1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cách xây dựng hình tượng thơ trong tập không bao giờ là cuối của xuân quỳnh

72 57 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cách xây dựng hình tượng thơ trong tập không bao giờ là cuối của xuân quỳnh
Tác giả Trần Thị Băng Thanh
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 732,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn chung, các nhà lí luận đều có cái nhìn tương đối thống nhất trong cách xây dựng hình tượng: Trần Đình Sử khẳng định: hình tượng văn học được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ, trước h

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

- -

TRẦN THỊ BĂNG THANH

Cách xây dựng hình tượng thơ trong tập

Không bao giờ là cuối của Xuân Quỳnh

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

“Nghệ thuật là sự mô phỏng tự nhiên” (Aristote), tái hiện cuộc sống bằng hình tượng Văn học là một loại hình nghệ thuật, nó cũng lấy hình tượng làm phương tiện đặc thù để phản ánh hiện thực khách quan Đó là kết quả của quá trình tư duy sáng tạo tưởng tượng và hư cấu của nhà văn Dấu ấn chủ quan của người nghệ sĩ cũng bộc lộ qua hình tượng theo nguyên lí phản ánh lại hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Nghiên cứu hình tượng là hướng đi đầy hứa hẹn giúp chúng ta hiểu rõ về vẻ đẹp nghệ thuật của tác phẩm cũng như phong cách nghệ thuật của mỗi nhà văn, nhà thơ

Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Xuân Quỳnh là một tác giả nữ có phong cách và bản sắc riêng khá rõ nét Trải qua năm tháng sống và viết, yêu thương và lao động nghệ thuật hết mình, Xuân Quỳnh đã để lại cho đời một di sản văn học thật đáng quý Có nhiều ý kiến đánh giá thơ Xuân Quỳnh phần nhiều

là những vần thơ thiên về cảm tính hơn là lí tính Có lẽ điều đó không sai nhưng cũng không chính xác bởi thơ Xuân Quỳnh xuất phát từ những cảm nhận tinh tế trong tâm hồn đa cảm, nhiều rung động của chị nhưng đó lại là những vần thơ giàu hình ảnh và giàu những giá trị biểu trưng Chúng tôi chọn hướng tiếp cận

thơ Xuân Quỳnh từ góc độ ngôn ngữ cụ thể là qua Cách xây dựng hình tượng trong tập thơ Không bao giờ là cuối để khẳng định những giá trị của thơ Xuân

Quỳnh một cách khoa học chứ không chỉ là “nhận thấy vậy”, “cảm thấy vậy”

Trang 3

Thành quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở để khẳng định rằng một trong những nhân tố làm nên thành công nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh là việc sử dụng sáng tạo chất liệu ngôn từ thông qua các biện pháp tu từ ngữ nghĩa

Nghiên cứu hình tượng cũng là hướng đi giúp chúng ta có thể nắm bắt được những giá trị biểu trưng nhiều tầng bậc ẩn chứa trong những hình ảnh thơ độc đáo của thơ Xuân Quỳnh nói riêng cũng như thơ ca nói chung Qua việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi học tập được cách tiếp cận một vấn đề một cách khoa học, đồng thời là điều kiện củng cố kiến thức về ngôn ngữ, lí luận văn học Bên cạnh đó, chúng tôi tin tưởng với tính lí thú và mới mẻ của đề tài sẽ tạo nền tảng quan trọng cho việc nghiên cứu chuyên sâu hơn trong quá trình học tập và

giảng dạy sau này

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Hình tượng và cách xây dựng hình tượng trong văn học là một vấn đề không mới Có rất nhiều công trình đã nghiên cứu về hình tượng và cách xây dựng hình tượng trên bình diện lí luận học và cả trên bình diện phong cách học Các nhà lí luận: Trần Đình Sử, Bùi Minh Đức, Hà Minh Đức, Lê Lưu Oanh đề

có các công trình mang tính chất quy mô nghiên cứu về vấn đề này Nhìn chung, các nhà lí luận đều có cái nhìn tương đối thống nhất trong cách xây dựng hình

tượng: Trần Đình Sử khẳng định: hình tượng văn học được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ, trước hết bao gồm các “hình ảnh ngôn từ”, các “ý tượng”, “hình tượng” tạo thành bởi các phép tu từ” và “hình tượng là những cấu tạo văn học sáng tạo bằng tưởng tượng, hư cấu có giá trị như những tín hiệu thẩm mĩ (14, tr.41) Lê Lưu Oanh cũng khẳng định: hình tượng nghệ thuật với những quan h ệ dồn nén: ảo – thực, có – không, có lí – phi lí, tự nhiên, nhân tạo tạo thành những phức hợp quan hệ mang nội dung khái quát là cho hình tượng mang tính đa

Trang 4

nghĩa, hàm súc như lời người xưa nói: lời hết mà ý khôn cùng (13, tr.153) Nhìn

chung các nhà lí luận đều có các ý kiến thống nhất trong việc nghiên cứu hình tượng đó là cách xây dựng hình tượng từ những hình ảnh giàu giá trị biểu trưng trong mối quan hệ thực - ảo, tưởng tượng

Các nhà ngôn ngữ học cũng có những nhận định tương đối tương đồng về cách xây dựng hình tượng trong văn học Qua quá trình tìm hiểu nghiên cứu, chúng tôi có một số nhìn nhận chung như sau: Các nhà ngôn ngữ như Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa, Nguyễn Hữu Đạt, đều bắt đầu nghiên cứu hình tượng từ các phương tiện tu từ cấu tạo nên hình tượng bao gồm các phép tu từ cấu tạo theo quan hệ liên tưởng: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ

Xuân Quỳnh là thi sĩ tiêu biểu cho gương mặt các nhà thơ nữ trong nền thơ hiện đại Việt Nam Xuất hiện vào đầu những năm sáu mươi và trưởng thành

từ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thơ chị đã trở thành đối tượng nghiên cứu, tìm hiểu của nhiều độc giả và nhà lí luận phê bình uy tín Các nhà nghiên cứu, phê bình như Hà Minh Đức, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn, Nguyễn Xuân Nam, Lưu Quỳnh Thơ…đều có nhiều công trình nghiên cứu về Xuân Quỳnh Ngoài ra còn rất nhiều cây bút tiêu biểu khác cũng có những nghiên cứu khá đặc sắc về đời và thơ Xuân Quỳnh Những bài viết, chuyên luận nghiên cứu

về thơ văn và cuộc đời Xuân Quỳnh đã được chọn lọc, tập hợp chủ yếu trong ba

công trình: Xuân Quỳnh thơ và đời (1998), NXB Phụ Nữ; Xuân Quỳnh, cuộc đời

và tác phẩm (2003), Lưu Khánh Thơ và Đông Mai tuyển chọn; Thơ Xuân Quỳnh

và những lời bình (2003), Ngân Hà biên soạn và tuyển chọn Sau khi điểm qua

các bài viết tiêu biểu, chúng tôi nhận thấy rằng: nhìn một cách tổng quan, các tác giả quan tâm tới thơ Xuân Quỳnh từ góc độ phê bình văn học hơn là nghiên cứu nghệ thuật, cũng như đứng từ góc độ lí luận văn học để tiếp nhận hơn là lí thuyết

Trang 5

ngôn ngữ Vì thế trong phần lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi sẽ không nhắc đến những công trình, bài viết không liên quan trực tiếp đến đề tài mà chỉ xin xâu chuỗi lại một số ý kiến, nhận xét tiêu biểu về phong cách thơ Xuân Quỳnh đặc biệt là những công trình, bài viết về hình tượng trong thơ Xuân Quỳnh nhìn

từ góc độ ngôn ngữ

Về Thơ Xuân Quỳnh: Nguyễn Xuân Nam với bài viết: Vẻ đẹp thơ Xuân Quỳnh trong Thơ - tìm hiểu và thưởng thức đã nhận xét về ngôn ngữ trong thơ Xuân Quỳnh: từ ngữ như gọi nhau, như say sưa, như tỉnh, biến hóa thông minh, như bản chất những đồng dao xưa cũ nhất Quả thật, ngôn ngữ của Xuân Quỳnh trở nên mềm mại, duyên dáng hẳn khi kế thừa và phát triển những vẻ đẹp của ngôn ngữ ca dao, dân ca (16, tr.148)

Tác giả Nguyễn Quân trong bài viết Phong cảnh mười bảy đã nhận xét Xuân Quỳnh là … nhà thơ chuyên hội hoạ và thích thoả mãn con mắt, chuyển mọi cảm giác về thị giác (16, tr.140)

