Từ hành động dẫn đến hành động, chính trong quá trình này, việc liên hệ từ bài học tới giáo dục cho các em những hành động cụ thể để hình thành kĩ năng sống thân thiện với môi trường là
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON
- -
LÊ THỊ HỒNG THANH
Giáo dục kĩ năng sống thân thiện với môi trường cho học sinh lớp 4, 5 thông qua giờ
học Kĩ thuật ở Tiểu học
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên của khóa luận, em xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa Giáo dục Tiểu học - Mầm non Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô giáo cùng các em học sinh trường tiểu học Trần Cao Vân trong thời gian qua đã
có sự hỗ trợ tốt nhất để em hoàn thành khóa luận
Xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến cô giáo - ThS Trần Thị Kim Cúc, người đã hết lòng động viên, khuyến khích
và hướng dẫn tận tình để em hoàn thành khóa luận này
Do lần đầu nghiên cứu khoa học, không thể tránh được những thiếu sót, vì vậy, em kính mong nhận được sự thông cảm, góp ý bổ sung từ quý thầy cô giáo và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Lê Thị Hồng Thanh
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GV : Giáo viên
HS : Học sinh KNS : Kĩ năng sống BVMT : Bảo vệ môi trường
CN : Công nghiệp
Trang 4MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU Trang 1
1 Lí do chọn đề tài Trang 1
2 Mục đích nghiên cứu Trang 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu Trang 3
4 Giả thuyết khoa học Trang 3
5 Nhiêm vụ và phạm vi nghiên c ứu Trang 3 5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu Trang 3 5.2 Phạm vi nghiên cứu Trang 4
6 Phương pháp nghiên cứu Trang 4
7 Dự kiến cấu trúc công trình nghiên cứu Trang 5
PHẦN NỘI DUNG Trang 6 Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI Trang 6
1.1 Cơ sở lí luận Trang 6 1.1.1 Kĩ năng Trang 6 1.1.1.1 Khái niệm Trang 6 1.1.1.2 Kĩ năng sống Trang 6 1.1.1.3 Kĩ năng sống thân thiện với môi trường Trang 8 1.1.1.4 Quá trình hình thành kĩ năng Trang 8 1.1.2 Đặc điểm môn TC – KT Trang 8 1.1.2.1 Tính c ụ thể, trừu tượng của môn học Trang 8 1.1.2.2 Tính tổng hợp của môn học Trang 10 1.1.2.3 Tính thực tiễn của môn học Trang 10 1.1.2.4 Ngôn ngữ và thuật ngữ của môn học Trang 10 1.1.3 Đặc điểm tâm lí học sinh Tiểu học Trang 11 1.1.3.1 Những đặc điểm tâm lí chung của học sinh Tiểu học Trang 11 1.1.3.2 Đặc điểm nhận thức học sinh Tiểu học Trang 12 1.1.3.3 Đặc điểm nhân cách học sinh Tiểu học Trang 15
Trang 51.1.4 Đặc điểm sự hình thành kĩ năng ở học sinh Tiểu học Trang 16 1.2 Cơ sở thực tiễn Trang 16 1.2.1 Nội dung môn TC – KT ở Tiểu học Trang 16 1.2.2 Thực tế việc giáo dục bảo vệ môi trường ở Tiểu học Trang 18 1.2.2.1 Đối tượng điều tra Trang 18 1.2.2.2 Nội dung điều tra Trang 19 1.2.2.3 P hương pháp điều tra Trang 19 1.2.2.4 Kết quả điều tra Trang 20
CHƯƠNG 2 : XÂY DỰNG HỆ THỐNG KĨ NĂNG HÌNH THÀNH CHO HỌC SINH THÔNG QUA MÔN TC – KT Trang 31
2.2 Hệ thống kĩ năng xây dựng theo chương trình học mỗi lớp Trang 31 2.3 Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống thân thiện với môi trường cho học
2.3.1 Cơ sở đề xuất biện pháp Trang 49 2.3.2 Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống thân thiện với môi trường cho học sinh Trang 52 2.3.2.1 Phương pháp và hình thức dạy học giúp hình thành kĩ năng sống thân thiện với môi trường cho học sinh Trang 52 2.3.2.2 Thiết kế hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có nội dung giáo dục kĩ năng sống thân thiện với môi trường Trang 57 2.3.2.3 Xây dựng trò chơi có nội dung giáo dục kĩ năng sống thân thiện với môi trường cho học sinh Trang 59
CHƯƠNG 3 : THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM Trang 62
3.1 Mục đích thực nghiệm Trang 62 3.2 Chuẩn bị thực nghiệm Trang 62 3.2.1 Địa điểm thực nghiệm Trang 62 3.2 2.Nội dung thực nghiệm Trang 62 3.2.3 Tiêu chí đánh giá Trang 63 3.3 Tiến hành thực nghiệm Trang 63
Trang 63.4 Kết quả thực nghiệm Trang 75
PHẦN KẾT LUẬN Trang 79
1 Kết luận Trang 79
2 Kiến nghị Trang 80 2.1 Đối với giáo viên Tiểu học Trang 81 2.2 Đối với các cấp lãnh đạo Trang 81 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Từ 17/10/2001, Bộ giáo dục và Đào tạo đã chủ trương đưa kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường vào hầu hết các môn học ở bậc Tiểu học Đây
có thể nói là một sự chuyển biến lớn trong việc nhận thức về tầm quan trọng của BVMT đối với cuộc sống con người trong hiện tại và tương lai ở nền giáo dục Việt Nam Nền kiến thức này bước đầu được tích hợp trong quá trình giảng dạy trên lớp thông qua giờ học các môn như Tiếng Việt, Lịch sử, Địa lí, TN&XH, Đạo đức hay Khoa học Nói như tài liệu của Bộ GD&ĐT : “…Giáo dục BVMT cho học sinh Tiểu học tức là làm cho 10% dân số hiểu biết về môi trường và BVMT” Con số 10% này không chỉ nói riêng tới học sinh mà bao gồm cả đội ngũ Giáo viên giảng dạy và cán bộ quản lí giáo dục Do vậy nền tảng về việc giáo dục này tuy hợp lí nhưng lại không thật sự cải thiện hiệu quả việc giáo dục ý thức về BVMT ở các em Hầu hết việc tích hợp trong giảng dạy đều dừng lại ở mức liên hệ suy nghĩ
và phát biểu phải làm gì chứ các em chưa phải thật sự hành động, phải có làm thì sự giáo dục về môi trường đối với các em mới có hiệu quả Có thể nói việc giáo dục BVMT ở ta chưa cho các em biết phải “làm” những gì mà các em nhìn nhận thực tế và từ đó đặt câu hỏi : “ Nếu như em thì em sẽ làm gì?” Việc giơ tay để phát biểu - ai trong số các em cũng có thể nói đúng, nói hay nhưng khi gặp tình huống thực tế, liệu các em có thể làm như lời mình nói?
