Trong bài viết Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Khải những năm 80 đến nay, Bích Thu nhận xét về cách sử dụng ngôn ngữ của nhà văn Nguyễn Khải: Tác giả đã tỏ ra ưu thế trong
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
- -
HỒ THỊ LAN
Đặc điểm ngôn ngữ Nguyễn Khải qua
Hà Nội trong mắt tôi
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn học là nghệ thuật của ngôn từ (M Gorki, trích theo [15, tr.184])
Ngôn ngữ kết tinh cùng với tài năng của người nghệ sĩ sẽ tạo nên cả vườn hoa văn học nở rộ Ngôn từ sắc sảo, giàu ý nghĩa biểu đạt thì sản phẩm tinh thần trường tồn cùng với lịch sử của thời gian Ngôn ngữ tạo nên cái riêng, cái độc
đáo và là cánh tay đắc lực nâng tư tưởng của nhà văn lên tầng cao mới Nó
cũng là một tiêu chuẩn để đánh giá sự thành công của một tác phẩm văn học Việc lựa chọn phương tiện ngôn ngữ cho tác phẩm thể hiện đặc điểm và phong cách riêng của mỗi nhà văn Vì vậy đặt vấn đề nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của văn bản nghệ thuật sẽ giúp chúng ta thẩm định lại tác phẩm và
có những điểm nhìn nhận mới mẻ về những đặc sắc của một nhà văn
Nguyễn Khải là một trong những cây đại thụ của văn chương Việt Nam hiện đại Bản thân tác giả đã tự chia hành trình nghệ thuật của ông thành hai
thời kỳ và Hà Nội trong mắt tôi được coi là tác phẩm đánh dấu sự chuyển
hướng trong lối viết của Nguyễn Khải Những vấn đề thời sự, tinh thần công dân và thế sự là đề tài xuyên suốt của Nguyễn Khải trong giai đoạn 1953 đến
1978 Sau 1978 ngòi bút Nguyễn Khải chuyển hướng sang những vấn đề thế
sự - đời tư Tính triết luận thay tính chính luận
Tuy nhiên, đối với các tác phẩm Nguyễn Khải nói chung và Hà Nội trong mắt tôi nói riêng, giới nghiên cứu hầu như chỉ quan tâm cái mới trong nội
dung đề tài, cái mới trong nội dung thể hiện và cảm hứng thế sự, mà chưa có
Trang 3sự quan tâm thích đáng về mặt ngôn ngữ Vì vậy, nghiên cứu về đặc điểm
ngôn ngữ Nguyễn Khải qua Hà Nội trong mắt tôi dưới ánh sáng của ngôn
ngữ học là một vấn đề còn bỏ ngỏ, còn là một mảnh đất khá hoang sơ, nhưng
vô cùng độc đáo, hấp dẫn để khám phá
Bên cạnh đó, một lí do nữa không kém phần quan trọng để chúng tôi quyết
định lựa chọn đề tài Đặc điểm ngôn ngữ Nguyễn Khải qua Hà Nội trong
mắt tôi để tìm hiểu nghiên cứu là lí do nghiệp vụ, nghiên cứu về một tác giả
lớn như Nguyễn Khải sẽ là một cơ hội giúp chúng tôi bổ sung kiến thức chuyên sâu, phục vụ cho quá trình giảng dạy sau này Đồng thời qua việc nghiên cứu đề tài này chúng tôi còn học tập được cách tiếp cận một vấn đề khoa học
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nguyễn Khải là cây bút xuất sắc của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại Nhà văn đã góp phần rất lớn cho sự phát triển và đổi mới của nền văn học nước nhà Ông là cây bút trưởng thành từ trong quân đội Ngòi bút của Nguyễn Khải khai mở từ cảm hứng công dân, cảm hứng ngợi ca cho tới cảm hứng thế
sự đời tư Nhà văn thâm nhập vào từng ngóc ngách của nhiều khía cạnh đời sống Nguyễn Khải đã được giới nghiên cứu đi vào bàn luận về cả cuộc đời
lẫn sự nghiệp sáng tác Riêng tập truyện Hà Nội trong mắt tôi đã có một số
tác giả tiêu biểu như: Lại Nguyên Ân – Trần Đình Sử, Phan Cự Đệ, Trần Thanh Phương, Đinh Quang Tốn, Bích Thu,… nghiên cứu và có nhiều phát hiện quan trọng
Với công trình Sống với văn học cùng thời, hai nhà nghiên cứu Lại
Nguyên Ân và Trần Đình Sử đã có những nhận định rất xác đáng về năng lực
ngôn ngữ của Nguyễn Khải Theo Lại Nguyên Ân : Thành công được như thế, phải nói đến đặc sắc ngôn ngữ của Nguyễn Khải, một thứ ngôn ngữ rất văn
Trang 4xuôi: nó không ưng nống lên thống thiết mà thường pha ngang giọng tưng tửng, đùa đùa [1, tr.61]
Trần Đình Sử cũng nhận xét về ngôn ngữ của Nguyễn Khải:
Một chất lượng ngôn ngữ đặc sắc như vậy là phương thức rất lợi hại để phân tích tâm lí [1, tr.62]
Nghiên cứu về ngôn ngữ Nguyễn Khải, Phan Cự Đệ cũng đã khẳng định:
Ngôn ngữ kể chuyện của Nguyễn Khải đôi khi khách quan một cách lạnh lùng tạo điều kiện cho các sự việc hàng ngày đi thẳng đến người đọc [23, tr.43] Cũng theo Phan Cự Đệ: Phong cách hiện thực tỉnh táo cũng tạo cho tác phẩm của Nguyễn Khải có một thứ ngôn ngữ đặc biệt Đó là thứ ngôn ngữ trí tuệ, sắc sảo, đánh thẳng vào đối phương không kiêng nể… một thứ ngôn ngữ mang tính chiến đấu, chân thật, khách quan, không cần tô màu một sự mĩ học
lộ liễu nào[23, tr.43 - 44] Ngôn ngữ trong các tác phẩm của Nguyễn Khải là
thứ ngôn ngữ mang tính triết lí, trí tuệ rất cao Đó là thứ ngôn ngữ đặc biệt, nó không được tô lên bằng một gam màu mĩ học, không tượng trưng, mà là một thứ ngôn ngữ nói thẳng, nói thật, nói trực tiếp vào đối phương và rất chân thật, khách quan
Trong bài viết Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Khải những năm 80 đến nay, Bích Thu nhận xét về cách sử dụng ngôn ngữ của nhà văn Nguyễn Khải: Tác giả đã tỏ ra ưu thế trong việc sử dụng khẩu ngữ Những ngôn ngữ được chắt lọc trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, ngôn ngữ mang tính đối thoại [29, tr.13]
Với bài viết Nguyễn Khải với Hà Nội, Đinh Quang Tốn có rất nhiều đánh giá và phát hiện độc đáo về tập truyện ngắn Hà Nội trong mắt tôi: Hà Nội trong mắt tôi, tên tập truyện thật kiêu, bởi cái tên ấy gợi một người làm chủ
Hà Nội đứng ở trên cuộc sống và con người mà nhìn, hiểu hết mọi điều như
“đi guốc” trong ruột Hà Nội Vậy mà cả 10 truyện của tập, truyện nào cũng
Trang 5đầy yêu thương trân trọng và kính phục những con người Hà Nội [23, tr.375]
Nhà nghiên cứu Đinh Quang Tốn đã có những nhận định đáng giá về tiêu đề tác phẩm Tác giả đã khẳng định tiêu đề tác phẩm hay, khơi gợi nên được cốt lõi của tập truyện Đề tài mà Nguyễn Khải tập trung là đề tài về Hà Nội Ông
đã đưa ra nhận định làm toát lên được nội dung chính của tập truyện: nói về
vẻ đẹp và cốt cách của người Hà Nội, Nguyễn Khải khi nói về Hà Nội với một thái độ đầy yêu thương và kính trọng
Đinh Quang Tốn còn có một nhận định rất đặc sắc về tập truyện Hà Nội
trong mắt tôi: Hà Nội trong mắt tôi là một tập truyện hay Mỗi truyện một vấn
đề, mỗi người một nhân cách Cả tập truyện là tập hợp những nhân cách Hà Nội Mỗi người một vẻ, nhưng không ai hèn Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà giữa những biến động lớn của cuộc sống, con người bị khủng hoảng nhân cách trầm trọng, Nguyễn Khải lại tập trung xây dựng những nhân cách sống Nhân cách của mỗi con người cũng như bản lĩnh của một dân tộc có lẽ là điều cốt yếu nhất để khẳng định mình [23, tr.378]
Qua bài viết Nguyễn Khải với Hà Nội trong mắt tôi, Trần Thanh Phương
