và các thành viên Chính phủ có thể tham dự các phiên họp của Quốc hội hoặc của các Ủy ban để trình bày và giải quyết về các vấn đề liên quan đến chính sách Quốc gia và sự thi hành các chính sách Quốc gia do Tổng thống hoạch định [24]
1.2.2.3 Cơ quan Hành pháp địa phương
Điều 70 Hiến pháp Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa ghi nhận: Nguyên tắc địa phương phân quyền được công nhận cho các tập thể địa phương có tư cách pháp nhân như: xã, tỉnh, thị xã và thủ đô
Điều 71 của Hiến pháp này quy định: 1- Các cơ quan quyết nghị và các vị chỉ huy các cơ quan chấp hành các tập thể địa phương phân quyền sẽ do cử tri bầu lên theo lối phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín 2- Riêng ở cấp xã, Xã trưởng có thể do Hội đồng xã bầu lên trong số các hội viên Hội đồng xã
Điều 72 Hiến pháp 1967 cho biết: Các vị chỉ huy các cơ quan chấp hành của các tập thể địa phương phân quyền là: Xã trưởng ở cấp xã; Tỉnh trưởng ở cấp tỉnh; Thị trưởng ở cấp thị xã; Đô trưởng ở thủ đô [24]
Như vậy, Chính quyền địa phương của nền Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa thể theo Hiến pháp có một số đặc điểm chính sau:
+ Đô thành Sài Gòn, thị xã, tỉnh: đứng đầu là Đô trưởng, Thị trưởng, Tỉnh trưởng
+ Cấp xã: đứng đầu là Xã trưởng
Những chức vụ ở cấp địa phương trong bộ máy chính quyền của Nguyễn Văn Thiệu thường do các sĩ quan quân đội năm giữ
1.2.3 Cơ quan Tư pháp
Quyền Tư pháp độc lập với Hành pháp Điều 76 Hiến pháp 1967 quy định:
“Quyền Tư pháp độc lập được ủy nhiệm cho Tối cao Pháp viện và được hành xử bởi các Thẩm phán xử án” Cũng theo Hiến pháp 1967, Tối cao Pháp viện gồm 9 thẩm phán do Quốc hội tuyển chọn và Tổng thống bổ nhiệm trên một danh sách do Tối cao Pháp viện và Bộ Tư pháp lập ra Nhiệm kỳ của Thẩm phán Tối cao Pháp viện là 6 năm
Trang 23Điều 81 Hiến pháp quy định những quyền hạn cơ bản của Tối cao Pháp viện gồm có:
1- Tối cao Pháp viện có thẩm quyền giải thích Hiến pháp phán quyết về tính cách hợp hiến hay bất hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, tính cách hợp hiến và hợp pháp của các sắc lệnh, Nghị định và quyết định hành chính
2- Tối cao Pháp viện có thẩm quyền phán quyết về việc giải tán một chính đảng có chủ trương và hành động chống lại chính thể Cộng hoà
3- Những quyết định của Tối cao Pháp viện tuyên bố một đạo luật bất hợp hiến hoặc giải tán một chính đảng phải hội đủ đa số ba phần tư tổng số Thẩm phán Tối cao Pháp viện
Điều 82 Hiến pháp 1967 cho biết thêm: Tối cao Pháp viện có thẩm quyền phán quyết về các vụ thương tố các bản án chung thẩm
Để hoạt động Tư pháp hiệu quả, quy định tại điều 83 Hiến pháp 1967 có ghi
cụ thể như sau: “Tối cao Pháp viện có ngân sách tự trị và có quyền lập quy để quản trị ngành Tư pháp”
Trong hệ thống toà án của chính quyền Thiệu ở cấp Trung ương, ngoài Tối cao Pháp viện còn có Đặc biệt Pháp viện và Giám sát viện Đặc biệt Pháp viện gồm
có Chủ tịch Tối cao Pháp viện và 10 Dân biểu hoặc Nghị sĩ, có thẩm quyền truất quyền Tổng thống, Phó Tổng thống, Thủ tướng, Tổng Bộ trưởng, Thẩm phán Tối cao Pháp viện trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội khác Giám sát viện gồm từ 9-18 giám sát viên, 1/3 do Quốc hội, 1/3 do Tổng thống và 1/3 do Tối cao Pháp viện chỉ định Giám sát viện có thẩm quyền:
- Thanh tra, kiểm soát và điều tra nhân viên các cơ quan công quyền và tư nhân can tội tham nhũng, đầu cơ, hối mại quyền thế…
- Kiểm kê tài sản của nhân viên các cơ quan công quyền, kể cả Tổng thống, Phó Tổng thống, Thủ tướng, Dân biểu, Nghị sĩ và Chủ tịch Tối cao Pháp viện
- Có quyền đề nghị các biện pháp chế tài và kỷ luật hoặc yêu cầu truy tố trước toà án có thẩm quyền những đương sự phạm lỗi
- Thẩm tra kế toán các cơ quan công quyền và hợp doanh
Trang 24Ở địa phương, có các toà án thường và các toà án đặc biệt Nhìn chung, tổ chức và thẩm quyền của các toà án thường về cơ bản giống như ở thời Pháp thuộc, cũng có các toà Thượng thẩm, toà Đại hình, toà Sơ thẩm, toà Hoà giải, toà Vi cảnh Các toà án đặc biệt có các toà án Hành chính, toà án Lao động, toà án Điền địa, toà
án Thiếu nhi, toà án Cấp dưỡng, toà án Sắc tộc, toà án Quân sự đặc biệt (trong đó có các toà án Quân sự tại mặt trận) Toà án Quân sự đã tập trung mũi nhọn đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân miền Nam Việt Nam [24]
Tóm lại, bộ máy chính quyền Nguyễn Văn Thiệu thiết lập về hình thức, cơ cấu tổ chức theo mô hình nhà nước Mĩ dựa theo thuyết Tam quyền phân lập
1.3 Bản chất của nền Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa
1.3.1 Chính quyền tay sai của đế quốc Mĩ
Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu là chính quyền tay sai của đế quốc Mĩ tại miền Nam Việt Nam Dù không trực tiếp do Mĩ dựng lên như chính quyền họ Ngô nhưng chế độ của Thiệu vẫn chịu sự chỉ huy của “chiếc gậy đôla” Để chính quyền Thiệu đứng vững và phục vụ hữu hiệu cho cuộc chiến tranh của Mĩ tại Nam Việt Nam, hàng năm Nhà Trắng đã không ngại chi những khoản ngân sách lớn Trong những năm 1965-1968, theo thống kê của Bộ Quốc phòng Mĩ, chi phí dành cho quân sự trên chiến trường miền Nam trung bình hàng năm lên đến 30 tỷ USD Trong đó ngân sách năm 1968 tăng gấp 265 lần năm 1965 Năm 1969, chiến tranh ngốn 1/3 tổng chi phí quân sự của Mĩ và 3% tổng sản phẩm quốc dân, ước tính là
489 triệu USD Năm 1970, con số đó tăng lên là 669 triệu USD và đạt kỷ lục vào năm 1971 với 750 triệu USD [11; 138, 178]
Tướng Nguyễn Cao Kỳ lúc mới làm lãnh đạo của nước Việt Nam Cộng hòa
cũng đã ngỏ ý xin Mĩ: “tăng thêm lực lượng bộ binh chiến đấu Mĩ và quân đồng
minh châu Á để chúng tôi (Việt Nam Cộng hòa) có thể vượt qua sức ép của Việt cộng” [20; 495] Ngày 20-7-1965, vấn đề Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa băn khoăn
được Nhà Trắng giải quyết nhanh chóng bằng quyết định tăng cường quân viện cho chiến trường Nam Việt Nam: “Nâng tổng số quân Mĩ và nước ngoài lên khoảng 17,5 - 20 vạn, bao gồm 43 tiểu đoàn, trong đó có 34 tiểu đoàn Mĩ, 9 tiểu đoàn Nam
Trang 25Hàn” [20; 498] Trong suốt cuộc chiến tranh đây không phải là lần đầu và càng không phải là lần duy nhất Mĩ đưa lực lượng trực chiến của mình vào chiến trường Nam Việt Nam để củng cố niềm tin của đội quân tay sai tại Sài Gòn vào vị chủ nhân giàu có Về phần mình tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cũng không quên biểu lộ lòng
trung thành thực sự với Mĩ bằng lời khích lệ dân chúng: “Chúng ta phải cố gắng
nhiều hơn nữa để xứng đáng với giúp đỡ của đồng minh” [20; 578]
