Trong sự nghiệp CN hóa và hiện đại hoá đất nước, các ngành sản xuất đang được mở rộng và phát triển nhanh chóng, quá trình phát triển kinh tế và xã hội sẽ phát sinh nhiều loại chất thải,
Trang 1
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SƯ PHẠM ĐỊA LÝ
Trang 2Trong sự nghiệp CN hóa và hiện đại hoá đất nước, các ngành sản xuất đang được mở rộng và phát triển nhanh chóng, quá trình phát triển kinh tế và xã hội sẽ phát sinh nhiều loại chất thải, gia tăng về khối lượng, đa dạng về thành phần, bao gồm các nguồn CTR từ hoạt động sinh hoạt, sản xuất, y tế, Khối lượng này ngày càng tăng lên do tác động của sự gia tăng dân số, phát triển kinh tế - xã hội, và sự phát triển về trình độ và tính chất tiêu dùng của người dân Tại Việt Nam, RTSH hàng ngày chưa được phân loại tại nguồn trước khi đưa đi xử lý, rác được tập trung tại các bãi rác tạm bợ không được xử lý, chôn lấp theo quy hoạch và hợp vệ sinh gây ảnh hưởng xấu đến môi trường Thiết bị thu gom và vận chuyển rác còn lạc hậu, ít ỏi, quy trình thu gom chưa đúng kĩ thuật, không đáp ứng được nhu cầu thu gom hiện tại
Trong những năm gần đây, hoà cùng nhịp độ phát triển của khu vực các tỉnh tỉnh Hà Tĩnh nói chung và huyện Kỳ Anh nói riêng, thị trấn Kỳ Anh đã và đang có nhiều chuyển biến mới cả về kinh tế và xã hội Quá trình đô thị hóa là tất yếu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, bên cạnh đó thì các vấn đề môi trường cũng bắt đầu nảy sinh Tốc độ phát triển về kinh tế - xã hội trên địa bàn thị trấn diễn khá nhanh Trong giai đoạn từ năm 2006 – 2010 thực hiện nghị quyết của đại hội đảng
bộ và nhân dân thị trấn đã đạt được những thàn tựu như tốc độ tăng trưởng kinh tế 16-17%, cơ cấu thương mại dịch vụ chiếm 70%, công nghiệp tiểu thủ công nghiệp chiếm 20%, nông nghiệp 10% Trong khi đó cơ sở vật chất hạ tầng kĩ thuật như giao thông, cấp điện, cấp nước, xử lí nước thải, thu gom và xử lí rác thải… không đủ khả năng đáp ứng yêu cầu sự phát triển kinh tế và sự gia tăng dân số Do nguồn ngân
Trang 3
sách nhà nước còn hạn chế nên việc đầu tư cho lĩnh vực này còn khiêm tốn; mặt khác do sự thiếu ý thức của một bộ phận dân cư nên môi trường và mĩ quan đô thị ngày càng xuống cấp trầm trọng Đặc biệt là vấn đề ô nhiễm do RTSH đã ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống và sức khỏe của người dân thị trấn Kỳ Anh Xuất phát
từ những tồn tại trên tôi xin chọn đề tài: “Công tác thu gom và xử lý rác thải sinh
hoạt trên địa bàn thị trấn Kỳ Anh, huyện Kỳ Anh – đề xuất một số giải pháp xử lý nhằm bảo vệ môi trường địa phương” làm khóa luận tốt nghiệp
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu công tác thu gom và xử lý RTSH trên địa bàn thị trấn Kỳ Anh
- Đề xuất một số biện pháp xử lý RTSH trên địa bàn thị trấn Kỳ Anh
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích vừa nêu trên, trong quá trình nghiên cứu đề tài cần thực hiện một số nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận chung liên quan đến đề tài
- Tìm hiểu công tác thu gom và xử lý RTSH trên địa bàn thị trấn Kỳ Anh
- Tìm hiểu và xây dựng các giải pháp nhằm xử lý RTSH trên địa bàn thị trấn
Kỳ Anh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu công tác thu gom, xử lý RTSH và đưa ra biện pháp
xử lý phù hợp trên địa bàn thị trấn Kỳ Anh, huyện Kỳ Anh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian lãnh thổ: Địa bàn nghiên cứu là thị trấn Kỳ Anh
Về thời gian nghiên cứu: Từ tháng 09/2011 đến tháng 05/2012
Trang 4Ngoài ra cũng có khá nhiều bài báo tạp chí viết về vấn đề rác thải rắn
5 Các phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu
Phương pháp này kế thừa kết quả từ các phương tiện thông tin đại chúng về vấn đề liên quan, cũng như các số liệu từ phòng Tài Nguyên Môi Trường huyện Kỳ Anh, công ty CPTVXD, QLMTĐT Kỳ Anh
đề tài mang tính thực tiễn cao hơn
5.4 Phương pháp chuyên gia
Tìm hiểu và tiếp thu những ý kiến về CTR từ các chuyên gia của phòng TNMT thị trấn Kỳ Anh và công ty CPTVXD, QLMTĐT Kỳ Anh
6 Bố cục
Nội dung chính có 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận chung
Chương 2: Hiện trạng công tác thu gom và xử lý RTSHtrên địa bàn thị trấn
Kỳ Anh
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp xử lý RTSHtrên địa bàn thị trấn Kỳ Anh
Trang 5
PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Các khái niệm liên quan
1.1.1 Khái niệm về rác thải
Rác thải là bất kì loại vật liệu nào ở dạng rắn mà con người loại bỏ mà không được tiếp tục sử dụng như ban đầu
Rác thải là các loại rác thải không ở dạng lỏng, không hòa tan được thải ra từ các hoạt động sinh hoạt, CN Rác thải còn bao gồm cả bùn cặn, phế phẩm nông nghiệp, xây dựng, khai thác mỏ…
Rác thải là những vật chất ở dạng rắn do các hoạt động của con người và động vật tạo ra Những “sản phẩm” này thường ít được sử dụng hoặc ít có ít, do đó nó là
“sản phẩm” ngoài ý muốn của con người Rác thải có thể ở dạng thành phẩm, được tạo ra trong hầu hết các giai đoạn sản xuất và trong tiêu dùng
1.1.3 Khái niệm xử lý RTSH
Xử lý RTSH là dùng các biện pháp kỹ thuật để xử lý các chất thải nhằm làm giảm ảnh hưởng tới môi trường, tái tạo lại các sản phẩm có lợi cho xã hội nhằm phát huy hiệu quả kinh tế, là một công tác quyết định đến chất lượng bảo vệ môi trường Hiện nay, ô nhiễm môi trường và suy thoái môi trường là nỗi lo của nhân loại nó thể hiện ở tất cả các thành phần môi trường đất, nước, không khí ngày càng
ô nhiễm nặng nề, nhất là những thành phố lớn tập trung dân cư đông đúc, tài nguyên môi trường cạn kiệt
Trang 6a Khu dân cư:
CTR từ khu dân cư phần lớn là các loại thực phẩm dư thừa hay hư hỏng như: rau, quả bao bì hàng hóa ( giấy vụn, gỗ, vải da, cao su, PE, PP, thủy tinh, tro ), một số chất thải đặc biệt như đồ điện tử, vất dụng hư hỏng (đồ gỗ da dụng, bóng đèn, đồ nhựa, thủy tinh ), chất thải độc hại như chất tẩy rửa ( bột giặt, chất tẩy trắng ), thuốc diệt côn trùng, nước xịt phòng bám trên các rác thải
b Khu thương mại:
Chợ, siêu thị, cửa hàng, nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi giải trí, trạm bảo hành, trạm dịch vụ khu văn phòng ( trường học, viện nghiên cứu, khu văn hóa, vă phòng chính quyền ), khu công cộng (công viên, khu nghỉ mát ) thải ra các loại thực phẩm ( hàng hóa hư hỏng, thức ăn dư thùa từ nhà hàng, khách sạn), bao bì (những bao bì đã sử dụng, bị hư hỏng) và các loại rác rưởi, xà bẩn, tro và các chất thải độc hại
c Khu xây dựng:
Như các công trình đang thi công, các công trình cải tạo, nâng cấp thải ra các loại xà bần, sắt thép vụn, vôi vữa, gạch vỡ, gỗ, ống dẫn Các dịch vụ đô thị ( gồm dịch vụ thu gom, xử lý chất thải và vệ sinh công cộng như rửa đường, vệ sinh cống rãnh ) bao gồm rác quét đường, bùn cống rảnh, xác súc vật
c Khu công nghiệp, nông nghiệp:
Chất thải rắn được thải ra từ các hoạt động sản xuất của nhà máy, các hoạt động sinh hoạt của công nhân, cán bộ viên chức của xí nghiệp, công nghiệp Ở khu vực
Trang 7
nông nghiệp chất thải được thải ra chủ yếu là: lá cây, cành cây, xác súc vật, thức ăn gia súc thừa hay hư hỏng, chất thải đặc biệt như: thuốc sát trùng, phân bón, thuốc trừ sâu, được thải ra cùng với các bao bì đựng các hóa chất đó
Hình 1.1 Sơ đồ nguồn phát sinh chất thải
(Nguồn: Huỳnh Tuyết Hằng, TP Huế, 08/2005)
1.2.2 Thành phần
Thành phần của rác thải rất khác nhau tùy thuộc từng địa phương, tính chất tiêu dùng, các điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác Thông thường thành phần của rác thải bao gồm các hợp phần sau: Chất thải thực phẩm, giấy, catton, vải vụn, sản phẩm vườn, gỗ, thủy tinh, nhựa, bụi tro, cát đá, gạch vụn…
Chính quyền địa phương
Trang 8Đất, đá,cát, gạch vụn 30,27 32,11 35,3 10,56 38,87
(Nguồn: Báo cáo kết quả khảo sát của CEETIA)
1.2.3 Phân loại rác thải
Rác thải được thải ra từ các hoạt động khác nhau được phân loại theo các cách
- Theo mức độ nguy hại:
+ Rác thải nguy hại: bao gồm các loại hóa chất dễ gây phản ứng, độc hại, rác thải sịnh hoạt dễ thối rữa, các chất dễ cháy, nổ hoặc các rác thải phóng xạ, các rác thải nhiễm khuẩn, lây lan… có thể gây nguy hại tới con người, động vật và gây nguy hại tới môi trường Nguồn phát sinh ra rác thải nguy hại chủ yếu từ các hoạt động y tế
+ Rác thải không nguy hại: là những loại rác thải không có chứa các chất và hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác thành phần
Trang 9
1.3 Tác hại của RTSH đối với môi trường
1.3.1 Đối với môi trường nước
Chất thải rắn, đặc biệt là chất hữu cơ, trong môi trường nước sẽ bị phân hủy
nhanh chóng
Tại các bãi rác, nước có trong rác sẽ được tách ra kết hợp với các nguồn nước khác như: nước mưa, nước ngầm, nước mặt hình thành nước rò rỉ Nước rò rỉ di chuyển trong bãi rác sẽ làm tăng khả năng phân hủy sinh học trong rác cũng như trong quá trình vận chuyển các chất gây ô nhiễm ra môi trường xung quanh
Cản dòng chảy, làm ứ đọng nước hoặc ngập lụt vùng dân cư: CTR không được thu gom mà được thải thẳng xuống sông hồ, kênh rạch rác nặng lắng xuống đáy làm tắc đường lưu thông của dòng chảy Rác nhỏ, nhẹ lơ lửng trong nước làm đục nước Rác có kích thước lớn nhưng nhẹ như giấy vụn, túi nilong nổi lên mặt nước làm giảm bề mặt trao đổi oxy của nước với không khí, làm mất mỹ quan trong khu vực
Các chất ô nhiễm trong nước rò rỉ gồm các chất được hình thành trong quá trình phân hủy sinh học, hóa học Nhìn chung, mức độ ô nhiễm trong nước rò rỉ
khá cao:
- COD: từ 3000 – 45.000 mg/l
- N-NH3: từ 10 – 800 mg/l
- BOD5: từ 2000 – 30.000 mg/l
- TOC ( cacbon hữu cơ tổng cộng): 1500 – 20.000 mg/l
Nếu rác thải có chứa kim loại nặng, nồng độ kim loại nặng trong giai đoạn lên men axit sẽ cao hơn trong giai đoạn lên men metan Đó là do các axit béo mới hình thành tác dụng với kim loại tạo thành phức hợp kim loại Các hợp chât hydroxyt vòng thơm, axit humic và axit fulvic có thể tạo phức hợp với Fe, Pb, Cu, Cd, Mn, Zn Hoạt động của các vi khuẩn kị khí khử sắt có hóa trị 3 thành sắt hóa trị 2 sẽ kéo theo sự hòa tan của các kim loại như: Ni, Cd và Zn Vì vậy, khi kiểm soát chất lượng nước ngầm trong khu vực bãi chôn lấp phải kiểm tra và xác định nồng độ kim loại nặng trong thành phần nước ngầm Ngoài ra nước ro rỉ có thể chứa các chất độc hại chúng có thể gây đột biến gen, gây ung thư Các chất này nếu thấm vào tầng
Trang 10
nước ngầm hoặc nước mặt sẽ xâm nhập vào chuỗi thức ăn, gây hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho sức khỏe, sinh mạng của con người hiện tại và cả thế hệ con cháu mai sau
1.3.2 Đối với môi trường không khí
Các loại rác thải dễ phân hủy ( như thực phẩm, trái cây hỏng …) trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thích hợp (nhiệt độ tốt nhất là 35oC và độ ẩm 70 – 80% ) sẽ được các vi sinh vật phân hủy tạo ra mùi hôi và nhiều loại khí ô nhiễm khác có tác động xấu đến môi trường, sức khỏe và khả năng hoạt động của con người
Bụi phát thải vào không khí trong quá trình lưu trữ, vận chuyển rác gây ô nhiễm không khí
Rác có thành phần dễ phân hủy sinh học, cùng với điều kiện khí hậu có nhiệt
độ và độ ẩm cao, sau một thời gian ngắn chúng bị phân hủy kỵ khí và hiếu khí sinh
ra các khí độc hại có mùi hôi khó chịu gồm CH4, H2S, H2O, CO2, NH3 ngay từ khâu thu gom, vận chuyển đến chôn lấp Khí metan có khả năng gây cháy nổ nên rác thải cũng là nguồn sinh chất thải thứ cấp nguy hại
1.3.3 Đối với môi trường đất
Các chất thải hữu cơ sẽ được vi sinh vật phân hủy trong môi trường đất ở hai điều kiện hiếu khí và kị khí Khi có độ ẩm thích hợp sẽ tạo ra hàng loạt các sản phẩm trung gian, cuối cùng hình thành nên các khoáng đơn giản, nước, CO2, Với một lượng rác thải và nước rò rỉ thì khả năng tự làm sạch của môi trường đất sẽ phân hủy các chất này trở thành các chất ít ô nhiêm hoặc không ô nhiễm Nhưng với lượng rác quá lớn vượt quá khả năng tự làm sạch của đất thì môi trường đất sẽ trở nên quá tải và bị ô nhiễm Các chất ô nhiễm này cùng với kim loại nặng, các chất độc hại và các vi trùng theo nước trong đất chảy xuống tầng nước ngầm làm ô
