Chất lượng giảng dạy và học tập môn Ngữ văn do nhiều yếu tố quyết định, chi phối: Chương trình, sách giáo khoa, giáo án, phương pháp và những hình thức tổ chức dạy học của giáo viên....
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
cho học sinh Trung học phổ thông
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập dưới mái trường Đại Học Sư Phạm suốt bốn năm qua, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm dìu dắt của các quý thầy (cô) trong khoa Ngữ văn và nhà trường Em xin gửi đến quý thầy (cô) lòng biết ơn sâu sắc nhất Những kiến thức mà em nhận được từ các thầy cô đã giúp em có một nền tảng vững chắc để em có thể tự tin hoàn thành khóa luận của mình
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Đăng Châu, người đã trực tiếp hướng dẫn, góp ý, động viên, giúp đỡ tận tình em trong suốt thời gian em thực hiện luận văn này
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy (cô) giáo đang giảng dạy tại khoa Ngữ văn – ĐHSP – ĐHĐN Bên cạnh đó cũng không thể không kể đến
sự giúp đỡ, động viên về vật chất cũng như tinh thần của bạn bè, gia đình, người thân Chính những sự quan tâm này đã tiếp thêm cho em nghị lực, giúp
em hoàn thành tốt luận văn
Trang 3Và cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới quý thầy (cô) trong hội đồng phản biện đã nhận xét, đánh giá giúp em hoàn thiện luận văn của mình một cách tốt nhất
Sinh viên thực hiện Nguyễn Duy Tình
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đề tài này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Đăng Châu (Giảng viên đang giảng dạy tại khoa Ngữ văn – ĐHSP – ĐHĐN), nội dung đề tài không sao chép của người khác Nếu
vi phạm tôi xin chịu hoàn toàn về trách nhiệm
Đà Nẵng, ngày 10, tháng 5 năm 2012
Sinh viên kí tên
Nguyễn Duy Tình
Trang 4QUY ƯỚC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 8
1 Lý do chọn đề tài 8
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu .9
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
3.1 Đối tượng nghiên cứu 15
3.2 Phạm vi nghiên cứu 15
4 Phương pháp nghiên cứu: 15
4.1 Phương pháp tổng hợp, phân tích 15
4.2 Phương pháp so sánh, đánh giá và nhận xét 15
4.3 Phương pháp tìm hiểu, thu thập thông tin 15
4.4 Phương pháp khái quát hóa các kinh nghiệm giáo dục tiên tiến 15
5 Bố cục của khóa luận 15
NỘI DUNG 17
CHƯƠNG MỘT: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 17
Trang 61.1 Nội dung, phương pháp dạy học và các hình thức tổ chức dạy học môn Ngữ
văn trong nhà trường THPT 17
1.1.1 Nội dung dạy học môn Ngữ văn ở nhà trường THPT 17
1.1.2 Các phương pháp pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học môn Ngữ văn 20
1.1.2.1 Về khái niệm phương pháp dạy học và các hình thức tổ chức dạy học 20
1.1.2.2 Các phương pháp pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học môn Ngữ văn 22
1.1.3 Mối liên hệ ba bình diện trong việc xác định mục tiêu dạy học môn Ngữ văn ở nhà trường THPT 27
1.2 Vấn đề tạo hứng thú học tập cho học sinh 29
1.2.1 Thế nào là hứng thú học tập môn Ngữ văn? 29
1.2.2 Đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học - Một yêu cầu đổi mới dạy học Ngữ văn 32
CHƯƠNG HAI: BIỆN PHÁP GÂY HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN NGỮ VĂN CHO HỌC SINH THPT 34
2.1 Đa dạng hóa hình thức tổ chức dạy học phân môn Văn học 34
2.1.1 Chính khóa 34
2.1.1.1 Hình thức tổ chức dạy học theo nhóm trong phân môn Văn học 34
2.1.1.2 Hình thức dạy học Lông ghép trò chơi đối với phân môn Văn học 42
2.1.2 Các hình thức ngoại khóa 45
2.1.2.1 Giới thiệu về hoạt động ngoại khóa văn học 45
2.1.2.2 Các hình thức ngoại khóa Văn học 46
2.1.2.3 Đánh giá về hoạt động ngoại khóa văn học 48
2.2 Đa dạng hóa hình thức tổ chức dạy học phân môn Tiếng Việt 49
2.2.1 Chính khóa 49
2.2.1.1 Hình thức diễn giảng: 49
2.2.1.2 Hình thức đàm thoại 50
2.2.1.3 Hình thức đọc sách giáo khoa 50
Trang 72.2.1.4 Hình thức làm bài tập tiếng Việt 50
2.2.1.5 Hình thức dạy học lồng ghép các trò chơi 51
2.2.2 Các hình thức ngoại khóa 52
2.2.2.1 Yêu cầu về mặt kĩ năng trong việc tổ chức HĐNK phân môn Tiếng Việt: 52
2.2.2.2 Những hình thức và nội dung ngoại khoá cụ thể 55
2.2.2.3 Đánh giá về HĐNK phân môn Tiếng việt 59
2.3 Đa dạng hóa hình thức dạy học phân môn Làm văn 60
2.3.1 Chính khóa 60
2.3.1.1 Dạy học lý thuyết về Làm văn 60
2.3.1.2 Tổ chức dạy học thực hành làm văn 62
2.3.2 Các hình thức ngoại khóa 65
2.3.2.1 Hoạt động thường xuyên 65
2.3.2.2 Hoạt động không thường xuyên 66
CHƯƠNG BA: THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN KHI ĐA DẠNG HÓA CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG HIỆN NAY 69
3.1 Thuận lợi 69
3.1.1 Về quản lý chuyên môn và chủ trương không ngừng đổi mới nhằm nâng cao chất lượng dạy học của Bộ GD-ĐT 69
3.1.2 Về phương tiện, thiết bị dạy học 71
3.2 Khó khăn 71
3.2.1 Về phía GV 71
3.2.2 Về phía học sinh 72
3.2.3 Về phương tiện, thiết bị dạy học 74
3.3 Kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy – học môn Ngữ văn 74
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vấn đề dạy học môn Ngữ văn là một trong những vấn đề quan trọng trong việc giáo dục và đào tạo con người, mà đối tượng ở đây là các em học sinh Nhưng một thực tế chúng ta thấy rằng các em chỉ quan tâm học Ngoại ngữ, Tin học và các môn khoa học tự nhiên Nhưng nếu học sinh thực sự biết khám phá, hiểu sâu và lĩnh hội hết những giá trị tư tưởng cũng như nghệ thuật của các tác phẩm văn học, có được những kiến thức về ngôn ngữ, những kĩ năng làm một bài văn sáng tạo và độc đáo Chắc hẳn các em cũng có thể nhận thấy những chức năng đặc thù của môn Ngữ văn trong việc bồi đắp tâm hồn, hình thành nhân cách cho các em, hiểu sâu hơn về tiếng Mẹ đẻ… Văn học trang bị những cảm xúc nhân văn, giúp con người hướng tới Chân - Thiện - Mỹ Nhờ
có Văn học mà đời sống tinh thần của con người ngày càng giàu có, phong phú, tinh tế hơn Tâm hồn trở nên bớt chai sạn, thờ ơ, bàng quan trước những
số phận, cảnh đời diễn ra xung quanh mình hàng ngày, trước thiên nhiên và tạo vật Môn Ngữ văn là môn học trau dồi năng lực thẩm mỹ nghệ thuật, trong môi trường giao tiếp của con người Đó là thế giới có ý nghĩa xã hội thẩm mĩ, con người có thể vươn tới các giá trị và ý nghĩa văn hóa mà ngôn ngữ làm cơ
sở nền tảng Điều này càng quan trọng khi chúng ta đang sống trong guồng quay hối hả của cuộc sống hiện đại
Chất lượng giảng dạy và học tập môn Ngữ văn do nhiều yếu tố quyết định, chi phối: Chương trình, sách giáo khoa, giáo án, phương pháp và những hình thức tổ chức dạy học của giáo viên Trong đó, đổi mới tổ chức hình thức dạy học đóng vai trò quan trọng và chúng ta cần đa dạng các hình thức dạy học để gây hứng thú học tập cho hoc sinh Có thể khẳng định, đổi mới phương pháp dạy học hay cụ thể là trong việc đổi mới và đa dạng các hình thức dạy học đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay Cần khôi phục động lực học tập, khơi dậy niềm say mê, tình yêu đối với môn học Ngữ văn của học
Trang 9sinh bằng những giờ dạy thực sự hấp dẫn, lôi cuốn trong các giờ học chính
khóa và tổ chức dạy học ngoại khóa Thực hiện đề tài Đa dạng hóa hình thức
tổ chức dạy học môn Ngữ văn nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh Trung học phổ thông Chúng tôi hy vọng góp thêm những hiểu biết của mình về
phương pháp dạy học nói chung và tổ chức các hình thức dạy học nói riêng, mong muốn góp một phần bé nhỏ của mình vào sự nghiệp giáo dục cũng như công tác giảng dạy của của người giáo viên
“Giáo dục không nhằm mục tiêu nhồi nhét kiến thức mà là thắp sáng niềm tin” (Education is not the filling of a pail, but the lighting of a fire) W
B Yeats
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong cuốn Phương pháp dạy tiếng Việt do GS Lê A chủ biên (1997)