Từ đó, sự nghiệp chống cộng của Mĩ tại Việt Nam được chính quyền Thiệu thực hiện cực kỳ nghiêm túc từ lời nói cho đến hành động
Một thời gian ngắn sau khi thành lập, chính quyền Thiệu - Kỳ tiếp tục khẳng định ý nguyện là Đồng minh tin cậy của Mĩ trong việc duy trì chế độ “cộng hòa thân Mĩ”, duy trì chiến tranh ở Nam Việt Nam qua tuyên bố 3 điểm tại Đại hội quân
lực ngày 15-1-1966 với nội dung số 1 là “đánh bại Việt cộng” [20; 522]
Thỏa thuận tay đôi giữa Tổng thống Mĩ và Nguyễn Văn Thiệu tại Hônôlulu (từ ngày 6 đến ngày 7-2-1966) một lần nữa cho thấy chính quyền Nguyễn Văn Thiệu chịu sự chỉ đạo của Mĩ Theo đó, Thiệu - Kỳ cam kết đánh bại Việt cộng Phía Mĩ cam kết hỗ trợ các mục tiêu đề ra trong chương trình của chính quyền Sài Gòn Trong cuộc hội kiến này, Thiệu - Kỳ cũng đã tiếp thu chỉ đạo của Tổng thống Mĩ: “đừng có độc tài quân phiệt, phải làm sao ổn định hậu phương để dốc sức ra đối phó với Việt cộng ở phía trước, phải khôn ngoan hơn, mềm dẻo hơn các chính quyền trước” [20; 525]
Mục tiêu chống cộng sản còn được ghi cụ thể trong Điều 4 Hiến pháp Việt
Nam Cộng hòa năm 1967: “Việt Nam Cộng hòa chống lại chủ nghĩa cộng sản dưới
mọi hình thức Mọi hành vi nhằm mục đích tuyên truyền hay thực hiện chủ nghĩa cộng sản đều bị cấm chỉ” [24] Đó chính là lí do người ta gọi chế độ Việt Nam
Cộng hòa của Thiệu là “bộ máy chống cộng” quyết liệt nhất Đông Nam Á
Vốn là một cỗ máy tay sai nên chính quyền Nguyễn Văn Thiệu không thể thực hiện cái gọi là dân chủ ở Nam Việt Nam, mà là nhà nước đi ngược lợi ích của nhân dân và toàn dân tộc Như lời Dân biểu Ngô Công Đức trong Quốc hội Việt
Trang 26Nam Cộng hòa thì: “Chính sách của Tổng thống Thiệu nói đúng hơn là chính sách
của Mĩ” [32]
Tháng 9-1965, Đài phát thanh Sài Gòn truyền đi bản hiệu triệu của Quốc trưởng Nguyễn Văn Thiệu nói rằng: Để thắng trận phải có một hậu phương mạnh, phải có một chính phủ mạnh Chính phủ đó không lấy mị dân làm phương châm mà lấy an dân làm chính sách… Thực chất đây là lời “mị dân” hay nhất của kẻ mới lên cầm quyền ở Sài Gòn làm tay sai cho đế quốc Mĩ Ngay sau tuyên bố ấy, nhà cầm quyền chính quyền mới đã: tuyên bố tình trạng chiến tranh trong cả nước, đóng cửa một lúc chừng 40 tờ báo, ra lệnh giới nghiêm Thủ đô từ chín giờ tối đến hai giờ sáng,… Họ tuyên bố: thời kỳ
các cuộc biểu tình và đảo chính
đã qua rồi và dọa sẵn sàng giết
một vạn người để giữ cho được
quyền bính Kèm theo lời
tuyên bố là việc điều thêm
quân đội và xe tăng về Sài
Gòn, dựng những cọc xử bắn
nhiều nơi trong thành phố,
dựng tường bao cát ngay cửa chợ Bến Thành… Trả lời một tờ báo Sài Gòn, Thủ
tướng Nguyễn Cao Kỳ nói rằng “miền Nam Việt Nam cần có bàn tay sắt của Hítle”
[20; 489]
Hơn 20 năm tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mĩ đã thành công trong việc sử dụng chính quyền Nam Việt Nam (trước là Diệm sau là Thiệu) như một phương tiện chính để thực hiện các kế hoạch và học thuyết chiến tranh mới của mình Từ năm 1965 trở đi, chính quyền Thiệu - Kỳ là lực lượng chính trong các chiến lược “chiến tranh cục bộ” (1965-1968), tiếp đến là chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và thậm chí là cả “Đông Dương hóa chiến tranh” của Mĩ (1969-1973), sau đó dù đã suy kiệt nhưng vẫn cố gắng kéo dài “Việt Nam hóa chiến tranh” cho tới năm 1975
