luận văn
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học Nông nghiệp hà nội
-
hoàng thu hà
Các giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu về giống cây trồng và phân bón cho sản xuất nông nghiệp tại huyện Hoà An - tỉnh Cao Bằng
Trang 2Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………i
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và ch−a từng đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Trong quá trình thực hiện và hoàn thiện luận văn, mọi sự giúp đỡ đều
đã đ−ợc cảm ơn, các thông tin trích dẫn sử dụng trong luận văn đều đ−ợc ghi rõ nguồn gốc
Trang 3
Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………ii
Lời cảm ơn
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành bản luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của cơ quan, cô giáo hướng dẫn, các thầy cô giáo, gia đình cùng bạn bè đồng nghiệp
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Dương Nga, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn Phân tích định lượng, Ban Lãnh đạo và tập thể cán bộ Khoa Sau Đại học, Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Nông nghiệp huyện Hoà An; UBND huyện Hoà An, Phòng Thống kê huyện Hoà An và nhân dân 3 xã Bế Triều,
Đức Long và Hà Trì đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu thực tế của tôi
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp, cùng toàn thể gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi, động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn này
Trang 4Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nông nghiệp…………iii
môc lôc
4.2 HÖ thèng cung øng gièng c©y trång vµ ph©n bãn t¹i huyÖn Hoµ An 62
4.3 Thùc tr¹ng sö dông gièng c©y trång vµ ph©n bãn t¹i hé n«ng d©n
4.3.2 Thùc tr¹ng sö dông gièng c©y trång t¹i c¸c hé n«ng d©n huyÖn
Trang 5Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………iv
4.4 Khả năng đáp ứng nhu cầu giống cây trồng và phân bón cho hộ
4.5 Những yếu tố ảnh hưởng tới khả năng cung ứng giống cây trồng,
4.6 Một số giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu giống cây trồng và phân
4.6.1 Căn cứ để đưa ra giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu về giống cây
4.6.2 Một số giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu về giống cây trồng và
Trang 6Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nông nghiệp…………v
Danh môc ch÷ viÕt t¾t
Trang 7Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………vi
danh mục bảng
3.4 Giá trị sản xuất phân theo ngành kinh tế của huyện qua 3 năm
4.2 Diện tích 10 cây trồng chủ yếu của huyện Hoà An năm 2006 -
4.7 L−ợng phân đạm sử dụng cho một số cây trồng chủ yếu tại
Trang 8Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nông nghiệp…………vii
4.12 Nhu cÇu vÒ sè l−îng vµ thùc tÕ cung cÊp cña mét sè gièng c©y
Trang 9Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………viii
danh mục biểu đồ, đồ thị
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu nhập khẩu phân bón phân theo nước qua 2 năm
Biểu đồ 3.1 Cơ cấu GTSX phân theo ngành kinh tế qua 3 năm 2006 -
Biểu đồ 4.2 Cơ cấu nguồn cung ứng giống lúa và giống ngô cho huyện
Biểu đồ 4.4 So sánh lượng giống cây trồng thực tế hộ nông dân sử dụng
Biểu đồ 4.6 So sánh lượng phân bón thực tế hộ nông dân sử dụng với
Trang 10Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………ix
Danh mục sơ đồ
Trang 11
Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………1
1 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Vật tư nông nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trồng trọt nói riêng, đặc biệt là giống cây trồng và phân bón Trong nền sản xuất lúa nước cha ông ta đb đúc kết lại vai trò quan trọng của giống cây trồng và phân bón trong câu “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”
Cây trồng cũng như con gia súc, tôm, cá muốn sinh trưởng tốt, khoẻ mạnh tăng trưởng nhanh và cho năng suất cao cần phải được nuôi dưỡng trong
điều kiện đầy đủ thức ăn, có đủ các chất bổ dưỡng theo thành phần và tỷ lệ phù hợp Đối với cây trồng, nguồn dinh dưỡng đó chính là các chất khoáng có chứa trong đất, trong phân hoá học (còn gọi là phân khoáng) và các loại phân khác Trong các loại phân thì phân hoá học có chứa nồng độ các chất khoáng cao hơn cả ở nước ta, do chiến tranh kéo dài, công nghiệp sản xuất phân hoá học phát triển rất chậm và thiết bị còn rất lạc hậu Chỉ đến sau ngày đất nước
được hoàn toàn giải phóng, nông dân mới có điều kiện sử dụng phân hoá học bón cho cây trồng ngày một nhiều hơn Ví dụ năm 1974/1976 bình quân lượng phân hoá học (NPK) bón cho 1 ha canh tác mới chỉ có 43,3 kg/ha Năm 1993-1994 sau khi cánh cửa sản xuất nông nghiệp được mở rộng, lượng phân hoá học do nông dân sử dụng đb tăng lên đến 279 kg/ha canh tác Số lượng phân hoá học bón vào đb trở thành nhân tố quyết định làm tăng năng suất và sản lượng cây trồng lên rất rõ, đặc biệt là cây lúa Rõ ràng năng suất cây trồng phụ thuộc rất chặt chẽ với lượng phân hoá học bón vào Cây cối cũng như con người phải được nuôi đủ chất, đúng cách và cân bằng dinh dưỡng thì cây mới tốt, năng suất mới cao và ổn định được
Hoà An là huyện thuộc tỉnh miền núi Cao Bằng Trong những năm gần
đây nền kinh tế của huyện đb đạt được nhiều thành tựu to lớn đặc biệt là trong
Trang 12Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………2
sản xuất nông nghiệp Bên cạnh những thành tựu to lớn đó ngành nông nghiệp huyện vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập Trong khi giá trị sản phẩm nông nghiệp thấp nhưng một số vật tư nông nghiệp như phân bón có thời kỳ khan hiếm và có giá rất cao Hay đối với giống cây trồng, có một số loại giống cây trồng đưa vào khảo nghiệm và có năng suất cao nhưng sau đó lại không được đưa vào sản xuất trong thực tế của người dân Từ đó năng suất cây trồng và sản lượng cây trồng bị giảm sút gây ảnh hưởng không nhỏ đến
đời sống người nông dân Do vậy cần có những giải pháp nhằm ổn định và cung ứng đầy đủ vật tư cho sản xuất nông nghiệp Từ những lý do đó mà chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Các giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu về giống cây trồng và phân bón cho sản xuất nông nghiệp tại huyện Hoà An - tỉnh Cao Bằng"
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá và phân tích thực trạng khả năng đáp ứng nhu cầu giống cây trồng và phân bón cho hộ nông dân huyện Hoà An và các yếu tố
ảnh hưởng đến khả năng cung ứng giống cây trồng và phân bón Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu về giống cây trồng và phân bón cho sản xuất nông nghiệp tại huyện Hoà An - tỉnh Cao Bằng
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá lý thuyết về cung, cầu vật tư trong sản xuất nông nghiệp
- Phân tích nhu cầu và thực trạng cung ứng giống cây trồng, phân bón tại huyện Hoà An - tỉnh Cao Bằng
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng đáp ứng nhu cầu về giống cây trồng và phân bón tại huyện Hoà An - tỉnh Cao Bằng
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu về giống cây trồng và phân bón phục vụ sản xuất nông nghiệp tại huyện Hoà An trong thời gian tới
Trang 13Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………3
1.3 Đối t−ợng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối t−ợng nghiên cứu
- Các tác nhân trong hệ thống cung cấp giống cây trồng và phân bón cho nông dân
- Các hộ nông dân huyện Hoà An (nhu cầu, thực trạng sử dụng, tình hình cung ứng giống cây trồng và phân bón)
