TÓM TẮT Bài nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu mối quan hệ giữa quy mô hoạt động Size và mức độ chấp nhận rủi ro Risk-taking của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam giai đoạn từ năm
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
DIỆP NHẬT TUẤN
QUY MÔ, ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH VÀ MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN RỦI RO CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài Chính - Ngân Hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
TP.HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng bài luận văn “Quy mô, đòn bẩy tài chính và mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng rôi và có sự hỗ trợ của Giảng viên hướng dẫn là PGS TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo Các thông tin, dữ liệu sử dụng trong luận văn là trung thực; các nội dung trích dẫn đều được ghi rõ nguồn gốc, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này chưa được công bố tại bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tp Hồ Chí Minh, Ngày … tháng 11 năm 2016
Người thực hiện
Diệp Nhật Tuấn
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
TÓM TẮT 1
PHẦN 1: GIỚI THIỆU 2
1.1 Giới thiệu lý do chọn đề tài 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
1.4 Phương pháp nghiên cứu 6
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu 7
1.6 Cấu trúc của đề tài 7
PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 9
2.1 Khung Lý Thuyết 9
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây 11
PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Mô hình nghiên cứu 19
3.2 Dữ liệu nghiên cứu 21
3.3 Mô tả biến nghiên cứu 22
3.3.1 Biến đo lường mức độ chấp nhận rủi ro (biến phụ thuộc) 22
3.3.2 Biến đo lường quy mô hoạt động ngân hàng 24
3.3.3 Biến đo lường sự quản trị công ty 25
3.3.4 Biến tỷ lệ sở hữu của CEO/chủ tịch hội đồng quản trị 27
3.3.5 Biến tỷ lệ giá thị trường trên giá trị sổ sách (Market to book ratio) 28
3.3.6 Biến số năm thành lập ngân hàng 29
3.3.7 Biến giả sở hữu nhà nước 29
3.3.8 Biến giả khủng hoảng tài chính 30
3.3.9 Biến kiểm soát GDP và CPI 30
3.4 Phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu 32
PHẦN 4: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
Trang 54.1 Phân tích thống kê mô tả các biến trong mô hình 38
4.2 Sự tương quan giữa các biến và hiện tượng đa cộng tuyến 42
4.3 Phân tích kết quả hồi quy 44
4.4 Phân tích tổng hợp biến quy mô bằng mô hình 2SLS 51
4.5 Sử dụng thông số khác đại diện biến quy mô 54
4.6 Kiểm tra tác động của biến khủng hoảng 55
4.7 Phân tích chi tiết các nhân tố trong Z-score 58
PHẦN 5: KẾT LUẬN 62
5.1 Kết luận 62
5.2 Kiến nghị đối với các ngân hàng 64
5.3 Kiến nghị đối với các nhà lập chính sách 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TBTF “Too big to fail”, Trạng thái quá lớn để thất bại
NHTM Ngân hàng thương mại
M/B Market-to-book ratio, tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách M&A Merger and Acquisition, hoạt động mua bán và sát nhập
ASEAN Hiệp hội các nước khu vực Đông Nam Á
NPV Net Present Value, giá trị hiện tại thuần
PGD Phòng giao dịch ngân hàng
OLS Ordinary Least Squares, mô hình hồi quy phương pháp bình
phương nhỏ nhất 2SLS Two-Stages Least Squares, Mô hình hồi quy hai giai đoạn
FE Fixed effect model, mô hình hồi quy tác động cố định
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
CPI Chỉ số giá tiêu dùng hay tỷ lệ lạm phát
BHC Bank Holding Company, Ngân hàng lớn niêm yết
FED Cục dự trữ liên bang Mỹ
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng quan các nghiên cứu trước đây 17
Bảng 3.1: Tóm tắt biến nghiên cứu và kỳ vọng dấu 30
Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến trong mô hình 40
Bảng 4.2: Ma trận tương quan giữa các cặp biến trong mô hình 42
Bảng 4.3: Kết quả hồi quy tại các ngân hàng thương mại Việt Nam không bao gồm biến M/B 44
Bảng 4.4: Kết quả hồi quy tại các ngân hàng niêm yết có tính giá trị M/B 46
Bảng 4.5: Kiểm định Hausman test về vấn đề nội sinh của mô hình 51
Bảng 4.6: Kết quả hồi quy theo mô hình 2SLS 52
Bảng 4.7: Kết quả hồi quy tại các ngân hàng thương mại Việt Nam không bao gồm biến M/B, biến tổng doanh thu đại diện cho quy mô hoạt động 54
Bảng 4.8: Kết quả hồi quy kiểm tra tác động của biến khủng hoảng 56
Bảng 4.9: Phân tích chi tiết các nhân tố trong Z-score 58
Trang 8TÓM TẮT
Bài nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu mối quan hệ giữa quy mô hoạt động (Size) và mức độ chấp nhận rủi ro (Risk-taking) của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2015, qua đó đưa ra các kiến nghị cho các nhà lập chính sách và các lãnh đạo ngân hàng thương mại tại Việt Nam Sau khi áp dụng phương pháp định lượng bằng nhiều mô hình hồi quy khác nhau, tác giả tìm thấy bốn kết quả nghiên cứu như sau Đầu tiên, có mối quan hệ tương quan dương giữa quy
mô tài sản và mức độ chấp nhận rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 2007 đến năm 2015 Thứ hai, việc phân tích chi tiết các yếu tố trong biến đo lường mức độ chấp nhận rủi ro (Z-score) cho thấy mức độ chấp nhận rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam chủ yếu thông qua gia tăng mức độ đòn bẩy tài chính Thứ ba, các ngân hàng có quản trị tốt hơn sẽ giảm thiểu rủi ro trong hoạt động, đặc biệt là tại các ngân hàng niêm yết trên sàn chứng khoán Thứ tư, mối quan hệ tương quan dương giữa quy mô hoạt động và mức độ chấp nhận rủi ro xuất hiện trong giai đoạn trước (2007-2008) và trong khủng hoảng tài chính (2009-2012), tuy nhiên không xuất hiện trong giai đoạn sau khủng hoảng tài chính (2013-2015)
Trang 9
PHẦN 1: GIỚI THIỆU
Theo đề án 254 năm 2012 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam về việc tái cơ cấu
hệ thống các tổ chức tín dụng, mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản sẽ có những ngân hàng lớn theo hướng hiện đại, hoạt động an toàn, hiệu quả vững chắc đủ khả năng cạnh tranh với các tổ chức tín dụng lớn trong khu vực Tuy nhiên, có phải quy mô ngân hàng càng lớn thì càng hoạt động càng hiệu quả và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động? Nhiều chuyên gia trên thế giới cho rằng quy mô ngân hàng quá lớn thì tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn, nguyên nhân do khi ngân hàng đạt được đến quy mô “Too big too fail” (TBTF) hay gọi là quá lớn để thất bại, Chính phủ dù muốn hay không muốn vẫn phải đảm bảo rằng trong trường hợp Ngân hàng bị mất thanh khoản hay gần đến bờ vực bị phá sản thì Chính phủ phải can thiệp để đảm bảo việc phá sản không xảy ra và tránh rủi
ro đổ vỡ toàn bộ hệ thống tài chính của nền kinh tế Do đó các ngân hàng lớn có nhiều động cơ hơn để gia tăng mức độ rủi ro trong hoạt động của mình nhằm tìm kiếm lợi nhuận cao trên thị trường trong khi đó rủi ro là do toàn bộ nền kinh tế gánh chịu Việc
đó làm gia tăng rủi ro cho toàn bộ hệ thống tài chính và cho cả nền kinh tế Tại Việt Nam, không chỉ các ngân hàng đạt được trạng thái TBTF mới có được sự cam kết đảm bảo của chính phủ mà cả các ngân hàng nhỏ cũng được chính phủ cam kết không để xảy ra tình trạng phá sản cho bất kỳ tổ chức tín dụng nào nhằm ổn định thị trường tài chính và giữ vững niềm tin của người dân (đặc biệt là người gửi tiết kiệm) và các nhà đầu tư trên thị trường Do đó tại Việt Nam mức độ chấp nhận rủi ro trong hoạt động của các ngân hàng thương mại bao gồm cả các ngân hàng lớn và ngân hàng nhỏ thường rất cao và ảnh hưởng xấu đến toàn bộ nền kinh tế nước ta
Hệ thống ngân hàng Việt Nam đã và đang bị cuốn vào vòng xoáy của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, và hiện nay đã biểu hiện cho thấy các hệ lụy nguy hiểm sau: tốc độ tăng trưởng tín dụng cao, tập trung cho vay vào bất động sản, chứng khoán là những lĩnh vực rất rủi ro; lãi suất huy động cao và cạnh tranh lãi suất giữa các
Trang 10ngân hàng không lành mạnh; nợ xấu tăng nhanh, tỷ lệ nợ xấu cao và khó xử lý; cơ cấu nguồn vốn ngắn hạn là chính, trong khi cho vay trung dài hạn chiếm quy mô lớn… Rõ ràng hệ thống ngân hàng Việt Nam có sự phát triển không bền vững và tiềm ẩn nhiều rủi ro Tình trạng rủi ro như hiện nay của hệ thống ngân hàng Việt Nam đang ở mức báo động, cần có sự can thiệp ngay của các nhà chức năng nhằm lành mạnh hóa thị trường tài chính và giảm nguy cơ đổ vỡ cho hệ thống ngân hàng Việt Nam
