24 Hình 24 Biểu đồ so sánh hàm lượng MDA của chuột nhắt trắng sau 15 và 30 ngày uống dịch chiết cây chó cơ quan não, tim, mạch máu, gan, thận khỏi các tác động xấu của stress đặc biệt
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH
- -
NGÔ THỊ PHƯƠNG LAN
Bước đầu nghiên cứu tác dụng của dịch chiết từ
cây chó đẻ răng cưa (Phyllanthus urinaria L.)
đối với hoạt động thần kinh cấp cao và hàm lượng Malonyl dialdehyde acid (MDA) trong
não của chuột nhắt trắng (Mus musculus
Var.Albino)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2Em xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Th S Nguyễn Công Thùy Trâm – Cô đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn cô Lê Thị Mai và toàn thể các thầy cô khoa Sinh – Môi trường đã quan tâm, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập và thực hiện khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn sự động viên của gia đình trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận
Em cũng chân thành cảm ơn các bạn trong lớp đã nhiệt tình trao đổi kinh nghiệm và góp ý kiến giúp cho đề tài của em được hoàn thiện hơn
Đà Nẵng, ngày 21/05/2012
Sinh viên
Ngô Thị Phương Lan
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
MDA Malonyl dialdehyde acid
PXCĐK Phản xạ có điều kiện
PXKĐK Phản xạ không điều kiện
PXVĐDDCĐK Phản xạ vận động dinh dưỡng có điều kiện
Trang 43 Bảng 3 Thời gian phản xạ của chuột nhắt trắng 24
4 Bảng 4 Thời gian dập tắt PXVĐDDCĐK của chuột
nhắt trắng 27
5 Bảng 5 Chỉ số I của chuột nhắt trắng 31
6 Bảng 6 Hàm lượng MDA của chuột nhắt trắng 34
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ
1 Hình 1 Cây chó đẻ răng cưa 3
2 Hình 2 Khung hình Kaempferol 4
3 Hình 3 Acid linoleic 5
4 Hình 4 Khung sườn Acid linolenic 6
5 Hình 5 Chuột nhắt trắng 14
6 Hình 6 Chuồng mê lộ 15
7 Hình 7 Biểu đồ biểu diễn thời gian hình thành PXVĐDDCĐK của chuột nhắt trắng sau 15 ngày uống dịch chiết cây chó đẻ răng cưa 18
8 Hình 8 Biểu đồ biểu diễn thời gian hình thành PXVĐDDCĐK của chuột nhắt trắng sau 30 ngày uống dịch chiết cây chó đẻ răng cưa 19
9 Hình 9 Biểu đồ so sánh thời gian hình thành PXVĐDDCĐK của chuột nhắt trắng sau 15 và 30 ngày uống dịch chiết cây chó đẻ răng cưa 19
10 Hình 10 Biểu đồ biểu diễn thời gian hình thành PXVĐDDCĐK bền vững của chuột nhắt trắng sau 15 ngày uống dịch chiết cây chó đẻ răng cưa 22
11 Hình 11 Biểu đồ biểu diễn thời gian hình thành PXVĐDDCĐK bền vững của chuột nhắt trắng sau 30 ngày uống dịch chiết cây chó đẻ răng cưa 22
12 Hình 12 Biểu đồ so sánh thời gian hình thành PXVĐDDCĐK bền vững của chuột nhắt trắng sau 15 và 30 ngày uống dịch chiết cây chó đẻ răng cưa 23
Trang 613 Hình 13 Biểu đồ biểu diễn thời gian phản xạ của chuột
nhắt trắng sau 15 ngày uống dịch chiết cây chó
đẻ răng cưa 25
14 Hình 14 Biểu đồ biểu diễn thời gian phản xạ của chuột
nhắt trắng sau 30 ngày uống dịch chiết cây chó
đẻ răng cưa 25
15 Hình 15 Biểu đồ so sánh thời gian phản xạ của chuột nhắt
trắng sau 15 và 30 ngày uống dịch chiết cây chó
đẻ răng cưa 26
16 Hình 16 Biểu đồ biểu diễn thời gian dập tắt
PXVĐDDCĐK của chuột nhắt trắng sau 15 ngày
uống dịch chiết cây chó đẻ răng cưa 28
17 Hình 17 Biểu đồ biểu diễn thời gian dập tắt
PXVĐDDCĐK của chuột nhắt trắng sau 30 ngày
uống dịch chiết cây chó đẻ răng cưa 28
18 Hình 18 Biểu đồ so sánh thời gian dập tắt
PXVĐDDCĐK của chuột nhắt trắng sau 15 và 30
ngày uống dịch chiết cây chó đẻ răng cưa 29
19 Hình 19 Biểu đồ biểu diễn chỉ số I của chuột nhắt trắng
sau 15 ngày uống dịch chiết cây chó đẻ răng cưa 31
20 Hình 20 Biểu đồ biểu diễn chỉ số I của chuột nhắt trắng