Nền giáo dục nước ta bắt đầu việc thay đổi nhận thức về BVMT cho học sinh ở cấp học thấp nhất trong hệ thống giáo dục phổ thông nhưng đồng thời cũng là cấp học nền tảng – cấp Tiểu học Để việc giáo dục thật sự hiệu quả hơn, chúng ta phải giáo dục cho sự thay đổi ngay trong chính các
Trang 8em, không chỉ bằng suy nghĩ mà là cả hành động TC – KT là một trong những môn học giáo dục cho các em nền tảng kĩ năng rất tốt Không chỉ là việc gấp một chiếc máy bay, cắt một bông hoa, lắp ráp một mô hình đồ chơi, trồng một cây rau mà hơn cả là môn học này đưa các em vào môi trường làm việc bằng sự lao động của cả chân tay và trí óc Từ hành động dẫn đến hành động, chính trong quá trình này, việc liên hệ từ bài học tới giáo dục cho các em những hành động cụ thể để hình thành kĩ năng sống thân thiện với môi trường là điều rất hợp lí và có thể mang lại hiệu quả cao
Chính vì những lí do trên tôi quyết định chọn đề tài : “Giáo dục kĩ năng sống thân thiện với môi trường cho học sinh lớp 4, 5 thông qua giờ học
Kĩ thuật ở Tiểu học”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi nhằm xây dựng hệ thống các kỹ năng có thể giáo dục hình thành ở các em một lối sống thân thiện với môi trường một cách có hiệu quả, thiết thực từ các bài học trong chương trình
TC – KT lớp 4, 5 thông qua đó giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể : Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường
3.2 Đối tượng nghiên cứu : Biện pháp hình thành kĩ năng sống thân thiện với môi trường ở học sinh lớp 4, 5 trong môn học TC – KT
4 Giả thuyết khoa học
Kĩ năng sống của học sinh Tiểu học nói chung còn yếu, chưa được hình thành nhiều Vì vậy khi nói đến cụm từ “ sống thân thiện với môi trường” đối với nhiều em còn rất xa lạ nhưng cái “lạ” này sẽ khiến các em
Trang 9thích thú và hành động theo Cộng với các kỹ năng được chỉ dẫn cụ thể và đơn giản, môi trường áp dụng lại chính là môi trường sống của các em, không khó để thực hiện Các em sẽ hào hứng hơn với việc thực hiện các hành động này, từng bước trở thành người sống và hành động vì môi trường trong tương lai
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc GD BVMT cho học sinh Tiểu học nói chung
- Nghiên cứu thực trạng về hiệu quả GD BVMT đối với học sinh
- Xây dựng hệ thống kĩ năng cụ thể cho việc giáo dục các em thành con người sống thân thiện, có trách nhiệm với môi trường
- Tổ chức thực nghiệm nhằm đánh giá cụ thể quá trình triển khai đề tài
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Các bài học TC – KT lớp 3, 4, 5 và nội dung bảo vệ môi trường vào bài học
6 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận về GD BVMT
- Điều tra bằng trắc nghiệm để xác định thực trạng về hiệu quả GD BVMT
ở học sinh đối với việc dạy học hiện nay
- Thực nghiệm sư phạm đối với hệ thống kĩ năng xây dựng để có thể thấy được hiệu quả của cách dạy này
Trang 10- Quan sát sư phạm để có thể thấy được sự chuyển hóa trong hành động ở các em sau mỗi giờ học
- Phương pháp thống kê toán học nhằm xử lí các số liệu điều tra về định lượng
7 Dự kiến cấu trúc công trình nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung gồm các chương
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chương 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG KĨ NĂNG HÌNH THÀNH CHO HỌC SINH THÔNG QUA MÔN TC – KT
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
Trang 11PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1 Kĩ năng
1.1.1.1 Khái niệm
Kỹ năng là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc nào đó phát sinh trong cuộc sống
Để giải thích nguồn gốc hình thành kỹ năng có lẽ phải kể đến 2 lý thuyết về Phản xạ có điều kiện (được hình thành trong thực tế cuộc sống của cá nhân) và Phản xạ không điều kiện (là những phản xạ bẩm sinh mà
cá nhân sinh ra đã sẵn có) Trong đó, kỹ năng của cá nhân gần như thuộc về cái gọi là phản xạ có điều kiện, nghĩa là kỹ năng được hình thành từ khi một cá nhân sinh ra, trưởng thành và tham gia hoạt động thực tế cuộc sống
1.1.1.2 Kĩ năng sống (KNS)
Hiện nay người ta quan niệm khác nhau về kỹ năng sống, chưa có một khái niệm duy nhất được tất cả mọi người công nhận Theo Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO), KNS gắn
với 4 trụ cột của giáo dục: Học để biết (gồm các kỹ năng tư duy như: tư
duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhận thức
được hậu quả ); Học làm người (gồm các kỹ năng cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin, ); Học để sống
Trang 12với người khác (gồm các kỹ năng xã hội như: giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông); Học để làm (gồm kỹ năng thực hiện công việc và nhiệm vụ như: kỹ năng đặt mục
tiêu, đảm nhận trách nhiệm, )
Tổ chức y tế thế giới (WHO), KNS là những kĩ năng mang tính tâm
lí xã hội và kĩ năng về giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hằng ngày để tương tác một cách hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày
Theo Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc(UNICEF), KNS là kĩ năng nhận biết và sống của chính mình, với người khác để có khả năng ra quyết định
Tóm lại, KNS nhằm giúp chúng ta chuyển dịch kiến thức - "cái chúng ta biết” và thái độ, giá trị - "cái chúng ta nghĩ, cảm thấy, tin tưởng” thành hành động thực tế - “làm gì và làm cách nào” là tích cực nhất và mang tính chất xây dựng
