Dù không phải là nhà văn chuyên viết về mảng hiện thực lúc ấy, dù chỉ “đá qua”, nhưng nhà văn Lan Khai đã viết về họ, viết về người thợ ấy,viết về giai cấp đóng một vai trò vô cùng to l
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
- -
LÊ THỊ LAN ANH
Đặc điểm tiểu thuyết Lầm Than
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện thực đất nước ta vào những năm 1930- 1945 vô cùng tăm tối Người
dân phải sống trong cảnh “ một cổ hai tròng”, vừa chịu sự thống trị của thực dân
Pháp, vừa chịu sự bóc lột của phát xít Nhật Xã hội bao trùm một không khí ngột ngạt, tăm tối Hoàn cảnh xã hội lúc ấy đã tác động mạnh mẽ, sâu sắc đến tâm hồn,
tư tưởng những người cầm bút Và một số nhà văn đã dùng ngòi bút của mình phô bày những cảnh đời, cảnh người mà họ thấy, họ chứng kiến Các tác phẩm vừa căm ghét xã hội thực dân phong kiến thối nát, vừa phê phán mãnh liệt các thế lực thống trị xã hội, trên cơ sở đó cảm thông, yêu thương và trân trọng con người, nhất là những con người bị vùi dập, chà đạp Đó cũng chính là cảm hứng chung của các nhà văn hiện thực phê phán giai đoạn này
Tiêu biểu của dòng văn học này là tên tuổi các nhà văn như Nam Cao, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan… Phần lớn các tác phẩm ấy đều nói lên cuộc đời, số phận hẩm hiu, bất hạnh, bế tắc của những con người dưới đáy xã
hội, những con người “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” Nhưng có một nhân
vật mà các tác phẩm lúc ấy ít nhắc đến đó là người công nhân Hải Triều từng
viết: “Giống chừng như một cái thông lệ, khi người ta nói đến tiểu thuyết hay xã
hội bình dân là người ta chỉ nghĩ ngay đến những tên ăn mày, ăn xin, những đứa trẻ mồ côi, những phu xe kéo, những tên ăn trộm, hay những gái giang hồ, mà người ta quên tả, quên nhìn, quên nói đến một hạng người quan trọng hơn cả, một hạng người hiện tại bị bóc lột nhiều hơn cả, hạng người mà tương lai sẽ đắp móng xây nền cho xã hội mới, hạng người ấy là hạng thợ” Dù không phải là nhà
văn chuyên viết về mảng hiện thực lúc ấy, dù chỉ “đá qua”, nhưng nhà văn Lan Khai đã viết về họ, viết về người thợ ấy,viết về giai cấp đóng một vai trò vô cùng
to lớn trong sự nghiệp cách mạng là người công nhân qua tiểu thuyết Lầm Than
Trang 3Với tác phẩm "Lầm Than" của Lan Khai xuất hiện lúc đó đã hoàn thiện nét vẻ đầy
đủ về sự cùng khổ của các tầng lớp công – nông – binh trong xã hội ta lúc bấy giờ
Nhà văn Lan Khai là một nhà văn nổi tiếng với các tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết đường rừng, nhưng khi viết về đề tài xã hội, ông cũng khẳng định được tài
năng của mình không hề thua kém bất kì ai Tiểu thuyết "Lầm Than" của Lan
Khai đánh dấu một cái nhìn táo bạo của tác giả về người công nhân, người cộng sản, về cách mạng Không những thế tác phẩm đã miêu tả chân thực cuộc sống của công nhân mỏ thời thuộc Pháp Đó là cuộc sống lầm than, cơ cực đến tột cùng Chỉ vì đói nghèo, vì bọn địa chủ cường hào ở quê áp bức đến không sống nổi, hoặc vì những rủi ro, tai nạn đến cùng quẫn đành phải xa quê, lìa quán ra mỏ than Và họ lại một lần nữa rơi vào địa ngục Họ bị phu phen cho roi vọt, ăn đói mặc rét, bóc lột thậm tệ, cuộc sống tối tăm:
Oằn lưng đội thúng than đầy Nửa lon gạo hẩm suốt ngày cầm hơi (Ca dao)
Và tác phẩm ấy có thể tồn tại trong lòng người đọc ngoài nội dung thì nghệ thuật của tác phẩm đóng một vai trò vô cùng to lớn Chính nhờ nghệ thuật riêng biệt ấy giúp hình thành nên những nét đặc trưng cây bút Lan Khai Khi đi tìm hiểu
đề tài này , chúng tôi mong muốn sẽ phân tích, lý giải một cách hợp lý những yếu
tố đã làm nên Đặc điểm tiểu thuyết Lầm Than Qua đó, góp thêm một tiếng nói
khẳng định vị trí của tác phẩm này trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Ngay từ khi mới hình thành cho tới khi xuất bản thành sách, tác phẩm Lầm Than đã được rất nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình quan tâm và đề cao nhiều mặt
Trang 4Trong Lời giới thiệu cuốn Lầm than, Trần Huy Liệu viết: “Các bạn đọc
sách này, nếu ai đã từng sống trong cảnh lầm than ở giữa dân chúng, các bạn sẽ nhận thấy những tình cảm, những phong tục cho đến những tâm lý của đám dân nghèo mà tác giả đã mô tả ra là rất đúng” Theo ông, Lầm than còn giác ngộ con
người về nạn bóc lột: “Các bạn đọc xong quyển truyện này, nếu thấy mình bỗng
đầy lòng căm tức đối với bọn sống một cách sung sướng bằng mồ hôi nước mắt của kẻ khác và cũng đầy lòng đau xót đối với những người sống một cách khổ nhục đem mồ hôi nước mắt nuôi béo kẻ khác thì tức là người viết ra nó đã đạt được ý nguyện của mình rồi” Và ông cũng thấy rằng đây là một tác phẩm cần và
đáng quan tâm, đáng để đọc
Cũng như thế, lời nhà xuất bản ngay trang đầu cũng đã dành cho Lầm than một sự ưu ái về nội dung của tác phẩm dù chưa đề cập đến nghệ thuật nhưng nó
làm tò mò biết bao độc giả khi cầm cuốn sách lên: “Anh em lao động đã đành nên
đọc sách này để nhận chân lấy cảnh ngộ của mình và để tự hiểu lấy nguyên nhân phức tạp của sự khổ não suốt đời mình Các bậc phú hào lại càng nên đọc sách này để nhớ tới hạng người mà số phận hẩm hiu bắt phải mãn kiếp làm tôi tớ đồng tiền, để thương xót lấy họ và để yêu mến sự công bình hơn trước Trong lúc các người cười thì từ cõi lầm than, những tiếng khóc, những tiếng rên vẫn ngấm ngầm không lúc nào thôi.”