có nhận định và đánh giá tập truyện như sau: Hà Nội trong mắt tôi không tuân theo những khuôn mẫu thông thường của truyện ngắn truyền thống đòi hỏi phải có cốt truyện và những pha hấp dẫn ly kỳ của sự thắt nút, cởi nút v.v…Ở đây vai trò hư cấu dường như bị tước bỏ: toàn chuyện người thực, việc thực
[23, tr.381]
Tác giả đã có cái nhìn ở phương diện nghệ thuật trong tập truyện Hà Nội trong mắt tôi Đó là, sự đổi mới của tập truyện không tuân theo nguyên tắc cũ
của cách viết truyện ngắn truyền thống Yếu tố hư cấu dường như đã bị tước
bỏ và thay vào đó là những con người thực trong cuộc sống hàng ngày Những pha hấp dẫn: thắt nút, mở nút, cao trào rất ít xuất hiện trong truyện
Trang 6Nguyễn Khải, mà trong tác phẩm của ông hiện thực hiện lên một cách rõ nét,
những con người thực đang tồn tại trong tác phẩm văn chương của ông
Cũng theo Trần Thanh Phương: tác giả thường xuyên sử dụng thủ pháp tự
giễu mình, giễu cái nghề của mình và giễu cả bạn bè đồng nghiệp Nhiều khi
ông mượn lời nhân vật để giễu rồi tự xác nhận Cách giễu cợt ấy có tác dụng
xóa nhòa khoảng cách giữa nhà văn và nhân vật, kéo độc giả gần lại với
mình, tạo ra sự bình đẳng thân mật, thậm chí có thể vỗ vai cợt nhã nữa
[23, tr.382] Cái đặc sắc trong việc sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Khải là có
khi sử dụng thủ pháp giễu nhại Việc sử dụng thủ pháp này, có tác dụng làm
nhòe đi ranh giới giữa nhà văn và nhân vật, làm rút ngắn khoảng cách và tạo
nên cảm giác thân thiện, gần gũi của người đọc khi đến với tác phẩm
Nhìn chung, một cách khái quát có thể thấy các tác giả trên đều có những
nhận xét rất độc đáo về ngôn ngữ của Nguyễn Khải và tập truyện Hà Nội
trong mắt tôi Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra được ngôn ngữ của Nguyễn Khải
có một đặc điểm chung: sử dụng ngôn ngữ chắt lọc từ lời ăn tiếng nói hằng
ngày, sử dụng khẩu ngữ, ngôn ngữ chân thật, mang tính triết lí và trí tuệ cao
Tập truyện Hà Nội trong mắt tôi đặc sắc trên cả hai phương diện nội dung và
nghệ thuật Về phương diện nội dung, đặc sắc của tập truyện được thể hiện ở
chỗ: là tập truyện hay, mỗi truyện nêu lên được một vấn đề, chỉ từ những
trang viết đó thôi mà Nguyễn Khải đã làm toát lên cả nhân cách cao đẹp của
con người Hà Nội Đặc sắc ở phương diện nghệ thuật là việc sử dụng thủ
pháp giễu nhại và cách viết truyện của nhà văn không theo khuôn mẫu của
cách viết truyền thống Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra được rất nhiều điều mới
mẻ, bổ ích, bổ sung được rất nhiều kiến thức chuyên sâu cho quá trình giảng
dạy và học tập Tuy nhiên, các công trình đều chỉ nghiên cứu ngôn ngữ của
Nguyễn Khải và tập truyện Hà Nội trong mắt tôi trên lĩnh vực văn học và thi
pháp học, và chưa có một công trình nào nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ
Trang 7Nguyễn Khải trong tập truyện Hà Nội trong mắt tôi trên lĩnh vực ngôn ngữ
học Mặc dầu vậy, các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp cho chúng tôi một lượng kiến thức bổ ích và gợi hướng đi giúp chúng tôi giải quyết đề tài này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Đặc điểm ngôn ngữ Nguyễn Khải qua
tập Hà Nội trong mắt tôi
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài : văn bản nghệ thuật tập Hà Nội trong mắt tôi của Nguyễn Khải
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp, trong đó đặc biệt chú trọng các phương pháp sau:
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại: Khảo sát văn bản, thống kê, phân loại để tính tỉ lệ
- Phương pháp phân tích chứng minh: Phân tích các ví dụ để chứng minh cho các luận điểm
- Phương pháp miêu tả: Miêu tả từ ngữ, cấu trúc câu, các biện pháp tu từ
để rút ra vai trò, ý nghĩa
- Phương pháp tổng hợp, khái quát: Khi khảo sát, thống kê, phân tích, chứng minh thì tổng hợp và khái quát các ý để dễ nắm bắt ý trong bài khóa luận
5 Dự kiến đóng góp đề tài
Qua đề tài, Đặc điểm ngôn ngữ Nguyễn Khải qua Hà Nội trong mắt tôi,
chúng tôi hi vọng xác tín cách viết hiện đại của Nguyễn Khải về mặt phong cách học
6 Bố cục đề tài
Trang 8Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính đề tài gồm 3 chương:
Chương 1 Một số vấn đề chung
Chương 2 Khảo sát và miêu tả đặc điểm ngôn ngữ Nguyễn Khải qua Hà Nội trong mắt tôi
Chương 3: Tầm tác động của ngôn ngữ Nguyễn Khải đối với thế giới nghệ
thuật của ông trong tập Hà Nội trong mắt tôi
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Cá tính sáng tạo của nhà văn và phong cách ngôn ngữ của nhà văn 1.1.1 Cá tính sáng tạo của nhà văn
Trong bất cứ một ngành nghề, lĩnh vực nào, sáng tạo là yếu tố quyết định cho mọi con đường đi tới thành công Nhưng đối với văn chương, cá tính sáng tạo của nhà văn chiếm vai trò chủ đạo và yếu tố tiên quyết cho việc thành công hay thất bại trong sự nghiệp của mình Cá tính sáng tạo là một hiện tượng lịch sử Sự hình thành cá tính sáng tạo với tư cách là một đại lượng thực tại có ý nghĩa rất lớn trong đời sống nghệ thuật Cá tính sáng tạo là cách nhìn nhận và cách thể hiện thế giới của cá nhân nhà văn đó Theo Hà
Minh Đức: Phong cách sáng tạo văn học là tổng thể những đường nét riêng biệt của một chân dung văn học, là chiều sâu của bản chất của một cá tính sáng tạo, là những giá trị thẩm mĩ tối ưu mà tác giả, tác phẩm văn học, khuynh hướng văn học, nền văn học đã đạt được [21, tr.29] Cá tính sáng tạo
là cái riêng của mỗi nhà văn, là giá trị thẩm mĩ mà kết quả của họ đạt được trong quá trình sáng tạo Chính vì thế cá tính sáng tạo của nhà văn là điều kiện cần để tạo nên kiệt tác văn học Nhưng không thể đồng nhất cá nhân nhà văn
với cá tính sáng tạo của nhà văn Theo M.B Khrapchenko: Mối tương quan cá
Trang 9tính sáng tạo và cá nhân nhà văn có thể có những tính chất khác nhau Hoàn toàn không phải tất cả những cái gì là đặc thù của cá nhân người nghệ sĩ trong sinh hoạt hàng ngày đều được phản ánh trong tác phẩm của anh ta Mặt khác, không phải bao giờ và không phải tất cả những gì tiêu biểu cho cái tôi sáng tạo cũng tương ứng một cách trực tiếp với những đặc điểm của con người thực tại của nhà văn [9, tr.99] Khi nói về vai trò của cá tính sáng tạo của nhà văn, Puskin đã từng phát biểu: Văn xuôi đòi hỏi tư tưởng và tư tưởng thiếu chúng thì cách thể hiện xuất sắc cũng chẳng giúp ích được gì Những tư
tưởng lớn cổ vũ người nghệ sĩ tìm tòi, sáng tạo, soi sáng con đường của họ, dẫn tới những đỉnh cao của nghệ thuật Và mặc dầu, những tư tưởng lớn tự chúng không tạo ra tài năng, những tài năng nếu có được những tư tưởng ấy thì sẽ tạo ra những giá trị nghệ thuật lớn Cá tính sáng tạo của nhà văn thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau trong cuộc sống, trước hết thể hiện ở cách nhìn của nhà văn đối cuộc sống, ở sự độc đáo và mang cá tính sáng tạo của họ