Đã giới thiệu về những phương pháp dạy học đối với phân môn Tiếng Việt trong môn học Ngữ văn ở chương trình THPT Tác giả viết “Phương pháp phải được thể hiện thông qua các hình thức của nó Một hình thức có thể được
sử dụng cho nhiều phương pháp khác nhau…” [1, tr 74] Tác giả đã giới thiệu
một số hình thức trong dạy học như: Hình thức diễn giảng, hình thức đàm thoại, hình thức đọc sách giáo khoa…Qua tài liệu này, chúng tôi có được
những hiểu biết về một số hình thức dạy học áp dụng đối với phân môn Tiếng Việt trong việc dạy học bộ môn Ngữ văn (Trong chương trình dạy học chính khóa) ở nhà trường THPT
Tác giả Vũ Quốc Anh có bài viết: “Tạo ra năng lực tự học sáng tạo của
HS THPT” GS Phan Trọng Luận với bài: “Dạy văn để HS tự học văn” Tại
Hà Nội năm 1998, một cuộc hội thảo khoa học với tiêu đề “Nghiên cứu tự học – tự đào tạo” đã được tổ chức với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu,
nhiều giáo sư đầu ngành Trong cuộc hội thảo này, nội dung các bài viết, các bài phát biểu đều nhấn mạnh tầm quan trọng của tự học và có nêu lên một số hình thức dạy học cần áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả môn học
Trang 10Trịnh Xuân Vũ (2002) với cuốn Phương pháp dạy - học văn chương theo hướng tích cực, hiện đại ở bậc Trung học NXB: Đại học quốc gia TP HCM Đã giới thiệu về những phương pháp dạy học và qua đây chúng ta có
thể tìm hiểu về một số hình thức dạy học từ những phương pháp dạy học theo hướng tích cực Tác giả có viết: “Cách mạng về phương pháp sẽ hình thành một hệ phương pháp riêng cho môn văn chương mà chức năng dạy học và giáo dục của nó sẽ cùng xảy ra trong một quá trình thống nhất khách quan Đó
là hệ phương pháp tích cực – hiện đại trong dạy học văn chương ở nhà trường phổ thông trung học…” [26 ,tr 8] “trong giờ học văn chương ở nhà trường phổ thông trung học, thầy không còn là người cung cấp kiến thức có sẵn cho trò để thi cử và học thuộc lòng một cách thụ động Để tạo ra sự vận hành của
hệ phương pháp riêng theo những định hướng khoa học thì vai trò của thầy là
tổ chức, định hướng, điều khiển từ khâu soạn giáo án đến khâu lên lớp thực
hiện giờ học văn chương ở nhà trường phổ thông trung học”[27, tr 155]
Cuốn “Học và dạy cách học” do GS Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên, NXB
ĐHSP, xuất bản năm 2002 là một trong những cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam viết một cách có hệ thống về việc “học” và “dạy cách học” Cuốn sách này đã thực sự là tài liệu bổ ích giúp cho việc đổi mới phương pháp dạy và học ở Việt Nam
Nguyễn Hữu Châu trong bài viết đăng trên Tạp chí Thông tin khoa học giáo dục số 114, năm 2005 Tác giả cho rằng: “Hợp tác nghĩa là cùng chung
sức để đạt được những mục tiêu chung Trong các tình huống hợp tác, cá nhân tìm kiếm những kết quả có ích cho họ và cho cả các thành viên của nhóm”
Và tác giả cũng chỉ ra cụ thể: “Học hợp tác là việc sử dụng các nhóm nhỏ để học sinh làm việc cùng nhau nhằm tối đa hóa kết quả học tập của bản thân mình cũng như người khác” Nguyễn Hữu Châu nói rằng, để đạt được sự hợp tác có hiệu quả thì giáo viên phải tạo lập được 5 yếu tố cơ bản trong mỗi bài học, đó là: sự phụ thuộc lẫn nhau mang tính tích cực; trách nhiệm của cá nhân
Trang 11và của nhóm; khuyến khích sự tác động qua lại, tốt nhất là bằng hình thức trực diện; dạy học sinh một số kĩ năng hoạt động liên cá nhân và nhóm nhỏ cần thiết; và quá trình hoạt động nhóm
Còn Vũ Lệ Hoa, Trường Đại học sư phạm Hà Nội trong bài viết Sử dụng phương pháp sư phạm tương tác - một biện pháp nâng cao tính tích cực học tập của học sinh đăng trên Tạp chí giáo dục (số 58, tháng 5/2003) Trong bài nghiên cứu này, tác giả Vũ Lệ Hoa đã đưa ra một số điều cần lưu ý khi thực hiện phương pháp sư phạm tương tác trong dạy học để mang lại hiệu quả cao, trong đó đáng chú ý nhất là giáo viên cần phải tổ chức dạy học theo nhóm nhỏ nhằm thiết lập mối quan hệ tích cực giữa học sinh với nhau trong một môi trường thuận lợi Đây sẽ là kiến thức bổ ích để chúng tôi tìm hiểu về việc tổ chức dạy học theo nhóm trong lớp học đối với phân môn Văn học ở nhà trường THPT
Và trong giáo trình Lí luận dạy học của Lê Phước Lộc (Đại học Cần Thơ,
2004), phần nội dung giới thiệu về một số hình thức dạy học thường dùng, tác giả có trình bày sáu vấn đề cơ bản cần phải nắm vững khi dạy học theo nhóm như: khái niệm về kiểu nhóm, sự khác nhau giữa dạy học theo nhóm và dạy học truyền thống, một số kĩ năng giao tiếp, các kiểu học nhóm và cách tổ chức, một số kiểu nội dung bài học có thể tổ chức học hợp tác Bài viết thể hiện sự đầu tư công phu qua nội dung nghiên cứu chắt lọc và hình thức trình bày có tính trực quan cao
Quyển Literature Circles - Voice and Choice in Book Clubs and reading Groups của Harvey Daniels và các cộng sự (Tạm dịch: Vòng tròn thảo luận văn chương, người dịch Nguyễn Thị Hồng Nam, (2005), Đại học Cần Thơ), là tài liệu hữu ích cho việc dạy học tác phẩm văn chương theo hình thức phù hợp nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh Đây là một trong những quyển sách giới thiệu những phương pháp với những hình thức dạy học Ngữ văn tối
ưu Tác giả Harvey Daniels đã nêu ra hàng loạt những hình thức dạy học tích
Trang 12cực, nâng cao hiệu quả học tập Ngữ văn Trong đó, đóng góp đáng trân trọng của nhóm tác giả này là đã thiết kế được những Role Sheets để rèn luyện nhiều năng lực tư duy khác nhau và tạo ra sự phụ thuộc tích cực của các thành viên trong nhóm học sinh Mỗi loại Role Sheets tiêu biểu cho một loại tư duy
mà người học thực sự phải làm khi khám phá, chiếm lĩnh tác phẩm: người liên hệ, người hỏi, người phát hiện những điểm sáng thẩm mĩ, người minh họa, người nghiên cứu, người tóm tắt, người làm giàu vốn từ
Tác giả Harvey Daniels và các cộng sự còn nghiên cứu sự vận dụng những sáng tạo lí thuyết vào giảng dạy ở bậc THCS và THPT Lí thuyết và kết quả vận dụng thực tiễn là những căn cứ tạo sức thuyết phục về kiểu dạy học tác phẩm theo hình thức vòng tròn thảo luận
Tuyển, Nhà xuất bản giáo dục, 2007, có bài viết Dạy học hợp tác nhóm
Ở bài viết này, tác giả khẳng định: Việc tổ chức học tập tập thể, học nhóm là hết sức quan trọng Các em phải hợp tác với nhau, thầy trò phải hợp tác với nhau để hoàn thành nhiệm vụ học tập ngày càng nặng nề trong điều kiện hiện đại Dạy học hợp tác nhóm có lịch sử tự lâu đời Người khởi xướng hình thức dạy học này là nhà triết học cổ đại Socrate Hình thức dạy học này có ưu điểm
là tạo ra những thành công trong học tập; tăng cường khả năng tư duy phê phán; tăng cường thái độ tích cực với các môn học; nâng cao năng lực hợp tác giữa các HS với nhau; tạo ra tâm lí lành mạnh; phát triển và hòa nhập xã hội; yêu thương lẫn nhau; có trách nhiệm thích hợp Và hình thức học hợp tác nhóm có đặc trưng chủ yếu là dùng hội thoại, tranh luận để tìm tòi, phát hiện chân lí Điều này đưa người học đến chỗ tự phát hiện ra cái chưa biết và tự tìm cái cần biết Ý nghĩa quan trọng của hình thức dạy học này là ở chỗ: Người học phải cùng với người dạy làm chủ quá trình lĩnh hội tri thức, sau đó mới có được tri thức, tức là làm chủ được tri thức của bản thân Đóng góp đáng ghi nhận ở bài viết là những suy tư khá sâu sắc của tác giả về vấn đề dạy học hợp tác nhóm như: những tính chất cơ bản của sự hợp tác học tập, quy
Trang 13trình tổ chức dạy học theo phương pháp hợp tác nhóm trong đó có những bước như thành lập nhóm học tập, giải thích mục tiêu và nhiệm vụ bài học cho học sinh, theo dõi và điều chỉnh tiến trình hợp tác nhóm, nhận xét tương tác nhóm
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thu Hiền với đề tài Vận dụng hình thức thảo luận nhóm vào dạy học Ngữ văn ở trường THPT Thới Bình - Khảo sát, đánh giá kết quả, 2007, bảo vệ tại trường Đại học Cần Thơ, đã đưa ra lí thuyết chung về thảo luận nhóm, đặc biệt công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thu Hiền đã thiết kế bài tập nhóm cho hầu hết các tiết dạy ở Học kì I, lớp 10 (Chương trình cơ bản), tác giả luận văn cũng đã xây dựng những tiêu chí đánh giá hiệu quả dạy học theo hình thức thỏa luận nhóm Công trình nghiên cứu này quả là có giá trị thiết thực cho những giáo viên quan tâm đến việc đổi mới