Trang 27Thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ” trong những năm 1965-1968, Mĩ
âm mưu sử dụng lực lượng quân viễn chinh Mĩ và quân Đồng minh phối hợp cùng quân đội Sài Gòn với vũ khí phương tiện trang bị hiện đại, mở những cuộc tấn công qui mô lớn vào vùng giải phóng nhằm giành thắng lợi quyết định tạo bước ngoặt của cuộc chiến Với âm mưu thâm sâu ấy, đế quốc Mĩ cùng quân đội tay sai đã gây
bao tội ác đối với nhân dân và dân tộc Việt Nam Hàng ngàn tấn bom đạn, chất độc hóa học
đã tàn phá và hủy diệt đời sống con người Việt Nam Quân đội
Mĩ - ngụy đã gây ra nhiều vụ thảm sát đẫm máu, đi ngược với “ý chúa lòng dân” Tiêu biểu nhất là vụ tàn sát người dân vô tội tại làng Sơn Mỹ (còn gọi là Mỹ Lai) thuộc huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi năm 1968
Đặc biệt, thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” Mĩ đã biến chính
quyền Sài Gòn thành “đội quân đánh thuê chống lại nhân dân nước họ” và “một
chính quyền không đại diện cho ai” [20; 633] Với nhận định rằng cơ quan cách
mạng và kho tàng của cộng sản Bắc Việt nằm ở hai nước láng giềng, Mĩ đã điều đông lực lượng lớn Quân lực Việt Nam Cộng hòa sang chiến trường Lào và Campuchia, thực hiện các cuộc hành quân vào vùng “đất thánh” của Việt cộng Tại chiến trường Nam Việt Nam, ngụy quân cũng đã mở những cuộc hành quân “tìm diệt” với chiến lược lập các ấp dân sinh để “bẻ gãy xương sống Việt cộng”
Trong quá trình đảm trách nhiệm vụ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, Nguyễn Văn Thiệu đã nhiều lần phải trông mong vào sự ủng hộ của người Mĩ để củng cố quyền lực Ðiển hình là vào thời điểm đầu năm 1968, trong cao điểm cuộc tấn công Tết Mậu Thân, uy tín của Thiệu xuống mức thấp nhất Hoa Kỳ đã giúp Thiệu khoảng 100 ngàn Mĩ kim một tháng (liên tục trong thời gian 18 tháng) để
Trang 28mua chuộc các đảng phái đối lập, gây ảnh hưởng chính trị ở Quốc hội và tiếp tục cam kết chống cộng với Mĩ [39]
Đó cũng là lý do khiến Thiệu phải tỏ ra là đầy tớ ngoan ngoãn bằng việc chấp thuận ký vào bản Hiệp định mà ông cho là “bán nước” sau lời đe dọa của Tổng
thống Nixơn: “Tôi nhất quyết cho phê chuẩn bản Hiệp định vào ngày 23 tháng
Giêng, và sẽ ký vào ngày 27 tháng Giêng, 1973 tại Paris Tôi sẽ làm việc này dù phải làm một mình… Kết quả không tránh khỏi sẽ là việc cắt viện trợ quân sự và kinh tế ngay lập tức, mà dù có sự thay đổi về nhân sự trong chính phủ của Ngài cũng không thể cứu vãn được…” [39]
Bộ máy nhà nước Việt Nam Cộng hòa thiết lập sau cuộc Bầu cử ngày
3-9-1967 vẫn rập khuôn mô hình nhà nước cộng hòa tư sản Mĩ Toàn thể bộ máy ngụy quân, ngụy quyền miền Nam đều đặt dưới sự chỉ đạo và điều hành của Mĩ Ngụy quyền miền Nam chỉ là chính quyền bù nhìn, tay sai của đế quốc Mĩ Nền kinh tế, chính trị, quân sự của chế độ Nguyễn Văn Thiệu đều lệ thuộc vào Mĩ và bị Mĩ chi phối Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu trở thành công cụ hữu hiệu của Mĩ trong âm mưu thống trị nhân dân miền Nam, tấn công và tiêu diệt cộng sản, chia cắt lâu dài nước ta Ngụy quyền Sài Gòn trở thành lực lượng nòng cốt trong mọi chiến dịch, chiến lược chiến tranh của Mĩ ở Việt Nam Vì thế nhiều người gọi bộ máy chính quyền của Nguyễn Văn Thiệu là “bộ máy chống cộng của Mĩ” ở Nam Việt Nam
