Trong nhiều tác phẩm của Hồ Anh Thái, tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế có thể coi là sự tổng hợp sức sáng tạo của nhà văn về thế giới tư tưởng cũng như sự đa dạng, độc đáo về
Trang 1KHOA NGỮ VĂN
- -
PHAN THỊ TÂM
Đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết Cõi
người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Cấu trúc đề tài 8
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN 9
ĐỀ TÀI 9
1.1 Khái niệm ngôn ngữ văn học và phong cách ngôn ngữ nhà văn 9
1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ văn học 9
1.1.2 Phong cách ngôn ngữ nhà văn 10
1.2 Phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt 13
1.2.1 Phương tiện và biện pháp tu từ từ vựng 14
1.2.2 Phương tiện và biện pháp tu từ ngữ nghĩa 15
1.2.3 Phương tiện và biện pháp tu từ cú pháp 15
1.3 Giọng điệu trong tác phẩm văn học 16
1.3.1 Khái niệm giọng điệu trong văn học 16
1.3.2 Phân loại các loại giọng điệu trong các thể loại 17
1.4 Nhà văn Hồ Anh Thái và tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế 18
1.4.1 Nhà văn Hồ Anh Thái 18
1.4.2 Tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế 21
Trang 3CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG TIỆN NGÔN
NGỮ VÀ BIỆN PHÁP TU TỪ TRONG TIỂU THUYẾT CÕI NGƯỜI
RUNG CHUÔNG TẬN THẾ CỦA HỒ ANH THÁI 23
2.1 Các lớp từ ngữ nổi bật trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận
thế 23
Trang 42.1.3 Từ vay mượn 28
2.1.4 Thành ngữ 29
2.1.5 Từ láy 31
2.2 Các biện pháp tu từ ngữ nghĩa tiêu biểu trong tác phẩm 34
2.2.1 So sánh tu từ 34
2.1.2 Ẩn dụ tu từ 37
2.2.3 Nhân hóa 39
2.2.4 Vật hóa 41
2.3 Kết hợp đa dạng các kiểu cấu trúc câu 42
2.3.1 Câu đặc biệt 43
2.3.2 Câu dưới bậc 44
2.3.3 Câu có cấu trúc sóng đôi 46
* Tiểu kết 49
CHƯƠNG 3: HÌNH THỨC LỜI NÓI VÀ GIỌNG ĐIỆU TRONG TIỂU THUYẾT CÕI NGƯỜI RUNG CHUÔNG TẬN THẾ 50
3.1 Hình thức lời nói 51
3.1.1 Lời nói trực tiếp 51
3.1.2 Lời nói gián tiếp 55
3.2 Giọng điệu 57
3.2.1 Giọng hài hước, giễu nhại 57
3.2.2 Gọng điệu trữ tình, giàu cảm xúc 60
3.2.3 Giọng điệu chiêm nghiệm giàu triết lý 62
* Tiểu kết 65
KẾT LUẬN 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đến với lĩnh vực văn chương, ngôn ngữ là cửa ngõ để bạn đọc tiếp nhận chiều sâu tư tưởng, tình cảm của nhà văn gửi gắm trong mỗi tác phẩm Bởi lẽ, văn học là nghệ thuật ngôn từ Tìm hiểu về ngôn ngữ là cách để ta nhìn nhận về khả năng sáng tạo, những nét đặc trưng trong phong cách nhà văn Từ đó, khẳng định vị trí của nhà văn trong sự phát triển chung của nền văn học dân tộc
Nhìn lại sự vận động của văn học Việt Nam từ sau 1975, đặc biệt là từ thập niên 90 của thế kỷ XX, đã diễn ra sự đổi mới trên tất cả các thể loại Và
Hồ Anh Thái được đánh giá là cây bút có sức viết dồi dào, luôn có ý thức tôi luyện để tìm được “tiếng nói riêng” cho mình Với một số lượng tác phẩm đồ
sộ và một phong cách nghệ thuật đặc sắc, Hồ Anh Thái đã khẳng định được vị thế của mình trên văn đàn Tác phẩm của ông không chỉ nổi bật bởi sự phong phú về đề tài, chủ đề mà còn có sự biến hóa khôn lường về mặt ngôn ngữ
Trong nhiều tác phẩm của Hồ Anh Thái, tiểu thuyết Cõi người rung chuông
tận thế có thể coi là sự tổng hợp sức sáng tạo của nhà văn về thế giới tư tưởng
cũng như sự đa dạng, độc đáo về mặt ngôn ngữ nghệ thuật, một thành công lớn của nhà văn trong sự vận động của tư duy tiểu thuyết hiện đại giai đoạn hiện nay
Là một sinh viên khoa Ngữ văn, chúng tôi hiểu nhiệm vụ khó khăn nhất trong giờ giảng văn là cần tránh được những khuyết điểm lan man, mơ hồ, đồng thời tạo được sự thuyết phục và để lại ấn tượng lâu dài trong tâm thức học sinh Điều này phụ thuộc rất lớn vào bản lĩnh cùng sự trau dồi kiến thức
về ngôn ngữ của người dạy Với đề tài này, chúng tôi muốn góp phần đưa hoạt động nghiên cứu ngôn ngữ tiếp cận gần hơn với đời sống văn học trong hoạt động nghiên cứu và giảng dạy
Trang 6Tất cả những lí do trên đã thôi thúc chúng tôi lựa chọn đề tài “Đặc điểm
ngôn ngữ trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái”
những mong có cơ hội được tìm hiểu và khám phá những điều thú vị ẩn chứa bên trong tác phẩm qua góc nhìn ngôn ngữ học
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Ngay từ khi xuất hiện trên văn đàn, Hồ Anh Thái đã trở thành một thành viên xuất sắc bởi cây bút có sức viết dồi dào với những cách tân nghệ thuật đáng trân trọng Đến nay, ông là tác giả của trên 30 đầu sách bao gồm cả tiểu thuyết và truyện ngắn Tác phẩm của ông từ rất sớm đã được độc giả đón nhận nồng nhiệt, đã gây tiếng vang rất lớn cho đời sống văn học trong nước
và đặc biệt còn khẳng định được vị trí của mình đối với nền văn học thế giới
Vì vậy Hồ Anh Thái và tác phẩm của ông đã trở thành “miền đất hứa” cho rất nhiều nhà phê bình, nghiên cứu văn học
2.1 Những công trình nghiên cứu, đánh giá về tiểu thuyết Hồ Anh Thái nói chung
Hồ Anh Thái là một trong những nhà văn được dư luận cả trong và ngoài nước quan tâm Nhiều công trình nghiên cứu quan tâm khai thác tác phẩm của nhà văn từ nhiều cấp độ từ khái quát đến cụ thể Những đổi mới về nghệ thuật cũng như sự sâu sắc về nội dung đã được đề cập đến ở nhiều bài báo, bài viết, lời giới thiệu về tác phẩm của ông
Có thể nói, ngôn ngữ là một trong những thế mạnh của Hồ Anh Thái Trong bài viết “Hồ Anh Thái - người mê chơi cấu trúc” Nguyễn Đăng Điệp
đã có cái nhìn khái quát: “Cấu trúc ngôn ngữ của Hồ Anh Thái không bằng phẳng mà “lổm nhổm” một cách cố ý Điều này khiến cho hình ảnh đời sống trong tác phẩm của anh gần gũi hơn với hơi thở cuộc đời” [3, tr.367] Theo Nguyễn Đăng Điệp thì “Cùng với những cây bút khác như: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ… Hồ Anh Thái đã góp phần tạo
Trang 7nên một động hình ngôn ngữ mới và giọng văn xuôi khác hẳn so với văn xuôi giai đoạn 1945 – 1975” [1, tr 367]
Trong bài viết “Đặc trưng ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Anh Thái” Bùi Thanh Truyền, Lê Biên Thùy đã nhận xét: “Gần 30 năm lao động cật lực, cùng vốn từ tiếng Việt phong phú, đa dạng, kiến thức, tài năng, tâm huyết với cõi người, cõi nghề, sự dụng công và khắt khe, nhạy cảm trong sử dụng, tổ chức chất liệu văn học, văn sĩ họ Hồ đã tạo ra những “ma trận” ngôn từ cuốn hút” [35]
Điểm qua gia tài văn học của Hồ Anh Thái, có thể thấy ông là một trong không nhiều nhà văn tạo được thành công trong cuộc chạy tiếp sức vắt qua hai thế kỷ Cho đến nay, giới nghiên cứu tiếp cận sáng tác của người “phu chữ” này trên nhiều góc độ như hệ thống đề tài, chủ đề, nhân vật và thi pháp biểu hiện Nhưng theo Bùi Thanh Truyền, Lê Biên Thùy thì điều làm cho văn ông không thể lẫn với bất kì ai chính là thứ ngôn ngữ ông dùng, khẩu khí, giọng điệu được ông lựa chọn được co rút tối đa về dung lượng con chữ, sự nén chặt về hiện thực đời sống Trong đó: “Ngôn ngữ đời thường, ngôn ngữ giàu chất thơ và ngôn ngữ mới lạ về giọng điệu là những động hình tiêu biểu, góp phần quan trọng tạo nên vị thế Hồ Anh Thái nói riêng, tiểu thuyết đương đại nói chung” [35]
WayneKarlin – trong lời giới thiệu cho bản in của NXB Washington đã khẳng định: “Với lòng kính trọng và tình yêu, anh chấp nhận điểm xuất phát của mình trong lịch sử và văn học nước nhà, nhưng cũng mở hướng ra cho những ảnh hưởng khác – nổi bật là chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ La tinh
và tác phẩm của nhà văn Pháp gốc Czech, Milan Kundera – và tác phẩm của anh đã góp phần đưa văn học Việt Nam đương đại đi theo hướng mới” (Lời giới thiệu cho bản in của Nhà xuất bản Đại học Washington 2011) Có thể nói, trong những sáng tác của mình, Hồ Anh Thái đã làm sáng rõ hơn những tập tục, những thái độ và những định kiến của xã hội Việt Nam đương đại