Nhận thấy mức độ chấp nhận rủi ro quá lớn của các ngân hàng thương mại Việt Nam, Chính phủ đã ban hành đề án 254 năm 2012 nhằm mục tiêu cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng tại Việt Nam, đảm bảo không để tình trạng đổ vỡ xảy ra Khi giới thiệu về đề án 254 năm 2012 về tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng, thống đốc ngân hàng nhà nước khi đó là ông Nguyễn Văn Bình đã phát biểu như sau: “Đập chuột nhưng không được vỡ bình” Câu nói trên hàm ý các ngân hàng tại Việt Nam được ngân hàng nhà nước cam kết chắc chắn sẽ không bị phá sản dù thực tế hoạt động có yếu kém đến đâu Đây có phải là một chính sách hay và phù hợp nhằm cơ cấu lại hệ thống ngân hàng hiện nay? Theo nhiều chuyên gia kinh tế, chính phủ cần mạnh dạn cho phá sản các ngân hàng hoạt động quá yếu kém không thể tái cơ cấu được, vì thực
tế càng tìm cách cơ cấu lại các ngân hàng yếu kém này thì tổn thất cho nền kinh tế càng lớn, điển hình là tại ngân hàng Xây Dựng (CBBANK) và ngân hàng Đại Dương (OCEANBANK) Cần có lộ trình rõ ràng để sàn lọc các tổ chức tín dụng, theo hướng chỉ giữ lại các tổ chức tín dụng có năng lực tài chính tốt và hoạt động lành mạnh để gia tăng năng lực cạnh tranh cho các ngân hàng Việt Nam so với khu vực và trên thế giới Các ngân hàng có hoạt động yếu kém, năng lực tài chính yếu cần từng bước xử lý theo hướng M&A hoặc cho phá sản để giảm thiểu gánh nặng cho hệ thống tài chính hiện nay
Trái ngược với Việt Nam đang mong muốn gia tăng quy mô hoạt động của các ngân hàng để cạnh tranh với khu vực, tại các nước lớn trên thế giới như Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản, các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách đã đề xuất một loạt các quy
Trang 11định nhằm hạn chế quy mô của các tổ chức tài chính đã đạt đến trạng thái TBTF nhằm giảm thiểu mức độ chấp nhận rủi ro hoạt động của các tổ chức tài chính này Tuy nhiên các quy định nhằm giảm thiểu quy mô hoạt động của các tổ chức tài chính đạt trạng thái TBTF gặp phải không ít khó khăn Đầu tiên, rất khó để xác định được ngưỡng tối
ưu của mức độ hoạt động cho chính xác Thứ hai, việc tập trung vào quy mô hoạt động
sẽ bỏ sót các ngân hàng nhỏ có mức độ chấp nhận rủi ro cao Ngoài ra, việc giảm quy
mô hoạt động sẽ làm suy yếu mức độ cạnh tranh toàn cầu của các tổ chức tài chính lớn
và khiến thị phần của họ suy giảm Hơn nữa, nhiều chuyên gia lập luận việc giới hạn quy mô hoạt động không phải là công cụ tốt, việc giới hạn quy mô có thể tạo ra các tác động ngoài ý muốn, chẳng hạn như sự thiếu đa dạng hóa rủi ro tín dụng, giảm năng lực cạnh tranh, thiếu năng lực quản trị rủi ro hoạt động Thay vì tìm cách giảm quy mô hoạt động của các tổ chức tín dụng, cần tìm cách gia tăng năng lực tài chính của các tổ chức tín dụng này, như gia tăng yêu cầu tối thiểu về vốn tự có (CAR), gia tăng kiểm soát rủi ro trong quá trình hoạt động, giảm mức độ sở hữu của các cổ đông lớn, tránh tình trạng sở hữu chéo giữa các ngân hàng, tăng cơ chế giám sát của các ngân hàng trung ương…
Vậy, liệu quy mô hoạt động có phải là vấn đề quan trọng để giảm thiểu mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam? Sử dụng dữ liệu của các
tổ chức tín dụng trong giai đoạn từ năm 2007-2015, tác giả kiểm tra sự thay đổi quy
mô hoạt động có tác động đến mức độ chấp nhận rủi ro hay không? Tác giả tập trung chủ yếu vào thước đo mức độ chấp nhận rủi ro được đo lường bằng Z-score (đo lường dựa vào sổ sách kế toán) trong quá trình xây dựng mô hình nghiên cứu, các thước đo khác dựa vào thị trường (như biến động của lợi nhuận của cổ phiếu theo ngày σ(RET)) chủ yếu để phục vụ việc kiểm tra tính vững của mô hình nghiên cứu Nếu quy mô hoạt động có ảnh hưởng đến mức độ chấp nhận rủi ro được đo bằng Z-score, câu hỏi tiếp theo là làm thế nào để quy mô hoạt động ảnh hưởng đến các thành phần của Z-score? Tập trung vào các thành phần của Z-score - cụ thể là, đòn bẩy tài chính (CAR), lợi
Trang 12nhuận trên tài sản (ROA), và sự biến động của thu nhập (σ(ROA)) - cho phép tìm hiểu
kỹ hơn mối liên quan giữa quy mô và từng yếu tố cấu thành Z-score, từ đó hoạch định các chính sách nhằm giảm thiểu mức độ chấp nhận rủi ro của các tổ chức tín dụng hiệu quả hơn
Xuất phát từ thực tiễn đã nêu trên, tác giả đã quyết định chọn đề tài “Quy mô, đòn bẩy tài chính và mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận án của mình
Mục tiêu chính của bài nghiên cứu là kiểm tra vai trò của nhân tố quy mô hoạt động của các ngân hàng tác động đến mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Ngoài ra bài nghiên cứu còn nhằm mục đích tìm hiểu các yếu tố khác như quản trị Ngân hàng, sở hữu của chủ tịch hội đồng quản trị/CEO, cơ cấu vốn sở hữu, các yếu tố vĩ mô tác động đến mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng Đề tài nghiên cứu nhằm trả lời cho các câu hỏi cụ thể sau:
+ Mối quan hệ giữa quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2015 là như thế nào?
+ Mức độ chấp nhận rủi ro tính theo Z-score liên quan đến mức độ đòn bẩy tài chính của Ngân hàng (CAR) hay do tỷ suất sinh lời trên tài sản của ngân hàng (ROA) hay do mức độ biến động của tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (σ(ROA))?
+ Ngân hàng có ban quản trị/điều hành sở hữu nhiều cổ phần có góp phần giảm thiểu mức độ chấp nhận rủi ro hay không?
+ Mối quan hệ giữa quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro (nếu có) xuất hiện trong giai đoạn trước khủng hoảng (năm 2007-2008) hay trong khủng hoảng (năm 2009-2012) hay sau khủng hoảng tài chính (năm 2013-2015)?
Bài nghiên cứu nhằm tìm kiếm các yếu tố tác động đến mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng Việt Nam, từ đó đưa ra các khuyến nghị cho các nhà lập chính sách
và các lãnh đạo ngân hàng để xây dựng mức độ chấp nhận rủi ro tương ứng tại từng
Trang 13ngân hàng cho phù hợp với thực tế kinh doanh
Đối tượng nghiên cứu của bài là ảnh hưởng của quy mô hoạt động (được đo lường bằng tổng tài sản) lên mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam (được đo lường bằng hệ số Z-score) Mẫu nghiên cứu bao gồm các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2015, không bao gồm các Ngân hàng đã bị sáp nhập trong giai đoạn trên hoặc độ dài dữ liệu không đủ theo yêu cầu
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu thu thập được từ năm 2007 đến năm 2015 để tạo
ra bộ dữ liệu bảng (Panel data) Dữ liệu được thu thập thông qua dữ liệu tài chính được cung cấp bởi Vietstock (đơn vị cung cấp số liệu tài chính lớn tại Việt Nam) sau đó được bổ sung bằng phương pháp thu thập dữ liệu thủ công từ các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của các ngân hàng được công bố trên website chính thức của các ngân hàng tại Việt Nam Bài nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng Robust Check và phương pháp hồi quy hiệu ứng cố định Fixed Effect để kiểm tra mức
ý nghĩa của biến quy mô hoạt động và mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại Đồng thời bài nghiên cứu còn sử dụng mô hình hồi quy 2SLS (Two-stage Least Square) để khắc phục việc lựa chọn biến đại diện cho quy mô hoạt động nào cho phù hợp Ngoài ra trong quá trình phân tích, tác giả còn áp dụng thêm nhiều phương pháp khác nhau để tìm hiểu kỹ hơn vấn đề nghiên cứu và nhằm đưa ra các kết luận phù hợp
Trong bài nghiên cứu, để tính toán mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt nam tác giả sử dụng hệ số Z-score, hệ số được World Bank khuyến nghị sử dụng và được áp dụng trong nhiều bài nghiên cứu trên thế giới về mức độ chấp nhận rủi ro trong hệ thống tài chính Về biến quy mô tác giả sử dụng nhiều biến khác nhau như tổng tài sản, tổng doanh thu, tổng số lượng nhân viên, tổng số chi nhánh phòng giao dịch Về các biến kiểm soát trong bài bao gồm biến tỷ lệ M/B ratio, biến tỷ
Trang 14lệ sở hữu của lãnh đạo ngân hàng, biến giá trị cổ phiếu sở hữu của lãnh đạo ngân hàng, biến số năm thành lập ngân hàng, biến đòn bẩy tài chính, biến giả ngân hàng có thuộc