Tiếp đó, nhà văn Hải Triều trong bài “Lầm than, một tác phẩm đầu tiên của
nền văn học tả thực xã hội ở nước ta” đã đánh giá cao đề tài, tư tưởng và phương
pháp sáng tác của Lan Khai: “Đọc xong quyển Lầm than tôi thấy tác giả của nó
mạnh dạn tiến lên trên con đường sáng sủa mà đầy cả chông gai, con đường bênh vực cho giai cấp cần lao, con đường của Chủ nghĩa Xã hội Điều ấy là một điều đáng ghi nhớ trong lịch sử văn học của xứ này” Hải Triều ngoài việc đánh giá
cao về tác giả Lan Khai, thì ông cũng đánh giá rất cao tác phẩm Lầm Than cả về nội dung lẫn nghệ thuật Nhưng tác giả cũng chỉ dừng lại ở việc nêu lên được nét
Trang 5đặc sắc nhất của tác phẩm này là đã “nói đến người thợ, cái hạng khổ sở nhất
trong giai cấp thợ thuyền, hạng thợ mỏ”, cuộc sống đói khổ của họ, nhưng cũng
chưa nói được đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm Theo ông, Lan Khai là nhà văn
“có một ngòi bút sáng suốt giản dị” đã “mô tả cuộc đời khốn khổ, cay chua ghê gớm của hạng người mà sự sống đã hầu hóa ra một đàn súc vật, chịu đựng tất cả những sự bóc lột đê hèn của giai cấp sản chủ một cách tàn nhẫn vô cùng” Lan
Khai là nhà văn hiểu tự do sáng tác và sáng tác hoàn toàn tự do: “Tác giả của nó
từ đầu đến cuối tự do viết một thôi, theo sự quan sát và cảm tình của mình, không theo một cái định lệ nào cả” Đây là tác phẩm đã vạch “một khuynh hướng trong văn học giới, cái khuynh hướng tả thực xã hội chủ nghĩa
Tiếp đến, Vũ Ngọc Phan trong cuốn nhà văn hiện đại quyển 4 tập thượng
đã có bài viết tổng quát về nhà văn Lan Khai Vũ Ngọc Phan viết về quá trình sáng tác của Lan Khai cũng như các tác phẩm, mảng đề tài mà Lan Khai từng tham gia viết, hoàn cảnh ra đời tác phẩm Lầm Than Trong đó, ông đã so sánh tác
phẩm Lầm Than của Lan Khai với nhà văn Trọng Lang: “Những cảnh lầm than
dưới ngòi bút của Trọng Lang là những cảnh suy đốn, trụy lạc trong một xã hội mục nát, chỉ còn cái vẻ rực rở bên ngoài, còn "Lầm Than" của Lan Khai , là một cuộc đời đau khổ và thê thảm của phu mỏ, một hạng lao động đã làm cạn rất nhiều mực của các nhà văn trong thế giới Viết quyển "Lầm Than", Lan Khai đã đứng riêng về một mặt: tả một cuộc đời nhem nhuốc vì than và vì những sự hà hiếp ức chế; tả một hạn người tìm cái vui trong cái chết (rượu và thuốc phiện), tìm cả cái sống trong cái chết nữa (đưa chân vào chốn hiểm nghèo để có miếng ăn) Mới đọc, tưởng như tác giả muốn tựa vào một thuyết và cố đào cho thấy những sự đau khổ của bọn phu mỏ, để chứng cho thuyết của mình Nhưng không phải, Lan Khai đã tả những việc rất thường, những việc mà ai cũng biết và ai cũng có thể thấy được, nhưng nó là những việc có ý nghĩa, những việc chỉ riêng hạng phu mỏ mới có Chỉ đọc lần lượt những việc nặng nhọc vè thê thảm của phu
Trang 6mỏ, trong quyển "Lầm Than" người ta sẽ thấy đời họ tóm tắt cả ở câu này: “Vào chỗ chết để giữ lấy sự sống” Cái ý tưởng ấy đã diễn ra ở mọi việc một cách tự nhiên vô cùng.” Theo ông, Lan Khai là nhà văn năng động trong sáng tạo; “Lầm than của Lan Khai tuy là một tập tiểu thuyết nhưng mọi việc đều thiết thực không khác gì những việc trong một thiên phóng sự” Đương thời tiểu thuyết Lầm than
được khẳng định ở nhiều góc nhìn giá trị từ đề tài, tư tưởng đến phương pháp sáng tác và bút pháp nghệ thuật Tác phẩm được viết lên bằng tất cả cái tâm, cái tài của người nghệ sĩ
Trần Mạnh Tiến, Lan Khai – Nhà văn hiện thực xuất sắc, đã nhận định
“Lan Khai thành công hơn cả ở thể loại tiểu thuyết, tiểu thuyêt về tâm lý xã hội,
về lịch sử và tiểu thuyết đường rừng Bên cạnh đó là những tác phẩm nghiên cứu,
lý luận và phê bình văn học đặc sắc, những tác phẩm ký và truyện ngắn, thơ và câu đối, các công trình dịch thuật, sưu tầm văn học dân gian và hội họa Tất cả góp phần tạo nên bức chân dung sống động về nghệ sĩ Lan Khai” Vũ Ngọc Phan
đã phân tích những thế mạnh của các thể loại tiểu thuyết mà Lan Khai từng tham gia viết để mô tả lại quá trình sáng tác cũng như bức chân dung về nhà văn này
Trong từ điển tác gia văn học Việt Nam thế kỷ XX, Trần Mạnh Thưởng đã
cho người đọc một cái nhìn khái quát và tổng kết nhất về cuộc đời cũng như sự nghiệp sáng tác của nhà văn Lan Khai Tác giả đã khái quát một chặng đường sáng tác của Lan Khai đi từ tiểu thuyết lich sử đến tiểu thuyết tâm lý xã hội Bên cạnh đó, tác giả khái quát được cuộc sống cay dắng của nhưng người thợ mỏ, khẳng định giá trị của Lầm than và ảnh hưởng của tác phẩm Nhưng bên cạnh đó, Trần Mạnh Thưởng cũng cho rằng “Tác giả của nó thật sự chưa hiểu hết cách mạng nên sự phản kháng của những nhân vật chính là cô độc, liều lĩnh và bế tắc”
và cho rằng: “Lầm than cũng chỉ là sự chuyển biến nhất thời của ngòi bút Lan Khai trước ảnh hưởng lớn lao của thời cuộc Bởi sau đó, Lan Khai đã trở về với lối lãng mạn thoát lý tiêu cực
Trang 7Mười thế kỉ bàn luận về văn chương – tập 2 của Phan Trọng Thương cũng
có tìm hiểu về nhà văn Lan Khai, đã có nhân xét: “Lan Khai chỉ là một anh thợ vụng mà thiên hạ không dễ dải như ông tưởng” Khi đọ ta thấy đây là một cái nhìn chủ quan, chưa đặt Lan Khai vào hoàn cảnh xã hội lúc đó, cũng như chưa thấy được hết vị trị các tác phẩm của Lan Khai nằm trong dòng văn học Việt Nam
Ở tự sự học, tác giả Trần Mạnh Tiến viết về tác phẩm tự truyện của Lan
Khai ngoài việc nêu lên những giá trị của tác phẩm Mực mài nước mắt, cái lợi của việc viết tự truyện thì tác giải còn khẳng định tài năng của Lan Khai qua nhiều lĩnh vực: “Là một nhà văn có sở trường trên nhiều lĩnh vực sáng tác như Tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết tâm lý và tiểu thuyết đường rừng, Lan Khai còn biểu hiện nhiều năng lực sáng tạo bằng những phương thức nghệ thuật riêng” [ , tr344]
Và “Mặt khác viết về người thực việc thực cũng là một sở trường của cây bút Lan Khai trong nhiều thiên tiểu thuyết Đây cũng là một nhà văn luôn luôn có ý thức tìm những con đường đi mới cho nghệ thuật tiểu thuyết.” [ , tr 350]
Trong cuốn Lầm Than- Lan Khai (chuyên khảo và tác phẩm), Trần Mạnh Tiến đã có một cái nhìn tổng hợp và sâu sắc về nội dung của tác phẩm Ông đã nói lên được giá trị hiện thực mà tác phẩm đề cập đến, những cái hay, cái mới mà nhà văn Lan Khai phát hiện ra Nhưng về mặt nghệ thuật thì tác giả chưa nói nhiều và khai thác sâu
Nhìn chung, về đặc điểm tiểu thuyết Lầm Than, những công trình bài viết
nghiên cứu còn chưa nhiều, có tính tản mạn và thường thì chỉ đề cập đến nội dung
của tiểu thuyết Từ thực tế trên, tôi đi sâu vào tìm hiểu những Đặc điểm tiểu thuyết
Lầm Than để tìm hiểu khám phá cái hay, cái đẹp còn ẩn chứa trong tác phẩm
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Trang 8Luận văn này nghiên cứu về tiểu thuyết Lầm than (Lan Khai) Việc tìm hiểu
cái hay, cái đẹp trong tác phẩm sẽ giúp khẳng định vị trí của nó trong dòng văn học hiện thực
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu đặc điểm tiểu thuyết trong tác phẩm Lầm Than
(Lan Khai) Tác phẩm lấy từ cuốn Lầm than – Lan Khai (chuyên khảo và tác phẩm) của Trần Mạnh Tiến, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, 2004
4 Phương pháp nghiên cứu