Trang 8Tác phẩm của ông được đón nhận rộng rãi và thường kích thích tranh luận vì những lý do ấy và cũng vì văn phong đa dạng đầy chất thơ
Có thể nói, Hồ Anh Thái là một hiện tượng tiểu thuyết trong văn học Việt Nam đương đại Trong những năm gần đây, nhiều báo cáo khoa học, khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ quan tâm đến nhà văn này, trong đó có nhiều công trình đề cập đến phương diện ngôn ngữ trong tác phẩm của nhà văn như: Nguyễn Bá Thạc với “Cảm hứng giễu nhại trong sáng tác của Hồ Anh Thái”; Nguyễn Thị Minh Hoa với “Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Mười lẻ một đêm” của Hồ Anh Thái…
Nghiên cứu về tiểu thuyết Hồ Anh Thái nói chung đã có rất nhiều công trình và bài viết bởi cùng với truyện ngắn, tiểu thuyết là một thể loại làm nên tên tuổi của Hồ Anh Thái “Chính những cố gắng để “luyện đan” ngôn ngữ văn xuôi nói chung, tiểu thuyết nói riêng đã góp phần đem lại thành công lớn cho tác giả, khẳng định vị thế của anh trên văn đàn văn chương đương đại” [35]
2.2 Những công trình nghiên cứu, bài viết tìm hiểu về ngôn ngữ trong
tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế
Sang đến Cõi người rung chuông tận thế sức viết của Hồ Anh Thái
càng trở nên dồi dào Hầu hết các nhà nghiên cứu đều gặp nhau ở chỗ khẳng định rằng chủ đề nổi bật của tác phẩm là cuộc đấu tranh dữ dội, dai dẳng giữa cái thiện và cái ác của con người Còn về mặt nghệ thuật, cuốn tiểu thuyết này được coi là mốc đánh dấu một bước tiến mới trong nghệ thuật tiểu thuyết của
Hồ Anh Thái Đây là tác phẩm thể hiện sự đổi mới, sự sáng tạo không mệt mỏi của nhà văn đặc biệt là về mặt ngôn ngữ, giọng điệu
Trong bài “Ám ảnh và dự cảm” đăng trên báo Văn nghệ ngày 22/ 11/
2003 Phạm Chí Dũng đã khẳng định rằng: “Cõi người rung chuông tận thế có
lẽ là một trong số ít những sự phơi bày được văn học hóa thành công, bởi ngoài yếu tố mạch truyện chuyển động nhanh, hiện đại, đi thẳng vào các vấn
Trang 9đề của xã hội hôm nay như nhà văn Tô Hoài nhận xét; còn vì bút pháp châm biếm trào lộng, mặc dù có đôi chỗ hơi thái quá, nhưng quả tình là đặc biệt và đặc sắc, với cả một kho văn hóa dân gian ẩn dụ và tả thực phải nói là rất phong phú, đã làm cho cuốn tiểu thuyết này trở nên cuốn hút” [1, tr.301]
Đáng chú ý là ý kiến của Nguyễn Thị Minh Thái “Có một sự tương
phản đặc biệt và nổi bật trong cuốn tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế
xuất bản cuối năm 2002 của nhà văn Hồ Anh Thái: tương phản giữa một bên
là sự không dày dặn gì về số trang (241) trang, với một bên là sự đa thanh đáng ngạc nhiên trong giọng điệu tiểu thuyết của một nhà văn từng trải, bắt đầu dày dặn trong cách viết của mình” [1, tr.268]
Tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế không phải ngay từ khi ra
đời đã được công chúng đón nhận nhiệt tình Nét nổi bật ở tiểu thuyết này theo nhiều người đánh giá là chất giọng đa thanh nhưng cũng không ít người nhận ra chất giọng trào lộng hài hước Trong bài viết “Cái ảo trên nền thực” tác giả Vân Long viết: “Về mặt này Hồ Anh Thái đặc biệt mài sắc được giọng
kể trào lộng, châm biếm có duyên giọng văn trào lộng, hóm hỉnh nhà văn như chỉ dành cho nhân vật phản diện” [24, tr.53]
Ghi nhận tài năng của lớp trẻ, nhà văn Ma Văn Kháng khẳng định trong
“Cái mà văn chương ta còn thiếu” rằng: “Tôi thích giọng văn của Hồ Anh Thái Nó có cái thông minh, hóm hỉnh vừa sâu sắc vừa có tính truyền thống Hơn nữa Cái này mới là cái thật thích đây: chất trào phúng, giễu nhại, cay chua mà tâm thiện, chất này văn chương ta còn thiếu quá! Không có tài, chịu đấy!” [1, tr 298]
Nhìn từ vài con số thống kê Phan Văn Tú đưa ra kết luận: “Trong Cõi
người rung chuông tận thế, Hồ Anh Thái đã sử dụng rất nhiều thành ngữ, tục
ngữ, ca dao Xét ở góc độ ngôn ngữ tiểu thuyết, mới thoạt đọc, có cảm giác đây là ngôn ngữ sự kiện, văn thông tấn, nhưng càng về sau, càng thấy văn
Trang 10chương của Hồ Anh Thái thấm đẫm chất phương Đông, hồn văn hóa dân tộc” [1,tr 316 - 317]
Cõi người rung chuông tận thế là một tiểu thuyết minh chứng hùng hồn
cho luận điểm của nhà văn Nga Lêônid Lêônôv: “Tác phẩm nghệ thuật đích thực, nhất là tác phẩm ngôn từ bao giờ cũng là một phát minh về hình thức và
một khám phá về nội dung” [1,tr.320]
Một số luận văn thạc sĩ tìm đến với Trong Cõi người rung chuông tận
thế để khẳng định phong cách văn chương của Hồ Anh Thái như Hoàng Thu
Thủy với “Điểm nhìn trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái” Tuy nhiên đối tượng khảo sát, tìm hiểu của luận văn này là ba tiểu thuyết mà ba tiểu thuyết này có vai trò ngang nhau trong việc khảo sát, phân tích rút ra kết luận của đề tài Do đó sự tập trung khai thác sâu vào mỗi tác phẩm chỉ có thể thực hiện ở một mức độ nhất định Mặc dù sự chi phối của điểm nhìn tới các yếu tố khác trong tác phẩm, trong đó có yếu tố ngôn từ, giọng điệu, cấu trúc lời nói nghệ thuật Các khía cạnh này, luận văn mới chỉ dừng lại ở sự khái quát trên những nét chính và đưa ra một số dẫn chứng điển hình trong dung lượng một đoạn văn ngắn mà chưa thể hiện thành một đề mục lớn, chưa nghiên cứu làm
rõ những biểu hiện cụ thể
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu về Hồ Anh Thái đều ghi nhận những sáng tạo và thành công của nhà văn trong chặng đường sáng tác văn chương Tuy nhiên những công trình này hầu như mới chỉ nghiên cứu ở cấp độ rộng để đưa ra những nhận định khái quát về các phương diện nghệ thuật Cũng có nhiều ý kiến bàn về một tác phẩm cụ thể trong đó có ý kiến về
Cõi người rung chuông tận thế song hầu như đó chỉ là những nhận định mang
tính chất “điểm” với một góc nhìn hẹp nào đó, tức là mới chỉ dừng lại ở cấp
độ “ý kiến” với tính chất nhỏ lẻ chứ không phải là một công trình nghiên cứu mang tính chất quy mô và hệ thống
Trang 11Như vậy, theo tìm hiểu của chúng tôi mặc dù chưa có một công trình nào mang tính chất hệ thống đi sâu tìm hiểu các vấn đề ngôn ngữ và các yếu
tố liên quan đến tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái
nhưng những công trình nghiên cứu trên đã phần nào hé mở cho chúng tôi định hướng quan trọng khi nghiên cứu đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu
thuyết Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái” Hi vọng phần trình
bày trong luận văn này sẽ góp thêm một tiếng nói làm rõ đặc điểm ngôn ngữ
tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế, khẳng định thành công của tác
phẩm Từ đó khẳng định cái mới, cái sáng tạo cũng như đóng góp của nhà văn
về phương diện ngôn ngữ đối với văn chương hậu hiện đại
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết Cõi người rung
chuông tận thế của Hồ Anh Thái bao gồm các phương tiện ngôn ngữ và biện
pháp tu từ, các hình thức lời nói và giọng điệu trong tác phẩm
- Phạm vi nghiên cứu: văn bản tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế, chủ
yếu là các hiện tượng ngôn ngữ
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu, phân loại, phân tích đặc điểm từ ngữ, câu văn, giọng điệu, các
hình thức lời nói trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh
Thái
- Chỉ ra vai trò của các phương thức biểu hiện trên trong việc làm nên thành công của tác phẩm và định hình phong cách nhà văn
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây:
– Phương pháp thống kê, phân loại