sau 30 ngày uống dịch chiết cây chó đẻ răng cưa 32
21 Hình 21 Biểu đồ so sánh chỉ số I của chuột nhắt trắng sau
và 30 ngày uống dịch chiết cây chó đẻ răng cưa 32
22 Hình 22 Biểu đồ biểu diễn hàm lượng MDA của chuột
nhắt trắng sau 15 ngày uống dịch chiết cây chó
đẻ răng cưa 34
23 Hình 23 Biểu đồ biểu diễn hàm lượng MDA của chuột
nhắt trắng sau 30 ngày uống dịch chiết cây chó đẻ
răng cưa 35
Trang 724 Hình 24 Biểu đồ so sánh hàm lượng MDA của chuột nhắt
trắng sau 15 và 30 ngày uống dịch chiết cây chó
cơ quan (não, tim, mạch máu, gan, thận) khỏi các tác động xấu của stress đặc biệt là các loại thảo dược có nguồn gốc tự nhiên với các hoạt tính sinh học như bảo vệ cơ thể, tăng tuần hoàn não cũng như chống các gốc tự do, tăng cường trí nhớ và làm giảm sự lão hóa đối với con người đã và đang được nghiên cứu
Cây chó đẻ răng cưa (Phyllanthus urinaria L.[10]) với nhiều công dụng
trong điều trị bệnh như: viêm họng, viêm da lở ngứa, trẻ em tưa lưỡi, chàm má, bệnh viêm gan… [1], [10] đã được các nhà khoa học chọn làm đối tượng nghiên cứu Dịch chiết này được xem là nguyên liệu chứa nhiều chất chống oxy hóa Theo các công trình nghiên cứu về thành phần hóa học, cây chó đẻ răng cưa chứa các hoạt chất như flavonoid, lignan phyllanthin, acid lenoleic, acid lenolenic…[21] là các thành phần có tác dụng chống oxy hóa, tăng trí nhớ, tăng tuần hoàn não….Tuy nhiên, việc nghiên cứu ảnh hưởng của dịch chiết này đối với các chỉ số sinh lý ở động vật đặc biệt là hoạt động thần kinh vẫn còn ít và chưa toàn diện
Chuột là động vật thử nghiệm phổ biến trong các nghiên cứu khoa học, y học Sở dĩ chuột được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu y khoa là do kích thước
Trang 8nhỏ (nặng 25 đến 40g), dễ kiểm soát trong phòng thí nghiệm, sinh sản nhanh, đời sống ngắn và giá thành tương đối rẻ Nhưng quan trọng nhất là đặc điểm cấu trúc gen của chuột rất gần gũi với con người Theo công trình giải mã toàn bộ gen của con người và chuột được công bố cho thấy chuột và con người đều có khoảng 30.000 gen và khoảng 98% gen của con người cũng là những gen tìm thấy trong chuột
Dựa trên cơ sở đó, tôi tiến hành đề tài “Bước đầu nghiên cứu tác dụng
của dịch chiết từ cây chó đẻ răng cưa (Phyllanthus urinaria L.) đối với hoạt
động thần kinh cấp cao và hàm lượng Malonyl dialdehyde acid (MDA)
trong não của chuột nhắt trắng (Mus musculus Var.Albino)”
2 Mục đích nghiên cứu:
- Đánh giá ảnh hưởng của dịch chiết từ cây chó đẻ răng cưa đến quá trình hình thành phản xạ có điều kiện và sự thay đổi hàm lượng MDA trong não của chuột nhắt trắng
- Góp phần làm cơ sở để nghiên cứu tác dụng của cây chó đẻ răng cưa đến hiệu quả điều trị và phòng bệnh ở con người
- Giúp bản thân làm quen với công tác nghiên cứu khoa học
3 Nội dung nghiên cứu:
Nghiên cứu ảnh hưởng của dịch chiết từ cây chó đẻ răng cưa đến:
- Thời gian hình thành phản xạ vận động dinh dưỡng có điều kiện (PXVĐDDCĐK) của chuột nhắt trắng
- Thời gian hình thành PXVĐDDCĐK bền vững của chuột nhắt trắng
- Thời gian phản xạ của chuột nhắt trắng
- Thời gian dập tắt PXVĐDDCĐK của chuột nhắt trắng
- Chỉ số I của chuột nhắt trắng
- Hàm lượng MDA trong não chuột nhắt trắng
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đại cương về cây chó đẻ răng cưa:
1.1.1 Mô tả thực vật:
Tên gọi khác: Diệp hạ châu, trân châu thảo, lão nha châu, cỏ chó đẻ, diệp
hòe thái, cam kiềm, rút đất…[1], [10]
Tên khoa học: Phyllanthus urinaria L thuộc họ Thầu dầu
(Euphorbiaceae) - bộ Sơ ri (Malpighiales) – lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida) [16]
Hình 1 Cây chó đẻ răng cưa (Phyllanthus urinaria L.)
