Giả thuyết khoa học Việc nghiên cứu nội dung tích hợp giáo dục ý thức sử dụng năng lượng tiết kiệm cho học sinh Tiểu học qua môn Khoa học sẽ là điều kiện quan trọng trong việc tạo ra nh
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Năng lượng là thành phần không thể thiếu trong sinh họat, sản xuất và hầu hết mọi hoạt động của sự sống Sự thiếu hụt năng lượng trong thời gian dài sẽ là nhân tố kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, gây hiệu ứng xấu đối với tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Nguồn năng lượng truyền thống có thể khai thác để cung cấp cho nhu cầu xã hội không phải là vô tận Nước Việt Nam vốn được thiên nhiên ưu đãi, nguồn tài nguyên năng lượng rất phong phú, đa dạng nhưng thực tế lại cho thấy rằng sự khai thác, chế biến và sử dụng còn có nhiều hạn chế và đạt hiệu quả thấp Nếu như tình trạng này còn tiếp tục kéo dài sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tồn tại và phát triển của con người Do vậy việc giáo dục cho học sinh biết sử dụng năng lượng tiết kiệm đang là một yêu cầu cấp thiết đối với nền giáo dục của nước ta hiện nay Hành động và ứng xử của con người đối với các nguồn năng lượng quý giá bị điều chỉnh bởi thái độ và nhận thức của họ mà giáo dục có vai trò to lớn và nhiệm vụ này cần phải được thực hiện ngay từ bậc Tiểu học
Giáo dục Tiểu học là bậc học nền tảng, tạo cơ sở ban đầu vững chắc cho việc đào tạo nguồn nhân lực, nhân tài cho đất nước Mục tiêu đặt ra hiện nay của nền giáo dục là làm sao để học sinh phải thực sự tích cực, chủ động, tự giác, luôn trăn trở tìm tòi, suy nghĩ và sáng tạo trong quá trình lĩnh hội tri thức và lĩnh hội cả cách thức để có được tri thức ấy nhằm hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách đạo đức của mình Các em chính là nòng cốt quyết định đến sự tồn vong của xã hội sau này Thế nên việc giáo dục nói chung và giáo dục cho học sinh biết sử dụng năng lượng tiết kiệm nói riêng ở bậc Tiểu học giúp các em có ý thức đúng đắn ngay từ lúc còn nhỏ Chương trình giáo dục Tiểu học đã có lồng ghép nội dung giáo dục cho học sinh biết sử dụng năng lượng tiết kiệm trong cuộc sống qua nhiều môn học như thủ công - kĩ thuật, lịch sử - địa lí, tự nhiên - xã hội và khoa học Tuy nhiên, trên thực tế việc tiếp cận chương trình và nắm nội dung giáo dục trong bài học của học sinh còn gặp nhiều khó khăn và chưa đạt yêu cầu Một trong những nguyên nhân
Trang 3dẫn đến tình trạng trên là do ý thức của học sinh chưa nhận thức đủ về vấn đề này
và sự quan tâm của giáo viên còn ít
Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn trên nói trên tôi chọn đề tài: “Giáo dục cho học sinh biết sử dụng năng lượng tiết kiệm trong cuộc sống qua môn Khoa học lớp 4, 5”
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Các bài học có nội dung tích hợp giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm trong môn Khoa học lớp 4, 5
- Các phương pháp và hình thức dạy học được dùng để tích hợp giáo dục ý thức sử dụng năng lượng tiết kiệm qua môn Khoa học lớp 4, 5
- Giáo viên và học sinh lớp 4, 5 trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi – thành phố Đà Nẵng
4 Giả thuyết khoa học
Việc nghiên cứu nội dung tích hợp giáo dục ý thức sử dụng năng lượng tiết kiệm cho học sinh Tiểu học qua môn Khoa học sẽ là điều kiện quan trọng trong việc tạo ra những hiệu quả dạy học, giúp cho giáo viên thực hiện được những mục tiêu chung, cụ thể của môn học để từ đó học sinh biết áp dụng vào cuộc sống hàng ngày
của mình
Trang 45 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lí luận về việc giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm cho học sinh Tiểu học
- Nghiên cứu các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học để giáo dục ý thức sử dụng năng lượng tiết kiệm cho học sinh Tiểu học
- Tìm hiểu tình hình thực tế dạy và học các bài học có nội dung tích hợp để giáo dục
sử dụng năng lượng tiết kiệm qua môn Khoa học lớp 4, 5 Tìm hiểu ý thức sử dụng năng lượng tiết kiệm của học sinh ở trường học và địa phương
- Thiết kế một số bài giảng để giáo dục học sinh Tiểu học biết sử dụng năng lượng tiết kiệm trong cuộc sống
- Thực nghiệm sư phạm
- Kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm trong cuộc sống cho học sinh Tiểu học qua môn Khoa học lớp 4, 5
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Do hạn chế về điều kiện khách quan và chủ quan, tôi chỉ nghiên cứu việc giáo dục ý thức sử dụng năng lượng tiết kiệm cho học sinh khối lớp 4, 5 trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi qua môn Khoa học
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận, phân tích – tổng hợp
- Nghiên cứu tài liệu sau đó phân tích và tổng hợp thông tin cần thiết phục vụ cho
đề tài
6.2 Phương pháp điều tra bằng anket
- Dùng hệ thống câu hỏi để thu thập thông tin, cơ sở lí luận cho đề tài
6.3 Phương pháp thống kê
- Để phân tích kết quả ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
- Quan sát các giờ dạy học môn Khoa học ở trường Tiểu học và ý thức sử dụng năng lượng của học sinh ngoài giờ học
Trang 56.5 Phương pháp thực nghiệm
- Đề xuất giáo án và thực hiện giảng dạy các bài học có nội dung giáo dục ý thức sử dụng năng lượng tiết kiệm trong môn Khoa học
6.6 Phương pháp đánh giá và xử lí kết quả
- Đánh giá, phân tích và xử lí kết quả thu được sau khi thực nghiệm
6.7 Phương pháp phỏng vấn
- Phỏng vấn giáo viên về việc tích hợp giáo dục cho học sinh ý thức sử dụng năng lượng tiết kiệm trong quá trình dạy học môn Khoa học
7 Cấu trúc khóa luận: Gồm 3 phần:
Phần mở đầu: Lí do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu, khách thể và đối tượng
nghiên cứu, giả thuyết khoa học, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu
Phần nội dung: gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 2: Nội dung dạy học, các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học để giáo dục học sinh biết sử dụng năng lượng tiết kiệm trong cuộc sống qua môn Khoa học lớp 4, 5
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Phần Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Trang 6PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
CỦA ĐỀ TÀI 1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1 Khái quát về năng lượng
1.1.1.1 Khái niệm năng lượng
Có nhiều khái niệm khác nhau về năng lượng, sau đây tôi xin trình bày một
số khái niệm phổ biến:
Hiểu theo nghĩa thông thường, năng lượng là khả năng làm thay đổi trạng thái hoặc thực hiện công năng lên một hệ vật chất [14, tr.1]
Năng lượng được định nghĩa là năng lực làm vật thể hoạt động Có nhiều dạng năng lượng như: công năng, thế năng, động năng, nội năng, nhiệt năng [14, tr.1]
Năng lượng bao gồm nhiên liệu, điện năng, nhiệt năng thu được trực tiếp hoặc thông qua chế biến từ các nguồn tài nguyên năng lượng không tái tạo và tái tạo Tài nguyên năng lượng không tái tạo gồm than đá, khí than, dầu mỏ, khí thiên nhiên, quặng urani và các tài nguyên năng lượng khác không có khả năng tái tạo Tài nguyên năng lượng tái tạo gồm sức nước, sức gió, ánh sáng mặt trời, địa nhiệt, nhiên liệu sinh học và các tài nguyên năng lượng khác có khả năng tái tạo [16, tr.1]
Tổ tiên của chúng ta đã biết sử dụng lửa từ hàng trăm nghìn năm trước Khi con người còn sinh hoạt trong hang động thì lửa được sử dụng để chiếu sáng, sưởi
ấm và nấu nướng Nguồn năng lượng động lực trong thời kỳ đó là sức người và gia súc
Sau đó, nhờ sử dụng lửa, tổ tiên chúng ta đã làm ra được đồ gốm và các công
cụ bằng kim loại Với những công cụ đó, con người đã thực hiện được các hoạt động sản xuất như canh tác, trồng trọt và chăn nuôi, qua đó các cộng đồng xã hội được hình thành Có thể nói rằng lửa chính là xuất phát điểm của nền văn minh nhân loại
Vào cuối thể kỷ XVIII, máy hơi nước dùng nhiên liệu than đá được phát minh ở Anh Từ đó, cuộc cách mạng về năng lượng động lực bùng nổ và dẫn đến