Riêng về vấn đề hình tượng trong thơ Xuân Quỳnh là một vấn đề không mới, đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm Các ý kiến đều đồng quy ở một điểm: thơ Xuân Quỳnh giàu hình ảnh, và hình tượng là một loại hình rất đặc biệt trong thơ chị Tuy nhiên do quy mô bài viết cũng như do mục đích nghiên cứu, vấn đề này vẫn chưa được đi sâu nghiên cứu như một vấn đề độc lập Thực sự vẫn chưa có công trình nào đi vào phân tích hình tượng nghệ thuật trong một tập thơ của Xuân Quỳnh chứ chưa nói đến một công trình lớn hơn là nghệ thuật xây dựng hình tượng trong toàn bộ tác phẩm thơ của tác giả này Những kết quả chỉ dừng lại ở việc thừa nhận sự có mặt của hình tượng hoặc đi vào phân tích một số

hình tượng cụ thể như hình tượng sóng, hình tượng biển, con tàu…Từ tình hình

trên có thể thấy rằng, việc nghiên cứu thơ Xuân Quỳnh từ góc độ ngôn ngữ học

Trang 6

vẫn còn là một mảnh đất chưa được khai phá nhiều Chính vì vậy, chúng tôi tin rằng nghiên cứu về cách xây dựng hình tượng trong thơ Xuân Quỳnh cụ thể

trong tập thơ Không bao giờ là cuối là một việc làm có nhiều ý nghĩa từ đó có

cái nhìn toàn diện và khoa học hơn đối với hình ảnh thơ độc đáo trong ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Cách xây dựng hình tượng thơ của Xuân Quỳnh trong tập thơ

Không bao giờ là cuối

- Tập thơ Không bao giờ là cuối trong mối quan hệ với toàn bộ thơ

Xuân Quỳnh

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê, phân loại

- Các phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát, so sánh đối chiếu

để xử lí tư liệu và nêu nhận xét các kết quả nghiên cứu

5 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương:

- Chương 1: Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài

- Chương 2: Khảo sát, miêu tả

- Chương 3: Vai trò của hình tượng trong tập thơ Không bao giờ là cuối

Trang 7

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN

ĐỀ TÀI

1.1 Hình tượng nghệ thuật

Hình tượng nghệ thuật không phải là khái niệm riêng của văn học Các loại hình nghệ thuật khác như: hội họa, điêu khắc, múa… cũng xây dựng cho mình nhiều hình tượng nghệ thuật Điều này cũng có nghĩa là hình tượng cũng được hình thành từ những chất liệu khác nhau như: với hội họa là màu sắc và đường nét, với điêu khắc là hình khối, với múa là động tác, điệu bộ…Vì xét trong phạm vi một tác phẩm văn học nên hình tượng nghệ thuật ở đây được mặc định đồng nghĩa với hình tượng văn học nghĩa là chất liệu để xây dựng nên hình tượng là ngôn từ Chính từ “nghệ thuật” đi kèm được chúng tôi hạn định lại ý nghĩa của từ hình tượng không theo cách hiểu của triết học và tâm lí học (chỉ một giai đoạn cao hơn của nhận thức so với cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã kết thúc) mà theo cách hiểu của lí luận học và phong cách học

1.1.1 Quan niệm về hình tượng thơ

1.1.1.1 Hình tượng theo quan niệm của các nhà lí luận văn học

Nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm là để nhận thức và cắt nghĩa đời sống, thể hiện tư tưởng và tình cảm của mình, giúp cho người đọc thể nghiệm ý vị của cuộc đời, hiểu được những quan hệ có ý nghĩa muôn màu muôn vẻ của bản thân

và thế giới xung quanh Nhưng khác với nhà khoa học, nghệ sĩ không diễn đạt

Trang 8

trực tiếp ý nghĩ và tình cảm bằng khái niệm trừu tượng, bằng định lí, công thức

mà bằng hình tượng, nghĩa là bằng cách làm sống lại một cách cụ thể, cảm tính những sự việc, hiện tượng làm ta suy nghĩ về tính cách và số phận, về tình đời, tình người Có thể nói rằng, hình tượng nghệ thuật là khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện một cách sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật Giá trị trực quan độc lập là đặc điểm quan trọng của hình tượng nghệ thuật Nó làm cho người ta có thể ngắm nghía, thưởng thức, đó có thể là một đồ vật, một phong cảnh thiên nhiên hay một sự kiện xã hội được cảm nhận

Trên bình diện lí luận văn học, hình tượng là một khái niệm không mới đã được nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa Xét về cơ bản, đa số các ý kiến là thống nhất với nhau và mang tính bổ sung cho nhau

Hêghen định nghĩa : Hình tượng với tư cách là tượng trưng mà biểu hiện

ra là một tác phẩm nghệ thuật được sáng tạo, một mặt vừa cho thấy đặc điểm của nó, mặt khác lại bộc lộ ý nghĩa phổ biến sâu rộng hơn cái sự vật cá biệt được miêu tả Do đó hình tượng tượng trưng giống như câu đố đòi hỏi chúng ta tìm ý nghĩa nội tại đằng sau hình tượng” (9, tr.121)

Hà Minh Đức quan niệm: khác với các khái niệm trừu tượng, hình tượng nghệ thuật tái hiện đời sống trong các hiện tượng riêng biệt của nó, hình tượng bao hàm sự thống nhất biện chứng giữa thuộc tính chung và cá biệt Nó biểu hiện ra một cách cụ thể, độc đáo, không lặp lại nhưng chứa đựng thuộc tính chung của hiện tượng, sự vật, chứa đựng quy luật của đời sống (6, tr.29)

Trần Đình Sử quan niệm: hình tượng nghệ thuật là cái tính chất làm cho tác phẩm trở thành tác phẩm nghệ thuật Chất văn, tính văn học mà các cấu trúc

đề ra như là phẩm chất thiết yếu của tác phẩm văn học, chỉ khi nào gắn với tình hình tượng nghệ thuật thì mới thể hiện được đặc trưng của văn học (14, tr.55)

Trang 9

Từ đó tác giả khẳng định: Hình tượng nghệ thuật là tiêu điểm sáng tạo của nhà văn, làm cho văn bản ngôn từ trở thành văn bản nghệ thuật

Lại Nguyên Ân xem hình tượng văn học: là dạng hình nghệ thuật thể hiện bằng chất liệu ngôn từ nghệ thuật, cũng gọi là hình tượng ngôn từ (1, tr.149)

Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi định nghĩa: “Hình tượng nghệ thuật chính là các khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện bằng tưởng tượng sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật” (7, tr.147)

Nhìn chung, mỗi định nghĩa, quan niệm về hình tượng nghệ thuật lí giải theo một cách riêng hoặc là nhấn mạnh khách thể đời sống được tái tạo qua lăng kính của nhà văn hoặc là chú ý đến sự thống nhất biện chứng của các yếu tố bên trong hình tượng Tuy nhiên, về cơ bản, các nhà lí luận văn học đều thống nhất ở quan niệm xem hình tượng văn học là phương diện đặc thù của văn học nghệ thuật để phản ánh hiện thực đời sống

Hình tượng nghệ thuật tái hiện cuộc sống nhưng không phải sao chép y nguyên những hiện tượng có thật mà là tái hiện có chọn lọc, sáng tạo thông qua trí tưởng tượng và tài năng của nghệ sĩ, làm cho các hình tượng truyền được ấn tượng sâu sắc, từng làm cho người nghệ sĩ day dứt, trăn trở cho người khác

Hình tượng nghệ thuật vừa có giá trị thể hiện những nét cụ thể, cá biệt, không lặp lại vừa có khả năng khái quát, làm bộc lộ được bản chất của một loại người hay một quá trình của đời sống theo quan niệm của nghệ sĩ Hình tượng nghệ thuật không phải phản ánh những khách thể thực tại tự nó mà phản ánh toàn bộ mối quan hệ sống động giữa chủ thể và khách thể Người đọc không chỉ thưởng thức bức tranh hiện thực mà còn thưởng thức các nét vẽ, sắc màu, cả nụ cười, sự suy tư ẩn trong bức tranh ấy

Trang 10

Như vậy, có thể thấy rằng, theo quan niệm của các nhà lí luận học, hình tượng nghệ thuật là kết quả hoạt động tưởng tượng, nhằm tạo ra một thế giới ứng với những nhu cầu và định hướng về tinh thần của con người, ứng với hoạt động

có chủ đích với lí tưởng của con người

1.1.1.2 Hình tượng theo quan niệm của phong cách học

Theo Đinh Trọng Lạc: trong ngôn ngữ học đặc biệt là trong phong cách học, tính hình tượng, theo nghĩa rộng nhất, có thể xác định là thuộc tính của lời nói nghệ thuật, truyền đạt không chỉ có thông tin lôgic mà còn cả thông tin được tri giác một cách cảm tính nhờ vào hệ thống hình tượng ngôn từ (10, tr.105)

Các từ ngữ trong văn bản nghệ thuật không thể được coi ngang bằng như từ ngữ trong ngôn ngữ tự nhiên, vì từ ngữ trong ngôn ngữ nghệ thuật có hai bình diện nghĩa có mối tương quan, đồng thời với hệ thống ngôn ngữ chung và cả những

yếu tố trong cấu trúc ngôn từ của văn bản nghệ thuật

Lê Anh Hiền, trong Phong cách học Tiếng Việt đã đưa ra nhận định: hình tượng lời nói xuất hiện với chức năng giao tiếp còn hình tượng nghệ thuật nằm trong một chỉnh thể nghệ thuật Hình tượng ngôn ngữ là hình tượng âm thanh xuất hiện trong sự liên tưởng, tưởng tượng của con người (2, tr.144)

