1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bạn đọc học sinh THPT với vấn đề tiếp cận tác phẩm văn học

71 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bạn đọc học sinh thpt với vấn đề tiếp cận tác phẩm văn học
Tác giả Nguyễn Thị Thu Ngân
Trường học Đại Học Đà Nẵng - Trường Đại Học Sư Phạm
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng ta có thể kể đến một số công trình nghiên cứu của các nhà đi trước như một số công trình của Giáo sư Phan Trọng Luận từ những thập niên bảy mươi của thế kỉ XX cho đến nay như: Phân

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

- -

NGUYỄN THỊ THU NGÂN

Bạn đọc học sinh THPT với vấn đề tiếp cận

tác phẩm văn học

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Phương pháp nghiên cứu 9

5 Bố cục của luận văn 9

CHƯƠNG MỘT: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ DẠY HỌC VĂN HỌC 10

1.1 Mục tiêu của việc dạy học Văn học 10

1.1.1 Góp phần nâng cao năng lực cảm thụ tác phẩm nghệ thuật 11

1.1.2 Góp phần hoàn thiện nhân cách cho học sinh 12

1.2 Các nhân tố tham gia tiến trình tổ chức dạy học văn học 14

1.2.1 Tác phẩm văn học - công cụ tác động vào học sinh 14

1.2.2 Phương pháp dạy của giáo viên 15

1.2.3 Hoạt động học của học sinh 17

Trang 3

1.3 Các cách hiểu khác nhau về việc học sinh tiếp cận tác phẩm văn học 19

CHƯƠNG HAI: VẤN ĐỀ TIẾP CẬN TÁC PHẨM VĂN HỌC 21

CỦA HỌC SINH THPT 21

2.1 Bạn đọc và bạn đọc học sinh THPT 21

2.1.1 Bạn đọc 21

2.1.2 Bạn đọc học sinh THPT 23

2.2 Tác phẩm văn học và tác phẩm văn học trong nhà trường THPT 25

2.2.2 Tác phẩm văn học trong nhà trường THPT 27

2.3 Vai trò của giáo viên trong việc định hướng học sinh tiếp cận tác phẩm văn học trong nhà trường THPT 29

2.3.1 Thầy giáo – nhân tố trung gian quan trọng giữa tác phẩm và học sinh 29

2.3.2 Thầy giáo – nhân tố quyết định hiệu quả của tiến trình tiếp cận tác phẩm văn học 32

2.4 Tiến trình tiếp cận tác phẩm văn học của học sinh 35

2.4.1 Tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương 35

2.4.1.1 Tiếp cận tác phẩm dựa trên sự hiểu biết ngoài văn bản và vận dụng những hiểu biết đó vào cảm thụ tác phẩm văn học 36

2.4.1.2 Tiếp cận tác phẩm dựa trên bản thân tác phẩm 39

2.4.1.3 Tiếp cận tác phẩm hướng vào đối tượng tiếp cận – học sinh 41

2.4.2 Các giai đoạn nhận thức - cảm thụ của học sinh trong tiến trình tiếp cận tác phẩm văn học 42

2.4.2.1 Giai đoạn tri giác ngôn ngữ thông qua đọc hiểu 42

2.4.2.2 Giai đoạn tái tạo lại tác phẩm thông qua liên tưởng, tưởng tượng 45

2.4.2.3 Giai đoạn nhập thân vào tác phẩm 47

2.4.2.4 Giai đoạn biểu lộ hiệu quả của tiến trình tiếp cận tác phẩm văn học 48

CHƯƠNG BA: THỰC TRẠNG HỌC TÁC PHẨM VĂN HỌC VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HƠN HIỆU QUẢ TIẾP CẬN TÁC PHẨM VĂN HỌC 51

3.1 Thực trạng học tác phẩm văn học ở trường THPT hiện nay 51

Trang 4

3.1.1.Thực trạng 51

3.1.1.1 Thực trạng được phản ánh qua điều tra 51

3.1.1.2 Thực trạng được phản ánh qua báo chí 57

3.1.2 Nguyên nhân 59

3.1.2.1 Nguyên nhân từ phía giáo viên 60

3.1.2.2 Nguyên nhân từ phía học sinh 61

3.2 Một số kiến nghị 63

3.2.1 Tăng cường hoạt động đọc hiểu của học sinh 63

3.2.2 Phát huy vai trò cầu nối tích cực, chủ động của thầy giáo trong việc giúp học sinh tiếp cận tác phẩm văn học 64

TÀI LIỆU KHAM KHẢO 69

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sự phát triển của một xã hội sẽ không thể thực hiện được nếu không nâng cao hơn nữa trình độ văn hóa và sự trưởng thành về mặt tinh thần của con người Văn học với tư cách là một môn học có sứ mệnh cao cả trong việc giáo dục con người, hình thành nhân cách cho học sinh

Thế nhưng trong nhưng năm gần đây, học sinh các cấp, đặc biệt là học sinh THPT lại không coi trọng văn học Các em tỏ ra khá thờ ơ với việc học môn Ngữ văn nói chung, phân môn Văn học nói riêng Việc đọc sách, nghiên cứu tác phẩm trở nên bị lãng quên Bao nhiêu người đã gióng lên hồi chuông cảnh báo Nhiều cuộc họp, cuộc hội thảo được diễn ra nhằm tìm lối thoát cho việc dạy học văn Thế nhưng thực trạng dạy và học văn chưa khá lên mấy: vẫn còn trì trệ, gặp nhiều khó khăn và bất cập

Là một người giáo viên văn trong tương lai, tôi đau buồn trước thực trạng học văn

sa sút như hiện nay và mong muốn được góp một phần công sức nhỏ bé vào việc cải thiện thực trạng sa sút trên Dẫu ý thức rằng chọn lĩnh vực phương pháp giảng dạy để nghiên cứu là một việc làm rất khó khăn, vất vả Bao nhiêu người đã trải qua và không ít những người thất bại Nhưng với lòng nhiệt huyết dành cho nghề trồng người, đã tiếp cho tôi sức mạnh để đi đến chọn đề tài “Bạn đọc học sinh THPT với vấn đề tiếp cận tác phẩm văn học” để nghiên cứu

Trang 6

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Dạy văn, học văn là một vấn đề quan trọng của mọi nền giáo dục nói chung và nền giáo dục Việt Nam nói riêng Chính vì vậy mà việc dạy văn, học văn được nghiên cứu khá sớm trên nhiều phương diện, kể cả việc tiếp cận tác phẩm văn học cũng ít nhiều được bàn đến Chúng ta có thể kể đến một số công trình nghiên cứu của các nhà đi trước như một số công trình của Giáo sư Phan Trọng Luận từ những thập niên bảy mươi của thế kỉ

XX cho đến nay như: Phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường, xuất bản năm 1977

bàn về một số phương pháp, biện pháp cụ thể dùng để giải mã những tác phẩm văn

chương trong nhà trường nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy văn học; công trình Con

đường nâng cao hiệu quả dạy văn, xuất bản 1978 đề cập đến ra một số phương thức có

thể ứng dụng để nâng cao hiệu quả giảng dạy văn học như: giảng dạy văn học gắn với định hướng phát triển năng lực của học sinh, giảng dạy văn học phải gắn với cuộc sống,

mối quan hệ biện chứng giữa văn học và học sinh,…; công trình Cảm thụ văn học –

Giảng dạy văn học ra đời 1983 cung cấp cho chúng ta một số hiểu biết khoa học về cảm

thụ văn học và vận dụng những hiểu biết đó vào việc giảng dạy tác phẩm văn học; công

trình Phương pháp dạy học văn, tập một, do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành vào năm

2001 được xem như là cuốn giáo trình chính để đào tạo giáo viên Sư phạm văn Trong công trình này, Giáo sư Phan Trọng Luận đã đi sâu vào những vấn đề cốt yếu trong việc dạy văn, học văn, đặc biệt tác giả dành một chương để viết về vấn đề học sinh trong cơ chế dạy học văn và cơ chế tiếp cận tác phẩm văn học Gần đây, năm 2008, cùng với một

số tác giả khác, Giáo sư Phan Trọng Luận đã cho ra đời chuyên luận Hướng dẫn thực

hiện chương trình sách giáo khoa lớp 12 môn Ng ữ văn với mục đích bồi dưỡng giáo viên

thực hiện chương trình và sách giáo khoa lớp 12 Sở dĩ người viết nhắc đến chuyên luận này là vì trong đó tác gi ả đề cập đến một số vấn đề có liên quan trực tiếp đến tiếp cận tác phẩm văn học trong dạy học, đặc biệt quán triệt quan điểm “tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương” [13, tr.84] theo ba hướng: tiếp cận tác phẩm văn học dựa vào lịch sử phái sinh và vận dụng một cách thích hợp những hiểu biết ngoài văn bản (xã hội, văn hóa, nhà văn…) để cắt nghĩa tác phẩm; tiếp cận tác phẩm dựa trên quan điểm tiếp cận văn bản và

Trang 7

tiếp cận tác phẩm văn bản hướng vào đáp ứng của học sinh Đồng thời, tác giả đã vận dụng quan điểm này để tìm hiểu một số tác phẩm Chuyên luận đã đem lại nguồn tri thức quý báu không chỉ cho giáo viên dạy lớp 12 mà còn có ý nghĩa hầu hết với tất cả giáo viên văn Với một người được coi như là cha đẻ của ngành phương pháp giảng dạy văn học của Việt Nam thì chắc hẳn, Giáo sư Phan Trọng Luận còn nhiều công trình nghiên cứu khác Thời gian và năng lực có hạn nên chúng tôi chỉ đề cập đến một số công trình của Giáo sư có liên quan đến đề tài nghiên cứu

Ngoài những công trình của Giáo sư Phan Trọng Luận, còn có một số công trình của các tác giả khác cũng đề cập đến vấn đề dạy văn, học văn nói chung và vấn đề tiếp cận tác phẩm văn học nói riêng như:

Công trình Văn chương và phương pháp giảng dạy văn chương của Trịnh Xuân

Vũ xuất bản năm 2000 Trong công trình này Trịnh Xuân Vũ đi vào nghiên cứu hai phần

chính Văn chương và Phương pháp giảng dạy văn chương Thông qua hai phần đó, tác

giả đi vào tìm hiểu hoạt động của học sinh trong giờ học tác phẩm văn chương ở nhà trường trung học phổ thông

Công trình Dạy văn, đọc văn của Đặng Hiển xuất bản năm 2005 Cuốn sách gồm

ba phần, phần một là những bài viết về phương pháp dạy văn, được nhà văn – nhà giáo – nhà nghiên cứu Đặng Hiển rút ra từ thực tiễn nghề nghiệp Phần hai gồm những bài phân tích bình giảng một số tác phẩm văn học trong nhà trường, và phần ba gồm những sáng tác thơ văn Cuốn sách đã đem lại những kinh nghiệm quý cho những người thầy người

cô dạy văn

Để cập nhật những vấn đề dạy văn học hiện nay trong chương trình trung học phổ thông, năm 2007, tác giả Nguyễn Thanh Hùng cùng một số tác giả khác cho ra đời công

trình Phương pháp dạy học Ngữ văn THPT những vấn đề cập nhật Trong công trình này

các tác giả đã đề cập đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ngữ văn ở trường trung học phổ thông và phát triển năng lực văn học cho học sinh bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm và coi đó là một sự đổi mới