Trang 7cuộc cách mạng công nghiệp Hơn nữa, với kỹ thuật của động cơ đốt trong và sử dụng điện ở thế kỷ XIX, nhiều phát minh có tính bước ngoặt đã ra đời, đẩy mạnh sự phát triển của khoa học kỹ thuật, tạo ra một xã hội phong phú và tiện lợi như ngày nay
Thế nhưng từ giữa thế kỷ XX, nhu cầu sử dụng năng lượng tăng lên một cách nhanh chóng, nhưng những loại năng lượng đó không phải là vô hạn; đây là nguyên nhân khiến chúng ta không thể thờ ơ với vấn đề ô nhiễm môi trường trái đất Hơn nữa, dân số tăng lên càng làm tăng thêm lo lắng về sự cạn kiệt của tài nguyên năng lượng Để duy trì cuộc sống văn minh của mình, con người cần sử dụng năng lượng, nhưng đã đến lúc chúng ta cần phải xem xét lại mối quan hệ giữa năng lượng và môi trường
Ngày nay, việc khai thác, sử dụng hợp lí các nguồn năng lượng đang trở thành một vấn đề cấp bách mang tính toàn cầu Sở dĩ như vậy là do nhân loại đang đứng trước hàng loạt nguy cơ mà nguyên nhân của nó chính là vấn đề khai thác, sử dụng năng lượng: những nguồn năng lượng truyền thống (năng lượng hoá thạch) đang ngày một cạn kiệt, nạn ô nhiễm môi trường và sự nóng lên của khí hậu trái đất
do chất thải trong quá trình sử dụng năng lượng Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề năng lượng đối với sự phát triển bền vững, các quốc gia đã xây dựng cho mình một chương trình phát triển năng lượng mà trọng tâm là hướng đến nguồn năng lượng sạch và sử dụng năng lượng một cách tiết kiệm, hiệu quả
1.1.1.2 Phân loại năng lượng
a Phân loại theo nguồn gốc vật chất của năng lượng
Phân loại theo nguồn gốc vật chất của năng lượng, có thể chia năng lượng thành hai loại: năng lượng vật chất chuyển hóa toàn phần và năng lượng tái tạo [18, tr.1]
Năng lượng vật chất chuyển hoá toàn phần:
Đây là một dạng năng lượng mà nhiên liệu sinh sản ra nó không có khả năng tái sinh và vĩnh viễn mất đi Đại diện cho nhóm này bao gồm các dạng năng lượng đến từ nhiên liệu hóa thạch và năng lượng nguyên tử
- Năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch:
Trang 8Các nguồn nhiên liệu chính cho nhóm này gồm có than, dầu và khí đốt Các lọai nhiên liệu này hình thành thông qua sự hóa thạch của độngvật, thực vật dưới một thời gian rất dài tính trên hàng triệu năm Chính vì vậy việc bổ sung cho loại nhiên liệu này gần như là không có, và một ngày nào đó chúng sẽ vĩnh viễn không còn để phục vụ đời sống con người Ngoài ra, năng lượng đến từ nhiên liệu hóa thạch còn là tác nhân chính trong việc tác hại đến môi trường như làm tăng độ ấm của trái đất thông qua chất thải CO2 phát sinh từ việc đốt than, dầu và khí Cũng như SO2 là nhân tố chính của những cơn mưa axit được hình thành từ việc đốt than Nếu không được quan tâm đúng mức từ cơ quan quản lý và chính quyền, môi trường cục bộ địa phương cũng như trên toàn bề mặt của quả đất sẽ bị tàn phá một cách nghiêm trọng và đời sống của con người sẽ bị ảnh hưởng rất lớn [18, tr.3]
- Năng lượng từ nhiên liệu nguyên tử:
Năng lượng nguyên tử được sản sinh từ Uranium thông qua những quá trình phản ứng chuỗi liên kết Một lượng nhiệt khổng lồ được sinh ra trong quá trình phân hạch của phân tử Uranium-235 được dùng để đun sôi nước Hơi nước sinh ra ở nhiệt độ cao tạo thành luồng hơi di chuyển, tác động vào những cánh quạt của tuabin để quay máy phát điện Dòng điện được sản sinh ra và truyền tải đến người tiêu dùng để phục vụ các nhu cầu của đời sống [18, tr.3]
Năng lượng tái tạo
Đây là dạng năng lượng mà nguồn nhiên liệu của nó liên tục được tái sinh từ những quá trình tự nhiên và là nguồn năng lượng vô cùng tận cũng như không sản sinh ra chất thải hủy họai môi trường, bao gồm:
- Năng lượng Mặt Trời:
Đây là một dạng năng lượng tự nhiên Nhờ ánh sáng của mặt trời mà chúng
ta có thể nhìn thấy vạn vật cũng như nhờ sức nóng mà con người bao đời qua có thể phơi khô quần áo, phơi lúa, trồng cây… Cho đến gần đây, sức nóng mặt trời được chú trọng trong việc ứng dụng vào việc chuyển hóa sang nhiệt năng, điện năng phục
vụ nhu cầu của cuộc sống Sức nóng của ánh nắng mặt trời được tập trung lại bằng những thiết bị đặc biệt để đun nóng nước sử dụng trong gia đình hay tạo ra hơi nước
để sản xuất điện Năng lượng mặt trời lệ thuộc vào điều kiện tự nhiên, không đủ ổn
Trang 9định để những thiết bị điện và điện tử có thể sử dụng một cách an toàn và hiệu quả [18, tr.3]
- Năng lượng Gió:
Sự chuyển động của không khí dưới sự chênh lệch áp suất khí quyển tạo ra gió, nên đây cũng là một nguồn năng lượng vô cùng tận đối với đời sống con người Năng lượng gió đã được dùng để bơm nước và chạy thuyền buồm từ hàng ngàn năm trước Tuy nhiên gần đây sức gió đang được dùng để đẩy cánh quạt chạy máy phát điện phục vụ đời sống con người [18, tr.3]
- Năng lượng Thủy triều:
Năng lượng thủy triều ứng dụng dòng thủy triều lên xuống để quay cánh quạt chạy máy phát điện Đây cũng là một dạng năng lượng có nguồn nhiên liệu vô tận
và miễn phí Loại mô hình này không sản sinh ra chất thải gây hại môi trường và không đòi hỏi sự bảo trì cao Khác với mô hình năng lượng mặt trời và năng lượng gió, năng lượng thủy triều khá ổn định vì thủy triều trong ngày có thể được dự báo chính xác
Nhược điểm của lọai năng lượng này là đòi hỏi một lượng đầu tư lớn cho thiết bị và xây dựng và đồng thời làm thay đổi điều kiện tự nhiên của một diện tích rất rộng Ngoài ra mô hình này chỉ hoạt động được trong thời gian ngắn trong ngày khi có thủy triều lên xuống và cũng rất ít nơi trên thế giới có địa hình thuận lợi để xây dựng nguồn năng lượng này một cách hiệu quả [18, tr.4]
- Năng lượng Sức nước:
Nhiều người vẫn cho rằng đây là một dạng năng lượng cổ điển vì nó xuất hiện cùng với con người hàng ngàn năm qua và được ứng dụng rộng rãi cho việc cung cấp điện tiêu dùng bên cạnh các loại hình năng lượng nhiên liệu chuyển hóa hoàn toàn Nước được lưu trữ lại trong hồ bởi những đập ngăn nước khổng lồ Khi nước được rơi tự do từ độ cao sẽ tạo một khối năng lượng nhất định tượng ứng với khối lượng của nước và tỷ lệ với lực hút trái đất và độ cao Khối năng lượng đó sẽ quay cánh quạt của máy phát điện (thế năng của nước lúc này chuyển hóa thành động năng) và tạo ra điện năng để sử dụng
Trang 10Tuy nhiên, nhược điểm của lọai mô hình năng lượng này là đầu tư ban đầu khá cao Đồng thời việc xây đập ngăn nước thay đổi rất lớn đền môi trường sinh thái của thượng nguồn và hạ nguồn Loại mô hình này thường mang theo một số tác dụng phụ như điều tiết nước và chống lũ nhưng chính bản thân nó cũng tiềm ẩn những ảnh hưởng tiêu cực đến việc điều tiết nước và gây lũ không cần thiết nếu không được thiết kế hợp lý Ngoài ra, sự thiếu hụt điện năng trên toàn cầu đã đẩy mạnh việc xây dựng nhà máy thủy điện trong những năm qua khiến nguồn nước có thể sử dụng bắt đầu trở nên khan hiếm Nếu không có những biện pháp thích hợp để cải thiện thì những ưu điểm của mô hình này sẽ trở thành những tác nhân gây ảnh hưởng xấu đến xã hội [18, tr.4]
- Năng lượng từ Sóng biển:
Gió thổi trên mặt biển tạo ra những cơn sóng không ngừng Đây là một nguồn năng lượng dồi dào nhưng lại trải rộng nên khó gom tựu chúng lại để chuyển đổi sang năng lượng hữu ích Tuy nhiên sóng biển gần như không thể dự đoán nên
sự lệ thuộc của loại mô hình này vào tự nhiên quá lớn Ngoài ra không phải nơi nào cũng thích hợp xây dựng mô hình năng lượng này cũng như tiếng ồn của nó sẽ rất cao [18, tr.4]
- Năng lượng từ Lòng đất:
Năng lượng đến từ lòng đất đã xuất hiện lâu đời qua các trạng thái như núi lửa, hồ nước nóng, suối nước nóng Nước được bơm xuống khu vực có nhiệt độ cao và luồng hơi nước đi lên từ lòng đất sẽ đóng góp vào quá trình chuyển hóa năng lượng từ nhiệt sang điện năng để sử dụng hoặc được sử dụng trực tiếp nguồn nhiệt
đó
Đây là dạng tài nguyên hồi phục được nhưng chậm, do quá trình tự nhiên tái tạo chúng cần thời gian dài Vì thế, nếu khai thác quá mức có thể dẫn đến không phục hồi được nữa [18, tr.5]