Nguyễn Thái Hòa quan niệm: khác với phong cách ngôn ngữ khoa học mang tính trừu tượng, đặc trưng thứ nhất của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

là tính hình tượng vì nhà nghệ thuật tư duy và biểu đạt bằng hình tượng nghệ thuật Chất liệu của ngôn ngữ nghệ thuật là hình tượng ngôn ngữ Hình tượng ấy được các tín hiệu ngôn ngữ xây dựng nên, gợi ra trong liên tưởng và tưởng tượng của người nghe, người đọc Từ đó, tác giả định nghĩa: Hình tượng là phương tiện sáng tạo đồng thời cũng là mục đích của sáng tạo nghệ thuật (8,

Trang 11

tr.186) và hình tượng được xem như là những tính hiệu thẩm mĩ phức hợp mang tính hình hiệu (8, tr.100)

PGS.TS Nguyễn Hữu Đạt định nghĩa: Hình tượng thơ là một bức tranh sinh động và tương đối hoàn chỉnh về cuộc sống được xây dựng bằng hệ thống các đơn vị ngôn ngữ có tính vần, điệu với trí tưởng tượng sáng tạo và cách đánh giá của người nghệ sĩ (4, tr.100)

1.1.2 Cách xây dựng hình tượng thơ

1.1.2.1 Cách xây dựng hình tượng theo quan niệm của các nhà lí luận văn học

Văn học phản ánh thế giới bằng hình tượng Hình tượng chính là những hình thức đời sống, là một tồn tại cụ thể, cảm tính, toàn vẹn, không lặp lại và mang hơi thở của sự sống Tiếp xúc với hình tượng nghệ thuật là tiếp xúc với một thế giới đời sống sinh động, có phong cảnh thiên nhiên với cỏ cây, hoa lá, núi sông, có đồ vật với nhà cửa, đồ dùng, có con người với ngoại hình, hành động, cảm xúc, tư tưởng, quan hệ

Khái niệm hình tượng nghệ thuật, nói lên phương thức nhận thức và sáng tạo lại hiện thực theo cách riêng biệt, độc đáo và chỉ có ở nghệ thuật Bất cứ một

sự vật, hiện tượng khách quan nào có trong đời sống hiện thực, nếu được mô phỏng lại một cách sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật đều trở thành hình tượng nghệ thuật Nhìn chung, hình tượng thường được hình thành trong mối quan hệ giữa thế giới hiện thực khách quan với nhận thức chủ quan của con người Song, hình tượng không là bản sao chép máy móc theo đúng nguyên mẫu của thế giới hiện thực, bởi vì nó thuộc về thế giới của tinh thần – thế giới của sự sáng tạo Hình tượng không chỉ phản ánh hiện thực mà còn khái quát hóa, điển hình hóa toàn bộ thế giới hiện thực, nhằm tìm ra được những yếu tố cốt lõi nhất của

Trang 12

hiện thực khách quan Nhưng, hình tượng không giống với các khái niệm mang tính trừu tượng, mà nó mang tính biểu hiện hết sức sinh động và độc đáo để làm nên tác phẩm nghệ thuật Hình tượng nghệ thuật vừa có giá trị thể hiện những nét

cụ thể, cá biệt, không lặp lại vừa có khả năng khái quát, làm bộc lộ được bản chất của một loại người hay một quá trình của đời sống theo quan niệm của nghệ

sĩ Hình tượng nghệ thuật không phải phản ánh những khách thể thực tại tự nó

mà phản ánh toàn bộ mối quan hệ sống động giữa chủ thể và khách thể Người đọc không chỉ thưởng thức bức tranh hiện thực mà còn thưởng thức các nét vẽ, sác màu, cả nụ cười , sự suy tư ẩn trong bức tranh ấy

Các nhà lí luận học đều đưa ra quan niệm hình tượng nghệ thuật là được xây dựng dựa trên hoạt động tưởng tượng, nhằm tạo ra một thế giới ứng với những nhu cầu và định hướng về tinh thần của con người, ứng với hoạt động có

chủ đích với lí tưởng của con người Trần Đình Sử khẳng định: Hình tượng văn học được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ, trước hết bao gồm các “hình ảnh ngôn từ”, các “ý tượng”, “hình tượng” tạo thành bởi các phép tu từ” và “hình tượng là những cấu tạo văn học sáng tạo bằng tưởng tượng, hư cấu có giá trị như những tín hiệu thẩm mĩ (14, tr.41) Lê Lưu Oanh lại khẳng định: trong hình

tượng, có phần chúng ta thấy được (thấy bằng tưởng tượng, hình dung) và phần còn lại chúng ta không nhìn thấy được đó là cảm xúc, nỗi niềm, quan hệ…Vì vậy, ngôn từ phải giàu hình ảnh mới có thể tái hiện được cuộc sống tươi nguyên, sinh động nghĩa là tạo dựng cho hình tượng một không gian, thời gian, nhịp điệu, màu sắc, sự kiện và quan hệ y như thật mà muốn có được những điều đó phải

nhờ đến nghệ thuật tạo hình: Tạo hình để tái tạo hình tượng”, không có tạo hình thì không có tính hình tượng bởi bản chất của hình tượng là một hoạt động tinh thần nên nó phải mượn hình hài cụ thể để xuất hiện và tồn tại (13, tr.201) Điều

Trang 13

đó khẳng định vai trò quan trọng của tạo hình trong việc xây dựng hình tượng Tạo hình là việc làm cho khách thể có được một tồn tại cụ thể cảm tính bên ngoài qua chất liệu, là phú cho thế giới hình tượng khái quát một sự cụ thể Cơ

sở của tạo hình là sự tương đồng của cái miêu tả so với cái được miêu tả thông qua quá trình tưởng tượng Những chi tiết tạo hình trong hình tượng là kết quả của quá trình chọn lọc, tái tạo, mang tính thẩm mĩ cao, những chi tiết đó có ý nghĩa định hướng cho liên tưởng, cho tư duy về đối tượng Chính vì vậy thông qua ngữ nghĩa của từ với các phương tiện hình thức của nghệ thuật tạo hình chúng ta có thể nắm bắt khả năng của tạo hình của hình tượng văn học

Như vậy, lí luận học xây dựng hình tượng dựa trên những hình ảnh giàu giá trị biểu trưng và có khả năng gợi lên những sự thống nhất, tương đồng giữa hình ảnh với giá trị hình tượng được hướng đến Hình ảnh biểu trưng cũng phải đảm bảo tối đa tính tạo hình dựa trên những nét giống nhau giữa những hình ảnh biểu trưng tạo ra sự liên tưởng, tưởng tượng hình thành nên hình tượng

1.1.2.2 Cách xây dựng hình tượng theo quan niệm của phong cách học

Hình tượng nghệ thuật không phải là “bức tranh đời sống đứng yên mà luôn sống động, lung linh, huyền ảo vừa giống, vừa không giống cuộc đời thực, vừa vô hình vừa hữu hình, cụ thể đấy mà mơ hồ đấy, như mặt trăng đáy nước, như bóng người trong gương, như không gian ba chiều nay thu hẹp trong không gian hai chiều của hội họa…” (13, tr.129) Cái ta nhìn thấy trong nghệ thuật vừa

là nó lại vừa không phải chính nó Hình tượng nghệ thuật luôn có xu hướng mang ý nghĩa vượt ra ngoài nó và luôn bị ảo hóa, cái được biểu đạt luôn vượt xa ngoài cái biểu đạt Cái biểu đạt là mặt vật chất của kí hiệu học, có thể nghe thấy, nhìn thấy, nó thuộc về bề mặt ngữ âm còn cái được biểu đạt là ẩn chứa đằng sau

Trang 14

đó, nó thuộc về mặt ngữ nghĩa Do vậy, về mặt cảm thụ, hình tượng văn học chỉ sống lại trong trí tưởng tượng, trong hình dung, liên tưởng của con người Bản chất của quá trình hình thành hình tượng chính là quá trình liên tưởng Một trong những dạng của cơ chế cấu tạo hình tượng là cơ chế cấu tạo theo quan hệ liên tưởng tương đồng và tương cận Một trong những dạng của liên tưởng tương đồng là so sánh Với kiểu cấu tạo theo quan hệ liên tưởng từ cơ chế so sánh, một tình yêu thủy chung được cụ thể hóa bằng hình tượng:

…Nhớ anh em vẫn để trong lòng

Như con sông nhỏ ngày xưa ấy

Cứ chảy trăm năm chẳng đổi dòng

Bên cạnh phương thức liên tưởng theo cơ chế so sánh, ẩn dụ và hoán dụ cũng là phương thức cơ bản để biểu trưng giá trị của hình ảnh từ đó xây dựng nên hình tượng Ẩn dụ là một liên tưởng kín đáo để diễn tả những hàm ý mang giá trị biểu trưng

Từ những hình ảnh, sự vật cụ thể, liên tưởng khái quát góp phần đưa hình tượng thơ đến mức điển hình Từ một hiện tượng, một cảm xúc ban đầu, nghệ sĩ vận dụng những suy tưởng khái quát thông qua các phương thức tu từ ngữ nghĩa suy tưởng, khái quát, nâng lên thành những vấn đề mang giá trị biểu trưng tạo thành hình tượng Nhờ liên tưởng, hình ảnh được mở rộng, khái quát đi tới những hình ảnh mới giàu sự tượng trưng Xung quanh những hình ảnh ban đầu, nếu tứ thơ phát triển theo quan hệ liên tưởng, dùng hình ảnh làm hình tượng cho những nhân vật, những ý tình khác, sẽ xuất hiện hai hệ thống hình ảnh và cảm xúc song song bổ sung cho nhau dần dần một cặp hình tượng hay còn gọi là hình tượng kép: Trong thơ hiện đại, để diễn tả những đặc điểm của tính yêu nam nữ,