Hình thái – cấu tạo: Cây thân thảo sống hàng năm, thân cứng màu hồng
hoặc đỏ, lá thuôn hay hình bầu dục ngược, mặt dưới lá màu xanh lơ, không có cuống hoặc cuống rất ngắn Hoa mọc ở kẻ lá, nhỏ, màu đỏ nâu, đơn tính Cụm hoa đực mọc ở nách gần phía ngọn, hoa cái mọc đơn độc ở phía dưới các cành Quả nang không có cuống Hạt ba cạnh, hình trứng, màu nâu nhạt, có vân ngang [10]
1.1.2 Phân bố và bộ phận sử dụng:
Phân bố: Cây chó đẻ răng cưa phân bố rộng khắp các vùng nhiệt đới và cận
nhiệt đới Ở Việt Nam, loài cây này thường thấy mọc tự nhiên ở hầu hết các tỉnh
Trang 10thành trong cả nước, điển hình như: Thái Nguyên, Bắc Ninh, Nghệ An, Hà Giang… [10]
Bộ phận sử dụng: Chủ yếu sử dụng phần thân và lá về làm thuốc
1.1.3 Tính vị và tác dụng:
Cây chó đẻ răng cưa có tính hàn, vị đắng ngọt Y học cổ truyền của nhiều dân tộc đã sử dụng diệp hạ châu chữa vàng da, lậu, tiểu đường, u xơ tuyến tiền liệt, hen, sốt, đau đớn kéo dài, táo bón, viêm phế quản, ho, viêm âm đạo, khó tiêu, viêm đại tràng, viêm gan,… Nó còn được đắp tại chỗ chữa các bệnh ngoài
da như lở loét, sưng nề, ngứa ngáy [1], [10]
1.1.4 Thành phần hóa học [21]
- Flavonoid: Kaempferol 0.9%
- Lignan: Hypophyllanthin 0.05 – 0.17%; Phyltetralin 0.14%; Phyllanthin 0.18%
- Tinh dầu: Cymene 11%; Limonine 4.5%
- Axít béo: Acid Linolenic 51.4%; Acid Linoleic 21%; Acid Ricinoleic 1.2%
Trang 11- Là một dẫn xuất của flavonoid thuộc nhóm flavonol
- Công thức phân tử: C 15H10O6
- Đặc điểm - tính chất: Là chất rắn kết tinh màu vàng, nhiệt độ nóng chảy
276 -278°C, khó hòa tan trong nước nhưng hòa tan trong etanol nóng và diethyl ether
- Tác dụng: Kaempferol có tác động tốt lên hệ thần kinh như vô hiệu hóa các gốc tự do sinh ra ở tế bào thần kinh giúp bộ não khỏe mạnh, ngăn ngừa các bệnh thoái hóa của não, chống lão hóa sớm, kéo dài tuổi thọ… [24], [18]
Hypophyllanthin, Phyltetralin, Phyllanthin:
- Là các dẫn xuất của ligan, có tác dụng cải thiện chức năng gan, ảnh hưởng gián tiếp đến đến hệ thần kinh thông qua hoạt tính chống ôxy hóa mạnh, giảm quá trình peroxy hóa màng lipid (giảm hàm lượng MDA trong não), chống lão hóa và kéo dài tuổi thọ [23]
- Khi vào cơ thể, acid linoleic sẽ chuyển hóa thành acid arachidonic (AA)
có hoạt tính sinh học cao Acid này là yếu tố cần thiết cấu tạo màng tế bào đặc
Trang 12biệt là màng myelin của tế bào thần kinh đồng thời là chất dẫn truyền thần kinh Nhiều nghiên cứu đã cho thấy các bệnh nhân tâm thần phân liệt có hàm lượng
AA thấp
Acid linolenic:
Hình 4 Khung sườn acid linolenic
- Acid linolenic là acid béo thiết yếu nằm trong nhóm acid béo không no và
cơ thể không thể tự tổng hợp được Acid này là tiền chất tổng hợp nên omega 3
có hoạt tính sinh học cao gấp 1.5 lần so với acid linoleic Có 2 loại omega 3 phổ biến đó là DHA (Docosa Hexaenoic Acid) và EPA (Eicosapentaenoic acid) [25] + DHA làm tăng chỉ số trí tuệ của trẻ em và làm chậm sự lão hóa của trí não người trưởng thành
+ EPA là thành phần quan trọng của mô thần kinh
Trang 131.2 Sinh lý hoạt động thần kinh cấp cao
1.2.1 Khái niệm về hoạt động thần kinh cấp cao:
Hoạt động thần kinh cấp cao: là hoạt động của hệ thần kinh trung ương nhằm điều hòa, phối hợp các chức năng của các cơ quan trong cơ thể, đồng thời bảo đảm cho cơ thể thích ứng được với những điều kiện của môi trường sống luôn luôn biến động hay bảo đảm được mối quan hệ phức tạp giữa cơ thể với thế giới bên ngoài [8]
Hoạt động thần kinh cấp cao được thực hiện trên cơ sở của các PXCĐK