- Năng lượng từ Sinh khối:
Sinh khối là các phế phẩm từ nông nghiệp (rơm rạ, bã mía, vỏ, xơ bắp v v ), phế phẩm lâm nghiệp (lá khô, vụn gỗ v.v ), giấy vụn, mêtan từ các bãi chôn lấp, trạm xử lý nước thải, phân từ các trại chăn nuôi gia súc và gia cầm Nhiên liệu sinh
Trang 11khối có thể ở dạng rắn, lỏng, khí được đốt để phóng thích năng lượng Sinh khối, đặc biệt là gỗ, than gỗ cung cấp phần năng lượng đáng kể trên thế giới Ít nhất một nửa dân số thế giới dựa trên nguồn năng lượng chính từ sinh khối Con người đã sử dụng chúng để sưởi ấm và nấu ăn cách đây hàng ngàn năm Hiện nay, gỗ vẫn được
sử dụng làm nhiên liệu phổ biến ở các nước đang phát triển và được ứng dụng cho nhu cầu năng lượng ở quy mô gia đình (biogas) [18, tr.5]
b Phân loại theo mức độ ô nhiễm môi trường:
Phân loại theo mức độ ô nhiễm môi trường thì năng lượng bao gồm năng lượng sạch và năng lượng gây ô nhiễm môi trường
- Năng lượng sạch:
Năng lượng sạch là những năng lượng không gây ô nhiễm môi trường Có thể kể ra những loại năng lượng sạch: năng lượng nguyên tử, năng lượng mặt trời, năng lượng sức gió, năng lượng thuỷ triều, năng lượng sức nước…[18, tr.6]
- Năng lượng gây ô nhiễm môi trường:
Năng lượng gây ô nhiễm môi trường là loại năng lượng nếu không được sử
dụng một cách hợp lí sẽ gây ô nhiễm môi trường [18, tr.6]
1.1.1.3 Vai trò của năng lượng
a Vai trò của năng lượng trong đời sống con người
Năng lượng là một nhân tố của chất lượng đời sống con người Năng lượng
có vai trò sống còn đối với cuộc sống con người, nó quyết định sự tồn tại, phát triển
và chất lượng cuộc sống con người Xã hội càng phát triển thì nhu cầu sử dụng năng lượng ngày càng cao Các dạng năng lượng được sử dụng hiện nay ngoài năng lượng tự nhiên như mặt trời, nước, gió, than, … con người biến đổi những năng lượng ấy thành năng lượng nhân tạo, góp phần làm giàu thêm nguồn năng lượng phục vụ cuộc sống
Từ thời kì sơ khai, loại năng lượng đầu tiên được tổ tiên của chúng sử dụng
là mặt trời Mặt trời mang đến ánh sáng, sự sống, giúp cho con người và vạn vật tiến hóa; từ đó con người đã nhận thức được tầm quan trọng của năng lượng và biết
sử dụng một số loại năng lượng để phục vụ cho đời sống hàng ngày của mình: dùng lửa để chiếu sáng, sưởi ấm, nấu chín thức ăn và đốt xua đuổi thú dữ
Trang 12Năng lượng có trong tự nhiên như mặt trời cho con người ánh sáng, sức nóng làm khô quần áo, giúp vạn vật phân biệt ngày và đêm Và cũng nhờ năng lượng mặt trời con người sáng tạo ra những ứng dụng kĩ thuật, sử dụng năng lượng ấy, phục vụ cho nhu cầu của mình như bình nước nóng…
Ngoài ra, con người cũng đã biết tận dụng năng lượng gió vào việc chạy thuyền buồm, sáng chế ra những chiếc quạt xoay nhờ gió giúp phát triển mùa màng
Và có lẽ, thật là thiếu sót nếu ta không nhắc đến nguồn năng lượng phong phú có trong tự nhiên là nước Nước giúp cho con người khỏe hơn, vì 70% cơ thể con người là nước Bên cạnh đó, nó phục vụ đời sống sinh hoạt hằng ngày như ăn uống, tắm, giặt, … sức nước còn được con người tận dụng để làm thành những nhà máy thủy điện cung cấp ánh điện chiếu sáng mọi nơi khi mặt trời khuất bóng Nhờ năng lượng điện mà con người có thể sử dụng các phương tiện thông tin dễ dàng, gắn kết mọi vùng miền với nhau
Những nguồn năng lượng gần gũi, ta có thể bắt gặp trong cuộc sống còn có các loại năng lượng chất đốt như: than, dầu khí… Than giúp ta nấu chín thức ăn, làm sôi nước uống, nó còn giúp sưởi ấm ta vào mùa đông giá lạnh Dầu khí sau khi chế tạo cho ta xăng, dầu, để hoạt động máy móc, phục vụ cuộc sống
Qua đây, chúng ta có thể thấy rằng, mỗi loại năng lượng đều có lợi ích và vai trò riêng của mình trong đời sống Mỗi loại năng lượng ở mỗi lĩnh vực, nhu cầu khác nhau Nhưng tất cả chúng đều giúp con người có cuộc sống tốt đẹp, tươi vui hơn Nó đảm bảo năng lượng cho hoạt động tiêu dùng, sinh hoạt Cho đến ngày nay với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, nhu cầu năng lượng cao lên, do đó ngoài các nguồn năng lượng truyền thống cần phải chú ý nghiên cứu sử dụng các nguồn năng lượng mới, phát huy tối đa hết vai trò của năng lượng trong đời sống con người
b Vai trò của năng lượng trong hoạt động sản xuất
Khi năng lượng trở thành một phần tất yếu trong cuộc sống con người, giúp con người hoạt động và phát triển thì năng lượng đã góp phần vào các hoạt động sản xuất Vì nhờ các hoạt động sản xuất ấy, cuộc sống con người mới ngày phát triển và nhu cầu cuộc sống của con người ngày càng tăng
Trang 13Chúng ta hãy tưởng tượng một ngày nào đó không có năng lượng thì con người sẽ ra sao? Sự sống trên trái đất này như thế nào? Vạn vật có phát triển được không nếu không có ánh sáng mặt trời? Con người sẽ như thế nào nếu như không có điện, không có nước? Thật sự cuộc sống chúng ta sẽ chìm trong một sự bình lặng, không thể phát triển Điều đó có thể thấy sự quan trọng của năng lượng không chỉ trong đời sống mà ngay cả trong sản xuất
Mặt trời có thể gây hạn hán, nhưng ánh sáng đó làm cây cối quang hợp, nhả khí O2, thải khí CO2, giúp con người thêm không khí để thở Cây xanh sinh trưởng mạnh, nông nghiệp phát triển Nông nghiệp phát triển ngoài việc cung cấp nhu yếu phẩm hằng ngày như rau, quả, gạọ cho người dân thì còn xuất khẩu, giúp phát triển kinh tế đất nước
Nếu ta xem khoa học kĩ thuật và điện là “máu” của ngành công nghiệp thì đối với giao thông vận tải xăng dầu là “xương sống” Trong công nghiệp, máy móc giúp làm nhanh các khâu, giảm sức lao động con người, sản phẩm làm ra đúng quy trình và kĩ thuật Máy móc có thể hoạt động ngoài xăng dầu thì điện giúp chúng vận hành một cách dễ dàng Đối với ngành giao thông vận tải thì xăng dầu giúp xe cộ di chuyển từ nơi này đến nơi khác một cách thuận lợi Và ta không thể không nhắc đến ngành du lịch với sự giúp đỡ của các năng lượng tự nhiên như nắng, gió, nước, đã tạo ra mỗi vùng có một không khí riêng, sức hút riêng, giúp thu hút nhiều sự tò mò, thích thú, thu hút khách du lịch nhiều nơi
Ta có thể thấy vai trò của năng lượng không chỉ giúp cho cuộc sống con người mà nó còn đóng vai trò quan trọng không thể thiếu đối với hoạt động sản xuất Năng lượng giúp cho nông nghiệp phát triển, năng lượng điện, dầu khí, than giúp các ngành công nghiệp có thể hoạt động ngày một mạnh mẽ, giao thông vận tải, du lịch, khoáng sản, được tăng trưởng
Kinh tế phát triển đã và đang đẩy nhu cầu năng lượng tăng lên từng ngày Để đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng cho phát triển đất nước, đặc biệt trong hoàn cảnh các nguồn năng lượng sơ cấp đang dần cạn kiệt, hướng đi mới mà nước ta đã và đang hướng tới là đưa vào khai thác và sử dụng các nguồn năng lượng mới Ưu điểm lớn nhất của các nguồn năng lượng này là an toàn với môi trường và không
Trang 14giới hạn trữ lượng Việt Nam đã bắt đầu những bước đầu tiên của việc phát triển nguồn năng lượng này bằng việc bắt đầu triển khai nghiên cứu, xây dựng những nhà máy điện hạt nhân, các dự án điện mặt trời, gió… Tất cả sẽ làm nên một diện mạo mới phát triển đầy đủ hơn, toàn diện hơn
1.1.1.4 Thực trạng việc sử dụng, khai thác năng lượng hiện nay
Hiện nay, trên thế giới sự giới hạn nguồn năng lượng tỷ lệ nghịch với nhu cầu ngày càng tăng của của khu vực và trên thế giới Vấn đề an ninh năng lượng của thế giới đang trở nên bức bách hơn bao giờ hết Việc sử dụng năng lượng hiện nay đang tập trung ở nguồn năng lượng hóa thạch Theo thống kê, các nguồn năng lượng con người đang tiêu thụ 41,7% dầu mỏ, 24,7% than, 21,% ga, 6,% năng lượng nguyên tử, 6,% thủy điện và năng lượng gió, mặt trời, địa nhiệt, năng lượng sinh học, thủy triều,… chỉ chiếm khoảng gần 1% nhu cầu năng lượng của con người [23, tr.2]
