Đặc biệt là trong giảng dạy tin học ở THPT, việc giới thiệu và giúp học sinh ban đầu tiếp xúc với ngôn ngữ lập trình Pascal, đôi lúc việc dạy và học cũng trở nên khô khan, thiếu sinh độn
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA TIN
- -
BÙI THỊ VÂN
NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUÁ TRÌNH
ÔN TẬP MÔN TIN HỌC Ở THPT
THÔNG QUA VIỆC SỬ DỤNG SƠ ĐỒ
TƯ DUY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2MỤC LỤC
A LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Mục đích chọn đề tài 5
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đối tượng nghiên cứu 6
7 Những đóng góp mới của luận văn 6
8 Bố cục đề tài 6
B PHẦN NỘI DUNG 7
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC-ÔN TẬP 7
1 Cơ sở lý luận về quá trình dạy học-ôn tập 7
1.1 Một số quan niệm về quá trình dạy học-ôn tập 7
1.2 Vai trò của ôn tập trong quá trình dạy học 8
1.3 Các hình thức ôn tập trong quá trình dạy học 8
1.3.1 Ôn tập trên lớp dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên, bao gồm: 8
1.3.2 Ôn tập ngoài giờ lên lớp 9
1.4 Các hoạt động dạy học-ôn tập 10
1.4.1 Hoạt động hóa người học thông qua bài tập hóa những kiến thức cơ bản 10
1.4.2 Hoạt động hóa người học bằng cách sơ đồ hóa những kiến thức cơ bản 12
2 Cơ sở thực tiễn về quá trình dạy học-ôn tập 13
2.1 Thực trạng dạy học-ôn tập ở THPT 16
2.2 Thực trạng dạy học-ôn tập môn Tin học ở THPT 17
2.2.1 Nhận thức của GV về tầm quan trọng của ôn tập trong dạy học môn Tin học 18
2.2.2 Nhận thức của học sinh về vai trò của ôn tập trong học tập môn Tin học 18
2.2.3 Những phương pháp dạy học thường được áp dụng trong ôn tập môn Tin học 19
3 Kết luận 20
Chương II: SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC 22
1 Khái niệm sơ đồ tư duy 22
1.1 Giới thiệu tác giả Tony Buzan 22
1.2 Một số quan niệm về SĐTD 23
1.3 Cấu trúc của SĐTD 25
1.4 Đặc điểm và vai trò của SĐTD 26
1.4.1 Đặc điểm của SĐTD 26
1.4.2 Lợi ích của SĐTD 26
1.5 Cơ sở các quy tắc của SĐTD 27
1.6 Nguyên tắc và cách vẽ SĐTD 29
1.7 Mối quan hệ giữa SĐTD và hoạt động của bộ não con người 30
1.8 Các loại sơ đồ tư duy 31
1.8.1 Sơ đồ tư duy theo đề cương 31
1.8.2 Sơ đồ tư duy theo chương 31
Trang 31.9 Các cách tạo lập SĐTD 33
1.9.1 Tạo một sơ đồ tư duy bằng thủ công 33
1.9.2 Tạo lập SĐTD với sự hỗ trợ của phần mềm 35
1.9.3 So sánh hai cách tạo lập sơ đồ 38
1.10 Hạn chế của SĐTD 38
2 Ý nghĩa của sơ đồ tư duy trong dạy học 39
2.1 SĐTD trong dạy học ở lớp 39
2.1.1 Nhận thức về tầm quan trọng và vai trò của SĐTD trong dạy và học 39
2.1.1.1 Nhận thức về SĐTD đối với người dạy 39
2.1.1.2 Nhận thức về SĐTD đối với người học 40
2.1.2 Vai trò của sơ đồ tư duy trong học tập 40
2.1.2.1 SĐTD giúp HS học được phương pháp học 41
2.1.2.2 SĐTD- giúp HS học tập một cách tích cực 41
2.1.2.3 SĐTD giúp HS ghi chép có hiệu quả 43
2.1.3 SĐTD so với các phương pháp học tập truyền thống 43
2.1.4 Thực trạng SĐTD trong dạy học 44
2.1.5 Thực trạng ứng dụng SĐTD trong dạy học-ôn tập môn Tin học 44
2.2 Sơ đồ tư duy trong ôn tập 44
2.2.1 Lợi ích của SĐTD trong ôn tập 45
2.2.1.1 Dễ dàng ôn tập với SĐTD 45
2.2.1.2 Giúp ôn tập nhanh chóng, hiệu quả 45
2.2.1.3 Phát huy tính tự ôn tập 46
2.2.1.4 Tăng khả năng làm việc nhóm 46
2.2.2 Thực trạng áp dụng SĐTD trong các môn học 47
2.2.3 Các loại SĐTD thường được áp dụng trong ôn tập 50
2.2.4 Một số chú ý khi sử dụng SĐTD trong ôn tập 51
3 Kết luận 52
Chương 3: Ứng dụng SĐTD trong dạy học-ôn tập môn Tin học 10, 11, 12 53 1 Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học môn Tin học 53
2 Ôn tập thông qua sơ đồ tư duy 54
3 Thực trạng về vấn đề ôn tập môn Tin học bằng SĐTD dưới sự hỗ trợ của Mindjet MindManager 55
4 Lựa chọn bài giảng 57
5 Ứng dụng SĐTD trong dạy học-ôn tập 58
6 Hướng dẫn sử dụng SĐTD trong dạy học môn Tin học ở trường THPT 59
7 Thực nghiệm sư phạm 61
7.1 Ý tưởng thực nghiệm 61
7.2 Nội dung thực nghiệm 61
7.3 Một số nhận xét rút ra từ thực nghiệm sư phạm 62
8 Một số SĐTD được sử dụng trong ôn tập…… 67
9 Kết luận 70
C.KẾT LUẬN 72
1 Kết luận 72
2 Một số hạn chế 72
3 Hướng phát triển đề tài 73
Trang 4A LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thời đại chúng ta đang sống là thời đại KHKT, CNTT phát triển như vũ
bão, cả thế giới đang hướng vào nền kinh tế tri thức và xã hội học tập Đất nước
ta cũng đã và đang bước vào thời kỳ CNH- HĐH và hội nhập quốc tế nói chung,
ngành giáo dục thì không ngừng cải tiến đổi mới nhằm phù hợp với yêu cầu đổi
mới chương trình giáo dục phổ thông
Bởi vậy, cùng với việc đổi mới mục tiêu và nội dung dạy học thì vấn đề đổi
mới phương pháp dạy học theo triết lý lấy học sinh làm trung tâm, kích thích sự
sáng tạo, tư duy của học sinh đang được đặt ra một cách bức thiết Để làm được
điều đó thì vấn đề đầu tiên mà người giáo viên cần nhận thức rõ ràng là quy luật
nhận thức của người học Người học là chủ thể hoạt động chiếm lĩnh tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo và thái độ chứ không phải là “cái bình chứa kiến thức” một cách thụ
động
Trong khi đó, tin học được hình thành và phát triển thành một ngành khoa
học với các nội dung, mục tiêu, phương pháp nghiên cứu riêng và ngày có nhiều
ứng dụng trong hầu hết các lĩnh vực hoạt động của xã hội loài người Ngành tin
học có những đặc điểm tương tự các ngành khoa học khác những cũng có một số
đặc thù riêng Một trong những đặc thù đó là quá trình nghiên cứu và triển khai
các ứng dụng không tách rời việc phát triển và sử dụng máy tính điện tử Đặc biệt
là trong giảng dạy tin học ở THPT, việc giới thiệu và giúp học sinh ban đầu tiếp
xúc với ngôn ngữ lập trình Pascal, đôi lúc việc dạy và học cũng trở nên khô khan,
thiếu sinh động, không tạo được hứng thú học tập trong học sinh, và việc các em
học sinh cũng có tâm lý xem Tin học như là một môn phụ nên không chú tâm
học tập
Để khắc phục những tình trạng trên đòi hỏi mỗi giáo viên dạy bộ môn
Tin học phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại, ứng dụng
CNTT và phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy, nhằm phát huy tính
Trang 5tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh trên tất cả các mặt kiến thức, kỹ
năng, thái độ
Qua tìm hiểu về sơ đồ tư duy(SĐTD) và sự tương thích giữa SĐTD với cấu
tạo, chức năng và hoạt động của bộ não ta có thể xem đây là một cách ghi chú
thông minh và khai thác tối đa tiềm năng hai bán cầu não Với cách thức tổ chức
ôn tập bằng cách sử dụng sơ đồ tổng quát trong đó nội dung ôn tập được mô tả
một cách ngắn gọn, súc tích với hình thức trình bày thật đẹp và dễ nhớ, SĐTD sẽ
được xem là phương pháp dạy học có hiệu quả đang và sẽ được thực hiện nhiều
vào dạy học trong thời gian tới Đó là lý do em chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả
quá trình ôn tập môn Tin học ở THPT thông qua việc sử dụng Sơ đồ tư duy”
2 Mục đích chọn đề tài
Đề tài đặt ra mục đích nghiên cứu đó là: ứng dụng SĐTD trong dạy học
trong quá trình ôn tập để giúp người học ghi nhớ nhanh nội dung ôn tập qua từng
chương học, phát huy tối đa khả năng tư duy, sáng tạo Qua đó, người học sẽ rèn