- Một số giống cây trồng và phân bón chủ yếu
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu nhu cầu và các giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu về giống cây trồng, phân bón ở huyện Hoà An tỉnh Cao Bằng
- Về không gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu trên địa bàn huyện Hoà
An - tỉnh Cao Bằng
- Về thời gian: Các số liệu đề tài nghiên cứu năm 2006 - 2008
Trang 14Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………4
Lượng cung là lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người bán sẵn sàng bán
và có khả năng bán ở một mức giá đb cho trong một khoảng thời gian nhất
định, do đó cung là toàn bộ mối quan hệ giữa lượng cung và giá cả
(2) Cầu
Cầu là số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người mua sẵn sàng mua và
có khả năng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định
Lượng cầu là lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người mua sẵn sàng và có khả năng mua ở mức giá đb cho trong một thời gian nhất định Như vậy cầu là toàn bộ mối quan hệ giữa lượng cầu và giá cả
đó mà còn chưa được giải quyết
Nhu cầu của con người tồn tại một cách khách quan, hình thành và phát triển theo các quy luật nhất định, được biểu hiện thông qua sự hoạt động của con người Nó có tính chất quốc gia và thời đại rất lớn, thường xuyên biến
động theo tình hình phát triển kinh tế xb hội của mỗi nước trong từng thời kỳ lịch sử nhất định Xét về nguyên tắc, khối lượng và cơ cấu nhu cầu của con người được xác định bởi điều kiện vật chất hiện có của xb hội, trình độ phát
Trang 15Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………5
triển của lực lượng sản xuất và tính chất của quan hệ sản xuất
(4) Thị trường
Đối với nước ta là một nước nông nghiệp thì việc quan tâm đến thị trường vật tư nông nghiệp là rất cần thiết và có tầm quan trọng đặc biệt Tuy vậy việc nhận thức thị trường với đúng nghĩa thực của nó thật không dễ dàng Khái niệm thị trường hiện nay đb và đang được nói đến hàng ngày trong cuộc sống đời thường và trên các phương tiện thông tin đại chúng song vẫn còn có những cách hiểu khác nhau Do đó lbm rõ khái niệm thị trường là vấn đề cần thiết để góp phần vào việc nhận thức thống nhất về thị trường
Thị trường là yếu tố không thể thiếu được của nền sản xuất hàng hóa
Sự xuất hiện và phát triển của thị trường không phải là ngẫu nhiên mà là kết quả tất yếu của sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng hóa
Thị trường biểu biện trước hết là nơi diễn ra các hành vi mua và bán hàng hóa Việc thực hiện các hành vi đó luôn gắn liền với các yếu tố sau: người bán, người mua, người tiêu dùng, các điều kiện vật chất và môi trường Người bán là người sở hữu hàng hóa, mục đích của họ đến thị trường là để bán hàng, vì vậy với họ thị trường là tổng hợp những điều kiện, yếu tố, môi trường
để thực hiện giá trị nhằm thu về chi phí sản xuất và lợi nhuận dưới hình thái tiền để bảo tồn và tái mở rộng các hoạt động sản xuất kinh doanh Đối với người tiêu dùng thị trường là tổng hợp những điều kiện, yếu tố, môi trường giúp họ có thể tìm thấy và thỏa mbn các nhu cầu mua sắm hàng hóa, dịch vụ cho tiêu dùng phù hợp với khả năng thanh toán
Thông qua thị trường người mua và người bán đều tìm thấy lợi ích cho mình thỏa mbn nhu cầu phía bên kia Chính điều quan trọng đó đb dẫn dắt họ gặp nhau và thực hiện được quan hệ kinh tế, điều hòa được các quan hệ lợi ích giữa họ với nhau Thị trường là nơi phản ánh thực chất các quan hệ trao đổi mua bán, dịch vụ, các quan hệ này bị chi phối bởi những quy luật chủ yếu như: quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh cũng do vậy
mà thị trường trở thành yếu tố khách quan tác động đến giá cả hàng hóa trong
Trang 16Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………6
trao đổi mua bán và chi trả dịch vụ, cơ chế thị trường bắt buộc mọi người thực hiện ý chí của mình theo quy luật khách quan đb quy định Nhà nước với tư cách là người quản lý và điều hành nền kinh tế quốc dân phải nắm chắc điều
đó khi chế định ra các chủ trương, chính sách kinh tế đối với thị trường
Cung và cầu là hai yếu tố cơ bản của thị trường Cầu bao gồm cả cầu của người sản xuất và cầu của đời sống cá nhân Thị trường là tập hợp những nhu cầu của người tiêu dùng về một loại hàng hóa nào đó, không có nhu cầu thì không có thị trường tồn tại trong thực tế Sự phát triển của cơ cấu và qui mô của cầu quyết
định sự phát triển của thị trường cả về chiều rộng và chiều sâu
Cung là điều kiện cần để cho thị trường hình thành và phát triển Cung thể hiện ở khả năng cung cấp hàng hóa của người sản xuất ra thị trường trong từng thời kỳ Cung, cầu tác động qua lại lẫn nhau tạo nên mối quan hệ cung - cầu trên thị trường Quan hệ cung - cầu là quan hệ kinh tế trung tâm lớn nhất chi phối các quan hệ kinh tế khác ở thị trường Cung thường phải tìm gặp cầu, cung thì tương đối ổn định còn cầu thì luôn luôn biến động phức tạp nhất là
đối với những nước đang ở bước đầu phát triển kinh tế hàng hóa và đang trong thời kỳ chuyển đổi cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý như ở Việt Nam
Cung gặp cầu thông qua giá cả thị trường, đồng thời quan hệ cung cầu
là nhân tố quan trọng nhất tác động đến sự biến dộng giá cả trên thị trường Trong đời sống thực tế, giá cả cao hay thấp ngoài sự quyết định ở giá trị hàng hóa còn chịu ảnh hưởng khá lớn đến cung - cầu trên thị trường Thông qua sự thay đổi giá cả có thể thấy được tình hình cung - cầu, thấy được mức độ khan hiếm hay thừa tương đối của hàng hóa Sự biến động của giá cả có thể đưa đến
sự biến động về cung - cầu, sản xuất và tiêu dùng Khi giá cả của một loại hàng hóa nào đó tăng lên thì người sản xuất sẽ tăng cường sản xuất loại hàng hóa đó, nhưng khi giá cả tăng lên sẽ làm cho người tiêu dùng giảm bớt nhu cầu về hàng hóa đó Khi giá cả hạ xuống, nói chung người sản xuất sẽ giảm bớt mặt hàng này, còn nhu cầu của người tiêu dùng mặt hàng này sẽ tăng lên
Trang 17Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………7
Kinh tế hàng hóa gắn liền với thị trường, sản xuất cho thị trường, tiêu dùng thông qua thị trường, thị trường là trung tâm của toàn bộ quá trình tái sản xuất Do đó thị trường có vai trò quan trọng trong nền kinh tế hàng hóa Cần sản xuất mặt hàng gì, với số lượng bao nhiêu, điều đó phải thông qua thị trường Như vậy thị trường chính là lực lượng hướng dẫn, đặt nhu cầu cho sản xuất Sản xuất là sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất và sức lao động theo quan hệ
tỷ lệ nhất định Quan hệ tỷ lệ này phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật của sản xuất Thị trường chính là nơi cung cấp những yếu tố đó đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành bình thường Sản xuất hàng hóa là sản xuất ra sản phẩm để trao đổi, để bán, thị trường là nơi tiêu thụ những hàng hóa cho các doanh nghiệp, thông qua thị trường giá trị hàng hóa được thực hiện và các doanh nghiệp thu hồi được vốn
Thị trường là nơi kiểm tra cuối cùng các chủng loại hàng hóa, số lượng hàng hóa cũng như chất lượng sản phẩm Thị trường kiểm nghiệm tính phù hợp của sản xuất và là động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh Thông qua thị trường hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng năng động, sáng tạo, hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày càng tốt hơn