– Phương pháp phân tích, chứng minh
– Phương pháp so sánh, đối chiếu
Trang 12– Phương pháp tổng hợp, khái quát
6 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo và phần mục lục, nội dung của luận văn bao gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
Chương 2: Đặc điểm sử dụng các phương tiện ngôn ngữ và biện pháp tu từ
trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế
Chương 3: Các hình thức lời nói và giọng điệu trong tiểu thuyết Cõi người
rung chuông tận thế
Trang 13CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI 1.1 Khái niệm ngôn ngữ văn học và phong cách ngôn ngữ nhà văn
1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ văn học
Trong giao tiếp hàng ngày, ngôn ngữ được dùng một cách tự nhiên, thông dụng, toàn dân với nhiều sắc thái phong phú, đa dạng, diễn tả nhiều cung bậc cảm xúc, tình cảm, suy nghĩ khác nhau của con người Loại ngôn ngữ mang tính tự nhiên, nguyên sơ mà ai cũng có thể sử dụng đó được quan niệm là ngôn ngữ phi nghệ thuật
Còn trong văn học “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” (M Gorki) Có thể nói, không có ngôn ngữ thì không thể có tác phẩm văn học (phi ngôn ngữ bất thành văn) Trong tác phẩm văn học, ngôn ngữ là phương tiện để cụ thể hóa và vật chất hóa sự biểu hiện của chủ đề và tư tưởng tác phẩm, tính cách nhân vật và cốt truyện,…
Tuy nhiên trong văn học, ta bắt gặp một thế giới ngôn ngữ có sự phân biệt rõ nét so với ngôn ngữ toàn dân Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học là ngôn ngữ toàn dân đã được “chế biến” của những nghệ sĩ thiên tài
Theo Từ điển thuật ngữ văn học của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi quan niệm ngôn ngữ văn học trong tác phẩm là
một trong những yếu tố quan trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà văn Mỗi nhà văn bao giờ cũng là một tấm gương sáng về mặt hiểu biết sâu sắc ngôn ngữ nhân dân để trao dồi ngôn ngữ trong quá trình sáng tác Tính chính xác, tính hàm xúc, tính đa nghĩa, tính tạo hình và biểu cảm là một trong những thuộc tính của ngôn ngữ văn học
Trong cuốn Thi pháp học tác giả Nguyễn Phong Nam phân tích: “Ngôn
từ trong tác phẩm văn học thoạt nhìn có vẻ giống như lời nói được dung trong giao tiếp hằng ngày Tuy nhiên đấy là sự giống nhau ở vẻ ngoài Thực chất đây là những dạng khác hẳn nhau về mục đích và cấu trúc Lời nói trong giao
Trang 14tiếp hàng ngày được nảy sinh do nhiều nhu cầu khác nhau trong đó chủ yếu là chuyền tải thông tin Nó mang tính thực dụng và được vận hành trên nguyên tắc “thông tin ngữ cảnh” Trong khi đó, ngôn từ nghệ thuật lại được nảy sinh trên nguyên tắc “mô phỏng”, là lời nói được sử dụng một cách có dụng ý vào mục đích diễn đạt tư tưởng với tất cả vẻ đẹp, phẩm chất thẩm mỹ, khả năng nghệ thuật của nó” [13, tr.29]
Có nhiều quan niệm khác nhau về ngôn ngữ trong tác phẩm văn học Theo chúng tôi, ngôn ngữ trong tác phẩm là “thứ ngôn ngữ đã được chọn lọc, gọt giũa, trau chuốt, có tính gợi hình, gợi cảm, đem lại cho người đọc những cảm xúc thẩm mỹ thông qua những rung động tình cảm” [26, tr.9]
Được sáng tạo từ kho tàng tiếng nói dân tộc, ngôn ngữ trong tác phẩm văn học không tách rời chủ thể thẩm mỹ, do đó đã hình thành nên phong cách ngôn ngữ nghệ thuật riêng trong các tác phẩm của mỗi nhà văn Nói cách khác, đối với văn chương ngôn ngữ không chỉ là “cái vỏ của tư duy” mà còn
là phong cách ngôn ngữ nhà văn
1.1.2 Phong cách ngôn ngữ nhà văn
1.1.2.1 Phong cách ngôn ngữ nhà văn theo quan niệm của các nhà lí luận văn học
Trong những năm gần đây, vấn đề phong cách ngôn ngữ nhà văn đã bắt đầu được các nhà lí luận văn học chú ý đến Điểm lại những ý kiến tiêu biểu
sẽ giúp cho chúng ta tìm thấy một hướng tiếp cận mới cho việc giải mã các tác phẩm văn học trong việc tìm hiểu về phong cách ngôn ngữ nhà văn
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đã đưa ra một hệ thống quan niệm toàn diện về phong cách ngôn ngữ nhà văn Theo đó, “Phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm mĩ, chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn… Ngoài thế giới quan, những phương tiện tinh thần khác
Trang 15như tâm lí, khí chất, cá tính đều có ảnh hưởng đến sự hình thành phong cách nhà văn, phong cách nhà văn cũng mang dấu ấn của dân tộc và của thời đại” [9, tr.255]
Trong cuốn Lí luận văn học Đỗ Văn Khang đã đi từ phân tích “năm
nguồn gốc quan trọng nhất làm nảy sinh phong cách sáng tạo văn học” đến việc rút ra kết luận “Phong cách sáng tạo văn học là tổng thể những đường nét riêng biệt của một chân dung văn học, được nảy sinh trên cơ sở một phương pháp sáng tác nhất định; đó là chiều sâu bản chất nhất của một cá tính sáng tạo, là những giá trị thẩm mĩ “tối ưu” mà tác giả, tác phẩm văn học, khuynh hướng văn học, nền văn học đã đạt được; là sức tỏa, sức phát sáng, sức chiếm lĩnh đối với bạn đọc” [8, tr.257]
Trong cuốn Phong cách thời đại Nguyễn Khắc Sính thì cho rằng:
“Không phải lúc nào nhà văn cũng có phong cách mà chỉ có ở những nhà văn lớn, nhà văn ưu tú mới làm nên chỗ độc đáo có phẩm chất thẩm mĩ và cái độc đáo ấy là nét xuyên suốt, thống nhất, ổn định trong sự phong phú, đa dạng và đổi mới ở trong tất cả các sáng tác của nhà văn đó” [18, tr.65]
Trong công trình nghiên cứu của mình, M.B.Khrapchenco cũng đã đề suất ý kiến: “Mỗi một nhà văn có tài đều đi tìm những biện pháp và phương tiện độc đáo để thể hiện những tư tưởng và hình tượng của mình, những biện pháp và những phương tiện cho phép nhà văn đó làm cho những tư tưởng và những hình tượng ấy trở thành hấp dẫn, đễ lôi cuốn gần gũi với công chúng độc giả Và điều đó cũng có nghĩa là nhà văn đã tạo ra được phong cách của mình” [11, tr.152] Cùng chung một vốn ngôn ngữ nhưng mỗi nhà văn lại có
sự vận dụng không giống nhau vì theo M.B.Khrapchenco: “Bản thân đặc trưng của cách nhìn nhận hình tượng có tính chất cá nhân đối với thế giới, cũng như vẻ đặc thù của phong cách chủ đạo, đã quy định việc nhà văn lựa chọn những phương tiện ngôn ngữ cho phép anh ta biểu hiện rõ những ý đồ sáng tạo của mình” [11, tr.195]
Trang 16Chung quy lại, khi thừa nhận phạm trù phong cách ngôn ngữ nhà văn, các nhà lí luận văn học còn khẳng định ngôn ngữ nghệ thuật là nơi biểu hiện một cách tập trung những nét độc đáo trong cá tính sáng tạo của tác giả Tuy nhiên, những nhận định trên chưa thật sự tiếp cận trọn vẹn vấn đề phong cách ngôn ngữ nhà văn
1.1.2.2 Phong cách ngôn ngữ nhà văn theo quan niệm của các nhà ngôn ngữ học
Như đã biết, nghiên cứu ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương là nghiên cứu ngôn ngữ theo quan điểm của người dùng Và phong cách ngôn ngữ của nhà văn luôn là vấn đề quan tâm của các nhà ngôn ngữ học
Theo nhóm tác giả Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái
Hòa trong Phong cách học tiếng Việt (1982): “Ngôn ngữ là chung, nhưng vận
dụng ngôn ngữ là cái riêng của từng người Mỗi người do sở trường thị hiếu, tập quán, tâm lí, cá tính hoặc do công phu luyện tập mà hình thành những cách diễn đạt khác nhau Người này thích từ mà người khác không thích, nhà văn nọ có những cách đặt câu mà người khác không có” [13, tr.66]
Trong cuốn Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt Cù Đình Tú
đã trình bày một cách hệ thống về phong cách ngôn ngữ nhà văn Ông đưa ra
ý kiến xác đáng “Dấu ấn phong cách tác giả là cái thuộc về bản thể, thuộc về điều kiện bắt buộc của ngôn ngữ văn chương” [20, tr.189] Muốn hiểu phong cách tác giả cũng như muốn nghiên cứu phong cách ngôn ngữ nhà văn, theo