Theo dự báo của Cơ quan năng lượng quốc tế, nếu lượng tiêu thụ năng lượng của thế giới tiếp tục giữ mức như hiện nay, nhu cầu năng lượng sẽ tăng hơn 30% vào năm 2030, riêng về nhu cầu của dầu lửa có thể tăng đến 41% Trong bối cảnh hiện nay, đảm bảo an ninh năng lượng phục vụ sự phát triển bền vững, giảm sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng nhập khẩu từ bên ngoài, đặc biệt là dầu mỏ, trở thành vấn đề đặc biệt quan tâm ở mỗi quốc gia Sự tăng trưởng về nhu cầu năng lượng tập trung vào các nước đang phát triển Dự kiến các nước này nhu cầu năng lượng
sẽ đạt 50% nhu cầu năng lượng của thế giới vào năm 2030 Các dạng năng lượng truyền thống như than, dầu mỏ, khí đốt,… đang ngày càng cạn kiệt Nhiều nước trong khu vực ASEM có nguồn dầu khí, trong đó Brunei, Inđônêsia thuộc nhóm các nước xuất khẩu dầu Nhưng nhu cầu năng lượng của khu vực như hiện nay sẽ dẫn đến nguy cơ phải chịu sự phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng Theo nghiên cứu dự báo của giám đốc Trung tâm năng lượng ASEM, mức độ phụ thuộc này có thể đạt khoảng 49% đến 58% [23, tr.3]
Việt Nam là một nước hiện đang xuất khẩu than Năm 2004, tổng công ty than Việt Nam đã khai thác và tiêu thụ 25 triệu tấn than, trong đó xuất khẩu 10,5 triệu tấn Việc xuất khẩu than của Việt Nam chưa đảm bảo tính bền vững Theo
Trang 15chiến lược phát triển ngành điện, xi măng, phân bón, hóa chất,… đến năm 2010 khả năng tiêu thụ than trong nước có thể lên đến 80 triệu tấn Điều đó cảnh báo cho biết, nếu chúng ta không có chiến lược khai thác than hợp lí thì trong tương lai, chúng ta
sẽ là một nước nhập khẩu than hoặc phải đóng cửa một số nhà máy
Bên cạnh đó, theo số liệu từ Viện Năng lượng (Bộ Công nghiệp), nếu không
có đột biến lớn về khả năng khai thác từ sau năm 2010 thì nguồn tài nguyên trong nước sẽ không còn đáp ứng được nhu cầu năng lượng Dự tính năm 2015 lượng thiếu hụt nhiên liệu cho sản xuất điện khoảng 9 tỉ KWh (ở phương án cao), tương tự năm 2020 thiếu hụt nhiên liệu cho sản xuất điện khoảng 35-64 tỉ KWh ở phương án
cơ sở và phương án cao Và vào năm 2030 thiếu hụt nhiên liệu cho sản xuất điện lên tới 59-192 tỉ KWh Các nhà hoạch định chính sách còn cho biết, vào các năm sau
đó, khả năng thiếu hụt điện năng còn nhiều hơn; các giải pháp nhập khẩu điện, than, khí để sản xuất có thể không đáp ứng được lượng thiếu hụt [23, tr.3]
Việc khai thác nguồn năng lượng này tác động rất lớn đến môi trường như: ô nhiễm môi trường, rừng bị tàn phá đất bị xói mòn, tăng hiệu ứng nhà kính, băng tan, biến đổi khí hậu,… Khai thác nguồn năng lượng như than, dầu tác động xấu đến môi trường và sức khỏe con người Vận chuyển than, đất đá gây bụi, làm ô nhiễm không khí, đặc biệt là dân cư trong vùng và xuất hiện các bệnh nghề nghiệp do bụi than gây nên Trong quá trình khai thác đã gây nhiều sự cố, làm tổn thất cho con người Những người thợ mỏ, hàng ngày luôn luôn đối mặt với rủi ro Hàng trăm đại
xa trọng tải từ 40 đến 96 tấn, xe cẩu, máy xúc, máy nổ, bom mìn, điện cao thế,… tai nạn luôn rình rập, nguy hiểm đến tính mạng
Trước tình hình nguồn năng lượng truyền thống ngày càng cạn kiệt, nhu cầu
sử dụng ngày càng tăng và các vấn đề về môi trường đang là vấn đề thách thức đối với toàn cầu Điều đó đã dẫn đến những cuộc tìm kiếm nguồn năng lượng thay thế Một số nước tìm nguồn năng lượng nguyên tử, một số nước tìm đến nguồn năng lượng có nguồn gốc từ mặt trời, gió, nước, thủy triều, năng lượng địa nhiệt, sinh khối,.… Những nguồn năng lượng này có khả năng vô tận và khai thác sử dụng không gây ô nhiễm môi trường
Trang 16Việt Nam có vị trí địa lí ở trong vùng quanh năm gió, nắng và bờ biển dài suốt chiều chiều dài của đất nước Với vị trí địa lí như vậy, chúng ta đã có nguồn tài nguyên năng lượng tái sinh vô tận: năng lượng mặt trời, gió, sóng biển, thủy triều,… Địa hình của nước ta có nhiều núi cao, dốc đứng rất thuận lợi để xây dựng các nhà máy thủy điện Đồng thời, nước ta có tiềm năng lớn về nguyên liệu để sản xuất khí sinh học Bên cạnh đó, Việt Nam là nước có tên trên bản đồ địa nhiệt thế giới Tuy vậy, Việt Nam mới chỉ khai thác được 25% nguồn năng lượng tái sinh (trong đó có năng lượng mặt trời) và còn lại 75% vẫn chưa được khai thác [23, tr.4]
Một thực tế không thể tránh khỏi đang diễn ra là nhu cầu năng lượng cho những nền công nghiệp đang phát triển cũng như các xã hội tân tiến đã phát triển liên tục tăng, do đó sự chuyển hướng sử dụng sang những nguồn năng lượng tái tạo trong tương lai trở thành tất yếu Giữ gìn những nguồn năng lượng hiện có và sử dụng chúng một cách hiệu quả là giải pháp kết hợp để giải quyết triệt để vấn đề năng lượng, một vấn đề mang tính cấp thiết của thời đại ngày nay
1.1.2 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học
1.1.2.1 Quá trình nhận thức
Quá trình nhận thức của học sinh Tiểu học bao gồm 5 yếu tố: tri giác, chú ý,
tư duy, trí nhớ, tưởng tượng
a Tri giác
Ở bậc tiểu học, tri giác của các em mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và mang tính không chủ định Do đó, các em phân biệt những đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm, có khi còn lẫn lộn Tuy vậy không nên nghĩ học sinh Tiểu học chưa có khả năng phân tích, tách các dấu hiệu, các chi tiết nhỏ của một đối tượng nào đó Vấn đề là ở chỗ khi tri giác sự phân tích một cách có tổ chức và sâu sắc ở học sinh ở các lớp đầu tiểu học còn yếu [8, tr.47]
Ở các lớp đầu tiểu học, tri giác thường gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn, trẻ chỉ cảm nhận được cái nó cầm nắm Tính xúc cảm thể hiện rõ trong tri giác Những dấu hiệu, những đặc điểm nào của sự vật gây cho các em cảm xúc thì được các em tri giác trước hết Vì vậy trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn
Trang 17Tri giác không tự bản thân nó phát triển được Trong quá trình học tập tri giác trở thành hoạt động có mục đích đặc biệt, trở nên phức tạp và sâu sắc, trở thành hoạt động có phân tích, có phân hóa hơn thì tri giác sẽ mang tính của sự quan sát có
tổ chức Trong sự phát triển của tri giác, vai trò của giáo viên tiểu học là rất lớn Giáo viên không những dạy cho các em cách nhìn mà còn hướng dẫn cho các em quan sát, không chỉ dạy nghe mà còn dạy trẻ biết lắng nghe; tổ chức một cách đặc biệt hoạt động của học sinh để tri giác đối tượng nào đó [8, tr.48]
b Chú ý
Chú ý không chủ định phát triển hơn chú ý có chủ định ở học sinh tiểu học Những gì mang tính mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác thường dễ dàng lôi cuốn sự chú
ý của các em Sự chú ý không chủ định càng trở nên mạnh mẽ khi giáo viên sử dụng
đồ dùng dạy học đẹp, mới lạ, ít gặp, gợi cho các em cảm xúc tích cực Vì vậy việc
sử dụng đồ dùng dạy học như tranh ảnh, hình vẽ, biểu đồ,… là điều kiện quan trọng
để tổ chức sự chú ý Tuy vậy cần nhớ rằng học sinh tiểu học rất mẫn cảm Những ấn tượng trực quan quá mạnh có thể tạo ra một trung khu hưng phấn mạnh ở vỏ não, kết quả là sẽ kìm hãm khả năng phân tích và khái quát tài liệu học tập Sự tập trung chú ý của học sinh lớp 1, 2 còn yếu, thiếu bền vững Vì vậy, các em có thể quên lời
cô dặn, quên làm bài tập do đó giáo viên cần điều chỉnh nhịp độ học tập phù hợp, quá nhanh hoặc quá chậm đều không thuận lợi cho tính bền vững và sự tập trung chú ý [8, tr.53]
c Tư duy
Tư duy của trẻ mới đến trường là tư duy cụ thể mang tính hình thức bằng cách dựa vào những đặc điểm trực quan của những đối tượng và hiện tượng cụ thể Khả năng phân biệt dấu hiệu bản chất, thuộc tính bản chất còn hạn chế Khi phân loại, khái quát đối tượng hầu hết các em đều dựa vào các dấu hiệu tác động mạnh (các dấu hiệu bề ngoài) và các giác quan như màu sắc, kích thước, hình dáng, Nhờ ảnh hưởng của việc học tập, học sinh tiểu học dần dần chuyển từ mặt nhận thức các mặt bên ngoài của sự vật, hiện tượng đến nhận thức các thuộc tính bên trong và dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng Điều này tạo khả năng tiến hành những so sánh,
Trang 18khái quát hóa đầu tiên, xây dựng những suy luận sơ đẳng Trên cơ sở đó học sinh dần dần học tập được các khái niệm khoa học [8, tr.48]