đối hiện thực Theo M.B Khrapchenko : Ý niệm về tiếng nói của mình và luận điểm về sự lí giải cuộc sống theo cách mới trong các tác phẩm của nhà văn có tài có liên quan hết sức mật thiết với nhau Nhà văn chỉ có thể nói một lời nói mới mẻ khi anh ta có được tiếng nói của mình và tiếng nói đó càng mạnh bao nhiêu, cá tính sáng tạo của nhà nghệ sĩ hiện lên càng rõ nét bao nhiêu thì cống hiến của anh ta vào nghệ thuật càng lớn bấy nhiêu [9, tr.90 - 91]
Tóm lại, cá tính sáng tạo của nhà văn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình xây dựng tác phẩm văn học của người nghệ sĩ Nhờ có cá tính sáng tạo của nhà văn mà các tác phẩm văn chương có sức hấp dẫn lớn Cá tính sáng tạo nhà văn là cái cốt lõi hình thành tư tưởng mới Chính cái mới đó nó đã giúp chúng ta nhận ra được cái riêng của nhà nghệ sĩ và cái riêng đó chính là phong cách nghệ thuật của mỗi nhà văn
1.1.2 Phong cách ngôn ngữ của nhà văn
Trang 101.1.2.1 Phong cách ngôn ngữ của nhà văn theo quan niệm của các nhà lí luận văn học
Phong cách là thuật ngữ mang tính đa nghĩa, bởi nó được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực Trong cuộc sống bắt gặp rất nhiều thuật ngữ phong cách: phong cách làm việc; phong cách đi đứng; phong cách nói năng; phong cách trào lưu; phong cách thời đại; phong cách dân tộc…Trong lĩnh vực ngôn ngữ
có phong cách hành chính; phong cách chính luận; phong cách báo chí; phong cách nghệ thuật…Đến với văn chương, các nhà văn thường tạo nên dấu ấn riêng của mình, và điều đó chính là phong cách nghệ thuật, là cái riêng của mỗi con người Phong cách nghệ thuật là nét đặc sắc, độc đáo của chỉnh thể sáng tạo văn học thể hiện trong sự thống nhất hình thức và nội dung Phong cách nhà văn là dấu hiệu độc đáo, không lặp lại, đánh dấu những phẩm chất riêng của một tác giả nào đó, mang lại cho người đọc một sự hưởng thụ thẩm
mĩ độc đáo Dấu hiệu nhận biết của phong cách chính là ngôn ngữ mà nhà văn
sử dụng Nó tạo nên những thanh âm riêng, mang bản sắc và cái tôi cá nhân
Nguyễn Khắc Sính đã dẫn lời nhận định của D.X Likhachốp: Phong cách là một hình thức liên kết của ngôn ngữ, là nguyên tắc cấu trúc toàn bộ nội dung
và toàn bộ hình thức nghệ thuật Nên ngôn ngữ nghệ thuật có vai trò rất quan trọng và tạo nên phong cách ngôn ngữ nhà văn [21, tr.23] Và tác giả còn dẫn
ý kiến của A.N Xôcôlốp: phong cách là một hiện tượng nghệ thuật, thể hiện quy luật của nghệ thuật, là phạm trù thẩm mỹ trong tất cả mọi nghệ thuật chứ không phải nguyên tắc ý thức hệ và chính trị Bản chất của nó là sự thống nhất của mọi thành tố nghệ thuật theo những quy luật đặc thù [21, tr.23]
Phong cách ngôn ngữ của nhà văn hiểu theo nghĩa phổ quát nhất là kiểu, dáng, vẻ và một cấu trúc mang tính chỉnh thể, chỉ những đặc trưng tương đối bền vững, mang tính độc đáo và có ý nghĩa trong cách viết của một nhà văn nào đó
Trang 11Ngôn từ là chất liệu, phương tiện, nền tảng của tác phẩm văn học Người nghệ sĩ đều lấy ngôn từ làm phương tiện biểu đạt cho dụng ý nghệ thuật của mình Ngôn ngữ là cầu nối chung của nhân loại, dùng làm phương tiện để giao tiếp hàng ngày Ngôn ngữ thông thường khi cách điệu hóa sẽ trở thành ngôn từ nghệ thuật được gọt giũa, trau chuốt và mang nhiều tầng ý nghĩa khác nhau Theo lí luận văn học: Lời văn thực chất là một dạng ngôn từ, nhưng đã được tổ chức theo quy luật của nghệ thuật về mặt nội dung, phong cách, thể loại Ngôn từ nghệ thuật luôn được lựa chọn kỹ càng, được tổ chức
thành văn bản cố định Đúng như M.Bakhtin khẳng định: Sự miêu tả nghệ thuật là sự miêu tả trước cái vĩnh hằng, chỉ có ngôn từ, hình ảnh xứng đáng
để ghi nhớ muôn đời…Do vậy, ngôn từ văn học là một hiện tượng nghệ thuật
do nghệ sĩ sáng tạo theo quy luật chung của nghệ thuật Văn bản nghệ thuật phải truyền đạt một ý nghĩa mà không một phát ngôn đồng nghĩa nào có thể thay thế được
M.B Khrapchenco cũng có quan niệm về ngôn ngữ trong văn học: Với
tư cách là một hiện tượng phong cách, ngôn ngữ nghệ thuật thực hiện một chức năng phức tạp Nó tạo ra một hệ thống giọng điệu của tác phẩm văn học; không một thành tố nào của phong cách tồn tại bên ngoài hệ thống đó
[9, tr.191] Nhà nghiên cứu đã khẳng định ngôn từ nghệ thuật là thành tố tạo nên giọng điệu của tác phẩm văn chương Ngôn ngữ nghệ thuật là dấu hiệu quan trọng nhận biết phong cách của nhà văn Ngoài ra, tác giả còn cho rằng:
Bản thân đặc trưng của cách nhìn nhận hình tượng có tính chất cá nhân đối với thế giới, cũng như vẻ đặc thù của phong cách chủ đạo, đã quyết định việc lựa chọn những phương tiện ngôn ngữ, cho phép anh ta biểu hiện rõ những
dự đồ sáng tạo của mình [9, tr.195] Mỗi nhà văn tạo nên ngôn ngữ nghệ
thuật của mình bằng việc xây dựng và ấp ủ ý đồ nghệ thuật của mình Thông qua ngôn từ nghệ thuật mà tài năng của nhà văn được đánh giá và kiểm định
Trang 12Cuối cùng, nhà nghiên cứu này khẳng định vai trò của ngôn ngữ trong nền
văn học: Việc lựa chọn những phương tiện ngôn ngữ, việc tổ chức chúng là nhằm mục đích thể hiện cái đặc trưng, cái mới, cái bất ngờ trong phạm vi những hiện tượng những tình cảm con người và những hoạt động mà nhà văn miêu tả.[9, tr.196]
Trong giáo trình lí luận văn học Hà Minh Đức đã chỉ ra rằng: Ngôn ngữ đó chính là chất liệu, là phương tiện biểu hiện mang tính đặc trưng của văn học Không có ngôn ngữ thì không có tác phẩm văn học, bởi vì chính ngôn ngữ chứ không phải cái gì khác đã cụ thể hóa và vật chất hóa sự biểu hiện của chủ đề và tư tưởng, tính cách và cốt truyện… Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên mà nhà văn sử dụng trong quá trình chuẩn bị và sáng tạo tác phẩm;
nó cũng là yếu tố xuất hiện đầu tiên trong sự tiếp xúc với người đọc, với tác phẩm, có lẽ vì thế M Gorki đã viết: Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó – cùng với sự kiện, các hiện tượng của cuộc sống là chất liệu của văn học [4, tr.148] Ngôn từ nghệ thuật chiếm vị trí hết sức quan
trọng trong văn chương Nếu như không có ngôn ngữ sẽ không có chất liệu tạo nên tác phẩm Ngôn từ nghệ thuật là khâu nối đắc lực giữa người đọc và tác phẩm Ngôn ngữ tái hiện được cuộc sống của hiện thực xã hội đưa vào văn học và tạo nên kiệt tác bất hủ nhờ những kết tinh của ngôn từ nghệ thuật Nhà văn lớn của nước Nga Maiacốpxki từng có những câu thơ nói về ngôn từ nghệ thuật:
Phải phí tốn ngàn cân quặng chữ Mới thu về một chữ mà thôi Nhưng chữ ấy làm cho rung động Triệu trái tim trong hàng triệu năm dài Theo Hà Minh Đức và Lê Bá Hán trong cuốn Cơ sở lí luận, (tập 2): Trong văn học ngôn ngữ không chỉ đơn thuần là một phương tiện chuyển đạt