Như vậy, kỹ năng sống bao gồm một loạt các kỹ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người Bản chất của kỹ năng sống là
kỹ năng tự quản lý bản thân và kỹ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả Nói cách khác, kỹ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi con người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó trước các tình huống của cuộc sống
Việc giáo dục kỹ năng sống góp phần giải quyết tình trạng trẻ thụ động, không biết ứng phó trong những hoàn cảnh nguy cấp, không biết cách tự bảo vệ bản thân trước nguy hiểm, thậm chí không biết cách tìm kiếm sự giúp đỡ
Trang 13Bên cạnh đó, các bài học về kỹ năng sống sẽ giúp trẻ hình thành những kĩ năng tâm lý - xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống Đó là những kỹ năng chúng ta phải biết để có được sự điều chỉnh, ứng xử phù hợp với những thay đổi diễn ra hằng ngày, hàng giờ
Qua học tập và rèn luyện các kỹ năng sống, các em sẽ cảm nhận, thấu hiểu và trân trọng những giá trị căn bản của cuộc sống Ví dụ như: Khả năng làm chủ bản thân của mỗi người; Khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội; Khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống
Hiện nay đã có hơn 155 nước trên thế giới quan tâm đến việc đưa kỹ năng sống vào nhà trường, trong đó có 143 nước đã đưa vào chương trình chính khoá ở Tiểu học và Trung học Việc giáo dục KNS cho HS ở các nước được thực hiện theo 3 hình thức:
+ Coi KNS là một môn học riêng biệt (chỉ một số nước)
+ KNS được tích hợp vào một vài môn học chính
+ KNS được tích hợp vào nhiều hoặc tất cả các môn học trong chương trình (đa số các nước – tránh quá tải cho chương trình)
Tại Việt Nam KNS trong những năm gần đây đã được tích hợp trong một số môn học liên quan nhằm giúp học sinh không chỉ vững về mặt lí luận mà cả mặt thực tiễn
1.1.1.3 Kĩ năng sống thân thiện với môi trường
Có rất nhiều các kĩ năng sống khác nhau trong đó “kĩ năng sống thân thiện với môi trường” là một trong những kĩ năng sống mới nhưng rất
Trang 14thế giới Con người được trang bị kĩ năng sống thân thiện với môi trường là những người biết “sống xanh” – sống một cuộc sống của bản thân bạn, biết tận hưởng cuộc sống, biết yêu quí những gì mình có Sống giản dị và vui, sống có ích cho bản thân và cho người khác
“Sống xanh là cuộc sống luôn suy nghĩ, dùng mọi biện pháp và những hành vi đơn giản để bảo vệ môi trường và cuộc sống của chính chúng ta” [14,124]
Sống xanh tức là chúng ta phải đối xử tôn trọng môi trường thiên nhiên và con người xung quanh
Lối sống này đang là lối sống được khuyến khích dành cho tất cả mọi người, đặc biệt là giới trẻ Vì vậy, trang bị cho học sinh Tiểu học – cấp học nền tảng những kĩ năng cần thiết để có thể “sống xanh” là điều vô cùng cần thiết
1.1.1.4 Quá trình hình thành kĩ năng
Tạo cho con người có được tri thức đã được đúc kết, chắt lọc của nhân loại về kỹ năng sống Từ đó cùng với sự chủ động của mỗi người để
họ có được sự tự ý thức và rèn luyện các khả năng ứng phó với tình huống
xã hội gặp phải Mỗi người tự tìm hiểu thì sẽ rất khó khăn, vì thế nếu được học tập, rèn luyện có hướng dẫn thì kết quả sẽ khả quan hơn Do vậy giáo dục kỹ năng sống là cần thiết đối với tất cả mọi người, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ
1.1.2 Đặc điểm môn TC – KT
1.1.2.1 Tính cụ thể, trừu tượng của môn học
Tính cụ thể môn học thể hiện ở chỗ nội dung môn học đề cập đến những vật phẩm kĩ thuật cụ thể(các dụng cụ lao động cầm tay, các đồ chơi,
Trang 15mô hình kĩ thuật) cũng như các thao tác kĩ thuật cụ thể (gấp, cắt, dán, đan, lắp ghép, cuốc đất, nhặt cỏ, tưới nước ) Những kiến thức trực quan này học sinh có thể trực tiếp tri giác ngay trên đối tượng nghiên cứu hoặc qua thao tác mẫu của giáo viên Do vậy, khi dạy cho học sinh những hiểu biết này cần:
- Tăng cường cho học sinh quan sát các vật thật, mô hình, thao tác hoặc các quy trình kĩ thuật cụ thể
- Coi đối tượng của trực quan như điều kiện, phương tiện, điểm tựa cho quá trình lĩnh hội kĩ thuật
Tính cụ thể giúp người dạy có thể thực hiện tốt nguyên tắc về sự thống nhất giữa cụ thể và trừu trượng trong quá trình dạy học Nó là điểm xuất phát, giai đoạn đầu của quá trình nhận thức
Tính trừu tượng phản ánh trong hệ thống các khái niệm kĩ thuật (như vật tĩnh, vật động, vật chuyển động thẳng, vật chuyển động cong, cân bằng, trọng tâm, khái niệm điện, ) các nguyên lí kĩ thuật (nguyên lí cấu tạo, nguyên lí chuyển động, nguyên lí cắt gọt, ) các dạng gia công (gia công biến dạng, gia công nối ghép, gia công cắt gọt, ), các quá trình sinh học (quy trình sản xuất cây trồng và quy trình nuôi dưỡng chăm sóc vật nuôi nhỏ) mà học sinh không trực tiếp tri giác được Những nội dung đó học sinh muốn hiểu được phải tư duy trừu tượng (nhận thức lí tính) Song để có
tư liệu cho tư duy phải có nhận thức cảm tính (trực quan) Vì thế trong các tài liệu kĩ thuật, người ta phải trực quan (hình vẽ, đồ thị, sơ đồ, hình vẽ, )
Đặc điểm về tính cụ thể và trừu tượng của môn học đòi hỏi người giáo viên trong quá trình dạy học phải biết:
+ Tìm ra điểm xuất phát (tương đối) của mỗi khâu nhận thức Từ cái
Trang 16trong quá trình tổ chức và điều khiển quá trình nhận thức của học sinh và
đó cũng là cơ sở của việc vận dụng con đường quy nạp hay diễn dịch trong dạy học