nhiễm tầng đất sâu
Đối với rác khong phân hủy như nhựa, cao su nếu không có giả pháp xử lý thích hợp thì chúng sẽ là nguy cơ gay thoái hóa và giảm độ phì của đất
Trang 11
1.3.4 Tác hại của RTSH đối với sức khỏe con người
Chất thải rắn phát sinh từ các khu đô thị, nếu không được thu gom và xử lý đúng cách sẽ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng dân
cư
Thành phần của chất thải rắn rất phức tạp, trong đó có chứa các mầm bệnh từ người hoặc gia súc, các chất thải hữu cơ, xác chết súc vật tạo điều kiện thuận lợi cho ruồi, muỗi, chuột sinh sản và lây lan mầm bệnh cho người, nhiều lúc trở thành dịch Một số vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng tồn tại trong rác có thể gây bệnh cho con người như: bệnh sốt rét, bệnh ngoài da, dịch hạch, thương hàn, phó
thương hàn, tiêu chảy, giun sán, lao
Phân loại, thu gom và xử lý rác không đúng quy định là nguy cơ gây bệnh nguy hiểm cho công nhân vệ sinh, người bới rác, nhất là khi gặp phải các chất thải rất nguy hại từ y tế, công nghiệp như: kim tiêm, ống chích, mầm bệnh, hợp chất hữu
cơ bị halogen hóa
Rác thải nếu không được thu gom tốt cũng là một trong những yếu tố gây cản trở dòng chảy, làm giảm khả năng thoát nước của các sông rạch và hệ thống thoát nước đô thị
1.3.5 RTSH làm giảm mỹ quan đô thị
- RTSH nếu không được thu gom, vận chuyển đến nơi xử lý, thu gom không hết, vận chuyển rơi vãi dọc đường, tồn tại các bãi rác nhỏ lộ thiên… đều là những hình ảnh gây mất vệ sinh môi trường và làm ảnh hưởng đến vẻ mỹ quan đường phố, thôn xóm
- Một nguyên nhân nữa làm giảm mỹ quan đô thị là do ý thức của
người dân chưa cao Tình trạng người dân đổ rác bừa bãi ra long lề đường và mương rãnh vẫn còn rất phổ biến, đặc biệt là ở khu vực nông thôn nơi mà công tác quản lý và thu gom vẫn chưa được tiến hành chặt chẽ
1.4 Các phương pháp xử lý CTR
Xử lý CTR là phương pháp làm giảm khối lượng và tính độc hại của rác, hoặc chuyển rác thành vật chất khác để tận dụng thành tài nguyên thiên nhiên Khi lựa
chọn các phương pháp xử lý thành phần tính chất CTR cần lưu ý:
Trang 12
- Tổng lượng CTR cần được xử lý
- Khả năng thu hồi sản phẩm và năng lượng
- Yêu cầu bảo vệ môi trường
b Giảm thể tích bằng phương pháp cơ học
Nén, ép rác là khâu quan trọng trong quá trình xử lý CTR Ở hầu hết các thành phố, xe thu gom thường được trang bị bộ phận ép rác nhằm giảm khối lượng rác, tăng sức chứa của rác và tăng hiệu suất chuyên chở cũng như kéo dài thời gian phục
vụ cho bãi chôn lấp
c Giảm kích thước cơ học
Là việc cắt, băm rác thành các mảnh nhỏ để cuối cùng ta được một thứ rác đồng nhất về kích thước Việc giảm kích thước rác có thể không làm giảm thể tích
mà ngược lại còn tăng thể tích rác Cắt, giã, nghiền rác có ý nghĩa quan trọng trong
việc đốt rác, làm phân và tái chế vật liệu
Trang 13
* Ưu điểm
Khả năng tiêu hủy tốt với nhiều loại rác thải Có thể đốt cháy cả kim loại, thủy tinh, nhựa, cao su, một số loại chất dưới dạng lỏng, bán rắn và các loại chất thải nguy hại Thể tích rác có thể giảm từ 75 – 96%, thích hợp cho những nơi không có điều kiện về mặt bằng chôn lấp rác, hạn chế tối đa vấn đề ô nhiễm do nước rác, có hiệu quả cao đối với chất thải có chưa vi trùng có thể lây nhiễm và các chất độc hại Năng lượng phát sinh khi đốt rác có thể tận dụng cho các lò hơi, lò sưởi hoặc các ngành CN cần nhiệt và phát điện
* Nhược điểm
Khí thải từ các lò đốt có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là các vấn
đề phát thải chất ô nhiễm dioxin trong quá trình thiêu đốt các thành phần nhựa
Vận hành dây chuyền phức tạp, đòi hỏi năng lực kỹ thuật và tay nghề cao Giá thành đầu tư lớn, chi phí tiêu hao năng lượng và chi phí xử lý cao
c Khí hóa
Quá trình khí hóa bao gồm quá trình đốt cháy một phần nhiên liệu carton để hoàn thành một phần nhiên liệu cháy được giàu CO2, H2 và một số hydrocarbon no, chủ yếu là CH4 Khí nhiên liệu cháy được sau đó được đốt cháy trong động cơ trong hoặc nồi hơi
1.4.3 Phương pháp xử lý sinh học
a Ủ sinh học
Ủ sinh học có thể được coi như là quá trình sinh hóa các chất hữu cơ để tạo thành các chất mùn Với thao tác sản xuất và kiểm soát một cách khoa học tạo môi
trường tối ưu đối với quá trình
Quá trình ủ hữu cơ từ rác phần lớn các gia đình ở ngoại ô các đô thị tự ủ rác của gia đình mình thành phân bón hữu cơ (Compost) để bón cho vườn của các hộ dân Các phương pháp xử lý phần hữu cơ của CTR có thể áp dụng để giảm khối lượng và thể tích chất thải, sản phẩm phân compost dùng để bổ sung chất dinh
dưỡng cho đất và các sản phẩm khí Metan
Trang 14Tiết kiệm đất sử dụng làm bãi chôn lấp Tăng khả năng chống ô nhiễm môi trường, cải thiện đời sống cộng đồng
Giá thành tương đối thấp, có thể chấp nhận được
Có thể tách được các chất có thể tái chế như: kim loại màu, thép, thủy tinh, nhựa, giấy bìa phục vụ cho CN
Rác có nhiều chất hữu cơ, nhất là phân gia súc được tạo điều kiện cho vi khuẩn
kỵ khí phân hủy tạo thành khí metan Khí metan được thu hồi dùng làm nhiên liệu
c Bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh
Chôn lấp hợp vệ sinh là một phương pháp kiểm soát sự phân hủy của CTR khi chúng được chôn lấp và phủ lấp bề mặt CTR trong bãi chôn lấp sẽ bị tan rửa nhờ quá trình phân hủy sinh học bên trong để tạo ra sản phẩm cuối cùng là các chất giàu dinh dưỡng như: axit hữu cơ, nito, các hợp chất amon và một số khí như CO2, CH4 Như vậy, về thực chất chôn lấp hợp vệ sinh CTR vừa là phương pháp tiêu hủy sinh học, vừa là biện pháp kiểm soát các thông số chất lượng môi trường trong quá trình phân hủy chất thải khi chôn lấp
Phương pháp này được nhiều đô thị trên thế giới áp dụng trong quá trình xử lý rác thải Ví dụ, ở Hoa Kỳ trên 80% lượng rác thải đô thị được xử lý bằng phương
Trang 15- Chi phí điều hành các hoạt động của bãi chôn lấp không quá cao
- Do bị nén chặt và phủ đất lên trên nên các loại côn trùng, chuột bọ, ruồi muỗi khó có thể sinh sôi nảy nở