Với những đặc trưng trên vai trò của thị trường ngày nay rất lớn, nó không chỉ là nơi để thực hiện giá trị của hàng hóa mà còn tác động nhanh chóng đến người sản xuất Thị trường hướng dẫn người sản xuất lựa chọn những hình thức hoạt động, quy mô sản xuất, công nghệ, hình thức tổ chức kinh doanh để hoạt động có hiệu quả trong cơ chế cạnh tranh
2.1.2 Thị trường vật tư nông nghiệp
2.1.2.1 Khái niệm vật tư nông nghiệp
Theo từ điển tiếng việt: “Vật tư là các thứ vật liệu, máy móc, công cụ cần cho sản xuất, xây dựng nói chung“
Nông nghiệp là ngành sản xuất chủ yếu của xb hội, có nhiệm vụ cung cấp sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi
Trang 18Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………8
Như vậy, vật tư nông nghiệp là các thứ vật liệu, máy móc, công cụ cần thiết cho sản xuất nông nghiệp (bao gồm ngành trồng trọt và chăn nuôi)
Các thứ vật liệu cần cho sản xuất nông nghiệp bao gồm: giống cây trồng, vật nuôi, các loại phân bón, thức ăn gia súc, hóa chất, thuốc thú y, điện, xăng, dầu
Các loại máy móc, nông cụ cần thiết cho nông nghiệp gồm: máy cày, máy kéo, máy tuốt lúa, máy bơm nước, máy nghiền thức ăn gia súc và một
số nông cụ khác
Cần phân biệt vật tư nông nghiệp với các yếu tố “đầu vào“ của sản xuất nông nghiệp Từ cách tiếp cận trên, vật tư nông nghiệp là một số các yếu tố vật chất cần thiết để thực hiện quá trình sản xuất nông nghiệp Do
đó, không phải toàn bộ các yếu tố “đầu vào“ của sản xuất nông nghiệp đều
là vật tư nông nghiệp mà chỉ một số yếu tố “đầu vào“ như giống cây trồng, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, xăng, dầu, cần cho sản xuất nông nghiệp mới là vật tư nông nghiệp
Dưới góc độ kinh tế khái niệm các yếu tố “đầu vào“ của sản xuất nông nghiệp được sử dụng với nội hàm rộng hơn khái niệm vật tư nông nghiệp Theo kinh tế học các yếu tố đầu vào đó bao gồm: đất nông nghiệp, lao động, vốn cho sản xuất nông nghiệp,
Tổ chức tìm kiếm nguồn vật tư là khâu đầu tiên của sản xuất nông nghiệp Bởi vì để doanh nghiệp phát triển nhanh, mạnh, vững chắc thì việc đầu tư khâu vật tư đóng một vai trò quan trọng Vật tư là điều kiện tiền đề cho quá trình sản xuất diễn ra bình thường Việc đầu tư các loại vật tư với số lượng bao nhiêu, chủng loại gì cho phù hợp với từng loại đất đai đảm bảo đất không bị nghèo mà ngày càng làm tăng độ phì của đất, vừa tăng năng suất, phẩm chất cây trồng là công tác rất quan trọng đòi hỏi ngành cung ứng vật tư nông nghiệp phải có sự lựa chọn Điều đó không chỉ thực sự có ý nghĩa trước mắt
mà còn đảm bảo cho một nền nông nghiệp bền vững lâu dài
Trang 19Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………9
- Các loại vật tư cần cho sản xuất nông nghiệp nhưng không chỉ sử dụng cho sản xuất nông nghiệp mà còn sử dụng cho các ngành khác như: xi măng, sắt thép rất cần cho việc xây dựng các công trình thủy lợi, trạm kỹ thuật, trại chăn nuôi
2.1.2.3 Vai trò của vật tư trong sản xuất nông nghiệp
Trong phạm vi đề tài này chỉ đề cập đến 2 loại vật tư nông nghiệp chủ yếu dùng thường xuyên và riêng biệt cho lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đó là giống cây trồng và phân bón
Vật tư nông nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trồng trọt nói riêng, đặc biệt là giống cây trồng và phân bón Trong nền sản xuất lúa nước cha ông ta đb đúc kết lại vai trò quan trọng của giống cây trồng và phân bón trong câu “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”
Cây trồng cũng như con gia súc, tôm, cá muốn sinh trưởng tốt, khoẻ mạnh tăng trọng nhanh và cho năng suất cao cần phải được nuôi dưỡng trong
điều kiện đầy đủ thức ăn, có đủ các chất bổ dưỡng theo thành phần và tỷ lệ phù hợp Đối với cây trồng, nguồn dinh dưỡng đó chính là các chất khoáng có chứa trong đất, trong phân hoá học (còn gọi là phân khoáng) và các loại phân khác
Sản xuất nông nghiệp ngày càng phát triển, trình độ khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại được áp dụng vào trong sản xuất thì vai trò của vật tư nông nghiệp cũng ngày càng quan trọng, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng
và hạ giá thành sản phẩm nông nghiệp Để cây trồng phát triển tốt, phát huy
được những điều kiện nhất định như ánh sáng, nhiệt độ, không khí và nước Ngoài ra để tác động vào năng suất cây trồng, con người cần phải cung cấp
Trang 20Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………10
thêm phân bón, sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật để đạt năng suất cao phục vụ nhu cầu con người
Năng suất cây trồng tăng nhờ nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố quan trọng là phân bón và giống cây trồng Theo Bùi Đình Dinh (1998), (1999) trong thực tiễn, năng suất cây trồng còn quá thấp so với tiềm năng năng suất sinh vật của chúng Nếu năng suất lúa ở mức 43,3 tạ/ha, so với các giống đang
sử dụng thì chỉ đạt 30 - 40% Muốn đưa năng suất cây trồng lên nữa thì biện pháp sử dụng phân bón là hữu hiệu nhất, đối với sản xuất nông nghiệp thì phân bón được coi là vật tư quan trọng Tục ngữ Việt Nam có câu: “Nhất nước, Nhì phân, Tam cần, Tứ giống” Câu ca dao trên cha ông ta khẳng định rằng từ thời xưa đb coi phân bón trong sản xuất nông nghiệp có vai trò hết sức quan trọng để tăng năng suất cây trồng Trong những năm gần đây, ngoài vai trò của giống mới đưa năng suất lên cao còn có tác dụng bổ trợ của phân bón Việc ra đời của phân bón hoá học trong sản xuất nông nghiệp đb làm tăng năng suất cây trồng ở các nước Tây Âu, tăng 50% so với năng suất đồng ruộng luân canh cây bộ đậu Đến thời kỳ 1970 - 1985 năng suất lại tăng gấp
đôi so với năng suất đồng ruộng trước đại chiến thế giới lần thứ nhất
Thực tiễn sản xuất nông nghiệp trên thế giới cũng như trong nước đb khẳng định giống cây trồng là một trong những nhân tố quyết định đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp Nhờ có bộ giống cây trồng phong phú đa dạng chúng ta đang thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ nhằm khai thác hiệu quả hơn tiềm năng và khắc phục những hạn chế về đất đai, thời tiết, khí hậu của nước ta, làm đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá
2.1.2.4 Đặc điểm của thị trường vật tư nông nghiệp
Thị trường vật tư nông nghiệp - một bộ phận trong hệ thống thị trường hoàn chỉnh ở nông thôn và là thị trường một số các yếu tố thuộc “đầu vào” của sản xuất nông nghiệp
Trang 21Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………11
Thị trường VTNN là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi mua bán các loại vật tư nông nghiệp với các yếu tố, các điều kiện, các phương tiện, môi trường để thực hiện giá trị hàng hoá vật tư nông nghiệp Phản ánh mối quan hệ giữa người sản xuất với người lưu thông và người sử dụng vật tư nông nghiệp
Thị trường VTNN là lĩnh vực trao đổi, mua bán hàng hoá vật tư nông nghiệp Phản ánh trình độ phát triển của phân công lao động và sản xuất hàng hoá Qui mô và cường độ trao đổi trên thị trường gắn với sự phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hoá, trình độ phát triển của nông nghiệp
Mọi hàng hoá VTNN đều phải thông qua trao đổi mới đến được tiêu dùng Có trao đổi, có cung các loại vật tư nông nghiệp và có cầu các loại vật tư đó là có thị trường vật tư nông nghiệp
Thị trường VTNN là một bộ phận hữu cơ của thị trường cả nước, một bộ phận quan trọng trong hệ thống thị trường nông thôn So với thị trường hàng hóa, thị trường tiền tệ nói chung, thị trường VTNN có những đặc điểm sau:
• Tính đa dạng của nhu cầu VTNN gắn với cơ cấu và trình độ phát triển của sản xuất nông nghiệp
Trong ngành nông nghiệp sẽ có sự chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành, làm cho nông nghiệp nước ta chuyển biến từ một nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, mang tính độc canh và thuần nông sang một nền nông nghiệp đa canh, theo hướng sản xuất lớn hiện đại Việc chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp sẽ dẫn đến đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi tất yếu dẫn đến nhu cầu
về cơ cấu chủng loại vật tư thích hợp Một nền nông nghiệp muốn thoát khỏi tình trạng thủ công, lạc hậu sang một nền nông nghiệp sản xuất lớn, hiện đại
đòi hỏi cần có công nghệ mới với công cụ hiện đại Giống cây trồng, vật nuôi cần phải được coi trọng nhất là các loại cây có giá trị kinh tế cao phù hợp với đặc điểm sinh thái của từng vùng Cần phải chọn lọc và có vùng chuyên canh, áp dụng những thành tựu mới của công nghệ sinh học vào việc lai tạo, nhân giống
Trang 22Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………12
Cơ cấu của cây trồng, vật nuôi, trình độ phát triển của nông nghiệp quyết định nhu cầu về chủng loại, cơ cấu, chất lượng và tỷ lệ vật tư Nền nông nghiệp phát triển ở trình độ ngày càng cao, tính đa dạng của sản phẩm nông nghiệp ngày càng phong phú, chất lượng của nông sản ngày càng phục vụ tốt hơn nhu cầu của con người thì nhu cầu vật tư ngày càng phong phú, đa dạng
Điều đó cũng đòi hỏi VTNN luôn thay đổi về chủng loại, tính năng tác dụng ngày càng cao hạn chế những tác hại cho môi trường và người tiêu dùng Thực
tế đb chứng minh loại phân bón, tỷ lệ các chất dinh dưỡng là nhân tố quan trọng quyết định chất lượng nông phẩm Ngoài ra còn các loại vật tư khác cũng có sự thay đổi theo sự thay đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng đa ngành còn đòi hỏi lượng vật tư ngày càng nhiều để đáp ứng với nhu cầu Từng giai đoạn phát triển của cây trồng cũng đòi hỏi VTNN khác nhau về cơ cấu và chủng loại
Mặt khác một nền nông nghiệp sinh thái với điều kiện tự nhiên, khí hậu,
đặc điểm của đất đai khác nhau cũng đòi hỏi nhu cầu về các loại vật tư có khác nhau Đất đai có độ phì nhiêu cao có nhu cầu vật tư khác với loại đất bạc màu, cằn cỗi Ngoài ra còn phụ thuộc vào từng vùng và tập quán canh tác khác nhau cũng dẫn đến nhu cầu vật tư cũng khác nhau
Qua nghiên cứu về phân bón cho thấy: ở Việt Nam, trên đất phèn nếu không bón lân, cây trồng chỉ hút được 40 - 50 kg N/ha, nếu bón lân cây trồng sẽ hút 120 - 130 kg N/ha Do vậy, để đảm bảo đất không bị suy thoái thì về nguyên tắc phải bón trả lại cho đất một lượng dinh dưỡng tương tự lượng dinh dưỡng mà cây trồng đb lấy đi Tuy nhiên, việc bón phân cho cây trồng lại không chỉ hoàn toàn dựa vào dinh dưỡng cây trồng hút từ đất và phân bón, mà phải dựa vào lượng dinh dưỡng dự trữ trong đất và khả năng hấp thu dinh dưỡng của cây
• Tính thời vụ của cung - cầu - giá cả VTNN
Sự vận động về quan hệ cung - cầu vật tư luôn thay đổi theo nhu cầu thời
cụ sản xuất nông nghiệp Khác với thị trường hàng hóa và dịch vụ nói chung, thị trường VTNN gắn chặt với kinh tế nông nghiệp và do đó thường xuyên biến
Trang 23Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………13
động theo mùa vụ, thời tiết Điều đó khiến cho cung, cầu và giá cả hàng hóa trên thị trường cũng biến động theo thời vụ của sản xuất nông nghiệp
Thông thường các giai đoạn phát triển của cây trồng khác nhau, nhu cầu
về chủng loại và chất lượng vật tư khác nhau Trong thí nghiệm 3 vụ liền ở đất phù sa Sông Hồng đb rút ra kết luận: Vụ lúa chiêm cũng như vụ lúa mùa, chia
đạm ra bón nhiều lần để bón thúc đẻ nhánh, nếu bón tập trung vào thời kỳ đầu
đẻ nhánh thì số nhánh tăng lên rất nhiều về sau lụi đi cũng nhiều và thiếu dinh dưỡng Nếu bón tập trung vào cuối thời kỳ đẻ nhánh thì số nhánh lụi đi ít nhưng tổng số nhánh cũng ít vì vậy cần chú ý cả ai mặt Trong trường hợp
đạm bón tương đối ít thì nên bón tập trung vào thời kỳ đẻ nhánh rộ Mặt khác, các vùng chuyên canh, đại trà trên diện rộng cùng với thời vụ đòi hỏi lượng vật tư nhiều hơn Ngược lại có khi gián đoạn sản xuất khi đb thu hoạch, chuẩn
bị cho vụ mới nhu cầu vật tư giảm xuống
Thời tiết nắng mưa bbo lụt chẳng những tác động đến sản xuất nông nghiệp, đến kết quả sản xuất của nông dân, mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến nhu cầu về vật tư trên thị trường Khi thời tiết khí hậu diễn biến thuận lợi, sản xuất mùa màng của nông dân diễn ra bình thường nhu cầu của vật tư tương đối
ổn định Ngược lại khi gặp hạn hán, bbo, lụt mùa màng thất bát, thu nhập của nông dân giảm xuống, sức mua của thị trường vật tư có nhiều biến động, không ổn định Khi đó cầu về vật tư nông nghiệp sẽ giảm đi
Sức mua của thị trường vật tư còn phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả sản xuất nông nghiệp Giả cả của nông phẩm tăng hay giảm quyết định rất lớn đến việc tăng, giảm nhu cầu VTNN
• Không gian của thị trường VTNN trải rộng trên các vùng của đất nước Thị trường VTNN gắn với sản xuất nông nghiệp nên nó trải rộng, phân
bố trên tất cả các làng, xb trong cả nước từ đồng bằng, trung du, miền núi ở
đâu có sản xuất nông nghiệp thì ở đó có thị trường VTNN vì nơi đó có nhu cầu về các loại VTNN Nó là nơi cung cấp máy móc, thiết bị, phân hóa học, giống cây trồng những thứ không thể thiếu được với một nền nông nghiệp
Trang 24Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………14
hàng hóa Nước ta là một nước nông nghiệp nên không gian của thị trường VTNN rất rộng lớn
ở những nơi nông nghiệp chưa phát triển, còn mang tính tự cung, tự cấp, mang tính độc canh và thuần nông, còn phụ thuộc chủ yếu vào thiên nhiên thì nhu cầu về vật tư có ít hơn, thậm chí rất ít nhưng không thể không có VTNN Thị trường VTNN ở vùng sâu, vùng xa còn biểu hiện ở trình độ thấp, dung lượng thị trường còn thiếu, còn mang tính chất hoang sơ
Những nơi nào có cơ sở hạ tầng phát triển, cơ cấu của nông nghiệp đa dạng, phong phú thì thị trường VTNN phát triển Ngược lại, những nơi nào cơ
sở hạ tầng thấp kém, nông nghiệp phát triển chậm, lối canh tác mang tính tự nhiên còn nhiều thì thị trường vật tư chậm phát triển Thực tế đb chứng minh nơi nào giao thông kém phát triển, đường xá xa xôi cách trở, phương tiện đi lại khó khăn, chi phí vận chuyển lớn, hệ thống thông tin liên lạc nghèo nàn nhu cầu về chủng loại lượng VTNN ít thì quan hệ mua bán và các yếu tố của thị trường phát triển chậm, thị trường bị chia cắt
• Chất lượng và cơ cấu VTNN trên thị trường thay đổi phù hợp với quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn
Quá trình CNH, HĐH làm cho nền nông nghiệp phát triển trên cơ sở kỹ thuật công nghệ hiện đại, chất lượng của nông phẩm ngày càng cao hơn thỏa mbn tốt hơn nhu cầu của xb hội Từ đó đòi hỏi phải nâng cao chất lượng và thay đổi cơ cấu các loại VTNN phù hợp với yêu cầu của sản xuất nông nghiệp
Do yêu cầu của một nền nông nghiệp sinh thái, nền nông nghiệp sạch, phát triển bền vững không gây nguy hại cho môi trường đặt ra nhu cầu vật tư có chất lượng chủng loại phù hợp
Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn đb và đang đặt ra nhu cầu
về vật tư ngày càng đa dạng về chủng loại, chất lượng tiêu chuẩn ngày một nâng cao để đáp ứng với yêu cầu phát triển nền nông nghiệp hiện đại, lượng vật tư ngày càng nhiều