+ Xác định đúng đắn vị trí, vai trò của trực quan, coi nó như một điều kiện phương tiện của sự chuyển biến biện chứng từ cái cụ thể sang trừu tượng và ngược lại Có nghĩa người dạy kĩ thuật phải biết chế tạo và sử dụng các phương tiện trực quan một cách có mục đích, có hiệu quả nhất
1.1.2.2 Tính tổng hợp của môn học
Môn Kĩ thuật ở Tiểu học ứng dụng mà cơ sở của nó là Toán học,Tự nhiên Xã hội, Khoa học, Đặc điểm này đòi hỏi người dạy Thủ công – Kĩ thuật phải biết:
- Kết hợp hai chiều với các môn học có liên quan đến kiến thức vừa tinh lại vừa tránh trùng lặp
- Vạch ra ý nghĩa thực tiễn của các môn học, tập áp dụng những kiến thức thu được từ các môn học khác vào thực tiễn
1.1.2.3 Tính thực tiễn của môn học
Đặc điểm này có được do đối tượng nghiên cứu và nội dung môn học phản ánh hoạt động thực tiễn của con người: Đó là lao động sản xuất
mà trong đó kĩ thuật là bộ phận chủ yếu Dựa trên cơ sở khoa học, những nhiệm vụ cụ thể trong thực tiễn sản xuất và đời sống Chẳng hạn, các phương tiện kĩ thuật (dao, kéo, dầm, cuốc, ) bao giờ cũng gắn với một quá trình sản xuất nhất định và các phương pháp gia công (phương pháp cắt, phương pháp gia công biến dạng, quy trình trồng một cây, quy trình nuôi một con vật, ) Đặc điểm này làm cho nội dung bài giảng bao giờ cũng gần gũi với học sinh nhỏ tuổi mà không làm giảm ý nghĩa khoa học của nó
Trang 171.1.2.4 Ngôn ngữ và thuật ngữ của môn học
Ngoài việc sử dụng ngôn ngữ chung (lời nói, chữ viết), môn Thủ công – Kĩ thuật còn có ngôn ngữ đặc trưng của nó Đó là quy ước bản vẽ, quy trình kĩ thuật Ngôn ngữ đặc trưng này vừa mang tình chất nghề nghiệp riêng song lại mang tính chất quy ước quốc gia (các tiêu chuẩn về kĩ thuật)
Những thuật ngữ cũng được sử dụng theo từng chuyên ngành và theo quy ước nhất định
Đặc điểm này đòi hỏi giáo viên phải biết:
+ Hình thành và cho học sinh sử dụng chính xác các khái niệm, tên gọi, quy ước kĩ thuật trong môn học
+ Biết sử dụng và hướng dẫn học sinh sử dụng các tài liệu kĩ thuật thông dụng: bản vẽ quy trình kĩ thuật, sổ tay kĩ thuật, hồ sơ kĩ thuật của các phương tiện
1.1.3 Đặc điểm tâm lí học sinh Tiểu học
1.1.3.1 Những đặc điểm tâm lí chung của học sinh Tiểu học
Bậc Tiểu học là bậc học chủ đạo đối với sự phát triển toàn diện nhân cách học sinh Vào lớp 1 là một bước ngoặt quan trọng trong đời trẻ Từ đây học tập là nhiệm vụ hàng đầu của trẻ Đến trường, trẻ em có hoạt động mới giữ vai trò chủ đạo quyết định những biến đổi tâm lí cơ bản ở lứa tuổi này Gia nhập cuộc sống nhà trường, học sinh phải tiến hành hoạt động, hoạt động nghiêm túc, có kỉ cương, có những yêu cầu nghiêm ngặt Trẻ phải tuân thủ những quy định của trường lớp mà giáo viên đưa ra Những mối quan hệ mới với thầy cô giáo, với bạn bè cùng tuổi được hình thành Trẻ em thực hiện một cách tự giác có tổ chức các hoạt động phong phú và
Trang 18biệt đến sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh Chính ở bậc học này, những đặc điểm tâm lí, sinh lí của trẻ phát triển mạnh mẽ, hình thành nề nếp, thói quen học tập, nhu cầu nhận thức, Vì thế, đa số trẻ em phải chuẩn bị sẵn sàng về mặt tâm lí khi đến trường
Các nhà tâm lí học cho rằng tâm lí sẵn sàng đi học của trẻ gồm 4 thành tố, trong đó sự thích thú đi học là quan trọng nhất Bởi chúng muốn đến trường để xem nhà trường có gì khác biệt so với ở nhà Đầu tiên, trẻ chỉ thích thú vẻ bề ngoài của hoạt động đi học nên hứng thú đó dễ mất đi
Vì vậy, cần phải nhanh chóng làm cho các em thích thú với những cái thuộc về nội dung hoạt động học, tri thức mới, Chính vì thế, để thu hút s ự tham gia học tập của học sinh giúp các em phát triển một cách toàn diện, yêu cầu cần đặt ra đối với các nhà sư phạm là phải lựa chọn, sử dụng các phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học phù hợp
Trẻ em ở lứa tuổi tiểu học là một chỉnh thể trọn vẹn nhưng chưa hoàn thiện về mọi mặt mà đang dần phát triển Trong giai đoạn này, sự phát triển tâm lí và thể chất các cơ quan, bộ phận đều phát triển nhưng chưa hoàn thiện Khi các em bắt đầu đi học thì diễn ra sự thay đổi các hoạt động Hoạt động chủ đạo của lứa tuổi này là hoạt động học tập, chính hoạt động
đó đã làm thay đổi một cách cơ bản những động cơ hành vi của trẻ, giúp trẻ tiếp thu nhiều tri thức, làm kĩ năng vận dụng vào cuộc sống, là nguồn lực quan trọng của đất nước Vì vậy, hoạt động học phải được xem như là đối tượng lĩnh hội, sau đó trở thành phương tiện để tiếp thu tri thức, khoa học mới
1.1.3.2 Đặc điểm nhận thức học sinh Tiểu học
1.1.3.2.1 Nhận thức cảm tính
Trang 19- Các cơ quan cảm giác: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện
- Tri giác: Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết
và mang tính không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng - Tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó, )
1.1.3.2.1 Nhận thức lý tính
- Tư duy
Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát, khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học
- Tưởng tượng
Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dày dặn Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:
Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững
và dễ thay đổi
Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những
Trang 20tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh, Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các
em
- Chú ý
Ở đầu tuổi tiểu học: chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát,
điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú không chủ định chiếm
ưu thế hơn chú ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh,trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng, Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập
Ở cuối tuổi tiểu học: trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý
của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự
nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài, Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định
- Trí nhớ: Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic
Ở đầu tuổi tiểu học: ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu
thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu
Trang 21Ở cuối tuổi tiểu học: ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng
cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em
- Ý chí
Ở đầu tuổi tiểu học: hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào yêu
cầu của người lớn (học để được bố cho đi ăn kem, học để được cô giáo khen, quét nhà để được ông cho tiền, ) Khi đó, sự điều chỉnh ý chí đối với việc thực thi hành vi ở các em còn yếu Đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thực hiện đến cùng mục đích đã đề ra nếu gặp khó khăn
Đến cuối tuổi tiểu học: các em đã có khả năng biến yêu cầu của người lớn
thành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hứng thú nhất thời
1.1.3.3 Đặc điểm nhân cách học sinh Tiểu học
- Tính cách học sinh Tiểu học: Đa số tính cách của các em mới hình thành,
chưa ổn định, có thể thay đổi dưới tác động của giáo dục gia đình, nhà trường Hành vi của học sinh tiểu học có tính xung động, mang tính tự phát Phần lớn học sinh tiểu học có nhiều nét tính cách tốt như chân thực, thương người, đặc biết là rất hồn nhiên Tính bắt chước cũng là một đặc điểm quan trọng của lứa tuổi này Ở nước ta, học sinh sớm có thái độ và thói quen tốt đối với lao động Vì vậy, nhà trường luôn tạo điều kiện cho các em phát huy sáng kiến, tổ chức và khuyến khích các em tham gia lao động
Trang 22- Nhu cầu nhận thức : Nhu cầu nhận thức của học sinh tiểu học phát triển
rất rõ nét, đặc biệt là nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh, khát vọng hiểu biết Nhu cầu nhận thức hình thành, phát triển luôn gắn liền với hành động
và hoạt động thực tiễn đa dạng trong gia đình, trường học, xã hội Ngay từ những ngày đầu của bậc tiểu học phải chú trọng hình thành nhu cầu nhận thức cho học sinh, bởi có nhu cầu nhận thức, các em sẽ khắc phục được những khó khăn để tự mình chiếm lĩnh tri thức và học tập suốt đời
- Đời sống tình cảm: Đối với học sinh tiểu học, tình cảm có vị trí đặc biệt
quan trọng gắn liền với nhận thức và hành động của trẻ Đối tượng gây cảm xúc cho học sinh tiểu học thường là những sự vật, hiện tượng cụ thể sinh động Xúc cảm, tình cảm của các em gắn liền với hình ảnh trực quan, cụ thể Học sinh tiểu học dễ xúc cảm nhưng khó kiềm chế, chưa kiểm soát sự thể hiện tình cảm ra bên ngoài Các em bộc lộ cảm xúc một cách hồn nhiên, chân thực Tình cảm của các em còn mong manh, chưa bền vững, chưa sâu sắc Sự chuyển hóa cảm xúc nhanh nên tình bạn cũng nhanh được thiết lập
Trong quá trình dạy học việc nắm rõ đặc điểm tâm lí học sinh tiểu học là điều rất quan trọng Đặc điểm tâm sinh lí của các em đang trong giai đoạn hình thành phát triển Chính vì thế việc lựa chọn phương pháp phù hợp để tác động là điều vô cùng cần thiết
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Nội dung môn TC – KT ở Tiểu học
Chương trình Kĩ thuật lớp 4 được chia làm ba chương với ba chủ đề sau:
+ Chương I: Kĩ thuật phục vụ (với nội dung chính là cắt, khâu, thêu) Bài 1: Vật liệu, dụng cụ cắt, khâu, thêu
Bài 2: Cắt vải theo đường vạch dấu
Trang 23Bài 3: Khâu thường
Bài 4: Khâu ghép hai mép vải bằng mũi khâu thường
Bài 5: Khâu đột thưa
Bài 6: Khâu viền đường gấp mép
Bài 7: Thêu móc xích
Bài 8: Cắt, khâu, thêu sản phẩm tự chọn
+ Chương II: Kĩ thuật trồng rau hoa
Bài 9: Lợi ích của việc trồng rau hoa
Bài 10: Vật liệu và dụng cụ trồng rau, hoa
Bài 11: Điều kiện ngoại cảnh của cây rau, hoa
Bài 12: Trồng cây rau, hoa
Bài 13: Chăm sóc rau,hoa
+ Chương III: Lắp ghép mô hình kĩ thuật
Bài 14: Các chi tiết và dụng cụ của bộ lắp ghép mô hình kĩ thuật
Bài 15: Lắp cái đu
Trang 24Bài 7: Một số dụng cụ nấu ăn và ăn uống trong gia đình Bài 8: Chuẩn bị nấu ăn
Bài 9: Nấu cơm
Bài 10: Luộc rau
Bài 11: Rán đậu phụ
Bài 12: Bày, dọn bữa ăn trong gia đình
Bài 13: Rửa dụng cụ nấu ăn và ăn uống
+ Chương 2: Kĩ thuật nuôi gà
Bài 15: Lợi ích của việc nuôi gà
Bài 16: Một số giống gà được nuôi nhiều ở nước ta Bài 17: Thức ăn nuôi gà
Bài 18: Nuôi dưỡng gà
Bài 19: Chăm sóc gà
Bài 20: Vệ sinh phòng bệnh cho gà
+ Chương 3: Lắp ghép mô hình kĩ thuật
Trang 251.2.2 Thực tế việc giáo dục bảo vệ môi trường ở Tiểu học
1.2.2.1 Đối tượng điều tra
Đối tượng điều tra của chúng tôi khi thực hiện đề tài này là giáo viên
và học sinh ở trường tiểu học Trần Cao Vân(quận Thanh Khê, thành phố
Đà Nẵng) ở khối lớp 4, 5 Do điều kiện về thời gian nên chúng tôi chỉ tiến hành điều tra ở một số lớp:
- Lớp 45 (42 học sinh), 44 (40 học sinh) thuộc khối lớp 4
- Lớp 53 (41 học sinh), 54 (39 học sinh) thuộc khối lớp 5
Đồng thời chúng tôi đã tiến hành hỏi và phát phiếu thăm dò về thực