- Các hiện tượng cháy ngầm hay cháy bùng khó có thể xảy ra, ngoài ra còn giảm thiểu được mùi hôi thối gây ô nhiễm môi trường không khí
- Làm giảm nạn ô nhiễm môi trường nước ngầm và nước mặt
- Các bãi chôn lấp khi bị phủ đầy, chúng ta có thể sử dụng chúng thành các công viên, làm nơi sinh sống hoặc các hoạt đọng khác
- Ngoài ra, trong quá trình hoạt động bãi chôn lấp chúng ta có thể thu hồi khí
ga phục vụ phát điện hoặc các hoạt động khác
- Bãi chôn lấp là phương pháp xử lý CTR rẻ tiền nhất đối với những nơi có thể
sử dụng đất
- Đầu tư ban đầu thấp so với những phương pháp khác
Phương pháp xử lý CTR triệt để không đòi hỏi các quá trình khác như xử lý cặn, xử lý các chất không thể sử dụng, loại bỏ độ ẩm
* Nhược điểm
- Các bãi chôn lấp đòi hỏi diện tích đất đai lớn, một thành phố đông dân có số lượng rác thải càng nhiều thì diện tích bãi thải càng lớn
- Cần phải có đủ đất để phủ lấp lên CTR đã được nén chặt sau mỗi ngày
- Các lớp đất phủ ở các bãi chôn lấp thường hay bị gió thổi mòn và phát tán đi
Trang 16
1.4.4 Phương pháp tái chế
Tái chế là hoạt động thu hồi lại từ chất thải các thành phần có thể sử dụng để chế biến thành các sản phẩm mới sử dụng lại cho các hoạt động sinh hoạt và sản xuất
Công nghệ tái chế phù hợp với rác khối lượng lớn và nguồn thải rác có ở khu vực dân cư có đời sống cao
* Ưu điểm
Tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên bởi việc sử dụng vật liệu được tái chế thay cho vật liệu gốc
Giảm lượng rác thông qua việc giảm chi phí đổ thải, giảm tác động môi trường
do đổ thải gây ra, tiết kiệm diện tích chôn lấp
Có thể thu hồi lợi nhuận từ các hoạt động tái chế
* Nhược điểm
- Chỉ xử lý được với tỷ lệ thấp khối lượng rác
- Chi phí đầu tư và vận hành cao
- Đòi hỏi công nghệ thích hợp
- Phải có sự phân rác triệt để ngay tại nguồn
1.5.Tình hình phát sinh CTR ở việt nam
1.5.1 Tình hình phát sinh CTR ở Việt Nam
Ở Việt Nam mỗi năm phát sinh đến 20 triệu tấn CTR, trong đó chất thải sinh hoạt từ các hộ gia đình, nhà hàng, các khu chợ và kinh doanh chiếm tới 80% tổng lượng chất thải phát sinh trong cả nước Chất thải nguy hại CN và các nguồn chất thải y tế nguy hại tuy phát sinh với khối lượng ít hơn nhiều nhưng cũng được coi là nguồn thải đáng lưu ý do chúng có nguy cơ gây hại cho sức khỏe và môi trường rất
cao nếu như không được xử lý theo cách thích hợp
Trang 17
Bảng 1.2 Lượng chất thải phát sinh ở Việt Nam năm 2010
Loại chất thải Nguồn Thành phần Lượng phát sinh (triệu tấn/năm)
Đô thị Nông thôn Tổng
CTRSH
Các khu thuơng mại, khu dân cư
Thức ăn, nhựa, giấy, thủy tinh 12 3,2 15,2 CTR CN không
nguy hại Các cơ sở CN Kim loại, gỗ 2,5 1,1 3,6 CTR CN nguy
hại Các cơ sở CN
Xăng dầu, bùn thải, các chất hữu
cơ
Nguồn: Báo cáo Hiện trạng Môi trường Việt Nam năm 2011
a Chất thải sinh hoat
Các đô thị là nguồn phát sinh chính của RTSH Các khu đô thị tuy có dân số chỉ chiếm 24% dân số của cả nước nhưng lại phát sinh đến hơn 12 triệu tấn chất thải mỗi năm (tương ứng với 78% tổng lương CTR sinh hoạt của cả nước) Ước tính mỗi người dân đô thị ở Việt Nam trung bình phát thải khoảng 2,3 kg chất thải mỗi ngày, gấp đôi lượng thải bình quân đầu người ở vùng nông thôn Trong số này thì các thành phố lớn như: TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng là những nơi có lượng phát sinh CTR lớn hơn cả
RTSH từ các hộ gia đình, các khu kinh doanh ở vùng nông thôn và đô thị có thành phần khác nhau RTSH từ các hộ gia đình, các khu chợ và khu kinh doanh ở nông thôn chứa một tỷ lệ lớn các chất hữu cơ dễ phân hủy (chiếm 60 – 75%) Ở các vùng đô thị, chất thải có thành phần các chất hữu cơ dễ phân hủy thấp hơn (chỉ
chiếm khoảng 50% tổng lượng RTSH)
Trang 18Hạ Long
Bình Dương
Bà Rịa – Vũng Tàu
1 Chất hữu cơ, thức ăn
Chất thải CN phát sinh từ các làng nghề ở vùng nông thôn chủ yếu tập trung ở các tỉnh phía Bắc Các làng nghề là một yếu tố đặc trưng của Việt Nam Đây là các làng ở vùng nông thôn với nguồn thu nhập phát sinh chủ yếu từ các hoạt động nghề, đặc biệt là các nghề thủ công như sản xuất đồ gốm, dệt may, tái chế chất thải, chế biến thực phẩm và hàng thủ công mỹ nghệ Có khoảng 1.450 làng nghề phân bố
Trang 19c Chất thải nguy hại
Các chất nguy hại là các chất thải ở dạng khí, lỏng, rắn có tính chất độc hại đối với con người như gây ngộ độc, chết người, các bệnh viêm nhiễm, các bệnh ung thư, gây quái thai… và gây tác hại tới môi trường như gây cháy nổ, ô nhiễm phóng xạ…
Các CTR nguy hại có các tính chất như dễ bay hơi, tạo kết tủa, có tính chất oxi hóa – khử, có phản ứng trung hòa, gây cháy nổ, phân hủy sinh học… Các chất thải độc hại này sinh ra chủ yếu từ các nghành CN, các sản phẩm hóa học của CN, các sản phẩm tiêu dùng chứa các chất độc hại như các chất tẩy sơn, sơn xì, làm bóng, véc ni, dung môi, mực viết, màu vẽ, thuốc trừ sâu… chất thải nguy hại còn phát sinh từ các bệnh viện Từ các cơ sở nghiên cứu sinh học, hóa học… từ các kho hàng chứa các hóa chất độc hại và ở các giai đoạn vận chuyển, phân phối các hàng hóa này đên các hộ tiêu dùng, giai đoạn sử dụng và thải bỏ chúng
Bảng 1.4: Thành phần của rác thải y tế ở Việt Nam, năm 2009
TT Thành phần % khối lượng Chất nguy hai
Trang 20
Trong các loại CTR độc hại có chất thải bệnh viện là một loại chất thải dễ gây bệnh tật cho mọi người, gây ô nhiễm môi trường sống, ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của con người Lượng rác thải nguy hại phát sinh hằng ngày từ các cơ sở y tế ước tính từ 50 tấn/ngày (chiếm 22% tổng rác thải y tế phát sinh) Thành phần của rác thải y tế theo các khu vực khác nhau ở Việt Nam được trình bày ở bảng trên
Ngoài các chất thải nguy hại từ các ngành CN và các bệnh viện thải ra thì trong sinh hoạt đời sống thường cũng tồn tại trong thành phần CTR như các loại đèn huỳnh quang hỏng thải bỏ có chứa Hg; các acquy ô tô, xe máy; acquy dùng trong gia đình chứa dung dịch axit, cực làm bằng Pb, vỏ làm bằng kim loại hoặc plastic; các loại pin hỏng thải bỏ; bùn của xử lý nước thải ngành mạ, sơn, chế biến dầu, hóa chất, thuốc trừ sâu…