sở hữu nhà nước, biến giả giai đoạn khủng hoảng, biến đại diện yếu tố vĩ mô như GDP, CPI Các biến trên được lựa chọn để áp dụng cho phù hợp trong quá trình chạy mô hình hồi quy tương ứng
Ở Việt Nam hiện nay, việc các ngân hàng chấp nhận mức độ rủi ro cao nhằm tìm kiếm lợi nhuận diễn ra rất phổ biến, đặc biệt là trong hoạt động tín dụng Việc tìm hiểu mối liên hệ giữa quy mô hoạt động và mức độ chấp nhận rủi ro sẽ giúp chúng ta
có cái nhìn rõ hơn về các yếu tố cấu thành lên mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng Từ đó góp phần giúp các nhà lập chính sách và các lãnh đạo Ngân hàng có hướng giải quyết phù hợp nhằm vừa góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng Việt Nam vừa góp phần giảm thiểu rủi ro quá lớn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng Qua đó giúp thị trường Ngân hàng tại Việt Nam hoạt động ổn định và ngày càng phát triển vững chắc hơn
Bài nghiên cứu được sắp xếp như sau:
Phần 2 là Cơ sở lý thuyết
Trong phần này, tác giả sẽ tổng hợp cơ sở lý thuyết, những nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về mối quan hệ mức độ chấp nhận rủi ro và quy mô hoạt động của các tổ chức tài chính
Phần 3 là Phương pháp nghiên cứu
Nội dung chính của phần này tác giả sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu, giải thích các biến độc lập và biến phụ thuộc trong mô hình, mô tả các đặc điểm của mô hình thực nghiệm, các giả định đặt ra và nguồn dữ liệu để thực hiện nghiên cứu
Phần 4 là Nội dung và kết quả nghiên cứu
Trong phần này, tác giả trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm về mối quan
Trang 15hệ giữa mức độ chấp nhận rủi ro và quy mô hoạt động, ngoài ra tác giả còn tiến hành nghiên cứu mở rộng về nhiều khía cạnh khác nhau của đề tài
Phần 5 là Phần kết luận
Ở phần này, tác giả tổng kết lại các vấn đề nghiên cứu, kết luận lại kết quả thực nghiệm từ mô hình nghiên cứu, nêu lên những hạn chế của đề tài, hướng mở rộng đề tài Sau đó tác giả đưa ra kiến nghị riêng cho các nhà lập chính sách và các nhà quản lý chủ chốt của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Trang 16PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Cơ sở lý thuyết cho việc các ngân hàng có quy mô lớn hơn sẽ có mức độ chấp nhận rủi ro cao hơn là do hiện tượng TBTF (quá lớn để thất bại) diễn ra trên thị trường tài chính Khi quy mô của ngân hàng càng lớn thì khả năng nhận được các gói cứu trợ khi hoạt động kinh doanh gặp khó khăn càng cao Khi đó các nhà quản lý ngân hàng và
cả chủ sở hữu ngân hàng sẽ có nhiều động cơ hơn để gia tăng rủi ro nhằm tìm kiếm lợi nhuận cao trên thị trường Khi trạng thái TBTF xảy ra, ngân hàng sẽ có mức độ chấp nhận rủi ro cao hơn, ngân hàng sẽ nhận được lợi nhuận cao nếu hoạt động kinh doanh
có kết quả như dự tính và sẽ bị thiệt hại ít nếu rủi ro xảy ra vì đã có sự hỗ trợ lớn từ chính phủ Do đó theo lý thuyết thì với các Ngân hàng có quy mô hoạt động càng lớn thì mức độ chấp nhận rủi ro càng cao Điển hình cho trạng thái TBTF diễn ra tại thị trường tài chính Mỹ là vào năm 2008 khi khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra do việc cho vay dưới chuẩn tiềm ẩn nhiều rủi ro cao của các ngân hàng Mỹ và việc chứng khoán hóa các khoản cho vay này, chính phủ Mỹ đã phải ban hành gói cứu trợ khẩn cấp để cứu các tổ chức tài chính lớn vượt qua giai đoạn khủng hoảng như Bear Sterns, AIG, JP Morgan Chase… nhằm tránh tình trạng đổ vỡ cho toàn bộ thị trường tài chính thế giới
Theo báo cáo Squam Lake Report, nghiên cứu của French và cộng sự (2010):
“Chính sách quá lớn để thất bại (too-big-too-fail policies, viết tắt TBTF) cung cấp cho các công ty quan trọng có quy mô lớn một lời hứa rõ ràng và chắc chắn về một gói cứu trợ khi hoạt động của các công ty này gặp sự cố Những chính sách này là phá hoại, vì nhiều lý do khác nhau Đầu tiên, bởi vì khả năng chắc chắn của một gói cứu trợ nên các chủ sở hữu của công ty có thể hưởng được tất cả lợi nhuận cao trong khi chịu rất ít rủi ro khi sự cố xảy ra, các công ty tài chính có thể nhận được các gói cứu trợ của chính phủ nên có động cơ để gia tăng mức độ rủi ro trong hoạt động của mình nhằm tìm kiếm lợi nhuận cao Tất cả các bên liên quan của công ty bao gồm các cổ đông, chủ
Trang 17nợ, nhân viên và nhà quản lý đều chia sẻ cám dỗ trên Kết quả là sự gia tăng rủi ro phải gánh chịu cho toàn bộ xã hội”
Các ngân hàng còn theo đuổi chính sách tăng trưởng mạnh quy mô đi kèm với gia tăng rủi ro trong hoạt động nhằm mục đích đạt được trạng thái TBTF dù họ biết có những khoản đầu tư đem lại hiện giá dòng tiền âm (NPV của phương án/dự án là âm) tuy nhiên họ vẫn thực hiện dự án nhằm gia tăng quy mô hoạt động của mình Nguyên nhân do các nhà quản lý ngân hàng biết rằng, nếu họ tăng quy mô đạt được đến trạng thái TBTF thì họ sẽ được nhiều chính sách ưu đãi hơn từ các cơ quan quản lý và khả năng họ sẽ nhận được các gói cứu trợ của chính phủ khi hoạt động không hiệu quả sẽ cao hơn Từ đó kéo theo các ngân hàng có quy mô càng lớn sẽ càng có động lực gia tăng rủi ro hơn để vừa tìm kiếm được lợi nhuận cao trên thị trường vừa để họ có thể tăng trưởng quy mô nhanh hơn nhằm đạt được trạng thái TBTF để quyết định được thị trường và gây sức ép lên các cơ quan quản lý
Trái ngược với thế giới, tại Việt Nam các ngân hàng có quy mô càng lớn càng ít
bị kiểm soát từ các cơ quan quản lý và ngược lại Các ngân hàng này hoạt động tự do
và tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình Theo nhận định của nhiều chuyên gia, các ngân hàng quy mô lớn thường ít bị thanh tra giám sát từ các cơ quan nhà nước và thường đẩy mức độ rủi ro hoạt động lên cao nhằm tìm kiếm lợi nhuận Nguyên nhân cho việc này có thể kể đến do sự lỏng lẻo về quản lý của các cơ quan nhà nước, lợi thế
về quy mô khiến quyền lực của các ngân hàng quy mô lớn có thể gây sức ép lên cơ quan quản lý, hay có thể nói gọn là các ngân hàng này đã đạt trạng thái TBTF tại thị trường Việt Nam (điển hình là các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước chi phối bao gồm BIDV, Vietinbank, Vietcombank, Agribank) Tuy nhiên yếu tố quy mô hoạt động ảnh hưởng đến mức độ chấp nhận rủi ro tại các ngân hàng Việt Nam chưa được kiểm chứng thực nghiệm
Ngoài nhân tố quy mô hoạt động tác động đến mức độ chấp nhận rủi ro trong ngân hàng thì vai trò của quản trị doanh nghiệp cũng cần được đề cập đến Lý thuyết
Trang 18hiện đại về quản trị doanh nghiệp cho thấy doanh nghiệp có quản trị tốt sẽ làm tăng giá trị công ty đồng thời giảm thiểu rủi ro trong hoạt động của công ty Cơ sở cho nhận định trên là khi công ty được quản trị tốt, công ty sẽ đầu tư vào các dự án chắc chắn có NPV dương và tìm ẩn rủi ro thấp nhằm ổn định dòng tiền của công ty, tránh rủi ro mất thanh khoản dẫn đến phá sản Từ đó, công ty sẽ chỉ đầu tư vào các dự án có rủi ro thấp,
có dòng tiền ổn định, nhằm ổn định giá trị doanh nghiệp và tạo niềm tin cho cổ đông trên thị trường Tuy nhiên, nhà quản trị tốt cũng không loại trừ khả năng sẽ đầu tư vào các dự án có rủi ro cao nhằm tìm kiếm lợi nhuận đột biến và nhằm mục đích chứng tỏ khả năng quản trị của bản thân nhà quản lý Theo lý thuyết quyền chọn (option theory), các nhà quản lý của công ty thường được thưởng bằng quyền chọn mua cổ phiếu để gắn kết mục tiêu của nhà quản lý với việc gia tăng giá trị công ty, tuy nhiên giá trị quyền chọn này sẽ tăng đồng biến với sự biến động của giá trị tài sản công ty Các công ty có giá trị biến động càng lớn thì giá trị quyền chọn mua cổ phiếu càng cao Từ
đó, các nhà quản lý có động lực gia tăng rủi ro của công ty nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận cao đồng thời nhằm giúp tăng giá trị cổ phiếu của công ty trên thị trường Do đó, mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp và mức độ rủi ro là không chắc chắn, tuy nhiên tác giả kỳ vọng là biến quản trị doanh nghiệp (đo lường bằng giá trị giá trị cổ phiếu sở hữu của chủ tịch hội đồng quản trị hay CEO) sẽ có mối quan hệ tương quan
âm với rủi ro, nghĩa là công ty được quản trị tốt sẽ có rủi ro thấp hơn và ngược lại