Trang 13những tư tưởng, ý nghĩa Ngôn ngữ văn học còn là chất liệu và ở những nhà văn ưu tú, chất liệu này in đậm những nét độc đáo của phong cách, gắn liền sâu sắc những đặc điểm trong tư duy nghệ thuật của nhà văn, một nghệ sĩ cụ thể của nghệ thuật ngôn từ [5, tr.174] Ngôn ngữ văn học là chất liệu là công
cụ và cánh tay đắc lực trong việc tạo nên đứa con tinh thần cho mỗi nhà văn Ngôn từ là yếu tố đánh giá tư duy của mỗi nhà văn và là yếu tố hình thành nên phong cách văn chương
Nguyễn Lai cũng cho rằng: Không có ngôn ngữ làm tiền đề, con người không thể có hoạt động định hướng đã đành; không có ngôn ngữ con người không sao có điều kiện để tích lũy và kế thừa để sáng tạo Đặc biệt nếu không
có ngôn ngữ, con người không sao tạo cho mình một năng lực tiết kiệm tuyệt vời ở quá trình nhận thức, qua sự thu gọn và rút ngắn cả không gian lẫn thời gian Cuối cùng cũng rất rõ ràng, nếu không có ngôn ngữ mọi tiền đề cần thiết để làm hình thành từ bên trong phẩm chất nghệ sĩ của con người không sao có thể được [10, tr.9] Ngôn ngữ đóng vai trò hết sức quan trọng Nó là
tiền đề cho mọi hoạt động suy nghĩ – sáng tạo và sáng tác của nhà văn
Phương Lựu khẳng định: Sự thật có bao nhiêu yếu tố trong tác phẩm thì có bấy nhiêu chỗ cho phong cách của từng nhà văn thể hiện vào trong ngôn ngữ thì một nhà văn độc đáo ở những hệ thống tu từ khác nhau cũng là điều dễ thấy [15 tr.484]
Tóm lại, Các nhà lí luận văn học đã đưa ra rất nhiều ý kiến khác nhau
về ngôn ngữ Nhưng có thể kết luận rằng: từ ngôn ngữ văn học có thể xác định được phong cách nhà văn
1.1.2.2 Phong cách ngôn ngữ của nhà văn theo quan niệm của các nhà ngôn ngữ học
Ngôn ngữ học là chuyên ngành khoa học nghiên cứu đặc điểm bản chất của các hiện tượng ngôn ngữ Khi nghiên cứu về phong cách ngôn ngữ của
Trang 14nhà văn, các nhà ngôn ngữ học cũng có những quan niệm tương đối thống nhất Theo nhóm tác giả Võ Bình – Lê Anh Hiền – Cù Đình Tú – Nguyễn
Thái Hòa (1982): Ngôn ngữ là chung nhưng vận dụng ngôn ngữ là cái riêng của từng người Mỗi người do sở trường, thị hiếu, tập quán, tâm lí, cá tính hoặc do công phu luyện tập, mà hình thành những cách diễn đạt khác nhau Người này thích những từ mà người khác không thích, nhà văn nọ có những cách đặt câu mà người khác không có [2, tr.16] Ngôn ngữ là tài sản chung
của mọi người, là sản phẩm của mọi hoạt động giao tiếp, nhưng sử dụng ngôn ngữ ngữ như thế nào là năng lực và trí tuệ riêng của mỗi con người Đinh
Trọng Lạc đã từng nói: Cá thể hóa trong ngôn ngữ nghệ thuật chính là cái độc đáo, đặc sắc không lặp lại, cái riêng của tất cả yếu tố trong sáng tác: lối nghĩ, lối cảm, lối thể hiện, những đặc trưng riêng trong cách sử dụng từ ngữ, ngữ pháp, kết cấu đoạn mạch, thủ pháp tu từ [10, tr.153] Ngôn ngữ nghệ
thuật được quan niệm là cái độc đáo, cái riêng của người viết và không lặp lại
Trong công trình nghiên cứu Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật Đào Thản đã nhận định: Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật là
cả quá trình tìm kiếm, thu nạp để rồi thông qua sự lựa chọn, mài giũa mà phát huy phát triển các yếu tố, phương tiện và khả năng cao nhất của ngôn ngữ, nhằm thỏa mãn mọi yêu cầu riêng của phong cách [23, tr.14]
Theo Phan Ngọc: Một tác giả chỉ có một phong cách riêng, khi đọc một vài câu người ta đoán biết tác giả là ai, khi cái phong cách mà nhà văn xây dựng lên góp phần vào truyền thống văn học, trở thành mẫu mực cho nhiều người học tập Muốn làm được điều đó, tác giả phải thực hiện được một sự đổi mới trong việc kế thừa, để đẩy được việc kế thừa sang một bước nữa
[18, tr.34]
Cũng theo Phan Ngọc, một nhà văn khi được gọi là có phong cách, khi đọc vài câu người ta nhận ra là của ai Cái riêng của nhà văn được ấn đậm vào
Trang 15trong ngôn ngữ và được lặp đi lặp lại tạo thành sở trường trong việc sử dụng ngôn ngữ và biến nó thành tài sản riêng của bản thân mình
Cù Đình Tú quan niệm rằng: Dấu ấn phong cách tác giả là cái thuộc
về đặc điểm bản thể, thuộc về điều kiện bắt buộc của ngôn ngữ văn chương Theo tác giả: ngôn ngữ văn chương nói chung và ngôn ngữ của nhà văn nói riêng phải vừa giống mọi người, vừa khác mọi người Sự giống mọi người là cái thuộc về điều kiện nền tảng, sự khác ngôn ngữ mọi người này là dấu hiệu xác định phong cách của tác giả
Nhìn chung, các nhà ngôn ngữ đều đưa ra những nhận định khác nhau
ở từng khía cạnh của phong cách ngôn ngữ nhà văn Nhưng hầu như dưới nghiên cứu đều có quan điểm thống nhất phong cách ngôn ngữ nhà văn là cái riêng, cái độc đáo trong việc sử dụng ngôn ngữ của nhà văn, là các yếu tố ngôn ngữ được lặp đi lặp lại thành tần số cao và có khả năng khu biệt và người đọc nhận diện được tác giả là ai khi chỉ cần đọc ít chữ
1.2 Giới thiệu về Nguyễn Khải và tập Hà Nội trong mắt tôi
1.2.1 Nguyễn Khải – đời người, đời văn
Nguyễn Khải tên khai sinh là Nguyễn Mạnh Khải Ông sinh ngày 3 tháng 12 năm 1930, tại Hà Nội, trong gia đình viên chức Quê nội ông sống ở phố Hàng Than, thành phố Nam Định; quê ngoại ở xã Hiếu Nam, huyện Tiên
Lữ, tỉnh Hưng Yên Thuở nhỏ ông sống ở quê ngoại, có thời gian học ở Hải Phòng và Hà Nội Nguyễn Khải là con vợ lẻ trong gia đình viên chức, nên tuổi thơ của nhà văn gặp rất nhiều thiệt thòi, mất mát
Nguyễn Khải học xong năm thứ ba ở trường trung học tại Hà Nội thì kháng chiến chống pháp bùng nổ, ông rời thành phố, cùng mẹ và em tản cư về quê ngoại Năm 16 tuổi, ông tham gia kháng chiến ở thị xã Hưng Yên Năm
1948, ông làm y tá đồng thời có viết bài cho tờ Dân quân Hưng Yên Nhờ vậy, năm 1949, ông được điều lên làm phóng viên cho tờ báo này Cuối năm
Trang 161950 Nguyễn Khải đi dự lớp nghiên cứu văn nghệ tại Thanh Hóa, do Hội văn nghệ Trung ương và Chi hội văn nghệ Liên Khu Bốn, tổ chức ở Thanh Hóa
Ở đây ông được quen với nhà văn Nguyễn Tuân Tháng 5 năm 1951, Nguyễn Khải được cử đi dự trại viết của hai Chi hội Văn nghệ liên khu Ba và Liên Khu Bốn, tổ chức ở Kim Tân, Thanh Hóa Lần này, ông được gặp nhà văn Nam Cao và Nguyễn Huy Tưởng Năm 1955 Tổng cục chính trị cử ông tham gia trại viết truyện anh hùng Năm 1956 Nguyễn Khải chuyển hẳn công tác về
tờ sinh hoạt văn nghệ của Tổng cục chính trị (từ 1957 là Tạp chí văn nghệ quân đội) Sau năm 1975 Nguyễn Khải sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh Nhiều năm ông Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam
Nguyễn Khải là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957) Từ Đại hội lần thứ II (1963) cho đến hai kì Đại hội III (1983) và Đại hội IV (1989), ông là Uỷ viên Ban chấp hành, rồi Ủy viên Ban thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam
Nguyễn Khải đã để lại cho đời rất nhiều tác phẩm có giá trị và là nhà văn lớn của dân tộc Việt Nam Tên tuổi của nhà văn thật sự được chú ý từ tiểu
thuyết Xung đột Nguyễn Khải thuộc số những cây bút hàng đầu của văn xuôi
Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám Hành trình sáng tác của Nguyễn Khải tiêu biểu cho quá trình vận động của văn học nước ta Ông là nhà văn mang phong cách rất riêng biệt, luôn xông xáo và bám sát các vấn đề thời sự, ngôn ngữ triết lí rất cao, khả năng phân tích tâm lí rất sắc sảo Đời văn của Nguyễn Khải thể hiện qua hai cuộc hành trình, từ 1955 – 1978 và từ 1978 đến nay Mỗi chặng đường nhà văn đều gặt hái những thành tựu nhất định
Những tác phẩm chính của Nguyễn Khải
Truyện ngắn: Mùa lạc (1960), Tầm nhìn xa (1963), chủ tịch huyện (1972),
Một thời gió bụi (1993), Hà Nội trong mắt tôi (1995), Sống ở đời (2002)
Trang 17Tiểu thuyết: Đường trong mây (1970), Ra đảo (1970), Chiến sĩ (1973), Cha
và con (1979), Gặp gỡ cuối năm (1982), Thời gian của người (1985), Thượng
đế thì cười (2004)
Nguyễn Khải rất thành công trong sự nghiệp văn chương của mình Cống hiến của ông đã được ghi nhận ở nhiều giải thưởng, trong đó có giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật năm 2000 và giải thưởng ASEAN năm 2000 Nhà văn đã qua đời năm 2008 do cơn đau tim
1.2.2 Hà Nội trong mắt tôi - Tác phẩm đánh dấu sự chuyển hướng trên
hành trình sáng tạo của Nguyễn Khải
Nguyễn Khải là nhà văn lớn của dân tộc Việt Nam, bản thân tác giả đã chia cuộc hành trình sáng tác của mình thành hai giai đoạn, từ năm 1953 đến
1978 chủ đề chính trong sáng tác của ông là vấn đề thời sự và cảm hứng công dân, giai đoạn thứ hai: từ năm 1978 đến nay cảm hứng trong mạch văn của Nguyễn Khải là mang tính triết luận và đi vào mạch nguồn cuộc sống với thế
sự đời tư Hà Nội trong mắt tôi là tác phẩm đánh dấu sự chuyển hướng trong
mạch truyện của nhà văn Tập truyện gồm mười truyện ngắn và mỗi truyện có vấn đề sự kiện khác nhau, nhưng đều mang hương sắc của Hà Nội từ con
người, phong tục, tập quán, lối quy cách ứng xử của con người Hà Thành Hà Nội trong mắt tôi là tập truyện được giới nghiên cứu đánh giá rất cao, đem lại
tiếng vang rất lớn trong nền văn xuôi nước nhà Nguyễn Khải là nhà văn nổi
tiếng với rất nhiều tập truyện ngắn và tiểu thuyết nhưng Hà Nội trong mắt tôi
là tập truyện tạo nên được sức chuyển biến mới mẻ trong sự đổi mới và sự
vận động trong tư tưởng sáng tác của Nguyễn Khải Hà Nội trong mắt tôi
được sáng tác 1995 là tác phẩm đánh dấu cho sự chuyển hướng đi trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Khải Tập truyện gặt hái rất nhiều thành công trên phương diện nội dung thể hiện, mỗi truyện trình bày vấn đề sự kiện riêng Đó là, bà cô suốt đời chăm lo giữ gìn gia phong, gia thế của một dòng
Trang 18họ (Nếp nhà); một bà cụ Mặn chỉ là người đàn bà tầm thường thôi nhưng cách ứng xử một đời không thay đổi của bà lại không tầm thường (Người của ngày xưa); một cô Hiền từ thưở còn con gái cho đến lúc già đã sống đúng với phong cách quý phái và tư thế thanh lịch, sang trọng của người Hà Nội ( Một người Hà Nội) v.v…Mỗi truyện là một vấn đề được bàn đến, mười truyện là mười sự kiện khác nhau, được Nguyễn Khải xây dựng rất thành công Hà Nội trong mắt tôi được Trần Thanh Phương nhận xét: Lần đầu tiên sau hơn nữa thế kỷ, những nhân vật thuộc các gia đình thế gia vọng tộc ở Hà Nội từ trước cách mạng tháng Tám mới xuất hiện trở lại trên trang viết của Nguyễn Khải ở
vị trí trang trọng [23, tr.379] Hà Nội trong mắt tôi là tập truyện hay Mỗi
truyện là một vấn đề, một nhân cách Cả tập truyện là tập hợp những nhân cách người Hà Nội Tập truyện như khơi gợi lên được nhiều nét đẹp mang tính trọn vẹn của người Hà Nội Tập truyện được nhà văn viết trong khi nhân phẩm con người trong xã hội đang trên đà suy thoái về nhân cách, phẩm hạnh của mình Nhưng tập truyện ra đời như là luồng sáng về nhân cách đang lấp lánh xua tan đi những cái xấu, cái nhơ bẩn trong xã hội Nguyễn Khải xây dựng nên những nét đẹp của người Hà Nội như muốn khẳng định được giá trị cao đẹp của con người Việt không bao giờ mất đi Khi đi vào chiều sâu hơn nữa, Nguyễn Khải đang khẳng định chính bản thân nhà văn Tập truyện ngắn
Hà Nội trong mắt tôi không chỉ đặc sắc trên phương diện nội dung mà nghệ
thuật cũng được đánh giá rất cao Nguyễn Khải khi viết tập truyện ngắn này
đã không đi theo cách viết truyện truyền thống Ông có cách thể hiện rất độc đáo là chỉ đi sâu vào khai thác những việc thật, người thật; các yếu tố hư cấu, tượng trưng dường như nhường chỗ cho những sự việc hằng ngày đi vào trang văn một cách cao đẹp Giọng văn rất nhẹ nhàng đôn hậu, không sắc sảo, lạnh
lùng Nhìn chung, Hà Nội trong mắt tôi là tập truyện ngắn rất đặc sắc trong
việc chủ yếu tập trung khắc họa những nhân vật nữ, đại diện cho vẻ đẹp của
Trang 19con người Hà Nội Tập truyện đã thay đổi nhãn quan trong quá trình sáng tạo của nhà văn và nó được giới trẻ đông đảo đón nhận Tác phẩm đem lại thành
công lớn trong bước chuyển mình của nhà văn về tư tưởng
Chương 2 KHẢO SÁT VÀ MIÊU TẢ ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ
NGUYỄN KHẢI QUA HÀ NỘI TRONG MẮT TÔI
Tuy nhiên xét ở góc độ phong cách học thì các nhà ngôn ngữ học khảo sát giá trị tu từ của các lớp từ như: những từ ngữ có điệu tính tu từ cao (từ thi
ca, từ cũ, từ Hán Việt, từ gốc Ấn – Âu); nhóm biệt ngữ, thành ngữ, từ láy; nhóm những từ có điệu tính tu từ thấp: từ hội thoại, từ thông tục, từ nghề nghiệp, từ địa phương
Tuy nhiên trong quá trình khảo sát tập truyện ngắn Hà Nội trong mắt
tôi, chúng tôi nhận thấy rằng: chỉ có một số hiện tượng sau đây là nổi bật
nhất Đó là cách dùng các lớp từ như: từ Hán Việt, từ láy, thành ngữ và cách dùng các phương thức tu từ như so sánh tu từ, nhân hóa, hoán dụ
2.1.1 Các lớp từ vựng
2.1.1.1 Từ Hán Việt
a Khảo sát, thống kê, phân loại
Từ Hán Việt là từ vay mượn ở tiếng Hán, phát âm theo cách Việt Nam [11, tr.15] Chúng tôi đã tiến hành khảo sát và tính toán từ Hán Việt trong tập
Trang 20truyện Hà Nội trong mắt tôi, cụ thể là khảo sát ở 10 tập truyện ngắn: Nếp nhà;
Chúng tôi và bọn hắn; Đất kinh kỳ; Người vợ; Người của ngày xưa; Tiền;
Danh phận; Nghệ nhân ở làng; Nắng chiều; Đời khổ, kết quả cụ thể là có 98
từ Hán Việt với tần số xuất hiện là 109 lượt Trong đó Nếp nhà có 17 từ Hán Việt; Chúng tôi và bọn hắn 7 từ; Đất kinh kỳ 8 từ; Người vợ 8 từ; Người của ngày xưa 56 từ; Tiền 13 từ; Danh phận 22 từ; Nghệ nhân ở làng 8 từ; Nắng chiều 12 từ; Đời khổ 2 từ Với con số này, chúng ta thấy rằng: từ Hán Việt
được sử dụng rất nhiều, khá phổ biến trong tập truyện Hà Nội trong mắt tôi.