Do đó, phương pháp chủ yếu được sử dụng để nghiên cứu hoạt động thần kinh cấp cao là phương pháp PXCĐK [8]
1.2.1.1 Phản xạ có điều kiện:
1.2.1.1.1 Khái niệm:
Theo Pavlov “PXCĐK là một liên hệ thần kinh tạm thời, được hình thành trong đời sống của mỗi cá thể giữa một trong số các tác nhân khác nhau của môi trường và một hoạt động xác định của cơ thể” [8], [11]
1.2.1.1.2 Các đặc điểm của phản xạ có điều kiện: [8], [11]
- Là các phản xạ tập được hình thành trong đời sống của cá thể, mang tính chất của cá thể
- PXCĐK có thể bị mất đi khi điều kiện tạo ra nó không còn nữa
- Là phản xạ có thể được hình thành với các loại kích thích khác nhau tác động lên các trường thụ cảm khác nhau
- Trung khu PXCĐK nằm ở vỏ não
- PXCĐK báo hiệu gián tiếp tác nhân kích thích gây phản xạ
1.2.1.1.3 Điều kiện thành lập PXCĐK:
Để thành lập được PXCĐK cần đảm bảo các điều kiện sau: [8], [10], [11]
- Phải dựa trên cơ sở một PXKĐK hoặc một PXCĐK khác đã được củng cố vững chắc
Trang 14- Phải có sự kết hợp nhiều lần giữa tác nhân kích thích có điều kiện với tác nhân kích thích không điều kiện Số lần kết hợp phụ thuộc vào tính chất, cường
độ của tác nhân kích thích và trạng thái sinh lý của cơ thể
- Kích thích có điều kiện phải tác động trước hoặc đồng thời với kích thích không điều kiện, đồng thời cường độ kích thích có điều kiện phải yếu hơn cường
độ kích thích không điều kiện
- Việc thành lập PXCĐK phải tiến hành ở môi trường yên tĩnh, tránh các kích thích lạ, kích thích phá rối
- Não bộ phải nguyên vẹn và hoạt động thần kinh phải bình thường
1.3 Gốc tự do và chất chống oxy hóa:
1.3.1 Gốc tự do:
Gốc tự do là những phân tử hay những mảnh vỡ của phân tử có một điện tích đơn lẻ ở quỹ đạo vòng ngoài - do sự có mặt của điện tích này mà các gốc tự
do có năng lượng cao nhưng kém bền nên dễ dàng phản ứng với những đại phân
tử (protein, lipid, ADN…) gây rối loạn các quá trình sinh hóa trong cơ thể [2], [3]
Người ta đã chứng minh, hiện tượng tăng quá nhiều gốc tự do sẽ gây ra tình trạng viêm nhiễm ở các cơ quan, các bệnh lý như tim mạch, ung thư, bệnh thần kinh và nhất là sớm bị lão hoá [2], [3]
* Gốc tự do và sự lão hóa:
Theo các nhà nghiên cứu, gốc tự do hủy hoại tế bào, gây lão hóa theo chu trình sau đây: Trước hết, gốc tự do oxy hóa màng tế bào, gây trở ngại cho việc thải chất bã và tiếp nhận thực phẩm, rồi các gốc này tấn công ty lạp thể, phá vỡ nguồn cung cấp năng lượng Sau cùng, bằng cách oxy hóa, gốc tự do làm suy yếu các hoocmon và enzim, khiến chúng trở nên vô dụng và mất khả năng sản xuất năng lượng [2], [3]
* Gốc tự do và sự lão hóa hệ thần kinh:
Trong hệ thống thần kinh trung ương và ngoại biên, NO đóng vai trò dẫn truyền thần kinh, mang tín hiệu đến bất cứ nơi nào trong cơ thể, điều khiển cân bằng nội mô mạch não, điều hòa cảm nhận đau, điều khiển quá trình tư duy và trí
Trang 15nhớ Vì vậy, sự tăng quá nhiều gốc tự do NO sẽ dẫn đến một số bệnh về não như bệnh: Alzeimer, thiếu máu não, đột quỵ…[2], [3]
Ngoài ra, các nhà khoa học tin rằng sự tăng cao các gốc tự do trong não là nguyên nhân gây bệnh Parkinton bằng cách làm thoái hóa các noron của hệ liềm đen
1.3.2 Chất chống ôxy hóa:
Trong cơ thể động vật luôn có các enzim có vai trò vô hiệu hóa các gốc tự
do bằng cách nhường những electron của chúng cho những gốc tự do biến các gốc tự do thành những phân tử cân bằng Các enzim này chính là superoxide dismutase (SOD), catalase và glutathione được gọi là chất chống oxy hóa nội sinh, đóng vai trò kiềm chế quá trình oxy hóa trong cơ thể [2], [22]