tế dạy học môn Kĩ thuật và vấn đề GD BVMT đang ở trường hiện nay đối với một số thầy cô thuộc tổ 4 (giảng dạy khối lớp 4) và tổ 5 (giảng dạy khối lớp 5) tại trường tiểu học Trần Cao Vân
1.2.2.2 Nội dung điều tra
- Mức độ các kĩ năng cung cấp cho học sinh khi lồng ghép các kiến thức về bảo vệ môi trường trong các môn học khác nói chung
- Nhận thức của giáo viên về sự hình thành kĩ năng trong giáo dục bảo vệ môi trường
- Thực tế việc tích hợp các nội dung về bảo vệ môi trường thông qua môn
Kĩ thuật
- Thái độ của HS đối với vấn đề bảo vệ môi trường hiện nay
1.2.2.3 Phương pháp điều tra
- Phương pháp anket (phiếu điều tra):
Trang 26Các nội dung chúng tôi đưa ra ở trên được thể hiện dưới dạng câu hỏi trong phiếu điều tra
- Phương pháp xử lí thống kê:
Chúng tôi đã phát ra 22 phiếu thăm dò ý kiến (đối với đối tượng là giáo viên), số phiếu thu lại là 22 phiếu và 162 phiếu thăm dò ý kiến (đối với đối tượng điểu tra là học sinh) và thu lại 162 phiếu Số liệu thu được từ phiếu này được chúng tôi xử lí thống kê qua đó nhận xét về thực trạng của việc học môn Kĩ thuật ở Tiểu học
- Phương pháp quan sát, đàm thoại
Qua sự giờ các tiết dạy và trao đổi, trò chuyện trực tiếp với các giáo viên, chúng tôi thu thập được một số thông tin cần thiết về việc GD BVMT được tích hợp trong các môn học nói chung và trong môn Kĩ thuật nói riêng, những thuận lợi và khó khăn có thể gặp phải khi tiến hành đưa các kiến thức BVMT vào Kĩ thuật Từ đó tôi có thể rút ra được những kinh nghiệm bổ ích hơn khi tiến hành xây dựng hệ thống kĩ năng cũng như trong quá trình dạy thực nghiệm và hoàn thành đề tài sau này
- Phương pháp thực nghiệm
Thông qua một số tiết trực tiếp giảng dạy, chúng tôi đã thu được các thông tin cần thiết của môn học để tiến hành xây dựng đề tài hoàn thiện hơn
1.2.2.4 Kết quả điều tra
a Điều tra trên đối tượng là giáo viên
Câu 1: Với câu hỏi: “Việc dạy học tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường (BVMT) thông qua các môn học được cô (thầy) áp dụng:”
Trang 27Kết quả như sau:
là một vấn đề rất cần thiết bên cạnh việc giáo dục các kiến thức trong nội dung ở sách giáo khoa cho các em Các giáo viên còn cho biết việc tích hợp, lồng ghép các kiến thức BVMT còn được tiến hành song song với việc dạy các em kĩ năng sống, công tác y tế trong học đường…để các em
có thể tự mình hành động trong các tình huống đơn giản nhất khi ở trường Chúng ta càng thấy rõ một điều vấn đề giáo dục các kĩ năng sống cho các
em cũng đã được chú trọng để các em có thể trở thành những người có đủ kiến thức và vốn sống để vào đời
Câu 2: Với câu hỏi: “Việc giáo dục các nội dung về BVMT chủ yếu về:”
Kết quả như sau:
Trang 28Kĩ năng 6 27.27%
Qua bảng thống kê, ta có thể nhận thấy các nội dung GD BVMT được giảng dạy cho các em trong các giờ học đa phần được các thầy cô cung cấp đưới dạng kiến thức (chiếm 54.54%), hầu hết sự giáo dục vẫn thiên về mặt kiến thức – mặt “biết” Các kĩ năng được cung cấp tuy có nhưng tỉ lệ vẫn chưa cao (27.27%), chúng ta cùng xem qua một số mục tiêu được đưa ra khi giảng dạy các tiết học có tích hợp giảng dạy nội dung BVMT trong các tiết học khác mà tôi đã được tham khảo và dự giờ:
Bài 4 – Lớp 4 (Môn: Địa lí)
I Mục tiêu: Sau bài học, học sinh:
- Mô tả được vùng trung du Bắc Bộ
- Xác lập được mối quan hệ địa lí giữa thiên nhiên và hoạt động sản xuất của con người ở trung du Bắc Bộ
- Biết các công việc cần phải làm trong quá trình sản xuất ra chè
- Bước đầu biết dựa vào tranh ảnh, bảng số liệu để tìm kiến thức
- Có ý thức bảo vệ rừng và trồng rừng
Bài 10 – Lớp 4 (Môn: Lịch sử)
I/ Mục tiêu: Sau bài học, học sinh biết:
- Ở thời Lý, đạo Phật rất phát triển, chùa được xây dựng ở nhiều nơi
- Chùa là công trình kiến trúc đẹp
- Có ý thức bảo vệ di sản văn hóa cha ông để lại
Trang 29Bài 6 – Lớp 5 (Môn Địa lí)
I Mục tiêu: Sau bài học, học sinh:
- Chỉ được trên bản đồ (lược đồ) vùng phân bố đất phe-ra-lít, đất phù sa, rừng rậm nhiệt đới, rừng ngập mặn
- Nêu được một số đặc điểm của đất phe-ra-lít, đất phù sa; rừng rậm nhiệt đới, rừng ngập mặn
- Biết vai trò của đất, rừng đối với đời sống của con người
- Tuyên truyền vận động mọi người cùng tham gia bảo vệ, khai thác và sử dụng hợp lí đất và rừng
- Ý thức được sự cần thiết phải bảo vệ và khai thác đất, rừng một cách hợp
lí
Qua một số mục tiêu ở các bài học chúng ta thấy được hệ thống kiến thức cung cấp cho các em đa phần nghiêng về việc cung cấp các kiến thức chung, các kĩ năng nếu có cũng là những kĩ năng chưa cụ thể, được các em phát biểu một cách tự phát
Câu 3: Theo ý kiến của cô (thầy), hình thành kĩ năng sống thân thiện với môi trường đối với học sinh có vai trò như thế nào?
Trang 30Hầu hết các thầy cô đều cho rằng việc giáo dục các kĩ năng sống thân thiện với môi trường cho HS là điều rất quan trọng (chiếm 81.82%) bởi đây là một trong những kĩ năng cơ bản nhất để hỗ trợ cho hệ thống các kĩ năng sống đang được áp dụng giảng dạy ở trường tiểu học, để các biết kĩ năng hoạt động nhóm, kĩ năng giải quyết vấn đề, phát biểu trước các bạn …thì trước tiên các
em phải biết sống hòa hợp với chính môi trường xung quanh mình Hơn nữa, chính các em chứ không ai khác phải có cách nghĩ và hành động khác với chính chúng ta bây giờ để bảo vệ môi trường
Câu 4: Khi tích hợp những nội dung về BVMT trong giờ học, thái độ của học sinh trong lớp học như thế nào?
Câu 5: Cô (thầy) đã bao giờ tích hợp nội dung giáo dục BVMT vào môn Kĩ thuật chưa?