Trang 8

Ngoài ra chúng ta có thể kể đến một số công trình c ủa tác giả Nguyễn Trọng Hoàn

như Tiếp cận văn học (2002), Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn học

(2003) cũng có nhiều đóng góp về mặt lí luận cho ngành phương pháp giảng dạy văn học

Về công trình nghiên cứu ở ngước ngoài, có thể kể đến công trình Phương pháp

luận dạy văn học của Z Ia Rez được Phan Thiều dịch và xuất bản 1983 cũng có những

đóng góp đáng kể cho ngành phương pháp dạy học văn, nhất là sự định hướng dạy học, khơi gợi vấn đề nhằm phát triển tư duy cho học sinh

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về công việc dạy và học văn đều đề cập đến vấn đề học sinh với vấn đề tiếp cận tác phẩm văn học Nhưng chưa có một bài viết hay một công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này Các tác giả chỉ mới đề cập sơ qua, chưa cho người đọc thấy rõ vai trò, đặc điểm của học sinh trong vấn đề tiếp cận tác phẩm văn học

Trên quan điểm kế thừa và tiếp thu những thành tựu của những người đi trước, chúng tôi muốn hệ thống lại và góp thêm một số ý kiến riêng Chúng tôi hi vọng góp một phần tâm sức của mình trong việc nghiên c ứu giảng dạy văn học trong nhà trường hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên c ứu của đề tài này là bạn đọc học sinh THP T với vấn đề tiếp cận tác phẩm văn học Bên c ạnh đó, chúng tôi còn đi vào tìm hiểu thực trạng học văn trong nhà trường THPT hiện nay và đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận tác phẩm văn học

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi nhận thấy bạn đọc học sinh THPT với vấn đề tiếp cận tác phẩm văn học là một đề tài khá rộng Do thời gian và năng lực có hạn nên chúng tôi chỉ tập trung đi vào tìm hiểu những

gì liên quan đến bạn đọc học sinh THPT, tác phẩm văn học và vấn đề tiếp cận tác phẩm văn học của học sinh THPT trong nhà trường hiện nay là chủ yếu

Trang 9

4 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài này, người viết sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau nhưng tập trung chủ yếu ở một số phương pháp sau:

- Phương pháp phân tích tổng hợp: được dùng để phân tích các tư liệu trong thực

tế để xây dựng luận điểm cho luận văn, phân tích các số liệu thu thập được để đưa ra những kết luận cần thiết phục cho việc nghiên cứu đề tài

- Phương pháp so sánh đối chiếu: được sử dụng so sánh một số luận điểm, để làm nổi bật những vấn đề cần nghiên cứu như: bạn đọc ở ngoài đời và bạn đọc học sinh THPT, tác phẩm văn học nói chung với tác phẩm văn học trong nhà trường…

- Phương điều tra, khảo sát: được sử dụng để thu thập những số liệu thực tế về tình hình học văn ở hai trường THPT Hòa Vang và THPT Ông Ích Khiêm nhằm đi đến những kết luận chung mang tính khách quan và trung thực về thực trạng học văn hiện nay

- Phương pháp thống kê: được sử dụng để thống kê một số công trình, ý kiến của các tác giả có liên quan đến đề tài Ngoài ra người viết cũng dùng phương pháp này để xử

lý các số liệu thu thập được trong quá trình điều tra khảo sát, bổ sung cho phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm đạt tới những kết luận chính xác, khách quan

5 Bố cục của luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu kham khảo, phần chính văn của chúng tôi bao gồm ba chương chính:

- Chương một: Một số vấn đề lí luận về dạy học văn học

- Chương hai: Vấn đề tiếp cận tác phẩm văn học của học sinh THPT

- Chương ba: Thực trạng học tác phẩm văn học và một số kiến nghị nhằm nâng cao hơn hiệu quả tiếp cận tác phẩm văn học

Trang 10

CHƯƠNG MỘT: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ DẠY HỌC VĂN HỌC 1.1 Mục tiêu của việc dạy học Văn học

Mục tiêu là thành tố rất quan trọng của quá trình dạy học Trong dạy học, nếu không có mục tiêu xác định, sẽ không có bất kì cơ sở nào để lựa chọn nội dung giảng dạy, phương pháp giảng dạy Mục tiêu là cái mốc để giáo viên đánh giá được sự tiến bộ của học sinh đến mức nào theo chiều hướng đã định Mục tiêu là cái đích mà cả học sinh và giáo viên cần hướng tới Mỗi môn học đều có một mục tiêu nhất định Trong chương trình giáo dục phổ thông, dạy học văn học giữ một vị trí vô cùng đ ặc biệt quan trọng và đảm nhiệm nhiều chức năng khác nhau Chính vì thế mà đã có không ít nhà nghiên cứu giáo dục, nhà giáo dạy văn đi tìm mục tiêu của dạy học văn học Có bao nhiêu cuốn sách

về phương pháp giảng dạy văn học là có bấy nhiêu cách nói về mục tiêu của việc dạy học văn học Có người cho rằng dạy văn là dạy người nhưng các môn học khác cũng dạy làm người đấy thôi Cũng có người cho rằng dạy văn là nhằm nâng cao tinh thần yêu nước cho học trò… Nhưng với chúng tôi, với một môn học “chứa đựng những nội dung phong phú đa dạng về cuộc sống sinh động, về văn hóa tinh thần, tư tưởng tâm hồn của dân tộc” [8, tr.64] như môn văn thì rất khó có thể đưa ra một mục tiêu của việc dạy văn học trọn vẹn và hoàn thiện Kế thừa những ý kiến của người đi trước, chúng tôi tin rằng góp phần nâng cao năng lực cảm thụ tác phẩm nghệ thuật và góp phần hoàn thiện nhân cách cho học sinh là hai mục tiêu cơ bản của việc dạy văn học Chúng tôi nhấn mạnh đây là hai mục tiêu cơ bản nhất, quan trọng nhất bởi ngoài hai mục tiêu trên phân môn Văn học còn cung cấp cho học sinh những tri thức về lịch sử, địa lý… Để đi đúng trọng tâm yêu c ầu của một luận văn chúng tôi chỉ đi vào tìm hiểu hai mục tiêu cơ bản của việc dạy văn

Trang 11

1.1.1 Góp phần nâng cao năng lực cảm thụ tác phẩm nghệ thuật

Tác phẩm văn học là con đẻ của nhà văn Bản chất của tác phẩm văn học là một hệ thống mở mà ở mỗi người lại có những cảm nhận khác nhau Trước một tác phẩm văn học, có thể có người xúc động, có người thờ ơ, có người chê bai… Hơn nữa, xét trong trường THPT chúng ta không thể kéo dài thời gian ngồi trên ghế nhà trường mà chỉ dạy cho các em những tác phẩm hay, có ích nên đọc Chúng ta cũng không thể chạy đua nhồi nhét kiến thức cụ thể cho học sinh, buộc các em phải nhớ một cách máy móc từng chi tiết từng sự kiện nhỏ trong tác phẩm Chính vì vậy, một vấn đề đặt ra cho mỗi giáo viên là qua mỗi lần dạy tác phẩm văn học phải làm sao nâng cao được năng lực cảm thụ tác phẩm cho học sinh, để các em có thể độc lập tiếp nhận sản phẩm tinh thần sáng tạo của nhà văn

Theo Từ điển Tiếng việt do Hoàng Phê chủ biên, năng lực là “khả năng, điều kiện

chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” hoặc là “phẩm chất sinh lý và trình độ chuyên môn tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [17, tr.816] Từ định nghĩa đó, chúng ta có thể hiểu năng lực cảm thụ văn học là một quá trình đọc hiểu các tác phẩm văn chương ở mức độ cao nhất, không chỉ nắm bắt thông tin mà còn phải thẩm thấu được thông tin, phân tích, đánh giá được khả năng sử dụng ngôn từ của tác giả, tạo được mối giao cảm đặc biệt giữa tác giả và bạn đọc và có thể truyền thụ cách hiểu đó cho người khác Hay nói một cách khác cảm thụ văn học có nghĩa là khi đọc (nghe) một câu chuyện, một bài thơ…người đọc không những hiểu mà còn phải có xúc cảm, tưởng tượng và thật sự gần gũi, “nhập thân” với những gì đã đọc Dạy văn học tức là dạy cho học sinh biết cách sử dụng kiến thức và kĩ năng c ủa mình để cảm thụ một tác phẩm văn học đồng thời lĩnh hội những tri thức, tình c ảm mà con đẻ tinh thần nhà văn mang lại Theo Giáo sư Phan Trọng Luận

“Cảm thụ văn học là tiền đề để phát triển lí trí của người đọc, người nghe” [11, tr.160] và theo Giáo sư đây là một vấn đề phức tạp, lại càng phức tạp hơn khi xét ở đối tượng học sinh Bởi “Việc cảm thụ của học sinh không giống như việc cảm thụ của người đọc thông thường Nếu người đọc thông thường có quyền tự do chọn sách và cảm thụ tác phẩm theo

Trang 12

thị hiếu của mình thì học sinh c ảm thụ tác phẩm trong chương trình theo sự hướng dẫn của giáo viên” [11, tr.162] Hơn nữa, năng lực cảm thụ văn học ở mỗi học sinh cũng không hoàn toàn giống nhau do nhiều yếu tố qui định như: vốn sống và hiểu biết, năng lực và trình độ kiến thức, tình cảm và thái độ, sự nhạy cảm khi tiếp xúc với tác phẩm văn học… Chính vì thế, giáo viên phải là người vừa dẫn, vừa dìu học sinh đi trên con đường cảm thụ tác phẩm văn học Dạy học tác phẩm không phải chỉ dạy cho học sinh hiểu nội dung tác phẩm là viết về cái này cái kia, nghệ thuật là sử dụng biện pháp tu từ này, biện pháp nghệ thuật khác mà học sinh phải nắm được cái thần của tác phẩm, hiểu được ánh sáng bên trong câu chữ mà tác phẩm muốn thể hiện Nếu chỉ dạy đơn thuần khai thác theo hướng ghi nhớ nội dung là gì, nghệ thuật có gì thì sẽ ngày một thui chột khả năng cảm thụ của học sinh, làm cho các em có thói quen tiếp nhận theo kiểu “gạch đầu dòng” các tác phẩm văn học Có năng lực cảm thụ văn học tốt, các em sẽ cảm nhận được những nét đẹp của văn thơ, mới yêu văn và học văn một cách thích thú Với cách quan niệm như trên về cảm thụ, chúng tôi nhận thấy việc rèn luyện cảm thụ cho học sinh trong dạy đọc hiểu văn bản văn học ở trường phổ thông có ý nghĩa quan trọng; đ ặc biệt nó góp phần đảm bảo tính nghệ thuật đặc thù của môn Ngữ văn