Hiện nay tác giả chưa tìm thấy đề tài nghiên cứu nào trước đây tại Việt Nam có nội dung tương tự với nghiên cứu này nên tác giả sẽ chỉ trình bày các kết quả nghiên cứu của các đề tài nước ngoài hiện đã đăng trên các tạp chí uy tín thế giới
Có rất nhiều nghiên cứu đã tìm hiểu các nhân tố tác động lên mức độ chấp nhận rủi ro của các tổ chức tài chính trên thế giới như nghiên cứu của Saunder và cộng sự (1990), nghiên cứu của Boyd and Runkle (1993), nghiên cứu của Demsetz and Strahan (1997), nghiên cứu của Boyd và cộng sự (2006), nghiên cứu của Stiroh (2006), nghiên
Trang 19cứu của Laeven and Levine (2009), nghiên cứu của Houston và cộng sự (2010) hay nghiên cứu của Sanjai Bhagat và cộng sự (2015) Theo mục tiêu nghiên cứu của bài này, tác giả sẽ tập trung chính vào mối quan hệ giữa quy mô hoạt động và mức độ chấp nhận rủi ro của các tổ chức tài chính (bảng 2.1 sẽ tóm tắt về các kết quả nghiên cứu trước đây)
Bài nghiên cứu của Sanjai Bhagat và cộng sự (2015) là bài nghiên cứu nền tảng của bài nghiên cứu này Đề tài nghiên cứu “Size, leverage, and risk-taking of financial institutions” của Sanjai Bhagat và cộng sự (2015) diễn ra vào thời điểm sau thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu (bắt đầu từ năm 2008), nguyên nhân của khủng hoảng
là do các định chế tài chính tại thị trường Mỹ đặc biệt là các ngân hàng thương mại và các ngân hàng đầu tư đã có mức độ chấp nhận rủi ro quá lớn để tìm kiếm lợi nhuận, ngoài ra là do sự quản lý lỏng lẻo của các cơ quan nhà nước đặt biệt là FED, họ đã để cho các định chế tài chính hoạt động tự do quá mức với mức độ chấp nhận rủi ro toàn
hệ thống rất lớn Nghiên cứu này bao gồm mẫu nghiên cứu 702 tổ chức tài chính (599 ngân hàng thương mại, 60 ngân hàng đầu tư và 43 công ty bảo hiểm) và dữ liệu nghiên cứu từ năm 2002 đến năm 2012, nghiên cứu bao gồm 6277 quan sát Dữ liệu được thu thập từ báo cáo Compustat và báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư và công ty bảo hiểm tại thị trường Mỹ Kết luận chính của nghiên cứu này như sau: Thứ nhất, quy mô hoạt động có mối tương quan dương với mức độ chấp nhận rủi ro tại các tổ chức tài chính tại Mỹ cho giai đoạn 2002-2012 Thứ hai, các ngân hàng có mức độ chấp nhận rủi ro cao chủ yếu dựa trên gia tăng đòn bẩy tài chính Thứ ba, các ngân hàng có sự quản trị tốt hơn sẽ ít rủi ro trong hoạt động hơn Nghiên cứu này có khuyến nghị ngoài việc giới hạn quy mô hoạt động của các ngân hàng quá lớn, thì cần phải gia tăng quy định về yêu cầu vốn tối thiểu cho tất cả các tổ chức tài chính Đề nghị gia tăng yêu cầu vốn này cũng phù hợp với các nghiên cứu của Admati
và Hellwig (2013), Bhagat và Bolton (2014) và Fama (2010) Ngoài ra theo Wall Street Journal cũng đã đề nghị nâng mức yêu cầu vốn chủ sở hữu cao hơn đáng kể so
Trang 20với hiện nay (theo chuẩn Basel 2 hiện nay thì yêu cầu vốn tối thiểu chỉ là 8%)
Ngoài nghiên cứu của Sanjai Bhagat và cộng sự (2015) là nền tảng của bài, nghiên cứu của Boyd và Runkle (1993) cũng gần tương đồng với bài nghiên cứu này, tuy nhiên vẫn có điểm khác biệt Dữ liệu nghiên cứu của Boyd và Runkle (1993) chỉ bao gồm các ngân hàng lớn niêm yết (BHCs) tại Mỹ, tuy nhiên theo nhiều chuyên gia, cuộc khủng hoảng tài chính gần nhất năm 2008 nguyên nhân không chỉ bao gồm các ngân hàng niêm yết lớn BHCs mà còn bao gồm các ngân hàng nhỏ, công ty bảo hiểm, các định chế tài chính khác, nếu chỉ nghiên cứu trên các ngân hàng lớn thì sẽ không bao quát được tình hình chấp nhận rủi ro của hệ thống các tổ chức tín dụng hiện nay Kết quả nghiên cứu của Boyd và Runkle (1993) đưa ra kết luận: tổng tài sản có mối quan hệ tương quan âm với Z-score, độ lệch chuẩn của ROA, tỷ lệ tổng vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản CAR, điều này có nghĩa quy mô hoạt động của các ngân hàng có mối quan hệ tương quan dương với mức độ rủi ro của các ngân hàng niêm yết lớn tại thị trường Mỹ
Về mối quan hệ giữa quy mô hoạt động và mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng, nghiên cứu của Saunder và cộng sự (1990) bao gồm mẫu nghiên cứu là 38 ngân hàng niêm yết lớn tại Mỹ và dữ liệu nghiên cứu từ năm 1978 đến 1985 Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáo CALL REPORT, biến phụ thuộc đại diện cho mức độ chấp nhận rủi ro là độ lệch chuẩn lợi nhuận hàng ngày của cổ phiếu, biến độc lập là tổng tài sản và giá trị sở hữu cổ phiếu nội bộ công ty Kết quả nghiên cứu đưa ra kết luận: tổng tài sản có mối quan hệ tương quan dương với mức độ biến động của biến
độ lệch chuẩn lợi nhuận hàng ngày của cổ phiếu, điều này có nghĩa quy mô hoạt động của các ngân hàng có mối quan hệ tương quan dương với mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng niêm yết tại thị trường Mỹ
Một nghiên cứu khác cũng khá tương đồng với bài này là của nghiên cứu của Demsetz và Strahan (1997), tập trung vào mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng lớn niêm yết tại Mỹ (các BHC) và quy mô của các ngân hàng Nghiên cứu này bao
Trang 21gồm mẫu nghiên cứu là 134 ngân hàng niêm yết lớn tại Mỹ niêm yết trên báo cáo 9C Report và có số tuần giao dịch gần nhất lớn hơn 30, dữ liệu nghiên cứu từ năm
Y-1980 đến 1993 Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáo Y-9C Report và báo cáo thường niên của các ngân hàng, biến phụ thuộc đại diện cho rủi ro là rủi ro đặc biệt của công ty (Firm-specific risk σ(Ɛ)), biến độc lập là logarit tự nhiên của tổng tài sản Kết quả nghiên cứu đưa ra kết luận: Các ngân hàng có quy mô lớn được đa dạng hóa tốt không làm giảm rủi ro trong quá trong hoạt động Trong phân tích hồi quy, nghiên cứu phát hiện ra quy mô công ty có ảnh hưởng không đáng kể trong việc giảm rủi ro đặc biệt của công ty cho giai đoạn mẫu của họ (1980-1993) Cũng giống như nghiên cứu Boyd và Runkle (1993), nghiên cứu của Demsetz và Strahan (1997) chỉ bao gồm các ngân hàng BHCs nên không bao quát được mức độ chấp nhận rủi ro của hệ thống các
tổ chức tín dụng tại thị trường Mỹ
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu năm 2008 đã tạo động lực cho nhiều tác giả nghiên cứu về mối quan hệ giữa quy mô hoạt động và mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng trên thế giới Chẳng hạn như, Laeven và Levine (2009) đã nghiên cứu mẫu bao gồm 270 ngân hàng từ 48 quốc gia khác nhau cho giai đoạn từ năm 1996-2001 Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ dữ liệu của Bankscope và Bankers Almanac với 10 ngân hàng niêm yết lớn nhất cho mỗi quốc gia Họ đã tìm thấy mối liên hệ tương quan dương giữa quy mô ngân hàng và mức độ chấp nhận rủi ro được đo lường bằng Z-score Họ cũng tìm thấy mối quan hệ tương quan dương giữa quyền ngân lưu (cash flow rights) của các cổ đông lớn của ngân hàng và rủi ro của ngân hàng Bên cạnh đó, nghiên cứu của Houston và cộng sự (2010) nghiên cứu mối quan hệ giữa mức độ chấp nhận rủi ro và quy mô hoạt động của hệ thống các tổ chức tài chính trên thế giới Dữ liệu nghiên cứu gồm 300 ngân hàng trên khắp thế giới, dữ liệu nghiên cứu từ năm 2000 đến 2007 được thu thập từ Bankscope và báo cáo thường niên của các ngân hàng Biến phụ thuộc đại diện cho mức độ chấp nhận rủi ro là Z-score, ROA, CAR, biến động của ROA Biến độc lập là tổng tài sản, quản trị ngân
Trang 22hàng, M/B, tỷ lệ sở hữu của CEO Kết quả nghiên cứu đưa ra kết luận: tổng tài sản có mối quan hệ tương quan dương với mức độ biến động của biến độ lệch chuẩn lợi nhuận hàng ngày của cổ phiếu, điều này có nghĩa quy mô hoạt động của các ngân hàng
có mối quan hệ tương quan dương với mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng niêm yết tại thị trương Mỹ