Trang 31Đáp án Số lượng GV Tỉ lệ (%)
Hầu hết các thầy cô đều không thường xuyên tích hợp các nội dung
về GD BVMT vào môn Kĩ thuật (9%) vì theo thầy cô, đa phần giờ học nghiêng về thực hành nên thời gian giảng bài là rất hạn chế Mặc khác tìm được những nội dung phù hợp để đưa vào giờ học cũng phải có thời gian chuẩn bị Tuy nhiên cũng có những thầy cô đã có những thầy cô đã đưa nội dung GD BVMT vào trong giờ học - chủ yếu là giờ học thủ công như dặn
dò các em tiết kiệm giấy, không xả rác, dọn dẹp lớp sạch sẽ sau khi thực hành…Qua số liệu này ta có thể thấy việc đưa những kĩ năng về BVMT vào trong môn Kĩ thuật là việc làm rất mới nhưng cũng không phải là điều
xa lạ và khó thực hiện nếu hệ thống nội dung được vạch ra sẵn và tương thích với từng bài học
Câu 6: Đối với môn học mang tính thực hành cao như Kĩ thuật, nếu có thể tích hợp nội dung BVMT vào trong giờ học, theo cô (thầy) mặt giáo dục nào sẽ só ưu thế?
Trang 32Khi được hỏi ý kiến về vấn đề này với câu hỏi: “ Đối với môn học mang tính thực hành cao như Kĩ thuật, nếu có thể tích hợp nội dung BVMT vào trong giờ học, theo thầy (cô) mặt giáo dục nào sẽ có ưu thế?” Với 22
GV được hỏi thì 7 GV (chiếm 30%) chọn mặt kiến thức, 11 GV (chiếm 52%) chọn mặt kĩ năng, còn lại 4 GV chọn mặt thái độ (chiếm 18%).Theo các thầy cô, không chỉ riêng môn Kĩ thuật mà trong tất cả môn học khác, nếu đã tích hợp các nội dung về BVMT vào giảng dạy thì phải lưu ý cả ba mặt: Kiến thức, kĩ năng, thái độ Tuy nhiên, đối với môn Kĩ thuật, vì đặc thù tính thực hành cao nên sự tích hợp, lồng ghép cũng phải mang tính thực hành vì vậy mặt kĩ năng nên được chú trọng hơn so với hai mặt còn lại Qua đó ta thấy rằng việc tích hợp GD BVMT thông qua môn học này nghiêng về mặt giáo dục kĩ năng là điều hợp lí và logic
b Điều tra trên đối tượng là học sinh
* Về tần suất các nội dung GD BVMT thông qua các giờ học trên lớp :
Câu 1 : “Các em có được GD về nội dung BVMT thông qua các giờ học trên lớp không ? ”
Kết quả như sau :
TT Đáp án Số lượng học sinh Tỉ số phần trăm
(%)
Trang 33Qua kết quả điểu tra, chúng ta thấy rằng tất cả các em đều được giáo dục các nội dung về BVMT thông qua các tiết học ở lớp Điều này cho ta thấy
rõ sự quan tâm của ngành giáo dục nước nhà đối với việc giáo dục các vấn đề
về môi trường cho thế hệ trẻ Trong đó, đi từ nền tảng cơ bản nhất là ở cấp tiểu học và khác với những năm đầu khi bắt đầu triển khai tích hợp, lồng ghép các nội dung này, giờ đây công việc này có lẽ đã rất quen thuộc với các thầy
cô ; chính điều này đã giúp HS dù ít, dù nhiều đều nhận thức được giáo dục các nội dung về bảo vệ môi trường
Kĩ thuật
Tỉ lệ(%) 0% 12.04% 39.76% 15.06% 24.7% 0% 8.5%
Qua bảng thống kê trên, ta thấy ở HS khối lớp 4 và 5 thì môn học chủ yếu đực các thầy cô đưa các kiến thức về môi trường vào giáo dục đó chính là môn Khoa học (39.76%), tiếp đến là Địa lí (24.7%), Lịch sử (15.06%), Tiếng Việt (12.04%) và Kĩ thuật (8.5%) Điều này cho thấy việc phân bố các nội dung về BVMT được rải đều trong các môn học miễn sao
sự tích hợp đó phù hợp với nội dung môn học
* Hứng thú của học sinh đối với giờ học Kĩ thuật
Câu 2: “Em có thích giờ học Thủ công – Kĩ thuật không?”
Kết quả như sau:
Trang 34TT Đáp án Số lượng học sinh
Như vậy, qua bảng thống kê này ta thấy đa số các em đều thích học giờ học Kĩ thuật, tỉ lệ này chiếm đến 96.39% Số học sinh không thích rất
ít Điều này chứng tỏ đây vẫn là một trong những môn học mà các em rất
ưa thích và có sức hút rất lớn đối với các em bởi tính nhẹ nhàng, chủ yếu thiên về hoạt động Sự hứng thú này giúp các em có thể rèn luyện kĩ năng của đôi tay, khối óc trong việc học Kĩ thuật nói riêng và các môn học khác nói chung
* Hứng thú của HS đối với giờ học có tích hợp, lồng ghép các nội dung về
Trang 35Qua bảng thống kê trên, chúng ta thấy đối với môn học đã có được
sự hứng thú nhất định từ học sinh như môn Kĩ thuật thì việc đưa vào bài học một số kĩ năng tương thích với nội dung bài học về vấn đề môi trường
là điều không quá khó khăn
* Nhận thức của học sinh đối với việc bảo vệ môi trường
Câu 4: “ Theo em, bảo vệ môi trường có đang là vấn đề cấp thiết cần
sự chung tay của tất cả mọi người không?”