Trang 15

hình ảnh anh em được triển khai song song bằng hệ thống hình tượng: biển – thuyền, trời – đất, cây – đường cũng như trong ca dao sử dụng các ẩn dụ kép: thuyền – bến, sen – hồ, dâu – tằm, cây đa – bến nước…Sự vận động của hình tượng thơ rất cần những điểm tựa cụ thể và xác định, mọi ý nghĩa, tình cảm đều được liên kết lại trong một chỉnh thể thống nhất và giàu giá trị biểu trưng Một bài thơ có thể mở đầu bằng:

Anh là núi Mường Hung

Hình tượng dần được bổ sung và nâng cao thành hình tượng kép:

Chiều, bóng anh che sông

Sớm, mặt sông lóng lánh

Như vậy, hình tượng không chỉ được xây dựng mang tính chất đơn thuần

mà còn xuất hiện với tư cách là các cặp hình tượng Từ hình tượng đơn lẻ, qua quá trình tư duy và nhận thức thế giới, hình tượng mang những đặc điểm của nhau, tạo nên hệ thống hình tượng tồn tại song song, bổ sung cho nhau tạo thành

hệ thống hình tượng kép

Theo Đinh Trọng Lạc: hình tượng xuất hiện là do kết quả của sự đối chiếu hai khái niệm hoặc do kết quả của sự thay thế một khái niệm này bằng khái niệm khác Những phương tiện của tính hình tượng trong nghĩa hẹp là những phương tiện tu từ và những biện pháp tu từ Vai trò quyết định trong việc diễn đạt hình tượng nghệ thuật thuộc về những đơn vị ngôn ngữ mà sự phức hợp chức năng của chúng thể hiện trong sự biến đổi nội dung khái niệm của chúng Ví dụ trong

Nước non ngàn dặm của Tố Hữu:

Con thuyền rời bến sang Hiên Xuôi dòng sông Cái, ngược dòng sông Bung

Trang 16

Chập chùng thác Lửa, thác Chông Thác Dài, thác Khó, thác Ông, thác Bà

Thác bao nhiêu thác cũng qua,

Thênh thênh là chiếc thuyền ta trên đời

Thuyền ở câu thơ cuối là đơn vị ngôn ngữ đã có sự biến đổi về mặt nội

dung khái niệm Do cách kết hợp độc đáo giữa “chiếc thuyền” (chỉ sự cụ thể) với

“trên đời” (chỉ khái niệm trừu tượng) mà tạo nên sự liên tưởng cho người đọc từ

đó chuyển sang bình diện nghĩa thứ hai với ý nghĩa hình tượng có tính ẩn dụ

(thuyền = con đường cách mạng)

Như vật có thể thấy rằng, các nhà phong cách học đều có cái nhìn chung trong cách xây dựng hình tượng Theo đó, bản chất của quá trình hình thành hình

tượng chính là quá trình liên tưởng: nghệ thuật xây dựng hình tượng bằng ngôn ngữ cũng là nghệ thuật khêu gợi liên tưởng, tưởng tượng (2, tr.94) Liên tưởng

(tương đồng hoặc tương cận) sẽ dẫn đến sự ra đời của các nghĩa bóng, nghĩa chuyển thông qua phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ, hoán dụ và so sánh Đó là con đường hình thành nghĩa biểu trưng đạt hiệu quả cao nhất Phong cách học

cũng khẳng định: tượng trưng là phương thức là phương thức chuyển nghĩa dựa vào những ẩn dụ hay hoán dụ đã trở thành quen thuộc đến mức hễ nói tới cái này là người ta hiểu ngay sang sự vật khác mà nó muốn biểu thị (2, tr.166)

1.1.3 Quan niệm của người viết

Dựa vào các quan niệm của lí luận và phong cách, chúng tôi xây dựng cho mình một cách hiểu về hình tượng: Hình tượng là một hình ảnh cụ thể được dùng

để khái quát cho một nội dung trừu tượng nào đó vừa có liên quan mật thiết theo quan hệ liên tưởng vừa có tồn tại độc lập với hình ảnh dùng làm hình tượng

Trang 17

Hình tượng trong văn học bao giờ cũng ẩn chứa những quan điểm thẩm mĩ, những giá trị tư tưởng của người sáng tạo

Qua quá trình nghiên cứu về hình tượng và cơ chế cấu tạo hình tượng tượng trên hai khía cạnh lí luận và ngôn ngữ, chúng tôi nhận thấy rằng hình tượng được chia thành hai loại cơ bản phân theo phương thức biểu hiện:

1 Hình tượng chân thực: những hình tượng này được biểu hiện trực tiếp trên bề mặt câu chữ, nó được tái hiện từ những hiện tượng có thật qua sự tái hiện

có chọn lọc, sáng tạo thông qua trí tưởng tượng và tài năng của nghệ sĩ Với đặc trưng đặc biệt về thể loại, hầu như bài thơ nào cũng xuất hiện hình tượng chân thực Đó là những hình tượng về con người, hiện tượng, quang cảnh, cảm xúc…Những hình tượng này không đòi hỏi chúng ta vận dụng liên tưởng mà nó thường được xuất hiện một cách trực tiếp không đánh đố khả năng tưởng tượng,

liên tưởng của người đọc Ví như, trong bài thơ Mẹ Suốt, Tố Hữu trực tiếp xây

dựng hình tượng người mẹ anh hùng giữa mưa bom bão đạn những ngày kháng

Mỹ Hình tượng mẹ Suốt đi vào lòng người một cách chân thực và giản dị nhất

có thể, không đòi hỏi quá trình tư duy, liên tưởng, người đọc vẫn có thể cảm nhận được hình tượng người mẹ anh hùng:

Một tay lái chiếc đò ngang Bến sông Nhật Lệ, quân sang đêm ngày

Sợ chi sóng gió tàu bay Tây kia mình đã thắng, Mỹ này ta chẳng thua!

Kể chi tuổi tác già nua Chống chèo xin cứ thi đua đến cùng!

Ngẩng đầu, mái tóc mẹ rung Gió lay như sóng biển tung, trắng bờ

Trang 18

Hình tượng về mẹ Suốt người mẹ anh hùng được tác giả khắc họa một

cách chân thực và rõ nét, được biểu hiện trực tiếp trên bề mặt câu chữ Mẹ Suốt

là một hình tượng hết sức chân thực của người phụ nữ Việt Nam anh hùng bất khuất trong những ngày kháng chiến chống Mỹ

2 Hình tượng biểu trưng: hình tượng biểu trưng tức là những hình tượng không được biểu hiện trực tiếp trên bề mặt câu chữ, ngôn ngữ văn bản là A nhưng nội dung hình tượng lại là B Để hiểu hết giá trị biểu trưng của hình tượng phải đòi hỏi đến quá trình tư duy tưởng tượng của người đọc mà muốn làm được điều đó thì bản thân hình tượng phải được xây dựng một cách gián tiếp, những giá trị biểu đạt sâu sắc của hình tượng thường được xác lập dựa theo quan hệ liên tưởng, suy ý và biểu trưng Trong thơ Chế Lan Viên, chúng ta thường bắt gặp kiểu hình tượng được xây dựng dựa trên mối quan hệ này:

Tây Bắc ư có riêng gì Tây Bắc Khi lòng ta đã hóa những còn tàu

(Tiếng hát con tàu)

Ở đây, chúng ta có thể thấy được phép tu từ liên tưởng đã làm cho hình

ảnh thơ được nhận thức một cách sâu sắc hơn Hình ảnh Tây Bắc chỉ một vùng

đất thực của nhân dân ta trong mười năm kháng chiến gian khổ mà anh dũng

nhưng Tây Bắc ở đây không chỉ dừng lại ở ý nghĩa tả thực nó còn là hình tượng

tượng trưng cho sức mạnh của nhân dân ta trong kháng chiến, cho sức vươn mình của nhân dân ta sau cuộc kháng chiến Cái nội dung biểu hiện đã vượt ra ngoài cái biểu hiện để thể hiện những giá trị biểu trưng sâu sắc một cách đầy tinh

tế và đầy sức thuyết phục Và một điều hiểu nhiên muốn xây dựng được những hình tượng biểu trưng như vậy, chúng ta không thể không cần đến sự tương hỗ

Trang 19

của các biện pháp tu từ cấu tạo theo quan hệ liên tưởng Chỉ có liên tưởng, tưởng tượng mới có khả năng tạo tính biểu trưng cho hình tượng

Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, chúng tôi đã định hình được hai loại hình tượng tiêu biểu trên tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của đề tài và khả

trưng tức nhìn nhận về cách xây dựng hình tượng được cấu tạo từ các phép liên tưởng, suy ý, không bao gồm những hình tượng chân thực Chúng tôi cũng mặc định cách gọi hình tượng ở đây là cách gọi của những hình tượng tượng trưng