và đa đạng hóa hình thức tổ chức dạy học môn Ngữ văn
GS Phan Trọng Luận (Cùng với các tác giả: Trương Dĩnh, Nguyễn
Thanh Hùng, Trần Thế Phiệt)(2008), đã viết cuốn Phương pháp dạy học Văn
Tác giả đã viết: “Có thể nói một cách giản đơn phương pháp dạy học văn phải giải đáp ba câu hỏi cơ bản: Môn văn là gì? Dạy học văn để làm gì?(Nhiệm vụ môn văn) Dạy học văn như thế nào? (Nguyên tắc, Phương pháp dạy học văn)” [16 ,tr 16] Từ việc tìm hiểu và lĩnh hội những kiến thức mà các tác giả viết đã tạo tiền đề để cho bạn đọc đi vào tìm hiểu về các hình thức dạy học trong mỗi phương pháp dạy học
PGS.TS Nguyễn Thanh Hùng (chủ biên) (2007), Phương pháp dạy học Ngữ văn THPT – Những vấn đề cập nhật, NXB; Nxb: Đại học Sư Phạm – Hà
Nội Tác giả đã viết: “Việc đổi mới phương pháp dạy học học Ngữ văn hiện nay tốt nhất là cố gắng dưới mọi hình thức làm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh theo hướng tự học, thay đổi cách tự học, học có phương pháp theo năng lực”[8, tr 26] Và tác giả đã nói lên suy nghĩ của mình: “Từ lâu, chúng ta đã bàn nhiều, làm nhiều để đổi mới phương pháp dạy học trong nhà
Trang 14trường Trung học Tuy đây đó vẫn còn những vấn đề chưa thống nhất về lí luận và cách làm nhưng không ai không thừa nhận ngọn gió đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học Văn đã khơi lên nhiệt tình trách nhiệm và niềm say mê sáng tạo của anh chị em giáo viên chúng ta” [8, tr 79], “Phương pháp dạy học Văn tác động đến con người Đối tượng của phương pháp này là con người trừu tượng thể hiện trong mục đích giáo dục của chương trình và là con người học sinh cụ thể trong một lớp học, trong một tác phẩm”[8 ,tr 80] Tác giả đã góp thêm những hiểu biết của mình đối với nền giáo dục, mà cụ thể là dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường THPT hướng đến những mục tiêu chất lượng công việc dạy học và hiệu quả được nâng cao
Trên mục Trao đổi của báo Văn nghệ gần đây, xuất hiện một loạt ý
kiến bàn về việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn - một vấn đề tuy đã được nói đến nhiều, song chưa bao giờ hết tính thời sự, nhất là hiện nay, khi những thông tin về việc dạy học, thi cử môn Văn ở nước ngoài không còn xa
lạ, và khi bộ sách giáo khoa Ngữ văn mới được đưa vào giảng dạy trong nhà trường Trong bài báo đăng trên Văn nghệ số 10, 7 - 3 - 2009, GS Trần Đình
Sử nêu thẳng vấn đề: Muốn đổi mới căn bản phương pháp dạy học văn, không
có con đường nào khác là phải trở về với văn bản văn học Tư tưởng ấy được hình thành từ nhận thức của ông về thực trạng dạy học văn trong nhà trường bấy lâu nay: Ấy là kiểu dạy học lấy thế bản thay cho văn bản Thế bản mà Trần Đình Sử nói đến ở đây gồm bài soạn của thầy và các tài liệu tham khảo
đủ loại, đủ kiểu, chất lượng rất khác nhau, đầy rẫy trên thị trường sách hiện nay Xuất phát từ mô hình dạy học lấy học sinh làm trung tâm, coi trọng và đề
cao ý thức chủ thể của học sinh GS Trần Đình Sử đã khẳng định: Trong giờ học, học sinh phải tự mình đọc, tự mình phán đoán, tự mình nêu câu hỏi…; trở về với văn bản chính là để kích thích cho học sinh hoạt động và chỉ thông qua hoạt động thì học sinh mới có dịp trưởng thành Đây là những quan điểm
Trang 15sư phạm khoa học và đúng đắn đối với việc tiếp cận môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông
Trên đây, chúng tôi đã giới thiệu đôi nét về một số bài viết và công trình nghiên cứu tiêu biểu Đây cũng chính là nguồn tư liệu để ngưởi viết tham
khảo và tìm hiểu rõ hơn về việc Đa dạng hóa hình thức tổ chức dạy học môn Ngữ văn nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh THPT Tuy nhiên, ở các
công trình nghiên cứu nêu trên chưa thực sự đi sâu vào việc nghiên cứu vấn
đề đa dạng hóa các hình thức dạy học môn Ngữ văn mà nghiêng nhiều về lý thuyết của quá trình hình thành các phương pháp dạy học, đánh giá về phương pháp và hiệu quả phương pháp nói chung trong quá trình dạy học
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng mà đề tài nghiên cứu là vấn đề Đa dạng hóa hình thức tổ chức dạy học môn Ngữ văn nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh THPT
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu qua những tài liệu về phương pháp dạy học, những cơ sở về lý thuyết và thực tiễn trong những năm qua là tiền đề quan trọng để chúng tôi tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu về các hình thức dạy học nhằm tạo ra kết quả cao trong việc dạy học môn Ngữ văn
4 Phương pháp nghiên cứu:
4.1 Phương pháp tổng hợp, phân tích
4.2 Phương pháp so sánh, đánh giá và nhận xét
4.3 Phương pháp tìm hiểu, thu thập thông tin
4.4 Phương pháp khái quát hóa các kinh nghiệm giáo dục tiên tiến
5 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần phụ lục, tài liệu tham khảo Đề tài được thực hiện chủ yếu qua
ba phần:
Phần 1: Mở đầu
Trang 17NỘI DUNG CHƯƠNG MỘT: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Nội dung, phương pháp dạy học và các hình thức tổ chức dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường THPT
1.1.1 Nội dung dạy học môn Ngữ văn ở nhà trường THPT
Môn Ngữ văn là một khối toàn vẹn bao gồm hai nội dung: Nội dung nền tảng và nội dung bổ trợ thâm nhập vào nhau, gắn bó mật thiết với nhau Nội dung nền tảng hay còn gọi là nội dung kiến thức cơ bản bao gồm những tri thức và kĩ năng thuộc về cơ sở khoa học tạo nên môn học Nội dung nền tảng bao giờ cũng được xây dựng thành một hệ thống kiến thức theo lôgic sư phạm Vì thế nội dung kiến thức cơ bản giữ vai trò trọng tâm trong môn học Nội dung hỗ trợ là kiến thức và kĩ năng, quan niệm của các khoa học liên ngành như Tâm lí học, Lí luận dạy học hiện đại, Văn hóa học, Nghệ thuật học, Ngôn ngữ học…mà ta cần dựa vào để hỗ trợ cho việc chiếm lĩnh nội dung kiến thức nền tảng
Nội dung dạy học Ngữ văn ở trường THPT là sự tích hợp trong dạy học
ba phân môn: Văn học, Tiếng việt, và Làm văn:
Phân môn Văn học có chức năng cung cấp một hệ thống tri thức phổ thông, cơ bản, hiện đại về văn học Việt Nam và thế giới, thông qua việc phân tích tác phẩm văn chương mà bồi dưỡng cho học sinh những giá trị Chân – Thiện – Mỹ Học sinh không chỉ được rèn luyện năng lực phân tích, cảm thụ tác phẩm nghệ thuật, mà còn biết vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống Phân môn Làm văn có chức năng cung cấp hệ thống những khái niệm và những vấn đề lý thuyết, rèn luyện kỹ năng viết văn Ban đầu các đề thi chỉ yêu cầu làm nghị luận văn học, càng về sau, nghị luận xã hội càng được chú trọng
Phân môn Tiếng Việt có chức năng hình thành và rèn luyện cho HS năng lực sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ với bốn kỹ năng cơ bản: đọc, viết, nghe,
Trang 18nói, qua đó mà rèn luyện tư duy Giúp các em có những hiểu biết nhất định (tối thiểu ?) về hệ thống tri thức tiếng Việt và ngôn ngữ để sử dụng tiếng mẹ
đẻ một cách thành thạo, có ý thức Giúp học sinh biết yêu quý tiếng Việt, có ý thức giữ gìn, bảo vệ và phát triển tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách
và bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm…
“Chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông được xây dựng theo nguyên tắc tích hợp Đây là xu hướng chung của nhiều nước trên thế giới có nền giáo dục tiên tiến Thưc hiện tích hợp trong chương trình Ngữ văn là góp phần giải quyết những nghịch lí tồn tại nhiều năm chưa khắc phục được:
Nghịch lí về khối lượng kiến thức và quỹ thời gian có hạn; nghịch lí giữa người học không được học thật sự mà người dạy học thay; nghịch lí giữa kiến thức phổ thông và kiến thức nâng cao ở các lớp học, cấp học; nghịch lí giữa học (nhận thức) và làm (hoạt động); Nghịch lí giữa tính tiếp nối hệ thống của kiến thức và sự trùng lặp kiến thức” [8, tr 36]
Chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông lấy hoạt động học tập của học sinh làm chỗ dựa và cốt lõi của nó là tập trung “học” và “tập” hai năng lực có ý nghĩa thực hành tổng hợp và phức tạp Đó là năng lực đọc hiểu và làm văn Đọc văn và làm văn trở thành trục tích hợp của chương trình thí điểm
Hiện nay, xu hướng tích hợp vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu, thử
nghiệm và áp dụng vào đổi mới chương trình và SGK THPT Chương trình THPT, môn Ngữ văn, năm 2002 do Bộ GD&ĐT dự thảo đã ghi rõ: Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy
Việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Ngữ văn ở trường THPT chẳng những dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các phân môn Văn học, Tiếng Việt, Làm văn cũng như các bộ phận tri thức khác như hiểu biết lịch sử xã hội, văn hoá nghệ thuật mà còn xuất phát
Trang 19từ đòi hỏi thực tế là cần phải khắc phục, xoá bỏ lối dạy học theo kiểu khép kín, tách biệt thế giới nhà trường và thế giới cuộc sống, cô lập giữa những kiến thức
và kĩ năng vốn có liên hệ, bổ sung cho nhau, tách rời kiến thức với các tình huống có ý nghĩa, những tình huống cụ thể mà HS sẽ gặp sau này Nói khác đi,
đó là lối dạy học khép kín “trong nội bộ phân môn”, các bộ phận Văn học, Tiếng Việt và Làm văn vốn có quan hệ gần gũi về bản chất, nội dung và kĩ năng cũng như mục tiêu, đủ cho phép phối hợp, liên kết nhằm tạo ra những đóng góp bổ sung cho nhau cả về lí luận và thực tiễn, đem lại kết quả tổng hợp
và vững chắc trong việc giải quyết những tình huống tích hợp hoặc những vấn
đề thuộc từng phân môn
Nội dung tích hợp của thiết kế giáo án cần tập trung vào những điểm quy
tụ, liên kết nội dung ba bộ phận Văn - Tiếng Việt - Làm văn trong văn bản để xây dựng các tình huống tích hợp và các hoạt động phức hợp tương ứng nhằm giúp HS tích hợp tri thức và kĩ năng trong khi xử lí tình huống Đó có thể là những từ ngữ, câu thơ, đoạn văn, những chi tiết, hình tượng, các sự kiện, quan
hệ, tình huống mà muốn cảm hiểu, cắt nghĩa, đánh giá đòi hỏi phải vận dụng tri thức liên văn bản, phải tổng hợp hiểu biết nhiều mặt về lịch sử, xã hội, tâm
lí, văn hoá, văn học, ngôn ngữ
Như vậy, ở nước ta hiện nay, vấn đề cần hay không cần tích hợp trong xây dựng nội dung chương trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn không đặt ra nữa Bài toán đang đặt ra trong lĩnh vực lí luận và phương pháp dạy học bộ môn là phải tiếp cận, nghiên cứu
và vận dụng dạy học tích hợp vào dạy học Ngữ văn ở THPT nhằm hình thành
và phát triển năng lực cho HS một cách có hiệu quả hơn, góp phần thực hiện tốt mục tiêu giáo dục và đào tạo của bộ môn
Trang 201.1.2 Các phương pháp pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học môn Ngữ văn
1.1.2.1 Về khái niệm phương pháp dạy học và các hình thức tổ chức dạy học
Về Phương pháp dạy học có nhiều khái niệm, như:
1 N.M Veczilin và V.M Coocxunskaia: “Phương pháp dạy học là cách thức thầy truyền đạt kiến thức, đồng thời là cách thức lĩnh hội của trò”
2 Nguyễn Ngọc Quang (1970): “PPDH là cách thức làm việc của thầy
và của trò trong sự phối hợp thống nhất và dưới sự chỉ đạo của thầy, nhằm
làm cho trò tự giác, tích cực, tự lực đạt tới mục đích dạy học”
3 Đặng Vũ Hoạt (1971): “PPDH là tổ hợp các cách thức hoạt động của thầy và trò trong quá trình dạy học, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của thầy, nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học”
4 Đinh Quang Báo (2000): “PPDH là cách thức hoạt động của thầy tạo
ra mối liên hệ qua lại với hoạt động của trò để đạt mục đích dạy học”
5 Trần Bá Hoành (2002): “PPDH là con đường, cách thức GV hướng dẫn, tổ chức chỉ đạo các hoạt động học tập tích cực, chủ động của HS nhằm đạt các mục tiêu dạy học”
Từ các định nghĩa trên có thể nêu ra mấy nhận xét sau:
- PPDH gồm hoạt động của thầy và hoạt động của trò
- Hai hoạt động này có sự tác đông qua lại lẫn nhau
- Trong đó thầy có chức năng chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức hoạt động học tập của trò
- Trên cơ sở đó trò tích cực, chủ động lĩnh hội tri thức cần thiết
- Kết quả tương tác giữa hoạt động của thầy và của trò trong QTDH là đạt được các mục tiêu dạy học đề ra
Vậy có thể nên lên một cách khái quát về khái niệm PPDH?
PPDH là cách thức hoạt động của thầy và trò trong mối liên hệ qua lại, thầy giữ vai trò chủ đạo, điều khiển, chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức các hoạt
Trang 21động học tập của trò một cách tích cực, chủ động nhằm đạt các mục tiêu dạy học đề ra
Quan hệ giữa dạy và học
Trên tinh thần đổi mới PPDH hiện nay, mối quan hệ giữa Dạy và Học được quan niệm như thế nào?
- Là 2 hoạt động: Dạy - Học (Trước đây chỉ quan niệm là hoạt động dạy)
- Hai HĐ này có sự tương tác qua lại với nhau, trong đó GV giữ vai trò chủ đạo, nhưng HĐ học được đặt ở vị trí trung tâm (vai trò tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo của HS)
Mặt bên ngoài và mặt bên trong của PP
Mặt bên ngoài (Hình thức): Các thao tác hành động của GV và HS có thể dễ dàng nhận thấy được trong tiết học Ví dụ: GV thuyết trình, nêu câu hỏi, biểu diễn thí nghiệm,… HS lắng nghe, trả lời câu hỏi,
Mặt bên trong (Nội dung bản chất của PP): Con đường tổ chức hoạt động nhận thức của HS, cách GV tổ chức, dẫn dắt HS lĩnh hội tri thức Ví dụ:
HS nghe giảng và tái hiện lại kiến thức đã học, HS tìm tòi và khám phá để phát hiện và giải quyết vấn đề
Khái niệm hình thức tổ chức dạy học ( HTTCDH ):
Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam thì: “Hình thức tổ chức dạy học là hoạt động dạy học được tổ chức theo trật tự và chế độ nhất định nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học”
Thông thường có những HTTCDH như: lên lớp (dạy học theo hệ thống bài học ở trên lớp), học ở nhà (tự học), thảo luận, thực hành, tham quan, hoạt động ngoại khoá, giúp đỡ riêng (phụ đạo), v.v Ngoài ra còn có các hình thức như diễn giảng, thảo luận, nghiên cứu khoa học; ở các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học, đặc biệt là ở các trường dạy nghề, còn có hình thức thực tập nghề nghiệp Các HTTCDH thường được thực hiện dưới
Trang 22dạng tổ chức dạy học khác nhau: dạng toàn lớp, dạng nhóm và dạng cá nhân…
1.1.2.2 Các phương pháp pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học môn Ngữ văn
Nội dung phong phú của tri thức môn Ngữ văn có tính chất là một môn nghệ thuật, ngôn ngữ và cách hình thành kĩ năng làm văn trong nhà trường đòi hỏi những phương pháp dạy học đặc thù, đa dạng để học sinh lĩnh hội tri thức một cách hệ thống, vững chắc để đạt đến những kĩ năng và thói quen Việc vận dụng tổng hợp các phương pháp dạy học Ngữ văn, giáo viên sẽ giúp học sinh làm chủ được việc chiếm lĩnh tri thức, lĩnh hội được nội dung bài học một cách tốt nhất
Đối với đặc thù bộ môn Ngữ văn, việc phủ nhận những phương pháp dạy học truyền thống, là điều thiếu thoả đáng Nhưng điều đó cũng không có nghĩa chúng ta có quyền cứ giữ lại những gì đã có Một khi học sinh đã quá nhàm chán với kiểu học, hình thức học Ngữ văn mà thầy giảng, trò nghe, ghi chép thụ động, thỉnh thoảng rụt rè trình bày vài ý kiến theo gợi ý của thầy… nảy sinh thực trạng học đối phó, thụ động, thậm chí chán học bộ môn
Dạy học Ngữ văn theo hướng hiện đại chúng ta thấy nhấn mạnh đến vai trò tổ chức điều hành với những hình thức dạy học phù hợp Thầy giáo quán xuyến và động viên khích lệ hoạt động học tập của học sinh Qua những hình thức dạy học thích hợp người dạy phát triển, tổng hợp, gợi mở, đề xuất vân đề…Học sinh hoạt động theo cách riêng để đối thoại và bộc lộ hiểu biết, sự thành thạo cũng như tư chất cá nhân một cách sáng tạo và tự tin