Các chất thải nguy hại bị vứt bỏ lẫn vào chất thải sinh hoạt ở các nước CN phát triển thường < 1% Các chất thải nguy hại thải lẫn vào chất thải sinh hoạt sẽ gây nguy hiểm cho những người tham gia xử lý, tái chế rác và những người ở gần khu vực chất thải Nếu là chất thải bệnh viện thì có nguy cơ ô nhiễm nước, không khí, gây bệnh dịch lây lan trong cộng đồng dân cư
Vấn đề quản lý chất thải nguy hại ở các nước kém phát triển còn chưa được chú ý tới Mặc dù lượng chất thải nguy hại sinh ra ở các nước này còn chưa nhiều song với đà phát triển kinh tế nếu các nước không có chính sách quản lý tốt các chất thải nguy hiểm của nước mình thì ảnh hưởng nghiêm trọng của nó không chỉ gây ra cho nước sở tại mầ còn ảnh hưởng tới môi trường toàn cầu
Việt Nam đang ở trong quá trình phát triển kinh tế, đô thị hóa và hiện đại hóa nhanh Với tốc độ tăng trưởng như hiện nay, dự báo đến năm 2015 tổng lượng chất thải phát sinh sẽ lên đến trên 25 triệu tấn và thành phần chất thải sẽ thay đổi từ chổ
dễ phân hủy hơn sang ít phân hủy hơn và nguy hại hơn Giảm thiểu lượng phát sinh chất thải, có thể tiết kiệm được các nhu cầu tiêu hủy chất thải sau này Do lượng chất thải phát sinh sẽ tăng nhanh ở Việt Nam theo như dự báo, việc triển khai thực hiện các chương trình nhằm khuyến khích giảm thiểu lượng phát sinh chất thải tại nguồn như ở các hộ gia đình, các cơ sở kinh doanh, cơ sở CN và bệnh viện có khả
Trang 21
năng sẽ làm giảm đáng kể chi phí cần thiết cho việc tiêu hủy chất thải trong tương lai
1.5.2 Thực trạng công tác quản lý, thu gom CTR ở Việt Nam
Việc quản lý chất thải chủ yếu do các công ty môi trương đô thị của các tỉnh, thành phố thực hiện Đây là cơ quan chịu trách nhiệm thu gom và quản lý chất thải sinh hoạt, bao gồm cả chất thải sinh hoạt gia đình, chất thải văn phòng, đồng thời cũng là cơ quan chịu trách xử lý cả chất thải CN và y tế trong hầu hết các trường hợp Về mặt lý thuyết, mặc dù các cơ cở CN và y tế phải tự chịu trách nhiệm trong việc xử lý các chất thải do chính cơ sở đó thải ra, trong khi Chính phủ chỉ đóng vai trò là người xây dựng, thực thi và cưỡng chế thi hành các quy định, văn bản quy phạm pháp luật liên quan, song trên thực tế Viêt Nam chưa thực sự triển khai theo
mô hình này Chính vì thế, hoạt động của các công ty môi trường đô thi liên quan đến việc xử lý chất thải sinh hoạt là chính do có qua ít thông tin về thực tiễn và kinh nghiệm xử lý các loại chất thải khác
Với chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, Chính phủ khuyến khích các công ty tư nhân và các tổ chức hoạt động dựa vào cộng đồng cộng tác chặt chẽ dựa vào các cơ quan quản lý ở cấp địa phương trong công tác quản lý CTR Một số mô hình đã được thử nghiệm, mang lại kết quả khá khả quan, song các chính sách và cải cách các cơ chế quản lý cũng cần phải được củng cố Phần lớn chất thải CN và chất thải y tế nguy hại được thu gom cùng với chất thải thông thường Có rất ít số liệu thực tiễn về công tác thu gom và tiêu hủy chất thải ở các cơ
sở CN và y tế Phần lớn các cơ sở này đều hợp đồng với công ty môi trường đô thị ở địa phương để tiến hành thu gom chất thải ở cơ sở mình Thậm chí, chất thải nguy hại đã được phân loại từ chất thải y tế tại bệnh viện hay cơ sở CN, sau đó lại đổ lẫn với các loại chất thải thông thường khác trước khi công ty môi trường đô thị đến thu gom Các cơ sở y tế có lò đốt chất thải y tế tự xử lý chất thải y tế nguy hại của họ ngay tại cơ sở, chất thải qua xử lý và tro từ lò đốt chất thải sau đó cũng được thu gom cùng với các loại chất thải thông thường khác
Hiện nay, Chính phủ đang rất ưu tiên cho việc xây dựng các hệ thống xử lý và tiêu hủy chất thải, bao gồm cả các bãi chôn lấp Tuy nhiên, do thiếu nguồn tài chính
Trang 22
nên hầu hết các bãi chôn lấp hợp vệ sinh đều được xây dựng bằng nguồn vốn ODA
Tự tiêu hủy là hình thức khá phổ biến ở các vùng không có dịch vụ thu gom và tiêu hủy chất thải Các hộ gia đình không được sử dụng các dịch vụ thu gom và tiêu hủy chất thải buộc phải áp dụng các biện pháp riêng tiêu hủy của gia đình mình, thường
là đem đổ bỏ ở các bờ sông, hồ gần nhà, hoặc là vứt bừa bãi ở một nơi nào đó gần nhà
Một số phương pháp tự tiêu hủy khác là đốt hoặc chôn lấp Tất cả các phương pháp này đều có thể hủy hoại môi trường một cách nghiêm trọng và có khả năng gây hại cho sức khỏe con người Nhiều bãi rác và bãi chôn lấp đang là mối hiểm họa về mặt môi trường đối với người dân địa phương Các bãi chôn lấp không hợp
vệ sinh và các bãi rác lộ thiên gây ra rất nhiều vấn đề môi trường đối với các cộng đồng dân cư xung quanh, bao gồm cả các vấn đề về ô nhiễm nước ngầm và nước mặt do nước rác không được xử lý, các chất ô nhiễm không khí, ô nhiễm mùi, ruồi,
muỗi, chuột bọ và ô nhiễm bụi, tiếng ồn
Trang 23
CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC THU GOM VÀ XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN THỊ TRẤN KỲ ANH
2.1 Khái quát về thị trấn Kỳ Anh
2.1.1 Khái quát về huyện Kỳ Anh
Kỳ Anh nằm trong dải đất hẹp của “khúc ruột miền Trung” gồm 32 xã và 1 thị trấn, trong đó có 24 xã là miền núi của tỉnh Hà Tĩnh
Kỳ Anh có quốc lộ 1A chạy dọc từ Bắc vào Nam với chiều dài 56km, đây là tuyến đường vận tải, giao lưu Bắc Nam quan trọng của cả nước Có quốc lộ 12 nối cảng Vũng Áng – cửa khẩu Chalo với nước bạn Lào và đông bắc Thái Lan là những lợi thế lưu thông buôn bán và phát triển với các khu kinh tế, khu đô thị, dịch vụ thương mại
Như vậy, với vị trí đó huyện Kỳ Anh có những tiềm năng và triển vọng để phát triển tổng hợp các ngành kinh tế và giao lưu buôn bán trong nội bộ vùng và quốc tế
- Vùng bãi ngang: đây là vùng ven biển gồm 8 xã thuận lợi cho việc phát triển nghề nuôi trồng thủy hải sản (sản lượng hàng năm lên đến 5000 tấn)
Trang 24
- Vùng trên: địa bàn chủ yếu là đồi núi, có khả năng phát triển kinh tế vườn đồi, trồng cây ăn quả, cây CN, rừng nguyên liệu
* Khí hậu
Huyện Kỳ Anh mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa
- Mùa khô từ tháng I đến tháng VIII;
- Mùa mưa từ tháng IX đến tháng XII;
- Mùa đông có gió Tây Bắc và Bắc;
- Mùa hè có gió Đông và Đông Nam;
- Gió nóng khô xuất hiện vào tháng VI, VII, VIII;
- Bão xuất hiện từ tháng IX đến tháng đến tháng XII;
- Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,9oC;
- Lượng mưa trung bình là 300 mm/năm, tuy nhiên phân bố không đều tập trung chủ yếu vào mùa mưa (tháng IX đến tháng XII) chiếm 80% tổng lượng nước
cả năm
* Thủy văn
Là một huyện có đồi núi chiếm phần lớn diện tích lãnh thổ, địa hình dốc nghiêng ra biển nên sông ngòi có đặc điểm là ngắn, lưu vực nhỏ, dốc và đều bắt nguồn từ những đỉnh núi cao nên tốc độ dòng chảy lớn nhất là về mùa mưa lũ; và đặc biệt mạng lưới sông ngòi ở đây khá dày đặc, có độ uốn khúc lớn Mùa lũ nước chảy dồn ứ từ các sườn dốc xuống phía các thung lũng hẹp, nước sông lớn lên rất nhanh gây lũ lớn, ngược lại vào mùa ít mưa nước sông xuống thấp, dòng chảy trong các tháng kiệt rất nhỏ Sự phân bố chế độ dòng chảy đối với các sông suối ở Kỳ Anh theo mùa rõ rệt, hầu hết các sông chịu ảnh hưởng của mưa lũ ở thượng nguồn,
ở khu vực hạ lưu do chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ triều nên thường bị nhiễm mặn
Nhìn chung nguồn nước ngầm ở đây khá phong phú vì nền địa chất bên dưới chủ yếu từ các đá phiến sét nên khả năng chứa và giữ nước tốt Sự phong phú về nguồn nước mặt và nước ngầm đã cung cấp một lượng nước cần thiết cho thực vật vào mùa khô
Trang 25
* Tài nguyên thiên nhiên:
- Tài nguyên nước:
Kỳ Anh có nguồn nước khá phong phú Đó là hệ thống sông Rác, Kim Sơn, Tàu Voi, Mộc Hương ngoài việc phục vụ tưới nước cho sản xuất nông nghiệp và cung cấp nguồn nước cho nhà máy nước Kỳ Anh, nhà máy nước khu CN cảng Vũng Áng Nó còn là những điểm du lịch hấp dẫn bên cạnh những cánh rừng thông rừng tràm xanh tốt Để cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất tại địa phương huyện Kỳ Anh đã xây dựng nhiều công trình thủy lợi Đó là công trình đại thủy nông sông Rác, 6 công trình trung thủy nông vfa 57 hồ đập lớn nhỏ với tổng trữ lượng 170 triệu m3 cùng hệ thống kênh mương đang từng bước được bê tông hóa Đặc biệt để cấp nước cho sản xuất của thị trấn Kỳ Anh và khu kinh tế cảng Vũng Áng huyện đã xây dựng hồ chứa nước thượng nguồn sông Trí dung tích gần 60 triệu
m3
- Tài nguyên đất:
Diện tích đất tự nhiên là 104186.73 ha trong đó:
+ Đất nông nghiệp: 82865.13 ha chiếm 79.53 % so với tổng diện tích tự nhiên
+ Đất phi nông nghiệp: 15721.87 ha chiếm 15.09% so với tổng diện tích tự nhiên + Đất chưa sử dụng: 5599.73 ha chiếm 5.37 % so với tổng diện tích tự nhiên
- Tài nguyên rừng:
Tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp của huyện Kỳ Anh khá phong phú Ngoài việc khoanh nuôi, bảo vệ rừng hiện có, mỗi nam huyện còn trồng được khoảng 3 triệu cây phân tán Đến nay diện tích rừng trồng mới đã đạt 28630 ha, đưa tỉ lệ che phủ đạt gần 40% diện tích đất toàn huyện Với diện tích rừng nói trên hiện nay rừng cung cấp nguyên liệu gỗ phục vụ cho sản xuất CN đã lên đến 63.521 ha Trong rừng có nhiều gỗ quý như: lim xanh, táu mật, trường mật, gội nếp, và các loại nứa, song, mây, giang Rừng ở đây giàu cây làm thuốc Ngoài khu rừng tự nhiên, khu rừng trồng cây nguyên liệu, huyện còn trồng diện tích cây cao su gần 2000 ha ở các xã vùng thượng, 250 ha chè nguyên liệu, nhiều trang trại nông lâm kết hợp cải tạo hàng ngàn ha vườn tạp để trồng cây ăn quả Đây là nguồn nguyên liệu lớn cho các ngành như nghề mộc dân dụng, các nhà máy băm dăm gỗ, nhà máy chế biến chè phục vụ xuất khẩu
Trang 26
- Tài nguyên khoáng sản:
Tài nguyên khoáng sản ở huyện Kỳ Anh tương đối đa dạng, có nhiều khoáng sản quý
và trữ lượng tương đối lớn như:
+ Mỏ Titan, zircol chạy dọc theo tuyến bờ biển có trũ lượng 2095452 tấn đã khai thác được 1071651 tấn
+ Vàng phân bố ở một số xã miền núi như Kỳ Tân, Kỳ Lâm, KỲ Sơn có trữ lượng khoảng 23666 kg
+ Kỳ Anh đặc biệt có những ngọn núi chứa hàng tỷ m3 đá granit nhưng hiện nay chỉ mới khai thác cục bộ nhỏ lẻ
+ Nguồn vật liệu xây dựng cũng đa dạng (gồm 745,88 ha núi đá), có thể khai thác mỗi năm 95000 m3 đá cát sỏi, 34 triệu viên gạch taplo, ngói thủ công Nguồn nguyên liệu này vừa phân bố tập trung vừa trải dài trên địa bàn huyện phục vụ đủ nhu cầu xây dựng các công trình hiện tại và trong tương lai
Ngoài ra còn một số khoáng sản như thạch anh, sỏi Nguồn khoáng sản này đang được khai thác phục vụ sản xuất CN trên địa bàn và xuất khẩu
- Tài nguyên biển
Kỳ Anh có chiều dài đường bờ biển là 63 km dọc theo các xã ven biển, là lợi thế của huyện trong việc nuôi trồng và đánh bắt thủy sản Với một cửa sông, 1000ha bãi triều, một cảng nước sâu Vũng Áng đã đưa vào khái thác có hiệu quả Theo kết quả nghiên cứu biển
Kỳ Anh có khoảng 267 loài cá, thuộc 90 họ, trong đó có 60 loài có giá trị kinh tế cao, 20 loà tôm, nhiều loài nhuyễn thể như sò, mực
Tiềm năng hải sản của Kỳ Anh rất lớn, nhiều vùng có khả năng nuôi tôm hùm, cửu khổng, cá măng, cá cam, ngao sò như ở Kỳ Xuân, Vũng Áng, Sơn Dương Nguồn lợi thủy hải sản của huyện Kỳ Anh có đặc điểm đa dạng, sống phân tán, tốc độ sinh trưởng nhanh Đây là thuận lợi cho việc khai thác và phát triển nghề đánh bắt hải sản ở Kỳ Anh
b Đặc điểm kinh tế - xã hội
* Dân cư - lao động
- Theo số liệu thống kê đến 31 - 12 - 2010, dân số trên địa bàn huyện là 172.270 người, mật độ dân số là 163 người/km2 Bình quận diện tích trên đầu người giảm (0,64ha/người năm 2001, 0,61ha/người năm 2008) Còn theo thống kê năm
Trang 27
2011 thì dân số của toàn huyện là 173.316 đông nhất tỉnh, mật độ dân số là 166 nguời/ km2 đứng thứ 8 trong toàn tỉnh Trong những năm gần đây, tỉnh vẫn chú trọng vào công tác kế hoạch hoá gia đình để giảm sự gia tăng dân số tự nhiên xuống mức thấp nhất
- Do dân số đông nên huyện Kỳ Anh có lực lượng lao động dồi dào, toàn huyện có gần 80.000 lao động, trong đó hơn 7.000 lao động thuộc các ngành khoa học kỹ thuật và giáo dục Hằng năm có 300 học sinh thi đậu vào các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp Đây là một tiềm năng lớn bổ sung lao động tri thức cho huyện nhà