luyện thêm kỹ năng làm việc nhóm để dễ dàng ôn tập những kiến thức đã học
Ngoài ra, đề tài là một tài liệu tham khảo có ích cho giáo viên trong việc bổ
sung thêm một cách giảng dạy mới, để có thể phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập bằng SĐTD Làm được điều đó tuy
còn nhiều khó khăn nhưng sẽ là một thành công lớn của giáo viên trong việc góp
phần đổi mới, tìm ra những phương pháp dạy học hiệu quả không chỉ cho môn
Tin học ở trường phổ thông nói riêng mà còn cho tất cả các môn học ở các cấp
học nói chung
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Về nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về việc
sử dụng SĐTD trong quá trình dạy học-ôn tập, thiết kế và ứng dụng SĐTD vào
giảng dạy Tin học ở THPT
4 Phạm vi nghiên cứu
Về phạm vi nghiên cứu của đề tài, đề tài nghiên cứu trong chương trình sách
giáo khoa Tin học lớp 10, 11, 12 Đối với những chương học có thể áp dụng
SĐTD để ôn tập, củng cố kiến thức
Trang 6Về phương pháp nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu sau
đây:
Nghiên cứu tài liệu, sách tham khảo
Phương pháp xử lý thông tin, tài liệu
Phương pháp đối chiếu, so sánh
Phương pháp thống kê
6 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài này nghiên cứu lý luận và thực tiễn về sử dụng bản đồ tư duy với sự
hỗ trợ của phần mềm Mindjet Mindmanager trong dạy học-ôn tập môn Tin học ở
trường THPT nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng dạy học
7 Những đóng góp mới của luận văn
Làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của việc ôn tập Tin học ở THPT
Trên cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn đề xuất một hình thức và
phương pháp ôn tập mới đó là sử dụng SĐTD trong quá trình ôn tập môn Tin học
THPT
Bản đồ tư duy được xây dựng nhằm góp phần tạo ra một phương
pháp dạy học mới nhằm nâng cao chất lượng của việc dạy học, giúp quá trình ôn
tập môn Tin học đạt hiệu quả hơn
8 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết thúc, phần nội dung gồm 3 chương sau:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quá trình dạy học-ôn tập
Chương II: Sử dụng SĐTD trong dạy học
Chương III: Ứng dụng SĐTD trong dạy học-ôn tập môn Tin học 10, 11, 12
Trang 7B PHẦN NỘI DUNG Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUÁ TRÌNH DẠY
HỌC-ÔN TẬP
1 Cơ sở lý luận về quá trình dạy học-ôn tập
1.1 Một số quan niệm về quá trình dạy học-ôn tập
Theo các nhà giáo dục học (Nguyễn Ngọc Bảo, Hà Thị Đức, Nguyễn Bá
Kim….) thì quá trình dạy học - ôn tập là quá trình giúp HS củng cố tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo; đồng thời tạo khả năng cho GV sửa chữa những sai lầm lệch lạc
trong nhận thức của HS, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, phát huy tính tích cực độc lập
tư duy cũng như phát triển năng lực nhận thức, chú ý cho HS Quá trình ôn tập
còn giúp HS mở rộng đào sâu , khái quát hóa, hệ thống hóa những tri thức đã
học, làm vững chắc những kỹ năng, kỹ xảo đã được hình thành
Trong khi đó một số tác giả khác lại quan niệm rằng: Quá trình ôn tập là
một quá trình giúp HS xác nhận lại tri thức đã lĩnh hội, tổ chức lại tri thức đó nếu
thấy có chỗ chưa hợp lí hay chưa tối ưu, nhờ vậy mà củng cố và khắc họa tri thức
để có thể sử dụng chúng một cách có hiệu quả trong các hoạt động ở nhiều mức
độ khác nhau
Theo ý kiến của một số nhà tâm lý học(Piagie; Thái Duy Tuyên ) thì quá
trình ôn tập không chỉ để nhớ lại mà còn là sự cấu trúc lại các tri thức đã lĩnh hội,
sắp xếp chúng theo một cấu trúc mới kết hợp với những mẫu kiến thức cũ để tạo
ra sự hiểu biết mới Khi cần có thể tái hiện lại những tri thức đó và sử dụng
Theo quan điểm của cá nhân em thì thực chất của quá trình này là chúng
ta- những nhà giáo sẽ thực hiện công việc phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ
thống hóa và tổ chức lại tri thức mà người học đã thu nhận trong một cấu trúc
mới sao cho nó có nghĩa đối với họ Để thực hiện tốt việc tổ chức các tri thức,
điều đầu tiên người học phải xác nhận lại, bổ sung, chỉnh lý, chính xác hóa những
tri thức đã lĩnh hội qua các thao tác trí tuệ để tìm ra những vấn đề cơ bản, những
kết luận mấu chốt, còn những vấn đề chưa rõ, chưa hiểu sẽ được trao đổi với bạn
bè, với thầy cô giáo để làm sáng tỏ những tri thức đó
Trang 8Tóm lại quá trình dạy học-ôn tập là quá trình người học xác nhận lại, bổ
sung và chỉnh lý, tổ chức lại tri thức theo một cấu trúc mới sáng tạo, tư duy khám
phá, khoa học, dễ nhớ hơn, từ đó có thể vận dụng tri thức đã lĩnh hội để giải
quyết những vấn đề trong học tập cũng như trong cuộc sống
1.2 Vai trò của ôn tập trong quá trình dạy học
Ôn tập là một khâu vô cùng quan trọng trong quá trình tổ chức dạy học ở
trường phổ thông Nó có vai trò rất lớn trong việc củng cố, nắm vững, hoàn thiện
tri thức và sau đó là để làm mới lại chúng trong trí nhớ lúc này hoặc lúc khác
Ôn tập là biện pháp cần thiết mà GV phải sử dụng trong việc dạy học của
mình và nó giúp người học trong quá trình hoàn thiện tri thức và rèn luyện kỹ
năng, kỹ xảo
Ngoài ra ôn tập còn có một ý nghĩa lớn hơn trong việc rèn luyện kỹ năng,
đặc biệt là kỹ năng vận dụng kiến thức vào trong cuộc sống khi ôn tập Nhờ ôn
tập được tổ chức tốt mà những kiến thức đã được học không chỉ được ghi lại
trong trí nhớ mà còn được cấu trúc lại, khắc sâu một cách sáng tạo hơn, cái thứ
yếu sẽ được loại bỏ ra ngoài và cái chủ yếu được gắn lại với nhau và có một chất
lượng mới Kiến thức sẽ không được giữ lại trong trí nhớ nếu thiếu ôn tập, và nói
chung nếu thiếu bất kỳ sự vận dụng nào
1.3 Các hình thức ôn tập trong quá trình dạy học
Nhìn tổng quan hoạt động ôn tập được thực hiện dưới nhiều hình thức
nhưng có thể được tóm gọn dưới 2 hình thức chủ yếu sau:
1.3.1 Ôn tập trên lớp dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên, bao gồm:
Ôn tập trước khi GV trình bày tri thức mới hay học bài mới, nếu việc tiếp
thu tri thức mới dựa trên cơ sở của những tri thức đã học trước đó Với hình thức
ôn tập này giáo viên sẽ đưa ra hệ thống các câu hỏi đã chuẩn bị sẵn có liên quan
đến kiến thức mà HS đã tiếp thu trước đó và thực hiện dưới nhiều hoạt động như
vấn đáp(hỏi-trả lời) hoặc gợi mở nhằm hướng suy nghĩ của học sinh về nội dung
kiến thức mà GV muốn ôn tập
Trang 9Về cách thức, GV có thể đặt câu hỏi đó khi kiểm tra bài cũ lúc đầu giờ để
cũng cố kiến thức và làm nền tảng cho việc tiếp thu tri thức mới, hoặc các câu hỏi
này có thể đặt ra trong tiết học nhằm gợi lại tri thức cũ mà nó là cơ sở để hình
thành tri thức mới trong bài học
Ôn tập ngay sau khi GV trình bày bài học mới nhằm củng cố những tri
thức mà HS vừa mới lĩnh hội, chốt lại những kiến thức cơ bản, cốt lõi của bài
học Với hình thức này, ta có thể tiến hành các hoạt động dạy học-ôn tập bằng
cách đưa ra các câu hỏi để HS trả lời hoặc làm các bài tập có tính chất hệ thống
hóa, tổng kết những kiến thức cơ bản của bài học
Ôn tập sau khi kết thúc một chương hoặc một phần của chương trình
Hình thức ôn tập này thường được thực hiện trong một (hoặc một vài) tiết học