Để có thể hoàn thành đề tài, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu bối cảnh xã hội, văn hóa mà trong tác phẩm đã đề cập đến cùng tài liệu lịch sử đáng tin cậy từ đó đối chiếu để tìm ra được những điều xảy ra trong quá khứ mà nhà văn tái tạo trong tác phẩm
Phương pháp phân tích tổng hợp: đầu tiên đọc tác phẩm, sau đó tập trung chú ý vào các yếu tố chính về nghệ thuật để làm rõ đề tài
Phương pháp so sánh, đối chiếu: để thấy được phong cách riêng cũng như đóng góp của Lan Khai cho nền văn học Việt Nam Trong quá trình nghiên cứu có
sự tiến hành so sánh, đối chiếu với một số cây bút khác ở từng vấn đề có liên quan
để thấy những nét đặc sắc của tiểu thuyết Lầm than
5 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương: Chương 1: Lan Khai – Hành trình sáng tạo nghệ thuật
Chương 2: Hiện thực sinh động về cuộc sống con người
Chương 3: Những thể nghiệm nghệ thuật mới mẻ
Trang 9CHƯƠNG I: LAN KHAI - HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT
1.1 Lan Khai trong hành trình tiểu thuyết 1930 – 1945
1.1.1 Những đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết tâm lý xã hội ở Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945
Từ cuối thế kỷ XIX đến những năm đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam đã
có những điều kiện cần và đủ để chuyển từ phạm trù văn học truyền thống sang phạm trù văn học hiện đại Sự đổi mới theo hướng hiện đại hóa lúc này đã tạo cơ hội cho văn học Việt Nam gia nhập vào quỹ đạo văn học thế giới Nhiều thể loại mới ra đời và có những thành tựu đáng kể đóng góp cho lịch sử văn học dân tộc những tác giả và tác phẩm tiêu biểu; trong đó không thể không kể đến tiểu thuyết Tuy ra đời muộn hơn so với một số thể loại khác nhưng tiểu thuyết đã chứng tỏ được sức trẻ và sức sống của một thể loại đang trong quá trình sinh thành và phát triển Tiểu thuyết vừa kế thừa, tiếp nối những yếu tố truyền thống, vừa tạo nên những đứt đoạn, bứt phá quan trọng góp phần đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc
“Tiểu thuyết là một thể loại văn xuôi có hư cấu, thông qua nhân vật, hoàn cảnh, sự việc để phản ánh bức tranh xã hội rộng lớn và những vấn đề của cuộc sống con người, biểu hiện tính chất tường thuật, tính chất kể chuyện bằng ngôn ngữ văn xuôi theo những chủ đề xác định.” Trong một cách hiểu khác, nhận định của Belinski: "tiểu thuyết là sử thi của đời tư" chỉ ra khái quát nhất về một dạng thức tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận của một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó Sự trần thuật ở đây được khai triển trong không gian vàthời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt cơ cấu của nhân cách Tiểu thuyết dựa theo tính chất củ nó chia ra làm nhiều thể loại khác nhau: Đó là tiểu thuyết tâm lí xã hội, tiểu thuyết giả sử, tiểu thuyết phưu lưu, tiểu thuyết đường rừng
Trang 10Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1945 phát triển trong điều kiện xã hội thực dân- phong kiến Đây là một thời kì (1) văn học vừa vận động một cách
mau lẹ theo hướng hiện đại hoá, vừa có sự phân hoá phức tạp thành nhiều bộ phận, nhiều xu hướng văn học Thời kì này chia làm 3 giai đoạn: 1/ hai mươi năm
đầu thế kỉ, 2/ mười năm tiếp theo, 3/ mười lăm năm sau cùng Trong đó 15 năm sau cùng (1930-1945) là giai đoạn văn học phát triển và đạt đến những thành tựu đỉnh cao, đưa văn học Việt Nam hoàn toàn hội nhập vào quỹ đạo văn học hiện đại thế giới
Ở giai đoạn 1930-1945, trên văn đàn công khai, văn học lãng mạn và văn học hiện thực nối tiếp nhau kết tinh được những thành tựu nghệ thuật nổi bật, có sức sống với thời gian Nếu như ở văn học lãng mạn, cả thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết đều đạt được thành tựu quan trọng thì ở trào lưu văn học hiện thực thành tựu chủ yếu là truyện ngắn, tiểu thuyết và phóng sự Càng về cuối giai đoạn, tiểu thuyết tâm lý xã hội phát triển mạnh trong đó tiểu tuyết hiện thực đã có những bước tiến rất xa so với tiểu thuyết lãng mạn
Tiểu thuyết hiện thực 1930-1945 cũng phát triển trải qua ba chặng đường: 1930-1935; 1936-1939 và 1940-1945 Nếu như chặng 1930-1935, tiểu thuyết lãng mạn của Khái Hưng, Nhất Linh, …trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn chiếm thế ưu trội thì chặng 1936-1939 tiểu thuyết hiện thực đã có những tác phẩm lớn thể hiện
sự bứt phá ngoạn mục của các nhà văn hiện thực: Ngô Tất Tố (Tắt đèn), Nguyễn Công Hoan ( Bước đường cùng), Lan Khai ( Lầm than), đặc biệt là Vũ Trọng Phụng (Giông tố, Vỡ đê, Số đỏ) Những tiểu thuyết này đã bao quát những vấn đề
xã hội rộng lớn như cuộc đời cùng khổ của nông dân (Tắt đèn, Bước đường cùng,
Vỡ đê), công nhân ( Lầm than), những thủ đoạn áp bức bóc lột, những hành động
thương luân bại lí của bọn cường hào, địa chủ, tư sản (Giông tố, Số đỏ) Các tiểu thuyết này đã đạt đến trình độ điển hình hoá rất cao, đã xây dựng được những tính
Trang 11cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình theo giới thuyết về chủ nghĩa hiện thực
của Ăng-ghen
Đặc điểm của tiểu thuyết tâm lý xã hội giai đoạn 1930 – 1945 so với các loại tiểu thuyết khác thì ở đây, nhân vật, ngôn ngữ, côt truyện được xây dựng một cách gần gũi, cụ thể hơn Tac giả không dẫn dắt cốt truyện, dàn dựng nhân vật nhằm minh hoạ cho một luận đề nữa mà đã đưa ngòi bút khám phá sâu hơn vào cõi lòng, vào thế giới tình cảm của con người với những khát khao và nuối tiếc trước lằn ranh của tình yêu và phẩm hạnh, của đạo đức và cuộc đời, tình bạn và tình người
Không chỉ thế, tiểu thuyết tâm lý xã hội giai đoạn 1930-1945 đã hướng tới những nhân vật của đời sống thường ngày Nhà văn không nhìn nhân vật với thái
độ chiêm ngưỡng, sùng mộ hoặc khinh khi, xa lạ mà miêu tả nhân vật như tự nó vốn thế, vừa khách quan vừa thân mật, gần gũi
Khác với văn học truyền thống viết bằng chữ Hán, chữ Nôm, văn xuôi Quốc ngữ nói chung và tiểu thuyết nói riêng đã hướng về đời thực, về những cái đang xảy ra bằng ngôn ngữ thường ngày, tự nhiên, dung dị Ngôn ngữ đó gắn liền với cuộc đời thực, không khoa trương, mỹ lệ Những tục ngữ, thành ngữ, phương ngữ của địa phương được mnag vào trong tác phẩm Khi đọc, những ngôn ngữ bình dị đó mang cho chúng ta cảm giác tác phẩm gần gũi, dễ tiếp nhận hơn, dễ hiểu hơn
Thế giới nhân vật được xây dựng một cách phong phú Nhân vật được đặt
trong mối quan hệ đời thường, đời tư Tác giả đi sâu vào hoàn cảnh đời tư, miêu
tả những “con người nhỏ bé”, “những kiếp lầm than”, các nhà tiểu thuyết hiện thực đã thể hiện nhân vật của mình như những nạn nhân bất lực của hoàn cảnh
Ngoài ra, tình yêu cá nhân được miêu tả, thể hiện đầy màu sắc, mạnh mẽ hơn, nội tâm nhân vật được khắc họa sâu sắc hơn Hiện thực xã hội được thể hiện một cách gián tiếp thông qua câu chuyện, cuộc đời của nhân vật
Trang 12Tóm lại, tiểu thuyết ra đời là một tất yếu của quá trinhg vận động văn học Trong đó, tiểu thuyết tâm lý xã hội là một mảng không thể thiếu để đưa tác giả đến gần với người đọc Trong các nhà văn đó, Lan Khai đã đánh dấu tên mình với rất nhiều tiểu thuyết tâm lý xã hội hay và Lan Khai đã đưa ngòi bút của mình đến với rất nhiều mảng khác ở thể loại tiểu thuyết Mỗi mảng ông có những thành công riêng Riêng ở thể loại tiểu thuyết tâm lý xã hội, ông đã cho chúng ta tác phẩm “Lầm than”, một tác phẩm có thể xem là viết về đề tài công nhân – người thợ mỏ sớm nhât