Bản chất của quá trình hình thành hình tượng chính là quá trình liên tưởng Quá trình liên tưởng bao giờ cũng thúc đẩy sự hình thành của các nghĩa bóng, đó

là một điều tất yếu Những nghĩa bóng này được hình thành thông qua phương thức chuyển nghĩa so sánh, ẩn dụ hoặc hoán dụ Phong cách học cũng khẳng định: Tượng trưng là phương thức chuyển nghĩa dựa vào những so sánh, ẩn dụ hay hoán dụ Vì vậy chúng tôi quan niệm, hình tượng được xây dựng dựa trên các quan hệ liên tưởng Để hiểu rõ hơn về quá trình này, chúng tôi đi vào làm rõ hơn về so sánh, ẩn dụ và hoán dụ

So sánh là cách công khai đối chiếu các đối tượng khác loại có cùng nét giống nhau nào đó nhằm diễn tả một cách hình ảnh và biểu cảm đặc điểm của một đối tượng Phương thức so sánh là một hình thức biểu hiện đơn giản nhất của lời nói hình ảnh Các nhà ngôn ngữ học cho rằng hầu như bất cứ sự biểu đạt

nào cũng có thể chuyển thành hình thức so sánh Theo Nguyễn Thái Hòa: Giá trị của so sánh tu từ là ở sự liên tưởng, sự phát hiện và gợi cảm xúc thẩm mĩ và là phương tiện quan trọng nhất để xây dựng hình tượng nghệ thuật bằng các tín hiệu ngôn ngữ (8, tr.197) So sánh là một biện pháp rất hiệu quả để miêu tả đối

Trang 20

tượng sự vật Nhờ các hình ảnh dùng để so sánh mà các ý tưởng, các yếu tố trừu tượng được cụ thể hóa và giàu giá trị biểu trưng:

Nhân dân là sóng Văn nghệ là thuyền

Thuyền xô sóng dậy Sóng đẩy thuyền lên

(Tố Hữu)

So sánh xét ở góc độ tạo nghĩa theo yêu cầu thẩm mỹ của đặc trưng văn chương không đơn thuần chỉ là hình thức mang tính kĩ xảo mà trái lại đây là một vấn đề mở rộng các trường liên tưởng để trực giác hóa, làm phong phú thế giới hình ảnh nhằm đưa đến cho người đọc nhiều sắc thái xúc cảm thẩm mỹ khi tiếp nhận văn chương trong cơ chế tư duy hình tượng

Ẩn dụ tu từ thực chất chính là thủ pháp so sánh ngầm, trong đó cái được so sánh không xuất hiện, trên bề mặt câu chữ chỉ xuất hiện cáí dùng để so sánh Ẩn

dụ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi đối tượng này gọi tên đối tượng kia dựa vào sự giống nhau của hai đối tượng Những đối tượng đem ra so sánh thường là đối tượng khác loại: từ trục cú đến trục vị, từ bình diện biểu vật sang bình diện biểu niệm, từ các yếu tố trong văn bản đến các yếu tố ngoài văn bản,… tuy nhiên chúng lại có mối quan hệ với nhau bằng những đặc điểm giống nhau nào đó theo mối quan hệ liên tưởng Giải mã ẩn dụ là thông qua cái dùng để so sánh để cảm nhận giá trị cái được so sánh Có thể nói ẩn dụ là sự chuyển đổi chức năng quy chiếu, lấy tên gọi đối tượng này để gọi tên đối tượng khác

Ẩn dụ mang ý nghĩa hình tượng dựa trên sự giống nhau hay tương đồng –

có tính chất hiện thực hoặc tưởng tượng ra – giữa đối tượng này với đối tượng

Trang 21

khác Sức mạnh đặc biệt của ẩn dụ là biểu cảm, thông qua lối nói hình ảnh, kín đáo gợi nên sự liên tưởng, tưởng tượng tạo hình tượng nghệ thuật độc đáo Ví dụ

“Hoa” thường là hình tượng chỉ người phụ nữ đẹp:

Giá đành trong nguyệt trên mây

Hoa sao hoa khéo đọa đầy bấy hoa

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Một trường hợp đáng chú ý ở đây là các những biến thể của ẩn dụ Theo T.S Bùi Trọng Ngoãn, nhân hóa, vật hóa và phúng dụ đều là những biến thể đặc biệt của ẩn dụ Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng tôi xin nói rõ thêm về ba phương thức tu từ này Nhân hóa và vật hóa thực chất là những ẩn dụ được xây dựng trên mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên xung quanh Nhân hóa là cách lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của đối tượng không

phải con người khiến cho đối tượng trở nên sinh động, gần gũi hơn Ví dụ:

Vì sương nên núi bạc đầu

Biển lay bởi gió hoa sầu vì mưa

(Ca dao)

Nhân hóa khiến cho ngoại giới trở nên gần gũi với thế giới con người vì vậy trong thơ hiện đại, nhân hóa là một phương thức tu từ đắc dụng Đối lập với nhân hóa là vật hóa Cụ thể hơn, vật hóa là cách dùng những từ ngữ vốn biểu thị

về sự vật, thực vật để biểu thị con người Phúng dụ cũng là một biến thể của ẩn dụ; trong đó người ta dùng hình ảnh cụ thể, sinh động để biểu thị một triết lí nhân sinh hay một bài học luân lí đạo đức nhằm làm cho nội dung vấn đề thâm thúy hơn Ví dụ:

Cò con mở sách xem ngày làm ma

Trang 22

Cà cuống uống rượu la đà Chim ri ríu rít bò ra lấy phần

(Ca dao)

Như vậy có thể thấy rằng, nhân hóa, vật hóa, phúng dụ đều là những hình ảnh đặc biệt, những biến thể của ẩn dụ Ba phương thức tu từ này vừa có chức năng nhận thức vừa có chức năng biểu cảm kích thích những liên tưởng, tưởng tượng của con người Thống nhất với quan điểm xem nhân hóa, vật hóa, phúng

dụ là những biến thể đặc biệt của ẩn dụ, trong quá trình khảo sát, những hình tượng được xây dựng từ các phương thức trên sẽ được chúng tôi xếp vào nhóm các hình tượng được xây dựng từ cơ chế chuyển nghĩa ẩn dụ

Hoán dụ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi của đối tượng này dùng để biểu thị đối tượng kia dựa trên mối quan hệ liên tưởng lôgic khách quan giữa hai đối tượng Hoán dụ giống ẩn dụ về mặt hình thức, vế dùng để biểu hiện xuất hiện trên bề mặt câu chữ còn vế được biểu hiện thì không xuất hiện Hoán dụ khác ẩn

dụ ở chỗ nó không dựa vào sự giống nhau giữa hai đối tượng để so sánh mà dựa vào sự gần nhau để biểu hiện mối quan hệ logic, ngầm chỉ ra mối liên hệ giữa hai đối tượng

Tác giả xây dựng hình tượng nhưng giá trị biểu đạt của đối tượng lại phụ thuộc rất nhiều và người tiếp nhận Hình tượng có được nhận ra hay không, có phát huy hết giá trị biểu trưng mà người viết gửi gắm hay không chủ yếu do người tiếp nhận Có thể một hình ảnh chỉ mang một giá trị biểu trưng nhưng có hình ảnh lại mang nhiều giá trị biểu trưng khác nhau “Hoa” có khi là hình tượng

biểu trưng cho hình ảnh người phụ nữ đẹp như trong trường hợp trên (Giá đành trong nguyệt trên mây/ Hoa sao hoa khéo đọa đầy bấy hoa) khi lại là hình tượng

Trang 23

được ví phẩm chất cao đẹp, đối lập với cỏ với hạng thấp hèn trong cuộc đời éo

le, đầy nghịch cảnh: Phượng những tiếc cao, diều hay liệng

Hoa thường hay héo, cỏ thường tươi

Tuy nhiên cũng rất nhiều trường hợp những ý nghĩa biểu trưng được biểu

đạt trong những hình ảnh khác nhau, nó tác động vào trực giác của người nhận

và để lại khả năng cảm thụ sáng tạo tùy thuộc vào năng lực liên tưởng, tưởng

tượng của người tiếp nhận:

Nghe rào rạt người bốn triệu miền Nam đang thức tỉnh

Không! Ba mươi triệu kim cương của thiên hà Tổ quốc

Không! Hàng nghìn triệu ngôi sao sáng anh em đang chiếm

lĩnh bầu trời

Hứa một mùa gặt lớn ngày mai

Ngôi sao, kim cương là nhưng biểu hiện cái quý giá nhất của phẩm chất

con người Sự liên tưởng bất ngờ, kì thú ở đây như ẩn dấu một sự ngạc nhiên, và

đó cũng chính là những hình tượng biểu trưng cho sự vững chãi, hài hòa kì diệu

của con người Việt Nam Mùa gặt lớn ngày mai là ẩn dụ tượng trưng biểu trưng

cho sự thắng lợi của sự nghiệp cách mạng ở một tương lai không xa

Khi xây dựng hình tượng thì ý nghĩa biểu trưng là cái đích cuối cùng của

người phát tin nhưng hình tượng có được nhận ra hay không, nhận ra ở mức độ

nào và sự nhận ra đó có trùng hợp với mục đích ban đầu của tác giả hay không

thì nó còn phục thuộc rất nhiều vào người tiếp nhận Đó là chưa kể một hình ảnh

không nhất thiết chỉ mang một nghĩa biểu trưng và ngược lại một hình tượng

nhưng được chuyển tải trong nhiều hình ảnh khác nhau như công ơn của các thầy

Trang 24

cô giáo có khi được chuyển tải qua hình ảnh của người lái đò, có khi được chuyển tải qua hình ảnh người trồng cây Tất cả những điều này khiến cho việc xác định nghĩa của hình tượng là công việc không phải đơn giản Nếu dễ dãi trong việc xác định hình tượng e rằng sẽ làm mất đi tính đặc thù trong cách xây dựng hình tượng nhưng nếu gò bó thì làm giảm đi một số lượng đáng kể hệ

thống hình tượng được tác giả hình thành Theo các tác giả của Từ điển thuật ngữ văn học, thì ẩn dụ, hoán dụ hay so sánh có thành tượng trưng hay không là

do các yếu tố:

- Độ cô đúc của sự khái quát nghệ thuật

- Dụng ý của tác giả muốn vạch ra ý nghĩa tượng trưng của những điều mình miêu tả

- Văn cảnh tác phẩm, hệ thống các sáng tác của các nhà văn cho ta thấy một ý nghĩa tượng trưng độc lập với dụng ý miêu tả của tác giả

- Văn cảnh văn học của thời đại (7, tr.132)

Đây là bốn dấu hiệu quan trọng trong việc xác định hình tượng từ đó tìm hiểu cơ chế cấu tạo hình tượng Kết hợp với các phân tích, chúng tôi xây dựng một hệ thống tiêu chí xác định, một hình tượng thơ được xây dựng thành công khi đảm bảo các yếu tố:

- Được xây dựng từ phép tu từ ẩn dụ, hoán dụ hoặc so sánh, mang ý nghĩa thay thế cho một ý niệm nào đấy

- Hình tượng phải được xây dựng phù hợp với văn cảnh và nội dung tác phẩm

- Tính hợp lí giữa cái biểu trưng và cái dùng để biểu trưng khiến cho hình tượng khi thoát khỏi văn cảnh người ta vẫn cảm nhận được giá trị biểu trưng của

Trang 25

Đây cũng là bốn tiêu chí giúp chúng tôi xác định hệ thống hình tượng

trong tập thơ Không bao giờ là cuối từ đó tạo cơ sở cho việc nghiên cứu cách

xây dựng hình tượng trong tập thơ nói riêng và trong ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh nói chung

1.2 Xuân Quỳnh và tập thơ Không bao giờ là cuối

1.2.1 Xuân Quỳnh – một đời thơ, một đời yêu

Một hành trình miệt mài kiếm tìm, sáng tạo như nghiệp dĩ: Vừa thoáng tiếng còi tàu, lòng đã Nam đã Bắc Một tiếng thơ đậm đà nữ tính, luôn luôn phấp

phỏng lo âu: Mùa thu nay sao bão mưa nhiều

Những cửa sổ con tàu chẳng đóng

Một trái tim thiết tha nhân hậu giữa những phân lập, tương tranh: Khát khao đi hồi hộp mỗi khi về Một tình yêu mặn nồng, bỏng cháy: biết yêu anh cả khi chết đi rồi Đó chính là cuộc đời và thơ của Xuân Quỳnh – nữ thi sĩ với

những vần thơ dung dị, nồng nàn như không có tuổi đã bao lần làm trái tim người đọc bồi hồi, thổn thức

Cất tiếng chào đời trên quê lụa Hà Tây nhưng lại lớn lên trên mảnh đất Thăng Long văn vật, cô bé Xuân Quỳnh sớm trở thành một diễn viên múa ở tuổi

13 Nhưng, gần như một định mệnh có tính nghiệp dĩ: Cô gái ấy cứ nặng lòng với văn chương! Thế rồi sau đó, giã từ ánh đèn màu rực rỡ nơi sân khấu, Xuân Quỳnh bước hẳn sang lãnh địa thi ca và gắn bó với mảnh đất ấy cho đến lúc phải

từ giã cõi đời khi tài năng đang vào độ chín

Văn chương đã làm cho tài năng của Xuân Quỳnh bộc lộ một cách toàn diện và rực rỡ Năm 1962 – 1963 Xuân Quỳnh học ở trường bồi dưỡng những người viết văn trẻ (khóa 1) của hội nhà văn và ngay sau đó chị đã cho xuất bản

tập thơ đầu tay Chồi biếc (in chung với Cẩm Lai) Từ năm 1964 trở đi, Xuân

Trang 26

Quỳnh là biên tập viên báo Văn nghệ Từ 1978 đến lúc mất chị là biên tập viên Nhà xuất bản Tác phẩm mới Xuân Quỳnh cũng từng là ủy viên Ban chấp hành hội nhà văn Việt Nam Trên mảnh đất thi ca màu mỡ, Xuân Quỳnh đã gieo ngót

hơn chục tập thơ, tiêu biểu là các tập thơ: Hoa dọc chiến hào (1968), Gió Lào cát trắng (1974), Lời ru trên mặt đất (1978), Sân ga chiều em đi (1984) Tự hát (1984), Hoa cỏ may (1989) Vào những năm đầu 80, Xuân Quỳnh còn viết nhiều tác phẩm văn học thiếu nhi, tiêu biểu có các tập: Mùa xuân trên cánh đồng (truyện thiếu nhi - 1981), Bầu trời trong quả trứng, Cây trong phố – chờ trăng (1982), Vẫn có ông trăng khác (truyện thiếu nhi - 1986)

Đề tài trong thơ Xuân Quỳnh là những điều bình thường giản dị trong cuộc sống thực của chị Và dường như người đọc cũng dễ dàng nhận thấy chính mình, thấy tâm trạng mình và cuộc đời mình trong đó Xuân Quỳnh có một quan điểm rất giản đơn: cái hay bao giờ cũng mới Xuân Quỳnh đến với những bài thơ một cách hồn nhiên nhưng khi đọc thơ chị ta sẽ nhận thấy nghệ thuật biểu hiện tương đối vững vàng, nhuần nhuyễn đặc biệt là ở nghệ thuật cấu tứ Cấu tứ trong thơ Xuân Quỳnh thường tự nhiên nhưng gọn ghẽ, sắc sảo, chúng ta không dễ dàng nhận thấy bài thơ của chị được dẫn dắt như thế nào bởi những mạch trong cấu tứ thơ rất uyển chuyển và tinh tế Một đặc điểm đặc sắc hơn cả trong phong cách nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh là giọng điệu thơ Đó là giọng điệu thơ xuất phát từ tâm hồn, không kiểu cách, khiên cưỡng mà luôn tự nhiên, phóng khoáng Những đặc điểm sáng tác đó Xuân Quỳnh đã tạo nên những vần thơ hồn hậu và giàu giá trị gợi cảm làm xao xuyến tâm hồn bạn đọc đến hôm nay

Cuộc đời của Xuân Quỳnh thực sự là một cuộc đời của một người lao động chân chính Nói như một nhà văn lớn, đó là một thứ “lao động khổ sai” của một con người mà hàng ngày bị gắn chặt với bàn viết như một định mệnh Đó là

Trang 27

những kiếm tìm, những ngờ vực, những lo âu, những đau đớn của một người đàn

bà làm thơ Nhưng người đàn bà làm thơ ấy lại ra đi khi tài năng đang vào độ chín nhất, khi những vần thơ nồng hậu, da diết đang dở dang Đóa quỳnh đậm hương nhưng chỉ nở thoáng chốc về đêm Không biết có phải cái tên ứng vào mệnh, mà Xuân Quỳnh sớm ra đi khi tóc còn xanh Xuân Quỳnh ra đi đột ngột ngày 29 tháng 8 năm 1988 trong một tai nạn giao thông thảm khốc tại cầu Phú Lương, thị xã Hải Dương, tỉnh Hải Hưng (nay là tỉnh Hải Dương), cùng chồng là Lưu Quang Vũ và con trai út Lưu Quỳnh Thơ (13 tuổi) Thơ Xuân Quỳnh nhắc nhiều đến cái chết như một điều không tránh khỏi nhưng không ai ngờ rằng gia đình chị lại ra đi một cách nhanh chống và oan nghiệt đến như vậy

Xuân Quỳnh là một nhà thơ bẩm sinh, một nhà thơ vút lên từ số phận, từ tình yêu không bao giờ vơi cạn Cuộc đời thực ngắn ngủi nhưng Xuân Quỳnh đã

đi một cách trọn vẹn con đường lớn của thơ ca Cuộc đời đã xa Xuân Quỳnh hơn

20 năm nhưng thơ Xuân Quỳnh vẫn còn mãi, như một lẽ tự nhiên, thơ chị đã đi vào trái tim của nhiều thế hệ bạn đọc và nó sẽ còn song hành cùng với những thế

hệ mai sau

1.2.2 Tập thơ Không bao giờ là cuối – cuộc đời để lại trong thơ

Đời thơ Xuân Quỳnh cũng trọn vẹn là “đời - yêu”, dường như nhận định này đã khái quát cả cuộc đời và sự nghiệp thơ của nữ sĩ được nhiều thế hệ độc

giả Việt Nam yêu mến, trân trọng Với tập thơ Không bao giờ là cuối, độc giả

một lần nữa được nhìn lại chặng đường thơ gắn liền với những biến động sâu sắc trong cuộc đời và trái tim người đàn bà:

“Biết ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi”

(Tự hát)