riêng biệt Mục đích sư phạm của các tiết ôn tập như vậy là chỉnh lý lại, hệ thống
lại, tìm ra mối liên hệ logic giữa các kiến thức mà HS đã được lĩnh hội trong một
phần của tài liệu học; tạo cho HS có cái nhìn toàn diện về nội dung kiến thức
trong phần đó
Hình thức ôn tập này được xem là rất cần thiết nhằm cũng cố kiến thức cho
HS sau mỗi chương học nên GV cần phải chuẩn bị thật kỹ về cách thức hay
phương pháp ôn tập sao cho có hiệu quả Thí dụ như: hoạt động ôn tập hay được
GV thực hiện đó là tổ chức hoạt động nhóm, bằng cách dạy học-ôn tập nhóm GV
đã tạo ra một phương pháp ôn tập thật hiệu quả và có thể kết hợp thêm những
phương pháp dạy học tích cực khác hay các công cụ trợ giúp khác, chẳng hạn
như vẽ sơ đồ,… Thực tế cho thấy nhiều GV đã sử dụng phương pháp dạy học
này rất hiệu quả Hơn nữa, thông qua phương pháp dạy học đó GV đã dạy cho
HS biết cách phối hợp hoạt động trong nhóm dưới sự hướng dẫn của GV thì hoạt
động tự ôn tập, củng cố cũng như hoạt động ôn tập, củng cố trong nhóm như thế
nào trong thời gian hiện nay và tương lai là hết sức quan trọng và cần chiếm tỉ lệ
cao
1.3.2 Ôn tập ngoài giờ lên lớp
Hoạt động ôn tập ngoài giờ lên lớp diễn ra sau khi nghe giảng và dưới sự
hướng dẫn gián tiếp của GV thông qua hệ thống câu hỏi và bài tập mang tính
Trang 10định hướng HS thực hiện việc ôn tập của mình bằng cách đọc lại bài học hoặc tái
hiện lại nội dung bài học như cấu trúc của các phần, các mục, nội dung của các
đề mục trong bài học Sau đó trả lời các câu hỏi của GV hoặc câu hỏi trong sách
giáo khoa (SGK), hoặc tự đặt ra câu hỏi để trả lời
Đồng thời HS sẽ cần phải tìm đọc các tài liệu có liên quan để mở rộng và
đào sâu những kiến thức đã học Trong quá trình ôn tập HS có thể trao đổi với
bạn bè về kết quả ôn tập của mình, sau đó ghi chép lại toàn bộ nội dung ôn tập
bằng cách tóm tắt bài học, xây dựng dàn ý, sơ đồ, bảng biểu; bằng cách xây dựng
đáp án trả lời câu hỏi hay bằng cách vận dụng kiến thức của bài học
1.4 Các hoạt động dạy học-ôn tập
Có nhiều cách dạy học-ôn tập nhưng thông thường GV sẽ chọn cho mình
những cách ôn tập thật hiệu quả nhằm giúp học sinh học tập tích cực hơn từ đó
nâng cao chất lượng dạy học Nhìn chung, ta có thể khái quát các cách ôn tập như
sau:
1.4.1 Hoạt động hóa người học thông qua bài tập hóa những kiến thức cơ
bản
Chúng ta sẽ lấy một ví dụ cụ thể về cách ôn tập này trong một bộ môn cụ
thể như Toán chẳng hạn Vậy thì cách dạy tiết ôn tập này như thế nào? Sau đây
sẽ là mô hình ôn tập chi tiết cho tiết ôn tập
Giờ ôn tập được thiết kế theo chùm 4 bài tập tương ứng với 4 loại đối tượng
học sinh là: Giỏi - Khá - Trung bình - Yếu, kém
Phương pháp chủ yếu là mỗi đối tượng học sinh được giao một bài tập thích hợp
theo mức độ tăng dần Bài tập được chuẩn bị theo bảng sau:
Mức độ 1 Mức độ 2 Mức độ 3 Mức độ 4
Học sinh
Yếu, kém Bài 1.1 Bài 1.2 Bài 1.3 Bài 1.4
Trang 11Giỏi Bài 4.1 Bài 4.2 Bài 4.3 Bài 4.4
Ghi chú: Mức độ được tăng dần từ mức 1 đến mức 4 (có thể phân bậc mịn
hơn nữa càng tốt), trong đó:
Bài 1.4 tương đương bài 2.1
Bài 2.4 tương đương bài 3.1
Bài 3.4 tương đương với bài 4.1,
Với sự chuẩn bị như vậy, giáo viên giao nhiệm vụ, học sinh tự giác chiếm lĩnh tri
thức Giờ học được diễn biến theo tiến trình:
Hoạt động 1
Giáo viên giao nhiệm vụ bằng cách, yêu cầu mỗi đối tượng làm một bài tập
thích hợp Tất nhiên là có sự hạn chế thời gian
Hoạt động 2
Giáo viên theo dõi hoạt động của học sinh và giải đáp thắc mắc cũng như
đưa ra những hướng dẫn hoặc gợi ý cho mỗi đối tượng, học sinh độc lập làm bài
Hoạt động 3
- Kiểm tra kết quả công việc sau khoảng thời gian cho phép
- Nếu học sinh nào làm đúng, nhanh nhất sẽ được khen và được thưởng
(thông qua việc mời học sinh đó chữa bài cho cả lớp), giáo viên đừng quên
cho điểm
- Còn với những học sinh chưa hoàn thành công việc trong thời gian cho
phép thì cần học tập lời giải của bạn và tự điều chỉnh
- Giáo viên cần giúp học sinh lấp được lỗ hổng trong kiến thức của họ
Hoạt động 4
Trang 12Giáo viên chuẩn hóa kiến thức Chú ý thông qua hoạt động này, giáo viên
giúp học sinh nắm được tri thức và tri thức phương pháp
Các hoạt động được diễn ra và lặp lại cho đến khi hoạt động nhận thức
được thực hiện Mô hình
* Ưu và nhược điểm
Cách dạy học ôn tập như thế có những ưu điểm, nhược điểm chính sau:
- Ưu điểm
Học sinh được hoạt động độc lập, tự giác hoạt động để chiếm lĩnh kiến thức
phù hợp với trình độ nhận thức của mình
- Nhược điểm
Chuẩn bị vất vả, điều khiển giờ học phức tạp vì có nhiều học sinh hiểu
không giống nhau, nếu điều khiển không khéo giờ học sẽ bị phân tán và phản tác
dụng Mặt khác, trong quá trình tự học như vậy, học sinh nào tự giác tích cực sẽ
đạt hiệu quả cao hơn, ngược lại một số học sinh kém, hoạt động chậm hơn luôn
Hoạt động 3: Sau khi đã chỉnh sửa, bổ sung câu trả lời GV sẽ khái
quát nội dung đó thành một sơ đồ cụ thể một cách rõ ràng và dễ nhớ
Hoạt động 4: HS bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện sơ đồ về kiến thức
của bài học đó
Trang 13* Ưu và nhược điểm
- Ưu điểm: Học sinh sẽ được hoạt động một cách chủ động, tự giác, tự rèn
luyện khả năng nhớ và bước đầu tiếp xúc với cách học, cách ghi chú khoa học
hơn
- Nhược điểm: Vì hoạt động này vẫn còn mang tính chủ động của GV nên
HS chưa được tự giác khái quát những kiến thức đã học và từ đó sẽ không tự đào
sâu kiến thức mà chỉ dùng lại ở sơ đồ mà GV đã sơ lược trên lớp
2 Cơ sở thực tiễn về quá trình dạy học-ôn tập
Để tìm hiểu thực trạng về quá trình dạy học-ôn tập môn Tin học ở THPT,
tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát bằng các phương pháp như: phát phiếu test, rồi
phỏng vấn và đàm thoại với một số GV và HS ở một số trường THPT Đó là
trường THPT Lương Thế Vinh–Quảng Nam và trường THPT Nguyễn Trãi–thành
phố Đà Nẵng;
Thời điểm khảo sát: học kỳ 2 năm học 2011 - 2012
Khách thể khảo sát: học sinh lớp 10, 11, với số lượng 74 học sinh và 20 giáo
viên của cả 2 trường nói trên
Mục tiêu khảo sát: Nhằm tìm hiểu thực trạng về quá trình dạy học-ôn tập ở
các trường THPT; thực trạng về việc ứng dụng SĐTD trong quá trình dạy học-ôn
tập Sau đây là các phiếu test-công cụ trợ giúp cho việc điều tra:
Mẫu dành cho HS
Lớp:…
PHIẾU ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG ÔN TẬP VÀ SỬ DỤNG SƠ
ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC-ÔN TẬP MÔN TIN HỌC Ở THPT
(DÀNH CHO HS)
1 Em có nhận xét gì khi học bộ môn Tin học ở THPT ?
A Dễ học B Bình thường C Khó học
2 Những tiết ôn tập môn Tin học làm em …
A Căng thẳng, mệt mỏi B Hứng thú, lôi cuốn C Bình thường
3 Thầy( cô) thường ôn tập môn Tin học bằng những phương pháp nào?
A Vấn đáp( hỏi và trả lời)
B Tổ chức nhóm
Trang 14C Vẽ sơ đồ khái quát nội dung ôn tập
D Tất cả các phương pháp trên
4 Em có nhận xét gì về cách ôn tập môn Tin học của giáo viên bộ môn?
A Hiệu quả B Chưa hiệu quả
5 Trước đây em đã từng biết về phương pháp học tập có sử dụng SĐTD chưa?
A Đã từng học B Đã được biết hoặc nghe qua C Chưa từng học
6 Trong môn Tin học hiện giờ, em đã được giáo viên môn Tin học dạy học
bằng SĐTD chưa?