Trong giai đoạn gần kề với khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, nghiên cứu của Boyd và cộng sự (2006) bao gồm mẫu nghiên cứu là 2.500 ngân hàng quy mô nhỏ hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp ngoài địa bàn đô thị trên thế giới, dữ liệu nghiên cứu chỉ trong tháng 06 năm 2003 Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáo Rural non-metropolitan Statistical Areas report, biến phụ thuộc đại diện cho mức độ chấp nhận rủi ro là Z-score, tỷ lệ tổng vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản CAR, biến độc lập là logarit tự nhiên tổng tài sản Kết quả nghiên cứu đưa ra kết luận: tổng tài sản có mối quan hệ tương quan âm với Z-score, tỷ lệ tổng vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản CAR, điều này có nghĩa quy mô hoạt động của các ngân hàng có mối quan hệ tương quan dương với mức độ rủi ro của các ngân hàng nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp Nghiên cứu của Stiroh (2006) tập trung vào mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng lớn niêm yết tại Mỹ (các BHC) và kích cỡ của các ngân hàng Nghiên cứu bao gồm mẫu nghiên cứu là 400 ngân hàng niêm yết lớn tại Mỹ niêm yết trên báo cáo Y-9C Report, dữ liệu nghiên cứu từ năm 1997 đến 2004 Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáo Y-9C Report và báo cáo thường niên của các ngân hàng, biến phụ thuộc đại diện cho rủi ro là độ lệch chuẩn lợi nhuận theo tuần của cổ phiếu, biến độc lập là logarit tự nhiên của tổng tài sản Kết quả nghiên cứu đưa ra kết luận: tổng tài sản
có mối quan hệ tương quan âm với độ lệch chuẩn lợi nhuận theo tuần của cổ phiếu, điều này có nghĩa quy mô hoạt động của các ngân hàng có mối quan hệ tương quan âm với mức độ rủi ro của các ngân hàng lớn, nghĩa là ngân hàng quy mô lớn hoạt động ít
chấp nhận rủi ro hơn
Về mối quan hệ giữa quy mô hoạt động và rủi ro hoạt động tín dụng trong ngân
Trang 23hàng, nghiên cứu của Berger và Bouwan (2013) đã xem xét mẫu nghiên cứu là các Ngân hàng Hoa Kỳ trong giai đoạn từ năm 1984 đến năm 2010 và đã phát hiện có mối quan hệ tương quan dương giữa quy mô hoạt động (đo lường bằng tổng tài sản) và rủi
ro hoạt động tín dụng trong ngân hàng (được xác định bằng giá trị tài sản rủi ro được định nghĩa trong Basel I chia cho tổng giá trị tài sản)
Về ảnh hưởng của việc quản trị ngân hàng lên mức độ chấp nhận rủi ro, nghiên cứu của Cheng và cộng sự (2010) trên mẫu nghiên cứu các các tổ chức tài chính tại Hoa Kỳ (bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, công ty bảo hiểm) đã nghiên cứu cấu trúc đền bù rủi ro Trong nghiên cứu này rủi ro được đo bằng beta của công ty và biến động giá cổ phiếu của công ty có mối tương quan dương với khoản tiền thưởng của các nhà điều hành ngân hàng, nghĩa là ngân hàng có khoản tiền thưởng cao thì có mức rủi ro cao hơn
Về lợi thế của các ngân hàng thuộc diện TBTF, nghiên cứu của Baker và Mc Arthur (2009) đã ước tính khoản cách chi phí huy động vốn giữa các ngân hàng nhỏ và các ngân hàng thuộc TBTF và phát hiện ra khoản cách này là 0.29% trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2007 và tăng lên 0.78% trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm
2009, điều này có nghĩa các ngân hàng TBTF có thể huy động vốn với chi phí thấp hơn
so với các ngân hàng nhỏ và mức chênh lệch này càng tăng, do đó các ngân hàng có xu hướng tăng mạnh quy mô nhằm đạt được trạng thái TBTF trên thị trường Ngoài ra nghiên cứu của Rime (2005) cũng cho thấy rằng các ngân hàng TBTF có mối quan hệ tương quan dương với xếp hạng ngân hàng Từ những lợi thế của các ngân hàng TBTF, các ngân hàng khác đều có xu hướng gia tăng quy mô hoạt động của mình, đi cùng với
đó là gia tăng rủi ro hoạt động trong kinh doanh
Tóm lại hầu hết các nghiên cứu trước đây tại các thị trường lớn như Hoa Kỳ đều có kết luận rằng: có mối quan hệ tương quan dương giữa quy mô hoạt động và mức độ chấp nhận rủi ro tại các tổ chức tài chính Từ các nghiên cứu trên, tác giả sẽ vận dụng các mô hình đã được kiểm chứng thực nghiệm và xây dựng mô hình hồi quy
Trang 24cho bài nghiên cứu này Phương pháp nghiên cứu của bài sẽ được trình bày ở phần 3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 25Tác giả Giai đoạn nghiên
cứu và số lượng mẫu
chấp nhận rủi ro)
Mối quan hệ giữa quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro
- Merton Distance to Default
- Biến động lợi nhuận cổ phiếu
- Độ lệch chuẩn lợi nhuận theo ngày của cổ phiếu
Số tuần giao dịch lớn hơn 30
Trang 26PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thước đo mức độ chấp nhận rủi ro (hay mức độ rủi ro) thường được áp dụng trong lĩnh vực ngân hàng là hệ số Z-score với ý nghĩa là Z-score càng cao thì Ngân hàng càng ít chấp nhận rủi ro hơn hay ít rủi ro hơn và ngược lại Bài nghiên cứu này chủ yếu tìm hiểu tác động của yếu tố quy mô hoạt động lên mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Trong bài, tác giả sử dụng biến mức độ chấp nhận rủi ro được đo lường bằng logarit tự nhiên của Z-score (ln(z-score)) và biến quy mô được đo lường bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản (ln(total assets)) Bên cạnh đó tác giả còn sử dụng thêm các biến đo lường khác thay thế cho Z-score và tổng tài sản để kiểm tra tính vững của mô hình nghiên cứu
Tác giả áp dụng phương pháp nghiên cứu của Sanjai Bhagat, Brian Bolton, Jun
Lu (2015) đã được đăng trên tạp chí Journal of Banking & Finance số 59 (2015), mô hình nghiên cứu cơ sở của bài nghiên cứu này là mô hình hồi quy như sau:
Bank Riski = α + β1Total Assetsi + β2Director Ownershipi + β3CEO Ownershipi+ β4Market-to-Booki + β5Firm Agei + β6State Owni + β7Financial Crisis Dummyi +
Trang 27+ CEO Ownershipi : Tỷ lệ sở hữu của chủ tịch hội đồng quản trị hay CEO của Ngân hàng/người điều hành trực tiếp ngân hàng, được đo lường bằng tỷ lệ sở hữu cổ phiếu sở hữu cuối năm tài chính của chủ tịch hội đồng quản trị hay CEO
+ Market-to-Booki : Giá trị thị trường trên giá trị sổ sách, được đo lường bằng giá cổ phiếu cuối năm tài chính trên giá trị sổ sách của cổ phiếu trên cân đối kế toán Biến này chỉ thu thập được đối với các ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán HOSE, HNX
+ Firm Agei : Số năm thành lập của ngân hàng, được đo lường bằng năm tài chính hiện hành trừ cho năm thành lập ngân hàng
+ State Owni : Biến giả sở hữu nhà nước, đối với các ngân hàng Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ (bao gồm BIDV, Vietcombank, Vietinbank) giá trị là 1, các ngân hàng còn lại giá trị là 0
+ Financial Crisis Dummyi : Biến giả giai đoạn khủng hoảng, giai đoạn khủng hoảng được hiểu là từ năm 2009 (năm đánh dấu khủng hoảng trên thị trường tài chính thế giới tác động đến kinh tế Việt Nam) đến năm 2012 (năm đánh dấu sự ra đời của đề
án 254 về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam), giai đoạn năm 2007-2008 được xem là trước khủng hoảng, giai đoạn 2013-2015 được xem là sau khủng hoảng Biến giả này có giá trị là 1 cho giai đoạn 2009-2012 và giá trị là 0 cho hai giai đoạn 2007-2008 và 2013-2015
+ GDPi : Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế năm tài chính
+ CPIi : Tỷ lệ lạm phát năm tài chính
Bài nghiên cứu này có thay đổi đôi chút so với nghiên cứu của Sanjai Bhagat và cộng sự (2015) ở các điểm: Biến Market-to-book chỉ áp dụng để chạy cho các ngân hàng có niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam, các ngân hàng còn lại không thể thu thập được dữ liệu này do thông tin về giao dịch không công khai (giao dịch thỏa thuận)
và nhiều cổ phiếu hiện nay không phát sinh giao dịch trên sàn nên không xác định được chính xác giá thị trường của cổ phiếu Tác giả bổ sung thêm biến State Own (sở
Trang 28hữu nhà nước) là biến kiểm soát để kiểm tra tác động của các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước đến mức độ chấp nhận rủi ro, bổ sung thêm hai biến GDP và CPI để xem tác động từ môi trường vĩ mô đến mức độ chấp nhận rủi ro của các Ngân hàng tại Việt Nam Bài nghiên cứu này chủ yếu nhằm mục đích kiểm tra nhân tố quy mô hoạt động đến mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam, các biến còn lại là biến kiểm soát để đảm bảo mô hình hồi quy hiệu quả
Trong quá trình chạy mô hình hồi quy, tác giả còn sử dụng bổ sung thêm các mô hình hồi quy khác để kiểm định tính vững của kết quả nghiên cứu và nhằm tìm hiểu rõ hơn tác động của từng biến độc lập đến biến phụ thuộc là mức độ rủi ro của Ngân hàng
Nguồn dữ liệu cho bài nghiên cứu được thu thập chủ yếu từ Vietstock (Công ty cung cấp thông tin tài chính lớn tại Việt Nam với nguồn dữ liệu mở có độ tin cậy cao) nơi mà tác giả thu thập dữ liệu hàng năm của tất cả các ngân hàng thương mại tại Việt Nam, dữ liệu được thu thập theo giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2015 Sau đó tác giả thu thập thêm những dữ liệu còn thiếu thông qua việc tự thu thập thông tin từ các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Tác giả thu thập toàn bộ thông tin tài chính của hầu hết các ngân hàng thương mại tại Việt Nam (trừ Ngân hàng Agribank không công bố báo cáo và các Ngân hàng nước ngoài