Như vậy, Mĩ đã đạt được mục đích trong việc sử dụng chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm rồi đến Nguyễn Văn Thiệu suốt hơn 20 năm chiến tranh Nhưng những chính quyền do Mĩ nâng đỡ và chỉ huy không thể giúp Mĩ giành phần thắng trên chiến trường Nỗ lực duy trì sự tồn tại của các chính quyền “thân Mĩ” ở miền Nam Việt Nam cuối cùng không đem lại kết quả như Mĩ muốn Nước Mĩ còn mang tiếng là “chơi không đẹp” với Việt Nam Cộng hòa khi Mĩ tuyên bố rút khỏi chiến tranh và sẵn sàng bỏ rơi Đồng minh của mình Người Mĩ đã một lần nữa cho nhân loại thấy một điều chắc chắn rằng là: tay sai hay một công cụ thì chỉ được coi trọng khi còn giá trị sử dụng Số phận của chính thể Cộng hòa Nam Việt Nam là một bài
Trang 29học lịch sử đắt giá cho những ai chấp nhận làm “khí cụ trong tay kẻ khác”, không coi trọng giá trị thực sự của tự do và luôn sống nhờ kẻ khác
1.3.2 Chính quyền quân sự khoác áo dân sự
Tại Hội nghị Hônôlulu (2-1966) Tổng thống Mĩ đã đưa ra lời khuyến cáo với
chính quyền Thiệu - Kỳ là: “đừng có độc tài quân phiệt, phải làm sao ổn định hậu
phương để dốc sức ra đối phó với Việt cộng ở phía trước, phải khôn ngoan hơn, mềm dẻo hơn các chính quyền trước” [20; 525] Trong bối cảnh đầy hỗn loạn của
chính trường Sài Gòn, Nguyễn Văn Thiệu cũng đã luôn chứng tỏ mình là người khôn ngoan hay “biết” để sống Một bộ máy nhà nước phục vụ cho mục đích chiến tranh thì tất yếu vai trò của quân đội và lực lượng quân sự trong bộ máy đó phải được đặt lên hàng đầu Tuy nhiên sau biến cố chính trị năm 1963 và cái chết của Tổng thống Ngô Đình Diệm giới lãnh đạo Nhà Trắng và tay sai ở Sài Gòn như nhận
ra chân lý: muốn tồn tại cần phải thỏa mãn, xoa dịu lòng dân, làm dân tin tưởng Khủng hoảng chính trị tại Sài Gòn trong ba năm liền (1963-1965) đã khắc sâu bài học về vai trò của dân chúng đối với sự tồn vong của một quốc gia Để tình hình miền Nam ổn định, cần phải có một chính thể mới đảm bảo được quyền lợi của cả hai bên: dân sự và quân sự Tháng 6-1965, chính quyền “quân sự khoác áo dân sự” của Thiệu ra đời, chính trường Sài Gòn tạm bước vào thời kì ổn định
Người đứng đầu mới của chính quyền Sài Gòn đã có những cố gắng để thay đổi tình hình bằng việc tung hô cái khẩu hiệu “dân chủ giả hiệu”, thiết lập một chính thể Cộng hòa của dân, do dân và vì dân nhưng thực chất chỉ là để “mị dân” Thiệu cho xây dựng Đảng lấy tên là Dân chủ để gây thiện tình của quần chúng Tổ chức một cuộc bầu cử như một hình thức để xoa dịu lực lượng dân sự, nhưng thực
ra đã sớm thâu tóm toàn bộ chính quyền thông qua những “gian lận kín” Hơn thế, quyền Hành pháp tập trung vào Tổng thống Tổng thống không chỉ nắm trọn quyền Hành pháp mà còn lấn át cả quyền Lập pháp và quyền Tư pháp Hiến pháp năm
1967 cho phép Tổng thống nắm độc quyền ngoại giao và ký kết các hiệp ước quốc
tế, đòi Quốc hội phúc nghị lại luật đã thông qua… Đặc biệt Hiến pháp năm 1967
Trang 30cho Tổng thống có quyền ra Sắc luật là hình thức văn bản có tính lập pháp, trong những trường hợp khẩn cấp