1.1.2 Góp phần hoàn thiện nhân cách cho học sinh

Trong chúng ta, ai cũng biết rằng cái đẹp của nhân cách, của đạo đức là hình mẫu

lý tưởng, mẫu mực mà con người luôn luôn hướng tới, lấy nó làm mục tiêu phấn đấu, làm tiêu chuẩn để tu dưỡng bản thân Ngày nay, cùng với sự phát triển và đi lên c ủa xã hội, mỗi chúng ta được sống trong môi trường văn minh, hiện đại hơn, nhưng kéo theo đó cũng có nhiều vấn đề nảy sinh làm ảnh hưởng ít nhiều đến đời sống xã hội Chính vì vậy, việc giáo dục nhân cách cho học sinh trở thành một vấn đề cấp thiết Nhân cách là “tư cách và phẩm chất con người” [17, tr.879] Giáo dục nhân cách là góp phần nâng cao tư cách và phẩm chất của con người

Văn học là một trong những loại hình nghệ thuật có từ rất sớm, gắn bó thiết thân với đời sống tinh thần của con người, trở thành một nơi lưu giữ những giá trị truyền thống văn hóa, đạo đức của con người Ngay từ thuở xa xưa, ông cha đã biết “Một cây

Trang 13

làm chẳng nên non/ Ba cây chụm lại nên hòn núi cao” hay “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”,… Theo tháng năm, văn học dần lớn lên, đa dạng về thể loại, phong phú về đề tài Nhưng dù dưới hình thức nào thì văn học vẫn là sự phản ánh thế giới khách quan qua thế giới chủ thể của nghệ sĩ, vẫn là người cha đạo chăn dắt con chiên đến với những giá trị đạo đức chân - thiện - mỹ của nhân loại Dù viết về những sự cố lớn lao: bão táp cách mạng, chiến tranh, hay chỉ diễn tả một tiếng chuông chùa, một bờ tre, ruộng lúa…bao giờ ta cũng tìm thấy bên trong một tin vào cuộc sống, một niềm yêu đời, yêu người thiết tha Với những tính năng đ ặc thù như trên mà văn học luôn được coi là một môn học quan trọng trong nền giáo dục hiện nay và có sứ mệnh cao

cả bồi dưỡng lối sống, nhân cách, tinh thần nhân văn cho học sinh

Mỗi người giáo viên chúng ta, khi giảng một tác phẩm văn học cho học sinh nghĩa

là chúng ta đang làm nhiệm vụ khắc sâu vào thùy não của học sinh những giá trị tinh thần ông cha ta để lại Người giáo viên phải làm sao qua mỗi nhân vật, mỗi câu chuyện, học sinh biết đâu là thiện, đâu là ác, đâu là rồng phượng, đâu là rắn rết Từ đó, học sinh khẳng định phẩm chất tốt xấu và những điều nên làm, những điều cần xa lánh Ngoài ra, khi dạy cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của các tác gia thì chúng ta cũng c ần chú ý đến tính giáo dục Cuộc đời của tác gi a được chọn dạy trong chương trình thường có ý nghĩa giáo dục

ở những mức độ khác nhau Đa số đó là những tấm gương sáng về tư tưởng và đạo đức, khí phách và tâm hồn, đáng để chúng ta suy nghĩ học tập Ví như thông qua tiểu sử của

Hồ Chí Minh, chúng ta cảm phục sức mạnh tâm hồn và trí tuệ của Người; sự lao động không mệt mỏi, lòng yêu thương con người sâu sắc… Chỉ cần nghĩ đến cuộc đời như thế, noi gương những con người như thế thì ai chẳng thấy cuộc sống là đáng yêu, con người là đáng trọng và tự thân học sẽ tự hoàn thiện bản thân mình Nếu như môn Toán là chìa khóa của kho tàng khoa học tự nhiên, tác động trực tiếp vào tư duy c ủa con người, làm cho tư duy của con người ngày một khoa học, lôgic thì môn Ngữ văn nói chung, phân môn Văn học nói riêng là chìa khóa để mở cánh cửa tâm hồn, tình cảm của học sinh, làm cho học sinh trở thành “người” hơn

Trang 14

1.2 Các nhân tố tham gia tiến trình tổ chức dạy học văn học

Tiến trình tổ chức dạy học văn học là một chuỗi các ho ạt động dạy và học trong các điều kiện của nội dung văn học, của thời lượng cho phép, của không gian giáo dục Đây là một tiến trình thống nhất với sự tham gia của các nhân tố: tác phẩm văn học – công cụ để giáo viên tác động vào học sinh, phương pháp dạy học của giáo viên và hoạt động học của học sinh

1.2.1 Tác phẩm văn học - công cụ tác động vào học sinh

Theo dòng lịch sử văn học, đến nay đã có không ít định nghĩa về tác phẩm văn học Nhưng mục đích của chúng tôi ở đây là không đi tìm cho tác phẩm văn học một định nghĩa đúng đắn nhất mà chỉ đi vào tìm hiểu tác phẩm văn học trong mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh

Mỗi hoạt động trong cuộc sống đều có một công cụ để thực hiện Bác nông dân muốn cày đ ất mà không có con trâu, cái cày hay máy cày thì sẽ không làm gì được, chỉ còn biết dùng cuốc để xới đất Nhưng như thế cái cuốc lại trở thành công c ụ lao động của bác nông dân Người giáo viên khi dạy văn mà không có tác phẩm văn học thì không thể thực được công việc của mình Người học sinh không có tác phẩm thì không có hoạt động học văn Vì vậy, từ rất lâu tác phẩm văn học đã trở thành công cụ giáo dục đặc biệt trong nhà trường Không chỉ trong nhà trường xã hội chủ nghĩa ngày nay mà còn trong nhà trường xã hội phong kiến và trước đó nữa người ta đã biết đến sức mạnh của văn học, đem văn học đi vào thế giới tinh thần của con người như một quy luật tự nhiên sẵn có Trong nhà trường hiện nay, tác phẩm văn học, nhân tố trung tâm c ủa mối quan hệ giáo viên – tác phẩm – học sinh, là nội dung giáo dục có đôi cánh thiên thần qua giáo viên mà đến với học sinh Nếu thiếu đi công cụ tác phẩm văn học thì quá trình dạy học văn sẽ không diễn ra Tác phẩm văn học giống như bản thiết kế để xây nên một ngôi nhà Chính

vì vậy, đã là một người giáo viên văn thì không thể không am hiểu công c ụ dạy học của mình – tác phẩm văn học và tầm quan trọng của nó

Tác phẩm không chỉ cung cấp cho học sinh những tri thức về thế giới văn học nghệ thuật nói chung như giúp các em hiểu biết về lịch sử văn học, lý luận văn học,…mà

Trang 15

còn mở ra trước mắt các em một xã hội, một cuộc sống gần với thực tại, góp phần hình thành thế giới quan và nhân sinh quan cho học sinh Tác phẩm văn học trực tiếp quyết định cách học của học sinh, vừa khơi gợi hứng thú trong học tập vừa đặt ra những yêu cầu cụ thể đối với người học Tác phẩm văn học là bạn đồng hành với học sinh khi học phân môn Văn học Việc yêu hay thích văn học một phần cũng do tác phẩm văn học quyết định Vì vậy việc chọn lựa tác phẩm nào để dạy trong chương trình phổ thông là một vấn đề quan trọng Bởi tác phẩm văn học trong nhà trường không giống như một tác tác phẩm ngoài đời Nó vừa phải mang tính nghệ thuật, mang tính giáo dục và mang tính khoa học Chính vì thế mà khi nói đến tác phẩm văn học trong nhà trường Giáo sư Phan Trọng Luận đã nói “Tác phẩm văn chương trong nhà trường không chỉ là một phương tiện nhận thức mà còn là đối tượng thẩm mĩ đồng thời mà còn là một cơ sở để hình thành những hiểu biết về lịch sử văn học lại vừa là một công cụ giáo dục đặc biệt giúp học sinh

tự phát triển một cách toàn diện về nhân cách Một cách hiểu toàn diện và cân đối như trên về tác phẩm văn chương trong nhà trường sẽ không làm mờ nhạt bản chất chức năng đặc thù của hình tượng văn học, vừa không loại trừ tính nhà trường, tính sư phạm của tác phẩm với tư cách là một công cụ giáo dục đặc biệt” [8, tr.179]

1.2.2 Phương pháp dạy của giáo viên

Trong cuộc sống hằng ngày, muốn làm một việc gì đó có hiệu quả thì chúng ta phải có phương pháp Phương pháp là “hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một hoạt động nào đó” [25, tr.793] Theo Giáo sư Phương Lựu “Phương pháp không phải là một cái gì chung chung, trừu tượng mà bao giờ cũng mang tính xác định của một thứ phương tiện được con người sử dụng để nhận thức thế giới” [14, tr.388] Và ông cũng đưa ra một định nghĩa khá xác đáng “phương pháp là quy luật của thế giới khách quan dịch chuyển vào ý thức con người rồi trở thành một hệ thống của những phép tắc, luật lệ, những thao tác thủ pháp mang tính chất được con người sử dụng một cách tự giác, có kế hoạch như một công c ụ nhận thức và hoạt động thực tiễn” [14, tr.389] Như vậy, phương pháp là công cụ tư duy, là phương tiện nhận thức

Trang 16

Trong học tập cũng như trong gi ảng dạy cũng c ần phải có một phương pháp nhất định mới có thể đạt hiệu quả cao Trước đây dạy học văn thường sử dụng phương pháp giáo điều Phương pháp dạy học giáo điều là phương pháp lấy người dạy làm trung tâm Người thầy đóng vai trò chủ đạo và được đề cao tuyệt đối về uy quyền, về chân lí khoa học và là một nguồn cung cấp kiến thức độc tôn cạnh sách giáo khoa Trong phương pháp giáo điều, nguồn kiến thức được “thần thánh hoá”, được cố định hoá một cách tuyệt đối như là nguồn tri thức không được bàn cãi, người học chỉ có việc tiếp nhận ghi nhớ Trong giờ học giáo điều, không khí nặng nề bao quanh lớp học Phương pháp độc tôn được sử dụng là lời nói, thầy đọc trò chép, trò thụ động tiếp nhận nguồn tri thức một chiều gây sự nhàm chán, chưa phát huy được tính chủ động, sáng tạo Kết quả đánh giá phụ thuộc vào khối lượng kiến thức được tái hiện nhiều hay ít, đúng hay sai theo lời giảng của thầy hoặc theo sách giáo khoa Trong thời gian gần đây vấn đề phương pháp giảng dạy nói chung

và phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn nói riêng có nhiều thay đổi nhằm nâng cao hơn hiệu quả dạy và học Hiện nay, chúng ta đang thực hiện phương pháp dạy học theo hướng tích hợp và tích cực nhằm phát huy tính chủ động của học sinh Thầy giáo không còn là trung tâm c ủa vấn đề dạy học mà học sinh mới là trung tâm Người thầy đóng vai trò là người tổ chức, người tham vấn, hướng dẫn học sinh nắm bắt vấn đề còn học sinh giữ vai trò là người hợp tác, tham gia, người học phải thực sự là cộng sự, tham gia, hợp tác để cùng nắm kiến thức Chỉ có con đường đó, người học mới tự cầm chìa khoá chiếm lĩnh tri thức và mới phát huy tối đa tiềm năng trí tuệ, khả năng sáng tạo của bản thân, góp phần vào xây dựng sự nghiệp nước nhà ngày càng văn minh, giàu mạnh, sánh vai cùng các cường quốc năm châu như Hồ Chủ Tịch từng mong đợi Chúng ta - những giáo viên dạy văn không được phép chỉ dừng lại ở phân tích hoàn cảnh ra đời tác phẩm, và không chỉ dừng lại ở việc phân tích bản thể tác phẩm, mà phải đi phân tích tác động, chức năng c ủa tác phẩm đến bạn đọc Đây là một thay đổi tiến bộ trong phương pháp dạy học