A Đang được học B Chưa được học
7 Em đã từng được ôn tập bằng phương pháp Sơ đồ tư duy chưa?
A Đã từng học B Chưa từng học
8 Em thích nhất được ôn tập môn Tin học bằng phương pháp nào?
A Vấn đáp B Học nhóm C Sơ đồ tư duy D B & C E Cả 3 p/ pháp
9 Em có cảm nghĩ gì nếu được dạy học theo phương pháp sơ đồ tư duy ?
A Thích học B Bình thường C Muốn được học thử
Mẫu dành cho GV
PHIẾU ĐIỀU TRA VỀ THỰC TRẠNG ÔN TẬP VÀ SỬ DỤNG
SĐTD TRONG DẠY HỌC-ÔN TẬP MÔN TIN HỌC Ở THPT
(DÀNH CHO GIÁO VIÊN)
1 Theo thầy(cô) quá trình ôn tập có đem lại lợi ích cho học sinh?
A Rất có ích B Không có ích
2 Thầy(cô) ôn tập môn Tin học bằng phương pháp gì?
A Vấn đáp B Thuyết trình C Khái quát thành sơ đồ D P.pháp khác
3 Theo thầy(cô) việc vận dụng các phương pháp dạy học mới vào các tiết ôn tập
thế nào?
A Khó B Dễ C Bình thường
4 Thầy(cô) đã từng áp dụng sơ đồ tư duy trong dạy học chưa? (Nếu có)Thầy(cô)
cho biết cách nhìn nhận của mình về hiệu quả của SĐTD trong dạy học môn Tin
học?
A Dễ nhớ B Dễ ôn tập C Dễ vận dụng D Tất cả các ý trên
5 Thầy(cô) đã từng tìm hiểu hay nghe nói về việc vận dụng sơ đồ tư duy
trong dạy học với sự hỗ trợ của phần mềm Mindjet MindManager?
A Có B Chưa từng C Đang vận dụng
Trang 156 Thầy(cô) có thể cho biết cảm nhận của mình khi sử dụng SĐTD(nếu có) trong
dạy học môn Tin học?
A Thuận lợi B Khó khăn C Bình thường
7 Thầy(cô) có thể cho biết nên ứng dụng SĐTD vào dạy học dưới hình thức
nào?
A Dạy học B Ôn tập C Kiểm tra D Hình thức khác
8 Nếu đưa ra yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học thì thầy(cô) có chọn SĐTD
là phương pháp dạy học mới hiệu quả cho nhiều môn học?
A Có B Không
9 Những phần mềm thầy (cô) thường sử dụng để hỗ trợ việc giảng dạy?
A Power point A Violet C Mindmap D Phần mềm khác
10 Theo thầy (cô) phần mềm Mindjet Mindmanager là phần mềm:
Kết quả cho thấy thực tiễn của vấn đề cần nghiên cứu như sau:
Tổng hợp các ý kiến của HS(gồm 74 hs ở 2 trường)
Cách tổng hợp TL(tỉ lệ) = SL(số lượng của mỗi loại đáp án) / tổng số HS
tham gia trưng cầu Kết quả tổng hợp như sau:
Trang 16Cách tổng hợp là: TL(tỉ lệ) = SL(số lượng của mỗi loại đáp án) / tổng số GV
tham gia trưng cầu
Thực tiễn cho thấy quá trình ôn tập có vai trò rất quan trọng trong việc củng
cố, khắc sâu tri thức cho học sinh, giúp HS từng bước tạo được nền kiến thức
vững chắc đi từ cơ bản đến chuyên sâu
Qua quá trình khảo sát thực tế ở một số trường bằng một số hình thức như
Trang 17nhận thấy một thực trạng là đa số các giáo viên đều thống nhất cho rằng việc ôn
tập rất có ích trong quá trình dạy học, do vậy đối với mỗi môn học mỗi khi bắt
đầu giảng dạy GV đều có dành một khoảng thời gian(15 phút, 1 tiết,…) để ôn tập
nhằm gợi lại những tri thức cũ, những tri thức sẽ làm tiền đề, cơ sở cho những tri
thức mới mà GV sắp truyền thụ cho HS Theo ý kiến của cô Vũ Lương Hạ
Quyên-giáo viên dạy môn ngoại ngữ trường THPT Lương Thế Vinh ở Quảng
Nam cho rằng: “Nói đến vấn đề ôn tập thì theo tôi bộ môn nào cũng vậy cũng
cần phải coi trọng vấn đề này, riêng đối với bộ môn của tôi thì quá trình ôn tập
lại thường xuyên hơn, đòi hỏi ở HS không chỉ ôn tập những tiết ở trường mà còn
phải tự ôn tập ở nhà nữa như vậy quá trình dạy và học sẽ hiệu quả hơn rất
nhiều” Tiếp thu ý kiến trên tôi nhận thấy đó là một ý kiến đúng và qua đó càng
nhận định rõ hơn về tầm quan trọng của việc ôn tập
Đó là cách nhìn nhận vấn đề đối với người trong ngành giáo dục, còn về
phía học sinh thì sao? Đối với HS, phần lớn các em đã nhận thức khá rõ về vấn
đề ôn tập, vì sau khi kết thúc một bài học, một chương học thì theo thường lệ các
em sẽ có những tiết ôn tập để cũng cố kiến thức và đa phần là các em đã có sự
chuẩn bị sẵn cho tiết ôn tập đó
Để biết được cảm nghĩ của HS ở giai đoạn này về vấn đề ôn tập như thế nào
chúng ta cùng lắng nghe ý kiến của em Nguyễn Thanh Hoàng Thái- HS lớp
10A2 của trường THPT Lương Thế Vinh sau khi tôi hỏi: “Sau khi học hết một
chương học trong môn Vật lý chẳng hạn thì GV bộ môn có dành 1 tiết nào để ôn
tập không?”_ “Dạ, có!”; “ Vậy em có thích những tiết ôn tập không và em có
xem việc ôn tập là bắt buộc”_ “Theo em, thì những tiết ôn tập rất căng thẳng vì
bị gọi lên bảng nhiều nên không thích lắm nhưng nhờ những tiết ôn tập mà em
học thuộc bài hơn, em nghĩ việc ôn tập là bắt buộc” Đây có thể xem là một ý
kiến rất thường tình trong cách suy nghĩ của HS lớp 10, thực tế còn nhiều ý kiến
khác cho rằng việc ôn tập là rất có lợi cho HS vì nhờ đó mà họ nhớ lâu hơn, khắc
sâu tri thức hơn
2.2 Thực trạng dạy học-ôn tập môn Tin học ở THPT
Sau khi tìm hiểu thực trạng về việc ôn tập trong quá trình dạy học của các
Trang 18nhưng cụ thể hơn trong bộ môn Tin học ở THPT- một môn học được cho là mới
mẽ, hấp dẫn nhưng cũng gặp không ít khó trong việc dạy và học
2.2.1 Nhận thức của GV về tầm quan trọng của ôn tập trong dạy học môn
Tin học
Qua điều tra khảo sát tôi đã thu nhận được một số nhận định rất hữu ích và
thiết thực Kết quả cho thấy 100% GV Tin học (đã tham gia làm phiếu điều tra) ở
cả 2 trường Đà Nẵng và Quảng Nam đều đồng nhất với ý kiến “quá trình ôn tập
là rất có ích đối với HS” Ngoài ra qua trao đổi, phỏng vấn chúng tôi nhận được
các ý kiến đều cho rằng việc tổ chức ôn tập kiến thức cho HS có vai trò rất quan
trọng Theo tôi, nhận thức của GV về tầm quan trọng của ôn tập trong dạy học là
rất hợp lý bởi lẽ khi đứng về phía người dạy để quan sát, người làm ngành giáo
phải nhận thấy được những cách thức dạy học thật hiệu quả và càng nhận thức rõ
hơn việc hướng dẫn HS ôn tập là rất cần thiết và là điều kiện rất quan trọng để
nâng cao chất lượng học tập của HS
2.2.2 Nhận thức của học sinh về vai trò của ôn tập trong học tập môn Tin
học
Phần lớn các HS khi được hỏi về vai trò của hoạt động ôn tập, củng cố đều
cho rằng ôn tập có vai trò rất quan trọng trong quá trình học tập và rất thích được
GV dạy những tiết ôn tập kiến thức một cách thường xuyên Tuy nhiên khi được
hỏi về sự hứng thú của các em trong các giờ ôn tập hiện nay mà các thầy cô giáo
đã tổ chức hướng dẫn các em thì phần lớn HS(54%) trong tổng số HS được khảo
sát cho rằng “ những tiết ôn tập làm em căng thẳng mệt mỏi”, 21% cho là “bình
thường” và 25% số còn lại cho là “hứng thú, lôi cuốn” Từ kết quả trên, chúng ta
thấy phần lớn hơn HS trả lời không có hứng thú hoặc có một số khác cho thêm ý