do hạch toán phụ thuộc vào ngân hàng mẹ) Tổng số ngân hàng thu thập dữ liệu là 28 ngân hàng (trên tổng số 33 ngân hàng tại Việt Nam, ngoại trừ Agribank, CB Bank, Vietbank, BaoVietbank, Oceanbank do không thu thập đủ dữ liệu) bao gồm 246 quan sát theo năm, đây là mẫu đủ đại diện cho toàn bộ các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Việc thu thập dữ liệu bắt đầu từ dữ liệu thô do Vietstock cung cấp, trong đó bao gồm 24 Ngân hàng và thông tin tài chính cơ bản cho giai đoạn từ năm 2007 đến năm
2015 Tuy nhiên bộ dữ liệu này chưa đầy đủ và chưa bao gồm các biến như số lượng
Trang 29nhân viên ngân hàng, số lượng chi nhánh phòng giao dịch, tỷ lệ sở hữu của chủ tịch hội đồng quản trị/CEO, giá trị cổ phiếu của chủ tịch hội đồng quản trị/CEO… do đối tác Vietstock không đủ thông tin Sau đó tác giả phải thu thập thủ công thêm các thông tin còn thiếu để nâng tổng số mẫu lên 28 Ngân hàng với 246 quan sát Trong quá trình thu thập dữ liệu, tác giả đã phải thu thập thủ công từ báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của các ngân hàng để hoàn thành bộ dữ liệu nghiên cứu Đây là bộ dữ liệu gần như đầy
đủ các ngân hàng thương mại đang hoạt động tại Việt Nam, chiếm 28/33 ngân hàng tại Việt Nam
3.3.1 Biến đo lường mức độ chấp nhận rủi ro (biến phụ thuộc)
Thước đo mức độ chấp nhận rủi ro chính trong bài nghiên cứu là Z-score, được
đo bằng lợi nhuận trên tài sản (ROA) cộng với tỷ lệ tài sản vốn (CAR), chia cho độ lệch chuẩn của lợi nhuận trên tài sản (σ(ROA)):
Z − score =(ROA + CAR)
σ(ROA)Trong ngân hàng, định nghĩa về vốn hoàn toàn khác biệt so với các lĩnh vực phi ngân hàng Theo thước đo quy định trong Basel I, vốn cấp 1 bao gồm vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và lợi nhuận chưa phân phối, trong khi đó vốn cấp 2 bao gồm lợi nhuận chưa công bố, giá trị tài sản đánh giá lại, các khoản dự phòng rủi ro chung và các công
cụ lai giữa nợ và vốn, và các khoản nợ thứ cấp dài hạn Việc thu thập vốn tự có theo chuẩn Basel I là vốn cấp 1 và vốn cấp 2 tại Việt Nam là không khả thi do trước đây các ngân hàng tại Việt Nam không tách bạch được vốn cấp 1 và vốn cấp 2 mà chỉ dùng chung là vốn chủ sở hữu hay vốn điều lệ, đến hiện nay việc báo cáo về vốn tự có của các ngân hàng thương mại vẫn chưa được công bố rộng rãi trên các báo cáo thường niên của ngân hàng mà chỉ dùng để báo cáo nội bộ và báo cáo cho ngân hàng nhà nước
để thực hiện tính toán các chỉ số an toàn vốn và đáp ứng quy định của luật các tổ chức tín dụng về hoạt động cho vay cấp bảo lãnh Do đó trong bài nghiên cứu này, tác giả sử
Trang 30dụng CAR được đo bằng tổng tài sản trừ đi tổng nợ phải trả, chia cho tổng tài sản Đây
là công thức tính CAR được áp dụng phổ biến trong các nghiên cứu hiện nay, như nghiên cứu của Sanjai Bhagat (2015), Laeven và Levine (2009), Houston và cộng sự (2010), Vyas (2011)…
Z-score được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu nước ngoài để đo lường mức độ rủi ro của các công ty phi tài chính cũng như các ngân hàng Z-score đo lường rủi ro phá sản của các công ty và cả các ngân hàng Một giá trị Z-score cao nghĩa là ngân hàng đó có mức độ chấp nhận rủi ro thấp hơn và hoạt động ổn định hơn Bởi vì Z-score là một giá trị chệch nên tác giả áp dụng phương pháp theo nghiên cứu của Sanjai Bhagat và cộng sự (2015), Laeven and Levine (2009) và Houston và cộng sự (2010) là sử dụng logarit tự nhiên của Z-score để đo lường rủi ro Tuy nhiên, vấn đề trong tính toán là nhiều khả năng Z-score sẽ bị âm do nhiều ngân hàng hoạt động trong tình trạng bị lỗ thì khi đó sẽ không tính toán được logarit tự nhiên của Z-score để áp dụng trong mô hình Khi thu thập dữ liệu, tác giả không bị trường hợp nào Z-score bị
âm nên tác giả đã sử dụng logarit tự nhiên của Z-score trong quá trình tính toán Trong tính toán Z-score, ROA và CAR được sử dụng là giá trị hàng năm và σ(ROA) là độ lệch chuẩn của ROA hàng năm tính trên khoảng thời gian 5 năm cho mỗi quan sát Tác giả tính σ(ROA) dựa trên nghiên cứu của Sanjai Bhagat (2015), Laeven and Levine (2009) và Houston và cộng sự (2010)
Z-score có một số hạn chế khi được dùng để tính mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại Hạn chế quan trọng nhất là Z-score là được tính toán hoàn toàn dựa trên các số liệu kế toán Do đó, chỉ số Z-score chỉ được xem là tốt trong nghiên cứu khi các ngân hàng áp dụng chung một khuôn khổ kế toán và kiểm toán và chuẩn mực này phải được áp dụng nghiêm tại toàn bộ hệ thống Ngân hàng, tránh tình trạng sử dụng các thủ thuật kế toán để che dấu số liệu Nếu các ngân hàng có thể tìm cách làm mịn các số liệu báo cáo, nghĩa là các ngân hàng tìm cách để số liệu ROA ít biến động để làm sao cho chỉ số σ(ROA) nhỏ nhất, khi đó Z-score có thể cung cấp một
Trang 31đánh giá quá tích cực của mức độ rủi ro và sự ổn định các ngân hàng Ngoài ra, Z-score còn tính cho từng ngân hàng riêng biệt, việc tính toán này không xét đến mức độ rủi ro của các ngân hàng khác đến mức độ rủi ro chung của cả hệ thống qua đó tác động đến mức độ rủi ro của ngân hàng ta đang tính đến Tuy nhiên lợi thế khi áp dụng Z-score trong tính toán mức độ rủi ro là việc thu thập dữ liệu khá đơn giản và có thể áp dụng tại các thị trường mà việc tính toán chỉ số rủi ro dựa trên thị trường là rất khó khăn do thiếu thông tin và không đủ dữ liệu như tại thị trường chứng khoán Việt Nam Ngoài
ra, Z-score cho phép so sánh nguy cơ vỡ nợ giữa các ngân hàng với nhau dù rằng các ngân hàng có thể khác nhau về quyền sở hữu hoặc khác nhau về quản trị công ty hoặc khác nhau về mục tiêu hướng tới trong tương lai Từ những nhận định trên, tác giả nhận thấy việc sử dụng Z-score trong tính toán mức độ chấp nhận rủi ro tại các ngân hàng Việt Nam là hợp lý tại thời điểm hiện nay và phù hợp với thông lệ nghiên cứu trên thế giới
Khi chạy mô hình Robustness Check, tác giả còn sử dụng thêm biến đo lường rủi ro khác là độ lệch chuẩn của lợi nhuận cổ phiếu theo ngày (σ(RET)) Chỉ số này cho thấy phản ứng của thị trường về mức độ rủi ro của công ty phản ánh theo ngày Đây là mức đo bổ sung cho Z-score được áp dụng khá phổ biến trong các nghiên cứu nước ngoài như nghiên cứu của Sanjai Bhagat và cộng sự (2015) hay Vyas (2011)
Để tìm hiểu kỹ hơn về từng nhân tố trong cấu thành Z-score trong mối quan hệ với các biến độc lập (như là biến quy mô, tỷ lệ sở hữu của chủ tịch hội đồng quản trị, hoặc việc sở hữu của chính phủ…), tác giả còn sử dụng từng cấu thành trong Z-score là lợi nhuận trên tài sản (ROA), tỷ lệ tài sản vốn (CAR), độ lệch chuẩn của lợi nhuận trên tài sản (σ(ROA)) như là biến phụ thuộc để áp dụng chạy mô hình Việc phân tích từng cấu thành này nhằm nghiên cứu kỹ thêm việc Z-score chịu ảnh hưởng nhiều từ nhân tố nào và nhân tố đó chịu ảnh hưởng như thế nào từ quy mô hoạt động của ngân hàng
3.3.2 Biến đo lường quy mô hoạt động ngân hàng
Thước đo quy mô trong hoạt động ngân hàng có nhiều cách thức lựa chọn khác
Trang 32nhau Cách đầu tiên là dựa trên số liệu kế toán, thước đo quy mô này có thể áp dụng là tổng tài sản của ngân hàng hay tổng doanh thu của ngân hàng Cách thứ hai là dựa trên
số liệu thị trường, thước đo quy mô này có thể áp dụng là tổng vốn hóa trên thị trường chứng khoản của ngân hàng Theo các nghiên cứu nước ngoài mà tác giả tìm hiểu và tình hình thực tế là ít ngân hàng Việt Nam niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán, tác giả chủ yếu tập trung vào số liệu kế toán là tổng tài sản để đại diện cho biến quy mô hoạt động ngân hàng Nguyên nhân do tổng tài sản là số liệu dễ thu thập từ báo cáo tài chính và thường được áp dụng để so sánh quy mô các ngân hàng tại thị trường Việt Nam Để chạy kiểm định lại ảnh hưởng của quy mô hoạt động ngân hàng đến mức độ chấp nhận rủi ro tác giả còn sử dụng thước đo tổng doanh thu thay thế cho tổng tài sản Tác giả xem xét biến quy mô ngân hàng là một biến có thước đo liên tục Tác giả dự kiến xác định biến giả là TBTF (quá lớn để thất bại) để tìm hiểu tác động của trạng thái TBTF đến mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng Một tham chiếu có thể áp dụng là 5 ngân hàng có quy mô tài sản lớn nhất sẽ được xem là đạt trạng thái TBTF Tuy nhiên việc tính toán đúng ngưỡng của trạng thái TBTF tại thị trường Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn do chưa có nghiên cứu nào trước đây tìm hiểu rõ về trạng thái này Do đó tác giả quyết định không áp dụng biến giả cho trạng thái TBTF để chạy mô hình hồi quy