Đề cao phương pháp nhưng không hạ thấp vai trò của người thầy Bởi thầy giáo là người quyết định nên sử dụng phương pháp nào có hiệu quả trong từng vấn đề cần giảng dạy Hiện nay, khi nói đến phương pháp gi ảng dạy văn học, chúng ta thường nhắc đến

Trang 17

sáu phương pháp chính: phương pháp diễn giảng, phương pháp đọc - sáng tạo, phương pháp gợi mở, phương pháp dạy học theo nhóm, phương pháp day học nêu vấn đề và phương pháp trực quan Mỗi phương pháp là một con đường để đi vào khám phá tác phẩm nghệ thuật Trong khi dạy tác phẩm văn học, người giáo viên phải biết cách chọn

và phối hợp sáu phương pháp trong quá trình dạy sao cho hiệu quả Có như thế chúng ta mới hoàn thành được mục tiêu dạy văn, người giáo viên mới làm tròn trách nhiệm của mình

Cuộc cách mạng về phương pháp hiện nay đã có tác động to lớn đối với việc đổi mới phương pháp dạy học văn nói chung, ở THPT nói riêng Nếu có sự phối hợp đồng bộ giữa thầy, trò, nhà nghiên cứu khoa học, nhà quản lí, nhà ho ạch định chính sách thì chắc chắn sẽ đem lại hiệu quả như mong đợi

1.2.3 Hoạt động học của học sinh

Khi nói đến hoạt động học cần làm rõ khái niệm học và khái niệm hoạt động học Trong cuộc sống đời thường con người luôn luôn có quá trình tích cực tiếp thu, tích luỹ những kinh nghiệm sống, trên cơ sở đó tạo nên những tri thức tiền khoa học, làm cơ sở tiếp thu những khái niệm khoa học ở trong nhà trường Đó chính là việc học, là cách học theo phương pháp của cuộc sống thường ngày, giống như con người khi sinh ra đến khi chết “học ăn học nói học gói học mở”, “đi một ngày đàng học một sàng khôn”… Trên thực tế, chỉ có phương thức đặc thù (phương thức nhà trường) mới có khả năng tổ chức

để cá nhân tiến hành hoạt động đặc biệt đó là hoạt động học, qua đó hình thành ở cá nhân những tri thức khoa học, năng lực mới phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn; và trong tâm lý học sư phạm, hoạt động học là khái niệm chính được dùng để chỉ hoạt động học diễn theo phương thức đặc thù, nhằm chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo Hoạt động học muốn đạt kết quả cao, người học phải biết cách học, phương pháp học, nghĩa là phải có những tri thức về chính bản thân hoạt động học

Hoạt động học của học sinh THPT nói chung và của học sinh học văn học nói riêng là những hoạt động nhằm chiếm lĩnh tri thức một cách có ý thức Mỗi một môn học

sẽ có những hoạt động học phù hợp với yêu cầu của môn đó Nhưng có lẽ với những đặc

Trang 18

tính riêng biệt mà hoạt động học văn trở nên phong phú đa dạng và sinh động Nó không chỉ đa dạng trong cách học của từng học sinh mà còn đa dạng trong việc chiếm lĩnh tri thức Cùng một vấn đề, một câu thơ nhưng cách hiểu, cách cảm của học sinh A không hoàn toàn giống với học sinh B là một chyện bình thường trong học văn Quá trình dạy học văn không theo một công thức nhất định nào Người giáo viên cũng không thể nào cầm tay chỉ cho các học sinh sin2x + cos2x = 1 mà chỉ có thể nêu lên những cảm nhận của mình rồi định hướng cách hiểu cho các em Từ đó, tùy theo mỗi học sinh mà các em bình phẩm, nhìn nhận, đánh giá theo cách riêng của mình

Chúng ta không nên hiểu hoạt động học của học sinh nói chung và của học sinh học văn học nói riêng chỉ đơn thuần là những hoạt động trên lớp như ghi chép, nghe thầy

cô giảng mà còn là cả một quá trình tự học ở nhà Học văn mà không soạn bài, không đọc trước tác phẩm ở nhà thì không bao giờ học văn được, đừng nói là học giỏi văn, sẽ càng không có hứng thú với môn học Thực tế ngày nay học sinh rất ít đọc sách văn học Ngay

cả việc đọc trước những tác phẩm trong nhà trường là điều rất hiếm Các em xa lạ với những hình tượng văn học, với những câu thơ ngay trong nhà trường Nguyên nhân này

do đâu thì chúng tôi xin được bàn kĩ ở chương ba Học văn là một quá trình khổ luyện, trao chuốt lâu dài “Văn ôn võ luyện” là như thế

Hoạt động học văn này diễn ra thường xuyên suốt những năm các em còn ngồi trên ghế nhà trường Để học tập có hiệu quả thì mỗi em phải tự tìm kiếm cho mình một cách học tập riêng, phù hợp với năng lực của bản thân Công việc này quả là rất khó khăn nhưng bắt buộc học sinh phải làm Có khi sắp thi tốt nghiệp THPT rồi mà các em vẫn chưa tìm ra cho mình một phương pháp học văn có hiệu quả Chúng ta, những giáo viên thực thụ hay trong tương lai cũng không thể đưa ra một cách học văn chung cho tất cả các em mà chỉ có thể trên những yêu cầu chung mà các em tự tìm ra phương pháp cho mình Có thực sự đầu tư thời gian và công sức thì chúng ta mới học giỏi văn, mới có hứng thú với việc học văn

Như vậy, từ sự phân tích trên chúng ta có thể kết luận tiến trình dạy học là một tiến trình thống nhất giữa ba nhân tố tác phẩm văn học – công cụ để giáo viên tác động

Trang 19

vào học sinh, phương pháp dạy học của giáo viên và hoạt động học của học sinh Nếu thiếu một trong ba nhân tố này thì quá tình dạy văn sẽ không diễn ra Là một người giáo viên thì chúng ta phải hiểu và nắm rõ các nhân tố này thì mới có thể hoàn thành mục tiêu của việc dạy văn trong trường THPT

1.3 Các cách hiểu khác nhau về việc học sinh tiếp cận tác phẩm văn học

Trong tiến trình dạy học văn học, việc tiếp cận tác phẩm văn học của học sinh trở thành vấn đề trung tâm Mức độ tiếp cận tác phẩm văn học của các em là thước đo hiệu quả dạy học văn học Tuy nhiên, không phải giáo viên dạy văn nào cũng hiểu như nhau

về bản chất của việc tiếp cận tác phẩm văn học của học sinh trong tiết học văn Có nhiều quan niệm về khái niệm tiếp cận tác phẩm văn học Theo Nguyễn Thanh Hùng trong

cuốn Giáo trình phương pháp dạy học Ngữ văn ở Trung học cơ sở thì coi hoạt động tiếp

cận tác phẩm văn học chỉ là một khâu trong tiến trình chiếm lĩnh tác phẩm văn học

“chiếm lĩnh tác phẩm văn học một cách đầy đủ, bắt đầu từ hoạt động tiếp cận, tiếp đó là hoạt động phân tích, rồi hoạt động cắt nghĩa và cuối cùng là hoạt động bình giá tác phẩm Đây là một hệ thống bao gồm các hoạt động và thao tác không thể đảo ngược theo lôgic nội tại của sự tiếp nhận tác phẩm văn học ở bạn đọc học sinh” [6, tr.77] Còn theo Giáo

sư Phan Trọng Luận thì coi tiếp cận tác phẩm văn học như một phương pháp để chiếm lĩnh tác phẩm và ông luôn đề xuất quan điểm tiếp cận đồng bộ Ở đây chúng tôi theo quan niệm của Giáo sư Phan Trọng Luận, coi tiếp cận tác phẩm văn học như là một phương

pháp Theo Từ điển Tiếng việt của Viện ngôn ngữ thì tiếp cận “là từng bước, bằng những

phương pháp nhất định tìm hiểu một đối tượng nghiên cứu nào đó” [25, tr.987]

Nhiều thập niên qua, việc giảng dạy, tiếp cận tác phẩm văn chương trong nhà ở nước ta đã chịu ảnh hưởng trực tiếp và khá mạnh mẽ của việc biến đổi các khuynh hướng

và phương pháp nghiên cứu, phê bình văn học Có khi đã quá thiên về lịch sử phát sinh,

có lúc lại chịu ảnh hưởng của cấu trúc luận hay văn bản học, quá chú trọng đến bản thân tác phẩm, có khi hướng vào bạn đọc, lại có khi không khép kín trong văn bản hay cường điệu hoá sở thích cảm thụ chủ quan của người đọc đi đến thoát li văn bản Và cũng từ lâu người ta đã phê phán khuynh hướng tiếp cận “phi văn bản”, “ngoài văn bản”, “trên văn

Trang 20

bản” hoặc khuynh hướng tiếp cận không địa chỉ “Nếu tiếp cận tác phẩm văn học từ quan điểm ngữ văn thiên về ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ dụng học thì nội dung tư tưởng thẩm mĩ của tác phẩm đã bị xem nhẹ Tiếp cận tác phẩm theo quan điểm phân tâm học (Psychoanalysis) thì tác phẩm chỉ còn là sự minh họa cho những ẩn ức ấu thơ và mặc cảm bản năng ẩn tàng trong đó Tiếp cận tác phẩm theo quan điểm cấu trúc luận thì việc phân tích cái biểu đ ạt (signification) tuy phong phú và cần thiết nhưng vẫn tách rời nội dung được biểu đạt (signified) trong tác phẩm Còn cách tiếp cận có nhiều di hại khi nghiên cứu và nhất là khi dạy học tác phẩm là đi theo quan điểm xã hội học Cách tiếp cận này thường chỉ biết đối chiếu và so sánh thô thiển bức tranh đời sống được sáng tạo với hình ảnh đời sống thực tế, làm mất đi vai trò và ý nghĩa sáng tạo nghệ thuật của tác phẩm Cách tiếp cận ấn tượng lại quan niệm không cần phân tích đánh giá tác phẩm mà chỉ cần

bổ sung vào ấn tượng của tác giả những ấn tượng của “cuộc phiêu lưu của tâm hồn mình” khi đọc tác phẩm” [6, tr.77] Không phải các cách tiếp cận trên là sai lầm, không phải không có chí ít giá trị về phương pháp nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm song đã bị cường điệu hay máy móc trong phương pháp luận tiếp cận tác phẩm văn chương Nếu không nhìn nhận lại vấn đề sớm nhất định sẽ đưa đến hậu quả thiếu khách quan và phản khoa học khi nhận thức tác phẩm

Tiếp cận tác phẩm văn học là tiếp cận vào thế giới tinh thần Tiếp cận tác phẩm văn học không chỉ là một hoạt động đến gần, làm quen với những sự kiện, hiện tượng và