kiến là tùy thuộc vào từng nội dung kiến thức và cách tổ chức ôn tập
Thực tiễn trên cho chúng ta thấy hai vấn đề: một là HS đã nhận thức được
vai trò quan trọng của hoạt động ôn tập kiến thức và mong muốn được GV tổ
chức hướng dẫn ôn tập thường xuyên; hai là các tiết học ôn tập hiện nay được
GV tổ chức chưa gây được hứng thú đối với HS, điều này tạo nên một mâu thuẫn
Trang 19giữa nhu cầu và sự đáp ứng nhu cầu của hoạt động ôn tập kiến thức hiện nay ở
các trường phổ thông
2.2.3 Những phương pháp dạy học thường được áp dụng trong ôn tập môn
Tin học
Làm thế nào ôn tập môn Tin học có hiệu quả là một câu hỏi nan giải cho cả
giáo viên lẫn học sinh Để ôn tập tốt thì trước hết cả người dạy lẫn người học đều
phải đưa ra những phương pháp ôn tập phù hợp Bởi vậy, vấn đề được đặt ra cụ
thể hơn đó là hiện nay giáo viên Tin học đã sử dụng những phương pháp ôn tập
nào vào trong dạy học cũng như trong ôn tập củng cố
Theo kết quả khảo sát cho thấy khoảng 55% ý kiến HS cho biết là đã được
GV sử dụng phương pháp vấn đáp trong hoạt động ôn tập, 6% là học nhóm, 1%
là vẽ sơ đồ khái quát nội dung ôn tập, còn lại 38% chọn tất cả các phương pháp
trên Từ kết quả thực tiễn cho thấy các phương pháp ôn tập mà GV ở các trường
phổ thông thường xuyên sử dụng nhất là phương pháp vấn đáp Trong khi đó các
phương pháp dạy học tích cực như dạy học nhóm, vẽ sơ đồ, bảng biểu…thì ít
được giáo viên sử dụng
Phương pháp vấn đáp là phương pháp dạy học truyền thống được xem là
phương pháp thường được GV sử dụng nhất trong hoạt động dạy học Ngoài
những ưu điểm của phương pháp này mang lại thì bên cạnh vẫn còn tồn tại vài
hạn chế nhỏ Khi GV chỉ sử dụng phương pháp này đơn độc mà không kết hợp
những phương pháp dạy học tích cực khác dẫn đến sự nhàm chán, căng thẳng
mỗi khi GV hỏi, HS trả lời Do vậy, trong quá trình dạy học cũng như ôn tập nên
có sự kết hợp hài hòa và sáng tạo giữa các phương pháp dạy học với nhau nhằm
làm cho việc dạy của GV cũng như việc học của học sinh tích cực và hiệu quả
hơn
Một số GV cũng đã chú ý hướng dẫn HS xây dựng sơ đồ nội dung bài học,
lập dàn ý tóm tắt trong quá trình ôn tập, tổ chức cho HS trao đổi nhóm … Tuy
nhiên, việc hướng dẫn HS chủ yếu là do GV chuẩn bị sẵn nội dung ôn tập, giảng
giải cho HS các nội dung đó hoặc giảng giải theo bài mẫu, yêu cầu HS thực hiện
lại như GV đã hướng dẫn Việc chỉ ra cách thức thực hiện và yêu cầu HS tự thực
Trang 20hiện ít được GV quan tâm Do đó HS còn lúng túng nhiều trong việc xây dựng
dàn ý tóm tắt bài học, phần lớn chỉ sao chép lại như trong vở ghi
Về phía HS, khi tôi khảo sát trên phiếu điều tra với câu hỏi: “Em thích nhất
được ôn tập môn Tin học bằng phương pháp nào?” thì kết quả nhận được là 13%
ý kiến thích được học bằng phương pháp vấn đáp; 22% thích học nhóm; 27 %
thích cả vấn đáp, học nhóm, sơ đồ; 29% thích vừa học nhóm vừa sơ đồ Qua đó,
chúng ta nhận thấy rằng HS đã có ý thức trong việc chọn lựa những phương pháp
được học sao cho hiệu quả mà không gây căng thẳng, mệt mỏi Việc lựa chọn
phương pháp dạy học-ôn tập có hiệu quả là nhờ vào sự nỗ lực tìm tòi, nghiên
cứu, đào sâu và phát triển năng lực không ngừng của GV
3 Kết luận
Ứng dụng CNTT và áp dụng các phương pháp dạy học tích cực vào trong
dạy và học cũng nhằm thực hiện chủ trương “ Cải tiến phương pháp dạy học”,
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS Việc ứng dụng CNTT cũng
như các phương pháp dạy học mới vào trong giảng dạy, đặc biệt vào các tiết ôn
tập thì ngoài chức năng trực quan, tranh ảnh SGK, hay những sơ đồ, bảng biểu,
hình ảnh động sẽ làm cho tiết ôn tập trở nên hứng thú, sôi nổi, học sinh thích thú
với những cách học mới lạ Từ đó làm cho HS thấy cần tìm tòi, khám phá hơn
nữa
Nhưng thực tế việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực vào trong
giảng dạy vẫn còn rất ít, còn vào các tiết ôn tập thì lại càng hạn chế hơn Do vậy,
tôi thiết thấy cần phải có một phương pháp nào đó để áp dụng vào tiết ôn tập sao
cho thật hiệu quả, làm cho hoạt động này không còn bị ức chế, căng thẳng và
ngược lại sẽ đem lại sự hứng thú đối với người dạy và lôi cuốn người học Nếu
làm được điều đó thì đối với tôi nó sẽ là một đóng góp tuy nhỏ nhưng thật hữu
ích trong công tác giáo dục
Bản thân tôi qua quá trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về vấn đề ôn tập
và tôi đã tìm được một phương pháp mà theo tôi cho là hiệu quả đó chính là
phương pháp sử dụng SĐTD vào trong dạy học-ôn tập môn Tin học Để hiểu kỹ
Trang 21hơn phương pháp này chúng ta hãy cùng nhau nghiên cứu về sơ đồ tư duy và việc
sử dụng SĐTD vào ôn tập như thế nào
Trang 22Chương II: SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC
1 Khái niệm sơ đồ tư duy
1.1 Giới thiệu tác giả Tony Buzan
Hình 1.1 Tony Buzan
Tony BuZan bắt đầu suy nghĩ về trí não và thấy rằng cách đầu tiên chúng ta
nhớ là tưởng tượng và liên tưởng Do đó, muốn ghi nhớ một trang giấy đầy
những ghi chú, trí nhớ chúng ta sẽ nhớ tới hình ảnh, bức tranh, kí hiệu, mã số,
màu sắc, sự liên tưởng và liên kết Cách tốt nhất để liên kết hình ảnh trên một
trang giấy là sử dụng các mũi tên, khoảng cách, kí hiệu mà bạn nhớ được Đó
chính là “ mind map” Và ông cho rằng: “bộ não sinh ra là để ghi nhớ thì mình
cần phải tập luyện nó giống như tay chân nếu không vận động lâu ngày sẽ bị teo
đi vậy”
Vừa là cha đẻ của phương pháp tư duy Mind Map, Tony Buzan cũng vừa là
tác giả đi đầu trong lĩnh vực về não và phương pháp học tập với hơn 90 đầu sách
với tổng cộng hơn 3 triệu bản được bán ra Nhiều cuốn sách và những sản phẩm
giành được những thành công lớn ở 125 quốc gia với hơn 30 ngôn ngữ, doanh thu
lên đến hơn 100 triệu bản Anh Có lẽ Tony Buzan được biết đến nhiều nhất qua
cuốn sách “Use your head – Hơn nhau ở cái đầu” Trong đó, ông trình bày cách
thức ghi nhớ tự nhiên của não bộ cùng với các phương pháp Mindmap Dựa trên
nhiều nghiên cứu chuyên sâu về não bộ và trí nhớ, công cụ Mindmap còn phản
Sinh năm 1942, tại London, Tony Buzan là cha đẻ của phương pháp tư duy Mind Map và khái niệm xoá mù tư duy
Tony Buzan từng nhận bằng danh dự về tâm lý học, văn chương Anh, toán học và nhiều môn khoa học tự nhiên của trường Đại học British Columbia năm 1964
Tony Buzan là tác giả hàng đầu thế giới
về não bộ Là nhà sáng lập SĐTD - Công
cụ vạn năng của bộ não
não bộ Là nhà sáng lập SĐTD - Công cụ vạn năng của bộ não