Trang 28

Không bao giờ là cuối là tập thơ tập hợp tất cả những bài thơ tiêu biểu của

đời thơ Xuân Quỳnh do Lưu Khánh Thơ tuyển chọn Tập thơ xuất bản năm

2011, khi mà Xuân Quỳnh từ dã cuộc đời đã hơn 20 năm nhưng không vì thế mà

nó sức hấp dẫn của tập thơ bị giảm đi Với Không bao giờ là cuối, người đọc sẽ

bắt gặp những bài thơ tình quen và lạ của nữ sĩ được nhiều thế hệ độc giả yêu mến, từ những bài thơ tình viết tặng Lưu Quang Vũ – người mà chị yêu sâu sắc đến tận những giây phút cuối cùng cho đến những vần thơ nặng đầy trăn trở, suy

ngẫm về cuộc đời giữa “Những năm tháng không yên” của đất nước và lòng

người và cả một Xuân Quỳnh tươi trẻ, nồng hậu qua những trang viết dành cho thiếu nhi Những thi phẩm của Xuân Quỳnh chúng ta có thể hình dung được chị

đã sống ra sao, đã yêu thương, day dứt những gì Dường như tất cả đời và thơ Xuân Quỳnh chúng ta đều có thể hình dung được trong nội dung của tập thơ Chúng tôi xin mượn ý của nhà nghiên cứu Lưu Quỳnh Thơ để nói về cả tập thơ

Không bao giờ là cuối: cuộc đời gửi lại trong thơ

Tập thơ tập trung trong ba chủ đề cơ bản tương đương với ba phần của tập thơ: Phần đầu tiên của tập thơ là những bài thơ tình, trong đó có những bài thơ Xuân Quỳnh viết cho Lưu Quang Vũ, tình yêu sâu đậm mà chị dành cho đến cuối cuộc đời mình Những bài thơ tình của Xuân Quỳnh diễn tả tình cảm của chính chị, cũng là tình cảm chung của những người phụ nữ đảm đang, sống trọn vẹn với tình yêu đích thực và kiên cường vuợt qua bão táp, nghịch cảnh của cuộc đời như một cây xương rồng giữa sa mạc tự vắt kiệt mình để nở những bông hoa quí cho cuộc đời Qua những vần thơ dung dị, giàu tình cảm của Xuân Quỳnh, chúng ta có thể thấy những khát khao, những suy nghĩ, những tình cảm và cuộc sống rất sống, rất trữ tình của người phụ nữ Tất cả những những rung động,

Trang 29

những tình cảm sâu sắc của thi sĩ dường như đều được bộc lộ trên những vần thơ

dung dị, nồng hậu trong phần thơ đầu tiên của Không bao giờ là cuối

Phần thứ hai của tập thơ Không bao giờ là cuối có tựa đề Những năm tháng không yên, thể hiện suy nghĩ tâm trạng không chỉ của riêng Xuân Quỳnh

mà còn là cả thế hệ chống Mỹ cứu nước:

Cuộc đời chẳng như trong các bài ca

Niềm vui lớn và nỗi buồn cũng lớn

Khi người mẹ tiễn con ra mặt trận

Một cánh đồng xanh ngắt phía sau lưng

Người con gái làm dâu trước khi lấy chồng

Những đứa trẻ đào hầm che bom đạn

Dù đi vào những vấn đề lớn của đất nước hay trở về với những tình cảm riêng tư, thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng là tiếng nói rất riêng của một tâm hồn phụ nữ thông minh, sắc sảo, đầy nữ tính

Phần thứ ba là mảng thơ thiếu nhi, với tựa đề “Bầu trời trong quả trứng”

mang đến cho chúng ta cái nhìn về một Xuân Quỳnh dí dỏm, thơ trẻ với những sáng tác cho thiếu thi như một luồng sáng lấp lánh, trong trẻo Các sáng tác của chị thật sự là món quà của một bạn nhỏ ngày xưa tặng các bạn nhỏ bây giờ

Xuân Quỳnh luôn quan niệm: “muốn viết cho các em, điều đầu tiên là sự cảm thông với các em không phải là sự áp đặt Đừng bắt các em sống và suy nghĩ theo cách của mình Nếu muốn giáo dục các em thì phải nhìn các em bằng con mắt của các em mà nhận xét đánh giá mọi việc”( trình bày tại Hội thảo về sáng tác thơ cho thiếu nhi tổ chức tại Hà Nội năm 1982, trong dịp nhà xuất bản Kim

Đồng kỉ niệm 25 năm thành lập) Chính vì vậy mà trong mảng thơ sáng tác cho

Trang 30

thiếu nhi, chúng ta luôn bắt gặp một Xuân Quỳnh với một giọng điệu trong trẻo, hồn nhiên và thể hiện một tấm lòng, một tình yêu vô bờ bến đối với trẻ thơ

CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT VÀ MIÊU TẢ 2.1 Hệ thống hình tượng và số lần xuất hiện của các hình tượng

Qua quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy rằng, Không bao giờ là cuối

tràn ngập những hình tượng từ những hình tượng chân thực về con người, cảnh vật, cảm xúc (hầu như bài thơ nào cũng xuất hiện loại hình tượng này) đến những hình ảnh giàu giá trị biểu trưng sâu sắc Tuy nhiên, như chúng tôi đã đề cập ở chương một, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ đi vào tìm hiểu, nghiên cứu về hình tượng tượng trưng, không bao gồm những hình tượng chân thực, chúng tôi cũng mặc định cách gọi hình tượng ở đây là cách gọi của những hình tượng tượng trưng

Tập thơ Không bao giờ là cuối có 107 bài nhưng không phải tất cả 107 bài

này đều có sử dụng hình tượng tượng trưng Có 44 bài tác giả xây dựng hình tượng trực tiếp, không sử dụng phép tượng trưng Có 63/107 bài thơ có sử dụng hình tượng tượng trưng (chiếm tỉ lệ 58,8%) Điều này cho chúng ta thấy được là

quá nửa số bài thơ trong tập Không bao giờ là cuối có các hình tượng biểu trưng

Ý nghĩa của những con số này sẽ được chúng tôi trở lại kĩ hơn trong chương ba

Hình tượng không chỉ thể hiện ở những hình ảnh xuất hiện trong nội dung bài thơ mà còn được thể hiện ở nhan đề tác phẩm Với cách xây dựng nhan đề mang tính hình tượng, Xuân Quỳnh đã phát hiện và làm ý nghĩa thêm cho các hình ảnh của mình và để người đọc tập trung vào tư tưởng, giá trị biểu trưng của

Trang 31

hình tượng Trong quá trình khảo sát mức độ xuất hiện của hình tượng, những nhan đề có tính chất hình tượng cũng được chúng tôi liệt kê là một hình tượng

Ngoài những tiêu chí làm cơ sở để xác định một hình tượng, một tiêu chí cần được nói đến ở đây là những hình tượng chúng tôi chỉ ra không bao hàm tất

cả các hình ảnh mà bản thân nó vốn dĩ đã mang tính biểu trưng tức là khi đứng độc lập, chúng ta vẫn có thể hiểu được giá trị biểu trưng của nó Ví dụ không cần

đến văn cảnh chúng ta cũng có thể thấy được con cò là hình tượng biểu trưng

cho người phụ nữ, Việc bản thân hình tượng vốn dĩ đã mang tính biểu trưng không phải là tiêu chí để chúng tôi xác định hình tượng nghệ thuật trong tập thơ

mà điều quan trọng là hình tượng phải được sử dụng như một phương tiện nghệ thuật trong tập thơ Và điều quyết định là hình ảnh đó được tác giả sử dụng với mục đích tượng trưng hay không phải xét trong ngữ cảnh và ở giá trị nghệ thuật

mà nó mang lại

Sau khi xác định một hình ảnh giàu giá trị tượng trưng có là hình tượng hay không, có một vấn đề nảy sinh: Có nhiều trường hợp cùng một từ nhưng trong bài thơ này là một hình ảnh nhưng trong bài thơ khác nó là một hình tượng

Con đường là hình ảnh thường được nhắc đến trong Không bao giờ là cuối

nhưng không phải bao giờ nó cũng xuất hiện với tư cách là một hình tượng

Trong những câu thơ của Em có đem gì theo đâu con đường chỉ là những hình

ảnh miêu tả chân thực:

Con đường thay đổi sau mỗi lần giặc phá

Con đường đi trong đêm nhiều lần cầu phà

Thì trong Viết trên đường 20, con đường mang ý nghĩa biểu trưng rất sâu sắc: Đường lầy lội của bàn chân nứt nẻ

Đường của bao mơ ước - chân trời

Trang 32

Ta đã qua con đường đầy hương thơm Những bóng lá bao dung, những màu mây độ lượng Con đường này bây giờ em bước

Anh yêu con đường này không anh

Chính vì vậy, trong quá trình khảo sát, chúng tôi sẽ tiến hành song song việc đưa ra hệ thống hình tượng với việc chỉ ra tần số xuất hiện của chi tiết với tư cách hình tượng trên tổng số lần xuất hiện của chi tiết đó

Bảng 1 Bảng khảo sát hệ thống hình tượng trong tập thơ Không bao giờ là

cỏ, cỏ dại con đường con tàu

cờ, ngọn cờ cột đèn chuồn chuồn

ga, sân ga gạch, gạch vỡ gió Lào, gió hoa cúc

18/18 2/2 24/33 21/27 23/30 16/18 6/10 4/10 2/2 17/23 5/5 9/12 7/9

Trang 33

sóng sông Hồng tình yêu thuyền thời gian trái tim trăng trời, bầu trời Trường Sơn tuổi trẻ tháng Năm vịnh