1.1.2 Lan Khai với tiểu thuyết tâm lý xã hội
Nhà văn Lan Khai tên khai sinh là Nguyễn Đình Khải, sinh ngày 24 tháng 6 năm 1906 tại Bản Luộc, xã Vĩnh Lộc, châu Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang nay là thị trấn Vĩnh Lộc, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang Trong quá trình sáng tác, nhà văn sử dụng nhiều bút danh như Huệ Khai, Thục Oanh, Lâm Tuyền Khách, Lan, ĐKG, nhưng được độc giả biết đến nhiều hơn cả với bút danh Lan Khai Sở dĩ nhà văn lấy bút danh là Lan Khai vì ông thích loài hoa này Mỏng manh với núi đồi, sống phù phiếm nhưng để lại làn hương dễ chịu cho đời Bút danh này cũng đã “ám” vào thân phận nhà văn Ngắn ngủi, ẩn dật, không xô bồ nhưng tinh khiết và đẹp đẽ đến vô ngần
Thân phụ của Lan Khai là Nguyễn Đình Chức (còn gọi là cụ Lan Chức), sinh năm Canh Ngọ (1870), nguyên quán ở tỉnh Thừa Thiên Huế Ông là một nhà nho kiêm lương y Mẹ Lan Khai là Lê Thị Thục, xuất thân trong một gia tộc lâu đời ở địa phương Nhà văn có một người chị gái tên là Nguyễn Thị Tuyết Nhung
Thuở nhỏ, Lan Khai được sống gần gũi với các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Cao Lan, Hà Nhì, Năm 8 tuổi (1914), nhà văn theo cha mẹ chuyển về sống ở làng Xuân Hòa (nay thuộc phố Xuân Hòa, tỉnh lỵ Tuyên Quang), nơi cư trú của nhiều gia đình thợ thuyền và phu mỏ (vì làng Xuân Hòa tiếp giáp với mỏ than Tuyên Quang và mỏ kẽm Tràng Đà) Tại đây, bố mẹ Lan
Trang 13Khai tiếp tục làm nghề cứu nhân độ thế Lúc khó khăn, mẹ ông “bồng bềnh xuôi ngược” mua bán sơn hào ở các ngọn sông Chính người mẹ đã truyền cho ông cái kho tàng văn học dân gian phong phú và người cha đã truyền cho ông cái kho sách thánh hiền với các tri thức về lịch sử và văn hóa nước nhà Thời niên thiếu cho tới lúc trưởng thành, nhà văn đã chứng kiến bao cảnh lầm than của cuộc đời người thợ Chính những hiện thực được chứng kiến đã giúp nhà văn có cái nhìn đồng cảm, xót xa cho các thân phận, các kiếp người
Thuở thiếu thời, Lan Khai có một niềm đam mê hội họa rất lớn, nhà văn từng mang khát vọng “làm một họa sĩ để vẽ lại tất cả buồn vui của cuộc đời” Cũng chính vì khao khát đó mà nhà văn từ chối làm một “ông thông ông ký” và cũng chấp nhận cái nghèo để được tự do Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, ngoài
sở trường vẽ tranh phong cảnh và ký họa , nhà văn còn làm thơ và có tâm hồn yêu
âm nhạc Lúc quyết định từ giã con đường y nghiệp của tổ tiên, Lan Khai đã tuyên thề “anh sẽ làm một nhà tiểu thuyết” và chính ước muốn đó đã đưa nhà văn dấn thân vào cái “nghiệp chướng văn chương”
Chỉ trong vòng 17 năm của đời cầm bút ngắn ngủi nhưng không ngừng nghỉ, Lan Khai đã để lại gần 50 cuốn sách các loại Riêng về lĩnh vực văn xuôi,
sáng tác của ông có thể chia làm ba loại: tiểu thuyết đường rừng, tiểu thuyết tâm lý
xã hội và tiểu thuyết lịch sử Lan Khai đặt chân vào làng tiểu thuyết đầu tiên với
đề tài tâm lý xã hội, mở màn bằng cuốn ái tình tiểu thuyết Nước Hồ Gươm (1928)
Đây là những năm tháng cuối cùng của giai đoạn giao thời đầu thế kỉ XX, là thời điểm chuyển mình mạnh mẽ của cuộc cách tân văn học dân tộc, mở ra một thời đại huy hoàng của thơ ca và tiểu thuyết (1930 - 1945) Ở tuổi 22, cái hoài bão phi thường nhưng bình dị “Anh sẽ là một nhà tiểu thuyết” đã dẫn dắt Lan Khai trở thành một nhà văn nổi tiếng với nhiều thể tài phong phú, từ các tiểu thuyết tâm lý – xã hội đến các tiểu thuyết lịch sử và các “Truyện đường rừng tươi đẹp” Bên cạnh đó, Lan Khai cũng đồng thời là một nhà nghiên cứu, lý luận và phê bình văn
Trang 14học, một dịch giả tài hoa Chỉ riêng các tiểu thuyết tâm lý xã hội như: Cô Dung (1928 – 1938), Lầm than (1929 - 1934) xuất bản 1938, Liếp Ly (1938), Sóng lúa
reo (1938), Nàng (1940), Mực mài nước mắt (1941), Mưa xuân (1942 – 1943),…
đã khẳng định tên tuổi một nhà văn tài năng có cái nhìn tinh tế và nhân hậu Hàng loạt các tiểu thuyết trên đã góp phần khắc họa nên những bức tranh muôn màu từ nông thôn đến thành thị, hầm mỏ, nhà trường và môi trường gia đình, xã hội gắn với những cảnh đời và những số phận riêng Tác phẩm của Lan Khai có sự phối hợp linh hoạt giữa bút pháp hiện thực và lãng mạn, làm sống dậy chiều sâu về đời sống nội tâm phức tạp của con người “thời kỳ Âu hóa” đầu thế kỷ XX Nó giúp cho ông có một chỗ đứng riêng trong nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, góp phần làm cho diện mạo của nền văn học dân tộc giai đoạn 1930 - 1945 trở nên phong phú Có thể khẳng định, Lan Khai là một cây bút sung mãn cùng với các nhà văn
Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Thạch Lam, Nguyên Hồng, từng tham gia vào công cuộc khai sơn phá thạch cho nền văn học mới
Tiểu thuyết hiện đại Việt Nam ra đời là một công cuộc cách mạng và tư duy nghệ thuật ở nhiều phương diện Do nhu cầu phản ánh cuộc sống ở quy mô sâu rộng, cùng với sự tiếp thu kinh nghiệm của các nền tiểu thuyết tiên tiến trên thế giới, các nhà văn Việt Nam đã sáng tạo ra nhiều sản phẩm nghệ thuật mới, làm nên diện mạo riêng của tinh thần dân tộc Sự phong phú đó thể hiện ở các phương diện: Đề tài, ngôn ngữ và thi pháp cùng với các quan niệm nghệ thuật mới Mỗi tiểu thuyết đều minh chứng cho cách nhìn riêng, nhân sinh quan của mỗi nhà văn
về cuộc đời Ở phạm vi hiện thực, có thể thấy các sáng tác của Lan Khai và các nhà văn thời kì này đã đi vào nhiều mặt, nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống:
Từ thành thị tới nông thôn, từ đồng bằng tới rừng núi, và truyền thống lịch sử, với mọi tầng lớp con người trong xã hội Tuy nhiên, trong đó còn có những mảng hiện thực còn trống vắng nét bút người nghệ sĩ, đặc biệt là mảng hiện thực về số phận, cuộc sống đau thương của những người thợ Và Lan Khai với tiểu thuyết
Trang 15Lầm Than đã đáp ứng được những mong chờ của độc giả, xóa đi khoảng trống đó
của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tiểu thuyết tâm lý – xã hội của Lan Khai đã mở ra những bức tranh
đa chiều, sâu rộng về những con người và cảnh ngộ khác nhau Mỗi câu chuyện là một dấu hỏi lớn đặt ra những vấn đề bức thiết từ hiện thực cuộc sống được nhà văn gia cố, vận dụng linh hoạt các phương diện nghệ thuật khác nhau Tiểu thuyết của Lan Khai là những câu chuyện giàu tính hiện thực, phản ánh những vấn đề nhức nhối của thời đại và toát lên vốn sống phong phú, trải nghiệm của một nhà văn tài hoa, sắc sảo
1.2 Tiểu thuyết Lầm Than
Nếu Nước Hồ gươm là tấn bi kịch của người phụ nữ đức hạnh, phê phán lối sống trụy lạc của một bộ phận trí thức đương thời Thì đến Cô Dung, tác giả đã
“lưu lại một kí ức” về truyền thống trong thời kì xã hội Việt Nam đang có nhiều thay đổi Điều này cho thấy, Lan Khai cũng là một trong những nhà văn viết về người phụ nữ nông thôn sớm nhất Đặc biệt, việc về người công nhân, người thợ
mỏ là một thành công trong sự nghiệp viết tiểu thuyết tâm lý xã hội của Lan Khai
Tiểu thuyết ấy có tên là Lầm than, hình thành trong giai đoạn 1929 - 1933 và xuất
bản vào năm 1938 là một sự kiện lớn của đời sống văn học dân tộc lúc bấy giờ Đây là cuốn tiểu thuyết được nhà văn thai nghén trên mảnh đất Tuyên Quang, ban
đầu tiểu thuyết có tên là Địa ngục