Khi số lượng gốc tự do tăng cao bất thường và các chất chống oxy hóa nội sinh không đủ sức kiểm soát thì những phản ứng oxy hóa trong cơ thể sẽ gây ra các bệnh lý nguy hiểm đến sức khỏe Trong trường hợp này để kìm hãm sự phân tán và tăng lên của các gốc tự do, chúng ta cần bổ sung các chất chống oxy hóa ngoại sinh cho cơ thể như caroten, vitamin A, Giloba, đặc biệt là vitamin C, các dẫn xuất của flavonoid, ligan thường được tìm thấy trong thức ăn và các dịch chiết quanh ta [3], [22]
1.3.3 Quá trình peroxy hóa lipid:
Quá trình peroxy hóa lipid là quá trình oxy hóa tạo ra các gốc tự do, diễn ra không ngừng đối với những acid béo không no nhiều nối đôi có trong màng tế bào
Một sản phẩm phổ biến của quá trình peroxy hóa lipid là MDA (Malonyl dialdehyde acid) Theo nghiên cứu, MDA có thể gây nên sự bắt chéo AND
Các gốc tự do càng xuất hiện nhiều khi cơ thể bị stress hay chịu tác động của các tác nhân vật lý độc hại: tia cực tím, tia bức xạ…làm phá vỡ cân bằng nội môi và dẫn đến các bệnh lý khác nhau Đặc biệt, não rất nhạy cảm với các gốc tự
do vì nó chứa hàm lượng cao các acid béo không no dễ dàng bị oxy hóa nhưng lại chứa ít các enzim chống oxy hóa, hoạt động peroxy hóa lipid ở não rất dễ sảy
ra làm phá hủy tế bào thần kinh [26], [27]
Trang 161.4 Những nghiên cứu về sinh lý thần kinh trên chuột nhắt trắng:
Năm 2001, khi nghiên cứu về sự thay đổi hàm lượng MDA trong não và gan chuột bị stress của bài thuốc HHKV (hoàng kỳ, hà thủ ô, kim ngân, vỏ đậu xanh), Phạm Bá Thuyên nhận thấy dịch chiết từ các vị thuốc và bài thuốc này có tác dụng ức chế rõ rệt phản ứng peroxy hóa lipid đối với dịch nghiền đồng thể não và dịch nghiền đồng thể gan Ngoài ra, dịch chiết từ bài thuốc này với liều uống 0.2 ml/g thể trọng có tác dụng ức chế phản ứng peroxy hóa lipid, bảo vệ não chuột chịu được stress trong tất cả các điều kiện stress khác nhau [7]
Năm 2002, các tác giả Trịnh Hữu Hằng, Lưu Thị Thu Phương, Trần Lưu Vân Hiền đã nghiên cứu trên chuột nhắt và chuột cống để thấy được tác dụng của dịch chiết HHKV đối với sự hình thành PXCĐK ở chuột Chuột được uống dịch chiết HHKV với liều 2g/kg thể trọng/ngày (đối với chuột nhắt), liều 5g/kg thể trọng/ngày (đối với chuột cống trắng) liên tục trong 14 ngày vào các buổi sáng và lô đối chứng được uống dung dịch nước muối sinh lý Sau 14 ngày, chuột nhắt được tập PXVĐDDCĐK, còn chuột cống được tập phản xạ vận động
tự vệ có điều kiện Kết quả nghiên cứu cho thấy chuột được uống dịch chiết HHKV có khả năng hình thành trí nhớ nhanh hơn và bền vững hơn so với lô đối chứng [14]
Trong công trình “Nghiên cứu ảnh hưởng của hỗn dịch chiết từ mối trắng lên hoạt động thần kinh cao cấp ở động vật thí nghiệm” của Nguyễn Thị Vân Thái (2003), tác giả đã tiến hành nghiên cứu trên 45 chuột cống trắng và 45 chuột nhắt trắng Kết quả cho thấy dịch chiết cao mối toàn phần thể hiện rõ tác dụng đối với quá trình học và nhớ Hỗn dịch chiết từ mối (liều 10g/kg thể trọng)
có tác dụng thúc đẩy nhanh quá trình hình thành, rút ngắn thời gian thực hiện và kéo dài thời gian duy trì phản xạ có điều kiện tương đương với tác dụng của Giloba và tốt hơn so với lô đối chứng (p<0.05-0.001) Đối với PXVĐDDCĐK ở chuột nhắt trắng: so với lô chứng tốc độ hình thành phản xạ bằng 50%, thời gian thực hiện phản xạ bằng 44%, thời gian duy trì phản xạ bằng 199% Đối với phản
Trang 17xạ vận động tự vệ trên chuột cống trắng: tốc độ hình thành phản xạ bằng 62%, thời gian thực hiện phản xạ bằng 61%, thời gian duy trì phản xạ bằng 224% so với lô đối chứng [17]