Trang 25Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………15
• Dự trữ VTNN là một yêu cầu thường xuyên của thị trường VTNN
Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp là tính thời vụ, vì vậy VTNN cung cấp cho nó cũng phụ thuộc vào thời vụ sản xuất, khi thời vụ đến lượng vật tư nhiều hơn Các giai đoạn cây trồng phát triển khác nhau liên quan đến vật tư
về chủng loại cũng khác nhau, đặt ra yêu cầu vật tư đáp ứng tất yếu phải khác nhau, để giữ được sự cân bằng cung cầu và ổn định giá cả phải chuẩn bị đủ về lượng, cơ cấu, chủng loại, chất lượng các loại vật tư Nếu thị trường VTNN không cung ứng kịp thời thì quá tình sản xuất sẽ bị gián đoạn
Để tránh thụ động trong việc cung ứng kịp thời, đúng chủng loại vật tư cho nông nghiệp thì các lực lượng tham gia sản xuất, cung ứng VTNN phải có
dự trữ thương mại, đó là yêu cầu thường xuyên Việc dự trữ thương mại diễn
ra ở cả các giai đoạn từ khi nhập khẩu, lưu kho và việc luân chuyển vật tư đến tay người tiêu dùng VTNN từ nơi sản xuất hoặc nhập khẩu đến tay người tiêu dùng có khi diễn ra nhanh chóng, nhưng cũng có khi diễn ra mang tính gián
đoạn do tính thời vụ của nông nghiệp Chính vì vậy việc dự trữ thương mại, dự trữ tiền vốn là yêu cầu khách quan nhất thiết phải có vì:
- Cơ cấu, chủng loại và lượng vật tư biến động phụ thuộc vào thời vụ sản xuất nông nghiệp
- Các loại vật tư chuyên dùng như giống cây trồng, phân bón, thuốc bảo
vệ thực vật, là yếu tố cần thiết và không thể thay thế bằng loại vật tư khác đối với sản xuất nông nghiệp
- Dự trữ VTNN đòi hỏi với số lượng, cơ cấu, chủng loại còn phụ thuộc vào các giai đoạn phát triển của cây trồng, vật nuôi và điều kiện sinh thái của từng vùng
Hơn nữa do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, khi được mùa, thời vụ diễn ra thuận lợi, hiệu quả sản xuất nông nghiệp đạt chất lượng cao, người sản xuất có vốn đầu tư mua vật tư nhiều hơn do vậy nhu cầu tăng lên Ngược lại, khi gặp thiên tai, mất mùa, hiệu quả sản xuất kém, người sản xuất không có
Trang 26Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………16
vốn đầu tư mua các loại vật tư dẫn đến việc cung ứng vật tư chậm trễ, gián
đoạn trong việc thu hồi vốn, điều đó cũng cần phải có dự trữ tiền vốn
2.1.2.5 Vai trò của thị trường vật tư nông nghiệp
Sự phát triển của sản xuất nông nghiệp hàng hóa quyết định đối với sự phát triển của thị trường VTNN Sự phát triển của thị trường vật tư có vai trò
to lớn đến sản xuất nông nghiệp Chính vì vậy thị trường VTNN có vai trò sau:
• Thông qua thị trường đảm bảo phần lớn nhu cầu đầu vào và thúc
đẩy nông nghiệp sản xuất hàng hóa phát triển
Các nhu cầu VTNN sẽ được đáp ứng đầy đủ, kịp thời đồng bộ và đúng thời vụ thông qua thị trường Nếu không có thị trường VTNN cung ứng kịp thời những tư liệu sản xuất cần thiết thì quá trình tái sản xuất không thể tiến hành bình thường được
Thông qua thị trường VTNN là nơi thực hiện sự chuyển hóa vốn, hoàn trả chi phi sản xuất, xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh và cung cấp thông tin cho nông dân, cho các nhà sản xuất kinh doanh và cung cấp thông tin cho nông dân, cho các nhà sản xuất kinh doanh nông nghiệp để họ tự quyết định lựa chọn các chủng loại vật tư phù hợp với nhu cầu của họ
Thị trường vật tư không chỉ là nơi thực hiện trao đổi hàng hóa giữa người sản xuất và tiêu thụ mà còn là nơi giúp nông dân lựa chọn cho mình một phương án sản xuất kinh doanh có lợi nhất dựa vào giá cả trên thị trường Giá cả thị trường luôn phản ánh mối quan hệ giữa cung và cầu vì thế người sản xuất và người tiêu thụ bao giờ cũng phải dựa trên cái trục vận động cơ bản đó Thị trường VTNN là nơi cung cấp thông tin cho nông dân, cho các chủ thể sản xuất nông nghiệp để họ tự quyết định lựa chọn các hàng hóa vật tư phù hợp với nhu cầu của họ
• Góp phần thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH
Trang 27Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………17
Trong khu vực kinh tế nông nghiệp nông thôn, thị trường nông thôn với dung lượng tương đối lớn bao gồm cả thị trường tiêu thụ nông sản hàng hóa, thị trường vốn cho nông nghiệp, nông thôn, thị trường VTNN,
Cơ cấu của thị trường VTNN một mặt phụ thuộc vào cơ cấu sản xuất nông nghiệp, mặt khác lại có tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp Tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng thâm canh hóa và hiện đại hóa nông nghiệp
Thị trường và nhu cầu của thị trường càng phát triển thì cơ cấu kinh tế nông nghiệp càng biến đổi phong phú, đa dạng hơn Đương nhiên nền kinh tế thị trường chỉ có thể thừa nhận những cơ cấu kinh tế có khả năng đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thị trường Khi kinh tế hàng hóa phát triển, các quan hệ thị trưởng mở rộng, người sản xuất nông nghiệp có điều kiện thuận lợi trong việc lựa chọn vật tư cho mình mà thị trường có thể cung ứng kịp thời Đồng thời với quá trình chuyên môn đó, người sản xuất sẽ tham gia trao đổi trên thị trường hình thành các mối quan hệ hợp tác chặt chẽ hơn, thỏa mbn và đáp ứng kịp thời các nhu cầu của mình
Thị trường VTNN tác động tích cực đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn Biểu hiện rõ nhất trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế trong nội bộ ngành nông nghiệp là xu hướng hình thành các vùng chuyên canh, canh tác các loại cây trồng có hiệu quả kinh tế cao Việc chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp dẫn đến giải phóng một bộ phận dân cư nông thôn ra khỏi nghề nông, đồng thời cũng diễn ra quá trình tích tụ và tập trung ruộng đất, mở rộng qui mô sản xuất tạo tích lũy ban đầu, cung cấp thêm nguồn vốn, tao điều kiện và tiền đề cho công nghiệp nông thôn phát triển Chính do sự phát triển đa dạng của nông nghiệp lại đặt ra nhu cầu VTNN ngày càng cao góp phần mở rộng phát triển thị trường VTNN
• Góp phần mở rộng quan hệ thương mại quốc tế
Việc giao lưu hàng hóa VTNN giữa Việt Nam với các nước là tất yếu Với quan hệ này đảm bảo cho quan hệ cung - cầu diễn ra một cách bình
Trang 28Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………18
thường Mặt khác cũng góp phần giao lưu mở rộng quan hệ buôn bán ngoại thương với nhiều nước trên thế giới Hiện nay nước ta còn một số chủng loại vật tư nhập khẩu từ nước ngoài dẫn đến cung của thị trường vật tư chịu sự tác
động của thị trường thế giới nhưng tiến tới chúng ta cũng có thể xuất khẩu một số hàng hóa vật tư ra nước ngoài Do vậy thị trường VTNN cũng tham gia vào việc mở rộng quan hệ kinh tế thương mại Đồng thời cũng nâng cao chất lượng nông phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường thế giới
• Tác động đến đời sống xb hội nông thôn
Thị trường VTNN không chỉ đơn thuần có vai trò tác động to lớn đối với sản xuất nông nghiệp, gắn nông nghiệp với công nghiệp mà còn có vai trò tác động không nhỏ đối với toàn bộ đời sống xb hội nông thôn
Thị trường VTNN là nơi diễn ra những hoạt động trao đổi, giao lưu hàng hóa giữa người sản xuất kinh doanh, vật tư với nông dân hình thành các quan hệ xb hội giữa nông dân, công nhân, giữa người ở vùng này với người ở vùng khác, giữa người trong nước với người nước ngoài Thông qua trao đổi hàng hóa như vậy, nông dân và dân cư nông thôn, nông nghiệp có điều kiện trao đổi văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa của thành thị, của đất nước, các mặt tích cực của kinh tế thị trường và nền văn minh văn hóa thế giới Nhờ sự tiếp thu văn hóa như vậy, nông dân có điều kiện tham gia tích cực, thúc đẩy mạnh