Và trong thực tế, Tổng thống đã triệt để lợi dụng những điều có lợi cho mình ghi trong Hiến pháp để lộng quyền, nhất là quyền được ra Sắc lệnh Tổng thống cũng chính là Tổng Tư lệnh tối cao quân lực Việt Nam Cộng hòa Người nắm giữ các chức vụ quan trọng trong bộ máy ngụy quyền từ Trung ương đến địa phương thường là các tướng tá quân đội, đội lốt dân sự Ngụy quyền miền Nam là chính quyền độc tài, quân phiệt Trải qua gần một nhiệm kỳ lãnh đạo quốc gia, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu lộ rõ là nền độc tài quân sự được che đậy khéo léo qua
cuộc Bầu cử mang tính dân chủ: “Nếu nói rằng mỗi lá phiếu là một viên gạch xây
dựng quốc gia thì những là phiếu đó trái lại là để xây dựng một chế độ độc tài ”
[32]
Quá trình làm Tổng thống của Nguyễn Văn Thiệu cũng là khoảng thời gian ông củng cố nền độc tài quân sự và lấy lòng tin nơi các tướng lĩnh của mình Tổng thống Thiệu có những tính tốt cần thiết cho một quân nhân làm chính trị Trong thời gian từ cuối năm 1963 đến năm 1967, trong khi hầu hết các tướng lĩnh đàn anh hoặc
bị giải nhiệm, lưu đày và giam lỏng thì Thiệu dần dần lấy được sự tín nhiệm của đa
số quân nhân qua sự kiên nhẫn và mềm mỏng khi giao thiệp Cuộc bầu cử năm 1967
là một thí dụ về sự khôn ngoan của ông Thiệu Trong cuộc bầu cử đầu tiên của nền
Ðệ nhị Cộng hòa vào tháng 9-1967, cả hai ông Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia (Thiệu) và Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương (Kỳ) đều muốn ứng cử Tổng thống Hội đồng Tướng lãnh đã đề nghị hai người sẽ đứng chung liên danh và Thiệu tranh cử Tổng thống, còn Kỳ là Phó Tổng thống Điều kiện đưa ra là Thiệu nhường cho Kỳ toàn quyền bổ nhiệm Thủ tướng, các tổng Bộ trưởng của nội các và các Tư lệnh quân sự trọng yếu Nhưng trên thực tế chiếu theo Hiến Pháp, Tổng thống lúc nào cũng có toàn quyền Thiệu lùi một bước để tiến hai bước, đó là cái tầm nhìn của người lãnh đạo nền Đệ nhị Việt Nam cộng hòa Năm 1969, sau khi triệt thoái được thế lực của Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ, Thiệu bắt đầu vấp những lỗi lầm về liên hệ trong hệ thống quân giai, về chiến lược và chiến thuật, khiến các sĩ quan tuớng lĩnh
Trang 31không còn kính trọng ông như là một thủ lĩnh Từ năm 1968 Thiệu bắt đầu củng cố thế lực, đầu tiên là triệu hồi Ðại tướng Trần Thiện Khiêm về nước, bổ nhiệm làm Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Nội vụ, rồi Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng sau khi Thủ tướng Trần Văn Hương từ chức Cùng năm, ông đưa Tướng Ðỗ Cao Trí về làm Tư lệnh vùng III Tháng 7-1970 ông ban hành một sắc lệnh, thay đổi
cơ cấu quân sự trong tương quan giữa Bộ Tổng Tham mưu và Quân đoàn (Quân khu) Nói một cách khác, đến cuối năm 1970, các tướng lãnh đã “vào hàng” theo lệnh Tổng thống Thiệu Nhưng để bảo vệ quyền lực và phòng những biến động có thể xảy ra, Thiệu tập trung quyền lực trong tay mình về hành chính cũng như về quân sự Hành động này đã gây nhiều mâu thuẫn và phẫn nộ trong giới quân đội Lo
sợ đảo chính khiến Thiệu giữ lại một số tướng lĩnh lẽ ra ông phải cho họ giải ngũ từ lâu Cũng vì sợ đảo chính, ông có những liên hệ với một số tướng lãnh mà qua sự quan sát bên ngoài, không hợp với quân phong, quân kỷ Rất nhiều thí dụ cho thấy Thiệu bất cần hệ thống quân giai và chỉ huy quân đội thẳng từ Dinh Ðộc lập: trong cao điểm của cuộc hành quân Lam Sơn 719, Trung tướng Lãm xin được từ chức vì ông không đủ quyền lực và sự ủng hộ của Tổng thống Thiệu để ra lệnh cho hai tướng Dư Quốc Ðống