Áp dụng theo nghiên cứu của Sanjai Bhagat và cộng sự (2015), tác giả sử dụng biến logarit tự nhiên của tài sản và doanh thu cho giai đoạn nghiên cứu từ năm 2007-
2015 khi chạy mô hình hồi quy nguyên nhân do tổng tài sản và tổng doanh thu cũng là một đại lượng chệch khi chạy mô hình Tác giả cũng kỳ vọng rằng biến quy mô sẽ có mối quan hệ tương quan dương với biến đo lường mức độ chấp nhận rủi ro, do tác giả
kỳ vọng Ngân hàng có quy mô hoạt động càng lớn càng có mức rủi ro nhiều hơn
3.3.3 Biến đo lường sự quản trị công ty
Áp dụng theo nghiên cứu của Sanjai Bhagat và các cộng sự (2015), tác giả sử dụng phương pháp đo lường sự quản trị công ty dựa trên giá trị cổ phiếu sở hữu của chủ tịch hội đồng quản trị hay CEO của Ngân hàng/người điều hành trực tiếp ngân
Trang 33hàng, được đo lường bằng logarit tự nhiên của giá trị cổ phiếu sở hữu cuối năm tài chính của chủ tịch hội đồng quản trị hay CEO Đây là phương pháp được phát triển bởi Bhagat và Bolton (2008) và được sử dụng phổ biến tại các nghiên cứu về tài chính hiện nay Biến này được phát triển dựa trên ý tưởng rằng các nhà quản trị điều hành ngân hàng sẽ có trách nhiệm hơn với ngân hàng trong việc giám sát rủi ro và quản trị rủi ro khi họ là người có nhiều tài sản tại Ngân hàng, thuật ngữ tiếng anh là “Skin in the game” Điều này cũng phù hợp với thực tế hiện nay đang áp dụng tại các lĩnh vực khác, nhiều công ty đã khuyến khích các nhà quản lý sở hữu nhiều cổ phiếu hơn trong công ty thông qua việc chia thưởng bằng cổ phiếu với điều khoản hạn chế mua bán trong thời gian vài năm đầu Thực tế hiện nay nhiều công ty còn yêu cầu người quản lý phải sở hữu tối thiểu bao nhiêu cổ phiếu để được điều hành hoạt động công ty (chẳng hạn công ty NIKE tại Mỹ yêu cầu các nhà quản lý phải sở hữu tối thiểu 100.000 USD
cổ phiếu của NIKE vào năm 2013) Do đó hoạt động của ban quản trị công ty sẽ bị phụ thuộc vào giá trị cổ phiếu mà họ nắm giữ Lợi thế lớn nhất trong việc sử dụng giá trị cổ phiếu sở hữu của chủ tịch hội đồng quản trị hay CEO của Ngân hàng đại diện cho sự quản trị công ty so với việc áp dụng các chỉ tiêu khác như là G-index (nghiên cứu của Gornpers và cộng sự (năm 2013)) hay E-index (nghiên cứu của Bebchuk và cộng sự (năm 2009)) là đơn giản hơn, dễ dàng để thu thập thông tin và ít bị lỗi trong tính toán
Sanjai Bhagat và cộng sự (2015) và Bhagat và Bolton (2008) xem giá trị sở hữu của chủ tịch hội đồng quản trị hay CEO là yếu tố chính tác động lên quyết định quản trị công ty của chủ tịch hội đồng quản trị hay CEO hơn là các yếu tố khác như là tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của CEO Nguyên nhân do các nhà quản lý quan tâm đến lượng tiền họ đang nắm giữ hơn là tỷ lệ cổ phiếu họ đang nắm Đây cũng là điều được nhận thấy trong các nghiên cứu của Murphy và Shleifer (2004) hay nghiên cứu của Milanovic (2004) Theo như trình bày ở trên, việc thu thập dữ liệu giá trị cổ phiếu của chủ tịch hội đồng quản trị hay CEO là rất khó khăn do sự hạn chế từ dữ liệu cung cấp từ Vietstock,
do đó tác giả phải tự thu thập dữ liệu nghiên cứu từ các báo cáo thường niên của ngân
Trang 34hàng và từ các dữ liệu thu thập được trên internet Đối với các ngân hàng niêm yết, giá trị cổ phiếu được tính dựa trên thị giá của cổ phiếu của chủ tịch hội đồng quản trị hay CEO, còn đối với các ngân hàng chưa niêm yết, giá trị cổ phiếu được tính dựa trên giá trị sổ sách của cổ phiếu của chủ tịch hội đồng quản trị hay CEO Tác giả cũng kỳ vọng rằng biến giá trị cổ phiếu sở hữu của chủ tịch hội đồng quản trị hay CEO sẽ có mối quan hệ tương quan âm với biến đo lường mức độ chấp nhận rủi ro, do tác giả kỳ vọng Ngân hàng có sự quản trị tốt (hàm ý chủ tịch hay CEO có động lực quản trị công ty tốt hơn) sẽ có mức độ rủi ro ít hơn
3.3.4 Biến tỷ lệ sở hữu của CEO/chủ tịch hội đồng quản trị
Các nhà quản lý e ngại rủi ro có xu hướng chấp nhận rủi ro ít hơn so với các mức rủi ro tối ưu nhằm bảo vệ nguồn nhân lực công ty, cụ thể là mức lương họ được hưởng, vì thu nhập làm việc của họ thường gắn liền với những thay đổi trong giá trị công ty Đây là vấn đề người đại diện (agency problem) được nêu lên nhiều lần tại các nghiên cứu trước đây Ví dụ như trong nghiên cứu của Jensen và Meckling (1976), Amihud và Lev (1981), và Smith và Stulz (1985) Tuy nhiên, việc nhà quản lý công ty
sở hữu nhiều cổ phần sẽ khiến họ hành động dựa trên động lực phù hợp với các cổ đông công ty Vì vậy, tác giả kỳ vọng rằng có mối quan hệ tương quan dương giữa tỷ
lệ sở hữu của chủ tịch hội đồng quản trị/CEO với mức độ chấp nhận rủi ro
Nhiều tác giả đã nghiên cứu về cấu trúc sở hữu vốn trong công ty đến mức độ chấp nhận rủi ro trong công ty Ví dụ như trong lĩnh vực phi tài chính, nghiên cứu của Agrawal và Mandelker (1987) đã tìm thấy mối quan hệ tương quan dương giữa tỷ lệ sở hữu của nhà quản lý và mức độ thay đổi giá trị công ty Trong khi đó, theo nghiên cứu của John và cộng sự (2008) đã tìm thấy rằng các nhà quản lý có tỷ lệ sở hữu lớn thường có chiến lược đầu tư dưới mức tối ưu, nghĩa là có mức độ chấp nhận rủi ro dưới mức tối ưu Sauders và cộng sự (1990) đã tìm thấy rằng các cổ đông thường kiểm soát ngân hàng với mức độ rủi ro cao hơn so với các nhà quản lý kiểm soát ngân hàng Demsetz và cộng sự (1997) tìm thấy mối quan hệ quan trọng giữa cấu trúc ngân hàng
Trang 35và mức độ chấp nhận rủi ro tại các ngân hàng có quy mô nhỏ
Tác giả sử dụng biến tỷ lệ sở hữu của chủ tịch hội đồng quản trị/CEO và thước
đo cấu trúc sở hữu vốn của ngân hàng Giống như biến đo lường sự quản trị công ty, tác giả đã thu thập thủ công tỷ lệ sở hữu của CEO/chủ tịch hội đồng quản trị từ các báo cáo thường niên của ngân hàng và từ dữ liệu thu thập trên internet Tác giả cũng kỳ vọng rằng biến tỷ lệ sở hữu của chủ tịch hội đồng quản trị hay CEO sẽ có mối quan hệ tương quan dương với mức độ chấp nhận rủi ro
3.3.5 Biến tỷ lệ giá thị trường trên giá trị sổ sách (Market to book ratio)
Tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách (M/B) được xem là yếu tố quan trọng trong mô hình định giá tài sản Ví dụ, theo mô hình năm nhân tố của Fama và French (1992) đã chỉ ra rằng các công ty có tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường càng cao (hoặc tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách càng thấp) thì có nhiều khả năng đang trong giai đoạn khủng hoảng tài chính và tìm ẩn rủi ro phá sản cao Tác giả tính toán giá trị này bằng cách chia giá trị thị trường của cổ phiếu kết thúc năm báo cáo tài chính cho giá trị sổ sách vốn chủ sở hữu trên báo cáo tài chính theo năm
Trong lý thuyết ngân hàng, tỷ lệ M/B thường được xem là một thước đo giá trị ngân hàng Giá trị M/B rất có ý nghĩa bởi vì đây được xem là rào cản để gia nhập thị trường và thường được xem là như kỳ vọng của thị trường về khả năng tạo ra lợi nhuận của ngân hàng Giá trị M/B thấp có ý nghĩa là thị trường kỳ vọng thấp về khả năng tạo
ra lợi nhuận của ngân hàng hay tình hình tài chính của ngân hàng gặp nhiều rủi ro, khả năng phá sản của các ngân hàng có M/B thấp (bé hơn 1) cao hơn nhiều so với các ngân hàng khác Theo nghiên cứu của Demsetz và cộng sự (1997), nghiên cứu của Galloway
và cộng sự (1997), đã phát hiện rằng các ngân hàng có giá trị M/B thấp sẽ có mức độ rủi ro cao hơn so với các ngân hàng có M/B cao Từ đó, tác giả kỳ vọng rằng biến M/B
sẽ có mối quan hệ tương quan âm với biến đo lường rủi ro của các ngân hàng
Tuy nhiên việc thu thập giá trị M/B tại Việt Nam cho tất cả các ngân hàng trong mẫu nghiên cứu là không khả thi do chỉ có 6/28 ngân hàng đang niêm yết trên thị