Trang 23ánh cách thức ghi chép thú vị của các vĩ nhân như Lenardo de Vinci, Eistein,
Picasso, Beethoven…
Ngoài ra, ông còn một số sách nỗi tiếng khác như “ Use your memory –
Hơn nhau ở trí nhớ” “ Mind Map Book ”, Buzan đã giới thiệu tới độc giả những
khía cạnh phức tạp của trí thông minh con người, đồng thời cung cấp các phương
thức để có thể sử dụng và phát triển hết tiềm năng của con người Quyển này hiện
vẫn là cuốn sách bán chạy nhất từ khi xuất bản lần đầu vào tháng 10/2000 Ông
chính thức giới thiệu phần mềm iMindmap vào tháng 12/2006
Nói chung, Buzan dạy ta “Học cách thức tư duy nhanh chóng và tự nhiên”
Kỹ năng mà chúng ta học tập ở ông đó là: nhận thức chung về năng lực, công
suất to lớn của bộ não con người và cách thức hoạt động của nó, kỹ năng ghi nhớ,
kỹ năng đọc, cách thức ghi chép theo phương pháp Mind Map, sự sáng tạo, cách
thức cải thiện hoạt động của bộ não theo thời gian
1.2 Một số quan niệm về SĐTD
Theo Tony Buzan thì “ Bản đồ tư duy là một hình thức ghi chép sử dụng
nhiều màu sắc và hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Ý tưởng hay hình
ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho những ý
chính và điều được nối với ý trung tâm”
Thí dụ như bạn muốn lập SĐTD cho một tuần làm việc, hãy vẽ chủ đề trung
tâm tuần sau vào giữa trang giấy trắng Từ chủ đề bạn vẽ 7 nhánh lớn là thứ 2,
thứ 3…cho đến chủ nhật, mỗi nhánh một màu Rồi từ mỗi thứ, bạn lại vẽ các
nhánh nhỏ là các công việc bạn định làm trong thứ đó, mỗi công việc lại triển
khai ra các ý chi tiết hơn như bạn định làm việc đó với ai (Who), ở đâu (Where),
bao giờ (When), bằng cách nào (How) Hình 1.2 SĐTD về tuần làm việc
Trang 24Cứ như vậy bạn sẽ có được trên cùng một trang giấy các công việc bạn định
làm trong một tuần, và cái hay của SĐTD ở chỗ là nó giúp cho bạn có cái nhìn
tổng thể, không bỏ sót các ý tưởng Từ đó bạn có thể dễ dàng đánh số thứ tự ưu
tiên các công việc trong tuần để sắp xếp và quản lý thời gian một cách hiệu quả
và hợp lý hơn so với một quyển sổ liệt kê các công việc thông thường
Hoặc có thể hình dung tới một chú bạch tuộc có thân ở giữa và những chiếc
súc tua xung quanh SĐTD cũng tương tự như thế gồm một vấn đề lớn đặt ở
trung tâm và các nhánh ý tưởng toả ra xung quanh
Hình 1.2 Hình ảnh minh họa SĐTD
Trong cuốn “Lập bản đồ tư duy” biên dịch Phạm Thế Anh cho rằng “Bản
đồ tư duy là phương pháp dễ nhất để truyền tải thông tin vào bộ não của bạn rồi
đưa thông tin ra ngoài bộ não Nó là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và
rất hiệu quả theo đúng nghĩa của nó”
Biên dịch Thanh Huyền trong cuốn “Bản đồ tư duy cho trẻ em” đã quan
niệm: “Bản đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy, là một phương tiện ghi chép
hiệu quả thể hiện sự “sắp xếp” ý nghĩ của bạn”
Bên cạnh đó, một số Website trên mạng cũng đưa ra một số quan niệm về
bản đồ tư duy: bản đồ tư duy là phương pháp đưa ra để tận dụng khả năng ghi
nhận hình ảnh của bộ não Đây là cách ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp, hay để phân
tích một số vấn đề taọ thành một dạng của lược đồ phân nhánh Khác với máy
tính, ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính (ghi nhớ theo một trình tự nhất định
chẳng hạn như trình tự biến cố xuất hiện của một câu chuyện) thì bộ não còn có
khả năng tạo sự liên kết giữa các dữ kiện với nhau
Trang 251.3 Cấu trúc của SĐTD
Sơ đồ tư duy được cấu tạo bởi 6 yếu tố sau: Hình ảnh, màu sắc, từ khoá,
liên kết, tổng quát và nổi bật
Cấu trúc của nó như một cái cây có nhiều nhánh lớn, nhỏ mọc xung quanh
bắt đầu là ý tưởng chính hay hình ảnh trung tâm Nối với nó là các nhánh lớn thể
hiện các vấn đề liên quan tới ý tưởng chính Các nhánh lớn phân thành nhiều
nhánh nhỏ… tiếp tục các nhánh nhỏ được phân ra thể hiện mức độ sâu hơn của
vấn đề Sự phân nhánh này có thể không có điểm dừng tuỳ thuộc vào cách thể
hiện của mỗi người
Có thể hình dung cấu trúc của SĐTD bằng giản đồ như sau:
Hình 1.3.1 Cấu trúc SĐTD
Không giống như cách viết thông thường, bản đồ tư duy không xuất phát
từ trái qua phải và từ trên xuống dưới theo kiểu truyền thống Thay vào đó bản
đồ tư duy được vẽ, viết và đọc theo hướng bắt nguồn từ trung tâm di chuyển ra
phía ngoài và sau đó là theo chiều kim đồng hồ Cách đánh số dưới đây là cách
đọc:
Trang 26Bốn kết cấu chính I, II, III, IV trong SĐTD phía trên được gọi là nhánh
chính SĐTD này có bốn nhánh chính vì nó có bốn tiêu đề phụ Số tiêu đề phụ là
số nhánh chính Đồng thời, các nhánh chính của SĐTD được đọc theo chiều kim
đồng hồ, bắt nguồn từ nhánh I tới nhánh II, rồi nhánh III và cuối cùng là nhánh
IV Tuy nhiên các từ khóa được viết và đọc theo hướng từ trên xuống dưới trong
cùng một nhánh chính
1.4 Đặc điểm và vai trò của SĐTD
1.4.1 Đặc điểm của SĐTD
Sơ đồ tư duy có 4 đặc điểm chủ yếu:
1 Đối tượng cần quan tâm được tóm lược trong một hình ảnh trọng tâm
2 Từ hình ảnh trọng tâm, những chủ đề phát sinh được lan tỏa thành các
nhánh
3 Các nhánh được cấu thành từ một hình ảnh chủ đạo hay từ khóa trên
một dòng liên kết, những vấn đề phụ cũng được biểu thị bởi các nhánh gắn kết
với nhánh có thứ bậc cao hơn
4 Các nhánh tạo thành một cấu trúc nút liên kết nhau
Ngoài ra, ta cũng nên sử dụng màu sắc, hình ảnh, kí hiệu, kích thước để làm
phong phú, nổi bật sơ đồ tư duy, làm tăng sự thu hút, hấp dẫn và tính độc đáo,
nhờ đó mà người viết phát huy tính sáng tạo, khả năng nhớ lâu hơn
1.4.2 Lợi ích của SĐTD
Là công cụ ghi chú hiệu quả
Tóm tắt thông tin
Tổng hợp thông tin từ các nguồn nghiên cứu khác nhau
Suy nghĩ thông qua những vấn đề phức tạp
Trình bày thông tin theo một định dạng mà nó thể hiện được tổng quan
cấu trúc của vấn đề
Hơn nữa, việc đọc lại cũng sẽ rất nhanh, khi bạn cần nhớ lại các thông tin
bạn chỉ cần liếc mắt sơ qua Và trí nhớ của bạn cũng hoạt động hiệu quả
hơn Bằng việc ghi nhớ hình dạng và cấu trúc của bản đồ tư duy, nó cũng
Trang 27có thể giúp bạn gợi nhớ các thông tin Như vậy, nó đã làm cho bộ não của
bạn hoạt động nhiều hơn so với cách ghi chép thông thường trong tiến
trình tiếp thu và kết nối các dữ kiện
1.5 Cơ sở các quy tắc của SĐTD
Cơ sở của các quy tắc SĐTD bao gồm:
Nhấn mạnh
SĐTD luôn dùng một hình ảnh làm trung tâm, bộ não con người nhận thấy
rằng việc nhớ hình ảnh dễ dàng hơn nhiều so với từ ngữ “một hình ảnh đáng giá
cả ngàn từ” Ngoài ra việc dùng hình ảnh ở mọi nơi trong SĐTD cũng là một