Hoạt động phân tích – tổng hợp còn sơ đẳng, các em thường gặp khó khăn nhất định khi phải xác định và hiểu mối quan hệ nhân quả Đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học không tuyệt đối mà chỉ tương đối Nhờ hoạt động học tập, tư duy dần mang tính khái quát hóa, trừu tượng hóa
d Trí nhớ
Do hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất ở học sinh tiểu học tương đối chiếm ưu thế nên trí nhớ trực quan – hình tượng và trí nhớ máy móc chiếm ưu thế hơn trí nhớ logic Các em ghi nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những lời giải thích dài dòng Hay là học thuộc lòng tài liệu học tập theo đúng từng câu, từng chữ mà không diễn đạt bằng lời nói của mình Vì vậy, giáo viên cần gây dựng tâm thế học tập cho học sinh
để ghi nhớ, hướng dẫn cho các em thủ thuật ghi nhớ, chỉ cho các em đâu là điểm chính, điểm quan trọng của bài học để tránh trường hợp các em ghi nhớ một cách máy móc, học vẹt [8, tr.52]
e Tưởng tượng
Tưởng tượng của học sinh Tiểu học phát triển và phong phú hơn so với trẻ mầm non Đây là lứa tuổi thơ mộng giúp cho tưởng tượng phát triển
Ở các lớp đầu cấp, hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững, tản mạn
và dễ thay đổi Ở các lớp cuối cấp, tưởng tượng của các em càng gần hiện thực hơn Đặc biệt tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em Vì vậy, người giáo viên phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của học sinh bằng cách biến các kiến thức “khô khan” thành những hình ảnh có cảm xúc; điệu bộ, ngôn ngữ giàu nhạc điệu, chính xác, biểu cảm của giáo viên là phương tiện quan trọng Giáo viên nên đặt ra những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm để các em có cơ hội phát triển toàn diện và sáng tạo [8, tr.51]
Trang 191.1.2.2 Nhân cách học sinh Tiểu học
a Tính cách
Tính cách của trẻ được hình thành từ rất sớm, từ thời kì trước tuổi học nhưng những nét tính cách này chưa ổn định, chưa hình thành rõ ràng và có thể thay đổi Những hoạt động thần kinh cấp cao biểu lộ rõ ràng trong hành vi của các em Hành
vi của học sinh tiểu học có tính xung động, các em có khuynh hướng hành động ngay lập tức dưới ảnh hưởng của kích thích bên ngoài hay bên trong, do đó hành vi
các em dễ có tính tự phát
Tính cách của học sinh tiểu học thường là bướng bỉnh và thất thường.Vì thế các em hay phản ứng lại yêu cầu của người lớn mà các em cho là cứng nhắc Bên cạnh đó, học sinh tiểu học có nhiều nét tính cách tốt như lòng vị tha, tính hồn nhiên, tính chân thực, lòng thương người…vì quá hồn nhiên nên các em thường rất cả tin, tin vào mọi điều xung quanh mình, chưa có lí trí soi sáng.Tính bắt chước cũng là một đặc điểm quan trọng của lứa tuổi này Các em thích bắt chước hành vi của các nhân vật trong truyện, phim…Cho nên người giáo viên cần xem xét, tận dụng những điểm có lợi để giáo dục học sinh và luôn luôn là tấm gương mẫu mực cho các em noi theo
Học sinh tiểu học sớm đã có thái độ và thói quen tốt đối với lao động Lao động đã rèn cho các em những phẩm chất tốt như tính kỉ luật, sự cần cù, óc tìm tòi, khả năng sáng tạo [8, tr.56]
b Tình cảm
Xúc cảm, tình cảm của học sinh tiểu học gắn liền với đặc điểm trực quan, hình ảnh cụ thể, sinh động Các em dễ xúc cảm, xúc động và khó kìm hãm xúc cảm của mình Vì thế các em yêu mến một cách chân thực cây cối, chim muông, cảnh vật,.… Khi được khen thì niềm vui sướng thể hiện ngay trên nét mặt, nụ cười, cử chỉ, hành vi; ngược lại nếu bị chê trách thí các em buồn ra mặt, có thể khóc ngay trước mọi người
Học sinh tiểu học còn chưa biết kiềm chế những tình cảm của mình, chưa biết kiểm soát sự thể hiện tình cảm ra bên ngoài Các em bộc lộ tình cảm của mình một cách chân thực, hồn nhiên
Trang 20Tình cảm của các em còn mong manh, chưa bền vững, chưa sâu sắc và không ổn định Do đặc điểm này mà tình bạn của các em dễ thành lập có thể chỉ vì một cái kẹo, một cái thước kẻ bạn cho,… dễ dàng bất hòa với nhau chỉ vì một trục trặc nho nhỏ nhưng cũng lại làm lành ngay sau đó Tất cả những đặc điểm này cần phải được củng cố, liên kết với nhau, thể nghiệm trong các hoạt động mới hình thành nên tình cảm bền vững [8, tr.60]
1.1.3 Tìm hiểu việc giáo dục cho học sinh biết sử dụng năng lượng tiết kiệm trong cuộc sống
1.1.3.1 Khái niệm giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm
Theo Nghị định số 102/2003/NĐ-CP của chính phủ về sử dụng năng lượng
tiết kiệm và hiệu quả: “sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là sử dụng năng
lượng một cách hợp lý, nhằm giảm mức tiêu thụ năng lượng, giảm chi phí năng lượng cho hoạt động của các phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng mà vẫn đảm bảo nhu cầu năng lượng cần thiết cho các quá trình sản xuất, dịch vụ và sinh hoạt”
[19, tr.1]
Ta có thể hiểu giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm nghĩa là nâng cao ý thức cho học sinh trong việc sử dụng năng lượng sao cho giảm bớt số năng lượng sử dụng bằng cách loại bỏ việc tiêu thụ năng lượng lãng phí không cần thiết và không
Trang 21đúng cách Điều đó còn có nghĩa là sử dụng năng lượng phù hợp với mục đích sử dụng, không lãng phí, sử dụng những thiết bị ít tiêu hao năng lượng
Bằng việc tiết kiệm năng lượng, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, các
cá nhân, hộ gia đình, tập thể, cơ quan, đơn vị doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được chi phí
đồng thời góp phần tiết kiệm được tài nguyên của đất nước, bảo vệ môi trường 1.1.3.2 Mục tiêu của việc giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm
- Xây dựng cho học sinh ý thức, trách nhiệm sử dụng năng lượng tiết kiệm gắn liền
với việc bảo vệ sự tồn tại của môi trường sống của bản thân và xã hội
- Trang bị cho học sinh những kiến thức khoa học cơ bản về năng lượng và vai trò của năng lượng trong đời sống, cho các em biết được nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên hóa thạch trên toàn cầu, trách nhiệm xây dựng và bảo vệ môi trường của mỗi cá nhân để giảm thiên tai
- Trang bị cho học sinh kiến thức khoa học của một số biện pháp thông thường giúp
sử dụng một cách tiết kiệm các nguồn năng lượng hiện có, giáo dục để mỗi học sinh trở thành tuyên truyền viên về sử dụng năng lượng tiết kiệm trong gia đình và cộng
đồng
- Góp phần đào tạo công dân có kĩ năng sống thân thiện cùng môi trường, có năng lực giải quyết các vấn đề thiết yếu từ yêu cầu sử dụng năng lượng tiết kiệm, gắn liền
với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho Quốc gia [20, tr.2]
1.1.3.3 Nguyên tắc của việc giáo dục cho học sinh biết sử dụng năng lượng tiết kiệm trong cuộc sống
Để giáo dục cho học sinh biết sử dụng năng lượng tiết kiệm trong cuộc sống cần dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc 1: Tích hợp nhưng không làm thay đổi đặc trưng của môn học, không biến bài học bộ môn thành bài học giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm
- Nguyên tắc 2 : Khai thác nội dung giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm có chọn lọc, có tính tập trung vào chương, mục nhất định không tràn lan tuỳ tiện
- Nguyên tắc 3 : Phát huy cao độ các hoạt động tích cực nhận thức của học sinh và
kinh nghiệm thực tế của các em
Trang 221.1.3.4 Ý nghĩa của việc giáo dục cho học sinh biết sử dụng năng lượng tiết kiệm trong cuộc sống
Sự thiếu hiểu biết về năng lượng và tầm quan trọng của việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả của con người là một trong những nguyên nhân chính gây nên sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên năng lượng và hủy hoại môi trường sinh thái Do vậy cần phải giáo dục cho mọi người biết và hiểu về năng lượng, tầm quan trọng của việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong sự phát triển bền vững [21, tr.1]