Bảng thống kê này cho chúng ta thấy rõ các em đã có những nhận thức rất đáng mừng rằng BVMT đang là vấn đề mà cả xã hội quan tâm và các em cũng phải có trách nhiệm trong điều này, khi được hỏi, đa phần các
em không trả lời là “Có” hay “Không” mà thay vào đó, nếu đã nhận thức được sự quan trọng của BVNT, các em đã đưa ra những dẫn chứng chứng
tỏ rằng môi trường đang bị ô nhiễm và cần được bảo vệ như: Ô tô, xe đi càng nhiều sẽ thải nhiều khói, cháy rừng nhiều, rừng bị chặt gỗ nhiều…
* Kĩ năng sống của HS đối với môi trường
Câu 5: “ Hãy nêu ít nhất một việc làm mà em cho là góp phần bảo vệ môi trường?” thì mỗi HS đều có thể nói được một số việc làm mà các em cho
là góp phần BVMT, chẳng hạn như: Không xả rác, không bẻ cây hái hoa…là những kĩ năng thường lặp lại nhất Nếu được giáo dục một cách cụ
Trang 36thể hơn, sau này các em có thể nói được nhiều công việc hơn như: Tắt đèn khi ra khỏi phòng, vặn nhỏ vòi nước khi rửa tay cũng như tắm rửa để tiết kiệm nước…Những kĩ năng cơ bản này, một khi được cung cấp, không khó
để các em ghi nhớ và thực hiện, từ những kĩ năng nhỏ này, các em mới có thể dần dần làm những công việc lớn hơn, thiết thực hơn trong vấn đề bảo
vệ môi trường
Tiểu kết chương 1:
Qua việc tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài ở việc áp dụng hệ thống kĩ năng sống thân thiện với môi trường, chúng tôi nhận thấy đây là một vấn đề khá hay và mang tính thực tiễn rất cao Việc giáo dục kĩ năng sống ở học sinh là điều mà cả xã hội đều đang quan tâm, đặc biệt là
hệ thống kĩ năng được xây dựng ở đây lại gắn liền với môi trường Các em không chỉ nắm được kiến thức, mà còn biết phải làm gì, làm như thế nào Tuy nhiên hệ thống kĩ năng đưa vào giờ học Kĩ thuật là điều rất mới mẻ, việc lồng ghép, tích hợp phải có sự ăn nhập với nội dung của bài học để các
em tiếp thu một cách nhẹ nhàng nhất, không cảm thấy gò bó Chương 1 được hình thành là nền tảng cơ bản nhất để từ đó chúng tôi có thể xây dựng nên chương tiếp theo Chương này là hệ thống kĩ năng đưa vào từng bài học mà tôi đã xây dựng, ta có thể bắt gặp những kĩ năng này đâu đó trong cuộc sống nhưng để đưa vào giảng dạy, để nó trở thành một phản xạ, một suy nghĩ trước khi hành động ở các em lại là một điều khác Sự tương thích với bài học, yếu tố ngắn, gọn, dễ nắm bắt là các tiêu chí chung để xây dựng nên các hệ thống kĩ năng ở chương 2
Trang 37CHƯƠNG 2 : XÂY DỰNG HỆ THỐNG KĨ NĂNG HÌNH THÀNH
CHO HỌC SINH THÔNG QUA MÔN TC – KT 2.1 Mục tiêu môn TC – KT ở Tiểu học
Môn TC - KT ở tiểu học có mục tiêu như sau:
- Giúp học sinh hiểu được những tri thức cần thiết và tối thiểu về kĩ thuật cắt, khâu, thêu, nấu ăn trong gia đình; kĩ thuật trồng cây, nuôi vật nuôi trong gia đình và kĩ thuật lắp ghép mô hình Trên cơ sở đó, bước đầu hình thành cho các em làm quen với các lĩnh vực hoạt động dịch vụ, nông nghiệp, công nghiệp
- Hình thành ở học sinh các kĩ năng lao động đơn giản: Khâu, thêu, nấu ăn, trồng cây, chăn nuôi và sử dụng các dụng cụ thông thường (kéo, kim khâu, thước, cuốc ) trong quá trình lao động
- Bước đầu hình thành ở học sinh tư duy sáng tạo, thói quen lao động có kĩ thuật theo quy trình công nghệ và bồi dưỡng năng lực làm việc hợp tác với người khác
- Giáo dục học sinh yêu lao động, kính trọng người lao động, biết quý sản phẩm lao động
2.2 Hệ thống kĩ năng xây dựng theo chương trình học mỗi lớp
Lớp
Tên bài Yêu cầu bài học
Hệ thống kĩ năng cung cấp thêm cho học sinh Ý nghĩa
4
1 Vật liệu, dụng
cụ cắt, khâu thêu
- Vị trí các chất ô nhiễm không khí có thể được tìm thấy trong nhà:
* Thành phần
không khí
Trang 38thao tác xâu chỉ
vào kim và vê nút
chỉ (gút chỉ)
+ Phòng khách (khói thuốc lá, bụi từ thú nuôi trong nhà như chó, mèo
+ Phòng tắm (nấm mốc, vi khuẩn)
+ Phòng ngủ (bụi mạt, mốc) + Nhà bếp (khí thải do đốt nhiên liệu)
+ Nhà kho hay góc nhà, góc cầu thang nơi dùng để chứa các hóa phẩm gia dụng
+Vách tường
bên trong một căn nhà cơ bản cũng
giống như thành phần không khí bên ngoài, nhưng khác về số lượng và loại chất ô nhiễm Các chất ô nhiễm trong nhà
có nguồn gốc từ: Vật liệu xây dựng, thiết bị sưởi ấm, máy lạnh, đun nấu,
đồ đạc; vật liệu che phủ, sản
4
2 Cắt vải theo
vạch dấu
- Biết cách vạch
dấu trên vải và cắt
vải theo đường
Giặt thú nhồi bông 2 tuần/lần
4 3 Khâu thường - Tận dụng khí trời: Mở cửa sổ
Trang 39phẩm bảo trì và tẩy; khói thuốc lá; bụi và lông thú; phấn hoa, mạt, mốc, nấm, vi khuẩn Dạy học chương này giáo viên có thể dạy thêm cho các
năng nhận biết các nguồn ô nhiễm có thể có trong nhà
từ đó có những biện pháp thích hợp trong việc tạo ra một
4
4 Khâu ghép
hai mép vải bằng mũi khâu
hai mép vải bằng
mũi khâu thường
- Hạn chế khói xăng, khói đốt than/lò: Đừng hút thuốc trong nhà, đừng vận hành xe ô tô hoặc động cơ chạy bằng nhiên liệu trong ga – ra Khi tổ chức tiệc nướng, luông để lò nướng
ở ngoài trời Nếu đun nấu bằng than, củi, dầu lửa, nhà bếp cần
có ống khói
4 5 Khâu đột - Hạn chế dùng thảm: Thảm là
Trang 40bầu không khí trong lành ngay
từ trong gia đình bằng
những việc làm đơn giản
- Đánh răng bằng cốc thay vì
mở vòi nước trong suốt thời gian đánh răng sẽ giúp bạn tiết kiện 20l nước / ngày
- Tắm buổi sáng sẽ giúp bạn giảm điện năng vào giờ cao điểm Tắm nhanh 2 phút còn giúp bạn tiết kiệm 40l nước nữa Nên tắm bằng vòi hoa sen thay vì bồn tắm, bạn sẽ tiết kiệm được 2/3 lượng nước
Khi tắm, hãy đặt dưới chân một chiếc chậu to và đứng vào đấy Sau mỗi lần tắm, bạn có thể tái sử dụng lượng nước này
để dội bồn cầu, rửa sàn nhà
* Nước là nguồn tài nguyên vô giá nhưng lại không
vô tận, chính vì thế tiết kiệm nước luôn luôn cần thiết ngay cả ở những nơi
có nguồn nước dồi dào Ngoài