Cù Đình Tú phải căn cứ vào hai dấu hiệu cơ bản: Khuynh hướng ưa thích và
sở trường sử dụng những loại phương tiện ngôn ngữ nào đó của nhà văn, sự đi lệch chuẩn mực của tác giả
Để xác định chuẩn xác và giải thích đúng đắn phong cách ngôn ngữ của nhà văn, nhà phong cách học Đinh Trọng Lạc cho rằng “Dấu ấn phong cách tác giả là cái thuộc về đặc điểm bản chất, thuộc về điều kiện bắt buộc của ngôn ngữ nghệ thuật” [13, tr.150] vì “Ngôn ngữ riêng của một nhà văn, bút
Trang 17pháp riêng của một nhà văn không phải là một sự kiện rời rạc bao gồm một số lượng đổi mới ở các cấp độ Nó là sự đi chệch của một cái toàn thể có hệ thống, so với cái toàn thể của ngôn ngữ chung” [13, tr.153]
Đáng quan tâm hơn cả là ý kiến của nhà nghiên cứu Phan Ngọc trong
công trình Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong “Truyện Kiều” Ông khẳng
định “Một tác giả chỉ có được một phong cách riêng khi đọc một vài câu người ta đoán biết tác giả là ai, khi cái phong cách mà tác giả gây dựng lên góp phần vào truyền thống văn học, trở thành mẫu mực cho nhiều người noi theo và học tập Muốn làm được điều đó, tác giả phải thực hiện được một việc đổi mới trong việc kế thừa, để đẩy sự kế thừa sang một bước mới Nếu như tác giả chỉ kế thừa đơn thuần thì tác giả chỉ có được phong cách thời đại, phong cách thể loại, mà không có được phong cách riêng của mình” [16, tr.34] Như vậy, theo Phan Ngọc nhà văn phải là người biết tiếp thu một cách
có chọn lọc phong cách thời đại, phong cách thể loại để hình thành nên phong cách riêng của mình, đóng góp những đổi mới quan trọng cho ngôn ngữ văn học dân tộc
Trên đây là một số vấn đề cốt yếu về khái niệm phong cách chức năng ngôn ngữ của nhà văn theo quan niệm của các nhà ngôn ngữ học Học tập quan niệm của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi cho rằng: phong cách ngôn ngữ nhà văn là thứ ngôn ngữ đã được xây dựng nên từ hệ thống ngôn ngữ
tự nhiên qua thao tác lựa chọn của người nghệ sĩ để tạo nên một lối đi riêng Và một trong những biểu hiện quan trọng của phong cách ngôn ngữ nhà văn là việc
sử dụng và phát huy khả năng diễn tả của các phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt
1.2 Phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt
Để có được những câu chữ trong văn chương sống động, biến hóa linh điệu, các nhà văn đã khai thác kho tàng tiếng nói dân tộc cùng các phương
thức tạo màu sắc mới cho ngôn ngữ đầy ý thức Về vấn đề này trong 99
Trang 18phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt Đinh Trọng Lạc cho rằng: “người sử
dụng ngôn ngữ như một phương tiện quan trọng nhất cần luôn ý thức rằng mình có trong tay hai loại phương tiện ngôn ngữ trung hòa và phương tiện ngôn ngữ tu từ; đồng thời cũng biết rằng ngoài những biện pháp sử dụng ngôn ngữ theo cách thông thường còn có những biện pháp sử dụng ngôn ngữ một cách đặc biệt, gọi là những biện pháp tu từ” [12, tr.5]
Ở cả phương tiện tu từ và biện pháp tu từ, ngôn ngữ đều có ý nghĩa bổ sung, đều có một sắc thái ý nghĩa khác bên cạnh sắc thái ý nghĩa thông thường Phương tiện và biện pháp tu từ được thể hiện ở mọi cấp độ ngôn ngữ, mỗi cấp độ ngôn ngữ là một nấc bậc khẳng định sự phong phú của các phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt Do đó, để hỗ trợ một cách thiết thực cho việc triển khai đề tài, chúng tôi đi vào tìm hiểu các phương tiện và
biện pháp tu từ tiếng Việt ở ba cấp độ: từ vựng, ngữ nghĩa và cú pháp
1.2.1 Phương tiện và biện pháp tu từ từ vựng
1.2.1.1 Phương tiện tu từ từ vựng
“Phương tiện tu từ từ vựng là phương tiện ngôn ngữ mà ngoài ý nghĩa
cơ bản (ý nghĩa sự vật – logic) ra, chúng còn có ý nghĩa bổ sung, có màu sắc
tu từ” [12, tr.6]
Trong ngôn ngữ tiếng Việt (cũng như hầu hết các ngôn ngữ) đều có các lớp từ như: tiếng lóng, tiếng địa phương, khẩu ngữ, thành ngữ, từ cổ, từ vay mượn,… Các lớp từ này chứa đựng những thành tố nhất định của màu sắc tu
từ như: hình tượng, cảm xúc, bình giá,… do đó đây là các phương tiện tu từ từ vựng
1.2.1.2 Biện pháp tu từ từ vựng
“Biện pháp tu từ là những cách phối hợp sử dụng các đơn vị từ vựng trong phạm vi của một đơn vị khác thuộc bậc cao hơn (trong câu, trong chỉnh thể trên câu) có khả năng đem lại hiệu quả tu từ do mối quan hệ trong ngữ cảnh” [12, tr.6]
Trang 19Tác giả Đinh Trọng Lạc đã phân loại các biện pháp tu từ từ vựng thành: biện pháp hòa hợp, biện pháp tương phản, biện pháp quy định Để khẳng định văn bản vận dụng kiểu biện pháp tu từ từ vựng nào nhất thiết phải đặt ngôn ngữ trong cả một hệ thống mới có thể nhận diện được
1.2.2 Phương tiện và biện pháp tu từ ngữ nghĩa
1.2.2.1 Phương tiện tu từ ngữ nghĩa
“Phương tiện tu từ ngữ nghĩa là những định danh thứ hai mang màu sắc
tu từ, của sự vật, hiện tượng” [12, tr.7]
Căn cứ vào hình ảnh được sử dụng Đinh Trọng Lạc đã phân loại các biện pháp tu từ ngữ nghĩa thành: Phương tiện tu từ dùng hình ảnh về lượng (phóng đại, thu nhỏ, nói giảm,…) và phương tiện dùng hình ảnh tu từ về chất (ẩn dụ, cải danh, tượng trưng, phúng dụ, hoán dụ, uyển ngữ,…)
1.2.2.2 Biện pháp tu từ ngữ nghĩa
“Biện pháp tu từ ngữ nghĩa là toàn bộ các cách kết hợp có hiệu quả tu
từ, theo trình độ nối tiếp của các đơn vị từ vựng trong phạm vi của một đơn vị khác thuộc bậc cao hơn như: so sánh, đồng nghĩa kép, thế đồng nghĩa, phản ngữ, nghịch ngữ, …” [12, tr.7]
Theo cách phân loại của tác giả Đinh Trọng, biện pháp tu từ ngữ nghĩa được chia ra: Biện pháp tu từ dùng các hình ảnh tương đồng (so sánh, đồng nghĩa kép, thế đồng nghĩa), biện pháp tu từ dùng các hình ảnh đối lập (phản ngữ, nghịch ngữ, đột giáng), biện pháp tu từ dùng các hình ảnh không ngang bằng (tăng dần, giảm dần, chơi chữ, nói lái)
1.2.3 Phương tiện và biện pháp tu từ cú pháp
1.2.3.1 Phương tiện tu từ cú pháp
“Các phương tiện tu từ cú pháp chính là những kiểu câu mang màu sắc
tu từ do được cải biến từ kiểu câu cơ bản (C – V), như các kiểu câu rút gọn,
mở rộng thành phần hay đảo trật tự từ” [12, tr.8]
Trang 20Đinh Trọng Lạc đã tập hợp các phương tiện tu từ cú pháp vào ba nhóm là: thu gọn cấu trúc cơ bản, mở rộng cấu trúc cơ bản và đảo trật tự các thành phần câu
Nhóm tác giả trong Phong cách học tiếng Việt đã đi từ một số kiểu câu
thường dùng trong các phong cách đến các kiểu câu chuyển đổi tình thái như: câu ghép, câu ngắn, câu dài
1.2.3.2 Biện pháp tu từ cú pháp
Biện pháp tu từ cú pháp là những cách phối hợp sử dụng các kiểu câu
để đạt được hiệu quả tu từ
Các tác giả của Nhập môn ngôn ngữ học đã dẫn ra các kiểu biện pháp
tu từ cú pháp phổ biến như: mở rộng các thành phần cú pháp, thay đổi trật tự các thành phần, tỉnh lược cú pháp, trùng điệp cú pháp (lặp cấu trúc cú pháp), dùng cấu trúc sóng đôi (song hành), dùng câu hỏi tu từ, tách biệt cú pháp,…
Như vậy, các phương tiện và biện pháp tu từ rất phong phú và đa dạng Các tác giả có thể vận dụng toàn bộ khả năng biểu đạt của các phương tiện và các biện pháp đó hoặc vận dụng có chọn lọc để đạt được mục đích nghệ thuật
Và mỗi thời đại cũng có một sự vận dụng khác nhau làm nên nét đặc thù về trong văn học của mỗi thời kỳ
1.3 Giọng điệu trong tác phẩm văn học
1.3.1 Khái niệm giọng điệu trong văn học
Trong quá trình sáng tác, mỗi nhà văn đều phải trăn trở để tìm ra giọng điệu nghệ thuật cho tác phẩm của mình Bởi giọng điệu là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành nên nét đặc trưng riêng cho mỗi loại hình lời văn nghệ thuật và tạo nên phong cách nhà văn
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì giọng điệu chính là “Thái độ, tình