Hiện nay, số lượng học sinh, sinh viên và giáo viên tại Việt Nam có khoảng trên 20 triệu người Theo số liệu thống kê đầu năm 2008, cả nước hiện có gần 7 triệu học sinh tiểu học, khoảng trên 323.000 giáo viên ở gần 15.000 trường Tiểu học Giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm trong cuộc sống cho học sinh Tiểu học tức là làm cho gần 10% dân số hiểu biết các vấn đề về năng lượng và sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả Con số này sẽ nhân lên nhiều lần nếu học sinh Tiểu học thực hiện tốt việc tuyên truyền về sử dụng năng lượng tiết kiệm trong cộng đồng Đây là lực lượng đóng vai trò hết sức quan trọng trong công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động các đối tượng khác trong xã hội thực hiện sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả Hành động của các em học sinh sẽ là hình ảnh tốt nhất để cho những người lớn phải suy nghĩ và làm theo… Mặt khác, việc đầu tư đối với công tác tuyên truyền cho các em học sinh còn mang ý nghĩa lớn hơn, đó chính là sự đầu
tư lâu dài cho thế hệ tương lai về hình thành nhân cách về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả nhằm tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường, [22, tr.4]
Vì thế, việc giáo dục cho học sinh biết sử dụng năng lượng tiết kiệm trong cuộc sống thông qua chủ đề Vật chất và năng lượng trong môn Khoa học có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của học sinh Tiểu học, bởi lẽ năng lượng đang là một vấn đề nóng hiện nay đối với toàn xã hội Việc sử dụng năng lượng tiết kiệm là trách nhiệm, là nghĩa vụ đối với mỗi người dân yêu nước Những học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường nói chung và học sinh Tiểu học nói riêng chính là tương lai của đất nước Nếu như các em không có được những nhận thức đúng đắn về điều này sẽ nảy sinh những hành vi, thói quen xấu, những tác động xấu đến môi trường
Trang 23sống của chính các em hiện tại và cả tương lai sau này Ngoài ra, giai đoạn lứa tuổi Tiểu học là giai đoạn các em bắt đầu hình thành nhân cách, thói quen nên việc tích hợp giáo dục nhằm hình thành thói quen tốt như sử dụng năng lượng tiết kiệm trong cuộc sống cho các em trong lúc này là an toàn, hiệu quả và bền vững nhất
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Nội dung chương trình môn Khoa học ở Tiểu học
Môn Khoa học ở lớp 4, 5 được xây dựng trên cơ sở tiếp nối những kiến thức
về tự nhiên của môn Tự nhiên và Xã hội các lớp 1, 2, 3 Nội dung chương trình được cấu trúc đồng tâm, mở rộng và nâng cao theo bốn chủ đề:
- Con người và sức khoẻ
- Vật chất và năng lượng
- Thực vật và động vật
- Môi trường và tài nguyên thiên nhiên
Trong đó, môn khoa học lớp 4 gồm ba chủ đề:
- Con người và sức khoẻ
- Môi trường và tài nguyên thiên nhiên
Trong quá trình dạy học, giáo viên cần gắn những kiến thức về sức khoẻ và khoa học tự nhiên với thực tiễn đời sống, sản xuất ở địa phương; phát huy vốn kinh nghiệm sống của học sinh
Ở chương trình lớp 4, môn học được phân bố 2 tiết / tuần (35 tuần = 75 tiết) theo những chủ đề sau:
a Con người và sức khoẻ
b Vật chất và năng lượng
Trang 24- Nước: Tính chất của nước, ba thể của nước, sự chuyển thể, vòng tuần hoàn của nước; Vai trò của nước trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và đời sống; sự ô nhiễm nước; cách làm sạch nước; sử dụng nước hợp lí, bảo vệ nguồn nước
- Không khí : Tính chất, thành phần của không khí; vai trò của không khí đối với sự sống, sự cháy; sự chuyển động của không khí, gió, bão, phòng chống bão; sự ô nhiễm không khí; bảo vệ bầu không khí trong sạch
- Âm : Các nguồn âm, sự truyền âm, âm thanh trong đời sống, chống tiếng ồn
- Ánh sáng : Các nguồn sáng, sự truyền ánh sáng; vai trò của ánh sáng
- Nhiệt : Cảm giác nóng, lạnh, nhiệt độ, nhiệt kế, các nguồn nhiệt; vai trò của nhiệt
c Thực vật và động vật
Đối với chương trình lớp 5, môn Khoa học gồm có các chủ đề:
a Con người và sức khoẻ
b Vật chất và năng lượng
- Đặc điểm và ứng dụng của một số vật liệu thường dùng : tre mây, song, kim loại (sắt, đồng, nhôm) và hợp kim (gang, thép), đá vôi, gốm (gạch, ngói), xi măng, thuỷ tinh, cao su, chất dẻo, tơ sợi
- Sự biến đổi hoá học của một số chất
- Sử dụng một số dạng năng lượng : Than đá, dầu mỏ, khí đốt; Mặt Trời, gió, nước; năng lượng điện (thắp sáng, đốt nóng, chạy động cơ)
c Thực vật và động vật
d Môi trường và tài nguyên thiên nhiên
1.2.2 Mục tiêu môn Khoa học ở Tiểu học
- Sự trao đổi chất, sự sinh sản của thực vật, động vật
- Đặc điểm và ứng dụng của một số chất, một số vật liệu và dạng năng lượng thường gặp trong đời sống và sản xuất [6, tr.86]
Trang 251.2.2.2 Về kĩ năng
Giúp học sinh bước đầu hình thành và phát triển những kĩ năng :
- Ứng xử thích hợp trong các tình huống có liên quan đến vấn đề sức khoẻ của bản thân, gia đình và cộng đồng
- Quan sát và làm một số thí nghiệm thực hành khoa học đơn giản gần gũi với đời sống, sản xuất
- Nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập, biết tìm thông tin để giải đáp Biết diễn đạt những hiểu biết bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ,
- Phân tích, so sánh, rút ra những dấu hiệu chung và riêng của một số sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên [6, tr.87]
1.2.2.3 Về thái độ, hành vi
Hình thành và phát triển những thái độ và thói quen :
- Tự giác thực hiện các quy tắc vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng
đồng
- Ham hiểu biết khoa học, có ý thức vận dụng những kiến thức đã học vào đời sống
- Yêu con người, thiên nhiên, đất nước, yêu cái đẹp Có ý thức và hành động bảo vệ môi trường xung quanh [6, tr.87]
1.2.3 Mục tiêu của việc giáo dục cho học sinh biết sử dụng năng lượng tiết
kiệm qua môn Khoa học
- Tích cực tham gia các hoạt động chống lãng phí, tiết kiệm năng lượng
- Vận động, kêu gọi mọi người xung quanh cùng nhau chung tay sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả trong cuộc sống
1.2.3.3 Về thái độ, tình cảm
- Biết quý trọng những nguồn năng lượng, có ý thức sử dụng tiết kiệm năng lượng
Trang 26- Có thái độ thân thiện với môi trường sống
1.2.4 Tìm hiểu thực tế việc giáo dục cho học sinh biết sử dụng năng lượng tiết
kiệm qua môn Khoa học
1.2.4.1 Đối tượng điều tra
Đối tượng điều tra là giáo viên và học sinh trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, thành phố Đà Nẵng
1.2.4.2 Nội dung điều tra
- Học sinh:
+ Thái độ của học sinh đối với những hình thức, phương pháp dạy học mà giáo viên
sử dụng
+ Cách thức học sinh được giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm
+ Thái độ của học sinh đối với việc sử dụng năng lượng thường ngày
1.2.4.3 Phương pháp điều tra
Để điều tra những nội dung như trên, tôi đã sử dụng phiếu điều tra anket gửi đến tận tay giáo viên và học sinh của trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi Trong trường, tổng số giáo viên dạy khối 4, 5 là 12 giáo viên, nên tổng số phiếu phát ra và thu lại là 12 phiếu Sau khi thu thập số liệu từ các phiếu điều tra đó, tôi dùng phương pháp thống kê để xử lí số liệu, từ đó tổng kết thực trạng
Bên cạnh đó, trong quá trình điều tra tôi còn sử dụng thêm những phương pháp khác như là phỏng vấn, quan sát sư phạm nhằm có được kết quả chính xác, thể
Trang 27hiện một cách khách quan về thực trạng dạy và học các bài học có lồng ghép nội dung giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm trong trường Tiểu học
Qua các buổi dự giờ của các giáo viên khối 4, 5; tôi tìm hiểu về việc giáo viên đã thường xuyên sử dụng những phương pháp và hình thức tổ chức dạy học nào giúp phát huy tính tích cực của học sinh, chủ động tiếp thu kiến thức bài học, nhờ đó các em hình thành thói quen sử dụng năng lượng tiết kiệm trong sinh hoạt hàng ngày của mình
Từ việc quan sát các tiết Khoa học, tôi tìm hiểu về hiệu quả của tiết dạy: sau khi kết thúc tiết học các em có nắm đầy đủ kiến thức giáo viên truyền đạt hay không, thái độ học tập của các em khi được giáo viên lồng ghép nội dung giáo dục
sử dụng năng lượng tiết kiệm, hành vi của các em ngay trong lớp học và ở trường như thế nào?