mẽ sự phát triển văn hóa mới ở nông thôn
Thị trường VTNN trong quá trình phát triển của nó còn góp phần hoàn chỉnh các quy tắc, luật lệ có tính chất pháp lệ và các chuẩn mực đạo đức để từ
đó hình thành các công cụ kinh tế, giúp nhà nước có thể tham gia điều chỉnh, làm giảm hoặc khắc phục những tiêu cực của kinh tế thị trường
Cùng với quá trình CNH, HĐH, mà mục tiêu hàng đầu là CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, trên địa bàn nông thôn đb từng bước hình thành một hệ thống thị trường hoàn chỉnh và thống nhất Trong hệ thống thị trường đó, thị trường VTNN là nơi diễn ra các quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa VTNN, là một yếu tố khách quan cùng với việc phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hóa
Trang 29Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………19
Trong quá trình hình thành và phát triển, chịu sự tác động của hệ thống các yếu
tố như: quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, sụ phát triển của các ngành công nghiệp dịch vụ về vật tư, hệ thống giao thông và các phương tiện vận tải Giống với thị trường hàng hóa thông thường, nhưng là thị trường vật tư gắn liền với tính đặc thù của sản xuất nông nghiệp Những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp và vùng sinh thái khác nhau quy định những đặc điểm của thị trường VTNN Nó có vai trò quan trọng thúc đẩy phát triển nông nghiệp hàng hóa theo hướng CNH, HĐH và đời sống xb hội nông thôn
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu VTNN
(1) Cơ cấu và trình độ phát triển của sản xuất nông nghiệp
Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn dẫn đến sự dịch chuyển cơ cấu sản xuất trong nội bộ ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao sản lượng và hiệu quả kinh tế trên các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi biến đổi theo hướng đa dạng hoá Thể hiện ở việc áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ mới trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, các loại giống mới
có năng suất cao ngày càng được áp dụng rộng rbi Điều đó đặt ra nhu cầu về VTNN ngày càng đa dạng, phù hợp với điều kiện sinh thái và đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
Một nền nông nghiệp muốn thoát khỏi tình trạng thủ công, lạc hậu sang một nền sản xuất lớn hiện đại đòi hỏi cần có công nghệ mới Giống cây trồng
và vật nuôi cần phải được coi trọng, nhất là các loại cây có giá trị kinh tế cao phù hợp với đặc điểm sinh thái của vùng
Cơ cấu của cây trồng, vật nuôi, trình độ phát triển của nông nghiệp quyết định nhu cầu về chủng loại cơ cấu, chất lượng và tỷ lệ vật tư Thực tiễn
đb chứng minh rằng, nền nông nghiệp phát triển ở trình độ ngày càng cao, tính
đa dạng của sản phẩm nông nghiệp ngày càng phong phú, chất lượng của nông sản ngày càng phục vụ tốt nhu cầu của con người thì nhu cầu vật tư ngày càng phong phú, đa dạng Điều đó cũng đòi hỏi giống cây trồng và phân bón
Trang 30Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………20
luôn phải thay đổi về chủng loại, tính năng tác dụng ngày càng cao hạn chế những tác hại của môi trường
Trong khi nông nghiệp phát triển theo hướng CNH, HĐH thì giống cây trồng và phân bón là nhân tố tác động tích cực, trực tiếp đến sự tăng trưởng, năng suất cây trồng, vật nuôi và sự phát triển của sản xuất nông nghiệp, đồng thời là cơ sở để tăng thu nhập của người nông dân
giống cây trồng và phân bón
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, cung VTNN chủ yếu phụ thuộc vào nhập khẩu, cầu phụ thuộc vào cơ cấu và trình độ phát triển của sản xuất nông nghiệp Do đó đẩy mạnh các ngành công nghiệp và dịch vụ về vật tư nhằm tạo ra nhiều chủng loại VTNN có chất lượng cao là rất cần thiết và có vai trò quan trọng
Sự phát triển của các ngành công nghiệp và thương mại góp phần tác
động đến cung, cầu và khắc phục được tình trạng khan hiếm VTNN; góp phần hướng dẫn nông dân sử dụng các sản phẩm mới, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, thúc đẩy người nông dân sản xuất hướng vào giá trị trao đổi
(3) Hệ thống giao thông và phương tiện vận tải
Thực tế cho thấy không có vùng nào nước nào có thị trường phát triển
mà không có hệ thống giao thông vận tải thuận lợi Vì giao thông vận tải là
điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi, mua bán, làm cho thị trường tiêu thụ VTNN ngày càng mở rộng và từ đó kích thích người sản xuất hăng hái hướng vào sản xuất nhiều mặt hàng
Mặt khác hệ thống giao thông vận tải còn kéo theo sự phát triển nhanh chóng của các thành phố, các khu đô thị mới, trung tâm buôn bán, thị trấn làm phát triển các hoạt động công nghiệp và dịch vụ sản xuất các loại VTNN
đáp ứng yêu cầu của sản xuất nông nghiệp
Trang 31Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………21
(4) Cơ chế chính sách và vai trò điều tiết của nhà nước
Chính sách của nhà nước là tổng thể các biện pháp kinh tế hoặc phi kinh tế có liên quan đến sản xuất và lưu thông hàng hoá theo những mục tiêu nhất định, trong thời gian nhất định Tuỳ theo mục tiêu lâu dài hay trước mắt nhà nước có những biện pháp thích hợp tác động vào việc cung ứng và tiêu thụ VTNN nhằm điều tiết sản xuất và lưu thông vật tư phục vụ cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp
Chính sách và vai trò điều tiết của nhà nước có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với sản xuất và lưu thông VTNN Từ đó tác động đến nhu cầu VTNN
- Với sản xuất: Tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể sản xuất và làm dịch vụ về VTNN có điều kiện để cung ứng kịp thời, đảm bảo có chất lượng cao các loại VTNN cho thị trường Khuyến khích các chủ thể áp dụng rộng rbi các thành tựu khoa học công nghệ mới vào sản xuất và dịch vụ về VTNN
- Với lưu thông: Nhờ có chính sách đúng đắn của nhà nước VTNN lưu thông khắp mọi vùng, mọi miền của đất nước và thị trường quốc tế Chính sách của nhà nước tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia lưu thông ở các thành phần kinh tế được bình đẳng trước pháp luật Khắc phục được những mặt tiêu cực của thị trường VTNN như làm hàng giả, hàng không đủ phẩm chất, hàng kém chát lượng,
Nhà nước còn điều tiết thị trường VTNN bằng các công cụ kinh tế để ổn
định cung, cầu, giá cả, đảm bảo lợi ích của nông dân Đặc điểm của thị trường VTNN cũng phụ thuộc vào nhập khẩu, cầu phụ thuộc vào thời vụ đòi hỏi sự
điều tiết của nhà nước cho phù hợp
Tóm lại, chính sách và sự điều tiết của nhà nước đóng vai trò quan trọng
đối với sự phát triển của thị trường nói chung và thị trường VTNN nói riêng, là yếu tố bao trùm có tác động mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất và lưu thông VTNN Chính sách đúng đắn hợp lý sẽ tạo động lực thúc đẩy thị trường VTNN ngày càng phát triển hoàn thiện phục vụ kịp thời cho việc phát triển nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH
Trang 32Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………22
2.2 Cơ sở thực tiễn
Trong phạm vi đề tài này chỉ đề cập đến 2 loại vật tư nông nghiệp chủ yếu dùng thường xuyên và riêng biệt cho lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đó là giống cây trồng và phân bón
2.2.1 Thị trường VTNN thế giới
(lấy ví dụ thị trường phân bón thế giới)
Nhu cầu tiêu thụ phân bón thế giới dự báo sẽ tăng vững trong 5 năm tới, với tốc độ tăng bình quân 1,7%/năm trong giai đoạn 2007/08 - 2011/12, tương