Phương pháp dạy học Ngữ văn THPT nhằm tổ chức tốt những cơ hội và tình huống có vấn đề cho phương pháp học thực hiện quá trình nhận thức cái hay cái đẹp của văn bản, tác phẩm…tích cực, sáng tạo chiếm lĩnh những giá tri độc đáo về chân, thiện, mĩ chứa đựng trong môn học
Trang 23Phương pháp dạy học tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh đã được đề xướng từ cuối thế kỉ XIX, sau đó được triển khai vào những năm 20
và phát triển rầm rộ từ những năm 70 của thế kỉ XX
Vài chục năm trở lại đây chúng ta thấy xuất hiện nhiều hình thức dạy học mới của phương pháp tích cực Mong muốn đạt tới của phương pháp dạy học tích cực là tạo ra hiểu quả học tập cao cho học sinh Học sinh được trang bị hệ thống những năng lực và những thao tác tư duy cho phép họ giải quyết thành công yêu cầu đề ra Theo khuynh hướng dạy học tích cực người ta tiến hành những thử nghiệm cá thể hóa dạy học Tích cực hóa quá trình dạy học với những phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, người học sinh được giáo dục để trở thành người tự đào tạo bằng con đường tự học sáng tạo, tích cực chủ động có ý thức phát triển nhân cách cá nhân để đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi của cuộc sống “Theo Jean Vial (1968), phương pháp tích cực có ba tiêu
chuẩn để xác định hiệu quả Đó là hoạt động, tự do và tự đào tạo”[8, tr 31 ]
Để có kiến thức học sinh phải hoạt động chiếm lĩnh kiến thức Có tự do, học sinh mới nhiệt tình phát huy sáng kiến và lựa chọn cho mình con đường đi giành lấy tri thức Phương pháp tích cực vào sự đáp ứng và thúc đẩy nhu cầu, tăng cường tính tự chủ để phát triển và hoàn thiện nhân cách học sinh bằng cách tự giác, huy động kiến thức và kinh nghiệm đã tích lũy, độc lập suy nghĩ
để điều khiển hoạt động theo mục đích, phạm vi, kết quả hoạt động
Các phương pháp dạy học tích cực cùng với các hình thức dạy học mà chúng ta có thể nêu ra, như:
- Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề
Dạy học nêu vấn đề đã xuất hiện khá lâu nhưng đến nay ở nước ta đưa vào giảng dạy chưa nhiều, đặc biệt là dạy học môn Ngữ văn “Phương pháp dạy học nêu vấn đề chạm mặt ngay từ đầu với đòi hỏi tư duy khái quát hóa – toàn cục Thế nào là vấn đề?”[ 8, tr 31 ] Một hiện tượng hay sự vật riêng lẻ cũng như một ý tưởng đơn độc không thể trở thành vấn đề Vấn đề trước hết
Trang 24là sự khái quát hóa trừu tượng, sự kiện riêng lẻ theo một ý tưởng mà nhiều người quan tâm Một vấn đề để trở thành một vấn đề bao giờ cũng kèm theo một nội dung có ý nghĩa Dù được khái quát hóa từ hiện tượng, sự vật nhưng
vô nghĩa lí thì cũng không phải là vấn đề “Đặc trưng cơ bản của dạy học giải quyết vấn đề là xây dựng được một hệ thống tình huống có vấn đề tương ứng với các nấc thang nhận thức, từng bộ phận của nội dung hoặc phương pháp giải quyết vấn đề đặt ra”[ 8, Tr 32]
Một tình huống có vấn đề bao hàm nội dung cụ thể, một khả năng giải quyết, một băn khoăn hoặc bài toán nhận thức đồng thời tình huống đó phải được học sinh chấp nhận giải quyết bằng tri thức và kinh nghiệm, bằng sự nổ lực bản thân Vì thế vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong dạy học Ngữ văn sẽ đem đến những tri thức mới, suy nghĩ mới và phương pháp hành động mới cho học sinh
Ví dụ: Dạy học văn bản nghệ thuật (tác phẩm văn học) thường chứa đựng hàng loạt tình huống có vấn đề Một số biện pháp tạo tình huống có vấn
đề trong việc dạy học tác phẩm văn chương mà chúng ta có thể áp dung” + Tạo dựng tình huống có vấn đề từ những trở ngại, khó khăn trong việc tiếp nhận tác phẩm văn chương của học sinh
+ Tạo tình huống có vấn đề từ những cách hiểu, cách bình giá khác nhau
về một hiện tượng văn học như một từ, một hình ảnh, một nhân vật, cách kết thúc tác phẩm…
+ Tạo dựng tình huông có vấn đề từ trạng thái mất cân bằng trong tiếp nhận văn học của học sinh Những trạng thái mất cân bằng đó trong tiếp nhận văn học thường vượt ra ngoài sự nhận thức chung của số đông người đọc hay đôi khi trái với ý đồ nghệ thuật, tư tưởng và ý nghĩa của tác giả
+ Tạo dựng tình huống có vấn đề từ những khám phá, phát hiện mới mẻ
về chiều sâu, tiềm năng sáng tạo và sức sông của hình tượng nghệ thuật
Trang 25Đối với việc dạy học môn Ngữ văn điều quan trọng hơn cả là chúng ta cần tạo ra một hệ thống có vấn đề Đó là việc giáo viên đề xuất, khởi xướng tình huống biết khéo léo, bảo lưu tình huống, biết phát triển tình huống và việc giải quyết vấn đề đó một cách phù hợp, chính xác
- Phương pháp dạy học kiến tạo
Dạy học theo quan điểm kiến tạo chủ yếu nhấn mạnh khả năng người học xây dựng tri thức cho bản thân nhờ kết quả tác động qua lại của người học với môi trường xung quanh Mục tiêu và đích đến của phương pháp này là xây dựng được những hiểu biết cho người học và con dường nhận thức thế giới quan cho bản thân mình, đồng thời nó cũng giúp người giáo viên hướng hoạt động giảng dạy vào nội dung cơ bản và biện pháp chủ yếu để thúc đẩy học
sinh học tâp đạt kết quả
Yêu cầu trực tiếp của dạy học kiến tạo là mã hóa thông tin sao cho học sinh có thể nhớ và liên kết được những thông tin đó trong mối quan hệ với thông tin khác
Lí thuyết dạy học kiến tạo làm sáng tỏ thêm tư tưởng coi trong hành động học tập của học sinh là hoạt động trí tuệ mang tính nhận thức khoa học chính xác Hoạt động ấy của người học là sự thể hiện nhu cầu thích hợp những tình huống học tập cụ thể để từ kiến thức đã có vươn lên nắm bắt kiến thức mới phá vỡ những quan niệm sai lầm
Hoạt động học tập từ theo mô hình đến làm khác, sau cùng là làm mới là cách thức mà người học tự xây dựng kiến thức cho mình với sự nổ lực sáng tạo trong học tập
- Phương pháp hướng dẫn học sinh tự học
Tự học để tồn tại và phát triển, để mở mang về tầm hiểu biết, tri thức của bản thân Cuộc sống của mỗi bản thân luôn cần tự học nhiều điều Nhìn khái quát tự học cũng quan trọng như bất cứ một dạng thức học tập nào Học sinh
sẽ học tốt hơn về chất lượng và số lượng khi tự học, bởi lẽ mỗi cá nhân sẽ sử
Trang 26dụng tác phong và tiến độ học tập của mình theo một cách thức nào đó để có được những tri thức mới Các năng lực nhận thức, tư duy, sử dụng tài liệu, kĩ năng giao tiếp sẽ được củng cố hợn, tự học sẽ tiết kiệm được thời gian cho việc giảng dạy kiến thức cơ bản tối cần
Việc khám phá ra cách học và cách vận dụng kiến thức của mình chính là mục đích thật sự của hoạt động học tập Hoạt động tự học giúp học sinh trở thành một cá nhân độc lập, chuẩn bị cho họ bước vào một xã hội phức tạp đầy thử thách hơn so với lớp học và những bài kiểm tra định kì
Chúng ta cần khuyến khích học sinh tự học và nghiên cứu với những khả năng khác nhau một cách hợp lí và tự giác Đối với môn Ngữ văn có cách cấu tạo và lí giải kiến thức, kĩ năng của mình nên không thể áp đặt nội dung học tách rời cấu tạo và lí giải những phần rời rạc, cô lập để khớp với phương pháp Người giáo viên cần học cách thiết kế nêu kế hoạch và nội dung tự học hợp lí với trình độ học sinh
Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh là một quá trình rèn luyện lâu dài Giáo viên phấn đấu để trong mỗi tiết học, học sinh được hoạt động nhiều hơn, thực hành nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn và quan trọng là được suy nghĩ nhiều hơn trên con đường chủ động chiếm lĩnh nội dung học tập
Các phương pháp dạy học mới gắn liền hình thức tổ chức dạy học mới là
một tất yếu khách quan Hình thức dạy học ngày nay cực kỳ linh hoạt, sát hợp với từng đối tượng và phù hợp với những đặc điểm riêng có của từng phân
môn: Văn học Tiếng Việt, Làm Văn trong môn Ngữ văn, nó góp phần giúp
người học vừa có sự tương tác trong tiếp thu xử lý thông tin, vừa có thể độc lập nhận thức và biết hoạt động cùng nhau để giải quyết những vấn đề đặt ra trong học tập cũng như trong cuộc sống
Trong những năm gần đây giáo viên dạy học Ngữ văn, tổ Ngữ văn của