Năm 2004, các tác giả Trịnh Hữu Hằng, Lưu Thị Thu Phương, Trần Lưu Vân Hiền đã nghiên cứu tác dụng của dịch chiết HHKV đối với hoạt động thần kinh Chuột nhắt trắng và chuột cống trắng được chia làm 3 lô: Lô 1 uống HHKV liều 2g/kg thể trọng/ngày, lô 2 uống Giloba liều 2mg/kg thể trọng/ngày (đối với chuột nhắt trắng), 4mg/kg thể trọng/ngày (đối với chuột cống trắng), lô
3 uống nước Sau 14 ngày uống thuốc liên tục, chuột được tập các loại PXCĐK Kết quả cho thấy, dịch chiết HHKV đã có tác dụng tốt lên quá trình hình thành
và duy trì các phản xạ cho chuột Tuy nhiên còn kém Giloba Mặt khác, sau 14 ngày điều trị, hàm lượng MDA trong dịch đồng thể não của chuột nhắt trắng ở lô uống HHKV đã giảm đáng kể so với lô đối chứng (ở lô uống HHKV, hàm lượng MDA trong dịch đồng thể não chuột là 6.514 ± 0.465; lô ĐC là 7.245±0.346) Kết quả này cho thấy HHKV đã có tác dụng hạn chế quá trình peroxy hóa lipid
tế bào não chuột [5]
Năm 2004 với đề tài “Tác dụng của dịch chiết HHKV và TCTN1 đối với hàm lượng MDA ở não chuột” của các tác giả Trịnh Hữu Hằng, Lưu Thị Thu Phương, Trần Lưu Vân Hiền Nội dung là nghiên cứu 170 chuột nhắt trắng được uống dịch chiết TCTN1 liều 3g/kg thể trọng/ngày và dịch chiết HHKV liều 2g/kg thể trọng/ngày trong thời gian 14 và 30 ngày Sau 14 và 30 ngày uống thuốc, mỗi lô chuột lại được chia đôi một nửa gây sốc điện, một nửa không gây sốc Chuột được giết lấy não nghiền thành dịch đồng thể để định lượng hàm lượng MDA theo phương pháp Jadwiga Robax So sánh với các lô đối chứng cho uống Giloba và đối chứng uống nước, kết quả cho thấy hai loại dịch chiết nói trên đã hạn chế quá trình peroxy hóa lipid ở tế bào não và giúp chúng chịu đựng tốt hơn khi có sốc điện [6]
Năm 2005, các tác giả Thái Doãn Kỳ, Dương Quang Huy, Bùi Quang Dũng của học viện Quân y với công trình “ Nghiên cứu tác dụng của dịch chiết từ cây
đỏ ngọn lên một số chức năng của hệ thần kinh trung ương trên động vật thực
Trang 18nghiệm” đã tiến hành cho chuột nhắt trắng uống dịch chiết toàn phần từ cây đỏ ngọn hoặc uống dịch flavonoid từ lá đỏ ngọn với liều 40ml/kg/1 ngày trong vòng
10 ngày liên tục có tác dụng tốt lên quá trình hưng phấn và ức chế có điều kiện ở não chuột nhắt trắng (thể hiện ở sự tăng nhanh cả tốc độ hình thành phản xạ và tốc độ dập tắt phản xạ vận động dinh dưỡng tìm thức ăn trong mê lộ), tác dụng này tương đương với Tanakan (là thuốc được bào chế để bảo vệ thành mạch, chống lão hóa và tăng trí nhớ ở người lớn tuổi) và tốt hơn so với dịch chiết toàn phần lá đã ngọn [9]
Năm 2008, tác giả Lưu Thị Thu Phương đã tiến hành nghiên cứu tác dụng của dịch chiết mướp đắng đối với thể lực và hoạt động thần kinh của chuột Kết quả cho thấy sau 14 ngày uống dịch chiết, quá trình hình thành phản xạ vận động
tự vệ có điều kiện của chuột nhắt trắng được rút ngắn nhưng không có tác dụng duy trì phản xạ này [15]
Năm 2010 với đề tài nghiên cứu tác động của NL 197 (một dẫn xuất của Nazolinon) trên chức năng vận động và trí nhớ hình ảnh trên chuột nhắt trắng của tác giả Võ Phùng Nguyên, Nguyễn Thúy An (ĐH Y dược TP.HCM), Nguyễn Ngọc Vinh (Viện kiểm nghiệm thuốc TP.HCM) thu được kết quả sau:
NL 197 khảo sát dùng đường uống chỉ có tác động sau 10 phút sử dụng Liều 12.5 mg/kg không làm ảnh hưởng đến chức năng vận động tự nhiên và khám phá của chuột, liều 37 mg/kg làm giảm vận động tự nhiên và khám phá của chuột sau