- Người Kỳ Anh hội tụ nhiều phẩm chất và truyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam: yêu nước, cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất, thủy chung nghĩa tình, thông minh hiếu học, có tinh thần chịu đựng gian khổ biết vươn lên trong cuộc sống Những phẩm chất đó làm nên cốt cách riêng của con người Kỳ Anh Đó là động lực chính là cơ sở vững chắc để đào tạo nguồn lực cho sự phát triển kinh tế địa phương
Như vậy, dân cư nguồn lao động dồi dào với những phẩm chất tốt đẹp đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế đồng thời đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển CN nông thôn Tuy nhiên, lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật có tay nghề chiếm tỷ lệ thấp, phần nào ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của huyện, đặc biệt là khi khu kinh tế Vũng Áng đi vào hoạt động Do đó Kỳ Anh cần phải có chính sách đầu tư nhằm nâng cao đội ngũ lao đọng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao
* Cơ sở vật chất hạ tầng
- Mạng lưới giao thông
Hiện nay mạng lưới giao thông huyện Kỳ Anh tương đối phát triển Kỳ Anh có quốc lộ 1A chạy dọc từ Bắc vào Nam với chiều dài 56km, đây là tuyến đường vận tải, giao lưu Bắc Nam quan trọng của cả nước Có quốc lộ 12 nối cảng Vũng Áng – cửa khẩu Chalo là những lợi thế để lưu thông buôn bán và phát triển các khu kinh
tế, khu đô thị và dịch vụ thương mại cùng với cảng nước sâu Vũng Áng, cảng Sơn Dương cũng làm cho hoạt động giao lưu trao đổi với các nước thuận lợi hơn Nhìn
Trang 28Toàn huyện có 78 hồ đập, dung tích chứa trên 168 triệu m3 nước
Kênh tưới: có tổng chiều dài 593km trong đó kênh do công ty khai thác thủy nông sông Rác quản lý là 60km (kênh chính trên 40km, kênh cấp 1 là 20km), kênh nội đồng 533,84km
Hệ thống kênh mương đảm bảo tưới tiêu cho 7500ha lúa đông - xuân và 4700
ha lúa vụ hè - thu
Hệ thống đê biển: có chiều dài 60,93km
Với hệ thống thủy lợi đó góp phần cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt trên cả địa bàn huyện
- Mạng lưới điện
Sản lượng điện tiêu thụ năm 2010 đạt 40.927.997 kwh Hiện có 100% số thôn của 33 xã, thị trấn đã có điện và có trên 42.000 hộ sử dụng điện
- Bưu chính viễn thông
Huyện đã có đài phát thanh và truyền hình và chất lượng ngày càng được nâng cao Số hộ có tivi đến nay đạt 80%
Điện thoại cố định: tính đến đầu năm 2010 số điện thoại cố định có 15459 thuê bao, bình quân 9,3 máy/ 100 dân
Hệ thống bưu điện văn hóa xã được thành lập ở các xã, tạo điều kiện thuận lợi thông tin liện lạc về tận vùng sâu vùng xa của huyện Mạng dịch vụ điện thoại đã phủ sóng gần hết diện tích toàn huyện Hiện nay toàn huyện có 48 thư viện và phòng đọc sách với số đầu sách gần 26.000 cuốn
- Giáo dục, y tế
Đến nay Kỳ Anh đã có một hệ thống trường lớp đầy đủ các cấp học, ngành học phát triển rộng khắp tất cả các xã
Trang 29Các cơ sỡ văn hóa đã và đang được xây dựng và ngày càng hoàn thiện dần
Cả huyện có một đài phát thanh Đặc biệt có các di tích văn hóa nổi tiếng như: di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia đền thờ chế thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu, có các cảnh đẹp nổi tiếng như khu du lịch Hoành Sơn, Kỳ Nam, khu du lịch biển Kỳ Ninh… Với những di tích văn hóa và cảnh đẹp thiên nhiên, Kỳ Anh có khả năng khai thác lợi thế để phát triển ngành du lịch và dịch vụ, góp phần cải thiện đời sống nhân dân, đồng thời giáo dục cho thế hệ trẻ tình yêu quê hương đất nước
c Tình hình phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Kỳ Anh là huyện có địa hình phức tạp, khí hậu thất thường, đời sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn… Đó là những khó khăn mà Kỳ Anh phải đương đầu trong xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội
Xuất phát từ điều kiện cụ thể, đại hội Đảng bộ huyện Kỳ Anh đã xác định quan trọng nhất là lãnh đạo phát triển kinh tế thoát khỏi huyện nghèo Một số giải pháp thực hiện đã được đề ra phù hợp với thế mạnh và tình hình thực tiễn tại địa phương Đặc biệt là chính sách mời gọi đầu tư, xây dựng các dự án tiềm năng, đem lại hiệu quả kinh tế cao trong tương lai…Nhờ có hướng đi và Nghị quyết cụ thể, phù hợp cho nên chỉ tính trong 5 năm (từ 2006 – 2010) cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực: Nông - Lâm - Ngư nghiệp chiếm 27,87%, CN - Tiểu thủ CN
và xây dựng chiếm 32,39%, Thương mại- Dịch vụ chiếm 39,74% Một số dự án đầu
tư hạ tầng cơ sở để phát triển kinh tế gắn với quốc phòng được đầu tư xây dựng như: Đường kinh tế quốc phòng Tây - Bắc, đường Kỳ Lâm - Kỳ Lạc, đường cứu hộ Kim Sơn, đê biển Kỳ Ninh, Bệnh viên đa khoa huyện… Những kết quả đạt được trên lĩnh vực kinh tế: sản xuất nông lâm ngư nghiệp tiếp tục giữ vững ổn định, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm Năm 2009 giá trị nông - lâm - ngư đạt 647,82
tỷ đồng, tăng 2,12% so với năm 2008 Trong đó nông nghiệp đạt 477 tỷ đồng tăng 2,88%, thủy sản đạt 142 tỷ đồng tăng 18,9%, riêng lâm nghiệp đạt 28,720 tỷ đồng, giảm 43,9% Sản xuất CN - Tiểu thủ CN có bước phát triển khá, lĩnh vưc thương
Trang 30so với cùng kỳ năm trước Xuất khẩu thủy sản đạt giá trị 3,6 triệu USD Tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ xã hội đạt 315,166 tỷ đồng, tăng 14,88% so với cùng kỳ năm 2009 Các kĩnh vực Khoa học công nghệ, tiêu chuẩn đo lường chất lượng và dịch vụ Bưu chính viễn thông tiếp tục được mở rộng và hoạt động có hiệu quả, mật
độ máy điện thoại cố định 9,3máy/100 người dân
Như vậy, với những thành tựu về kinh tế mà huyện Kỳ Anh đã đạt được đã góp phần nâng cao đời sống nhân dân, đưa huyện trở thành một trong những huyện phát triển hàng đầu của tỉnh Hà Tĩnh
2.1.2 Khái quát về thị trấn Kỳ Anh
a Khái quát về điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