cảm, lập trường, tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu
tả thể hiện trong lời văn, quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu
Trang 21tình cảm, cách cảm thụ xa, gần, thân, sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm…” [9, tr.134]
Trong quá trình sáng tác, mỗi nhà văn đều phải trăn trở tìm ra giọng điệu nghệ thuật cho tác phẩm của mình Bởi theo M.B.Khrapchenco “Đề tài,
tư tưởng, hình tượng chỉ được thể hiện trong môi trường giọng điệu nhất định” [11, tr.167]
Nếu như không có giọng điệu thì tác phẩm ấy cùng nhà văn ấy sẽ bị lãng quên Không phải đợi đến lúc tác phẩm hoàn thành thì giọng điệu mới được hình thành Thật ra, khi các nhân vật biểu lộ cảm xúc thì giọng điệu đã tham gia rồi Vì vậy giọng điệu như một vẻ riêng xác định tiêu chí nghệ sĩ đích thực
Trong sáng tác văn học, giọng điệu không chỉ thể hiện ở chỗ nói cái gì (nội dung nói) mà còn thể hiện ở chỗ nói như thế nào (hình thức nói) Tuy nhiên giữa nội dung nói và hình thức nói có mối quan hệ mật thiết với nhau Chính nhờ mối quan hệ qua lại này mà từ giọng nói có thể nhận ra tác giả Giọng điệu trong những trường hợp như vậy đã trở thành nền tảng cốt lõi để
có thể “thẩm thấu” tác phẩm
1.3.2 Phân loại các loại giọng điệu trong các thể loại
Có thể nói, giọng điệu trong văn học Việt Nam rất phong phú và đa dạng Các sắc thái giọng điệu đã trở thành phương tiện tham gia chuyển tải bức tranh hiện thực vào trong tác phẩm và thể hiện thái độ của nhà văn trước cuộc sống
Bàn về vấn đề này, Nguyễn Đăng Điệp trong công trình Giọng điệu
trong thơ trữ tình đã rất có lí khi cho rằng “Mỗi một thể loại, do bản chất của
nó, mang sẵn trong mình những tiền đề để tạo ra giọng điệu phù hợp với nó” [7, tr.59] Chẳng hạn, “Nếu thơ ca là thể loại “khép kín”, đơn giọng thì tiểu thuyết là thể loại “chưa bị đông cứng” lại, đa giọng” [7, tr.59] “Nếu như ở thể loại sử thi, giọng điệu chính là giọng ngợi ca thì ở thể loại đạo đức thế sự,
Trang 22đời tư lại hoàn toàn khác Ở thể loại đời tư, giọng điệu chủ yếu là giải bày, đồng cảm, tự trào, cảm thán… Còn ở thể loại đạo đức thế sự lại chủ yếu là giọng tố cáo, cảm thán, châm biếm, chế giễu…” [7, tr.61]
Trong thực tế sáng tác văn chương đã xuất hiện nhiều kiểu giọng điệu như giọng châm biếm, giọng hài hước, giọng triết lý, giọng lạnh lùng, tỉnh táo, giọng hoài nghi, giọng tâm tình cảm thương,…Tìm được một giọng điệu phù hợp sẽ giúp cho nhà văn kể chuyện hay hơn, thể hiện được sâu sắc hơn ý tưởng thẩm mỹ của mình Do đó, khi nghiên cứu sáng tác của nhà văn, đặc biệt nghiên cứu phương diện ngôn từ không thể không nghiên cứu giọng điệu văn chương của họ
1.4 Nhà văn Hồ Anh Thái và tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế
1.4.1 Nhà văn Hồ Anh Thái
1.4.1.1 Hồ Anh Thái và những bước đi trải nghiệm
Hồ Anh Thái sinh ngày 18 tháng 10 năm 1960 tại Hà Nội Nguyên quán ông ở Nghệ An Ông đã từng theo học bậc Đại học ngành Quan hệ Quốc
tế Sau khi tốt nghiệp, ông tham gia viết báo và làm công tác ngoại giao ở nhiều quốc gia Âu – Mỹ, đặc biệt là Ấn Độ Hiện nay ông là Tiến sĩ ngành Văn hóa phương Đông, công tác tại Bộ Ngoại giao Việt Nam
Là nhà văn thời hậu chiến nhưng sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, Hồ Anh Thái thấu hiểu được sự tàn khốc của nó Những
kí ức đầu đời về chiến tranh đã ảnh hưởng đến cách viết của Hồ Anh Thái, nhưng không phải viết theo lối hiện thực giản đơn mà khám phá những vỉa tầng của nó
Năm 1998, Hồ Anh Thái chuyển sang công tác nghiên cứu và làm việc
ở Đại sứ quán Việt Nam tại Ấn Độ Chính những trải nghiệm trong giai đoạn này đã ảnh hưởng không nhỏ đến sáng tác văn chương về sau của ông Ở Nhà văn này luôn có sự gặp gỡ giữa văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại Bởi
Trang 23vậy, đề tài Ấn Độ trong cách viết của ông vẫn gần gũi với bạn đọc Việt Nam
và thế giới
Hồ Anh Thái rất thích sưu tầm băng hát chèo, hát ca trù Ông lại mê hát sẩm, thích đi xem những vở kịch mới dựng trong nước Như một phần máu thịt ăn sâu vào con người nhà văn, sở thích này chính là một niềm đam mê, thể hiện ý thức dân tộc Nó chắp cánh thổi hồn cho lời văn nghệ thuật trong sáng tác của ông
Năm 1988, Hồ Anh Thái trở thành Hội viên Hội nhà văn Việt Nam, được bầu làm Ủy viên Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam Năm 1998 là một năm Hồ Anh Thái gặt hái được khá nhiều thành công Nhận lời mời của trường Đại học Washinton, ông đến thuyết trình về văn hóa phương Đông và văn học Việt Nam thời kì đổi mới Trong chuyến đi thính giảng đó ông được
Ủy ban tổ chức mời sang dự liên hoan các tác gia quốc tế ở Canada Cùng lúc,
NXB Curbstone Ness xuất bản cuốn tiểu thuyết Trong sương hồng hiện ra
của Hồ Anh Thái và mời ông đi Washinton, San Franscisco, San Joe, Seattle Maryland giao lưu với bạn đọc Mĩ Năm 2000, ông được bầu làm chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam Ông sáng tác văn chương với tất cả nhiệt huyết và niềm đam mê, khẳng định được vị thế trên văn đàn văn học dân tộc
1.4.1.2 Hồ Anh Thái – một sự nghiệp văn chương đa dạng, giàu thành tựu
Trong khi nhiều cây bút, gây được sự chú ý của dư luận bằng một vài tác phẩm rồi im hơi lặng tiếng, thì Hồ Anh Thái đã chứng tỏ được một sức viết dồi dào Ở tuổi ngoài năm mươi với hơn ba mươi năm cầm bút, Hồ Anh Thái đã cho ra đời hơn 30 cuốn sách gồm cả tiểu thuyết và truyện ngắn, trong
đó có nhiều tác phẩm được dịch ra tiếng nước ngoài Đó là những con số đáng khâm phục và là niềm mơ ước của bất cứ nhà văn nào
Sự nghiệp viết văn của Hồ Anh Thái được khởi đầu bằng những truyện
ngắn đăng trên các báo Văn nghệ, Văn nghệ Quân đội Năm 1985, ông xuất
Trang 24bản tập truyện ngắn Chàng trai ở bến đợi xe Năm 1986, tiểu thuyết Vẫn chưa
tới mùa đông ra đời Nhưng phải đến khi tác phẩm Người và xe chạy dưới trăng (1986) được tặng giải thưởng tiểu thuyết 1986 – 1990 của Hội nhà văn
Việt Nam và Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam thì Hồ Anh Thái mới gây được tiếng vang lớn trên văn đàn văn học nước nhà Ông nổi lên như một hiện tượng bởi cái nhìn táo bạo về đời sống sau chiến tranh Có thể coi, đây như một mốc son trên con đường văn chương của ông, cổ vũ ông tiếp tục đi trên con đường ấy
Đầu những năm 1990, sau nhiều năm nghiên cứu và làm việc ở nhiều nước Âu – Mỹ, ông đã cho ra mắt độc giả những tác phẩm độc đáo, hài hước
mà thâm trầm về Ấn Độ như: Người đứng một chân (1995), Tiếng thở dài qua
rừng kim tước (1998), Đức phật, nàng Savitri và tôi (2007),…
Chiến tranh đã qua lâu, song những tổn thương mà nó gây ra vẫn chưa lên da non Nỗi đau vẫn còn đeo bám, hành hạ những người trở về sau cuộc chiến; dù với họ, quá khứ ấy vẫn luôn cao đẹp, hào hùng Bằng giọng thương cảm, Hồ Anh Thái đã thể hiện chân thực một phương diện khác của chiến
tranh gắn liền với kiểu con người cô đơn trong Người đàn bà trên đảo (1986)
Những người bạn trẻ chơi bời sa đọa, sống tầm gửi, những số phận mang nỗi
đau chiến tranh trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế (2002)
Bằng nỗ lực và sáng tạo không ngừng nghỉ, tìm kiếm những hình thức mới, những thể nghiệm mới, người nghệ sĩ tài hoa này đã đem đến cho đời
nhiều tác phẩm hấp dẫn khác như: tiểu thuyết Trong sương hồng hiện ra (1989), tiểu thuyết Mai phục trong đêm hè (1990), truyện ngắn Mảnh vỡ của
đàn ông (1993), truyện ngắn Lũ con hoang (1995), truyện ngắn Tiếng thở dài qua rừng kim tước (1998), chân dung văn học Họ trở thành nhân vật của tôi