ý nghĩa mới lạ của tác phẩm Tác phẩm văn học không tự biểu lộ giá trị của mình mà đòi hỏi người đọc phải cố gắng, nỗ lực mới nắm bắt được Cũng như quá trình dạy học, muốn dạy học có hiệu quả thì phải có phương pháp thì muốn chiếm lĩnh, tiếp cận tác phẩm văn học thì phải bằng những phương pháp nhất định

Nói tóm lại, khi tiếp cận tác phẩm văn chương, chúng ta phải xem xét một cách toàn diện, phải lật đi lật lại vấn đề và nhìn nhận theo chiều hướng tích cực, và bao giờ cũng đặt tác phẩm trong mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức Nếu như trong khoa học tự nhiên, chúng ta có thể hiểu hai cộng hai bằng bốn Nhưng trong khoa học xã hội, công thức trên không phải lúc nào cũng đúng Khi tiếp cận các ngành khoa

Trang 21

học tự nhiên, chúng ta dùng lý trí là cơ bản Nhưng để khám phá các ngành khoa học xã hội thì ngoài lý trí còn cần phải có tình cảm, cảm xúc từ bên trong Vì vậy, để giải một bài toán, người ta dùng tư duy lôgic còn cảm nhận bài văn thì phải là tư duy hình ảnh theo qui luật riêng của tình cảm, cảm xúc

CHƯƠNG HAI: VẤN ĐỀ TIẾP CẬN TÁC PHẨM VĂN HỌC

CỦA HỌC SINH THPT 2.1 Bạn đọc và bạn đọc học sinh THPT

Từ xưa đến nay, hoạt động văn học đều vận hành qua các khâu hiện thực – nhà văn – tác phẩm – bạn đọc Mỗi khâu ứng với mỗi vị trí là một sự sắp xếp tất yếu Nếu thiếu đi một yếu tố thì con tàu văn học sẽ không tồn tại và phát triển

Bạn đọc là khâu cuối cùng, có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn tất quá trình sáng tác của nhà văn Vấn đề này không phải là một vấn đề mới mẻ, đã được lật đi lật lại nhiều lần trong kho lí luận văn học Ở đây, chúng tôi lật lại vấn đề bạn đọc với mong muốn làm tiền đề lí luận để đi vào tìm hiểu bạn đọc học sinh THPT có gì khác so với bạn đọc ngoài đời

2.1.1 Bạn đọc

Hầu hết các cuốn sách lí luận văn học ở nước ta ít hay nhiều đều cập đến vấn đề bạn đọc Mỗi cuốn sách, mỗi nhà nghiên cứu có một định nghĩa, một quan niệm khác

nhau về bạn đọc theo cách hiểu của riêng mình Trong cuốn Giáo trình lí luận văn học do

Giáo sư Trần Đình Sử chủ biên, bạn đọc được định nghĩa là “Người tiếp nhận văn bản nghệ thuật của nhà văn và c ấp cho nó một số phận lịch sử Không có người đọc, văn bản chỉ còn tồn tại ở khía cạnh vật thể, không thể tham gia được vào đời sống ý thức xã hội

như một nhân tố tích cực” [19, tr.189] Còn trong cuốn Lí luận văn học, tập 1 do Phương

Lựu chủ biên, tuy chưa đưa ra một định nghĩa c ụ thể nhưng sau khi đưa ra một loạt những quan niệm về bạn đọc từ trước đến nay, các tác giả cũng lí giải vai trò của bạn đọc trong việc tiếp nhận tác phẩm như sau: “Như thế, gạt bỏ những quan niệm sai trái mang sắc thái riêng, có thể thấy từ lối đọc “ký thác” cổ điển phương Đông đến Mỹ học tiếp nhận phương Tây đều nhấn mạnh ý nghĩa tiếp nhận của người đọc Có thể khẳng định vai

Trang 22

trò của người đọc không chỉ là một khâu tất yếu tiếp theo, mà còn là một phương diện hữu cơ trong suốt quá trình sáng tạo của người đọc Có nghĩa là không phải sau khi xuất hiện văn bản của tác phẩm, mà ngay trong sáng tác của nhà văn, từ khâu c ấu tứ, viết, sửa chữa, nhà văn đều đối thoại với bạn đọc trong tưởng tượng Trong tâm tưởng của nhà văn chủ ý hay vô tình, đều tồn tại một mô hình tiếp nhận và sáng tác của họ ít nhiều đều xuất phát từ mô hình này Tuy nhiên không thể cường điệu vai trò của người đọc lên địa vị trung tâm của hoạt động văn học, bởi vì một lẽ giản đơn nếu chưa có sáng tác thì dứt khoát không thể có tiếp nhận, còn nếu không hoặc chưa có tiếp nhận, vẫn có thể sáng tác cho dù chưa phát huy được tác dụng” [14, tr.330]

Từ cách hiểu này mà các tác giả phân biệt người đọc có hai lo ại: người đọc tìm ẩn

và người đọc thực tế Đây cũng là cách phân chia khá phổ biến Người đọc tiềm ẩn là

“chỉ hình ảnh người đọc xuất hiện trong niềm mong đợi của nhà văn khi quá trình sáng tạo vừa khởi động và hình ảnh này phần nào được chuyển hóa thành một yếu tố hiện diện trên văn bản” [19, tr.190] Còn người đọc thực tế là một “Khái niệm chỉ đối tượng tiếp nhận tác phẩm văn học tồn tại thật trong cuộc đời Đối tượng tiếp nhận này rất phong phú,

đa dạng, mở ra không cùng trong không gian và thời gian, vượt khả năng bao quát của tác giả, không nhất thiết phải trùng khớp và không thể nào trùng khớp với độc giả tiềm ẩn” [19, tr.190] Như thế, hình ảnh bạn đọc không chỉ xuất hiện ngay sau khi tác phẩm hoàn thành mà xuất hiện cùng một lúc với ý tưởng sáng tác của nhà văn Tuy nhiên bạn đọc ngoài đời phức tạp hơn bạn đọc trong tâm tưởng nhà văn rất nhiều Họ thuộc nhiều tầng

lớp, nhiều ngành nghề, nhiều thế hệ, nhiều các tính,…khác nhau Theo cuốn Giáo trình lí

luận văn học do Giáo sư Tr ần Đình Sử chủ biên thì trong người đọc thực tế có ba lo ại:

loại người đọc có “khẩu vị” bình dân, chỉ ưa và quen thưởng thức những tác phẩm thuộc dòng văn hóa đại chúng, ít quan tâm tới các sáng tác mang tính chuyên nghiệp; loại người đọc có sự đào luyện nhất định trong môi trường văn hóa tri thức, thích đọc, thích bàn luận

về văn chương, có những kiến giải đúng, nhưng chưa xem chuyện văn chương là “một phần tất yếu của cuộc sống” và loại người đọc có trình độ chuyên môn cao thường được liệt vào giới văn học như các nhà văn, nhà biên tập, nhà phê bình… Còn theo các tác giả

Trang 23

trong cuốn Lí luận văn học tập 1 do Phương Lựu chủ biên thì phân chia người đọc thực tế

thành năm loại: một là, loại người đọc có trình độ văn hóa thấp, có thể hiểu và thích thú văn học dân gian nhưng đối với sáng tác chuyên nghiệp, tỏ ra ít có quan hệ; hai là, những người có trình độ văn hóa phổ thông, chủ yếu đọc văn học để giải trí, chưa có đầu óc nhận xét, phân tích đáng kể; ba là, người tốt nghiệp trung học, sinh viên đ ại học, thích đọc văn học với những nhận xét riêng có thể tranh luận và trao đổi; bốn là, những người tốt nghiệp đại học văn khoa hoặc các ngành khác, ưa thích văn học, trong đó có bác sĩ, kĩ

sư, nghệ sĩ, nhà giáo…; năm là, giới văn học, bao gồm nhà sáng tác, lí luận phê bình, biên tập viên… Chúng ta thấy hai cách chia này có khác nhau nhưng đều dựa trên năng lực cảm thụ hay nói cách khác dựa trên tầm đón nhận của bạn đọc mà phân chia Tuy nhiên, cách chia của Giáo sư Phương Lựu có phần cụ thể hơn

Nhưng dù thuộc loại nào, muốn cảm thụ được tác phẩm văn học thì trước hết người đọc phải giải mã hệ thống kí hiệu ngôn ngữ mới có thể thâm nhập được vào thế giới tình c ảm xã hội thẩm mỹ sâu thẳm bên trong, mới thấy được cái hay, cái đẹp của một tác phẩm nghệ thuật, mới yêu, mới thích đọc, mới làm phong phú thêm đời sống tinh thần của mình

2.1.2 Bạn đọc học sinh THPT

Bạn đọc học sinh THPT cũng là một chủ thể tiếp nhận văn học Nhưng từ bạn đọc ngoài đời đến bạn đọc học sinh THPT không thật trùng khít nhau Khi nói đến bạn đọc học sinh THPT là chúng ta nói đến một loại người đọc cụ thể, được đặt trong một môi trường cụ thể - môi trường sư phạm nên mọi hoạt động của bạn đọc THPT đều phải tuân theo sự sắp đặt, sự quản lý của nhà giáo dục và nhà biên soạn sách giáo khoa

Trước hết, chúng ta thấy rằng độc giả ngoài đời có thể đọc tác phẩm vào bất cứ thời điểm nào; cũng có thể đọc nửa chừng rồi xếp lại đó không cần đọc nữa và nếu như

có tiếp tục đọc vào một thời gian khác cũng hoàn toàn phụ thuộc vào c ảm hứng của họ Ngược lại, đối với học sinh THPT, việc đọc các tác phẩm văn chương là một nhu cầu bắt buộc, không cần biết là có thích hay không thích Và hơn thế, việc học sinh THPT đọc tác

phẩm vào lúc nào cũng bị quy định chặt chẽ bởi kế hoạch dạy học Ngày mai học Vợ

Trang 24

chồng A Phủ của Tô Hoài mà các em đọc và soạn bài Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn

Minh Châu thì việc học văn sẽ không có hiệu quả Đành rằng việc đọc và chuẩn bị bài trước của các em là rất quý nhưng bài học ngày hôm sau các em không được phép bỏ Học văn không như học toán Học văn là các em phải đọc tác phẩm, phải nghiên cứu, chuẩn bị bài ở nhà Chính vì thế, khi gọi học sinh lên kiểm tra bài cũ, giáo viên luôn làm công việc kiểm tra vở soạn của các em Hơn nữa, bạn đời ngoài đời có thể tự do lựa chọn tác phẩm để đọc, còn bạn đọc học sinh nói chung, học sinh THPT nói riêng thì phải đọc, phải học những tác phẩm mang tính bắt buộc và các tác phẩm ấy luôn được sắp xếp theo một trình tự nhất định nào đó nhằm bảo đ ảm hiệu quả cao nhất cho việc chiếm lĩnh ý nghĩa của nó