Lời phát biểu của văn hào Pháp R Rolland được nhà văn Lan Khai trân trọng lấy làm đề từ cho công trình Lê Văn Trương – mớ tài liệu cho văn học Việt
Nam: “Sống được tích sự gì cho ta, nếu sống chẳng là để sửa chữa những lầm lạc của ta, thắng đoạt những thành kiến của ta và càng ngày càng mở rộng thêm tư tưởng và tâm hồn ta? Hãy yên tâm… mỗi ngày ta lại cố gắng để đến gần sự thật thêm một ít” có thể xem chính là tinh thần để đến với Lầm than - một tượng đài kỉ
Trang 16niệm về cuộc đời thợ mỏ trong thời kì lịch sử “khổ nhục nhưng vĩ đại” của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam (Trần Mạnh Tiến)
1.2.1 Một góc nhìn riêng về hiện thực
Thời gian viết Lầm than, Lan Khai hoạt động bí mật trong tổ chức Quốc
dân đảng của Nguyễn Thái học rồi bị bắt giam Tổ chức Đảng bị tan vỡ, nhiều chiến sĩ yêu nước phải lên đoạn dầu đài Khi đó, nhà văn đã nhìn thấy những nhân
tố mới của những người Cộng sản Ra tù, Lan Khai tiếp tục hoàn thành Lầm than
Vượt qua lưới kiểm soát của nhà cầm quyền Pháp, năm năm sau, tác phẩm mới
được in thành sách Khi còn là bản thảo, Lầm than đã được truyền tay rộng rãi
trong bạn đọc Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên ở Việt Nam viết về số phận những người công nhân vùng mỏ Lan Khai đã vẽ lên bức tranh hiện thực đau thương, đầy sự cơ cực, bóc lột Bức tranh là lời tố cáo đanh thép chế độ áp bức bóc lột của thực dân Pháp và bọn tay sai đối với người lao động nghèo, bần hàn Đồng thời, bức tranh đã vẽ nên chân dung đẹp đẽ của những người chiến sĩ đi gieo mầm Cách mạng, chuẩn bị cho một cuộc đổi đời của dân tộc
Khi đặt xong ách thống trị trên đất nước ta, thực dân Pháp bắt tay ngay vào công cuộc khi thác thuộc địa trên quy mô rộng lớn Các nguồn tài nguyên thiên nhiên trở thành những món hời béo bở của lũ thực dân cướp nước Có thể nói,
trong tác phẩm Lầm Than mọi thứ đều thuộc về cả dân tộc, thuộc về những người
thợ mỏ lầm than, cơ cực thuở trước từ không gian tiểu thuyết đến con người, nhân vật, “Họ sống lầm than và chết cũng lầm than Đồng lương họ làm ra vô cùng rẻ mạt, lại bị bớt xén bằng nhiều thủ đoạn Con người lao động dường như chỉ còn lại cái bản năng sinh vật Đó là sự thực trong trong nhiều hầm mỏ thời thuộc Pháp
mà mỏ than Tuyên Quang là một minh chứng sống”
Ngay từ khi lên tám tuổi, cậu bé Nguyễn Đình Khải đã sống giữa môi trường của những người phu mỏ than tại làng Xuân Hòa nằm trên bên bờ sông Lô thuộc tỉnh Lỵ Tuyên Quang Mỗi lần sau giờ học, Khải cùng bạn bè la cà vào khu
Trang 17mỏ xem phu đào than ở các hầm mỏ, hòa đồng với con em của những người thợ
mỏ, tận mắt chứng kiến những cảnh đời lem luốc từ địa ngục đến trần gian, cả những tai nạn bất ngờ đổ xuống đầu những người lao động như nạn sập lò, ngạt khí, cảnh cai thầu chủ mỏ hành hạ, cưỡng bức những người nghèo khổ lương thiện, Là một người có tâm hồn nhạy cảm, thông minh lại được sinh trưởng trong một gia đình Nho học kiêm lương y Được học hành, càng lớn Khải càng hiểu biết sâu sắc hơn cội nguồn của sự đói nghèo, bất hạnh và nô lệ cùng những nguyên nhân xô đẩy con người đến cảnh lầm than tăm tối Tình thương con người
và nỗi nhục mất nước đã hun đúc những khát vọng tự do trong tâm hồn nhà văn
Từ khi cầm bút viết cho đến khi Lầm than chính thức ra đời, Lan Khai đã có gần
20 năm gần gũi với cuộc sống của những người phu mỏ Tất cả những điều đó đã
dồn nén và hun đúc nên một Lầm than từ nguyên mẫu những người công nhân mỏ
khổ cực, sống trong giai đoạn cả dân tộc bị lầm than Cuộc sống và cuộc đời của những người công nhân mà Lan Khai được tận mắt chứng kiến chính là chất liệu hôi hổi cho nhà văn trong việc đưa hiện thực đời sống vào tác phẩm của mình
Thực dân Pháp chỉ chăm chú vào khai thác lợi nhuận, bỏ qua mọi vấn đề dân trí, dân sinh Cuộc sống khu mỏ trở thành nơi hỗn độn Những nhân chứng còn sót lại nơi đây cho biết: mỗi ngày người phu than phải lao động 12 tiếng đồng
hồ trong hầm mỏ Theo điều tra của các nhà làm sử còn cho biết: “Lương công nhân khoán theo sản phẩm: một công là một tấn than, 5 tạ là nửa công, dưới 5 tạ không có công Số lượng than đó trừ vào dầu đèn Một tổ công nhân kể cả kai có
20 người, mỗi ngày phải khai thác vận chuyển từ lò lên mặt đất 40 goong than (mỗi goong 0,5 tấn) tức là 20 tấn than” Còn về cuộc sống, công nhân ở chui rúc trong các lều lán, thường ngày phải đong gạo ngữ (đong chịu tiền gạo), đến kì lĩnh lương vợ cai trừ luôn Chính hiện thực đau đớn đó đã không ngừng thôi thúc ngòi bút của nhà văn Vợ nhà văn kể lại: “ Tại Tuyên Quang, gia đình tôi sống trong căn nhà lá năm gian hai trái, xóm Gốc Nhội, gần đình Xuân Lôi, tại khu phố Xuân
Trang 18Hòa cùng với nhiều gia đình thợ thuyền và phu mỏ họ từ nhiều tỉnh miền trung và miền xuôi tới đây kiếm sống Lan Khai từng chứng kiến những nạn sập lò, cảnh cai thầu, chủ mỏ đánh đập những phu than như súc vật, cả những chuyện bọn quan Tây cưỡng ép người mình Nhiều đêm, anh thức trắng bên ngọn đèn dầu, ghi ghi chép chép những cảnh éo le, những kiếp đói nghèo, cả những chuyện hỗn độn trong khu phố có các gia đình phu mỏ Ngày ấy, cả tỉnh Tuyên Quang mới chỉ có một nhà thương nhỏ, chỉ có vài thứ thuốc đau bụng và sốt rét với dăm thầy thuốc
Ai đau nặng thì phải xuôi thuyền xuống Phủ Đoan chạy chữa Tuần nào cũng có phu than chết vì bệnh nạn Từ hiện thực cuộc sống đó, từ những nỗi đau của người dân nô lệ, người dân mất nước, sống trong cảnh lầm than đó, đã đưa Lan Khai tới
sự thai nghén chân dung cuộc sống Lầm than trong nghệ thuật ngay từ năm 1929
đến đầu những năm 1930”
Công cuộc khai phá thuộc địa của thực dân Pháp đã làm phân hóa sâu sắc
xã hội Việt Nam, tạo điều kiện cho tầng lớp công nhân ra đời Trong khoảng 30 năm đầu thế kỷ XX, ca dao viết về người công nhân đã nói lên cuộc sống cực khổ của những người phu đồn điền và thợ mỏ:
Cao su xanh tốt lạ thường Mỗi cây bón một xác người công nhân
… Cao su đi dễ khó về Khi đi trai tráng, khi về bủng beo
hay:
Đó đây người gục chết Nhưng than vẫn đầy toa
Hiện thực nhuốm máu nhưng nhìn chung, qua văn học đương thời, chân
dung người công nhân lao động còn mờ nhạt, chỉ đến khi Lầm than của Lan Khai
ra mắt bạn đọc, hình tượng người thợ mỏ mới hiện lên một cách chân thực và sinh
Trang 19động Đó là những con người “đổ mồ hôi sôi nước mắt”, có khi liều cả tính mạng
để đổi lấy sự sống Nói như nhà văn Hải Triều: “Một hạng người quan trọng hơn
cả một hạng người hiện tại bị bóc lột nhiều hơn cả, hạng người mà tương lai sẽ đắp móng xây nền cho xã hội mới, hạng người ấy là hạng thợ” Điều đó thể hiện tinh thần sáng tạo của ngòi bút Lan Khai Nhà văn đã bắt đúng mạch nhu cầu của cuộc sống Mặc dù trong thực tiễn, bản thân đề tài hiện thực vẫn còn mới, chưa hẳn đã làm nên những thành quả cao về nghệ thuật, nhưng điều quan trọng hơn hết là chúng ta nhận thấy một năng lực am tường và tâm huyết của người nghệ sĩ trước những câu hỏi lớn đặt ra từ hiện thực bức thiết của cuộc sống Chúng ta tìm thấy ở Lan Khai cả cái tâm, cái tài của người nghệ sĩ trước số phận con người
trong hoàn cảnh lịch sử hết sức ngặt nghèo Cho dù sau Lầm Than trở đi, hình