4/6 4/4 10/18 6/6 4/5 3/6 4/6 16/25 3/3 4/5 16/16 2/3 5/12 17/26 8/10 17/32 20/20 7/10 5/5 12/12 4/7 4/4

Trên đây là kết quả về số lượng hình tượng được xây dựng trong tập thơ

Để thuận tiện trong việc tra cứu, chúng tôi đã sắp xếp các hình tượng theo thứ tự

Trang 34

trong bảng chữ cái Qua khảo sát, chúng tôi xác định, Không bao giờ là cuối có

tất cả 35 hình tượng, đa số những hình tượng này đều là những sự vật gần gũi, thân quen trong tự nhiên và trong cuộc sống bình dị của con người Trong số các hình tượng, có 11 hình tượng mà khi xuất hiện nó đều mang giá trị tượng trưng

tuyệt đối đạt tỉ lệ 100% Đó là các hình tượng: Bàn tay, Ba Đình, Chuồn chuồn, gạch, hoa tường vi, màu trắng, mũi đất xanh, sóng, tuổi trẻ, Trường Sơn, vịnh, trăng Những hình ảnh này tuy có thể xuất hiện nhiều trong tập thơ nhưng mỗi

lần xuất hiện nhưng lần nào xuất hiện nó cũng đảm đương những vai trò quan trọng mang giá trị biểu trưng cao Ví dụ như hình ảnh cánh chuồn chuồn chỉ xuất hiện hai lần nhưng nhưng xét về tỉ lệ thì nó đứng cao nhất vì số lần xuất hiện tuy

ít nhưng lần nào xuất hiện nó cũng mang những giá trị biểu trưng cao thể hiện những tâm tư tình cảm và suy nghĩ của tác giả

Một kết luận là chúng ta có thể nhận thấy trong bảng khảo sát trên là có một số hình ảnh tuy không chiếm tỉ lệ tuyệt đối về tỉ lệ nhưng lại xuất hiện khá

nhiều lần như: biển (24 lần), cỏ dại (21 lần), con đường (13 lần), con tàu (26 lần), sân ga (17 lần), mùa xuân (16 lần), thuyền (17 lần)

Riêng hình tượng sóng, xuất hiện 16 lần vừa có số lần xuất hiện nhiều

vừa có tỉ lệ tuyệt đối về số lần xuất hiện với tư cách hình tượng Đây là những hình ảnh đặc biệt mang giá trị biểu trưng cao và chúng tôi sẽ trở lại với hình ảnh này ở chương sau

Một kết luận khác có thể rút ra trong bảng khảo sát trên là tỉ lệ xuất hiện của các hình ảnh tượng trưng với tư cách hình tượng là rất cao, hầu hết đều trên 60% và nhiều hơn Điều này cho chúng ta thấy được những hình tượng lặp đi lặp lại khẳng định những ý nghĩa biểu trưng của nó và những hình ảnh biểu trưng không phải xuất hiện một cách tình cờ, ngẫu nhiên mà có tính hệ thống, gửi gắm

Trang 35

những suy tư những chủ ý của tác giả và nó luôn thường trực trong tư duy và thói quen sáng tạo của tác giả Việc lặp lại nhiều lần vai trò của hình tượng khẳng định vai trò và ý nghĩa tượng trưng của hình tượng

Có nhiều hình ảnh xuất hiện nhiều lần nhưng không phải lần nào cũng mang ý nghĩa hình tượng, phần lớn chúng mang ý nghĩa tả thực hơn là biểu nhưng chính điều này đã củng cố thêm ý nghĩa của biểu trưng và giá trị biểu đạt của nó Hình ảnh cỏ dại là hình ảnh xuất hiện rất nhiều trong các bài thơ nhưng không phải khi nào nó cũng mang ý nghĩa hình tượng, có khi nó chỉ là những miêu tả rất thực của Xuân Quỳnh:

Cỏ làm bớt hoang tàn

Cỏ làm bớt đau thương

( Em có đem gì theo đâu)

Và đôi lúc cỏ lại thành hình tượng cho sức sống của con người giữa những năm tháng cuộc đời đầy gian khổ:

Cỏ dại quen nắng mưa Làm sao mà giết được Tới mùa nước dâng cao

Cỏ thường ngập nước trước Sau ngày nước rút, cỏ mọc đầu tiên

(Cỏ dại)

Hình ảnh con đường cũng là hình ảnh tương tự, nó xuất hiện nhiều nhưng không phải bao giờ nó cũng xuất hiện là một hình tượng Đó có thể là những con đường rất thực, những con đường bị giặc Mỹ cày xới dưới mưa bom bão đạn nhưng có khi đó là những con đường của ước mơ, con đường của tương lai tươi sáng Hình ảnh Gió Lào trong câu thơ

Trang 36

Bãi cát bỏng, ngọn Gió Lào hung giữ Vết chân trẻ em làm đau nỗi nhớ

là những hình ảnh tả thực miêu tả sự giữ dội, khắc nghiệt của ngọn gió Lào Ngọn gió Lào còn là hình tượng biểu trưng cho vùng đất cửa ngõ chiến trường

Ngọn gió Lào cát trắng của đời tôi Tôi của ngọn gió Lào khắc nghiệt

Hình ảnh có khi xuất hiện với tư cách đơn thuần là một hình ảnh nhưng cũng có khi xuất hiện là hình tượng chính vì vậy trong quá trình khảo sát tiếp theo chúng tôi đi chỉ đi vào khảo sát số lần xuất hiện các hình ảnh biểu trưng với

tư cách hình tượng để làm rõ cách xây dựng hình tượng của Xuân Quỳnh

2.2 Cách xây dựng hình tượng trong tập thơ Không bao giờ là cuối

Như đã trình bày ở chương 1, hình tượng được xây dựng từ thủ pháp tượng trưng tức là phương thức chuyển nghĩa theo cơ chế ẩn dụ và hoán dụ Trước khi đi vào cách xây dựng hình tượng theo cơ chế trên chúng tôi đi vào phân loại các hình tượng theo cơ chế so sánh, ẩn dụ và hoán dụ

Bảng 2 Bảng khảo sát về cách xây dựng hình tượng trên cơ chế cấu tạo

theo quan hệ liên tưởng

XX

X

Ngày đăng: 08/05/2021, 20:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân, 150 thuật ngữ văn học (2004), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân, 150 thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
2. Võ Bình, Lê Hiền Anh, Nguyễn Thái Hòa, Cù Đình Tú (1982), Phong cách học Tiếng Việt, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học Tiếng Việt
Tác giả: Võ Bình, Lê Hiền Anh, Nguyễn Thái Hòa, Cù Đình Tú
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1982
3. Lưu Trùng Dương (Tuyển chọn) (1989), Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh gửi lại, Hội VHNT TP Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh gửi lại
Tác giả: Lưu Trùng Dương (Tuyển chọn)
Năm: 1989
4. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
5. Hữu Đạt (1999), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, NXB KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1999
6. Hà Minh Đức (chủ biên), (1998), Lí luận văn học, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1998
7. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên), (1999) Từ điển thuật ngữ Văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Văn học
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
8. Nguyễn Thái Hòa, (2006), Từ điển tu từ - phong cách thi pháp học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tu từ - phong cách thi pháp học
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
10. Đinh Trọng Lạc (2000), Phong cách học Tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học Tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
11. Đinh Trọng Lạc (2000), 99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
12. Vương Trí Nhàn (2002), Cây bút đời người, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Cây bút đời người
Tác giả: Vương Trí Nhàn
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2002
13. Lê Lưu Oanh (2006), Văn học và các loại hình nghệ thuật, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Văn học và các loại hình nghệ thuật
Tác giả: Lê Lưu Oanh
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2006
14. Trần Đình Sử, Lí luận và phê bình văn học tập 2, NXB Đại học Sư phạm, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và phê bình văn học tập 2
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
15. Trần Đình Sử, Lí luận và phê bình văn học (2008), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và phê bình văn học
Tác giả: Trần Đình Sử, Lí luận và phê bình văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
16. Nhiều tác giả (2003), Đến với thơ Xuân Quỳnh, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đến với thơ Xuân Quỳnh
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2003
17. Nhiều tác giả (2011), Xuân Quỳnh Không bao giờ là cuối, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Quỳnh Không bao giờ là cuối
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2011
18. Nhiều tác giả (2004), Từ điển văn học (II), NXB KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học (II)
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 2004
19. Hoàng Phê (2008), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng. Nguồn Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB Đà Nẵng. Nguồn Internet
Năm: 2008
20. TS. Nguyễn Văn Hậu, Về tính hình tượng và tính hình tượng trong tác phẩm văn hóa - nghệ thuật, huc.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tính hình tượng và tính hình tượng trong tác phẩm văn hóa - nghệ thuật
21. Đặng Lưu, Vấn đề ngôn ngữ trong quan niệm và thực hành nghiên cứu của GS Trần Đình Sử, khoavanhoc-ngonngu.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề ngôn ngữ trong quan niệm và thực hành nghiên cứu của GS Trần Đình Sử

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w