Quan trọng hơn là người đọc bên ngoài đọc tác phẩm mà không có sự hướng dẫn của ai, tự mình chiếm lĩnh tác phẩm, có thể dựa vào những bài lí luận, phê bình để thẩm định tác phẩm Còn bạn đọc học sinh THPT thì tiếp nhận tác phẩm dưới sự tổ chức dẫn dắt của giáo viên Trong nhà trường luôn luôn kết hợp hài hòa giữa cảm thụ cá nhân học sinh với định hướng sư phạm của người thầy Các em có thể có những lí giải riêng, sự sáng tạo riêng trong tiếp nhận, nhưng sự sáng tạo đó phải được giáo viên thông qua thì sự sáng tạo đó mới có ý nghĩa Đó là chưa kể, học sinh học tác phẩm, tiếp nhận tác phẩm trong môi trường tập thể, mà sự tương tác qua lại giữa giáo viên và các học sinh khác cũng tạo nên những tác động sâu sắc đến một người học cụ thể Bạn đọc thông thường nhiều khi cũng chẳng quan tâm đến tác giả, hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm Họ chỉ cần biết tác phẩm đó có hay, có hấp dẫn, có hợp với thị yếu của mình hay không Còn học sinh trong nhà trường phải tìm hiểu tác giả, hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm để có một cái nhìn, một cái cảm đúng về tác phẩm

Động cơ tiếp nhận văn học của bạn đọc ngoài đời cũng không giống như động cơ tiếp nhận của bạn đọc học sinh THPT Người đọc ngoài đời đến với tác phẩm bằng nhiều mục đích khác nhau: người đọc tìm đến tác phẩm với mong muốn mở mang trí tuệ; trao dồi, bồi dưỡng về tư tưởng, đ ạo đức, lí tưởng; muốn học hỏi kinh nghiệm,…thậm chí đọc tác phẩm với mục đích giải trí, ru ngủ Có thể nói có bao nhiêu bạn đọc là có bấy nhiêu

Trang 25

động cơ tiếp nhận Còn đối với bạn đọc học sinh thì việc đọc tác phẩm trước hết là để học tác phẩm chuẩn bị cho các kì thi; rồi sau đó mới đến trau dồi năng lực cảm thụ tác phẩm Chỉ có một số ít em đọc tác phẩm để thỏa mãn sở thích, để bồi đ ắp tình cảm thẩm mỹ, đạo đức, lí tưởng cho mình

Là một người giáo viên nắm được đặc điểm của bạn đọc học sinh là một điều rất cần thiết trong quá trình gi ảng dạy văn Có hiểu được đối tượng dạy học của mình, người giáo viên mới có thể làm tốt vai trò của một nhà giáo, mới hoàn thành được mục tiêu giảng dạy

2.2 Tác phẩm văn học và tác phẩm văn học trong nhà trường THPT

Cũng là sản phẩm của nhà văn, nhưng tác phẩm trong nhà trường không hoàn toàn giống với tác phẩm ngoài đời Vậy sự khác nhau đó là do những nguyên nhân nào Chúng

ta sẽ lần lượt đi tìm hiểu những nét khu biệt của tác phẩm văn học và tác phẩm văn học trong nhà trường

2.2.1 Tác phẩm văn học

Từ khi loài người xuất hiện cho đến nay, dường như, không một sản phẩm tinh thần nào lại được xã hội quan tâm rộng rãi như tác phẩm văn chương Để lí giải thực tế

đó, có người đi từ bản chất nhân văn phổ biến của tác phẩm văn chương, có người lại đi

từ bản chất ngôn từ sâu rộng của tác phẩm văn chương để tìm câu trả lời Ưu thế của tác phẩm văn chương so với các sản phẩm tinh thần khác của con người là ở đó Mà sự phức tạp của tác phẩm văn chương so với các sản phẩm tinh thần ấy cũng từ đó mà ra Ai cũng quan tâm, ai cũng có thể bàn luận về tác phẩm văn chương, thậm chí ai cũng có thể đưa

ra quan niệm tác phẩm văn chương c ủa riêng mình Rồi cho đến bây giờ, khó có thể liệt

kê những quan niệm về tác phẩm văn chương đã từng được công bố mà lại không e sợ rơi vào thiếu hụt, dẫu đó chỉ là những quan niệm cơ bản nhất, những phát ngôn có thẫm quyền nhất cho mọi thời đại Cho nên, chúng ta chỉ còn mỗi một việc là phải bằng mọi cách xác lập quan niệm tác phẩm văn chương cho bản thân Và chúng tôi theo quan niệm

về tác phẩm văn học của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong

Từ điển thuật ngữ văn học do Nhà xuất bản Giáo dục phát hành năm 2009 Các tác giả

Trang 26

định nghĩa tác phẩm văn học là “công trình nghệ thuật ngôn từ do một cá nhân hoặc tập thể sáng tạo nhằm thể hiện những khái quát bằng hình tượng về cuộc sống con người, biểu hiện tâm tư, tình cảm, thái độ của chủ thể trước thực tại Tác phẩm văn học có thể tồn tại dưới hình thức truyền miệng hay hình thức văn bản nghệ thuật được ghi giữ qua văn tự, có thể được viết bằng văn vần hoặc văn xuôi” [7, tr.290]

Như vậy, tác phẩm văn học là một sản phẩm tinh thần do con người tạo ra để thỏa mãn nhu c ầu giải bày tình cảm và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau Trong văn học nói chung, trong dạy học văn nói riêng, chúng ta cần phân biệt văn bản văn học và tác phẩm văn học Hai khái niệm này tuy “thống nhất nhưng không nhất” [20, tr.25] Nếu văn bản văn học là sản phẩm của nhà văn, nội dung và hình thức của nó thể hiện thế giới quan và tài năng của tác giả nằm trong chính tác phẩm (ở dạng “vật chất”), thì tác phẩm văn học chính là sự bộc lộ và cảm nhận được nội dung và hình thức của nó thể hiện thế giới quan và tài năng của tác giả nằm trong chính người tiếp nhận (bên ngoài văn bản)

Đó là dạng tồn tại đặc biệt của văn bản - dạng “tinh thần” Một văn bản trở thành tác phẩm khi văn bản đó được người tiếp nhận thưởng thức, lĩnh hội và cảm nhận về nó Văn bản văn học lúc đó không đơn thuần chỉ là những con chữ mà thực sự được tái hiện một cách sinh động trong trí tưởng tượng, tình cảm của người lĩnh hội Nói một cách đơn giản hơn: văn bản văn học là sản phẩm của nhà văn khi chưa được người đọc lĩnh hội còn tác phẩm văn học là văn bản văn học đã được người đọc lĩnh hội và cảm nhận Chúng ta gọi văn bản văn học khi tiếp nhận trên tay mình hay nhìn thấy, đọc lướt qua một câu truyện, một bài thơ hay một cuốn tiểu thuyết nào đó, còn tác phẩm văn học là khi chúng ta đã tiếp nhận và lĩnh hội cả về nội dung và hình thức của văn bản văn học Lúc đó người tiếp nhận không chỉ là cầm, nhìn, đọc, lắng nghe mà thực sự phải trải nghiệm, phải “sống” cùng văn bản thì văn bản văn học mới trở thành tác phẩm văn học được Văn bản phụ thuộc và tác giả nên nó có các đặc điểm, nội dung, ý nghĩa không thay đổi, còn tác phẩm thì phụ thuộc vào người tiếp nhận nên nó rất đa dạng về nội dung và ý nghĩa (có thể là cả hình thức nữa như trong văn học dân gian) Có một câu nói phổ biến thể hiện mối quan

hệ này “văn bản là duy nhất, tác phẩm là muôn vàn” là bởi vậy

Trang 27

Không phải người viết dài dòng, nhưng sự thật, việc phân biệt hai khái niệm văn bản văn học và tác phẩm văn học có một ý nghĩa to lớn Xét về mặt lí luận nghiên cứu

“Sự phân biệt văn bản và tác phẩm, trước hết nhằm khẳng định tổ chức ngôn ngữ của văn bản là cơ sở của ý nghĩa, tách rời với văn bản ngôn ngữ thì không tồn tại ý nghĩa của tác phẩm” [20, tr.28] Hơn nữa, với sự phân biệt đó sẽ cho chúng ta thấy được “đặc trưng

“tính văn học” của văn bản văn học Từ một văn bản mà các người đọc với năng lực, kinh nghiệm, thị yếu khác nhau có thể tạo thành những tác phẩm với những điểm nhấn khác nhau” [20, tr.28] Ngoài ra, sự phân biệt đó còn khẳng định “người đọc là nhân vật then chốt trong việc thực hiện hóa ý nghĩa c ủa tác phẩm” [20, tr.28], đồng thời “cho người ta thấy tác phẩm là một quá trình năng động trong dòng chảy lịch sử [20, tr.28] Xét về mặt giảng dạy, người giáo viên c ần phân biệt hai khái niệm này để có một tiền đề lí luận văn học đúng đắn, để không tác rời văn bản văn học của nhà văn với sự tiếp nhận của bạn đọc sinh

2.2.2 Tác phẩm văn học trong nhà trường THPT

Tác phẩm văn học ngoài đời với tác phẩm văn học trong nhà trường không hoàn toàn giống nhau Chỉ thêm mấy tiếng thôi nhưng bao nhiêu vấn đề phải đ ặt ra “Đành rằng một tác phẩm văn học trong nhà trường cũng chứa đựng những đặc điểm của một tác phẩm văn học như một đối tượng thẩm mĩ, một sáng tạo của nhà văn Nhưng tác phẩm văn học trong nhà trường còn mang thêm tính chất nhà trường, tính chất môn học của nó” [13, tr.184] Nói một cách khác “Từ văn chương đến văn chương nhà trường, từ sáng tác của nhà văn đến bài văn trong sách giáo khoa, từ bạn đọc ngoài đời đến bạn đọc học sinh, từ quy luật và nguyên tắc sáng tác ở nhà văn đến quy luật và nguyên t ắc tiếp nhận của học sinh…tất cả đều khúc xạ và chiết quang đi trong môi trường sư phạm”[8, tr.84] Chính môi trường sư phạm đã làm nên tính khu biệt của tác phẩm văn học trong nhà trường

Trước hết chúng ta thấy rằng: không phải mọi tác phẩm văn học đều có thể đem vào giảng dạy trong trường THPT và người giáo viên cũng không thể tùy tiện lấy một tác phẩm bất kỳ đem lên lớp giảng dạy và nói với học sinh rằng đây là một tác phẩm hay, rất

Trang 28

bổ ích cho các em trong việc hoàn thiện nhân cách cho mình, đáng để được học Mọi tác phẩm văn học trước khi đưa vào chương trình giảng dạy phải chịu sự sàng lọc ghê gớm của người soạn sách theo những yêu cầu của cơ quan giáo dục Đây hoàn toàn không phải

là công việc tùy hứng, tùy tiện mà là một công việc phức tạp Thậm chí, kể cả đối với những người đứng ra thực hiện công việc này cũng không tránh khỏi những băn khoăn:

“Những tác phẩm hay không nhất thiết đã có thể chọn dạy trong nhà trường Một tác phẩm hay và tốt nhiều khi vẫn không thể và không có điều kiện giữ nguyên vẹn khi đi vào sách giáo khoa Nhiều câu ca dao hay vẫn không thể có mặt trong sách giáo khoa lớp