và Lê Nguyên Khang Cũng trong buổi họp đó, tướng Viên một lần nữa xin từ chức Nhưng Thiệu không hành động Không phải Tổng thống Việt Nam Cộng hòa có “vấn đề” khi cho hai vị tướng này giải ngũ; nhưng ông thấy khó tìm những sĩ quan khác trung thành với ông, để thay vào chỗ của hai vị tướng này Một thí dụ khác là khi ông ra quân lệnh bắt giữ Chuẩn tướng Vũ Văn Giai trong khi Quảng Trị thất thủ tháng 5-1972 Thay vì chỉ cần “đề nghị” với Tổng Tham mưu trưởng, hay Tư lệnh vùng truy tố tướng Giai theo đúng tinh thần của hệ thống quân giai, ông Thiệu đích thân ra quân lệnh từ Phủ Tổng thống Lối sử dụng quyền hạn như vậy gây nhiều bất mãn trong quân đội - một tổ chức chỉ trường tồn trong hệ thống quân giai nghiêm ngặt Trong hai năm sau cùng của Việt Nam Cộng hòa, quyền chỉ huy quân đội càng lúc càng bị thu gọn vào Dinh Ðộc lập Cuối năm
1974 - đầu 1975, dù đã ở trong thế thua nhưng tổng thống Thiệu vẫn quyết liệt với chủ trương không nhượng đất Khi Việt Nam Cộng hòa mất Phước Long vào cuối
Trang 32năm 1974, tổng thống Thiệu có thay đổi đôi chút chủ trương không nhượng đất của ông nhưng đã quá trễ Tháng 3-1975, sau khi cộng sản Việt Nam chiếm Buôn Mê Thuột, chỉ trong ba tuần tổng thống Thiệu đơn thân quyết định kế hoạch rút lui quân
sự vô cùng tai hại, dẫn đến sự thất thủ hoàn toàn của Việt Nam Cộng hòa hơn một tháng sau
Trong cuộc tranh cử tổng thống nhiệm kỳ 2 (1971-1975), Nguyễn Văn Thiệu không ngại “vi hiến” khi ra điều kiện cho các ứng viên là phải có được sự giới thiệu của 40 Nghị sĩ (Dân biểu) hay 100 Nghị viên cấp Đô, Thị, Tỉnh Qua đây, Thiệu đã
tự cho mình đặc quyền tuyển chọn trước các ứng cử viên, rồi mới cho dân chúng lựa chọn sau Các ứng viên mà Thiệu chọn lựa chính là những lực lượng trong quân lực, những thành phần dân sự có góp mặt nhưng không có được quyền lực thực sự
Như vậy, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu thực chất là bộ máy “quân sự khoác áo dân sự”, bầu cử chỉ là hình thức biểu lộ dân chủ Về thực chất Thiệu và Hội đồng tướng lãnh đã nắm quyền kiểm soát đất nước
Trang 33Chương 2: SỰ SỤP ĐỔ CỦA NỀN ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HÒA 2.1 Sự khủng hoảng của nền Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa
2.1.1 Phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam
Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu là chính quyền “dân chủ giả hiệu” ở miền Nam Việt Nam, một chính quyền tay sai của đế quốc Mĩ, đi ngược với lợi ích của quốc dân Chính quyền của Thiệu trở thành đối tượng của các phong trào cách mạng miền Nam vì một đất nước hoàn toàn độc lập và thống nhất
2.1.1.1 Chiến đấu làm thất bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mĩ - ngụy (1965-1968)
Sau những thất bại trên chiến trường Nam Việt Nam, Nhà Trắng không thể ngồi nhìn và đi đến quyết định trực tiếp tham chiến Ngày 8-3-1965, quân Mĩ đổ bộ lên bờ biển Đà Nẵng Cùng năm đó, Tổng thống Mĩ cho phép lực lượng vũ trang Mĩ
ở miền Nam Việt Nam được chủ động tiến công đối phương Mĩ còn tiến hành bước leo thang chiến tranh bằng không quân và hải quân ra miền Bắc Việt Nam để “dạy cho Hà Nội một bài học” Số chiến phí mà Mĩ dùng trong cuộc chiến ở Việt Nam ngày càng tăng cùng với sự có mặt của lực lượng Mĩ và quân Đồng minh Năm