(2000), truyện ngắn Tự sự 265 ngày (2001), truyện ngắn Bốn lối vào nhà cười (2005), tiểu thuyết Mười lẻ một đêm (2006), … đã tạo được dư luận trong đời
Trang 25sống văn chương nước nhà Đồng thời ông còn là tác giả của nhiều bài bút ký, hồi ký đăng trên báo, tạp chí
Với quá trình lao động cật lực, không mệt mỏi cùng vốn từ tiếng Việt phong phú, đa dạng, kiến thức, tài năng tâm huyết sẵn có, Hồ Anh Thái xứng đáng là một nghệ sĩ chân chính, có nhiều cống hiến đối với nền văn học nói chung và văn xuôi đương đại nói riêng
1.4.2 Tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế
Tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế của nhà văn Hồ Anh Thái –
cuốn sách gây xôn xao dư luận ngay khi xuất bản lần đầu (NXB Đà Nẵng, 2002) Với dung lượng ít (241) trang, lối viết hàm súc, nén chặt, Hồ Anh Thái
đã vạch ra mặt trái của cõi người hiện đại: sự xuống cấp về nhân cách, đạo đức của nhiều lớp người; lối sống buông thả của những kẻ có tiền, có quyền;
sự thiếu trách nhiệm của con người, sự dung túng của xã hội; những bất công trong cuộc sống và đặc biệt dục tính, thói dâm ô của con người được tác giả khai thác như là nguyên nhân, là bàn đạp của cái ác, cái xấu mà con người gây ra cho nhau Nhà văn rung chuông báo động về một ngày tận thế, đó là ngày cái ác sẽ chế ngự con người
Tiểu thuyết gồm tám chương và một chương cuối Ba chương đầu mỗi chương là một cái chết của một gã trai Ba cái chết ấy diễn ra liên tiếp, cái chết trước là nguyên nhân dẫn tới cái chết sau Trong ba cái chết, Cốc chết vì ham dục, Bóp và Phũ chết vì nóng giận đến mê muội muốn trả thù Như vậy,
kẻ làm ác sẽ bị trừng phạt bằng chính điều ác mà chúng gây ra, lấy oán trả oán thì càng sinh ra hờn oán, con người rơi vào cái vòng luẩn quẩn khó mà thoát ra được Nhưng nội dung chính của tác phẩm không chỉ dừng lại ở đó,
trong Cõi người rung chuông tận thế để thể hiện được tột cùng các vấn đề mà
nhân loại đang đề cập (thiện – ác) tác giả đã chọn cách đứng trên cỗ xe của cái ác để có thể gần gũi được với cái ác, tòng phạm với nó, với mong muốn có thể chỉ ra được căn nguyên sâu xa của sự hình thành cái ác
Trang 26Hành trình phục thiện của Đông được tác giả bổ khuyết bằng nhân vât Mai Trừng Ở cô ta bắt gặp hình ảnh một thiên sứ giáng trần để diệt trừ cái ác
Để cho Mai Trừng giải được lời nguyền, trở về với cuộc sống đời thường của một cô gái, cùng với sự sám hối thành công của Đông, Hồ Anh Thái muốn nhắn gửi rằng trừng phạt chỉ là giải pháp, ngộ ra lẽ phải, thực tâm niệm thiện thì cái ác sẽ không còn, cõi người sẽ bình an, đó mới là điều quan trọng Từ đây, tác phẩm đã mở ra nhiều vấn đề thời sự, xã hội nóng bỏng để đối thoại với người đọc phơi bầy ra những góc tối của đời sống hiện thực hôm nay
Đến với tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế ta có thể nhận ra sự
phá cách sáng tạo của nhà văn trên từng con chữ Nó tạo ra nét riêng, độc đáo trong phong cách văn chương Hồ Anh Thái Với chất giọng linh hoạt, uyển chuyển, câu văn lạ, sắc lạnh, chứa đựng nhiều thông tin, Hồ Anh Thái đã tái hiện vào trong tác phẩm của mình một hiện thực góc cạnh, nhiều chiều về con người và cuộc sống Bên cạnh đó, bạn đọc còn bị cuốn hút bởi thứ ngôn ngữ hiện đại, đa nghĩa và giàu hình ảnh
Có thể nói, tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế là những trang
viết của một ngòi bút thấu hiểu bản chất sự sống trong cõi người, là tiếng nói tâm huyết và trăn trở của tình người bao dung Với một độ lùi thời gian cần
thiết, tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế đã có được một chỗ đứng
xứng đáng trong lòng bạn đọc và đặc biệt ngày càng khẳng định được giá trị đích thực của tác phẩm không chỉ đối với nền văn học trong nước mà còn đối với thế giới
Như vậy, những vấn đề lý thuyết liên quan đến việc tìm hiểu ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương được chúng tôi trình bày trên những nét cơ bản Đây là cơ sở quan trọng giúp chúng tôi định hình và triển khai thực hiện đề
tài: “Đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế của
Hồ Anh Thái”
Trang 27CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG TIỆN NGÔN NGỮ VÀ BIỆN PHÁP TU TỪ TRONG TIỂU THUYẾT
CÕI NGƯỜI RUNG CHUÔNG TẬN THẾ CỦA HỒ ANH THÁI
Như chương những vấn đề lí luận chúng tôi đã trình bày, phương tiện ngôn ngữ và biện pháp tu từ được thể hiện ở nhiều cấp độ với nhiều kiểu loại
phong phú Qua tìm hiểu chúng tôi nhận thấy Cõi người rung chuông tận thế
có sự mới mẻ và độc đáo trong cách sử dụng ngôn ngữ, vừa mang xu hướng chung của văn học hậu hiện đại, vừa mang phong cách riêng của tác giả với việc vận dụng thành công phương tiện và biện pháp tu từ từ vựng, ngữ nghĩa,
cú pháp
2.1 Các lớp từ ngữ nổi bật trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tậ n
thế
2.1.1 Từ hội thoại
2.1.1.1 Khảo sát, thống kê, phân loại
Qua khảo sát 241 trang tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế,
chúng tôi thống kê được 116 từ hội thoại Dựa vào đặc điểm cấu tạo, chúng tôi phân loại hệ thống từ hội thoại trong tác phẩm thành các kiểu loại như sau:
a, Thêm yếu tố (63 từ)
a1 Từ đa phong cách + yếu tố không mang nghĩa
Từ đa phong cách kết hợp với yếu tố không mang nghĩa tạo thành từ
hội thoại mang tính miêu tả cụ thể Trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông
tận thế, có 42 từ cấu tạo theo kiểu này Tiêu biểu như: trắng dã (5 lần), đen sì
(5 lần), trắng bệch (4 lần), xanh lét (2 lần), trắng tinh, trắng trợn, trắng lôn
lốp, sáng loáng, tím phớt, xám xịt, xám ngoét, đen nhánh, đen nhẻm , đen sạm, mừng hụt, mừng rơn, rùng rợn, phá phách, héo hắt …
Ví dụ 1: Mắt thằng Cốc tròn căng, lồi ra trắng dã [1, tr.23]
Ví dụ 2: Ông thấy thằng bé đen sì bị ruồi bâu bên trong cái rổ [1, tr.71]
Trang 28Ví dụ 3: Chỉ có cái chết mới làm cho cặp mắt to ấy ngập tràn bóng tối thê
lương, gương mặt ấy xám ngoét như tử thi, tiếng nấc ấy quằn quại đứt ruột
[1, tr.94]
Ví dụ 4: Mụ vợ hắn thì mừng rơn [1, tr.148]
a2 Láy từ
Qua Cõi người rung chuông tận thế, chúng tôi thống kê được 21 từ hội
thoại được tạo nên từ phương thức láy Trong đó có các từ láy đôi: thấp thỏm,
lẻ tẻ, méo mó, lép nhép, hắt hiu, mập mạp, rỗi rã,…; láy ba: lăn lông lốc
Ví dụ 1: Đám bạn bè xa lạ, rỗi rãi là chỉ bàn chuyện đi tàu viễn dương thơm
hơn hay đi tàu trong nước thơm hơn hay là ngồi văn phòng ở cảng thơm hơn
[1, tr.107]
Ví dụ 2: Thằng Phũ bật ra khỏi xe cũng quay tít, đầu quật vào một gốc cây vỡ
toang sọ, lăn lông lốc mấy vòng, rồi nằm vắt mình trên một miếng cống để
ngỏ [1, tr.91]
b, Bớt yếu tố
Chúng tôi thống kê được 7 từ hội thoại được cấu tạo theo phương thức
bớt yếu tố: vắng (vắng ngắt), gọn (gọn gàng), háo (háo sắc), ngộ (giác ngộ),…
Ví dụ 1: Đám ma vắng và gọn [1, tr 36]
Ví dụ 2: Em bị một tuần nay rồi, sau đó ngày nào cô Tì cũng bắt em phải
nhận là còn trinh để bán tiếp cho khách đang háo.[1, tr 77 – 78]
Ví dụ 3: Ngộ muộn hay ngộ sớm, họ tất thảy đều đáng thương [1, tr.241]
c, Biến âm
Chúng tôi thống kê được 11 từ hội thoại được cấu tạo theo phương thức
biên âm: hăm (hai), dăm (năm), băm (ba),…
Ví dụ 1: Mai Trừng khoảng hăm sáu tuổi [1, tr.21]
Ví dụ 2: Bằng không chúng sẽ lùng sục và trừ khử được Yên Thanh trong
vòng dăm ba ngày [1, tr.134]
Trang 29d, Biến nghĩa
Trong Cõi người rung chuông tận thế, chúng tôi thống kê được 18 từ
hội thoại được tạo nên từ phương thức biến nghĩa Tiêu biểu có các từ: sổ, ào,
ô, rước, rượt…
Ví dụ: Vợ gã ở nhà đã rước giai về nhà Con gái gã ở nhà cũng rước giai về
nhà [1, tr.117]
e, Không lí do, ngẫu nhiên