10 phút sử dụng và tác động này vẫn duy trì sau 30 phút Do đó, các thử nghiệm
có liên quan hoặc bị ảnh hưởng bởi chức năng vận động và hoạt động khám phá nên được khảo sát ở liều thấp hơn 37 mg/kg và sau 10 phút sử dụng thuốc NL
197 đường uống Tuy nhiên, liều 37 mg/kg và thậm chí ở liều cao hơn 73 mg/kg vẫn không làm mất điều hòa vận động ở chuột thử nghiệm sau 30 và 60 phút thử nghiệm Như vậy, các thử nghiệm liên quan đến trí nhớ có sự ảnh hưởng bởi chức năng phối hợp vận động sẽ không bị ảnh hưởng với các liều khảo sát NL
197 có tác dụng bảo vệ, ngăn chặn sự mất trí nhớ hình ảnh gây ra bởi scopolamin
1 mg/kg ở liều 12,5 mg/kg Tác động này ngăn chặn tác động của scopolamin trên việc hủy hoại khả năng trí nhớ trong giai đoạn học hỏi, do đó đây có thể là
Trang 19một hướng mới trong nghiên cứu tác động của NL 197 để ứng dụng trong việc ngăn ngừa sự suy giảm khả năng học hỏi ở người [13]
Như vậy, việc nghiên cứu tác dụng của các hoạt chất có nguồn gốc từ thực vật đến hoạt động của não là một vấn đề đã và đang được các nhà khoa học chú
ý nhằm mục đích tìm ra các nguồn dịch chiết tốt, với giá thành rẻ, có tác dụng tăng cường hoạt động của hệ thần kinh, chống stress và làm chậm quá trình lão hóa
Trang 20Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, DƯỢC LIỆU, MÔ HÌNH BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Chuột nhắt trắng [tên khoa học: Mus musculus Var.Albino - chi Mus - họ
Muridae - bộ Rodentia - lớp Mammalia - ngành Chordata] do trung tâm kiểm
nghiệm dược – mỹ phẩm Huế cung cấp gồm 60 con, không phân biệt đực cái,
độ tuổi từ 7 – 9 tuần tuổi, trọng lượng trung bình từ 20-30g/con, khỏe mạnh
Toàn bộ số chuột trên được nuôi trong cùng điều kiện, cùng chế độ dinh dưỡng trong suốt quá trình nghiên cứu tại phòng thí nghiệm “Sinh lý – Giải phẫu – Di truyền học” thuộc khoa Sinh – Môi Trường, trường Đại học sư phạm Đà Nẵng
Hình 5 Chuột nhắt trắng
2.2 Dịch chiết được sử dụng trong nghiên cứu:
Thân và lá của cây chó đẻ răng cưa (Phyllanthus urinaria L.) được bào chế
thành dịch chiết toàn phần bằng kỹ thuật chiết Soxhlet trong dung môi là cồn 900 Khi dùng, dịch chiết được pha với nước cho chuột uống theo các liều lượng thích hợp với thể trọng
2.3 Mô hình bố trí thí nghiệm:
Chuột nhắt trắng được chia thành 2 nhóm:
- 01 nhóm uống dịch chiết liên tục trong vòng 15 ngày
- 01 nhóm uống dịch chiết liên tục trong vòng 30 ngày
Trang 21Mỗi nhóm gồm 5 lô:
Lô ĐC âm: Uống nước bình thường
Lô 1: Uống dịch chiết liều: 0.05ml/20g thể trọng/1 ngày
Lô 2: Uống dịch chiết liều: 0.1ml/20g thể trọng/1 ngày
Lô 3: Uống dịch chiết liều: 0.15ml/20g thể trọng/1 ngày
Lô 4: Uống dịch chiết liều: 0.2ml/20g thể trọng/1 ngày
Chuột uống dịch chiết một lần trong ngày vào lúc 9h sáng
2.4 Phương pháp nghiên cứu:
2.4.1.1 Phương pháp nghiên cứu phản xạ vận động dinh dưỡng có điều kiện
Phương tiện: Chuồng mê lộ được thiết kế gồm nhiều đường dích dắc gồm
13 con đường mỗi đường rộng 6cm, rộng 12cm, trong đó, chỉ có một đường đi đúng tới đích (nơi để thức ăn), còn tất cả các đường khác đều là đường vào ngõ cụt, không tới đích
Hình 6 Chuồng mê lộ Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thao tác, nghiên cứu tập tính của
động vật trong chuồng mê lộ do Ugar (1972) đề xuất [14]
- Thành lập PXVĐDDCĐK:
PXVĐDDCĐK trên chuột nhắt trắng được tiến hành thành lập sau khi cho chuột uống thuốc 15 ngày đối với chuột nhóm 1 và sau 30 ngày uống thuốc liên