Mặt khác, tôi đã trực tiếp phỏng vấn, trao đổi với một số thầy cô giáo dạy khối 4, 5 trong trường cũng như các em học sinh Thông qua việc trao đổi trực tiếp tôi biết được những phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với mảng giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm, những thuận lợi và khó khăn trong quá trình dạy và học môn Khoa học nói chung cũng như quá trình giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm cho học sinh nói riêng
Thông qua kết quả điều tra, thăm dò thực tế ở trường Tiểu học, tôi có cơ sở ban đầu về thực tế việc giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm trong cuộc sống cho học sinh ở nhà trường Tiểu học, thực trạng nhận thức của học sinh về việc này Kết quả này chính là nền tảng vững chắc để tôi tiến hành thực nghiệm và mong rằng kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng vào thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học về mảng nội dung này trong trường Tiểu học Việc lồng ghép giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm cho học sinh là điều vô cùng cần thiết và cần được tiến hành ngay ở lúc còn nhỏ, các em còn là một lực lượng rất hùng hậu trong việc tuyên truyền, kêu gọi mọi người trong xã hội cùng tham gia hành động vì tương lai
1.2.4.4 Kết quả điều tra
a Mức độ tích hợp giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm trong cuộc sống cho học sinh thông qua môn Khoa học
Trang 28Theo kết quả thăm dò, điều tra tôi nhận thấy rằng tất cả các giáo viên đều có nhận thức đúng đắn về tác dụng của việc lồng ghép giáo dục cho học sinh cách sử dụng năng lượng tiết kiệm trong cuộc sống hàng ngày Vì vậy, 100% giáo viên đều lồng ghép việc giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm cho học sinh ở các bài học thuộc chủ đề Vật chất và năng lượng của môn Khoa học
Kết quả cho thấy rằng có tới 83,33% giáo viên thường xuyên tích hợp, lồng ghép vào bài học việc sử dụng năng lượng tiết kiệm trong cuộc sống cho học sinh Bên cạnh đó, vẫn còn 16,67% giáo viên chỉ thỉnh thoảng lồng ghép nội dung này vào bài học Năng lượng được các em và gia đình sử dụng hàng ngày, thế nên việc giáo dục cho các em biết cách sử dụng chúng một cách hợp lí, tiết kiệm là một điều cần thiết, gắn với thực tiễn cuộc sống Qua đó các em sẽ có ý thức đúng đắn về vấn
đề năng lượng cũng như các bài học thuộc chủ đề Vật chất và năng lượng có lồng ghép giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm, hơn thế nữa các em thêm yêu thích môn học Khoa học, ham mê khám phá, tìm hiểu cuộc sống xung quanh mình; điều này được thể hiện rất rõ ở con số 95% học sinh thích những tiết học Khoa học mà thầy (cô) giáo của mình có lồng ghép giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm Cũng phải nói đến con số 5% học sinh chưa thực sự có hứng thú với môn học này, có lẽ nguyên nhân chính của thực trạng này là do còn một số lượng không nhỏ giáo viên chưa thường xuyên tích hợp việc giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm trong cuộc sống cho học sinh ở những bài học có liên quan (16,67%)
Bảng 1.1 Kết quả mức độ tích hợp giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm
Trang 29Biểu đồ 1.1 Mức độ tích hợp giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm
Theo số liệu khảo sát có 100% giáo viên thường xuyên liên hệ vào cuộc sống hàng ngày của học sinh trong quá trình dạy học các bài học có lồng ghép giáo dục
sử dụng năng lượng tiết kiệm Đây là một con số rất đáng mừng, bởi điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong dạy học môn Khoa học nói chung, mảng chủ đề Vật chất và năng lượng cũng như các bài học có lồng ghép giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm nói riêng Vấn đề năng lượng hiện nay không còn là việc của các nhà chức trách cấp cao nữa mà nó là trách nhiệm của toàn xã hội, của mỗi người Học sinh Tiểu học tuy còn nhỏ tuổi nhưng các em cũng cần biết được những thực trạng đang diễn ra xung quanh mình để từ đó các em có ý thức đúng đắn hơn, từ đó có hành động phù hợp với lứa tuổi của mình Mỗi việc làm nhỏ tích góp dần sẽ trở thành những việc lớn có ý nghĩa quan trọng Cách giáo dục hiệu quả là các em được tự mình suy xét, hành động để rút ra những bài học kinh nghiệm, gắn liền với thực tiễn cuộc sống hàng ngày, các em thêm khắc sâu hơn kiến thức và tỏ ra thích thú với môn học này Điều này thể hiện ở con số 97,5% học sinh thích thầy (cô) giáo cung cấp thêm thông tin bổ ích ngoài sách giáo khoa về việc sử dụng năng lượng tiết kiệm trong cuộc sống
83,33
16,67
Trang 30Bảng 1.2 Mức độ liên hệ thực tế việc sử dụng năng lượng tiết kiệm
100
Biểu đồ 1.2 Mức độ liên hệ thực tế việc sử dụng năng lượng tiết kiệm
Chủ đề Vật chất và năng lượng trong môn Khoa học ở Tiểu học giúp học sinh có những kiến thức ban đầu về đặc điểm và ứng dụng của một số chất, một số vật liệu và dạng năng lượng thường gặp trong đời sống và sản xuất; từ đó các em có
ý thức sử dụng chúng một cách hợp lí nhằm bảo vệ môi trường sống xung quanh mình Vì thế trong các bài học có nội dung này giáo viên đã biết quan tâm đúng mức, tạo một môi trường học tập tích cực, lành mạnh để học sinh được chủ động, tích cực tham gia các hoạt động học tập, hứng thú với việc lĩnh hội những kiến thức cần thiết, khắc sâu và áp dụng chúng vào cuộc sống hàng ngày của chính các em
Trang 31b Mức độ sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học để giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm cho học sinh nhằm phát huy tối đa sự sáng tạo, chủ động của các em
Phương pháp dạy học:
Bảng 1.3 Mức độ sử dụng các phương pháp dạy học
Phương pháp
Mức độ sử dụng (%) Thường
xuyên
Thỉnh thoảng
Trò chơi Nêu gương
Biểu đồ 1.3 Mức độ sử dụng các phương pháp dạy học
Trang 327 Phương pháp tìm hiểu, điều tra 8,33%
Giáo viên hiểu rõ đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học, vì thế thường xuyên
tổ chức, hướng dẫn cho các em nắm bắt kiếm thức bằng những phương pháp phù hợp như thảo luận nhóm, quan sát Riêng đối với phương pháp gợi mở vấn đáp, đây
là một phương pháp đặc trưng của quá trình dạy học nói chung và dạy học môn Khoa học nói riêng; nhờ vào những gợi ý, câu hỏi khéo léo của giáo viên các em được dẫn dắt vào bài học một cách tự nhiên, thoải mái chứ không hề thụ động, kết hợp với việc được quan sát trên đối tượng vật thật hay như tranh ảnh các em nắm được đầy đủ các kiến thức Khoa học; chủ động, sáng tạo trong quá trình lĩnh hội; từ
đó hình thành những kĩ năng sử dụng năng lượng tiết kiệm ngay trong cuộc sống hàng ngày của bản thân Cho nên trong kết quả thăm dò với đối tượng học sinh, có tới 97,5% các em thích thầy (cô) giáo cho xem tranh ảnh, video về việc sử dụng
Trang 33năng lượng tiết kiệm Ngoài ra, các em còn rất thích được thầy (cô) giáo nêu gương