đương với mức tăng trên 14 triệu tấn Trong đó, châu á chiếm tới 69% lượng tăng tiêu thụ và châu Mỹ chiếm 19%
Bảng 2.1 Dự báo nhu cầu phân bón thế giới giai đoạn 2007 - 2012
(Nguồn: FAO, Curren world ferlilizer trend and outlook to 2011/12 Nitrogen)
Nhu cầu tiêu thụ phân bón nitrogen dự báo sẽ đạt mức tăng bình quân 1,4%/năm trong giai đoạn 2007 - 2012, tương đương với mức tăng 7,3 triệu tấn, trong đó châu á chiếm tới 69% tổng mức tăng nhu cầu nitrogen Đông á, Nam á, Bắc Mỹ và Tây Âu là những khu vực tiêu thụ nitrogen lớn nhất thế giới Tuy có tỷ trọng trong tổng mức tiêu thụ nitrogen tương đối hạn chế,
Đông Âu và Trung Phi sẽ là các khu vực có tốc độ tăng tiêu thụ cao trong những năm tới với tốc độ tăng tương ứng 10,4%/năm và 5%/năm
Bắc Mỹ vẫn là khu vực nhập khẩu ròng nitrogen lớn nhất trong những năm tới và Nam á là khu vực đứng thứ hai về nhập khẩu ròng trong khi Đông á
Trang 33Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………23
sẽ chuyển từ thâm hụt sang thặng dư trong cán cân thương mại phân bón nitrogen trong giai đoạn dự báo
Nhu cầu phân bón phosphate thế giới dự báo sẽ đạt mức tăng trưởng bình quân 2,0%/năm trong giai đoạn dự báo, tương đương với mức tăng 4,2 triệu tấn, trong đó châu á chiếm 71% và châu Mỹ chiếm 21% mức tăng tiêu thụ Đông á, Nam á và Bắc Mỹ là những khu vực tiêu thụ phân phosphate lớn nhất trong khi Nam á, Mỹ Latinh và Tây Âu là những khu vực nhập khẩu chủ yếu Nam á cũng là khu vực có tốc độ tăng tiêu thụ cao nhất với 35,8%, tiếp theo là Đông á 33,8 và Mỹ Latinh 18,3%
Nhu cầu tiêu thụ phân bón potash dự báo sẽ tăng bình quân 2,4%/năm trong giai đoạn 2007/08 - 2011/12, tương đương mức tăng 3,6 triệu tấn, trong
đó châu á chiếm 68% và châu Mỹ chiếm 26% tổng mức tăng tiêu thụ
Các khu vực tiêu thụ phân bón potash lớn nhất là Đông á, Bắc Mỹ và
Mỹ Latinh trong khi các khu vực nhập khẩu lớn nhất là Đông á, Mỹ La-tinh và Nam á Đây cũng là những khu vực có tốc độ tăng tiêu thụ cao nhất trong giai
đoạn dự báo với tốc độ tăng tương ứng 48,1%, 21,0% và 19,0%
Cung ứng phân bón nitrogen thế giới niên vụ 2011- 2012 dự báo sẽ tăng 23,1 triệu tấn so với niên vụ 2007 - 2008 Công suất sản xuất dự báo sẽ tăng mạnh hơn tốc độ tăng tiêu thụ nên sản lượng phân bón sẽ vượt nhu cầu khoảng 10% vào niên vụ 2011 - 2012 Trong giai đoạn 2007 - 2011, công suất sản xuất phân nitrogen dự báo sẽ tăng lên ở hầu hết các nước xuất khẩu chủ yếu Đông á, Nam á, Bắc Mỹ và châu Âu là những khu vực sản xuất nitorgen lớn nhất thế giới, chủ yếu để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội khu vực trong khi Đông Âu và Trung á (EECA) sẽ là khu vực xuất khẩu phân nitrogen lớn nhất thế giới
Cung ứng phân bón phosphate thế giới niên vụ 2011- 2012 dự báo sẽ tăng 6,3 triệu tấn so với niên vụ 2007/08, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 3,2%/năm Lượng phân phosphate dư thừa sẽ tăng từ 0,4 triệu tấn niên vụ
2007 - 2008 lên 2,9 triệu tấn trong niên vụ 2011 - 2012 Đông á, Bắc Mỹ và
Trang 34Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………24
châu Phi là những khu vực sản xuất phân phosphate lớn nhất thế giới, trong đó châu Phi và Bắc Mỹ sẽ là những khu vực đứng đầu về xuất khẩu ròng
Bảng 2.2 Dự báo nguồn cung phân bón thế giới giai đoạn 2007 - 2012
ĐVT: 1.000 tấn
Niên vụ 2007 - 2008 2008 - 2009 2009 - 2010 2010 - 2011 2011 - 2012 Nitrogen (N) 131.106 136.252 140.732 147.748 154.199 Phosphate (P2O5) 37.000 38.461 39.672 41.112 43.299 Potash (K2O) 38.325 37.512 39.526 41.474 43.213 Tổng cung phân bón 206.431 212.225 219.930 230.334 240.711
(Nguồn: FAO, Curren world ferlilizer trend and outlook to 2011/12 Nitrogen)
Nguồn cung phân bón potash dự báo sẽ tăng từ 38,3 triệu tấn niên vụ
2007 - 2008 lên 43,2 triệu tấn niên vụ 2011 - 2012, đạt tốc độ tăng bình quân 2,4%/năm trong giai đoạn dự báo Bắc Mỹ, EECA và Tây Âu là những khu vực sản xuất cũng như xuất khẩu phân potash lớn nhất thế giới
2.2.2 Thị trường VTNN Việt Nam
2.2.2.1 Thị trường giống cây trồng
Việt Nam là nước nông nghiệp, do vậy nhu cầu về sản xuất giống cây trồng rất lớn Trong xu thế hội nhập, khi sản phẩm nông nghiệp của chúng ta phải cạnh tranh với hàng hóa nông sản nhập từ các nước bạn thì việc cải thiện sản lượng và chất lượng sản phẩm cây trồng là vấn đề thiết yếu Để thực hiện mục tiêu này, giống được xem là khâu then chốt
Hiện tại, việc sản xuất giống cây trồng chủ yếu tập trung ở các cơ quan, viện nghiên cứu của nhà nước Các đơn vị, tổ chức tư nhân và một số công ty nước ngoài cũng đb bắt đầu quan tâm đến lĩnh vực này, song còn rất hạn chế Quy trình để tạo ra một giống cây trồng mới thường mất rất nhiều thời gian và tiền bạc Trong khi đó, việc sao chép giống cây trồng lại có thể được thực hiện nhanh chóng theo nhiều cách thức khác nhau, như: chiết cây, giâm cây hoặc gieo hạt Thực tế này đòi hỏi các nhà làm luật cần phải xây dựng cơ chế bảo
hộ hữu hiệu, riêng biệt cho đối tượng giống cây trồng mới, đảm bảo cho người
Trang 35Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………25
tạo giống cây trồng có thể khai thác lợi nhuận và tái đầu tư cho các hoạt động sáng tạo của mình Như vậy thì mới thu hút được ngày càng nhiều các tổ chức, cá nhân tham gia vào công tác nghiên cứu chọn tạo giống mới và phát triển trong sản xuất
Theo kết quả điều tra tình hình sản xuất, kinh doanh giống cây trồng tại các địa phương và một số doanh nghiệp đại diện năm 2007, các giống cây trồng thuộc nhóm cây có hạt và củ giống bao gồm lúa, ngô, lạc, đậu tương, rau các loại và khoai tây được thể hiện ở bảng 2.5
Bảng 2.3 Sản xuất và cung ứng giống cây trồng phân theo nhóm cây năm 2007
Cây trồng ĐVT Miền Bắc Miền Nam Cả nớc
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng ngành giống cây trồng Việt Nam-Cục Trồng trọt) Giống lúa được sản xuất, kinh doanh một cách chính thống (có kiểm soát) là 132 nghìn tấn, bao gồm gần 89 nghìn tấn có thống kê riêng và khoảng
43 nghìn tấn được tách ra từ thống kê chung với các cây trồng khác Như vậy,
so với nhu cầu hiện nay khoảng 900 nghìn tấn giống lúa /năm (7,3 triệu ha lúa, trung bình sử dụng 120 kg/ha) thì lượng giống này mới đáp ứng được khoảng 15%, còn lại nông dân tự để giống Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, thông tin về số lượng giống sản xuất kinh doanh của các doanh
Trang 36Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………26
nghiệp thông báo thường thấp hơn so với thực tế Tỷ lệ sử dụng giống từ cấp xác nhận trở lên ở các vùng rất khác nhau Vùng Đồng bằng sông Hồng, tỷ lệ
sử dụng giống lúa xác nhận cao nhất, bình quân ước đạt khoảng 60%; các tỉnh vùng Miền núi phía Bắc và vùng Tây nguyên, tỷ lệ này thấp nhất, chỉ đạt dưới 20% Tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, theo đánh giá của Cục Trồng trọt, nhờ tác động của dự án giống lúa xuất khẩu mà hệ thống nhân giống lúa 3 cấp
đb được hình thành và đi vào hoạt động ở hầu hết các địa phương trong vùng
Giống ngô được sản xuất và cung ứng là 12.296 tấn, trong đó chủ yếu
là giống ngô lai So với nhu cầu năm 2006 là 16.890 tấn (diện tích ngô là 1.043 nghìn ha x 90% DT ngô lai x 20 kg giống/ha) thì còn thiếu và phải nhập khẩu khoảng 4.500 tấn Điều này phù hợp với kết quả điều tra các công ty nước ngoài chuyên về giống ngô lai như Syngenta, Monsanto và Hạt giống CP Toàn bộ lượng giống thương mại của Monsanto, Syngenta và một phần của CP (vì công ty này có sản xuất trong nước) tại thị trường Việt Nam là giống nhập khẩu