Ví dụ 1: Nguyên tắc làm chúc thư của bà công khai và công bằng,
không phân biệt trai gái và trưởng thứ [30, tr.13]
Ví dụ 2: Hai anh em một người của triều đình, một người của đường
phố chỉ biết tin nhau qua các bà vợ, chứ tự họ không mấy khi muốn giáp mặt [30, tr.69]
Ví dụ 3: Chúng tôi chỉ quan tâm tới chuyện chính trị, chuyện chiến
tranh, chuyện cơ quan và thăng tiến, sự lên lương của người này hay người
kia với những mong chờ phấp phỏng của chính bản thân mình [30, tr.91]
Ví dụ 4: Chỉ là chuyện giảm tô và cải cách ruộng đất thôi [30, tr.95]
Ví dụ 5: Nhân nghĩa hão, sĩ diện dởm, người khổ càng khổ hơn vì có
ai chịu đưa tay cho kẻ bất hạnh víu đi [30, tr.134]
Ví dụ 6: Thời Mỹ lại đòi chỉ gã con cho các gia đình quan lại, môn
đăng hộ đối là dở hơi hết sức [30, tr.134]
Ví dụ 7: Và tôi thầm cảm ơn chi Đại, một bà chị hễ mở miệng nói là ai
cũng ngán nhưng ai cũng thương vì khẩu xà tâm phật [30, tr.148]
b Nhận xét
Từ Hán Việt đóng vai trò rất quan trọng trong việc đưa lại thành công cho một tập truyện ngắn Từ Hán Việt đã đi vào văn thơ của chúng ta như một luồng sinh khí mới Vốn từ Hán Việt có nét nghĩa biểu hiện cho sự sang trọng
Trang 21quý phái nên nó đã được người Việt từ xưa đến nay rất hay sử dụng Trải qua biết bao nhiêu thế kỉ, từ Hán Việt ngày càng được sử dụng và đóng vai trò rất quan trọng trong giao tiếp của con người Chính vì vậy, Nguyễn Khải đã tận dụng lợi thế của vốn từ Hán Việt để vận dụng một cách sáng tạo vào việc sử
dụng ngôn từ để viết văn Đối với tập truyện Hà Nội trong mắt tôi, việc nhà
văn sử dụng rất nhiều từ Hán Việt có tác dụng rất lớn cho việc chuyển tải nội
dung văn bản nghệ thuật này Từ Hán Việt đã giúp cho tập truyện Hà Nội trong mắt tôi mang âm hưởng quý phái và sang trọng Với tập truyện này,
Nguyễn Khải đang đi tìm lại những tinh hoa của vẻ đẹp thị thành trong thời
kỳ kinh tế thị trường Nhưng vẻ đẹp, nhân cách của con người Hà Nội vẫn không mất đi Ngược dòng về với thời gian để viết lên những trang truyện ngắn nói về đất Hà Thành, Nguyễn Khải đã rất sắc sảo và biết cách lựa chọn vốn từ để phục vụ cho việc viết tập truyện ngắn này Khi đi về tìm lại vẻ đẹp xưa thì việc sử dụng ngôn ngữ Hán Việt là rất hợp lí, thể hiện sự trang trọng, tao nhã và phù hợp với nội dung thể hiện của tập truyện
2.1.1.2 Từ láy
a Khảo sát, thống kê, phân loại
Khi khảo sát 10 truyện ngắn trong tập Hà Nội trong mắt tôi chúng tôi thu được 243 từ láy Trong đó Nếp nhà có 16 từ; Chúng tôi và bọn hắn 22 từ; Đất kinh kỳ 29 từ; Người vợ 13 từ; Người của ngày xưa 10 từ;Tiền 26 từ; Danh phận 9 từ; Nghệ nhân ở làng 9 từ; Nắng chiều 27 từ; Đời khổ 24 từ
Kết quả khảo sát cho thấy trong vốn từ láy Nguyễn Khải sử dụng, từ láy đôi chiếm toàn bộ Nó đóng một vai trò rất quan trọng tạo nên giàu màu
sắc và nhạc điệu cho tập truyện ngắn Hà Nội trong mắt tôi
Từ láy là từ loại chiếm vị trí hết sức quan trọng trong việc tạo ra ngữ điệu, tiết tấu cho phát ngôn
b Đặc điểm tu từ của từ láy trong truyện ngắn Nguyễn Khải
Trang 22b1 Sắc thái hóa về nghĩa
- Các từ láy khái quát về đặc điểm tính chất của từng đối tượng: trờn trợn, nhã nhặn, thẳng thắn, bướng bỉnh, sắc sảo, ngây ngô, điềm đạm, ngú ngớ, lầm lũi,…
Ví dụ: Nói chuyện với bà tôi vẫn trờn trợn như ngày nào được hầu chuyện
b2 Các từ láy có tính tượng thanh
- Các từ láy mô phỏng âm thanh của con người: cọc cạch, sùm sụp, hề hề, phăm phăm, thầm thầm thì thì,…
Ví dụ: Nhà rất rộng, phố vắng người, chỉ có hai chú cháu ngồi với nhau mà
anh ta cứ nói thầm thầm thì thì như sợ người ngoài đồng nghe thấy
[30, tr.95]
- Các từ láy miêu tả âm thanh của động vật: cóc cách, ro ro, chòm chõm,…
Ví dụ: Không có nhiều muỗi nhưng chỉ một con lọt vào ống chiếu kêu ro ro
là hết ngủ [30, tr.108]
b3 Các từ láy có tính tượng hình
- Các từ láy miêu tả hình dáng, dáng vẻ con người: lom khom, lợt lạt, nhũn nhặn, nhàn nhã, thong thả, điềm đạm, thiết tha, ngơ ngác,…
Ví dụ: Tôi lặng lẽ ngắm nghía ông anh rể ngồi lom khom trên ghế, cây gậy
kẹp trong đùi, vừa nhìn vợ làm cơm, vừa kể chuyện Đông Tây kim cổ, chuyện vui và cả chuyện buồn, giọng kể ngọt ngào, âu yếm, còn bà vợ chạy lui chạy tới, quay trước quay sau, hai bàn tay không lúc nào ngưng nghỉ, chốc lại quay mặt về phía ông chồng, hỏi một cách thơ ngây, một cách nũng nịu
Trang 23[30, tr.148]
- Các từ láy miêu tả dáng vẻ của sự vật: lừng lững, lấp ló, méo mó, lốm đốm, sần sùi,…
Ví dụ: Có mấy người đàn ông còn trẻ, mặt rất dài, dáng rất cao, ra vào lừng
lững như không có việc gì làm Và một người đàn bà đã đứng tuổi, quanh
năm mặc áo dài đen, tó búi, mặt rất đẹp và buồn đứng lấp ló phía trong
[30, tr.76]
c Nhận xét
Từ láy là từ mang màu sắc tu từ cao trong tiếng Việt nhằm diễn đạt một cách tối đa điều mà nhà văn muốn nói tới Trong quá trình sáng tạo nghệ thuật Nguyễn Khải đã vận dụng rất thành công giá trị nghệ thuật của các từ láy vào trong truyện ngắn của mình Ông vận dụng linh hoạt các lớp từ láy giàu màu sắc tu từ Sự vận dụng linh hoạt các lớp từ láy giàu màu sắc, âm thanh và hình ảnh đã giúp cho câu văn của Nguyễn Khải giàu tính nhạc điệu Chúng ta phải
nhận thấy rằng, lớp từ láy trong tập truyện Hà Nội trong mắt tôi xuất hiện rất
nhiều và mang nhiều sắc thái biểu cảm khác nhau Các từ láy chỉ tính cách của con người như: lèo tèo, nhã nhặn, thẳng thắn, bướng bỉnh, sắc sảo, hoạnh họe, ngây ngô, nhàn nhã,…Những từ chỉ tâm trạng thái độ của con người: lẩy bẩy, ngú ngớ, mếu máo, vui vẻ, phấp phỏng,…Những từ láy chỉ hành động của con người: xin xỏ, van vỉ, gạ gẫm, thầm thầm thì thì, hề hề, hể hả,…Chính hệ thống từ láy này, chứng tỏ Nguyễn Khải rất tinh vi trong việc hiểu biết đặc điểm tính cách của mỗi con người
Nguyễn Khải sử dụng khá nhiều lớp từ láy để làm chất liệu ngôn từ khi
xây dựng lên văn bản nghệ thuật Hà Nội trong mắt tôi Các từ láy có tác dụng
làm cho câu văn bớt đi phần nào khô khan, tẻ nhạt Mà nó tưới thêm vào đó một luồng hơi nước làm mát rượi ngôn ngữ của văn xuôi Từ láy có vai trò rất
Trang 24lớn làm cho ngôn từ của tập truyện ngắn mềm mại hơn, mang sắc thái biểu cảm cao hơn
2.1.1.3 Thành ngữ
Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm, được sử dụng như một đơn vị sẵn có [18, tr.32]
a Khảo sát, thống kê, phân loại
Qua khảo sát, thống kê 10 truyện ngắn trong tập truyện Hà Nội trong mắt tôi, chúng tôi đã thu được 9 thành ngữ
Ví dụ 1: Chị sống lầm lũi, nhẫn nại với một niềm tin dai dẳng: “Sông
có khúc người có lúc, không ai sướng được mãi, cũng không ai phải khổ mãi
Miễn là các con phải được ăn học” [30, tr.58]
Ví dụ 2: Cụ bảo: Tôi nghiệm ra cứ dăm ba chục năm hay năm bảy chục năm lại có một lần thay đổi thời thế để chia lại của cải và danh vị trong thiên
hạ, để có dịp ơn đền oán trả cho thuận với cái lẽ chuyển vận bù trừ của trời
đất [30, tr.67]
Ví dụ 3: Mấy chục đời đều có người làm quan, oán nhiều ơn ít, lấy
đâu ra phúc [30, tr.67]
Ví dụ 4: Bây giờ chúng nó thích kiếm tiền một cách táo tợn, nguy hiểm,