tượng người thợ mỏ cũng dần xuất hiện trong các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan, Võ Huy Tâm, nhưng trong lòng độc giải nhiều thế hệ vẫn sống lại trong tâm trí mình bức tranh về những gương mặt nhàu nát than bụi, những tấm lưng trần đẫm máu, những thây người bị vùi lấp trong cỏ dại của cuộc đời nô lệ, in
bóng ở Lầm than Đặc biệt là sự xuất hiện những người chiến sĩ đi gieo mầm cách
mạng chuẩn bị cho một cuộc đổi đời vĩ địa của dân tộc
Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã sản sinh ra một tầng lớp xã hội mới – giai cấp vô sản Việt Nam với tên gọi như: cu li, thợ thuyền, phu
mỏ, phu xe, Phần lớn là nông dân do bị bọn thực dân phong kiến áp bức bóc lột đến bần cùng, kèm theo đó là thiên tai lũ lụt, nhiều người phải tha phương, cầu thực dạt vào các đồn điền, hầm mỏ trở thành người làm thuê cho chủ Trong tiểu
thuyết Lầm than, tác giả đã để cho tên cai thầu nói ra cơ sự đó trong một lần tuyển
thợ: “Tôi có cần gì! Ở đường xuôi lụt lội, còn hàng vạn người xin làm công không chẳng ai thèm mướn đành chịu chết đói nhăn răng cả ra với nhau kia kìa”(Chương XIII) Hay đoạn nói về cai Tứ, kẻ sống bằng nghề bóc lột “người ta bảo ở quê lão, ruộng nương lão tậu ngày một nhiều, nhà ngòi cây mít đủ cả”(Chương I) Người
Trang 20thợ trong Lầm than là những người tìm sự sống ở nơi địa ngục, họ phải lao động
nặng nhọc, nguy hiểm, cái chết luôn rình rập bên mình: Chết vì sập lò, chết vì ngạt khí độc, chết đuối trong hầm lò hoặc sơ sẩy bị xe goong đè nát, Rồi đến những cảnh tượng chết vì đói rét, bệnh tật, bị đánh đập tàn nhẫn, bị tước quyền tự do Họ sống lầm than và chết cũng lầm than Đồng lương họ làm ra vô cùng rẻ mạt lại bị bớt xén bằng nhiều thủ đoạn Con người lao động dường như chỉ còn lại bản năng sinh vật Đó là sự thực đau đớn trong nhiều hầm mỏ thời thuộc Pháp
Người thợ mỏ trong hoàn cảnh đau thương, cùng cực đã bị biến thành công
cụ lao động cho bọn cai thầu chủ mỏ, họ bị bần cùng về vật chất, bế tắc về tinh thần, không biết đến tương lai, không tự tin và tự chủ vào bản thân mình Họ sa vào rượu chè, cờ bạc, thuốc phiện, nhiều khi dẫn đến hành vi thô tục, kèm theo những quan niệm sống lạc hậu, mặc cảm về số phận là người, mất hết tinh thần
phản kháng Ngay từ đầu của tiểu thuyết Lầm than, nhà văn đã vẽ nên những bức
tranh đa màu sắc, đã đập vào mắt ta những cảnh đời bi thương của người thợ:
“Hàng trăm người khác cũng từ các túp lều tranh lụp xụp ở xóm cu li hiện ra lố nhố, chạy hấp tấp như đàn vật bị dồn đuổi” Còn tâm hồn của họ đã trở nên chai sạn: “Bị ép chế quen rồi, bọn người khốn nạn ấy không còn nhân cách và tinh thần phấn đấu nữa Họ chỉ đổ liều cho số phận, Ngay họ với nhau họ cũng không tin nhau Cuộc đời của họ cứ như thế cho đến lúc chết Nó cũng không khác gì cái cuộc đời của những con trâu, con bò hay con ngựa thồ”
Sự đày đọa về thể xác dẫn tới sự tê liệt tinh thần của người lao động, họ sống theo bản năng tự phát, rồi cái chết thê thảm cũng thình lình đổ xuống, cái chết của người thợ mỏ chẳng khác nào như con giun, con dế Đó chính là bản án đanh thép tố cáo chính sách áp bức bóc lột của xã hội thực dân đương thời Bọ n chủ tư bản Pháp dựa vào bọn cai thầu người Việt làm tay sai đắc lực cho chúng đẩy sự áp bức bóc lột người lao động lên đỉnh điểm, dã man và phi nhân tính Bọn chúng coi thường mạng sống con người, phá hoại bao gia đình hạnh phúc và nhấn
Trang 21chìm nhân phẩm của người lao động Lầm than là bức tranh phản ánh về bóng
đêm mịt mùng giăng kín cuộc đời những người dân nô lệ Tiểu thuyết là tiếng nói đau thương về những mảnh đời đau khổ, thê thảm của người phu mỏ - “một hạng lao động” đã làm cạn rất nhiều mực của các nhà văn trên thế giới
1.2.2 Một tiểu thuyết đầy chất phóng sự và giàu kịch tính
Trong công trình “Nhà văn hiện đại”, tác giả Vũ ngọc Phan đã nhận xét:
“Lầm than của Lan Khai tuy là một tập tiểu thuyết nhưng mọi việc đều thiết thực, không khác gì những việc trong một thiên phóng sự Khi đọc tác phẩm, ta như thấy tác giả là một người làm phim thời sự, đưa ông kính vào mọi ngõ ngách của cuộc đời người thợ mà không hề tô vẽ gì cảnh sống nơi địa ngục trần gian của họ…” Chẳng hạn, cảnh tượng một anh thợ trẻ mới nhập lò: “Vừa vào chừng độ mười thước tây, Thuật đã khó thở, cảm thấy trên ngực như có một vác nặng gì nó
đè ép Là vì không khí trong lò hầm hấp nóng và đầy những hơi nước, phần lớn sặc sụa những mùi khói đèn, mùi phân của bọn cu li, ba bề, bốn b ên, thành lò đều gỉ ra một thứ nước đen tong tỏng, nhớp nháp, ghê tởm quá chừng” (tr 84)
Hay cảnh hơi ghi – nu bị phát nổ: “Tất cả bọn phu đều chết không những bởi các
mảnh than vụn, đá vụ bắn vào người như mảnh phá mà còn bởi cái hơi ghi –du thui chín nhừ Lúc người ta lôi các nạn nhân ra thì anh nào anh nấy quần áo đã cháy hết, thân thể trương to lên, nứt toác và đen thui lại như lợn nhà cháy, không còn phép tiên nào chữa được nữa.” (tr 83) Hiện thực mà Lan Khai phơi bày
chính là những vấn đề nóng hổi, nhức nhối của thực trạng xã hội lúc bấy giờ Từng trang tiểu thuyết là những thước phim quay chậm, đau đớn nhưng đầy căm hờn Với bối cảnh lịch sử như lúc này, số phận đau thương của dân tộc và nhất là những người phu mỏ trong bóng đêm nô lệ trở thành điểm nóng mang tính thời sự của xã hội Nhưng, không phải nhà văn nào cũng nắm bắt được như Lan Khai
Lầm than đưa người đọc đến với những hiện thực nhức nhối của bao mảnh đời bất
Trang 22hạnh với sức dồn nén, lên án mạnh mẽ từ ngòi bút sắc sảo của nhà văn Trong
Lầm than, có những cảnh nhà văn đặc tả cảnh sập lò sáu người thợ chết thui “Như
một đàn lợn chết trong đám cháy, tất cả sáu cái xác đều đen thui như than và trương nứt chín nhừ cả ra, không còn lấy một mảy râu tóc, không còn lấy một manh áo quần nào nữa, chân tay thì co quắp lại; mặt mũi biến dạng trông rất ghê
sợ và thê thảm.” (tr 211) để nhấn mạnh, tố cáo sự nguy hiểm của công việc hàm
mỏ Nhưng cũng có những cảnh nhà văn lia góc máy thoáng qua: “Anh bần thần
nhìn các người tù kia ăn vội vàng và tranh cướp nhau chẳng khác đàn gấu đói”
(tr 245) , để đưa người đọc tiến sâu hơn vào bức tranh toàn cảnh của một lớp người đau thương trong một xã hội đen tối, tàn nhẫn lúc bấy giờ
Đặc biệt, Lầm than đã đưa người đọc đến với những tình huống, những màn
kịch sinh động như cảnh đối thoại giữ cai Tứ và Thuật (Chương XIII, XV) dẫn đến xung đột quyết liệt giữa Thuật và cai Tứ và chủ Tây, cảnh Thuật bị bắt tại nhà riêng (Chương XVI); Thuật ra hầu tòa (Chương XIII), Tất cả đều có thể chuyển thành những vở kịch đầy kịch tính Như đoạn khi Thuật bị bắt, Tép ở nhà một mình, thì Cai Tứ đến:
“Tép muốn gào lên những câu chủi rủa để hả cơn oán hận nhưng Tép chỉ hỏi được một câu như thế
Cai Tứ thì ngọt ngào:
- Thôi chị khóc làm gì nữa! Tôi nghĩ tình cảnh chị, tôi cũng ái ngạ i lắm nhưng chỉ vì chồng chị hỗn láo quá, không sao tha thứ được! Ai lại dám đánh cả tôi, cả ông chủ, không còn coi người trên ra gì nữa Mà tôi có làm gì anh ấy cho cam, tôi chỉ vạch đường vẽ lối cho anh ấy đi tới sự giàu có, sung sướng mà thôi
Cai Tứ cứ nói, Tép cứ giương trừng trừng hai mắt nhìn nhưng không thấy
gì mà tai chị cũng không nghe rõ gì cả” (tr 249)
Tác giả đã tạo ra hai thái cực tinh thần đối lập: giữa chủ và thợ; giữa kẻ có quyền và người bị áp bức, giữa kẻ có tiền và người làm thuê ăn lương Một bên là