- Thị trấn Kỳ Anh nằm ở phía đông nam của tỉnh Hà Tĩnh, vào khoảng 17059’ – 1805’ B, 106,01 – 106,300Đ
- Phía tây và phía bắc giáp xã Kỳ Tân, Kỳ Hoa
- Phía nam giáp xã Kỳ Trinh
- Phía đông giáp Kỳ Châu và xã Kỳ Hưng
* Địa hình
Thị trấn Kỳ Anh nằm thuộc vùng giữa của huyện Kỳ Anh Địa hình ở đây khá bằng phẳng chủ yếu là đồng bằng, chỉ có một khu vực nhỏ ở phía tây là núi đồi thấp thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán và trao đổi hàng hóa các xã giáp biển lên và từ núi xuống
* Điều kiện khí tượng và thủy văn
Khu vực thị trấn Kỳ Anh nằm ở vùng khí hậu Bắc Trung Bộ Mùa mưa bắt đầu
từ tháng 8 và đạt cực đại vào tháng 9, đầu tháng 10 Thời kỳ bắt đầu mùa đông cũng
là thời kỳ độ ẩm không khí đạt cao nhất trong năm
Trang 31
Đặc diểm nổi bật của khí hậu ở đây là sự phân hóa mùa khá rõ rệt Gió Tây
Nam (gió Lào) khô nóng là một đặc thù của khí hậu Bắc Trung Bộ Thời kỳ gió Lào
là thời kỳ nóng nhất trong năm
Dưới đây là những thống kê về các yếu tố khí tượng từ chuỗi số liệu quan trắc
được trong giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2009 tại trạm khí tượng Kỳ Anh (tọa độ
địa lý 18°06’B và 106°16’Đ)
- Nhiệt độ
Đặc trưng nhiệt độ khu vực thị trấn Kỳ Anhđược trình bày trên bảng 2.1
Bảng 2.1: Nhiệt độ trung bình tháng, năm
Max 26,7 29,1 35,5 37,5 38,5 38,7 38,8 39,8 35,8 30,8 29,4 27,0 39,8 Min 6,9 10,3 8,4 13,3 17,9 21,8 21,0 22,3 20,8 17,4 12,3 8,0 6,9
Tb 18,4 19 22,6 24,9 27,7 30,1 30,2 29 26,8 25,3 22,3 19,2 24,5
(Nguồn: Số liệu quan trắc tại trạm khí tượng Kỳ Anh 1993÷2009)
Nhiệt độ trung bình nhiều năm là 24,5°C
Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất vào tháng 7 là 30,2°C
Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất vào thánh 1 là 18,4°C
Nhiệt độ không khí cao nhất là 39,8°C (4/4/2003)
Nhiệt độ không khí thấp nhất là 6,9°C (22/2/1996)
- Chế độ bức xạ mặt trời
Tổng thời gian chiếu sáng trong năm tại khu vực thị trấn Kỳ Anh dao động từ
1.237 đến 1.668 giờ/năm Cường độ bức xạ mặt trời cực đại đạt 1.851 Kcal/năm do
độ dài ngày và độ cao mặt trời lớn
Đặc trưng giờ nắng khu vực Thị trấn Kỳ Anh được trình bày trong bảng 2.2
Bảng 2.2: Tổng số giờ nắng trung bình tháng, năm
Đơn vị: giờ
I II III IV V VI VI
I VIII IX X XI XII TB
(Nguồn: Số liệu quan trắc tại trạm KT Kỳ Anh 1993÷2009)
Trang 32
Tổng số giờ nắng trung bình năm là 1528,5 giờ
Tháng có số giờ nắng thấp thường rơi vào tháng 12, trung bình là 48,2
Tháng có số giờ nắng cao nhất thường rơi vào tháng 6, trung bình la 215,2
Do độ dài ngày và độ cao mặt trời lớn nên bức xạ mặt trời cực đại của Thị trấn
Kỳ Anh cao (1838÷1851 kcal/năm)
- Chế độ mưa, bốc hơi
Thị trấn Kỳ Anh có hai mùa khá rõ rệt, mùa khô và mùa mưa Mùa khô thường kéo dài từ thánh 12 tới tháng 4 năm sau, mùa mưa thường từ tháng 6 đến tháng 11 Tổng lượng mưa trung bình năm là 2730mm
Lượng mưa ngày lớn nhất là 484,2mm (18/10/1993)
Lượng mưa lớn thường tập trung vào các tháng 9, 10 và 11, tháng 10 có lượng trung bình tháng lớn nhất (634,9mm)
Năm 1999 là năm có lượng mưa trung bình lớn nhất (3790mm) tính trong chuỗi số liệu từ 1993 đến 2009
Đây cũng làc vùng chịu ảnh hưởng của nắng nóng và hiệu ứng Phơn khô nóng của gió mùa Tây Nam khi vượt qua dãy Trường Sơn nhiều hơn các vùng khác trong tỉnh Hà Tĩnh nên lượng bốc hơi tương đối lớn Lượng bốc hơi lớn nhất xuất hiện vào tháng 7, lượng bốc hơi nhỏ nhất tháng cuối mùa mưa
Đặc trưng về mưa tại khu vực Thị trấn Kỳ Anh được trình bày trong bảng 2.3
Bảng 2.3: Lượng mưa trung bình tháng, năm
Trang 33Bảng 2.4: Tốc độ gió (m/s) đo được tại trạm Kỳ Anh Hướng gió
3 ÷ 6 cơn bão đi qua, trong đó có từ 2 ÷ 3 cơn bão có ảnh hưởng trực tiếp
b Đặc điểm kinh tế - xã hội thị trấn Kỳ Anh
Thị trấn Kỳ Anh được thành lập ngày 8/9/1986 theo quyết định 105 của Hội Đồng Bộ trưởng nay là Chính Phủ bao gồm diện tích và dân cư của 5 xã hợp thành là: Kỳ Châu, Kỳ Hưng, Kỳ Hoa, Kỳ Tân và Kỳ Trinh Với tổng diện tích tự nhiên 524,6 ha
Trang 34
Trong đó: Đất nông nghiệp: 283,64 ha, đất phi nông nghiệp: 180,49 ha, đất chưa sử dụng: 60,47 ha
Dân số có 2.703 hộ với 11.028 khẩu Được phân bổ trên 9 khu phố: Khu phố
1, Khu phố 2, Khu phố 3, Châu Phố, Hưng Lợi, Hưng Hoà, Hưng Thịnh, Hưng Bình và khu phố Trung Thượng
Thị trấn Kỳ Anh có đường quốc lộ 1A xuyên suốt địa bàn và chiều dài 6 km,
có các trục đường tỉnh lộ, thị trấn lộ nối với các đường kinh tế biển, kinh tế rừng trong thị trấn Có đường 12 nối Cảng biển Vũng Áng với đất nước bạn Lào Là địa bàn trung tâm của thị trấn có 2 chợ, hơn 60 cơ quan đơn vị, xí nghiệp từ trung ương, tỉnh, thị trấn đóng trên địa bàn là cơ sở để tạo nguồn nhân lực, phát triển đa dạng hóa ngành nghề, sản xuất công nghiêp, Tiểu thủ công nghiệp, phát triển kinh tế toàn diện
Thị trấn Kỳ Anh được thành lập trên mảnh đất có các di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng trong thị trấn đó là đền thờ chế thắng Phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu, đền thờ và mộ Thọ Quan Công Phạm Tiên một danh nhân nổi tiếng về chống giặc, nơi đây đã từng là trung tâm của các phong trào nổi dậy phá thành bắt sống quan lại
và là nơi trung chuyển quân lương phục vụ chiến trường đánh Mỹ trong thời kỳ kháng chiến
20 năm qua Đảng bộ và nhân dân Thị trấn đã phát huy nội lực, tranh thủ sự giúp đỡ của các cấp, các nghành từ các tỉnh đến thị trấn đã giành được những thành tích quan trọng, tốc độ tăng trương kinh tế bình quân hằng năm 14%
Thu nhập bình quân đầu người, đến năm 2005 đạt 5,5 triệu đồng/người/năm, năm 2010 đạt 10 triệu đồng/người/năm
Cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp 18%, CN-TTCN 12%, DVTM 67%, tổng sản lượng lương thực: 800 tấn, phát huy những thành tích đã đạt được, tiếp tục phấn đấu vươn lên từ năm 2006-2010 Đảng bộ và nhân dân Thị trấn đã hoàn thành các mục tiêu đã được đại hội Đảng bộ lần thứ VII đề ra đó là:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế 16-17%, cơ cấu thương mại dịch vụ chiếm 70%, công nghiệp tiểu thủ công nghiệp chiếm 20%, nông nghiệp 10%