điều hết sức quan trọng nó mang lại sự hưng phấn, năng lực hình dung cho bộ
não Ví dụ sau minh họa cho sự nhấn mạnh của SĐTD
Hình 1.5_1 Ví dụ minh họa sự nhấn mạnh của SĐTD
Liên kết
Liên kết là yếu tố chính thứ hai cần thiết cho việc tăng cường trí nhớ và khả
năng sáng tạo Dùng mũi tên để chỉ các mối liên hệ cùng nhánh, khác nhánh:
giúp bạn thấy được mối liên hệ giữa các vùng trong SĐTD Dùng màu sắc, kí
hiệu giúp cải thiện trí nhớ, tăng cường sự sáng tạo và nâng cao khả năng nhớ lại
Ví dụ như ôn tập chương VI_lớp 11 Tin học trong phần phân loại chương
trình con, ta sử dụng mũi tên nét đứt để biễu diễn mối liên hệ giữa các nội dung
với nhau
Trang 28Hình 1.5_2 Ví dụ minh họa sự liên kết của SĐTD
Mạch lạc
Mỗi dòng SĐTD nên chỉ có một từ khóa, tuợng trưng cho một hình ảnh cụ
thể Bản thân mỗi từ khoá sẽ tạo ra hàng ngàn hàm ý và liên kết khả dĩ Bằng
cách viết một từ trên mỗi dòng, bạn sẽ có vô số cơ hội để tạo liên kết cho mỗi từ
Hơn nữa mỗi từ còn được nối kết với từ hoặc hình ảnh ở bên cạnh nó ở dòng tiếp
theo Bằng cách này não của bạn sẽ được giải phóng để nảy sinh những ý tưởng
mới
SĐTD nên dùng chữ in tạo thói quen ngắn gọn khi trình bày Một từ được
viết in hoa sẽ gây sự chú ý cho mắt Có thể được dùng nhấn mạnh mức độ quan
trọng của các từ Ví dụ sau minh họa cho sự mạch lạc của SĐTD trong ôn tập
chương III_lớp 10 môn Tin học
Hình 1.5_3 Ví dụ minh họa cho sự mạch lạc của SĐTD
Trang 29 Tạo phong cách riêng theo sở thích của bạn nhưng vẫn phải đảm bảo các
qui tắc của SĐTD
SĐTD là một công cụ hỗ trợ trí nhớ hiệu quả, là một kĩ thuật ghi chú giúp
phân tích thông tin, kích thích tư duy sáng tạo Một sản phẩm mình tự tạo ra chắc
chắn sẽ dễ dàng ghi nhớ hơn cho dù nó không đẹp như của người khác, đó chính
là do nó mang đậm tính cá nhân của bạn Ví dụ minh họa ôn tập phần soạn thảo
văn bản của chương III_lóp 10 môn Tin học
Hình 1.5_4 Ví dụ minh họa cho phong cách của SĐTD
1.6 Nguyên tắc và cách vẽ SĐTD
Nguyên tắc và cách vẽ một SĐTD hoàn chỉnh được thể hiện cụ thể trong
các bước như sau:
Bước 1: Xác định cấu trúc SĐTD
+ Đọc kỹ nội dung cần học + Tìm các từ khóa và ý chính trong toàn bộ phần nội dung mà bạn cần học
+ Hình dung cụ thể cấu trúc sơ đồ
Bước 2: Vẽ chủ đề ở trung tâm
+ Vẽ ở trung tâm tờ giấy + Làm nổi bật chủ đề bằng màu sắc và hình ảnh + Chủ đề cần rõ ràng và dễ nhớ
Trang 30Bước 3: Vẽ thêm các tiêu đề phụ
+ Tiêu đề phụ nên viết bằng chữ in hoa + Vẽ gắn liền với trung tâm
+ Nhánh cần được tô đậm
Bước 4: Trong từng tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ
+ Nên tận dụng từ khóa và hình ảnh + Nên dùng hình ảnh, ký hiệu và viết tắt để tiết kiệm thời gian và không gian
+ Mỗi từ khóa, hình ảnh nên được vẽ trên những đoạn gấp khúc riêng
+ Tất cả các nhánh của một ý nên toả ra từ một điểm + Tất cả các nhánh tỏa ra từ một điểm nên vẽ cùng một màu + Nên thay đổi màu sắc khi đi từ ý chính ra các ý phụ
Bước 5: Thêm hình ảnh để làm nỗi bật và giúp nhớ tốt hơn
1.7 Mối quan hệ giữa SĐTD và hoạt động của bộ não con người
Vỏ não trái chi phối ngôn ngữ và khả năng tính toán, những điều học tập,
thể nghiệm được hay các thông tin đều lưu giữ trong não trái Hành động ý thức
cũng thuộc não trái
Vỏ não phải có tính sáng tạo, khả năng trực giác và nhận biết hình ảnh, bản
năng thuộc về vỏ não phải
Từ những vấn đề trên kể trên ta có thể đưa ra nhận xét Từ trước tới nay,
thông tin được chúng ta ghi chép chủ yếu bằng các ký tự, đường thẳng và những
con số Theo các nhà nghiên cứu khoa học, với cách ghi chép truyền thống này,
con người chỉ mới sử dụng một nửa phía bên trái của bộ não Điều đó có nghĩa là
chúng ta chưa hề sử dụng kỹ năng nào bên phải của não cả Nói cách khác, chúng
ta vẫn đang sử dụng 50% khả năng của bộ não để phục vụ cho việc ghi chép
Trang 31thông tin SĐTD giúp con người thực hiện được mục tiêu tận dụng hết 50% khả
năng còn lại của bộ não
1.8 Các loại sơ đồ tư duy
Có rất nhiều loại SĐTD nên tùy vào mục đích của người sử dụng mà lựa
chọn và xây dựng SĐTD cho phù hợp, có thể khái quát thành những loại điển
hình như sau:
1.8.1 Sơ đồ tư duy theo đề cương
Dạng SĐTD này mang lại một cái nhìn tổng quát về toàn bộ môn học
Những SĐTD theo đề cương khổng lồ về các môn học sẽ rất có ích cho người
học Chúng giúp cho người học có được khái niệm về số lượng kiến thức mà họ
đã tiếp nhận
Sau đây là hình ảnh sưu tầm về ứng dụng sơ đồ tư duy để tóm tắt nội dung
môn học Lập trình C của sinh viên lớp CTH52, Đại học Nha Trang-là một loại
SĐTD theo đề cương
Hình 1.8.1 Sơ đồ tư duy theo đề cương
1.8.2 Sơ đồ tư duy theo chương
Dạng SĐTD này sẽ giúp người học khái quát nội dung bài học của mỗi
chương học Từ đó, người học chỉ cần ghi nhớ được sơ đồ là có thể tóm lược
được nội dung đã học Đây là dạng SĐTD hay được sử dụng trong việc tổ chức
Trang 32Sau đây là ví dụ minh họa ôn tập chương III_lớp 11 môn Tin học sử dụng SĐTD
để dạy học
Hình 1.8.2 Sơ đồ tư duy theo chương
1.8.3 Sơ đồ tư duy trong đoạn văn
Là dạng vẽ SĐTD theo từng đoạn văn trong sách giáo khoa Mỗi sơ đồ tư
duy dùng làm tóm tắt một đoạn hay một trích đoạn trong sách
Sơ đồ tư duy trong đoạn văn sẽ giúp người học tiết kiệm thời gian trong quá
trình ôn tập lại những kiến thức mà không cần nhớ lại nguyên đoạn văn đó
Chúng ta có thể vẽ những sơ đồ tư duy tí hon này lên những nhãn dán nhỏ và
đính chúng trong sách giáo khoa để dễ học Ví dụ về SĐTD theo đoạn văn như
sau:
“ Đã từ lâu, người ta biết rằng bộ não của con người có thể được chia ra
làm 2 phần Phần não trái và phần não phải Người ta cũng biết rằng não trái điều
khiển phần cơthể bên phải của cơ thể, trong khi đó ngược lại não phải điều khiển
phần bên trái của cơ thể Bên cạnh đó, người ta cũng phát hiện ra rằng việc não
trái bị hư tổn sẽ gây ra một nửa phần cơ thể bên phải bị tê liệt Tương tự, nếu như
não phải bị hư tổn một nửa cơ thể bên trái bị tê liệt ”
Trang 33
Hình 1.8.3 Hình minh họa SĐTD trong đoạn văn
Thông thường khi tiếp cận đoạn văn này người học có xu hướng học thuộc
toàn bộ đoạn văn (gồm hơn 100 từ) Nhưng nếu áp dụng quy tắc của SĐTD là sử
dụng từ khóa (là những từ được gạch dưới, màu đà) thì lượng từ ghi nhớ giảm
xuống 40 từ và từ không cần ghi nhớ là 60 từ
Vậy với phương pháp này người học đã giảm 80% thời gian học mà hiệu
quả đạt được là 100%
1.9 Các cách tạo lập SĐTD
1.9.1 Tạo một sơ đồ tư duy bằng thủ công