Chúng tôi thống kê được 25 từ hội thoại được cấu tạo ngẫu nhiên
Chẳng hạn như: béng, sục, phóng, nấc ằng ặc, giãy đành đạch,…
Ví dụ 1: Cũng giống như họ đã bỏ béng tiếng Tàu hơn mười năm trước để
chuyển sang những ngoại ngữ khác, rồi bây giờ lại phải quay lại học chính tiếng Tàu để đi làm việc cho các ông chủ Đài Loan Hồng Công [1, tr.87]
Ví dụ 2: Tất cả chúng tôi thường đi những chuyến ngẫu hứng trong bán kính
vài ba trăm cây số quanh Hà Nội như bất kì một công dân thủ đô nào ngẫu
hứng phóng xe máy ra bờ hồ ăn kem Bốn Mùa [1, tr.6]
2.1.1.2 Vai trò, ý nghĩa của từ hội thoại trong tiểu thuyết Cõi người rung
chuông tận thế
Trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế, nhà văn Hồ Anh Thái
đã chú trọng sử dụng lớp từ hội thoại (hay còn gọi là khẩu ngữ) trong diễn đạt, kể chuyện và để thể hiện lời ăn tiếng nói thường ngày của người Bắc Bộ Những trang văn Hồ Anh Thái đã thực sự tạo được những hình ảnh gây ấn tượng mạnh trong tâm thức bạn đọc
Qua thống kê chúng tôi thấy rằng Hồ Anh Thái đã chú trọng sử dụng từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu từ đa phong cách + yếu tố không mang nghĩa trong diễn đạt, nên đã sắc thái hóa được tính chất của các sự vật, hiện tượng, gợi sức ám ảnh lớn Các từ hội thoại cấu tạo theo phương thức này rất đa dạng
và có lần lặp lại rất cao trong những trang viết của nhà văn Chẳng hạn màu
đen có rất nhiều sắc thái như: đen sì, đen nhánh, đen nhẻm, đen sạm … Màu
Trang 30trắng thì có: trắng tinh, trắng trợn, trắng lôn lốp… Chính vốn từ phong phú
này đã đem lại khả năng lựa chọn cho Hồ Anh Thái Tùy từng trường hợp, tùy từng đối tượng mà ông có cách dùng từ khác nhau để mang đến cho người
tiếp nhận cái nhìn cụ thể về đối tượng được nói tới Nhà văn miêu tả Đi bán
hàng, gương mặt đen nhẻm của thằng bé lại có vẻ chất phác lạ lùng
[1,tr.188], hay những tốp người dân tộc thì Da dẻ đen sạm, héo hắt
[1,tr.217] Ngoài ra trong miêu tả, nhà văn còn sử dụng từ hội thoại được cấu tạo theo phương thức láy, và từ hội thoại không lí do, ngẫu nhiên để diễn đạt
Nhà văn kể về thú vui đua xe trong giới trẻ hiện nay: Tất cả chúng tôi thường
đi những chuyến ngẫu hứng trong bán kính vài ba trăm cây số quanh Hà Nội
như bất kì một công dân thủ đô nào ngẫu hứng phóng xe máy ra bờ hồ ăn
kem Bốn Mùa [1, tr.6]
Để thể hiện ngôn ngữ của nhân vật, nhà văn đã chú trọng sử dụng từ hội thoại cấu tạo theo phương thức biến âm, biến nghĩa, không lí do ngẫu nhiên Từ hội thoại trong ngôn ngữ nhân vật thể hiện được sự suồng sã, bình dân Nhờ vậy mà tính cách, xúc cảm, động cơ các nhân vật trong tiểu thuyết được bộc lộ một cách tự nhiên
Hồ Anh Thái rất ý thức và linh hoạt trong việc sử dụng lớp từ hội thoại
Từ đây, mọi vấn đề thiện – ác, trắng – đen của đời sống xã hội đương đại được chuyển tải một cách trọn vẹn, hoàn chỉnh và độc đáo Chính lớp từ ngữ giàu hình ảnh và tính biểu cảm này đã mang hơi thở cuộc sống ùa vào trang văn của ông
2.1.2 Từ lóng
2.1.2.1 Khảo sát, thống kê từ lóng
Khảo sát tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế chúng tôi thông kê
được 41 từ lóng Tiêu biểu như: tàu nhanh (5 lần) (quan hệ tình dục với gái mại dâm), bắn pháo hoa (3 lần) (nôn, mửa), áo mưa (bao cao su) , bò lạc
(con gái bỏ nhà đi hoang), thét (nói thách), xơi (quan hệ tình dục ), luật rừng
Trang 31(luật của những kẻ giang hồ), đầu gấu (kẻ cầm đầu một bọn thanh niên hung
hãn)…
Ví dụ 1: Anh ơi một phát tàu nhanh, năm đồng thôi mà [1, tr.186]
Ví dụ 2: Chị mới vồ được một con bò lạc trinh nguyên, đơn chị xin chỉ rưỡi,
kép như thế này thì cho chị hai chỉ [ 1, tr.77]
Ví dụ 3: Khoảng bốn mươi phút sau, anh ta lại bỏ xuống cho tôi một chiếc tất
ngoại, như trực thăng thả đồ tiếp viện cho đồng minh đang bị vây hãm [1,
tr.114]
Ví dụ 4: Kế hoạch đã được phác ra từ Hà Nội là nếu Yên Thanh không rơi
vào cái bẫy này, ba thằng cháu tôi sẽ dùng đến luật rừng [1, tr.126]
2.1.2.2 Vai trò, ý nghĩa của từ lóng trong tiểu thuyết Cõi người rung
chuông tận thế
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy phần lớn các từ lóng ở đây thường được sử dụng để nói về tệ nạn mại dâm, văn hóa nhà nghỉ Đó là ngôn ngữ hằng ngày của một bộ phận người trong xã hội hiện đại, gắn với giới trẻ đã thành quen thuộc
Là nhà văn có nhiều cống hiến đối với nền văn xuôi đương đại, tác giả đưa vào trang văn những từ lóng để tái hiện phong cách nói năng của giới trẻ Tiếng lóng dưới bàn tay điêu luyện của Hồ Anh Thái đã trở thành một thứ ngôn ngữ “tung tẩy” tối đa hóa sự hài hước Trong tiểu thuyết, cảnh Phũ vào
nhà nghỉ “làm một quả” để thi cuối năm, thế nhưng Đây là bong bóng cá mè,
định lừa bố mày à, bố mày đi làm một quả để thi cuối năm cho son mà mày
dám đưa sọt thủng, lôi ngay con khác ra đền đi, không có à, vậy gọi ngay sang vòm khác mà săn bò cộng tác, các bố mày chờ Từ lóng mà nhân vật
Phũ sử dụng trong câu nói đã nổi rõ cá tính, tính cách khôi hài tiêu biểu của một bộ phận thanh thiếu niên xa vào tệ nạn mại dâm, ưa cuộc sống hưởng thụ hiện nay
Trang 32Bên cạnh sử dụng từ hội thoại, với việc vận dụng tiếng lóng một cách khéo léo trong những trường hợp cụ thể, Hồ Anh Thái đã tái hiện được một cách chân thực và sinh động lối ăn nói của thế hệ trẻ trong đời sống hiện đại
2.1.3 Từ vay mượn
2.1.3.1 Khảo sát, thống kê từ vay mượn
Từ vay mượn là một lớp từ không thể thiếu đối với ngôn ngữ dân tộc Trong thơ văn, từ vay mượn không chỉ giúp câu thơ, câu văn giàu hình ảnh,
mà còn góp phần nâng cao hơn một bước, ấy là thể hiện chân thực nhất những động thái của sự phát triển Hồ Anh Thái là một nhà văn đương đại, việc tiếp nhận ngôn ngữ vay mượn nước ngoài là một điều dễ hiểu Qua khảo sát chúng tôi thống kê được 53 từ vay mượn
Do những biến động lịch sử xã hội mà lớp từ có nguồn gốc Ấn Âu được Hồ Anh Thái vận dụng trong quá trình sáng tạo nghệ thuật khá phong phú hầu như phạm vi biểu vật nào cũng có
- Từ vay mượn chỉ tên gọi quần áo:
Ví dụ 1: Rồi nó cầm cái coóc xê, nắn nắn bóp bóp cái phần đệm mút [1, tr.46]
Ví dụ 2: Chiếc quần soóc quả là ướt đẫm và tỏa mùi hạt dẻ [1, tr.55]
- Từ vay mượn chỉ tên thuốc:
Ví dụ 3: Thị không nghĩ đến chuyện rạch mặt hay vẩy axit nữa [1, tr.146]
- Từ kĩ thuật:
Ví dụ 4: Sau mấy năm, dân trí đã được nâng lên, tức là người xem bống giật
mình nhận thấy lâu nay vẫn bị những bộ phim video coi như trẻ con [1, tr 9]
Ví dụ 5: Hát chán rồi, bỏ micrô, ra khỏi phòng mà không nhìn ai [1, tr.151]
- Từ âm nhạc:
Ví dụ 6: Ngươi cứ việc chết đi, người tình duy nhất của ngươi, một nửa cuộc
đời của ngươi, sẽ ngay lập tức đi hát karaoke với một người tình duy nhất
khác [1, tr.150]
Trang 332.1.3.2 Vai trò, ý nghĩa của từ vay mượn đối với tiểu thuyết Cõi người
rung chuông tận thế
Những từ mượn Ấn Âu được nhà văn Hồ Anh Thái sử dụng trong tiểu
thuyết Cõi người rung chuông tận thế thường có từ tương ứng như: tivi
(television),…
Các từ vay mượn được Hồ Anh Thái sử dụng một cách thông thường, mặc dù người viết còn cảm thấy rất rõ cái nguồn gốc ngoại lai của nó như:
video (máy chiếu bằng truyền hình), Olympic (thế vận hội), mini (nhỏ hơn
bình thường),… Sử dụng từ mượn gốc Ấn Âu là điều không thể tránh khỏi trong xu thế hội nhập như hiện nay Đặc biệt là đối với tạng nhà văn thích phiêu lưu, luôn xê dịch nhiều nơi trên thế giới như Hồ Anh Thái, việc mượn
từ Ấn Âu là lẽ tất nhiên, nó không chỉ tạo giá trị biểu cảm cho lời văn, bên cạnh đó thấy được tài năng của nhà văn đã theo kịp, đã bắt nhịp tiến trình phát triển của lịch sử ngôn ngữ dân tộc, góp phần làm mới cho ngôn ngữ tiếng Việt