thắng thì làm vua thua thì đi tù, ăn cơm muối hoặc chết cũng chả sao
[30, tr.90]
Ví dụ 5: Chị Đại cười: giẫy nẩy như đỉa phải vôi Mặt mũi đỏ nhừ đỏ
tử Gái chưa chồng nói chuyện hôn nhân ai chả thế [30, tr 138]
Ví dụ 6: Giàu vì bạn sang vì vợ, có một bà vợ như tôi ông chồng cũng
hóa hèn, chị nói thế [30, tr.152]
Trang 25Ví dụ 7: Chỉ trong có một tháng người chị rộc hẳn, già hẳn, chị nhìn nó
khóc: “Con thẳng da bụng mẹ chùng da mắt, nuôi con hai chục năm trời
mà con trả công cha nghĩa mẹ thế này ư?”[30, tr.159]
Ví dụ 8: Ai đánh giá, không có tác giả, không có địa chỉ, chỉ biết một lúc nào đó dư luận chợt bùng lên để đánh giá về một con người, là bia miệng
đấy, trăm năm bia đá thì mòn, nghìn năm bia miệng… [30, tr.36]
b.Nhận xét
Nguyễn Khải đã rất thành công khi sử dụng các thành ngữ vào việc xét
nó là nguồn ngữ liệu để xây dựng nên văn bản nghệ thuật Hà Nội trong mắt tôi Thành ngữ có một vai trò rất lớn Nó là phương tiện nhằm khắc phục sự
hữu hạn của các từ và tính không hàm súc của lời nói Thành ngữ phản ánh hiện thực khách quan thông qua hình ảnh vật thực, việc thực nên có tính hình tượng và tính cụ thể Chính vì thành ngữ mang đặc điểm riêng Nên khi Nguyễn Khải vận dụng vào để xây dựng nên tập truyện ngắn thì nó góp phần tạo nên tính logic cao Mỗi một thành ngữ, nó đều mang tính biểu cảm, thường kèm theo sau một thái độ cảm xúc, một thái độ đánh giá
Trang 26So sánh tu từ hay so sánh nghệ thuật là cách công khai đối chiếu các đối tượng khác loại có cùng nét giống nhau nào đó nhằm diễn tả một cách có hình ảnh và biểu cảm đặc điểm của đối tượng [18, tr 33]
a Khảo sát, thống kê, phân loại
Nhìn vào bảng thống kê, chúng ta thấy rằng: trong các kiểu so sánh tu
từ mà chúng tôi khảo sát thì kiểu so sánh A như B được Nguyễn Khải sử dụng nhiều nhất: 31 lần, chiếm tỉ lệ 68,9 % Kiểu so sánh A là B sử dụng 14 lần chiếm tỉ lệ 31,1 % Trong truyện ngắn này, nhà văn không sử dụng hai kiểu so sánh A// B và B bao nhiêu A bấy nhiêu
a.1 So sánh A như B
Qua thống kê, kiểu so sánh A như B chiếm tỉ lệ lớn nhất trong các kiểu
so sánh tu từ chiếm 68,9 % Kiểu so sánh A như B gồm có 31 lượt, trong đó
có 29 lần A như B, còn 1 lần A tựa B, 1 lần A tựa như B
Khi khảo sát kiểu so sánh tư từ, chúng tôi nhận thấy rằng: các kiểu so sánh có vai trò rất lớn tạo nên sự thành công cho truyện ngắn của Nguyễn Khải và mang đậm cá tính của nhà văn Nguyễn Khải đã so sánh những sự vật
Trang 27với nhau và so sánh con người với nhiều đặc điểm và tính cách rất đa dạng và phong phú
Ví dụ 1: Con cái đã trưởng thành vẫn bắt ở chung, ăn chung như trại
lính.[30, tr.10]
Ví dụ 2: Chị bán hết những gì có thể bán được, bỏ việc làm, thức cả ngày và cả đêm, quên ăn, quên uống, người khô đét, mắt ngầu đỏ, môi trắng
lợt, ngón tay dài ra như móng vuốt để níu giữ bằng được con gái lại
[30, tr.20]
Ví dụ 3: Bà quỳ một bên giường nhìn chằm chằm vào giường mặt đã
vàng như sáp của chồng ruột đau như xé nhưng vẫn không khóc được
[30, tr.37]
Ví dụ 4: Có một tiểu đồng, gọi thế thôi, chứ ông ta cũng phải năm chục
tuổi, đầu cạo trọc như sư, mặc quần áo nhuộm nâu đón khách ở nhà dưới rồi
mới chạy lên hỏi cụ, hoặc cụ xuống tiếp, hoặc cụ cáo bệnh [30, tr.40]
Ví dụ 5: Khi bà mất, Hiền vuốt mắt cho bà rồi cô ngồi lặng lẽ ngắm
nhìn rất lâu cái gương mặt đã nhỏ quắt lại như quả ô mai khô nước mắt đầm
đìa [30, tr.83]
Ví dụ 6: Nhưng không thấy mệt, không thấy sợ, tiền nhiều quá, tiền
vào như nước lụt, cứ mê đi vì tiền [30, tr 86]
Ví dụ 7: Cái chết còn dám coi nhẹ tựa như lông hồng [30, tr.97]
Ví dụ 8: Cái váy cũng rất rộng, phủ kín hai bàn chân như cái nơm [30,
tr 106]
Ví dụ 9: Mặt nhỏ như hạt đậu, thân người như que diêm
[30, tr.110]
Ví dụ 10: Một cây mai trắng, trời càng rét, hoa càng nhiều, trắng như
tuyết, không có một cái lá nào, không còn một chút tục nào ngạo nghễ với gió
bấc, nó là Hàn Mai [30, tr.42]
Trang 28Ví dụ 11 Đàn ông nhà này như cái ngọn, đàn bà nhà này như cái
gốc.[30, tr.69]
Ví dụ 12: Năm 16 tuổi, Hiền, con ông chú tôi đẹp mảnh mai và đài các
như thiếu nữ trong tranh Tô Ngọc Vân.[30, tr.74]
a 2 So sánh A là B
Chúng tôi cũng đã thống kê được kiểu so sánh A là B xuất hiện 14 lần, chiếm tỉ lệ 31,1 %
Ví dụ 1: Vì bà là cái túi khôn của tôi mà [30, tr.15]
Ví dụ 2: Bà bảo, con dâu là vàng trời cho, mình không có công đẻ ra
nó, cũng không nuôi nó ăn học ngày nào, bỗng dưng nó về nhận mình là mẹ, sinh con đẻ cái cho dòng họ, cáng đáng mọi việc từ trẻ đến già, không lễ sống
nó thì thôi còn hoạch họe nỗi gì [30, tr.9]
Ví dụ 3: Đồng tiền vừa là đầy tớ, vừa là ông chủ, vừa là bạn đường
vừa là giặc cướp, các con anh biết chọn cách nào? [30, tr.14]
Ví dụ 4: Chị là vàng mười, là kim cương, là báu vật, là sự may mắn
lớn nhất mà chồng con chị có được ở cõi đời này [30, tr.21]
Ví dụ 5: Dòng đời vẫn cứ là mạch nước ngầm trong suốt, vô nhiễm để
nuôi sống tinh hoa của dân tộc [30, tr.38]
b Nhận xét
Qua khảo sát các biện pháp tu từ trong tập truyện ngắn Hà Nội trong mắt tôi, chúng tôi nhận thấy thế giới hình ảnh âm thanh và các đối tượng được
đem ra so sánh với con người được nhà văn Nguyễn Khải sử dụng một cách
cụ thể và sinh động Trong đó có rất nhiều hình ảnh, âm thanh quen thuộc đối với cuộc sống của con người Những hình ảnh được đưa ra so sánh đa dạng,
Trang 29nhưng một số hình ảnh, âm thanh mà Nguyễn Khải thường hay sử dụng trong
tập truyện như sau: móng vuốt [30, tr.20], quả ô mai [30, tr.83], tuyết
[30, tr.42], cái bóng [30, tr.136], cái nơm [30, tr.106], lông hồng [30, tr.99],
nước lụt [30, tr.86], cái túi khôn [30, tr.15], vàng trời cho [30, tr.9], đầy tớ, ông chủ, bạn đường, giặc cướp [30, tr.14], vàng mười, kim cương, báu vật
[30, tr.21], sáp [30, tr.37], mạch nước ngầm [30, tr.38],…
Nguyễn Khải đã sử dụng rất nhiều âm thanh, hình ảnh quen thuộc với cuộc sống sinh hoạt của con người Những hình ảnh của sự vật được nhà văn dùng để so sánh cũng nhằm làm rõ hơn cho hoạt động, tính cách, trạng thái tâm lí của con người Việc tác giả sử dụng so sánh tu từ góp phần thể hiện nét độc đáo cho tập truyện ngắn Vì so sánh tu từ là một biện pháp rất hiệu quả để miêu tả các đối tượng sự vật Nhờ các hình ảnh dùng để so sánh mà các ý tưởng, các yếu tố trừu tượng được cụ thể hóa và trở nên gợi cảm Khi nhà văn
sử dụng so sánh tu từ vào việc tạo dựng nên đứa con tinh thần của mình thì làm cho hình ảnh câu văn thêm sinh động, hấp dẫn và có sức biểu cảm cao
So sánh tu từ còn giúp cho tập truyện bớt đi khô khan và nhà văn có thể cụ thể hóa được các đối tượng để giúp cho người đọc hiểu rõ hơn, dễ xâm nhập vào tác phẩm hơn Nếu như thiếu đi yếu tố so sánh tu từ thì một tác phẩm văn học
sẽ thiếu đi một bước đi để giúp tác phẩm đó đi tới bến bờ của sự thành công
Vì vậy, Nguyễn Khải đã rất khóe léo khi vận dụng so sánh tu từ vào trong tập
truyện Chính vì thế mà Hà Nội trong mắt tôi là một tập truyện ngắn đã góp
phần tạo nên thành công trên con đường nghiệp văn của Nguyễn Khải
2.1.2.2 Nhân hóa