Bước 1: Vẽ chủ đề trung tâm
Bước đầu tiên trong việc tạo ra một SĐTD là vẽ chủ đề ở trung tâm trên một
- Có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng
- Bí quyết vẽ chủ đề là chủ đề nên được vẽ to cơ hai đồng xu “5000
đồng”
Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ
Trang 34 Một số lưu ý khi vẽ tiêu đề phụ:
- Tiêu đề phụ nên được viết bằng chữ IN HOA nằm trên các nhánh dày để
làm nỗi bật, hoặc được viết bằng màu mực khác với chủ đề trung tâm
- Tiêu đề phụ nên được vẽ gắn liền với trung tâm
- Tiêu đề phụ nên được vẽ theo hướng chéo góc (chứ không nằm ngang)
để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng
Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý chính và các chi tiết
hổ trợ
Một số lưu ý khi vẽ ý chính và chi tiết hỗ trợ:
- Chỉ nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh
- Bất cứ lúc nào có thể, hãy dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết
kiệm không gian vẽ và thời gian
- Mỗi từ khóa, hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên
nhánh Trên mỗi đoạn nên chỉ có tối đa một từ khóa Việc này giúp cho nhiều từ
khóa mới và những ý khác được nối thêm vào các từ khóa sẵn có một cách dễ
dàng (bằng cách vẽ nối ra từ một điểm)
- Tất cả các nhánh của một ý nên tỏa ra từ một điểm
- Tất cả các nhánh tỏa ra cùng một điểm (thuộc cùng một ý) nên có cùng
một màu
- Thay đổi màu sắc khi đi từ một ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn
Bước 4: Ở bước cuối cùng này, hãy để trí tượng bay bổng Có thể thêm
nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nỗi bật, cũng như giúp lưu
chúng vào vị trí nhớ tốt hơn
Đối với việc giảng dạy môn Tin học khi xây dựng sơ đồ tư duy chúng ta cần
sưu tầm, tìm kiếm, chọn lọc, chèn thêm các hình ảnh nhằm làm nổi bật nội dung,
kiến thức cơ bản, trọng tâm của bài học, giúp học sinh dễ dàng ghi nhớ, phát huy
tính tích cực, sáng tạo, tạo hứng thú trong học tập trong giờ học Tin học Sau đó
sửa các từ khóa cho phù hợp, logic hơn nếu cần thiết
Lưu ý: Khi lập sơ đồ tư duy
- Bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm
- Để các nhánh của SĐTD có độ cong tự nhiên
Trang 35- Viết hay vẽ đề tài của đối tượng xuống giữa trang giấy và vẽ một vòng
bao bọc nó Việc sử dụng màu sẽ nâng cao chất lượng và vận tốc ghi nhớ
- Khi lập sơ đồ tư duy nên sử dụng từ khóa trong mỗi dòng Bởi các từ
khóa mang lại cho SĐTD nhiều sức mạnh và khả năng linh hoạt cao Mỗi từ hay
mỗi hình ảnh đơn lẻ giống như một cấp số nhân mang đến cho những sự liên
tưởng và liên kết của nó diện mạo đặc biệt Khi sử dụng những từ khóa riêng lẻ,
mỗi từ khóa đều bị ràng buộc do vậy nó có khả năng khơi dậy các ý tưởng mới,
các suy nghĩ mới Hơn nữa, các cụm từ quan trọng không bị lạc mất trong rừng
chữ và bạn sẽ luôn có nhiều lựa chọn khác
Sơ đồ tư duy mang lại cơ hội lý tưởng để nâng cao khả năng phối hợp tay,
mắt, tư duy, giúp phát triển và làm tinh tế những kỹ năng thị giác Hãy tạo phong
cách riêng cho SĐTD, nó giúp chúng ta có khả năng thể hiện cả tính nghệ thuật
lẫn tính sáng tạo
1.9.2 Tạo lập SĐTD với sự hỗ trợ của phần mềm
Trong thời đại CNTT bùng nổ, các nhà khoa học máy tính trên thế giới ngày
càng quan tâm đến việc viết ra các phần mềm hỗ trợ quá trình tư duy, hệ thống ý
tưởng sáng tạo của con người Tư duy có sử dụng phần mềm hỗ trợ được coi như
phong cách hiện đại, một kỹ năng sư dụng bộ não rất mới mẻ Đa số các phần
mềm được tạo ra đa số trở thành những phần mềm dạy học, phục vụ đắc lực cho
quá trình lên lớp của giáo viên Nhờ có sử dụng các phần mềm này mà học sinh
trung bình, thậm chí học sinh trung bình yếu cũng có thể hoạt động tốt trong môi
trường học tập
Hiện nay, nhiều phần mềm vẽ bản đồ tư duy như: Free Mind, Mindomo,
Buzan’s iMindMap, Mindjet Mindmanager, Inspiration, Visual Mind… Ngoài ra,
chúng ta có thể tham khảo một danh sách các phần mềm loại mind mapping tại
địa chỉ sau:
http://en.wikipedia.org/wiki/list_of_mind_mapping_software
www.mind-map.com (trang web chính thức của Tony Buzan)
www.peterussell.com/mindmaps/mindmap.html
Một số phần mềm vẽ SĐTD đang được sử dụng phổ biến hiện nay: Free
Mind, Mindomo, Buzan’s iMindMap, Mindjet Mindmanager Trong giới hạn của
Trang 36đề tài, tôi chỉ xin giới thiệu về phần mềm Mindjet Mindmanager Pro 7 và
Buzan’s iMindMap
Phần mềm Mindjet Mindmanager
Mindjet Mindmanager – Phần mềm
này đã được dùng khá nhiều ở Việt Nam
Mindjet Mindmanager chỉ chạy trên hệ điều hành Microsoft Windows
Mindjet Mindmanager Pro là sản phẩm
số lấy ý tưởng từ bản đồ tư duy Mindmap nỗi tiếng và kết hợp với phương pháp tư duy của Tony Buzan bậc thầy của lĩnh vực tìm ra nguyên tắt tư duy và sáng tạo
Luyện tập với chương trình này, người sử dụng sẽ hình thành cách ghi chép
và suy nghĩ tổng thể cũng như chi tiết, nâng cao sức mạnh tư duy, tạo ra đột phá
trong suy nghĩ Giúp bộ não ghi chép các sự kiện một cách hệ thống Việc ghi
chép thông thường theo từng hàng chữ khiến ta khó hình dung tổng thể vấn đề,
dẫn đến hiện tượng đọc sai ý, nhầm ý Còn sơ đồ tư duy tập trung rèn luyện cách
chính xác chủ đề rõ ràng, sau đó phát triển ý chính, ý phụ một cách logic
Hình 1.9.2_1 giao diện làm việc
Chính vì vậy, Mindjet Mindmanager thích hợp với học sinh, giáo viên cần
sơ đồ hóa từng đơn vị kiến thức hay nội dung của cả bài học Khi mở chương
trình, nhấn vào New để tạo sơ đồ mới Ta có thể chọn mẫu cố định hoặc tự do >
Trang 37nữa để lập ý nhánh trong ô Main Topic Trong ô này, bạn có thể nêu các ý nhỏ
hơn bằng cách bấm chuột phải > Insert Subtopic Các nhánh có thể xóa hoặc
thêm dễ dàng, giúp người ta liên tưởng để sáng tạo
Sau khi làm xong có thể chuyển nó sang định dạng file khác như PDF, MS
Word, Power point… Ngoài ra, người dùng còn chèn được ghi chú, văn bản, hình
ảnh, đường link trang Web
Với những ưu điểm trên, phần mềm Mindjet Mindmanager rất thích hợp với
giáo viên ứng dụng đổi mới phương pháp dạy học sử dụng phương tiện kỹ thuật
hiện đại, nhằm phát huy hứng thú học tập và sự chú ý của học sinh Bên cạnh đó
nhằm truyền đạt cho học sinh một phương pháp học mới mang lại hiệu quả cáo
trong học tập
Phần mềm Buzan’s iMindMap V4
(Hình 1.9.2_2 Giao diện làm việc)
Ưu điểm của iMindmap
Có chế độ cho vẽ hình trực tiếp trong phần mềm, đặc biệt là có thể uốn các
đường nối để làm mindmap sinh động theo ý người dùng, điểm cộng về tính tự
do