trường THPT đã có những nỗ lực nhằm từng bước hoàn thiện các hình thức tổ
Trang 27chức dạy học thuộc môn học mình đảm trách, qua đó vừa tự bồi dưỡng nâng
cao trình độ, vừa mong muốn đem đến cho người học những kiến thức, kỹ năng một cách nhanh chóng và dễ dàng
Vậy chúng ta thấy từ lí thuyết về phương pháp dạy học dạy học giáo viên
sẽ hình thành cho mình những hình thức tổ chức dạy học, hay nói cách khác
tổ chức các hình thức dạy học dựa trên những phương pháp dạy học Đối với môn Ngữ văn việc vận dụng những hình thức tổ chức dạy học nhằm phát huy hiệu quả trong quá trình dạy và học đối với môn học mang tính nghệ thuật và tác động đến quá trình thành hình thành tư duy, nhân cách của các em học sinh
1.1.3 Mối liên hệ ba bình diện trong việc xác định mục tiêu dạy học môn Ngữ văn ở nhà trường THPT
Quá trình dạy - học văn bao gồm mục đích, nội dung, lý luận về phương pháp và hình thức tổ chức dạy - học của giáo viên và học sinh Đây là quá trình sư phạm mang tính chất và đặc điểm xã hội phong phú, phức tạp với nhiều mối quan hệ qua lại nhằm hình thành và phát triển nhân cách xã hội chủ nghĩa cho học sinh bằng phương tiện văn chương
Người giáo viên là người tổ chức và điều chỉnh quá trình dạy học Ngữ văn sao cho quá trình đó diễn ra phù hợp với đặc điểm nhận thức bộ môn và điều kiện sư phạm Tính chất phức tạp của quá trình nhận thức Ngữ văn đòi hỏi người giáo viên không những nắm vững các tri thức khác nhau về quá trình tiếp nhận, phương tiện, cắt nghĩa và đánh giá các hiện tượng trong môn học
mà còn là khả năng nhìn thấy và phát huy những năng lực của học sinh Tính chất hệ thống hóa kiến thức Ngữ văn ngày càng gắn liền với kế hoạch giảng dạy, với nội dung chương trình dạy học là đặc điểm sư phạm quan trọng trong quá trình dạy học
Nội dung kiến thức, hệ thống kĩ năng, tư duy và diễn đạt ở trường THPT được ôn luyện, củng cố và nâng cao hơn một bước những gì học sinh đã thu
Trang 28nhận và phát triển lên từ Tiểu học, Trung học cơ sở Tính phức tạp, đa dạng của các kiểu bài học ở bậc Trung học phổ thông đòi hỏi phải có sự đổi mới phương pháp dạy học và các hình thức tổ chức dạy học thích hợp, phong phú mới tránh được sự đơn điệu, nhàm chán và nâng cao được hiệu quả đào tạo giáo dục như mong muốn
Đổi mới phương pháp dạy học và các hình thức tổ chức dạy học Ngữ văn phải gắn chặt và chịu chi phối của đặc trưng nội dung môn học Môn học Ngữ văn thuộc lĩnh vực lí luận dạy học bao gồm một hệ thống tri thức khoa học dạy học Tri thức khoa học của nhân loại được hình thành từ nền văn hóa của
xã hội loài người và tri thức khoa học này trở thành nguồn trực tiếp của nội dung dạy học
Môn học Ngữ văn có cấu trúc hữu cơ và phải đóng góp vào việc thực hiện mục tiêu và mục tiêu đó phải được cụ thể hóa trong tiết học của học sinh Môn Ngữ văn là một khối toàn vẹn bao gồm hai nội dung: Nội dung nền tảng
và nội dung bổ trợ thâm nhập vào nhau, gắn bó mật thiết với nhau
Kiến thức khoa học cơ bản của môn Ngữ văn là một dạng thức hoạt động
có ý nghĩa quan trọng đối với các yếu tố của môn học Nội dung tri thức phản ánh lôgic của khoa học trong các thành phần cấu trúc, chức năng của môn học trước hết phải đảm bảo tính chính xác khoa học của nó Tính chính xác khoa học được thể hiện ở trình độ khoa học hiện đại Nó phải chứa đựng nội dung phương pháp nhận thức để hình thành biểu tượng khoa học cho học sinh, giúp
họ nắm được tri thức khái quát dưới dạng thức khái niệm và quy luật trong quá trình học tâp Ngoài ra môn học ngữ văn cũng cần bảo đảm được lôgíc sư phạm và khả năng tiếp nhận của học sinh
Một trong những vấn đề cơ bản trong định hướng đổi mới phương pháp dạy học và vấn đề đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT là phải thực hiện cơ chế mới trong dạy học
Trong quá trình dạy học Ngữ văn hoạt động dạy của thầy và hoạt động
Trang 29học của trò cùng song song tồn tại để khởi động, thúc đẩy nhau tiến tới mục đích, yêu cầu đã đề ra
Để đổi mới cơ chế dạy học văn buộc chúng ta phải đánh giá và định lại vai trò tác dụng của giáo viên và học sinh trong tiến trình lên lớp Vai trò của giáo viên là định hướng tổ chức thực hiện việc chiếm lĩnh tri thức kĩ năng của người học một cách hợp lí, khoa học Người thầy giáo giữ vai trò chủ đạo điều hành quá trình dạy học và có tác dụng quyết định về mặt sư phạm đến kết quả học tập của học sinh Trong khi đó học sinh tiếp thu kiến thức một cách có ý thức độc lập và sáng tạo, tự chủ và hứng thú rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo để hình thành năng lực cũng như thái độ, quan điểm sống Người học sinh chuyển dịch từ chủ thể tiếp nhận sang chủ thể văn học, nghĩa là họ biết đắm mình trong môi trường giao tiếp, đối thoại với thế giới hình tượng và thế giới
sự kiện trong các loại văn bản hư cấu nghệ thuật và văn bản đời thường, học lấy tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại trong việc sử dụng sức hình dung, trí tưởng tượng phong phú và óc thực tiễn bằng cái đầu của chính mình
Định hướng đổi mới phương pháp và việc đa dạng hóa các hình thức dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường THPT phải đảm bảo nguyên ven đặc trưng của môn học mang tính khoa học, gây được hứng thú và có sự tham gia của tất cả các em học sinh Nhằm tạo ra hiểu quả tối ưu cho môn học thì phương pháp và các hình thức dạy học luôn phải phù hợp với nội dung chương trình của môn học
1.2 Vấn đề tạo hứng thú học tập cho học sinh
1.2.1 Thế nào là hứng thú học tập môn Ngữ văn?
Học tập là nhiệm vụ trọng tâm của mỗi học sinh, và hành động đó đòi hỏi phải thu lại được những tri thức khoa học thực sự, phải hình thành được những năng lực thực tiễn Mà để có được điều đó thì người học sinh luôn phải
có một tâm thế chủ động, sẵn sàng khám phá những tri thức mới mẻ, hay nói cách khác là các em phải tiếp cận môn học bằng tất cả sự say mê, hứng thú
Trang 30của mình Nhìn chung, trong thực tế, hứng thú- sự yêu thích làm tăng hiệu quả của hoạt động, nó làm nảy sinh khát vọng sáng tạo bởi niềm đam mê của
cá nhân Thực tiễn đã chứng minh, không có một tài năng lỗi lạc nào mà trong hoạt động của họ không có niềm yêu thích
Hứng thú của học sinh THPT đối với môn Ngữ văn chủ yếu là do khả năng giảng dạy và hình thức tổ chức dạy học của GV và bản thân nội dung tri thức khoa học của môn học quyết định Ở lứa tuổi học sinh THPT, hứng thú nhận thức đang có sự chọn lọc rất mạnh mẽ Học nhiều bộ môn khác nhau, các em có thể nhận biết tất cả nhưng không thể hứng thú với tất cả những điều
đã nhận biết Các em chỉ hứng thú với cái mà mình đã chọn lọc, phù hợp với hiện tại và tương lai của mình… Điều đó được thể hiện bằng sự ham học, ngạc nhiên chờ đón kiến thức mới, xúc động và cao hơn là say mê ấp ủ điều mình đang tìm tòi, phát hiện Quá trình tích cực suy nghĩ là hạt nhân của hứng thú học tập Ngoài ra còn tự giác đọc thêm tài liệu tham khảo, làm thêm bài tập, đọc thêm sách báo, hoạt động trong các giờ ngoại khoá.v.v…
Vậy mà, học sinh có biểu hiện chán học Ngữ văn, chuyện lạ mà có thật
đã phổ biến trong nhà trường từ nhiều năm nay Thầy cô giáo lên tiếng, phụ huynh băn khoăn, học sinh đã lơ là và chỉ học để đối phó với những kì thi Ngữ văn là bộ môn khoa học nhưng đồng thời cũng là bộ môn nghệ thuật- một môn nghệ thuật dùng chất liệu biến ảo vạn năng là ngôn ngữ, là tiếng Mẹ
đẻ của dân tộc, lẽ ra người học phải tiếp nhận nó với niềm đam mê Thế nhưng…chữ xấu, sai chính tả trầm trọng, dùng từ không chính xác, câu cụt, văn rối, không biết sắp xếp ý tứ.v.v… là những lời phê thường gặp trên bài làm của học sinh Nguy hại hơn, tâm hồn các em- cái đích cuối cùng của bộ môn Ngữ văn cần đạt tới- cũng sẽ héo khô theo Vậy tại vì đâu?
Có người bảo rằng tại hoàn cảnh xã hội, thời buổi thị trường xôn xao:
“Người ta đi kiếm giàu sang cả Tôi chỉ mơ màng chuyện viễn vông.”