về việc sử dụng năng lượng tiết kiệm trong cuộc sống; hay như tham gia chơi các trò chơi, đóng vai bởi lẽ khi giáo viên sử dụng các phương pháp này các em sẽ được thực hành nhiều, hoạt động nhiều, lớp học sôi nổi hơn và việc tiếp thu kiến thức trở nên rất nhẹ nhàng, thoải mái Điều này được thể hiện rất rõ ở kết quả thăm dò có 95% học sinh muốn thầy (cô) giáo nêu gương về việc sử dụng năng lượng tiết kiệm trong cuộc sống Điều này cho thấy rằng, giáo viên nên thường xuyên sử dụng các phương pháp phát huy tối đa sự chủ động, tích cực của học sinh sao cho bài học đạt được mục tiêu tốt nhất
Như vậy, với mong muốn học sinh lĩnh hội được những kiến thức về việc sử dụng năng lượng tiết kiệm để từ đó hình thành những kĩ năng, kĩ xảo, hành vi thói quen cần thiết cho bản thân trong việc sử dụng hợp lí các loại năng lượng hàng ngày; giáo viên đã kết hợp sử dụng những phương pháp dạy học phù hợp
Hình thức dạy học:
Bảng 1.4 Mức độ sử dụng các hình thức tổ chức dạy học
STT Hình thức dạy học
Mức độ sử dụng (%) Thường
xuyên
Thỉnh thoảng
Không sử dụng
Trang 34Dạy học toàn lớp
Dạy học tại hiện trường
Tham quan
Thường xuyên Thỉnh thoảng
Không sử dụng
Biểu đồ 1.4 Mức độ sử dụng các hình thức tổ chức dạy học
Quan sát ở biểu đồ trên ta thấy đa số giáo viên sử dụng các hình thức tổ chức dạy học trên lớp; trong đó hình thức dạy học toàn lớp được sử dụng nhiều nhất (83,33%), tiếp đó là dạy học theo nhóm chiếm 66,67% và dạy học cá nhân 58,33% Riêng đối với hình thức tổ chức dạy học ngoài thiên nhiên, giáo viên chỉ thỉnh thoảng sử dụng nó đối với những bài học cần thiết, bởi vì cách tổ chức này tốn rất nhiều thời gian để chuẩn bị, có thể gây ra mất trật tự không đáng có nếu như không quản lí gắt gao; mà một tiết học ở bậc Tiểu học chỉ gói gọn trong 35 phút nên rất khó để tổ chức có kết quả Đáng nói hơn đó là hình thức tổ chức dạy học tham quan 100% giáo viên theo phiếu thăm dò đều không chọn hình thức này, không phải vì hình thức này không hay, không phát huy tính tích cực của học sinh mà bởi lẽ thông thường khi sử dụng hình thức này đều phải đi tới những nơi xa, các em lại đang rất nhỏ, hiếu động nên có thể sẽ gây nguy hiểm cho các em trong quá trình học tập
c Nhận thức của giáo viên về những thuận lợi và khó khăn trong quá trình giáo dục
sử dụng năng lượng tiết kiệm cho học sinh thông qua của đề Vật chất và năng
Trang 35 Thuận lợi:
Trong quá trình giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm trong cuộc sống cho học sinh, giáo viên nhận thấy những thuận lợi như: học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động, chủ động lĩnh hội các kiến thức cần thiết có liên quan đến bài học để
áp dụng vào cuộc sống hàng ngày của mình, các em đã được tận mắt nhìn thấy những hậu quả của việc sử dụng năng lượng lãng phí ngay trong cuộc sống hàng ngày diễn ra xung quanh bản thân
Theo như ý kiến của đa số giáo viên trong trường khi tôi có dịp trò chuyện, trao đổi thì muốn các kiến thức các em tiếp nhận ở trường trở thành kĩ năng, kĩ xảo trong cuộc sống của mỗi em thì cần có sự trợ giúp đắc lực của gia đình cũng như toàn xã hội Nếu tạo được mối quan hệ hỗ trợ, tương giao giữa nhà trường - gia đình
- xã hội thì đảm bảo rằng việc giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm cho học sinh không còn là một vấn đề khó khăn như hiện nay Bởi lẽ, đa số thời gian của các em
là ở nhà, các loại năng lượng các em đang sử dụng cũng hầu hết trong gia đình nên việc giáo dục sử dụng năng lượng không chỉ áp dụng ở nhà trường mà cần có sự đóng góp, hỗ trợ đắc lực của hai lực khác không kém phần quan trọng đó là gia đình
và xã hội Vì vậy, cần phải kết hợp giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm cho học sinh theo thứ tự nhà trường - gia đình - xã hội; cùng nhau chung tay xây dựng một
Trang 36Từ những lí do khách quan và chủ quan trên mà quá trình giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm trong cuộc sống cho học sinh vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn Vì vậy, giáo viên cần tổ chức giảng dạy, giáo dục hợp lí hơn, học sinh được hoạt động nhiều hơn, tham gia vào các hoạt động bổ ích, thú vị để từ đó các
em thêm yêu thích môn học và sự cần thiết phải nghiệm túc học tập môn học cũng như mảng chủ đề Vật chất và năng lượng có các bài học tích hợp giáo dục sử dụng năng lượng Bên cạnh đó, cần biết kết hợp với nhà trường, gia đình và xã hội cùng giáo dục học sinh vì sự phát triển bền vững sau này
Tóm lại, dựa trên kết quả thăm dò tại trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, tôi rút ra được một số kết luận như sau:
- Các giáo viên đã quan tâm thực sự tới việc lồng ghép việc giáo dục cho học sinh biết cách sử dụng năng lượng tiết kiệm trong cuộc sống, cho các em thấy được tác dụng, ý nghĩa việc làm của mình đối với bản thân, gia đình và xã hội Trong dạy học chủ đề Vật chất và năng lượng, đối với các bài học có liên quan đến giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm cho học sinh giáo viên liên hệ trực tiếp với cuộc sống hàng ngày của các em là điều cần thiết
- Giáo viên sử dụng kết hợp khéo léo các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo lĩnh hội kiến thức ở học sinh trong các bài học có lồng ghép giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm
- Giáo viên nhận thấy rõ nhưng thuận lợi và khó khăn trong dạy học môn Khoa học nói chung, các bài học thuộc chủ đề Vật chất và năng lượng có lồng ghép giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm cho học sinh nói riêng, từ đó giáo viên cố gáng hạn chế những khó khăn, phát huy những thuận lợi để mục tiệu của bài học đạt được hiệu quả
Trong dạy học mảng nội dụng giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm hiện nay còn chưa thu được kết quả cao bởi những lí do như:
+ Chưa có đủ đồ dùng dạy học phục vụ cho các tiết dạy
+ Chưa có điều kiện khảo sát thực tế sử dụng năng lượng của học sinh tại gia đình của các em
Trang 37+ Xã hội và bản thân các em vẫn chưa nhận thức được vấn đề sử dụng năng lượng tiết kiệm là cấp bách, cần thiết hiện nay
+ Nhà trường chưa tổ chức các hoạt động tuyên truyền, kêu gọi mọi người cùng chung tay xây dựng môi trường sống văn minh, hiện đại bằng cách sử dụng năng lượng tiết kiệm
Trang 38CHƯƠNG 2: NỘI DUNG DẠY HỌC, CÁC PHƯƠNG PHÁP
VÀ HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC ĐỂ GIÁO DỤC
HỌC SINH BIẾT SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM TRONG CUỘC SỐNG QUA MÔN KHOA HỌC LỚP 4, 5 2.1 HỆ THỐNG CÁC BÀI HỌC CÓ NỘI DUNG NĂNG LƯỢNG ĐỂ TÍCH HỢP GIÁO DỤC CHO HỌC SINH BIẾT SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM TRONG MÔN KHOA HỌC
2.1.1 Các mức độ tích hợp giáo dục cho học sinh biết sử dụng năng lượng tiết kiệm trong môn Khoa học
2.1.1.3 Mức độ liên hệ
Các kiến thức giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm không được nêu rõ trong sách giáo khoa nhưng dựa vào kiến thức bài học, giáo viên có thể bổ sung, liên hệ các kiến thức giáo dục sử dụng năng lượng tiêt kiệm một cách lôgic cho học sinh áp dụng vào cuộc sống hàng ngày của mình
2.1.2 Hệ thống các bài học có nội dung về năng lượng để tích hợp giáo dục cho học sinh biết sử dụng năng lượng tiết kiệm trong môn Khoa học