Trang 36trường chứng khoán HOSE và HNX Trong khi đó các ngân hàng không niêm yết hoặc được giao dịch trên thị trường UPCOM không thể thu thập đầy đủ giá giao dịch, do đó đối với các ngân hàng này không thể tính được giá trị M/B Trong nghiên cứu này, tác giả chỉ phân tích tác động của yếu tố M/B cho các ngân hàng được niêm yết trên thị trường chứng khoán HOSE và HNX bao gồm Ngân hàng Á Châu (ACB), Ngân hàng Quốc Dân (NCB), Ngân hàng Quân Đội (MB BANK), Ngân hàng Sài Gòn Hà Nội (SHB), Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (SACOMBANK), Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu (EXIMBANK), Ngân hàng Ngoại Thương (Vietcombank), Ngân hàng Công Thương Việt Nam (VIETINBANK), Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam (BIDV)
3.3.6 Biến số năm thành lập ngân hàng
Các ngân hàng hoạt động lâu trên thị trường thường có xu hướng chấp nhận rủi
ro ít hơn so với các ngân hàng mới thành lập, nguyên nhân do các ngân hàng thành lập lâu đã có thị phần ổn định và có nền khách hàng vững chắc do đó họ có ít động lực hơn
để gia tăng rủi ro nhằm phát triển thị phần Còn đối với các ngân hàng mới thành lập,
họ có động lực để gia tăng rủi ro nhằm tìm kiếm thị phần mới và gia tăng lợi nhuận và ngoài ra còn giúp cho nhà quản lý ngân hàng thể hiện năng lực quản lý của mình trước các cổ đông
Do đó, tác giả sẽ dùng biến số năm thành lập ngân hàng như là biến kiểm soát với kỳ vọng rằng các ngân hàng hoạt động lâu năm sẽ quản trị rủi ro tốt hơn và ít rủi ro hơn so với các ngân hàng mới thành lập
3.3.7 Biến giả sở hữu nhà nước
Hiện nay, hệ thống ngân hàng tại Việt Nam phân thành 2 nhóm sở hữu Nhóm 1 gồm các ngân hàng thuộc sở hữu của nhà nước chi phối, nghĩa là nhà nước chiếm trên 50% vốn chủ sở hữu, nhóm 2 gồm các ngân hàng thương mại cổ phần thuộc tư nhân Trong nhóm 1 gồm các ngân hàng có quy mô lớn, bao gồm BIDV, Vietcombank, Vietinbank, Agribank, MHB (Agribank và MHB không thuộc mẫu nghiên cứu do
Trang 37Agribank không thu thập đủ dữ liệu, còn MHB đã được sáp nhập với BIDV vào năm 2015) Trong nhóm 2 bao gồm cả các ngân hàng có quy mô lớn, quy mô nhỏ và vừa Nguyên nhân do các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước thường được ưu đãi và nhận được nhiều hỗ trợ của nhà nước và nhận được sự cam kết chắc chắn sẽ được cứu trợ nếu xảy ra khủng hoảng nên theo nhận định các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước thường có mức độ chấp nhận rủi ro cao hơn các ngân hàng không thuộc sở hữu nhà nước
3.3.8 Biến giả khủng hoảng tài chính
Thị trường tài chính Việt Nam cũng chịu tác động rất lớn từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Do đó yếu tố mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng cũng chịu tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính này Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng biến giả khủng hoảng tài chính với giai đoạn khủng hoảng được hiểu là từ năm 2009 (năm đánh dấu khủng hoảng trên thị trường tài chính thế giới tác động đến kinh tế Việt Nam) đến năm 2012 (năm đánh dấu sự ra đời của đề án 254 về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam), giai đoạn năm 2007-2008 được xem là trước khủng hoảng, giai đoạn năm 2013-2015 được xem là sau khủng hoảng Trái ngược với các nghiên cứu trên thế giới như nghiên cứu của Sanjai Bhagat và cộng sự (2015) trong đó trong giai đoạn khủng hoảng tài chính rủi ro của các ngân hàng thấp hơn do sự kiểm soát của các nhà quản lý, trong nghiên cứu này tác giả kỳ vọng trong giai đoạn khủng hoảng tài chính mức độ chấp nhận rủi ro sẽ cao hơn vì trong giai đoạn này các ngân hàng đẩy mạnh tăng trưởng quy mô hoạt động để tìm kiếm lợi nhuận và chiếm lĩnh thị trường, tác giả kỳ vọng sau khủng hoảng rủi ro của các ngân hàng sẽ thấp hơn dù quy
mô hoạt động tăng so với giai đoạn trước vì các chính sách tái cơ cấu thị trường ngân hàng của Ngân hàng nhà nước theo đề án 254 năm 2012
3.3.9 Biến kiểm soát GDP và CPI
Hoạt động ngân hàng tại Việt Nam chịu tác động mạnh từ các yếu tố vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, lạm phát, tỷ giá, cán cân thanh toán, chính sách của ngân hàng nhà
Trang 38nước… Các yếu tố này tác động trực tiếp đến hoạt động hàng ngày của ngân hàng, tác động trực tiếp đến lợi nhuận và hiệu quả của các ngân hàng, qua đó tác động đến mức
độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Do đó tác giả sử dụng
bổ sung hai biến kiểm soát là tỷ lệ tăng trưởng kinh tế GDP và lạm phát CPI trong quá trình chạy mô hình hồi quy
Sau khi chạy mô hình hồi quy thì thật sự có mối liên hệ tương quan giữa GDP CPI đến mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng tại Việt Nam
Bảng 3.1: Tóm tắt biến nghiên cứu và kỳ vọng dấu
Total
Assetsi
Tổng tài sản Ngân hàng có quy mô lớn sẽ có mức
độ chấp nhận rủi ro nhiều hơn vì lý thuyết TBTF
-
Market-to-Booki
Giá trị thị trường trên giá trị sổ sách
Ngân hàng có giá trị M/B thấp sẽ có mức độ chấp nhận rủi ro cao hơn so với các ngân hàng có giá trị M/B cao
+
Director
Ownershipi
Giá trị cổ phiếu sở hữu của chủ tịch hội đồng quản trị/CEO
Ngân hàng có sự quản trị tốt (hàm ý chủ tịch hay CEO có động lực quản trị công ty tốt hơn do có lượng tài sản lớn tại Công ty) sẽ có mức độ chấp nhận rủi ro ít hơn
+
CEO
Ownershipi
Tỷ lệ sở hữu của chủ tịch hội đồng quản trị/CEO
Nhà quản lý công ty có tỷ lệ sở hữu cổ phần cao sẽ có khuynh hướng gia tăng rủi ro để tìm kiếm lợi nhuận
+
Trang 39State Owni Biến giả sở hữu
nhà nước
Các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước thường nhận được nhiều hỗ trợ của chính phủ nên thường có mức độ chấp nhận rủi ro cao hơn
Thước đo chính về mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam là Z-score với hàm ý các ngân hàng có Z-score cao hơn sẽ có mức chấp nhận rủi ro ít hơn, hay có rủi ro ít hơn, hay có mức ổn định hoạt động tốt hơn Bài nghiên cứu này tác giả chú trọng đến việc tìm hiểu xem quy mô hoạt động của các ngân hàng tại Việt Nam có ảnh hưởng đến mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng hay không
Trang 40Các ngân hàng có quy mô lớn có mức độ chấp nhận rủi ro nhiều hơn hay không, hay có phát sinh chiều ngược lại Trong bài này, quy mô hoạt động được dùng chủ yếu bởi thước đo logarit tự nhiên của tổng tài sản (ln(total assets)) và thước đo này áp dụng xuyên suốt trong bài nghiên cứu Trong quá trình chạy mô hình nếu tác giả sử dụng các thước đo khác đại diện cho quy mô hoạt động như tổng doanh thu thì tác giả sẽ nêu rõ trước khi trình bày kết quả mô hình hồi quy
Trong bài nghiên cứu tác giả đã thu thập dữ liệu từ kênh thông tin Vietstock và thu thập thủ công từ các báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại Các dữ liệu thu thập được trình bày dưới dạng dữ liệu bảng (Panel Data) để áp dụng vào mô hình hồi quy
Về định nghĩa, dữ liệu bảng đôi khi còn được gọi là dữ liệu gộp (longitudinal data) mô tả nhiều đại lượng tương ứng với tần số quan sát qua nhiều đối tượng theo một chuỗi thời gian xác định cho từng đối tượng là như nhau Có thể nói dữ liệu bảng
là sự kết hợp của dữ liệu chéo (cross-section) và dữ liệu chuỗi thời gian (time series)
Dữ liệu bảng có nhiều ưu thế hơn so với nhóm dữ liệu thông thường, điển hình dữ liệu bảng có 2 điểm nổi trội như sau
Đầu tiên, các tham số ước lượng trong mô hình hồi quy bằng dữ liệu bảng sẽ cho kết quả có độ tin cậy cao hơn, điều này được thể hiện qua ba yếu tố: thứ nhất dữ liệu bảng sẽ kiểm soát được những thành phần không quan sát được Các thành phần này có thể không giống nhau giữa các đối tượng nhưng không thay đổi theo thời gian hoặc có thay đổi theo thời gian nhưng giống nhau giữa các đối tượng Điều này phần nào đã làm thay đổi để giảm sự chênh lệch trong ước lượng tham số mô hình Yếu tố thứ hai, thông thường sự biến động trong dữ liệu bảng thường nhiều hơn so với dữ liệu chéo hoặc dữ liệu chuỗi thời gian Sự biến động cho một đặc điểm trong dữ liệu càng nhiều thì hiển nhiên độ chính xác của các ước lượng đó càng tăng, tức là có nhiều biến động thì càng có nhiều giải thích cho việc ước lượng tham số Yếu tố thứ ba, có ít đa cộng tuyến trong các biến giải thích ở dữ liệu bảng hơn so với dữ liệu chéo hoặc dữ