Trang 22tục đối với chuột nhóm 2 Toàn bộ số chuột trên đều cho nhịn ăn qua đêm và tập phản xạ vào các buổi sáng theo quy trình sau:
+ Đặt chuột ở cửa vào và dẫn dắt chuột tới đích (nơi có thức ăn)
+ Mỗi ngày tập 3 lần, mỗi lần cách nhau 5 phút
+ Tập đến khi nào đặt chuột ở cửa vào chuột chạy một mạch tới đích, không quay lại, không nhầm vào ngõ cụt, tức phản xạ đã hình thành
+ Phản xạ tìm thức ăn trong mê lộ được xem là bền vững khi cả 3 lần liền nhau thả chuột ở điểm xuất phát và mở cửa vào chuột chạy một mạch tới đích, không nhầm đường, không quay lại
Trong đó:
Thời gian hình thành PXCĐK: Được tính bằng số lần phối hợp tín hiệu
có điều kiện với tín hiệu không điều kiện để hình thành phản xạ, đó là số lần tập
để hình thành phản xạ đầu tiên
Thời gian hình thành PXCĐK bền vững: Được tính bằng số lần phối hợp
tín hiệu có điều kiện với tín hiệu không điều kiện để hình thành phản xạ bền vững, đó là số lần tập để phản xạ được thực hiện liên tiếp 3lần/ngày
- Dập tắt PXVĐDDCĐK:
+ Sau khi phản xạ đã được bền vững tiến hành dập tắt phản xạ bằng cách tiếp tục cho chuột chạy trong mê lộ, nhưng ở đích không để thức ăn Khi nào 3 lần liên tiếp thả chuột ở điểm xuất phát chuột không chạy tới đích nữa thì xem như phản xạ đã bị dập tắt
+ Thời gian dập tắt phản xạ có điều kiện: Được tính bằng số lần phát tín
hiệu có điều kiện mà không được củng cố bằng tín hiệu không có điều kiện cho tới khi dập tắt phản xạ, chính là số lần tập để chuột không thực hiện phản xạ cả 3lần/ngày
2.4.1.2 Phương pháp xác định chỉ số I của chuột nhắt trắng
Chỉ số I = Thời gian dập tắt PXCĐK/Thời gian hình thành PXCĐK bền
vững
2.4.2 Phương pháp xác định MDA (Malonyl dialdehyde acid)
Xác định hàm lượng MDA trong dịch đồng thể não chuột bằng phương
pháp Jadwiga Robax (Ba Lan, 1987) [9]:
Trang 23Quy trình như sau:
- Tách và nghiền toàn bộ mô não chuột trong điều kiện 0 – 50C Dung dịch KCl 1.15% được cho vào đồng thể não theo tỉ lệ 400mg não tương ứng 9.6ml KCl
- Mỗi bộ não chuột được làm trên hai ống nghiệm Mỗi ống nghiệm gồm có:
- Ly tâm với tốc độ 3000 vòng/phút trong 10 phút để loại bỏ kết tủa protein
- Sau ly tâm, từ mỗi ống hút ra 1ml dung dịch trong cho vào ống nghiệm sạch Bổ sung 0.5 ml dung dịch Thiobarbituric 0.8% rồi đem đun sôi cách thủy trong 20 phút Phản ứng màu sẽ xảy ra giữa MDA và acid Thiobarbituric để tạo thành phức hợp Trimethine có màu hồng Cường độ màu của dung dịch tỉ lệ thuận với nồng độ MDA
- Cuối cùng, lấy một lượng đồng nhất dung dịch ở các ống nghiệm cho vào các giếng và đem đo độ hấp thu ở bước sóng 532nm
- Hàm lượng MDA được tính theo công thức: MDA = 28.4 * OD
(OD: Độ hấp thu ở 532nm)
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu:
Các số liệu được xử lý sô liệu theo phương pháp thống kê Sinh – Y học trên phần mềm Excel
Trang 24CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN
3.1 Ảnh hưởng của dịch chiết cây chó đẻ răng cưa đến thời gian hình thành PXVĐDDCĐK của chuột nhắt trắng:
Kết quả nghiên cứu được trình bày ở bảng 1, hình 7, hình 8 và hình 9
Bảng 1 Thời gian hình thành PXVĐDDCĐK của chuột nhắt trắng:
Hình 7 Biểu đồ biểu diễn thời gian hình thành PXVĐDDCĐK của nhóm chuột
nhắt trắng được uống dịch chiết cây chó đẻ răng cưa trong 15 ngày
Số lần tập
Lô chuột
Trang 25Hình 8 Biểu đồ biểu diễn thời gian hình thành PXVĐDDCĐK của nhóm chuột
nhắt trắng được uống dịch chiết cây chó đẻ răng cưa trong 30 ngày
Hình 9 Biểu đồ so sánh thời gian hình thành PXVĐDDCĐK của chuột nhắt
trắng sau 15 ngày và 30 ngày uống dịch chiết cây chó đẻ răng cưa