1965, Mĩ có hơn 10 vạn quân trên chiến trường và tới cuối năm thì con số này lên tới 17 vạn Trong vài ba năm sau con số này đã lên đến 50 vạn Âm mưu của Mĩ trong chiến tranh cục bộ là: dùng binh lực và hỏa lực áp đảo, thực hiện chiến lược quân sự “tìm diệt” cố dành thế chủ động trên chiến trường, đẩy lực lượng vũ trang đối phương vào thế phòng ngự, phân tán và tàn lụi dần Mở rộng và củng cố hậu phương bằng quân sự và những thủ đoạn giành dân Tiêu diệt quân giải phóng (mở cuộc tấn công vào Vạn Tường và mở hai cuộc phản công mùa khô) nhằm vào những vùng đất do cách mạng nắm giữ
Từ nhận định khoa học và phân tích đúng tình hình, Trung ương Đảng và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam chủ trương giữ thế tiến công cách mạng, tiến lên giành những thắng lợi mới Thực hiện chủ trương trên, quân và dân miền Nam đã giành những thắng lợi chính trị và quân sự, làm thất bại chiến lược
“chiến tranh cục bộ” của Mĩ và tay sai
Trang 34Ngày 26-5-1965, ta giành thắng lợi ở Núi Thành (Quảng Nam) đánh tan một đại đội quân Mĩ Đây là đòn cảnh cáo đầu tiên khi quân Mĩ vừa đặt chân đến Việt Nam Mờ sáng ngày 18-8-1965, ta đánh bại cuộc hành quân mang tên “Ánh sáng sao” của 9 000 quân Mĩ - ngụy, diệt 919 tên Chiến thắng Vạn Tường có ý nghĩa to lớn, nó đã chứng tỏ quân giải phóng hoàn toàn có đủ khả năng đánh Mĩ và thắng
Mĩ, mở đầu cao trào thi đua trở thành dũng sĩ diệt Mĩ ở miền Nam với các khẩu hiệu: “tìm Mĩ mà đánh”, “bám thắt lưng Mĩ mà đánh” Sau Vạn Tường, nhiều “vành đai diệt Mĩ” xuất hiện ở Hòa Vang, Củ Chi, Chu Lai,… Quân dân miền Nam còn tiếp tục đánh bại hai cuộc phản công mùa khô của Mĩ - ngụy trong những năm 1965-1967 Trong mùa khô lần 1 năm 1965-1966, ta đã bẻ gãy 450 cuộc hành quân của 72 000 quân Mĩ - ngụy (trong đó có 22 000 quân Mĩ) với 5 cuộc hành quân “tìm diệt” nhằm vào đồng bằng khu V và Nam Bộ Kết quả ta diệt 104 000 tên địch, trong đó có 42 000 quân Mĩ Mùa khô lần 2 năm 1966-1967, Mĩ sử dụng một lực lượng lớn gồm 980 000 quân (44 000 lính Mĩ và chư hầu), tiến hành 895 cuộc hành quân lớn nhỏ với 3 cuộc hành quân then chốt vào Đông Nam Bộ Quân dân ta kiên quyết chiến đấu, diệt 151 000 tên, trong đó có 68 000 Mĩ và chư hầu, thu nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh Thắng lợi của cách mạng miền Nam trong hai mùa khô đã làm phá sản mục tiêu “tìm diệt” và “bình định” của đế quốc Mĩ và chính quyền Sài Gòn
Nhận thấy những thay đổi trên chiến trường có lợi cho cách mạng, Trung ương Đảng và Trung ương cục miền Nam đã quyết định mở cuộc “Tổng công kích, tổng khởi nghĩa giành chính quyền”, nhằm vào các đô thị lớn, tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân viễn chinh Mĩ, đánh sập ngụy quân, ngụy quyền, buộc Mĩ phải rút
về nước, giành chính quyền về tay nhân dân Đêm 30, rạng ngày 31-1-1968, quân dân miền Nam đồng loạt tiến công và nổi dậy nhằm vào hệ thống phòng ngự của địch, cuộc tấn công trải qua 3 đợt: đợt 1 từ 30-1 đến 25-2, đợt 2 từ 4-5 đến 18-6 và đợt 3 từ 17-8 đến 23-9 Quân và dân ta đã tấn công ở 37/44 tỉnh, 5/6 đô thị lớn, trong đó có 3 thành phố lớn là Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế Ta đã làm chủ Huế trong 20 ngày Tại Sài Gòn, ta đánh vào các vị trí quan trọng nhất trong thành phố (Tòa Đại