Nhân hóa là cách lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của con người để biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của đối tượng không phải con người khiến cho đối tượng đó trở nên sinh động hơn, gần gũi hơn [18, tr.35]
Trang 30Ví dụ 1: Tiền là quân của họ Một đội quân giặc cướp, sẵn sàng tàn phá
tất cả, tiêu diệt tất cả để đạt được cái đích phù phiến của chủ nó [30, tr.12]
Tiền là một vật vô tri vô giác Nó là vật chất, của cải của con người được dùng để trao đổi mua bán trong xã hội Nhưng ở đây, đồng tiền lại được nhân hóa như con người, có sức mạnh, có tham vọng và hành động như một con người
Ví dụ 2: Cái thứ hoa nịnh đời, nịnh người đến thế thì trọng làm quái gì
[30, tr.43]
Hoa là một loại thực vật, có tác dụng tỏa hương thơm làm cho không khí môi trường xanh – sạch – đẹp Nhưng ở đây, hoa lại được nhân hóa và mang đức tính của con người Hoa có tính nịnh, lấy lòng người khác, đó là một đức tính rất dễ nhận thấy ở con người Như vậy, hoa là hình ảnh nhân hóa mang tính cách của con người
Ví dụ 3: Lan nó có chịu hầu ai bao giờ [30, tr.43]
Hoa lan là một loại thực vật nhưng đã được nhân hóa giống như con người Hành động hầu đó là hành động của con người, quy lụy, phục tùng người khác Một loại thực vật không thể có được những hành động tính cách
đó Nên hình ảnh hoa lan là hình ảnh nhân hóa mang tính cách của con người
Ví dụ 4: Cũng chẳng phải lo xa lắm đâu Ông Tạo vốn thích đùa ác mà
[30, tr.74]
Ông Tạo mà Nguyễn Khải sử dụng ở đây là tạo hóa Mà tạo hóa là vật
vô tri vô giác, không thể nắm bắt được, nó là một khái niệm trừu tượng Nhưng tạo hóa đã được nhân hóa lên có hành động, tính cách của một con người là thích đùa ác
2.1.2.3 Hoán dụ
Trang 31Hoán dụ tu từ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi của đối tượng này gọi tên đối tượng kia dựa vào mối quan hệ logic khách quan giữa hai đối tượng, nhằm nhấn mạnh đặc điểm của đối tượng đang được thể hiện
[18, tr.36]
Ví dụ 1: Một cái đầu hơi lạnh, lắm lúc tôi nghĩ về bà như thế [30, tr.7]
Cái đầu là nơi chứa bộ óc, điều khiển tư duy, suy nghĩ nên được dùng theo nghĩa lí trí
Ví dụ 2: Bàn tay thương vợ, bàn tay yêu con, bàn tay nắm bàn tay của
bạn bè đếm mãi tiền nhiễm độc lúc nào không hay [30, tr.12]
Bàn tay con người: đây là hoán dụ xây dựng từ quan hệ giữa vật sở thuộc với chủ thể Bàn tay đây chính là con người có hành động, tình cảm
Ví dụ 3: Chỉ cần một cái đầu thôi Duy nhất có một cái đầu là hắn
[30, tr 29]
Cái đầu con người: đây là hoán dụ xây dựng từ quan hệ giữa vật sở thuộc với chủ thể Cái đầu hoán dụ nói về con người Lộc, một con người thông minh, mưu mẹo và đầy xảo quyệt
2.2 Câu văn của Nguyễn Khải
2.2.1 Các kiểu câu giàu sắc thái tu từ trong văn Nguyễn Khải
Các nhà ngữ pháp đã dựa vào tiêu chí khác nhau để phân chia câu tiếng Việt Câu phân loại theo tiêu chí cấu trúc gồm: câu đơn, câu phức, câu ghép Câu phân loại theo mục đích phát ngôn gồm 4 kiểu câu: câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán Câu phân loại theo tiêu chí chức năng gồm: câu hai thành phần, câu một thành phần, câu đặc biệt
Luận văn này, dưới góc độ của phong cách học, chúng tôi chỉ đi vào khảo sát một số kiểu câu có đặc tính tu từ nổi bật: câu dưới bậc, câu cảm thán, câu hỏi tu từ, câu có tình thái ngữ và kiểu câu danh là danh
Bảng 2.3
Trang 32Các kiểu câu Số lượt dùng Tỉ lệ (%)
Qua bảng khảo sát thống kê, chúng tôi đã khảo sát được 4 kiểu câu
trong 10 truyện ngắn trong tập truyện Hà Nội trong mắt tôi Câu hỏi tu từ
chiếm tỉ lệ lớn nhất: 38 câu, chiếm tỉ lệ 42,6 % Câu đứng ở vị trí thứ 2 là câu cảm thán 29 câu, chiếm tỉ lệ 32,5 % Câu có tình thái ngữ 13 câu, chiếm tỉ lệ 14,6 %, kiểu câu danh là danh 9 câu, chiếm tỉ lệ 10,2 %
Ví dụ 1: Này, dăm triệu không phải là ít đâu anh nha! [30, tr.6]
Câu nói này là người cô nói với cháu mình, khi họ đang tranh luận về chuyện buôn bán Bà tỏ thái độ nhắc nhở người cháu
Ví dụ 2: Chớ có ngạc nhiên! Rác của Hà Nội đấy! [30, tr.15]
Câu này là của người đi xe Dream cùng đường với nhân vật tôi, khi mà hắn ta nhắc đường cho ông cụ xong thì quay sang nói với nhân vật tôi như vậy Tức có nghĩa là ông cụ ở đây chính là rác của Hà Nội hiện đại Câu thể hiện thái độ khinh bỉ
Ví dụ 3: Chị ôm lấy con gái bất hạnh, gào lên: Trời ơi, người ta thì được cháu còn tôi thì mất con! [30, tr.20]
Trang 33Câu này thể hiện thái độ đau khổ của người mẹ khi con mình đang trong tình trạng nguy kịch
Ví dụ 4: Con em họ tôi được mắt thấy tai nghe ông đập bàn, chỉ tay vào mặt vợ và quát: Con ác phụ! [30, tr.53]
Câu cảm thán này là chỉ thái độ ghét bỏ người vợ của người chồng, nó được thể hiện ở một thái độ hậm hực, khó chịu thể hiện mức độ dồn nén qua câu chửi bới
Ví dụ 5: Lê Đạt bảo vợ Trần Dần: Bà phải bắt ông ấy tập đi chứ!
nghệ thuật Tác dụng của câu cảm thán là làm cho tập truyện ngắn Hà Nội trong mắt tôi sinh động hơn ở chỗ nhiều trạng thái cảm xúc được bộc lộ Các
nhân vật thể hiện trực tiếp hay gián tiếp thái độ của mình qua câu nói một cách có dụng ý nghệ thuật Câu cảm thán với một mục đích duy nhất là thể hiện thái độ, cảm xúc nên câu văn thêm sức hấp dẫn hơn Nó góp phần rất lớn trong việc giúp người đọc hiểu được nội dung của tập truyện
2.2.1.2 Câu hỏi tu từ
Câu hỏi tu từ còn được gọi là câu hỏi khẳng định, tức là dùng hình thức câu hỏi nhưng mục đích của người nói là để khẳng định điều đang nói ra ( chứ
Trang 34không nhằm yêu cầu được trả lời) Khảo sát 10 truyện ngắn trong tập truyện
Hà Nội trong mắt tôi, chúng tôi đã khảo sát được nhà văn đã sử dụng 38 câu
hỏi tu từ
Ví dụ 1: Bà cụ cười: Anh đã bắt đầu có con mắt thương mại rồi đấy nhỉ? [30, tr.5]
Khi người cô ruột nói với người cháu mình trong một lần đến thăm và
bà đã hỏi anh đã bắt đầu có con mắt thương mại rồi đấu nhỉ? Nhưng câu hỏi này không cần phải để người cháu trả lời, mà đây là câu hỏi nhằm khẳng định của người cô là người cháu đã tiến bộ trong cách nhìn nhận về kinh tế
Ví dụ 2: Trở lại câu chuyện cũ, tại sao bà cụ không chịu bán nhà, chia tiền cho các con để họ lập nghiệp riêng? [30, tr.10]
Nhân vật tôi đưa ra một câu hỏi nhưng không cần phải trả lời, mà đây
là một câu hỏi khi nhân vật tôi đặt ra cũng đã biết được câu trả lời Bà cụ là một con người rất trọng nề nếp, gia phong nên bà muốn con cái sống tập trung, đoàn kết và tự bản thân mình kiếm sống bằng năng lực, chứ không được dựa giẫm vào tài sản của tổ tiên để lại
Ví dụ 3: Các con thì biết, tôi nghĩ thế, nhưng anh Phúc của tôi liệu có biết không? [30, tr.21]
Nhân vật tôi hỏi mà không cần phải có câu trả lời của người bạn của mình là anh Phúc Câu hỏi đã hàm ý trả lời khẳng định là người chồng không thương, trân trọng người vợ của mình
Ví dụ 4: À, bố đã yếu rồi nên nhận việc về nhà làm, con không thấy bố vẫn dịch sách đó sao? [30, tr.56]
Người bố bị oan và đứa con khi nghe mọi người nói là bố là tội phạm của nhà nước, chống đối nhà nước thì chạy về nhà hỏi mẹ và người mẹ đã trả lời với con bằng hình thức là một câu hỏi, nhưng câu hỏi này không cần