(Nguyễn Bính) Hiện nay, phần rất lớn học sinh đều quan tâm đến nghề
Trang 31nghiệp tương lai, đến chuyện công ăn việc làm thiết thực, các môn học tự nhiên và ngoại ngữ tỏ ra chiếm ưu thế: Toán, Lí, Hoá, Tin, Tiếng Anh…tỏ ra được ưa chuộng, rất ít các em chọn con đường Văn Lại có người đổ lỗi cho chương trình và sách giáo khoa còn có điểm chưa hợp lí như tính vừa sức, rồi việc thi cử, kiểm tra yêu cầu cao về tính sáng tạo.v.v… đã làm giảm hứng thú học môn Ngữ văn của các em Song trên thực tế, có những vấn đề ta cần nhận thấy là:
- Hứng thú học tập môn Ngữ văn của học sinh đã gắn với nhu cầu cá nhân:
Điều này được thể hiện rõ qua những biểu hiện như: học đạt điểm cao, được thầy cô giáo khen Bởi thế nên trong giờ học, nếu học sinh trả lời tốt bài
cũ và được giáo viên cho điểm tốt thì vui mừng phấn khởi Còn học sinh không trả lời được câu hỏi thì buồn rầu, xấu hổ Mặt khác, trong phần học bài mới, người giáo viên chú ý khích lệ, động viên các em phát biểu xây dựng bài Mặc dù các ý kiến của học sinh chỉ ở dạng phát hiện nhưng đã tạo cho các em phấn khởi và tích cực xây dựng bài hơn
- Hứng thú học tập của các em phụ thuộc vào trạng thái chú ý:
Trong giờ học Ngữ văn, nếu học sinh chú ý nghe giảng và phát biểu xây dựng bài thì sẽ được cô giáo khen Điều này làm các em vui mừng hơn, thích thú hơn với môn học để rồi từ đó say mê với môn học này hơn Ngược lại, đối với những học sinh không chú ý nghe giảng, khi bị giáo viên nhắc nhở, khiển trách sẽ tạo nên ở các em sự buồn chán, lo sợ trước các vấn đề của môn học
và càng ngày các em cảm thấy chán đối với nó
- Hứng thú học tập môn Ngữ văn của các em còn phụ thuộc vào đối tượng tác động:
Cụ thể là phụ thuộc vào giáo viên Thầy giáo dạy Ngữ văn chưa thu hút học sinh vào bài học là một trong những nguyên nhân chủ yếu biến tiết học Ngữ văn thành nhàm chán Cũng đối tượng ấy, hoàn cảnh ấy, cũng bài giảng
ấy nhưng nếu là thầy giáo này thì tiết học buồn tẻ còn thầy giáo kia thì sinh
Trang 32động, hấp dẫn hẳn lên Như vậy, phương pháp giảng dạy, phong cách sư phạm của người thầy cơ bản có thể lôi cuốn được học sinh có hứng thú khi học tập môn Ngữ văn hay không?
Từ thực tế đó bắt buộc chúng ta phải quan tâm đầu tư nhiều hơn nữa để tạo hứng thú học tập cho học sinh đối với môn Ngữ văn Đồng thời qua đó chúng ta phải nhận trách nhiệm về phía mình bởi chất lượng học tập của học sinh là hệ quả tất yếu của một phương thức giảng dạy Thông qua việc dạy học để rèn luyện cho học sinh có được những kĩ năng, phương pháp, thói quen học tập, có khả năng ứng dụng cũng như tự biết phát hiện, đề xuất và giải quyết những vấn đề được đặt ra, có nghĩa là chúng ta tạo dựng cho học sinh sự hứng thú, niềm say mê, lòng ham học hỏi, khơi dậy tiềm năng vốn có của mỗi con người
1.2.2 Đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học - Một yêu cầu đổi mới dạy học Ngữ văn
Môn Ngữ văn trong nhà trường không chủ yếu đào tạo, định hướng cho
học sinh vào nghề văn, nghiệp văn Đây là môn công cụ (như bao môn học khác) nhằm rèn luyện học sinh có trình độ phổ thông về nói, viết Tiếng Việt;
trang bị cho các em những hiểu biết và kĩ năng cơ bản về ngôn ngữ và văn chương Nhưng quan trọng hơn, đây còn là môn học có nhiệm vụ xây dựng vẻ đẹp tâm hồn con người Như vậy, Ngữ văn rất cần cho thế hệ trẻ, nhất là lứa tuổi học sinh THPT Từ thực tế việc dạy học môn Ngữ văn ở nhà trường THPT những năm qua, để lôi cuốn học sinh về niềm yêu mến môn Ngữ văn chúng ta cần đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học (Cả chính khóa và ngoại khóa)
Mặc dù trong những năm gần đây, việc thực hiện chương trình và thay sách giáo khoa đã chuyển biến mạnh mẽ phương pháp dạy học song đâu đó
vẫn còn tồn tại việc hoà lẫn uy quyền của bản thân đối với tự do của học sinh
Trong môi trường như vậy, học sinh chỉ ngồi nghe, tuân thủ và thích nghỉ,
Trang 33lười suy nghĩ, tin tưởng vào quá trình tư duy đã có sẵn của giáo viên để lĩnh hội kiến thức một cách thụ động Như vậy thì còn đâu hứng thú trong học tập
Vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học cùng với việc đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học môn Ngữ văn theo hướng quy trình hoá việc chuẩn
bị và tiến hành dạy học nhằm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh có
ý nghĩa vô cùng quan trọng Bởi tránh tâm lí mệt mỏi, thụ động và gây ra những ấn tượng mới hợp lí, tạo nên sự hứng thú, ham học và huy động tính tích cực tự học của học sinh ở mức độ tối đa, đạt hiệu quả học tập cao nhất Con người là giá trị của sự tồn tại, phát sinh và phát triển Do đó, giáo dục nói chung và nhà trường nói riêng phải có sự thay đổi để góp phần phát huy nguồn lực trong học sinh Trên cơ sở lí luận và thông qua thực trạng dạy học môn Ngữ văn ở nhà trường THPT những năm gần đây, đã phần nào chỉ ra những nguyên nhân làm giảm hứng thú học tập Ngữ văn ở học sinh
Tạo hứng thú học tập cho học sinh thông qua việc tổ chức các hình thức dạy học mới lạ không phải là không thể làm được để tạo hiệu quả học tập môn Ngữ văn Cái chính là mỗi một chúng ta cần phải có ý thức trong việc đưa các em trở về với những giờ học sôi nổi, hào hứng song cũng rất lắng đọng như bản chất vốn có của nó để bộ môn Ngữ văn ngày càng được học sinh yêu thích hơn, chất lượng dạy học ngày một nâng cao và quan trọng hơn
là để tâm hồn các em khỏi bị dần khô theo năm tháng
Trang 34CHƯƠNG HAI: BIỆN PHÁP GÂY HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN NGỮ
VĂN CHO HỌC SINH THPT 2.1 Đa dạng hóa hình thức tổ chức dạy học phân môn Văn học
2.1.1 Chính khóa
2.1.1.1 Hình thức tổ chức dạy học theo nhóm trong phân môn Văn học
a Thực trạng dạy học phân môn văn học
Văn học trong nhà trường THPT những năm gần đây cho thấy số học sinh yêu thích không còn nhiều Không ít ý kiến cho rằng sở dĩ có tình trạng này là do học sinh bị lôi cuốn theo cơ chế thị trường, thời đại của sự bùng nổ thông tin nên các em ít có độ lắng để cảm thụ, rung cảm trước một ý văn, lời thơ Qua thực tế, chúng ta nhận thấy đa số các em rất ngại học Văn cho dù các
em nhận thức được vai trò bổ trợ to lớn và thiết thực của Văn học trong học tập cũng như trong đời sống Một phần do những tác động của xã hội, nhưng một phần cũng là do những tiết dạy văn học vẫn chưa thật sự thu hút học sinh Tồn tại lớn nhất từ phía học sinh là thói quen thụ động, quen nghe, chép, ghi nhớ và tái hiện lại những gì giáo viên nói, chưa có thói quen chủ động tìm hiểu, khám phá bài học nếu không được giao nhiệm vụ hoặc nếu có được giao nhiệm vụ thì cũng còn lúng túng hay chỉ cố gắng giải quyết cho xong nhiệm
vụ trong khi độc lập giải quyết vấn đề Khi chuẩn bị bài học, các em còn bị lệ thuộc vào các tài liệu, sách Văn mẫu, không dám thoát ly những gì viết trong tài liệu, dẫn đến hạn chế năng lực chủ động sáng tạo trong các hoạt động nghe, nói, đọc, viết của học sinh Học sinh chưa tự thân bộc lộ những suy nghĩ, tình cảm của cá nhân trước tập thể, nếu phải nói và viết, các em sẽ cảm thấy khó khăn, nhiều khi kiểm tra những câu hỏi có khác hơn trong vở học là các em tỏ ra lúng túng và dễ bị lạc hướng
Khắc phục về thực trạng đó, sử dụng hình thức tổ chức dạy học theo nhóm nhỏ để phát huy năng lực chủ động sáng tạo của cá nhân học sinh đối với phân môn văn học trong nhà trường THPT
Trang 35b Thực hiện hình thức tổ chức dạy học theo nhóm
Một số hình thức tổ chức nhóm và việc quản lý nhóm học tập:
Đối với giáo viên:
- Cần nắm quy trình tổ chức dạy học theo nhóm nhỏ:
+ Bước 1: Thành lập nhóm