10 Có những miêu tả có giá trị trong Chí phèo của Nam Cao vẫn phải loại ra ngoài bài

trích Những bài văn thơ c ủa Nguyễn Du trích vào sách giáo khoa chưa phải là những bài sáng tác hay nhất của đại thi hào” [8, tr.178] Rõ ràng, dù muốn hay không, khi tuyển một tác phẩm văn học vào chương trình dạy học, thì các nhà biên soạn cũng phải trả lời rất nhiều những câu hỏi Chẳng hạn: tác phẩm có thể cung cấp cho học sinh những kiến thức nào? Bên cạnh những hiểu biết về tác phẩm mới, tác phẩm đó còn giúp học sinh hiểu biết

gì thêm về lịch sử văn học, lý luận văn học, Tiếng Việt, Làm văn không?… Dạy học tác phẩm này có thể hướng tới rèn luyện những kỹ năng nào cho học sinh? Hiệu quả giáo dục

tư tưởng, tình cảm thẩm mỹ của tác phẩm như thế nào? Sở dĩ phải trả lời các câu hỏi đó

là bởi việc dạy học tác phẩm cho học sinh phải nhằm vào nhiều mục tiêu khác nhau “Tác phẩm văn chương trong nhà trường không chỉ là một phương tiện nhận thức mà còn là một đối tượng thẩm mĩ đồng thời còn là một cơ sở để hình thành những hiểu biết về lịch

sử văn học lại vừa là một công cụ giáo dục đặc biệt giúp học sinh tự phát triển một cách toàn diện về nhân cách [8 tr.179]

Hơn nữa, các tác phẩm văn học trong nhà trường phải được đặt trong một hệ thống lịch sử chặt chẽ, phải được tính toán và sắp xếp theo một hệ thống giáo dục đào tạo với những nguyên tắc sư phạm của nó Không thể đem một tác phẩm được sáng tác ở thời kì Trung đại sang dạy ở thời kì Hiện đại Và người giáo viên khi giảng dạy phải có ý thức đảm bảo tính hệ thống đó Ngoài ra tính khu biệt của các tác phẩm văn học trong nhà trường còn do chủ thể tiếp nhận – bạn đọc học sinh quy định Bạn đọc học sinh THPT có

Trang 29

đặc điểm tâm sinh lý riêng, không giống như bạn đọc ở ngoài đời Bản thân các em có một tầm đón nhận riêng và năng lực cảm thụ của các em luôn luôn được định hướng và nhân lên bởi sự điều khiển của giáo viên

Như vậy, từ khâu tuyển chọn đến khâu tiếp nhận đã cho thấy được sự khác biệt của tác phẩm văn chương trong nhà trường với tác phẩm ngoài đời sống, mà cụ thể là sự khác nhau giữa một bên là đối tượng học tập, một bên là đối tượng của việc thưởng thức, thưởng ngoạn tự do Là một người giáo viên dạy văn cần chú ý thích đáng đến đặc trưng riêng của tác phẩm văn chương trong nhà trường thì mới giải quyết được thấu đáo những vấn đề cơ bản về quan niệm dạy học cũng như thực tiễn dạy học những tác phẩm văn chương cụ thể trong nhà trường

2.3 Vai trò của giáo viên trong vi ệc định hướng học sinh tiếp cận tác phẩm văn học trong nhà trường THPT

Người xưa có câu “Học thầy không tầy học bạn” Nhưng người xưa cũng có nói:

“Không thầy đố mày làm nên” đủ cho thấy vai trò của người thầy trong quá trình dạy học Lật lại vai trò của người thầy trong dạy học tưởng chừng như là một vấn đề quá xưa cũ Nhưng sẽ là tiền đề để chúng ta đi vào tìm hiểu vai trò của người thầy dạy văn Bởi nghề dạy văn là một nghề hay nhất nhưng cũng là nghề khó nhất, bởi nó vừa là khoa học, vừa

là nghệ thuật Nó có thể là cái hấp dẫn ở giờ này mà nhàm chán ở giờ kia Việc tìm hiểu vai trò của người giáo viên trong việc định hướng học sinh tiếp cận tác phẩm văn học trong nhà trường THPT có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao chất lượng dạy văn, đồng thời sẽ là tiền đề để đi vào khám phá những phần những chương tiếp theo của một công trình nghiên cứu

2.3.1 Thầy giáo – nhân tố trung gian quan trọng giữa tác phẩm và học sinh

Trong những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy diễn ra khá sôi động và

vị trí của người giáo viên trong dạy học cũng được dịch chuyển Vị trí trung tâm c ủa người thầy giáo không còn ở nghĩa nguyên thủy và đã bắt đầu dịch chuyển sang học sinh Người thầy không còn là vấn đề trung tâm của quá trình dạy học mà chỉ là người đóng vai trò là người gợi mở, dẫn dắt, hướng dẫn học sinh trong quá trình học Người học sinh

Trang 30

không còn là người học thụ động chỉ biết ghi chép, thu âm những lời giảng của giáo viên

mà phải là tự thân vận động để chiếm lĩnh tri thức Sự đổi mới này đã đem lại một số hiệu quả nhất định trong việc nâng cao chất lượng giáo dục

Việc dạy học tác phẩm văn học trong nhà trường cũng đổi khác nhiều Từ phương pháp dạy tác phẩm văn học truyền thống là yêu c ầu giáo viên khám phá tác phẩm một cách sâu sắc, biến tác phẩm văn học của nhà văn thành tác phẩm giảng văn c ủa chính mình rồi truyền thụ lại cho học sinh sao cho hấp dẫn, học sinh ghi lại lời giảng của thầy rồi về nhà học thuộc, mối quan hệ giữa tác phẩm với học sinh hầu như bị cắt đứt thì cũng được chuyển sang áp dụng phương pháp dạy văn mới là không phải giáo viên truyền thụ lời giảng của mình mà là làm sao để chủ thể học sinh, dưới sự hướng dẫn của thầy, cảm nhận, chiếm lĩnh tác phẩm Tạo được sự phát triển toàn diện về tâm hồn, trí tuệ, nhân cách, năng lực Nói một cách khác là người thầy phải ở giữa tác phẩm và học sinh, đóng vai trò trung gian trong quá trình tiếp cận

Với vai trò trung gian trong giờ dạy văn, để giúp học sinh giải mã ý nghĩa tác phẩm thầy giáo có thể trực tiếp gợi ý, nêu vấn đề đối thoại dẫn dắt học sinh tự tiếp cận tìm ra ý nghĩa, nhưng đôi khi với vốn sống, sự hiểu biết còn hạn chế của các em thì có những vấn đề các em không thể tự trả lời được hay trả lời, cảm nhận một cách vụn vặt hời hợt Mà hình tượng văn học thì sâu kín, ngay đến thầy giáo còn có khi bóp đầu bóp trán vẫn chưa thấy được hết ý nghĩa Những lúc đó không nên để học sinh tự bơi Người giảng phải đặt mình ở địa vị của học sinh để thấy được khó khăn của học sinh khi c ảm thụ tác phẩm, từ đó đặt cho mình nhiệm vụ rút ngắn khoảng cách giữa học sinh với tác phẩm bằng cách tái hiện lại tác phẩm, khơi gợi, huy động cả những ấn tượng đã có ở học sinh và bồi đắp thế giới ấn tượng của học sinh bằng những ấn tượng của chính mình với những lời phân tích diễn giảng kém theo - tất nhiên - nhằm giúp học sinh tiếp cận và cảm hiểu tác phẩm

Một tác phẩm văn học trong nhà trường bao giờ cũng được đặt trong mối quan hệ gắn bó giữa ba thành tố: nội dung tư tưởng của tác phẩm, tâm hồn của giáo viên, tâm hồn học sinh Và “Trong giờ giảng văn có tiếng nói c ủa nhà văn, có tiếng hỗ trợ của giáo viên

Trang 31

và có sự tiếp nhận chủ động, có ý thức của người học sinh với tư cách là bạn đọc thông minh, sáng tạo Thiếu cộng hưởng cảm xúc là thiếu đi một phương diện cực kì quan trọng trong cơ chế giảng văn, là vô hiệu hóa vai trò chủ động của bản thân người học sinh Công việc giảng văn trở thành công việc đơn phương truyền thụ từ phía giáo viên” [12, tr.195], sẽ đẩy các em vào tình tr ạng thụ động, luôn luôn chờ đợi những kết quả mà người khác cảm nghĩ hộ, mất khả năng tự mình thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm văn chương để nói lên những cảm nhận, những rung động của chính bộ óc, con tim của mình bằng chính lời lẽ của mình Giáo viên không nên, không cần cảm thụ hộ học sinh

mà phải là người đứng ra tổ chức quá trình chiếm lĩnh tác phẩm của học sinh Nếu mỗi tác phẩm văn chương là một loại rượu khác nhau thì thầy cô giáo là người dạy cho học sinh cách thưởng thức từng loại rượu ấy Học sinh phải được uống rượu để biết hương vị nhạt nồng của nó ra sao, người nấu rượu đã khéo léo, tinh tế như thế nào Từ chỗ thấm thía cái tinh hoa tinh túy của rượu các em mới có thể nói về thứ mà mình vừa được uống bằng chính những cảm nhận sâu sắc của mình mà không gượng gạo, sáo rỗng

Tuy vị trí của người thầy là đứng giữa môn học nhưng không quá xa cách với học sinh mà ở cạnh học sinh như một hướng dẫn viên, kích thích và duy trì hứng thú học tập của học sinh Không chỉ có ở trên lớp, người giáo viên phải rèn luyện kỉ năng tự học ở nhà cho học sinh Bởi tự học mà không biết cách thì sẽ các em sẽ không đem lại hiệu quả,

mà không đem lại hiệu quả thì các em sẽ chán nản và sợ luôn môn học đó, thậm chí các

em sẽ ác cảm với nó Có tự học các em mới chủ động nắm lấy kiến thức Điều này rất quan trọng bởi “kiến thức là những gì còn lại sau khi ta đã quên hết những điều đã học” Các em có thể quên bài học về một tác phẩm văn học nhưng cách ứng xử đẹp của một nhân vật hay câu nói hay c ủa một nhân vật nào đó làm cho các em nhớ mãi, ấy là kiến thức

Chính vì thế mà có thể khẳng định: dạy học tác phẩm văn chương là một loại hình dạy học đặc thù, đòi hỏi sự nỗ lực sáng tạo của cả hai phía người thầy và học sinh Vai trò của người thầy không phải là đứng ngoài cuộc lí giải, nhận xét, cũng không phải là máy radio chỉ biết hát mà phải đứng ở giữa tác phẩm và học sinh với tư cách là người

Trang 32

định hướng cho mọi hoạt động tiếp cận tác phẩm văn học Để nâng cao năng lực học văn cũng như làm cho các em yêu thích môn văn thì giờ dạy học tác phẩm nhất thiết phải tiến hành theo quy trình được thiết kế bằng một hệ thống thao tác, hệ thống việc làm để học sinh thật sự có được sự hoạt động trí tuệ từ bước tri giác ngôn ngữ, tái tạo, tưởng tượng, liên tưởng, cắt nghĩa, bình giá, phân tích theo con đường cảm xúc hóa phù hợp với quy luật cảm thụ văn chương