Đối với giống rau, tổng lượng giống được sản xuất và kinh doanh là 4.865 tấn, chủ yếu ở các tỉnh phía Nam và đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh nơi tập trung nhiều doanh nghiệp tư nhân chuyên kinh doanh hạt giống rau Riêng 27 doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh đb chiếm tới 92% thị phần hạt giống rau của cả nước Theo ước tính có 4.000 tấn là hạt giống nhập khẩu
và chủ yếu là hạt giống lai của nước ngoài như nhóm rau họ cải, dưa chuột, dưa hấu, rau họ bầu bí, ngô rau v.v Hạt giống rau được sản xuất trong nước chủ yếu là hạt giống rau cải, rau muống, ngô rau, mướp đắng (khổ qua), dưa hấu và chủ yếu được sản xuất theo dạng hợp đồng với nông dân Ví dụ, Công ty Thương Mại Trang Nông ký hợp đồng với một số nông dân chuyên sản xuất hạt giống rau muống, nhiều nông dân đb làm việc cho công ty theo dạng hợp đồng sản xuất này được trên 15 năm Một số đơn vị có điều kiện đất
đai có thể tự sản xuất tất cả hoặc một phần hạt giống rau như Công ty CP giống cây trồng miền Nam, Cty CP Bảo vệ thực vật An Giang
Trang 37Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………27
Ngành giống cây trồng Việt Nam có sự đa dạng về loại hình doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Quan trọng hơn, Việt Nam có sự phong phú về chủng loại cây trồng tại các vùng miền khác nhau nên giống cây trồng được sản xuất kinh doanh cũng rất đa dạng và phong phú
Theo kết quả điều tra hiện trạng sản xuất, kinh doanh giống tại các địa phương, chủng loại giống được sản xuất, kinh doanh tại các trung tâm giống hoặc công ty giống tỉnh chủ yếu vẫn tập trung vào các cây lương thực, đặc biệt
là lúa và ngô (bắp) Trong đó các loại giống lúa thuần và một phần lúa lai (thường thấy ở các doanh nghiệp phía Bắc) chiếm khoảng 80-90% sản lượng sản xuất, kinh doanh Các chủng loại giống khác được sản xuất và kinh doanh
là đậu đỗ, khoai tây và một số cây ăn quả Đối với giống lúa, các doanh nghiệp phía Bắc tập trung sản xuất và kinh doanh giống đời cao (siêu nguyên chủng và nguyên chủng) Ngược lại, các doanh nghiệp miền Trung và miền Nam lại đặt trọng tâm sản xuất và kinh doanh giống xác nhận vì thị trường còn nhu cầu cao
Theo kết quả thống kê, năm 2006 về XNK giống cây trồng do Cục Bảo
vệ thực vật cung cấp, Việt Nam nhập khẩu giống nhiều hơn xuất khẩu gấp nhiều lần Các giống nhập khẩu chính vào nước ta gồm lúa lai 14.114 tấn (nhập khẩu từ Trung Quốc); ngô 6504,423 tấn (chủ yếu là giống lai thương phẩm nhập từ Thái Lan, ấn Độ và một số rất nhỏ vật liệu nghiên cứu); đặc biệt là hạt giống rau các loại 1.095,57 tấn (nhập từ Thái lan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Pháp, riêng qua cửa khẩu Thành phố Hồ Chí Minh là 1.016 tấn); củ giống hoa có nguồn gốc ôn đới như hoa huệ tây 209.242 củ, hoa ly 657.890 củ và khoảng 697,7 tấn; hoa loa kèn giống 202.180 củ giống (Phụ lục 5) Việt Nam xuất khẩu với số rất ít chủng loại và nhỏ về số lượng, chủ yếu là xuất hạt giống rau (1162,5 kg), điều giống (10.000 cây), củ giống hoa huệ tây (15.632 kg)
Trang 38Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………28
2.2.2.2 Thị trường phân bón Việt Nam
Phân bón có vai trò vô cùng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Ngay từ thời cổ đại, người Trung Quốc và Hy lạp đb biết dùng tro đốt và phân chăn nuôi để bón cho cây trồng Tuy nhiên khi dân số tăng cao, kéo theo nhu cầu lương thực tăng nhanh thì con người đb phải tìm cách sản xuất và sử dụng phân hóa học Các nhà khoa học đb tổng kết rằng phân bón hóa học đóng góp trên 50% trong việc tăng năng suất cây trồng (FAO-Roma, 1984) Nếu không
có phân hóa học, khoảng 40% dân số thế giới sẽ thiếu ăn (Vaclav Smil, Đại học Manitoba - Mỹ) Phân bón hóa học hầu hết đều được sản xuất từ nguồn nguyên liệu là quặng mỏ nên ngày càng cạn kiệt và chi phí khai thác tăng cao Bên cạnh đó, nhu cầu lương thực và các cây trồng dùng để chế biến xăng sinh học trên toàn cầu tăng nhanh trong những năm gần đây đb làm cho nhu cầu phân bón hóa học tăng lên và giá càng tăng mạnh
Việt Nam chúng ta là nước có tốc độ tiêu thụ phân bón tăng rất cao trong những năm qua Năm 2006 và 2007, mức tiêu thụ phân bón ở nước ta tăng đáng
54,59% so với mức tiêu thụ, phần còn lại chúng ta phải nhập khẩu Do nhu cầu tăng cao, đồng thời một số loại phân bón trong nước chưa sản xuất được do không có quặng mỏ nên chúng ta phụ thuộc rất lớn vào nguồn cung và giá cả phân bón trên thị trường thế giới Năm 2005, chúng ta là nước tiêu thụ phân bón hàng thứ 12 trên thế giới, nhập khẩu hàng thứ 15, trong khi sản xuất chỉ đứng hàng thứ 26 và xuất khẩu hạng 65 trên thế giới Chính vì thế biến động cung cầu
và giá phân bón trên thị trường thế giới sẽ tác động mạnh đến giá phân bón trong nước Theo số liệu của Vụ Khoa học công nghệ và chất lượng sản phẩm, hiện nay có trên 100 doanh nghiệp đầu mối và các thành phần kinh tế tham gia vào mạng lưới phân bón (sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ), và đb đưa ra thị trường tiêu thụ ít nhất 1.420 loại phân bón, gồm 6 loại chính Đáng chú ý là phân N-P-K
có quá nhiều chủng loại (1.084 loại):
Trang 39Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế nụng nghiệp…………29
là vấn đề nổi cộm gây nhức nhối cho người tiêu dùng và trong một chừng mực nào đó ảnh hưởng rất lớn đến môi trường nông nghiệp nói chung và sản xuất kinh doanh nói riêng
Năm 2008, nguồn cung nguyên liệu và phân DAP trên thế giới lại có dấu hiệu khan hiếm đb đẩy giá phân trên thế giới tăng mạnh Do ảnh hưởng giá phân thế giới, cùng với việc tăng giá xăng dầu làm giá cước vận chuyển tăng, giá phân bón trong nước tăng liên tục Chưa có năm nào mà vụ đông xuân giá phân bón lại tăng cao và tăng liên tục suốt vụ như năm nay Việt Nam hiện phải nhập khẩu một số loại phân bón như Urea, DAP, SA, MOP Do tình hình sản xuất phân bón trong nước chưa đủ sức cung cấp cho nhu cầu của nông dân nên giá phân bón trong nước hoàn toàn phụ thuộc vào lượng phân
Trang 40Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Ờ Luận văn thạc sỹ kinh tế nông nghiệpẦẦẦẦ30
Nước khác 3,59%
Trung Quốc 59,18%
Nẽm 2008
Nga 12,62%
Ca-na-ựa 5,05%
Hàn Quốc 5,89%
Nhật Bản 7,26%
Xin-ga-po 1,91%
Phi-li-pin 2,94%
Nước khác 3,98%
Ca-ta 1,67%
đài Loan 3,73%
Trung Quốc 54,96%
BiÓu ệă 2.1 Cể cÊu nhẺp khÈu phẹn bãn phẹn theo n−ắc
qua 2 nẽm 2007- 2008
Nguăn: Sè liỷu Tững Côc Thèng kế
Do ngành phân bón nước ta còn phụ thuộc khá nhiều vào nhập khẩu nên chắnh sách xuất khẩu của các quốc gia cung cấp phân bón lớn trên thế giới ựều có thể ảnh hưởng ựến tình hình phân bón tại Việt Nam đặc biệt Trung Quốc, một quốc gia sản xuất và tiêu thụ phân bón lớn nhất trên thế giới cũng là nhà cung cấp chiếm ựến gần 60% cơ cấu nhập khẩu phân bón của Việt Nam, thì bất kỳ thay ựổi trong chắnh sách của nước này sẽ có tác ựộng trực tiếp ựến Việt Nam Trong năm 2008, nhập khẩu phân bón về từ thị trường Trung Quốc giảm so với năm 2007 Chủng loại phân bón nhập về chủ yếu từ thị trường Trung Quốc là Urê, DAP, SA và MAP
Theo sè liỷu thèng kế −ắc tÝnh, nẽm 2008 Viỷt Nam nhẺp vÒ khoờng 3 triỷu tÊn phẹn bãn cịc loỰi vắi kim ngỰch 1,46 tũ USD, giờm 17,9% vÒ l−ĩng nh−ng lỰi tẽng 32,73% vÒ trỡ giị so vắi nẽm 2007 Nẽm 2008 nhẺp khÈu phẹn bãn cã nhiÒu biạn ệéng Trịi vắi xu h−ắng hộng nẽm lộ nhọng thịng ệẵu nẽm l−ĩng phẹn bãn nhẺp vÒ th−êng ẻ mục thÊp vộ tẽng mỰnh trong nhọng thịng