Cách hình thành nhóm học sinh ở đây rất linh hoạt Tuỳ thuộc vào từng bài học trong chương trình, phạm vi của vấn đề, thời gian được trao đổi mà số lượng đơn vị nhóm có cơ cấu khác nhau Khi phân nhóm, giáo viên cần chú ý đến tâm sinh lí, giới tính và sức học của các thành viên trong nhóm Khi nhóm được hình thành, giáo viên cho nhóm tự bầu nhóm trưởng Nhiệm vụ của nhóm trưởng là đôn đốc các thành viên trong nhóm, tổng hợp ý kiến các bạn trong nhóm mình và cử thành viên trình bày; vị trí này không nhất thiết phải cố định để tạo sự phấn đấu chung của cả nhóm Theo chúng tôi với các lớp học ở trường THPT thường là 50 HS, thì chúng ta nên chia thành 5 hoặc 6 nhóm (Cụ thể số thành viên trong mỗi nhóm phụ thuộc vào nội dung câu hỏi,
số lượng các câu hỏi mà GV phân công cho nhóm trong lớp học của mình) + Bước 2: Định hướng hoạt động nhóm
Mục đích của hoạt động nhóm là để học sinh cùng trao đổi, tìm tòi, học hỏi lẫn nhau Để đạt hiệu quả, giáo viên cần định hướng cho nhóm hoạt động theo yêu cầu công việc được giao Giáo viên phát phiếu học tập hoặc nêu yêu cầu cho các nhóm, ấn định thời gian làm việc, các nhóm nhận nhiệm vụ, tập trung giải quyết vấn đề Đối với phần Văn học, đây là phần dễ tạo ra sự hứng thú, hấp dẫn Giáo viên định hướng cho các nhóm sưu tầm tư liệu, hình ảnh
có liên quan đến văn bản sẽ học Đưa ra câu hỏi để cùng tìm tòi, trao đổi và cả những suy nghĩ, bài học rút ra từ văn bản (học sinh tự do phát biểu suy nghĩ của mình)
+ Bước 3: Kiểm tra quá trình chuẩn bị của học sinh
Trang 36Trong khi học sinh làm việc, giáo viên nên đến từng nhóm hỗ trợ, động viên, nhắc nhở để các nhóm làm việc đều tay, đảm bảo thời gian
Mục đích để đôn đốc thái độ hợp tác tích cực của các thành viên, cần tránh tình trạng dựa dẫm, chỉ một cá nhân làm việc Mặt khác thông qua quá trình kiểm tra để gợi mở cho học sinh, hướng vấn đề thảo luận đi vào trọng tâm
+ Bước 4: Báo cáo kết quả:
Sau khi các nhóm hoàn thành công việc, giáo viên hoặc lớp trưởng điều khiển từng nhóm lên báo cáo kết quả bằng trình bày trên giấy lớn hoặc trình bày miệng ( Có thể kết hợp một thành viên trong nhóm lên trình bày văn tắt nội dung bài làm của nhóm mình để các bạn trong nhóm khác nhìn vào đó để nắm rõ hơn trọng tâm của nội dung mà bạn đang trình bày) Các nhóm khác chú ý lắng nghe, nhận xét, bổ sung, thống nhất ý kiến
Đối với học sinh:
Như chúng ta đã biết trong phương pháp dạy học tích cực, người học vừa là đối tượng của hoạt động dạy vừa là chủ thể của hoạt động học, được cuốn hút vào những hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá ra những điều mình chưa biết chứ không phải là thụ động tiếp thu những tri thức đã được sắp đặt sẵn
Trang 37Để quá trình hoạt động chung đạt hiệu quả, tất yếu mỗi thành viên cần có
ý thức tìm tòi, nghiên cứu, có sự thống nhất và phân công hợp lý, cụ thể (phân công nhóm trưởng, người đúc kết ý kiến ghi ra giấy, người trình bày phải có
sự thay đổi, luân phiên nhau) Để tiết kiệm thời gian, trưởng nhóm phân công mỗi thành viên phụ trách một mảng, sau đó cùng tổng hợp, thống nhất ý kiến, xây dựng phần cấu trúc trình bày của nhóm Việc phân công càng cụ thể, hiệu quả càng cao Với môi trường tập thể - lớp học, học sinh phải luôn hướng đến thái độ hợp tác, trao đổi tích cực
Cách tổ chức dạy học theo nhóm:
- Vận dụng các kiểu loại nhóm vào giờ học văn:
Với phân môn Văn học, dạy một văn bản, khó nhất là có được hệ thống câu hỏi, bài tập giúp mọi đối tượng học sinh chủ động tích cực học tập, một vấn đề đưa ra phải tác động tới nhiều đối tượng học sinh, phải có nhiều học sinh được suy nghĩ và trình bày ra điều mình nghĩ Chính vì vậy trong một tiết học, giáo viên cần suy nghĩ để chọn phần nào, câu hỏi nào dành cho việc hoạt động nhóm, không nên quá lạm dụng hình thức này sẽ dẫn đến nhàm chán, rơi vào bệnh hình thức Giáo viên cần phải xác định hình thức nhóm
- Một số hình thức tổ chức nhóm và cách chia nhóm:
+ Chia nhóm theo số lượng: Quy mô nhóm tuỳ thuộc vào nhiệm vụ sẽ giao cần đến ít hay nhiều người
Nhóm nhỏ: nhóm theo từng cặp học sinh, thường hình thành bằng cách các
em ngồi cạnh nhau quay mặt vào nhau
Nhóm lớn: nhóm theo 1 - 2 bàn học, thường hình thành bằng cách các em
quay mặt vào nhau hoặc bàn trên quay xuống bàn dưới
+ Chia nhóm theo tính chất:
Nhóm ngẫu nhiên: được chia theo một cách ngẫu nhiên, không tính đến đặc
điểm của người trong nhóm
Trang 38Nhóm hỗn hợp: gồm những em có điều kiện, năng lực khác nhau (thường được chia theo tổ) tạo điều kiện cho các em hỗ trợ lẫn nhau khi làm việc
Nhóm tình bạn và nhóm kinh nghiệm: học sinh tự lựa chọn bạn cùng sở thích,
có sở trường hoặc kinh nghiệm về một lĩnh vực nào đó tạo thành một nhóm (Giáo viên thường giao việc cho học sinh thực hiện ở nhà) Tuỳ theo yêu cầu của câu hỏi kiến thức bài học, của vấn đề giáo viên đưa ra, vấn đề được chọn để nhóm làm việc nên hướng tới mục tiêu, yêu cầu, kết quả cần đạt và quy định thời gian làm việc
Nếu vấn đề nhỏ thì chỉ thảo luận trong nhóm nhỏ khoảng 2-3 học sinh (theo từng cặp hoặc theo một bàn học) trong thời gian ngắn
Ví dụ:
Giáo viên đưa ra câu hỏi thảo luận vấn đề: Tấm đã biến hóa như thế nào, qua những hình thức biến hóa đó của Tấm nói lên ý nghĩa gì? ( Truyện cổ tích: “Tấm Cám ” - Ngữ văn 10, tập1)
Hay: Tấm lòng của Nguyễn Khuyến đối với thiên nhiên, đất nước được
thể hiện như thế nào qua Câu cá mùa thu? ( Tác phẩm: “Câu cá mùa thu” –
Nguyễn Khuyến, Ngữ văn 11, tập 1)
Thực hiên:
- Giáo viên nêu câu hỏi, chia nhóm, thảo luận nhanh, có thể không ghi ra giấy; - Giáo viên gọi 1 đại diện nhóm trả lời, các nhóm khác nhận xét
- Giáo viên đúc kết ghi bảng
Nếu vấn đề được thảo luận liên quan đến kiến thức toàn bài thì nhóm có
số lượng thành viên và thời gian nhiều hơn (theo 1 hoặc 2 bàn học)
Ví dụ:
Những yếu tố nào đã tạo nên sức lôi cuốn mạnh mẽ của bài thơ Lưu biệt khi xuất dương (Tác phẩm: Lưu biệt khi xuất dương – Phan Bội Châu, Ngữ
văn 11, tập 2)
Trang 39Bài thơ Tôi yêu em đã gợi cho anh(chị) những cảm nghĩ gì về tâm hồn Pu
–skin và về tình yêu (Tác phẩm: “Tôi yêu em” - A.X PU – SKIN, Ngữ văn
Mỗi phiếu học tập giáo viên có thể giao câu hỏi cho học sinh, nhằm dẫn dắt tới một kiến thức, rèn luyện một thao tác tư duy hoặc thăm dò thái độ trước một vấn đề Điều quan trọng là qua công tác độc lập với phiếu học tập, học sinh được phát triển kĩ năng tư duy, làm tăng hiệu quả của các phương pháp dạy học tích cực
PHIẾU HỌC TẬP
- Tên học sinh trong nhóm:
- Nội dung thảo luận:
Trang 40Nhóm trình bày vấn đề: Trong thời gian quy định, nếu nhóm nào đã hoàn thành trước, giáo viên có thể ưu tiên để nhóm trình bày Sau đó có thể gọi bất
kì nhóm nào lên trình bày tiếp theo Một thành viên đại diện nhóm trình bày bài viết của nhóm phải kết hợp hài hoà giữa kiến thức và phong cách trình bày, đảm bảo đúng thời gian
Đóng góp ý kiến: Sau phần trình bày của nhóm, tất cả các thành viên của lớp có quyền đặt câu hỏi phát vấn và nhận xét nhóm bạn Giáo viên cần khuyến khích bằng hình thức thưởng điểm cho những học sinh có những câu hỏi hay và đáp án chính xác;
- Giáo viên đưa đáp án (ở bảng phụ ) để học sinh đối chiếu;
- Giáo viên đúc kết vấn đề và nhận xét chung
* Đánh giá cho điểm: Giáo viên thu phiếu học tập, đánh giá cho điểm với các yêu cầu:
+ Kiến thức đầy đủ, khoa học; có liên hệ, mở rộng
+ Phong cách trình bày
+ Thời gian
Qua các bước trên giáo viên cần kịp thời động viên, khích lệ để học sinh tiếp tục phát huy tinh thần học tập, thấy được thiếu sót, rút kinh nghiệm, định hướng để hoạt động lần sau đạt kết quả cao hơn
- Thảo luận nhóm với chủ đề cho trước:
Nhóm có thời gian chuẩn bị trước ở nhà (giáo viên giao nhiệm vụ cho các nhóm ở tiết trước) Thường là những kiến thức liên quan đến tác giả, phần khái quát văn học, tìm hiểu một tác phẩm văn học để tiết kiệm được thời
gian ở lớp Điều này phải tuỳ từng trường hợp cụ thể
Cách thảo luận nhóm với chủ đề cho trước là phân chia theo nhóm tình bạn, nhóm kinh nghiệm (chỉ là cách gọi tên, đó có thể là nhóm đã được chia
để học ở nhà theo địa bàn dân cư) Giáo viên thông báo số lượng người trong nhóm và cùng nhau sưu tầm, tìm hiểu đề tài mà giáo viên đã giao cho nhóm