2.3.2 Thầy giáo – nhân tố quyết định hiệu quả của tiến trình tiếp cận tác phẩm văn học

Ngày nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ, sự bùng nổ về thông tin, đ ặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của internet và công nghệ truyền thông đã có những ảnh hưởng lớn tới cuộc sống con người Bên cạnh đó, sự phát triển của nền kinh tế đất nước,

xu thế hội nhập kinh tế quốc tế cũng ngày càng ảnh hưởng mạnh mẽ đến dạy học nói chung, đến vai trò của người thầy nói riêng Trong dạy học xuất hiện nhiều hình thức giảng dạy mới như dạy học trên truyền hình, dạy học thông qua internet (trực tuyến)… Với các phương tiện dạy học hiện đại, các phương pháp dạy học mới đã làm thay đổi đáng kể quá trình, cách thức truyền đạt tri thức từ thầy giáo tới người học Vai trò của người thầy cũng được nhìn nhận lại Từ vị trí trung tâm, chủ động truyền thụ kiến thức, kinh nghiệm cho người học, vai trò người thầy ngày nay đang dịch chuyển theo hướng chỉ đạo, định hướng, tư vấn, hướng dẫn người học… Người học trở thành trung tâm c ủa quá trình dạy học, chủ động, sáng tạo tìm tòi, khám phá, chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp Điều này không có nghĩa là vai trò c ủa người thầy bị giảm xuống mà ngược lại càng được nâng cao hơn trở thành nhân tố quyết định cho chất lượng giáo dục Trong dạy học văn nói riêng thầy giáo luôn luôn gi ữ vai trò quyết định cho hiệu quả hoạt động học văn của học sinh Bởi người thầy là người định hướng cách hiểu, giải thích cách hiểu;

là người xây dựng, rèn luyện kĩ năng học văn cho các em; là người kiểm tra, đánh giá năng lực…

Đối tượng dạy và học của phân môn văn học là tác phẩm văn học Tác phẩm văn học vốn đa nghĩa, l ại mang tính trừu tượng nên khi tiếp cận sẽ có rất nhiều quan điểm khác nhau Hơn nữa, đối tượng tiếp cận không phải là vật vô tri, vô giác như tấm vải của

Trang 33

người thợ may, viên gạch của người thợ hồ hay khúc gỗ của người thợ mộc mà là một con người, biết vận động, biết suy nghĩ, biết giao tiếp, biết tìm tòi và khám phá Do vậy một vấn đề trong văn học sẽ được hiểu và quan niệm rất khác nhau Tuy nhiên văn học lại là một ngành khoa học nên cũng cần tính chính xác Do vậy để học sinh hiểu đúng và hiểu sâu một vấn đề nào đó trong văn học là hết sức khó khăn và gian lao vất vả Chẳng

hạn bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử có nhiều cách tiếp cận không giống nhau: có

người chủ yếu khai thác tác phẩm như một bức tranh đẹp về phong cảnh và con người xứ Huế; có người lại xuất phát từ mối tình Hàn Mặc Tử – Hoàng Thị Kim Cúc để biến bài thơ thành tiếng lòng xót xa, tuyệt vọng trước một tình yêu đơn phương; ho ặc những từ ngữ sau đây trong bài thơ ấy phải hiểu như thế nào cho đúng: “mặt chữ điền”, “khách đường xa” Có thể nói, bao nhiêu học sinh, bao nhiêu vấn đề thì có vô vàng cách hiểu Người giáo viên phải làm công việc là kiến giải về câu thơ, bài thơ, chọn lọc ra những cách hiểu đúng và lí giải những cách hiểu sai Chính vì thế, vai trò của giáo viên rất quan trọng, đòi hỏi người giáo viên phải luôn chủ động nắm rõ vấn đề để dẫn dắt, định hướng cho các em một cách hiểu đúng nhất Phải làm sao cho c ác em thấy được tính đa nghĩa của tác phẩm văn học nhưng c ần phải biết cách hiểu nào là hợp lí nhất Người giáo viên dẫn dắt như thế nào để vừa đảm bảo học sinh là người đồng sáng tạo tác phẩm, vừa không để các em lạc hướng quá xa tác phẩm, thậm chí sa vào những liên tưởng và tưởng tượng phi văn bản, lại phụ thuộc chủ yếu vào trình độ học vấn, khả năng cảm thụ và bản lĩnh của người thầy giáo Chúng tôi tin chắc rằng, nếu chúng ta dạy được như thế, học sinh chẳng những tho ải mái mà còn rất thích học văn Học sinh sẽ có hứng thú, tập trung chú ý tích cực tham gia xây dựng bài, sáng tạo trong quá trình học tập

Nói thế không phải là đưa thật nhiều kiến thức văn học vào giảng dạy mới là dạy hay, dạy giỏi Theo chúng tôi nghĩ, dạy hay, dạy giỏi là dạy cho học sinh vừa dễ tiếp thu, thực hành được, hiểu và nắm vững vấn đề Học sinh tiếp thu và biết vận dụng kiến thức

ấy trong nhà trường (làm bài tập), ngoài đời sống xã hội (thực hành, ứng xử tình huống)

là kết quả của việc dạy giỏi, dạy hay Dạy giỏi, dạy hay có lẽ không phải chỉ được đánh giá qua tiết dạy trên lớp của người thầy mà phải được đánh giá ở những gì đọng lại trong

Trang 34

lòng, trong trí từng học sinh sau giờ dạy văn, hơn nữa, sau một học kỳ, một năm, thậm chí đến nhiều năm sau khi học sinh đã vào đời Có thể những kiến thức người thầy truyền đạt cho học sinh theo suốt với các em trong cả cuộc đời, trở thành một quan niệm sống đúng đắn Vậy, để làm sao nâng cao hiệu quả dạy văn cũng như hiệu quả của tiến trình tiếp cận tác phẩm? Để trả lời cho câu hỏi đặt ra không đơn giản tý nào Theo chúng tôi,

để làm được điều này đòi hỏi người thầy phải không ngừng phấn đấu ở nhiều mặt: một là, người giáo viên phải có tâm huyết, nhiệt tình với nghề dạy văn Đây là yếu tố vô cùng quan trọng Có tâm huyết mới truyền được linh hồn của bài học đến học sinh Nếu không tâm huyết thì bài học chỉ toàn là câu chữ khô khan, thiếu hẳn sức sống và sự sinh động của nó Có tâm huyết, người giáo viên mới dồn công sức để tìm tòi cách truyền đạt nào cho có hiệu quả nhất đối với học sinh, tìm cách đưa thông tin đến với học sinh một cách khoa học, hợp lý và dễ hiểu nhất Dù kiến thức cần truyền đạt có khi rất trừu tượng buộc học sinh phải tư duy cao, nhưng chúng ta, bằng tâm huyết của mình sẽ tìm được cách nói

cụ thể, giản dị nhất để các em có thể tiếp thu Nhiệt tình cũng là một vấn đề quan trọng

Có nhiệt tình với học sinh người thầy sẽ không ngại khó, ngại cực với học sinh, không bực bội khi c ác em chậm hiểu, thậm chí khi chúng tỏ ra ngây ngô rồi xuyên tạc vấn đề (điều này thường gặp ở các môn xã hội nhất là môn văn) Nhiệt tình là “chất lửa” cần thiết để làm cho giờ giảng không tẻ nhạt, buồn chán mà trái lại tạo được một không khí sôi nổi, sinh động cho lớp học Đó cũng là điều kiện cho dạy tốt, dạy hay, dạy giỏi Hai là, muốn dạy tốt, phải có phương pháp Vì không có phương pháp cũng giống như ta đi trong rừng không tìm được lối ra, chẳng thể nào học sinh hiểu bài được Không có phương pháp dạy tốt thì không có phương pháp học tốt Không có phương pháp học tốt thì học sinh không thể nào tự chiếm lĩnh tri thức Ba là, người giáo viên phải thường xuyên trao dồi kiến thức Người thầy phải luôn luôn nâng cao kiến thức, cập nhật thông tin về chuyên môn, bởi vì nâng cao kiến thức là một trong những biện pháp nâng cao tay nghề Kiến thức không phải bất biến, mà nó luôn có sự điều chỉnh phù hợp với từng giai đoạn (nhất là các môn xã hội) Vì thế, việc tự học, đọc sách, tham khảo, tra cứu tài liệu là việc làm đòi hỏi người thầy phải phấn đấu suốt đời Người thầy muốn dạy tốt, dạy giỏi

Trang 35

phải rút ruột mình như con tằm nhả tơ Giống như một chiếc đài quay đĩa, muốn có chương trình phong phú, hình đẹp, tiếng hay, phải “thu” (ghi đĩa) tốt mới “phát” tốt Ngoài ra, người giáo viên cần có khả năng sư phạm tốt, diễn đạt trôi chảy, sử dụng thiết

bị dạy học hiệu quả…cũng là yếu tố quan trọng cho một tiết học sinh động

Như vậy, đến bây giờ, chúng ta có thể khẳng định người thầy giáo có vai trò rất quan trọng trong tiến trình tiếp cận tác phẩm văn học của học sinh, là c ầu nối trung gian giữa học sinh và tác phẩm, là nhân tố quyết định hiệu quả tiếp cận tác phẩm văn học

2.4 Tiến trình tiếp cận tác phẩm văn học của học sinh

2.4.1 Tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương

Trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đ ại hóa - thời kì mà con người như bị cuốn hút vào đồng tiền, cơn vũ bão của vật chất Văn chương, chữ nghĩa gần như trở thành một trang sức tầm thường, có cũng được mà không học cũng chẳng sao Hiếm có người nhận thức được giá trị đích thực của việc học văn Vậy thì, để nhận ra những giá trị của văn chương, cũng như thay đổi quan niệm học văn ở các em học sinh, đồng thời giúp các em

có nâng cao năng lực cảm thụ văn chương thì cần phải có những phương pháp tiếp cận đúng đắn và hiệu quả

Trải qua nhiều năm tồn tại và phát triển, con đường tiếp cận tác phẩm trở nên phong phú và đa dạng Có bao nhiêu bạn đọc có bấy nhiêu cách quan niệm về sự tiếp cận tác phẩm văn học Nào là tiếp cận tác phẩm dưới góc độ ngôn ngữ, dưới góc nhìn văn hóa,

từ góc nhìn độc giả, từ hướng liên môn, liên ngành, t ừ góc độ lịch sử- xã hội,…Nói như Kinh thánh: Có một nghìn con đường đi đến thành Rome, thì cũng có một nghìn con đường tiếp cận tác phẩm văn học Nhưng dù tiếp cận ở dưới góc độ nào, đi trên con đường nào thì chúng ta phải quán triệt quan điểm đồng bộ Không thể tiếp cận tác phẩm sâu sắc mà không tìm hiểu hoàn c ảnh ra đời của tác phẩm cũng như cuộc đời của tác giả

Trong nhà trường, việc tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương có một ý nghĩa to lớn, là một xu hướng tiến bộ Nó vừa đảm bảo được phương pháp lịch sử phát sinh, vừa chú trọng được tác giả, tác phẩm, đồng thời chú trọng đến vai trò tích cực của người đọc Quan điểm tiếp cận đồng bộ thể hiện ở 3 đặc điểm chính:

Ngày đăng: 08/05/2021, 20:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w