hiện đại
2.1.4 Thành ngữ
2.1.4.1 Khảo sát, thống kê thành ngữ
Theo khảo sát và thống kê, trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận
thế, tác giả có sử dụng 23 thành ngữ Tiêu biểu như: ác giả ác báo, nước sôi lửa bỏng, lạnh tanh máu cá, lửa gần rơm lâu ngày cũng bén, cơm không
ăn gạo còn đó, nhân nào quả ấy, mặt hoa da phấn,… Hầu hết các thành ngữ
đều được nhà văn sử dụng với ý nghĩa giống như trong Từ điển giải thích
thành ngữ tiếng Việt của Nguyễn Như Ý (chủ biên), (1998), NXB Giáo dục
Ví dụ 1: Trong mọi tình huống nước sôi lửa bỏng, Thế luôn là người lạnh,
bình tĩnh, sáng suốt [1, tr.30]
Ví dụ 2: Mấy anh chàng mặt hoa da phấn đang nắn bóp chí chóe mấy cô
nàng hơ hớ mời mọc [1, tr.58]
Trang 34Ví dụ 3: Chị xin lạy sống em, chị biết tội của chị rồi, ác giả ác báo, từ nay chị
không dám làm gì xấu cho em nữa, em hãy rộng lòng tha thứ [1, tr.148]
Chú giải:
- Nước sôi lửa bỏng: Hoàn cảnh tình thế hết sức nguy ngập, khẩn cấp, có
những tai họa đang trực tiếp đe dọa
- Mặt hoa da phấn: Khuôn mặt, hình thể xinh đẹp, tươi tắn
- Ác giả ác báo: Làm điều ác thì sẽ gặp điều ác
2.1.4.2 Vai trò, ý nghĩa của thành ngữ đối với tiểu thuyết Cõi người rung
chuông tận thế
Trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế Hồ Anh Thái đã chú ý
sử dụng rất nhiều thành ngữ nhằm làm tăng hiệu quả biểu đạt Bản thân thành ngữ Việt Nam vốn có sự đối xứng về vần điệu, thanh điệu, cấu trúc Trong toàn bộ tiểu thuyết này, có thể tìm thấy tác giả sử dụng khá nhiều thành ngữ
như thế: Chết trẻ khỏe ma, chết già ma lọm khọm Người ta vẫn sợ những
hồn ma trẻ đầy ẩn ức trở về quấy phá [1, tr.36] Nhờ có tính chất đối mà kết
cấu của nó thêm vững chắc, làm cho nghĩa của nó trở nên gợi cảm hơn Do
đó, biểu đạt bằng thành ngữ sẽ có thể vừa sâu sắc vừa hấp dẫn, vừa hàm súc, vừa đẹp đẽ
Thành ngữ nói về những việc xảy ra trong đời sống góp phần làm cho
câu văn trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế trở nên giàu hình
ảnh Như thành ngữ: mặt hoa da phấn [1, tr.58], cơm không ăn gạo còn đó [1, tr.142], gậy ông lại đập lưng ông [1, tr.149], Đó là sự biểu đạt bằng
những hình ảnh biểu trưng
Tiến sĩ Nguyễn Thị Minh Thái đã có một nhận xét tinh tế: “Thoạt đầu,
có vẻ như cuốn tiểu thuyết được viết với một tinh thần duy lý, phảng phất
“dòng ý thức” của tư duy tiểu thuyết phương Tây Càng đọc càng thấy chất phương Tây duy lý đi dần, dịch chuyển tinh tế về phía của phương Đông đẫm đầy tình cảm” [3, tr.316] Xét ở góc độ, ngôn ngữ tiểu thuyết, mới thoạt đọc,
Trang 35có cảm giác đây là ngôn ngữ sự kiện, văn phong thông tấn, nhưng càng về sau càng thấy văn chương của Hồ Anh Thái thấm đẫm chất phương Đông, hồn
văn hóa dân tộc Lời ăn tiếng nói đi vào văn chương một cách tự nhiên: Đó là
lần đầu tiên tôi mơ hồ cảm thấy cái thằng lạnh tanh máu cá ấy có một cảm giác lạ lùng [1, tr.46]; Dao sắc không gọt được chuôi, sau này anh chẳng
định hướng được gì cho thằng Phũ [3, tr.104]
Dưới ngòi bút tài năng của Hồ Anh Thái, thành ngữ được sử dụng khá linh hoạt, góp phần thể hiện thành công tiếng nói cho từng nhân vật Với sự phong phú của thành ngữ cho ta thấy được sự am hiểu sâu rộng của Hồ Anh Thái về văn học dân gian, đặc biệt là lời ăn tiếng nói của nhân dân Từ đây giúp chúng ta nhận thấy tài năng sử dụng ngôn ngữ của Hồ Anh Thái
2.1.5 Từ láy
2.1.5.1 Khảo sát, thống kê, phân loại từ láy
Khảo sát tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế, chúng tôi thống kê
được 129 từ láy (kể cả 21 từ chúng tôi đã trình bày ở trang 24 Trong đó, có
128 từ láy đôi, chỉ có duy nhất một từ láy ba Trong 128 từ láy đôi có 92 từ lặp lại 1 lần, 22 từ lặp lại 2 lần, 8 từ lặp lại 3 lần, 3 từ lặp lại 4 lần, 2 từ lặp lại
5 lần, 1 từ lặp lại 7 lần Tiêu biểu như từ lờ đờ lặp lại 7 lần, từ đành đạch lặp lại 5 lần, từ lênh đênh lặp lại 4 lần,…
Dựa vào tác dụng tu từ của từ láy, chúng tôi phân chia hệ thống từ láy
đã khảo sát được từ tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế thành những
kiểu sau:
a, Khái quát hóa về nghĩa
- Các từ láy khái quát về đặc điểm, tính chất của đối tượng: méo mó, thấp
thỏm, sóng sánh, bươm bướm, châu chấu, lăn lông lốc…
b, Sắc thái hóa về nghĩa
Trang 36- Các từ láy chỉ mức độ thấp của một trạng thái, đặc điểm: nhèo nhẽo, rung
rung, nồng nồng, thoang thoảng, loáng thoáng, lềnh bềnh, lốm đốm, ngong ngóng, lèm nhèm, lảng vảng, khăm khắm, rầm rậm…
- Các từ láy chỉ mức độ cao của một trạng thái, đặc điểm: xăm xăm, lấp lánh,
rạo rực,…
c, Tính tượng thanh
- Các từ láy mô phỏng âm thanh của con người: lắp bắp, lẩm bẩm, rền rĩ, bập
bẹ, rũ rượi, xôn xao,…
- Các từ láy mô phỏng âm thanh của động vật: gầm gừ,…
- Các từ láy mô phỏng âm thanh của sự vật: ầm ầm, rì rào, đoành đoành,
loảng xoảng, kẽo kẹt, phành phành, lách tách, loạt xoạt,…
d, Tính tượng hình
- Các từ láy miêu tả hình dáng, dáng vẻ của con người: lôi thôi, lừng lững,
lom khom,…
- Các từ láy miêu tả hình dáng, dáng vẻ của động vật: vật vờ,…
- Các từ láy miêu tả hình dáng, dáng vẻ của sự vật: lòng thòng, méo mó,
đã vận dụng linh hoạt, độc đáo lớp từ láy và có khả năng biểu cảm cao để mang đến cho người đọc cái nhìn chân thực, sinh động nhất về những cảnh đời, những con người sống trong xã hội nhiều bất cập, bất ổn
Phải nhận thấy rằng, lớp từ láy trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông
tận thế xuất hiện với mật độ dày đặc với những sắc thái biểu cảm độc đáo,
linh hoạt phù hợp với cảm xúc, trăn trở của nhà văn Nhờ vốn từ láy phong
Trang 37phú, đa dạng nhà văn đặc tả được tâm lí, tính cách, hành động của con người hiện đại một cách sống động, chân thực, giàu sức biểu cảm Hồ Anh Thái cho
ta “nhìn” hành động bóp cổ con khỉ để đi tìm khoái cảm của thằng Bóp:
Không thèm vật lộn lôi thôi, Bóp siết chặt hai bàn tay quanh cổ con khỉ Nấc
ằng ặc Giãy đành đạch Lưỡi thè lè sùi bọt Thằng Bóp trừng trừng nhìn con
vật trong cơn giãy chết Tay vẫn siết mạnh Đầu con vật ngật sang một bên cũng là lúc thằng Bóp bỗng rung giật toàn thân Cặp mắt Bóp bỗng chuyển
sang lờ đờ khoái cảm [1,tr.198]; với những âm thanh quen thuộc trong nhịp
sống xô bồ, hối hả: Chúng cho những chiếc xe bô không giảm phanh đoành
đoành phóng qua như một trận đua thực sự [1, tr.84]; đó còn là: tiếng động
cơ phành phành đầy hăm dọa [1, tr.85] của một bộ phận giới trẻ “say tốc
độ”
Hồ Anh Thái không chỉ linh hoạt, uyển chuyển trong cách sử dụng từ láy mà còn có sự kết hợp hết sức độc đáo Ông hay dùng nhiều từ láy với tính chất liệt kê tạo ấn tượng liên tiếp có tác dụng hoàn thiện ý nghĩa và cảm giác
nhấn mạnh Chẳng hạn: Vòng lửa lại cháy rừng rực, lại luyến láy phừng
phừng từ nơi xuất phát ấy [1, tr.16] nhấn mạnh tính dồn dập, diễn biến nhanh
chóng của sự vật; Một bản hòa âm những tiếng chuông xôn xao, phấp phỏng,
vang động những lời cảnh báo [1, tr.187], Biển rũ rượi nằm lại, phập phồng, thoi thóp như cô gái đồng trinh sau một vụ hãm hiếp tập thể [1, tr.15] nhấn
mạnh tâm trạng tăng dần; Không gian đầy chật những mảnh vỡ lanh canh,
loang choang, loảng xoảng.[1, tr.187] nhấn mạnh tính hàng loạt của sự vật
theo kiểu liệt kê
Với vốn từ láy phong phú và khả năng kết hợp sử dụng nhuần nhuyễn khéo léo Hồ Anh Thái đã tạo nên sự sức hấp dẫn, sinh động cho những trang
văn Đọc tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế, hàng loạt những chuỗi
âm thanh và cường độ khác nhau liên tiếp xuất hiện cùng với mặt chữ của từng trang văn góp phần tạo nên sự phong phú về mặt hình thức nghệ thuật