Trang 23lòng ngay dạ thẳng, một bên là gian ngoan xảo quyệt, một đằng gợi ý thăm dò và hăm dọa, một đằng thì thận trọng nghi ngờ rồi phản kháng Hai thái cực tinh thần
ấy, song hành tồn tại cùng trong tác phẩm Từ đó, nó tạo nên những mâu thuẫn, những xung đột của tác phẩm Với bút pháp tả thực linh hoạt, tác giải đã tạo ra những tình huống mâu thuẫn được đẩy lên đến đỉnh điểm nhưng cũng diễn ra rất
tự nhiên phù hợp với logic như bản thân câu chuyện cần phải có Chính sự kịch tính và chất phóng sự đó đã thu hút biết bao độc giả từ thế hệ này đến thế hệ khác, tạo sự hấp dẫn riêng cho chính tác phẩm Lầm than
CHƯƠNG II: HIỆN THỰC SINH ĐỘNG VỀ CUỘC SỐNG CON NGƯỜI
Đến với Lầm than, chúng ta có thể thấy, Lan Khai đã đứng riêng về một
mặt: tả một cuộc đời nhem nhuốc vì than và vì những sự hà hiếp áp chế; tả một hạng người tìm cái vui trong cái chết, tìm cả cái sống trong cái chết nữa Mới đọc tưởng tác giả chỉ cố gắng đi miêu tả, đi tìm và chỉ ra cho người đọc sự khổ sở của phu mỏ Nhưng không phải, Lan Khai đã tả những việc rất thường, rất nhỏ nhặt, những việc ai cũng biết và ai cũng thấy được, những việc xảy ra ở cuộc sống hằng ngày, nhưng nó là những việc có ý nghĩa, những việc chỉ riêng hạng phu mỏ mới
có Những cảnh tượng, những công việc ấy, cho chúng ta dần dần hiểu, xót
thương những con người “vào chỗ chết để giữ lấy sự sống”, căm hận thêm chế độ
bóc lột, bọn tay sai bán nước Và qua Lầm than, ta cũng thấy được con đường mà những người thợ nói riêng và những người bị áp bức nói chung phải làm đó là đấu tranh, đấu tranh để giành lấy hạnh phúc và sự sống cho chính mình Không đi kể
lể, miêu tả từng li từng tí, nhưng Lan Khai đã giúp người đọc chúng ta thấy được cuộc đời bần cùng, nghèo khổ, thấy được niềm vui mà những người thợ tự tạo ra cho mình sau ngày dài vất vả đó là rượu và thuộc phiện Chỉ vài dòng thôi, ta có thể cảm thấy, những người thợ ấy lầm lũi, chấp nhận chịu đựng số phận của mình Đổi lấy sự sống để tìm miếng cơm, manh áo hằng ngày, chấp nhận mọi sự nguy hiểm để có thể sống tiếp
Trang 242.1 Khuôn mặt của địa ngục trần gian
2.1.1 Những con người “vào chỗ chết để giữ lấy sự sống”
Khi nghe vào “chỗ chết để giữ lấy sự sống”, có thể cho chúng ta sự khó hiểu, kinh ngạc Vào nơi nguy hiểm đến tính mạng mình mà có thể giữa lấy được
sự sống thì thật là lạ và oái ăm làm sao Thế nhưng việc đó lại xảy ra đối với
những con người trong Lầm Than Những người thợ ấy, biết cái giá họ phải trả khi
đi làm mỏ, thế những họ chấp nhận mọi sự nguy hiểm đó vì miếng cơm, manh áo hằng ngày, vì sự sống còn của bản thân trên thế gian.; dù sự sống mà họ có leo lắt như những ngọn đèn trước gió
Chúng ta có thể thấy giai cấp công nhân Việt Nam đã hình thành trong vòng
ba thập kỷ, nhưng chỉ đến những năm 1930 chân dung người công nhân, đặc biệt
là người thợ mỏ mới hiện lên chân thực và sống động dưới ngòi bút Lan Khai Nếu đọc các tác phẩm trong giai đoạn này, ta thấy có rất nhiều nhận vật với những ngành nghề khác nhau đi vào từng trang giấy của các nhà văn, nhưng lần đầu tiên trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại chúng ta thấy xuất hiện thế giới nhân vật
người thợ mỏ và bộ mặt của giai cấp tư sản ở một nước thuộc địa Sau Lầm than
trở đi chúng ta mới dần dần gặp gỡ chân dung người thợ trong các sáng tác của Nguyễn Công Hoan (Sáng – chị phu mỏ), Võ Huy Tâm (vùng mỏ), Huy Phương (Xi măng) Nối tiếp những gì đã có, các tác phẩm sau này, khi miêu tả những người thợ mỏ, cuộc sống của họ được phác họa chi tiết hơn, nhưng Lầm than vẫn khẳng định được vai trò của mình khi đi tiên phong viết về họ đầu tiên
Lầm than mở ra trước mắt bạn đọc một thế giới của những người lao động
có đủ các lứa tuổi, giới tính và nguồn gốc quê hương cùng các cảnh ngộ khác nhau Tuy mỗi người một tính cách, trong chốn than bụi lầy bùn đó họ đều giống nhau ở chỗ là cố vắt kiệt mồ hôi để đổi lấy sự sống từ cõi chết, họ biết gắn bó với nhau nơi địa ngục Đó là lão cu Tị, người thợ già cả đời gắn với mỏ; đó là lão già Mẫn từng trải trong nghề đào than Đó là những người thợ lành nghề như: Nhỡ,
Trang 25Thông, Lộc; trải đời như Dương và những người trẻ tuổi như Thuật, Tép Mỗi nhân vật có một quá khứ, một cuộc sống riêng, nhưng họ đã về đây, quy tụ lại thành bạn bè, gia đình, cùng chung số phận làm phu mỏ với nhau Cuộc đời “bảy nổi ba chìm, chín lênh đênh” của những người thợ, sự từng trải và cái nhìn vẫn còn đầy niềm lạc quan của những ngưởi trẻ, tất cả mang đến cho Lầm than nhiều màu sắc khác nhau Nhưng dù thế nào thì những con người đó, chấp nhận tất cả mối nguy hiểm đang rình rập xung quanh mình để tiếp tục sống
“ Lão cu Tị “là một tay thợ mỏ làm với mỏ đã lâu năm kiếm được đồng nào lão
cu Tị lại uống rượu và đánh xóc đĩa nhẵn cả cuộc đời lão khiến lão khổ sở như quanh năm suốt tháng phải mang vác nặng trên lưng, lão uất ức mà không hiểu rõ nổi uất ức của mình tự đâu mà có nên lão càng uất ức Rồi, giận cá chém thớt.”(tr 74) Khi lão thua bạc bán mất mấy sào ruộng, lão lại đưa con trai mình dấn thân
vào cuộc sống “Địa ngục” “Thế là đội quân ốm đói của mỏ lại thêm một tên nữa
và trong lũ mồi ngon của cực khổ lại thêm được một linh hồn”(tr 73) Thuật – con
trai lão cu Tị, là người nhạy cảm với mọi nỗi khổ nhục, anh từng bước hòa đồng với cuộc sống của những người phu mỏ, sớm nhận thực rõ nỗi đau khổ của con người và không tin vào số mệnh như một số người từng cam chịu Qua nhận vật Thuật, cuộc sống của người phu mỏ được tái hiện lên qua cái nhìn, qua suy nghĩ, qua những gì Thuật nghe và chứng kiến
Những con người vào làm phu mỏ này có qua khứ, số phận khác nhau, bốn phương tám hướng tụ tập, gặp gỡ nhau tại đây Như Lão già Mẫn, một người thợ từng trải nhiều đắng cay về cả tinh thần lẫn thể xác Ông sinh ra trong một gia đình khá giả ở nông thôn, gặp gia biến phải dấn thân vào đời phu mỏ Ông kể lại:
“Tôi cũng đã có thời được học hành tử tế và ông cha nhà tôi cũng đã mấy đời khoa bảng hẳn hoi, lại giàu có là khác nữa Ấy thế mà tôi phải đem thân lên xó rừng này, làm một thằng phu mỏ” (tr 110) Là người có ý thức phản kháng, không
chịu sự dèm pha phỉ báng của kẻ khác, già Mẫn đã đánh phó Lý nên phải hầu tòa,
Trang 26thua kiện mà phá sản phải bỏ làng đi “lang thang khắp đây đó, tôi chìm nổi biết
bao lần, đói khát bao nhiêu lần, lại nào vợ chết, con chết, cái thân chơ vơ đất khách quê người này lại giạt vào đây” (tr 111) Hay người thợ trẻ tên Nhỡ, Nhỡ
xuất hiện trong hầm lò là một người cần mẫn, lầm lũi trong bóng tối tìm sự sống, nhưng lại chịu nhiều mất mát, đau thương, suốt ngày đào xúc quần quật dưới hầm sâu mà vẫn không đủ tiền nuôi sống vợ con Từ một chàng trai có sứ vóc tráng kiện, năm tháng chui rúc dưới hầm lò rồi thân thể hóa ra tiều tụy héo hon Nhỡ
được miêu tả: “một anh phu gầy còm, cử động lẩy bẩy” (tr 85) Họ có một cuộc
đời từng rất vui vẻ, tốt đẹp, nhiều người cũng được học hành tử tế, có lẽ tương lai của họ sẽ tươi sáng, nếu như không có những biến cố, bước ngoặc bất ngờ xảy ra
Họ chấp nhận vào làm phu mỏ, vì miếng cơm, manh áo hằng ngày Họ làm quần quật, chấp nhận không khí ẩm thấp, chấp nhận tất cả những nguy hiểm rình rập trên đầu:
“Thật là nhiều thảm kịch, mà anh ta nhiều lần nghe nói xảy ra ở trong lò Nào là cái hơi ghi – du nổ dữ như trái phá Nó không có một dấu hiệu gì cho người ta phòng bị Nào là cái nạn sụt lò Những khúc gỗ chêm nếu không thay mới luôn thì thường bị mục nát, không đủ sức chống đỡ sự đè ép của ngọn gò ở trên thành thử cái nạn sụt lò xảy ra, cũng ghê gớm chẳng kém gì cái nạn ghi –du nổ Nhiều lần phu lò đang cuốc than thì đất sụt, đè họ bẹp dí như chuột bị cạm hoặc sụt ở phía ngoài, lấp hẳn lối ra khiến bọn phu phải ngạt thở Nào là cái nạn bị ngập lò,
ở dưới đất thường có những túi nước ngầm không ai biết Phu mỏ cuốc than n hỡ cuốc phải túi nước thế là cả lò bị ngập trong nháy mắt, bọn người lao động chết đuối hết vì không ai chạy kịp” (tr 83) Và những con người với sự sống như treo
sợi chỉ mành, họ vẫn chấp nhận tất cả Họ bất chấp tất cả những nguy hiểm ấy, cứ
lăn lưng vào mà làm: “Những tai nạn như thế không phải là chuyện hiếm và tuy
cuộc đời họ chẳng có gì bảo đảm cho, bọn phu vẫn cứa phải lăn lưng vào mà làm
Trang 27Loài người chẳng thường bị đói rét nó hãm vào một tình cảnh trái ngược: vào chỗ chết để giữ lấy sự sống đó ư?” (tr 83)
Vào chỗ chết để giữ lấy sự sống? Có không sự sống trong cái chết? Cả ngày chìm trong hầm, tối tăm không ánh sáng như chính cuộc đời của họ Họ ngụp lặn trong bóng tối ấy, làm xong việc của mình, chịu đựng sự ngột ngạt, thiếu khí trời Sau một ngày làm việc quần quật, chui rúc trong hầm mỏ, khi lên khỏi hầm, cái không gian thoáng đảng, ánh sáng của mặt trời, làm họ có phút giây được sống
như một con người, chứ không còn cảm giác“vất vả như đời của súc vật” Với sự
mệt mỏi của những thân xác làm không nghỉ ngơi ấy, họ tìm cho mình một sự tiêu
khiển, một sự tiêu khiển vào rượu và thuốc phiện: “Thực thế, những nhọc mệt kế
tiếp ngày này qua ngày khác làm cho thân thể họ rã rời, ăn không biết ngon miệng nữa Thế là họ phải uống rượu để cho các bộ phận trong mình hăng lên họa may còn thấy đói và còn tiêu hóa được Cái kết quả ấy làm họ tưởng nhầm cái hiệu lực của rượu và đổ sự mệt mỏi cho thủy thổ miền rừng Nhưng đi làm quần quật suốt ngày về ăn miếng cơm, uống hớp rượu xong rồi chẳng nhẽ lại chúi đầu đi ngủ? Cái u ám, cái tẻ ngắt của đời bọn người lao động xấu số ấy đem lại cho linh hồn họ một cái buồn vu vơ mà rất ám ảnh Họ phải tiêu sầu Họ phải đánh bạc vì ngoài cái hiệu lực giải trí, đánh bạc còn đem cho họ cái hy vọng thoát khỏi sự túng bấn khổ sở hẳng ngày”.(tr 75)
Thực dân Pháp với chế độ khai thác tài nguyên nước ta cho cạn kiệt, bóc lột sức lao động của người dân nghèo thì bọn chúng còn mang những thứ mà chúng cho là “văn minh” sang hủy hoại cuộc sống của người dân ta Thuốc phiện, cờ bạc, rượu chè tràn ngập khắp các con phố, ngỏ hẻm Những đồng lương của họ, trừ tiền gạo, còn lại được đổ vào tất cả các nguồn vui, nguồn giải trí ấy Nó tạo thành cho họ một thói quen, ngày này qua ngày khác, chấp nhận cuộc sống ấy, con người chìm hẳn vào trạng thái chụi đựng, không muốn chống trả, chấp nhận
cuộc sống ấy: “Thói quen thường giúp cho người ta, nhất là bọn nghèo khổ lao
Trang 28động quên được những đau đớn cực nhục mà đời bắt họ phải chịu Dần dần họ từ địa vị người rơi xuống địa vị súc vật mà không tự biết Họ làm như đàn vật, chơi như đàn vật, ăn uống như đàn vật, ở chui rúc như đàn vật Đời họ chỉ có mấy cái
lo là đói, rét, bị đánh đập, bị chửi rủa và có mấy thú tiêu khiển là uống rượu cồn, hút sái thuốc phiện và đánh xóc đĩa Họ không biết cái gì là no ấm, không biết cái
gì là sung túc, không biết cái gì là đẹp nữa Cả đến cái địa vị của họ trong sự tiến
bộ của loài người, cả đến cái quyền của họ được đãi như những kẻ sống bằng mồ hôi nước mắt của họ, họ cũng không biết nữa.” (tr 97, 98)
Đó là cách những người thợ mỏ sống Họ tìm thấy niềm vui sau một ngày lao động nặng nhọc trong cờ bạc, thuốc phiện Họ biết kết thúc của họ sẽ không thoát khỏi cái chết, những họ không cố tránh nó Họ cắm đầu, cắm cổ làm ở nơi nguy hiểm rình rập, thoát khỏi đó họ lại lao vào ảo ảnh của rượu và cần sa Chỉ bấy nhiêu chi tiết, hình ảnh thôi những Lan Khai đã cho người đọc thấy được bức tranh cuộc sống của người phu mỏ Những con người đi vào chỗ nguy hiểm để duy trì sự sống của mình Dù sự sống mà họ có le lói như đom đóm trong đêm Để rồi từ đó, học hiểu được nỏi khổ của mình do đâu, vì đâu, để dần dần ý thức phản kháng bắt đầu hình thành trong suy nghĩ của họ
2.1.2 Những goòng than đẫm máu
Những người phu mỏ, một ngày họ làm quần quật để được 6 goòng than đầy Nếu không đủ sẽ bị cai phạt trừ tiền lương Mà tiền công của người phu mỏ
có nhiều gì cho cam, đủ để họ mua gạo sống qua ngày Số goòng than mà bọn chủ Tây thu được mỗi ngày là mồ hôi, xương máu của biết bao người thợ Những người thợ ở đây họ cùng chung số phận nghèo khổ, bần cùng Để duy trì sự sống,
họ chấp nhận cái chết rình rập Trong Lầm than, ta có thể thấy, có những goòng
than chan đầy máu và nước mắt của người thợ mỏ Đó là vợ của anh Nhỡ, do nhà nghèo nên bụng mang dạ chửa, sắp tới ngày sinh vẫn phải xuống hầm, chẳng may
bị xe goòng cướp đi sự sống của hai mẹ con Hay mẹ Tép chống chết vì sập lò,
Trang 29bản thân bà bị bệnh tật, yếu đau Và những goòng than đầy ấy, có thể lên đến mặt đất, đã đổi lấy biết bao mạng sống nữa như của già Mẫn, Dương mi-nơ, Nhỡ, Thông Đó là bản án tố cáo chế độ ấp bức bóc lột, luật pháp và chính quyền thuộc địa đè nén trên đôi vai người lao động
Trong tiểu thuyết Lầm than, ngoài những người thợ, số lượng những nhân
vật đại diện cho giai cấp bóc lột cũng không nhiều nhưng chỉ cần một chân dung cai Tứ, một tên chủ mỏ ngoại quốc, một tên sếp Cẩm và một vị quan tòa cũng đủ nói lên khá rõ bộ máy thống trị của giai cấp tư sản thuộc địa Những nhân vật ấy cũng đủ tạo cho chúng ta hiểu sâu sắc về thế lực cầm quyền, hiểu được người lao động bị ách kìm kẹp ra sao Sự xuất hiện của cai Tứ từ ngoại hình đến hành vi, ngôn ngữ và thủ đoạn cho thấy, y thục sự là công cụ thích hợp cho bọn tư sản thực dân, bòn rút tài nguyên và sức lực người dân bản địa Cai Tứ xuất hiện là một kẻ
có uy quyền, nhận thợ và giãn thợ; y có bề dày bóc lột bằng nhiều thủ đoạn gian manh như mộ phu vào lúc nông dân mất mùa do thiên tai bão lụt; bớt xén công thợ, trừ tiền công cụ lao động, xép hạng công, cắt công thợ và thường xuyên liên
lạc với chủ Tây để báo công Bề ngoài y được miêu tả: “Cai Tứ là một người đàn
ông thấp và gầy, tuổi đọ bốn nhăm, năm mươi Mặt lão vuông nhưng hai má hóp lại Dưới cặp lông mày lởm chởm trên gò xương, lấp lánh đôi mắt gian hùng Mũi lão gồ sống mương nhòm xuống bộ ria mép lúc nào cũng hình như giấu giếm, đạy điệm cái mồm toe toét tối om như cái cửa hang, trong đó đỏm đang mấy chiếc răng vàng hợm của” (tr 76) Ngoài ra, lão này đối với gái thì vung tiền không tiếc,
đối với thợ thì tính từng đồng, từng cắc một, hay ra oai, hay bắt nạt kẻ dưới Chính quyền thực dân đã tạo nên một tên tay sai đắc lực Chính những tên tay sai đắc lực này tạo ra một chỗ đứng vững chức cho bọn thực dân đế quốc Hắn ta không từ mọi thủ đoạn để làm lợi riêng cho chính bản thân Trong khi gia đình người thợ
mỏ, nhà tan cửa nát, cai Tứ vẫn đến nhà riêng dụ dỗ Tép đến hầu ông chủ Chính việc làm ấy, đã tố cáo bản chất hám tiền, nô lệ, nham hiểm và độc ác của bọn